Đề Xuất 11/2022 # Tục Ngữ Khánh Hòa – Nhà Văn Việt Nam / 2023 # Top 15 Like | Altimofoundation.com

Đề Xuất 11/2022 # Tục Ngữ Khánh Hòa – Nhà Văn Việt Nam / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tục Ngữ Khánh Hòa – Nhà Văn Việt Nam / 2023 mới nhất trên website Altimofoundation.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

TỤC NGỮ KHÁNH HÒA

Cũng như mọi miền đất nước, Khánh Hoà có một nền văn học dân gian tương đối đầy đủ về thể loại và phong phú về hình thức biểu hiện, trong đó phải kể đến thể loại tục ngữ.

Vì nhiều lý do chủ quan và khách quan và nhất là do hoàn cảnh lịch sử, việc nghiên cứu tục ngữ Khánh Hoà trước đây chưa  được quan tâm thích đáng. Một số ít công trình sưu tầm, biên soạn tục ngữ ca dao đã xuất bản phải “khoanh vùng” Phú Khánh ( gồm hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hoà) hoặc miền Trung. Mặt khác phần nghiên cứu bước đầu lại nghiêng hẳn về thể loại ca dao. Vì vậy, khi nói đến Tục ngữ Khánh Hoà là nêu lên một vấn đề có tính tương đối.

Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian có chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét dưới hình thức những câu nói ngắn gọn súc tích, giàu hình ảnh, vần điệu, dễ nhớ, dễ lưu truyền.

Nội dung và đề tài phản ánh của tục ngữ rất rộng lớn, bao gồm hầu hết các lĩnh vực đời sống vật chất và tinh thần, đấu tranh với thiên nhiên, đấu tranh xã hội, nêu lên những nhận xét, những kinh nghiệm về tình yêu, hôn nhân, gia đình, nuôi dạy con cái, quan hệ giữ người và người… 

Tục ngữ Khánh Hoà cũng có đầy đủ những đặc điểm nội dung như trên nhưng lại được thể hiện bằng hình ảnh, vần điệu và lối nói riêng mang sắc thái địa phương Khánh Hoà. 

Một bộ phận tục ngữ Khánh Hoà phản ánh những hiện tượng tự nhiên, khái quát nên những qui luật tự nhiên của vùng đất nhằm phục vụ cho đời sống lao động sản xuất. 

– “ Bao giờ trời kéo vảy tê

Sắp gồng, sắp gánh ta  về kẻo mưa”

Hoặc:

– “Thế gian chẳng biết thì nhầm

Trời sấm ầm ầm là trời chưa mưa”

Cái mưa, cái gió ở Khánh Hoà cũng đặc biệt, cũng “thành danh”. Bởi hiện tượng tự nhiên ấy có khi gắn với một vùng đất, một tên địa danh cụ thể.

– “Mưa đồng Cọ, gió Tu Bông”

Tu Bông là vùng quê phía Nam Đèo Cả. Từ xưa nơi đây đã được gọi là Tụ Phong, nơi tích tụ gió. Gió Tu Bông dữ dội và khắc nghiệt, góp phần kết dọng nên trầm hương, kỳ nam, nhưng không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Ngày nay người nông dân đã cải vụ để tránh mùa gió, cho năng suất cao hơn. 

– “Ông tha mà bà không tha

Liền cho cây lụt hăm ba tháng mười”

Câu tục ngữ phản ánh hiện tượng lũ lụt xảy ra có qui luật, trở thành “định kỳ” hàng năm ở Khánh Hoà mà đỉnh điểm là ngày hai ba tháng mười âm lịch. Hiện tượng thiên nhiên này từ xa xưa đã được nhân dân giải thích bằng truyền thuyết về Ngọc Bà Thiên-Y-a-na. Vì nhớ quê hương xứ sở nơi mình sinh ra, bà Thiên-Y-a-na từ biệt chồng con trở về núi Đại An (Diên Khánh). Chồng bà là Thái tử Bắc Hải cho quân theo cản trở. Bà nổi giận dâng nước lên để chống lại. Cơn giận đã gây ra nạn lụt hàng năm ở Khánh Hoà.

Nhiều câu tục ngữ ghi lại những đặc điểm, địa hình, địa vật của vùng đất Khánh Hoà: núi cao biển rộng nhiều thác hiểm, nhiều thú rừng, sản vật.

– “Ngựa Lồng, Trâu Đụng, Giàng Xay

Khỏi ba thác ấy khoanh tay mà ngồi”

“Cọp Khánh Hoà, ma Bình Thuận”

“Mây Hòn Hèo, heo Đất Đỏ”

Những kinh nghiệm về thực tiễn lao động, về thời vụ, mùa màng, thu hoạch… cũng  được nhân dân đúc kết bằng những câu nói giản dị, rất dễ nhớ, dễ vận dụng vào đời sống sản xuất:

– “Được mùa lúa, úa mùa cau”

– “Tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông”

– “Một lần mà tởn đến già

Không đi nước mặn nữa hà ăn chân”.

Chiếm tỷ lệ nhiều hơn trong kho tàng tục ngữ Khánh Hoà là phần tục ngữ về gia đình và xã hội. Đó là những câu tục ngữ chứa đựng nội dung răn dạy giáo dục ứng xử, đề cao những mối quan hệ tốt đẹp trong gia đình, giữa  người và người, giữa cá nhân với cộng đồng…

Yếu tố truyền thống, gia đình, dòng tộc, nòi giống được xem là yếu tố quan trọng trong việc hình thành và giáo dục nhân cách con người.

– “Giọt mưa trước nhỏ đâu, giọt mưa sau nhỏ đó”

– “Con khôn cha mẹ nao răn

Ví như trái bưởi ai lăn nó tròn”

– “Gà nòi không tập cũng hay

Con nòi không tập cũng tày thế gian”

Quan hệ gia đình với xã hội luôn là mối quan hệ gắn bó, trong đó những chuẩn mực đạo đức truyền thống luôn được đề cao. Nhiều câu tục ngữ vượt lên cả sự khuyên răn giáo dục, lên tiếng phê phán những biểu hiện suy  đồi về đạo đức.

– “Trời sinh trái mít có gai

Con hư tại mẹ dẫn trai vô nhà”

Hoặc phê phán những cách sống , lối ứng xử, và tình yêu hôn nhân trái với lẽ thường: 

– “Trai tơ lấy phải nạ dòng

Tổ tông khiến mạt chớ  tơ hồng nào xe”

– “Ăn sao cho được của người

Thương sao cho được vợ người mà thương

Tục ngữ Khánh Hoà có nhiều câu đúc kết những kinh nghiệm đời sống xã hội sâu sắc, thể hiện sự nhận thức rạch ròi, đúng đắn giữa cái nội dung và hình thức, giữa hiện tượng và bản chất, đồng thời đề cao những giá trị đích thực:

– “Vô duyên dù bận áo sa

Áo ra đằng áo người ra đằng người

Có duyên dù bận áo tơi

Đầu đội nón cời duyên vẫn hoàn duyên”.

 Hoặc:                           

– “Rượu ngon bất luận bè sành

Áo rách khéo vá hơn lành vụng may”

– “Dó lâu năm dó thành kỳ

Đá kia lăn lóc có khi thành vàng”

Nhân tình thế thái, mối quan hệ giữa người và người, là những vấn đề được  nói đến nhiều trong tục ngữ Khánh Hoà. Đó là kinh nghiệm chua chát về sự ngăn trở giàu nghèo, về thái độ và sự lựa chọn của con người đối với tiền bạc và tình nghĩa.

– “Giàu cha giàu mẹ thì ham

giàu cô chú bác ai làm nấy ăn”

– “Giàu sang nhiều kẻ đến nhà

Khó khăn  đến phải ruột rà xa nhau”.

Và cả những kinh nghiệm cay đắng của con người khi sa cơ thất thế.

– “Người khôn thất thế cũng khờ

Ba mươi đời cọp dữ sa cơ cũng hèn”

Tục ngữ Khánh Hoà còn phê phán những thói hư tật xấu của con người như thói a dua, dậu đổ bìm leo, phản bội, tham lam, tranh giành…

– “Trời gầm cóc nhái gầm theo

Rồng đi lấy nước, trùn leo miệng vò”

– “Sá gì một nải chuối xanh

Xúm lại mà giành cho mủ dính tay”

 Hoặc phê phán thói ham vui, ham chơi sa đà quá trớn.

– “Hát bội làm khổ người ta

Đàn ông bỏ vợ, đàn bà bỏ con” 

Những kinh nghiệm trong đời sống sinh hoạt ứng xử, giao tiếp, nói năng… cũng được tục ngữ ghi lại, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc.

– “Vàng sa đáy nước vàng chìm

Anh sa lời nói kiếm tìm không ra” 

Một số đức tính tốt trong sinh hoạt như chăm chỉ siêng năng, tiết kiệm, căn cơ  được tục ngữ đề cao:

– “Nợ quá gia tài đắp chiếu dài mà ngủ”

– “Làm ra ăn nhịn có dư

Làm nhiều ăn dữ cũng như không làm”

– “Đói thì đầu gối phải bò

Cái chân phải chạy, cái giò phải đi” 

Khánh Hoà có các dân tộc ít người sinh sống lâu đời như Raglai, T’ Ring, Eâđê… trong đó có dân tộc Raglai sống tập trung đông đảo hơn cả.

Các dân tộc ít người ở Khánh Hoà cũng đúc kết những kinh nghiệm sống, lao động và đấu tranh bằng những câu tục ngữ ngắn gọn mà nhiều nghĩa. Qua đó có thể thấy được nếp sống sinh hoạt phong tục tập quán, tín ngưỡng… ứng xử gia đình và cộng đồng.

– “Đốt cây lồ ô vướng cây le”

– “Khôn nhìn mặt, dại nhìn gan”

– “Nói nhiều lỏng lạt, nói ít nắm chặt”

– “Lội nước ướt chân, uống rượu xỉn mặt…” 

Nhìn chung, tục ngữ Khánh Hoà phần đã được khai thác chưa nhiều về số lượng. Một số mô phỏng theo tục ngữ của miền Bắc nhưng đã được biến đổi về phương diện ngôn ngữ, hình ảnh, âm điệu, thể hiện suy nghĩ, tình cảm, tính cách, quan niệm của người Khánh Hoà về những vấn đề của cuộc sống, làm giàu thêm kho tàng tục ngữ Việt Nam./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1.Thơ ca dân gian Phú Khánh – Trần Việt Kỉnh, Nguyễn Chí Trang- Hà Nam Tiến  – Ty Văn hoá Phú Khánh 1982

2.Xứ Trầm Hương – Quách Tấn – NXB Tổng hợp Khánh Hoà 1992

3.Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam – Vũ Ngọc Phan – NXB Khoa học xã hội – Hà Nội  – 1979

4.Khánh Hoà diện mạo Văn hoá một vùng đất – Tạp chí Văn hoá Thông tin Khánh Hoà – 1978

6.Đất nước con người Khánh Hoà – Trần Việt Kỉnh – Trung tâm Thông tin Cổ động Khánh Hoà xuất bản 1989.

Khánh Hòa Qua Ca Dao, Tục Ngữ / 2023

“Bãi biển Nha Trang mịn màng, trắng trẻo Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh Đêm đêm thơ thẩn một mình Đố sao cho khỏi vướng tình nước mây?” (1)

Đặc biệt, ở Khánh Hòa có khu di tích Tháp Bà, thuộc phường Vĩnh Phước, TP. Nha Trang. Đây là một trong những kiến trúc đền tháp Chăm còn lại đẹp nhất hiện nay, đã được Nhà nước công nhận là di tích văn hóa quốc gia. Hàng năm cứ đến ngày 23 tháng ba (lịch trăng), lễ hội Tháp Bà được tổ chức rất lớn. Trong lễ hội, ngoài lễ tắm tượng, còn có múa quạt, múa đèn, dâng bông, hát bóng. Hiện nay dưới chân Tháp Bà còn có một làng gọi là Xóm Bóng (xóm của những người hát bóng chuyên nghiệp (2). Trước khi Nhà nước ta xếp hạng, công nhận di tích này, ca dao địa phương đã lưu giữ nó trong tâm trí nhiều người:

Nhiều địa danh thuộc tỉnh Khánh Hòa được nhắc đến trong mảng ca dao, tục ngữ nói về thời tiết:

+ “Mưa Đồng Cọ, gió Tu Hoa, cọp Ô Gà, ma Đồng Lớn” (Đồng Cọ thuộc tỉnh Phú Yên).

Trầm hương, đặc biệt là kỳ nam ở Khánh Hòa thì không đâu sánh bằng. Dân địa phương đã đúc kết kinh nghiệm phân biệt giá trị các loại kỳ nam: “Nhất bạch, nhì thanh, tam huỳnh, từ hắc”. Trong số ba tỉnh có yến sào (Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa), thì sản lượng và chất lượng của Khánh Hòa là cao nhất. Hơn một lần ca dao đã ca ngợi hai đặc sản trầm hương và yến sào của tỉnh này:

Tỉnh Bình Định có loại nhà “mái lá”, tường bằng gạch hay bằng đất sét nện rất dày, mái nhà cũng có một lớp đất sét nện cách nhiệt, do đó mùa nắng thì mát mẻ, mùa đông lại ấm áp, còn tránh được hỏa hoạn. Tỉnh Phú Yên có đồng ruộng màu mỡ, Khánh Hòa có trâu tốt. Chỉ với hai dòng lục bát, ca dao Nam Trung bộ đã ghi nhận:

“Tiếng đồn Bình Định tốt nhà

Có khi ca dao tập trung phản ánh cảnh và vật của một địa phương. Nhưng cũng có khi một bài ca dao đã phản ánh hiện thực của nhiều địa phương; trong trường hợp này thật khó mà tách bạch đâu là ca dao Bình Định, đâu là ca dao Phú Yên, đâu là ca dao Khánh Hòa:

Để giữ gìn non sông tươi đẹp, để bảo vệ thành quả lao động của cha ông, nhiều khi người dân đã phải cầm vũ khí chống giặc ngoại xâm. Dưới hình thức hỏi đáp, ca dao Khánh Hòa đã tạc bia ghi công những người con ưu tú của tỉnh nhà.

Cũng may là chàng trai không phải tay vừa:

Người Khánh Hòa rất giàu tình cảm:

Ca dao thường được sáng tác theo thể lục bát. Nói đến thể thơ này, người ta thường nghĩ đến đơn vị tế bào của nó là hai dòng: trên sáu tiếng (lục) và dưới tám tiếng (bát). Tuy nhiên, để thể hiện nội dung tình cảm phong phú, trong lời ca dao vừa dẫn, người xưa đã sử dụng hình thức lục bát biến thể. Ở hình thức này, số tiếng của dòng dưới đã được thay đổi (kéo dài thành 11 tiếng), chỉ có số tiếng của dòng trên và khuôn hình vần vẫn được giữ ( Bông vần với chồng).

Ca dao Khánh Hòa nói riêng, ca dao Nam Trung bộ nói chung sử dụng hình thức lục bát biến thể và thể hỗn hợp nhiều hơn so với ca dao Bắc bộ. Bài ca dao dưới đây được sáng tác theo thể hỗn hợp, vừa phản ánh các đặc sản ở Khánh Hòa, vừa thể hiện tình cảm lứa đôi thắm thiết:

Ở bài khác, người dân không chỉ dùng thể hỗn hợp, hình thức lục bát biến thể, mà còn sử dụng các địa danh để thể hiện tình cảm tha thiết và quyết tâm chung thủy:

Hòn Chữ là một hòn đá rất to như một ngôi nhà nằm nơi bãi sông Cù, trên có khắc chữ Chăm cổ. Các nhà khảo cổ học ngờ rằng hòn đá xưa kia nằm trên núi Tháp Bà do đất lở, lăn xuống dòng sông. Bài ca dao đang phân tích có ba cặp lục bát thì cặp thứ ba là lục bát biến thể (dòng trên sáu tiếng, dòng dưới: mười).

Thể song thất lục bát cũng có mặt trong ca dao tình yêu của Khánh Hòa:

Nói đến thể song thất lục bát là nhắc đến một thể thơ mà đơn vị tế bào của nó gồm bốn dòng: hai dòng thất (mỗi dòng bảy tiếng) và một cặp lục bát. Ở bài ca dao vừa dẫn, tác giả đã sử dụng hình thức song thất lục bát biến thể (ở hai dòng thất là tám tiếng và bảy tiếng).

Qua một số bài ca dao đã phân tích, chúng ta hay bắt gặp hình thức biến thể. Hiện tượng này cho thấy hai điều. Thứ nhất, sáng tác dân gian chưa được kỳ công, tinh xảo như văn chương bác học. Văn chương bác học không có hình thức biến thể, thêm bớt số tiếng. Thứ hai, sáng tác dân gian thể hiện sự phóng khoáng hồn nhiên, không gò bó theo hình thức của người bình dân (2).

Qua ca dao, tục ngữ lưu truyền ở Khánh Hòa, chúng ta có thể cảm nhận được rằng: Nơi đây không chỉ có cảnh đẹp, thức ăn ngon, lâm sản quý, mà còn có những con người thủy chung, nồng hậu, biết trân trọng giữ gìn những gì tốt đẹp của truyền thống.

(1) Nam Trung bộ do Thạch Phương, Ngô Quang Hiển biên soạn, NXB KHXH, Hà Nội, 1994.

(2) Xem thêm Thi pháp ca dao, Nguyễn Xuân Kính, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.

275 Câu Tục Ngữ Việt Nam / 2023

PHĐS – Xin giới thiệu 275 câu tục ngữ, ca dao Việt Nam nhằm lưu giữ nét văn hóa truyền thống của người dân Việt, đây là những câu nói hay sống thực kinh nghiệm được sự chắt lọc của người xưa truyền miệng cho nhau đến hôm nay vẫn còn giá trị.

Tục ngữ ca dao Việt Nam

C 53. Cà kê dê ngỗng: nói lôi thôi lượt thượt hết chuyện này tới chuyện khác. 54. Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư: con cái cãi lời cha mẹ, phần nhiều đều hư, hơn nữa, theo đạo hiếu, đó là tội bất hiếu thứ nhất trong 3 tội bất hiếu. Thời nay, nhất là ở nước văn minh, cần xét lại câu này. Nói chung, khi gặp điều không đúng, không vừa ý, con cái không nên cãi, nhưng nên nói lại tử tế, bình tĩnh, kính trọng. 55. Cá lớn nuốt cá bé: thói đời, thường mạnh hiếp yếu, cần giáo dục đạo làm người để bớt cái luật cạnh tranh ấy, để đời sống trường tồn, tốt đẹp.

56. Cả vú lấp miệng em: ỷ lớn, nhiều lời, không cho đối phương lên tiếng. 57. Cách mặt xa lòng: khi xa nhau thì quên mất tình nghĩa đã có. 58. Cái áo không làm nên thầy tu: dáng bên ngoài không đủ nhận định giá trị con người. 59. Cái gì làm được hôm nay, đừng để đến ngày mai: không nên chần chừ mà hỏng việc. 60. Cái gương tày liếp: chuyện xấu to lớn đáng để làm gương cho người đời sau xem đó mà tránh

61. Cái khó bó cái khôn: vì nghèo mà dù khôn ngoan, có nhiều sáng kiến hay tài nghề cũng không thi thố được 62. Cái miệng hại cái thân: nói nhiều, khoe khoang tài hay sức giỏi, chỉ tổ làm hại thân mình 63. Cái nết đánh chết cái đẹp: đàn bà có nết được quí trọng hơn xinh đẹp (vợ Hứa Doãn là Nguyễn thị nhan sắc rất kém. Khi làm lễ cưới xong, Hứa Doãn trông thấy vợ xấu muốn lập tức đi thẳng, bèn hỏi Nguyễn thị rằng: -Đàn bà có tứ đức, nàng được mấy đức? -Thiếp đây chỉ kém có “Dung” mà thôi. Kẻ sĩ có bách (100) hạnh, dám hỏi chàng được mấy hạnh? -Ta đây có cả bách hạnh. -Bách hạnh thì “đức” đứng đầu, chàng là người háo sắc, không háo đức, sao dám bảo là có đủ bách hạnh? Hứa Doãn có sắc thẹn. Từ bấy giờ, vợ chồng yêu mến, kính trọng nhau suốt đời. (Cổ học Tinh hoa) 64. Càng cao danh vọng, càng dày gian nan: lắm khi vì danh vọng, địa vị cao mà hại đến thân 65. Cao chê ngỏng, thấp chê lùn, béo chê béo trục béo tròn, gầy chê xương sống xương sườn phơi ra: cư xử thế nào cũng không vừa ý người khó tính

66. Cao không tới, thấp không thông: kén chọn khó khăn, không vừa, không xứng 67. Có công mài sắt có ngày nên kim: cố gắng thì việc khó thế nào cũng phải xong 68. Có cứng mới đứng đầu gió: phải tài giỏi mới gánh nổi việc khó 69. Có chí làm quan, có gan làm giầu: có quyết tâm gan dạ, gặp nguy hiểm khó khăn không chùn, sẽ làm nên sự nghiệp 70. Có đi có lại mới toại lòng nhau: hưởng của người cần đền đáp cho cân

71. Có gan ăn cắp, có gan chịu đòn: làm điều sai quấy phải chịu hậu quả, không nên trốn tránh 72. Có hoa hường nào không có gai: gái đẹp nào cũng có mầm mống tai hại cho đàn ông 73. Có ít xít ra nhiều: việc xảy ra giản dị tầm thường, nhưng kẻ nói lại thêu dệt cho ra to lớn, có thể sinh hậu quả không hay. 74. Có khó mới có khôn: làm xong việc khó, người ta có thêm kinh nghiệm 75. Có khó mới có mà ăn, ngồi không ai dễ đem phần tới cho: gặp khó khăn vẫn cố gắng chịu đựng, lướt qua, mới thành sự để hưởng

76. Có lửa mới có khói: việc gì cũng có nguyên nhân 77. Có mới nới cũ, mới để trong nhà, cũ để ngoài sân: thường tình, phần đông ai cũng yêu chuộng của mới lạ, nên nâng niu chiều chuộng và chán vật cũ đã dùng lâu, nên để dẹp lại hoặc ruồng rẫy 78. Có nếp mừng nếp, có tẻ mừng tẻ: an phận với nếp sống của mình, không trèo đèo, không tham vọng. Có con trai cũng mừng, con gái cũng quí 79. Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ: khi nuôi con cực khổ mới hiểu công khó và lòng thương con của cha mẹ khi mình còn bé 80. Có ơn phải sợ, có nợ phải trả: đã chịu ơn ai phải nể nang họ. Mắc nợ ai, luôn lo ngại không trả được, nên chịu ơn và vay nợ là cực chẳng đã

81. Có phúc đẻ con biết lội, có tội đẻ con biết trèo: con biết lội, té sông không chết, con ham trèo, rủi sẩy tay, có ngày bỏ mạng. 82. Có phúc làm quan, có gan làm giầu: nhà có phúc, có con học giỏi thì được làm quan. Giầu có là nhờ gan dạ, dám mua bán lớn, dám mạo hiểm 83. Có sự thì vái tứ phương, không sự đồng hương không mất: có tai nạn thì cầu Trời khấn Phật, lạy lục vái van, bình thường thì không biết đến Trời Phật. Có việc cần kíp thì đến lạy lục nhờ vả, xong việc thì quên luôn, không ngó tới 84. Có tài có tật: người tài giỏi thường ỷ mình mà sinh tật kiêu căng tự đắc, ỷ tài mà không nghĩ đến ngày sau 85. Có tật có tài: thường có bộ phận mang tật thì các bộ phận khác nảy nở hơn, khéo léo hơn, mạnh mẽ hơn, vd.người mù thì thính tai thính mũi.

86. Có tích mới dịch ra tuồng: mọi chuyện đều có nguyên nhân 87. Có tiền mua tiên cũng được, không tiền mua lược cũng không: có nhiều tiền thì mua chi cũng được, dù mua tiên là nhân vật không tưởng. 88. Có tiếng mà không có miếng: được người đồn là có tiền, có tài, nhưng kì thực không có 89. Có thờ có thiêng, có kiêng có lành: có tin tưởng thờ phượng thì có linh thánh, biết kiêng cữ thì bớt bệnh nạn 90. Có thực mới vực được đạo: thân xác có ấm no mới bênh vực được đạo của mình

91. Coi người bằng nửa con mắt: khinh người, không coi ai bằng mình 92. Coi Trời bằng vung: tự đắc, kiêu ngạo, kể mình là tài giỏi hơn cả 93. Con cá sẩy là con cá lớn: sẩy rồi sao biết nó lớn hay nhỏ, nên cứ khoe khoang 94. Con có khóc mẹ mới cho bú: người có quyền lợi, có sự đòi hỏi mới thỏa mãn nguyện vọng 95. Con chẳng chê cha khó, chó chẳng chê chủ nghèo: vì tình ruột thịt con cái không chê cha mẹ, chó đói kiếm ăn nơi khác rồi lại về với chủ

106. Còn tiền còn duyên nợ, hết tiền hết vợ chồng: lấy nhau vì của chứ không vì tình, nên khi hết của, bỏ nhau 107. Cõng rắn cắn gà nhà: rước người ngoài về hiếp đáp người nhà 108. Công nợ trả dần, cháo nóng húp quanh: mắc nợ trả từ từ thì hết, cháo nóng quá cứ húp quanh bát mãi cũng xong (húp vội như con nhà giầu sẽ bị bỏng miệng) 109. Cờ bạc là bác thằng bần, cửa nhà (ruộng vườn) bán hết tra chân vào cùm: ai cờ bạc tất phải nghèo, và khi phạm tội cướp bóc để có tiền chơi sẽ bị tù tội 110. Cờ đến tay ai người ấy phất: dịp may đến với ai để người ấy hưởng

111. Cơm chẳng lành canh không ngọt: vợ chồng lục đục xào xáo cãi cọ nhau 112. Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa chẳng đời nào khê: nín nhịn đang cơn cãi vã, tránh đổ vỡ gia đình 113. Của không ngon, nhà nhiều con cũng hết: nhà đông con, đứa này chê, đứa khác xơi 114. Của chồng, công vợ: chồng làm ra, vợ gìn giữ, đó là của chung. 115. Của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân: của do công lao làm ra mới đáng giữ, đáng xài

116. Của người bồ tát, của mình lạt buộc: hô hào thiên hạ làm lành làm nghĩa, mà chính mình thì sẻn, một đồng cũng chẳng bỏ ra 117. Của rẻ của hôi, của để đầu hồi là của vứt đi: đồ mua rẻ phần nhiều không tốt, vợ chồng lấy nhau dễ quá, thường ở không bền 118. Cung chúc tân xuân: nhân năm mới, xin cung kính chúc mừng 119. Cha chung không ai khóc: của chung không ai thấy trách nhiệm giữ gìn 120. Cha mẹ sinh con, trời sinh tính: cha mẹ chỉ sinh hình hài chứ không sinh tính tình

121. Cháy nhà ra mặt chuột: khi vỡ lở chuyện, mới thấy kẻ giả đạo đức 122. Chê anh một chai, phải anh hai lọ: bỏ anh chồng say, lấy anh khác lại uống rượu nhiều hơn anh trước 123. Chết cả đống còn hơn sống một người: nêu cao tinh thần đoàn kết 124. Chết vinh hơn sống nhục: sống bị chê bai, thà chết còn hơn 125. Chị ngã em nâng/ Tưởng là chị ngã em nưng, ai ngờ chị ngã em bưng miệng cười:chị em không biết giúp đỡ nhau

126. Chỉ một đường, đi một nẻo: chỉ dạy cho rành rẽ mà làm không đúng 127. Chín bỏ làm mười: xí xóa, bỏ qua, dễ dãi 128. Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng: ỷ thế địa phương, hiếp đáp người lạ 129. Chó đâu có sủa lỗ không, chẳng thằng ăn trộm cũng ông ăn mày: việc gì cũng có nguyên nhân, có lí do 130. Chó gầy hổ mặt người nuôi: người trên để người dưới đói khổ

131. Chó ngáp phải ruồi: thành công nhờ may mắn, chớ không vì tài giỏi 132. Chó treo mèo đậy: phải cất dịp đi cho người dưới kẻo bị cám dỗ 133. Chơi với chó, chó liếm mặt: người trên không đứng đắn, kẻ dưới khinh lờn 134. Chuyện bé xé ra to: chuyện nhỏ, bị thêu dệt ra nhiều chi tiết 135. Chuyện người thì sáng, chuyện mình thì quáng: ngoài cuộc thấy rõ chi tiết chuyện hơn trong cuộc 136. Chuột sa chĩnh gạo: may mắn được làm rể nhà giầu, được vào nơi đầy đủ sung sướng 137. Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng xóm: người hống hách, phách lối 138. Chưa hết rên đã quên thầy: quá bội bạc, phụ ơn người giúp mình 139. Chưa khỏi vòng đã cong đuôi: như trên 140. Chửi cha không bằng pha tiếng: không nên nhái giọng địa phương

D 141. Danh chánh ngôn thuận: đúng danh nghĩa thì làm gì cũng xuôi thuận 142. Dĩ đức báo oán: lấy ơn đức xử với kẻ thù để tiêu diệt mối thù 143. Dĩ hòa vi quí: lấy sự hòa thuận nhau làm quí nhất 144. Dùi đục chấm nước mắm: ăn nói cộc cằn thô lỗ khó nghe 145. Dửng dưng như bánh chưng ngày Tết: nguội lạnh, không muốn để ý tới

Đ 146. Đa ngôn đa quá: nói nhiều lỗi nhiều 147. Đa nhân duyên, nhiều phiền não: nhiều tình, nhiều khổ 148. Đã trót phải trét: lỡ làm ra việc gì, dù khổ cũng phải theo 149. Đàn ông nông nổi giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu: đàn ông suy nghĩ xa hơn, mạnh sức hơn đàn bà 150. Đánh trống bỏ giùi: người nông nổi cẩu thả, xong việc vứt bỏ bừa bãi

151. Đào vi thượng sách: trong nguy nan, trốn đi là cách hay hơn cả 152. Đâm bị thóc, thọc bị gạo: chọc tức, khiêu khích cả 2 đàng 153. Đâm lao phải theo lao: lỡ làm ra việc gì, dù khổ cũng phải theo 154. Đầu xuôi đuôi lọt: đầu to mà qua được thì đuôi bé qua dễ dàng. Việc khởi đầu thường khó mà trôi chảy, những việc sau không khó khăn chi 155. Đầu voi đuôi chuột: khởi đầu lớn lao, rốt cuộc tầm thường 156. Đi dối cha, về nhà dối chú: kẻ gian xảo, bất hiếu 157. Đi đêm có ngày gặp ma: liều lĩnh mạo hiểm nhiều lần, thế nào cũng có ngày cũng thất bại to 158. Đi guốc trong bụng: tự hào hiểu rành mạch sự toan tính lo nghĩ của người 159. Đi (ra đường) hỏi già về nhà hỏi trẻ: ngoài đường người già ít khuấy chơi, ở nhà trẻ con thường nói thật 160. Đi một ngày đàng, học một sàng khôn: đi xa sẽ thêm nhiều hiểu biết

161. Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy: ăn mặc phải tùy hoàn cảnh, với người giầu, người nghèo, để khỏi bị khinh 162. Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết/ Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao: trước việc khó, chung nhau giải quyết sẽ thành công 163. Đói ăn rau, đau uống thuốc: đói thì rau gì ăn được cũng ăn, cần no bụng. Bệnh thì thuốc gì uống đuợc cũng uống, cần khỏi bệnh. 164. Đói ăn vụng, túng làm liều: khi thiếu thốn khiến người ta làm việc phi pháp bất lương. 164bĐói cho sạch, rách cho thơm: khuyên dù nghèo đói cũng phải giữ danh dự mình 165.Đói đầu gối phải bò: nghèo túng bắt buộc phải xoay xở 166. Đổi trắng thay đen: người ngược ngạo 167. Đồng bạc đâm toạc tờ giấy: tiền bạc có thễ thay đổi luật pháp 168. Đồng tiền liền khúc ruột: tiền bạc quý như thân thể, nên người ta bo bo giữ gìn 169.Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào: cờ đến tay ai người ấy phấy. Ai có nhiệm vụ, họ cũng có sáng kiến giải quyết sự việc. 170. Đời cha ăn mặn, đời con khát nước: cha làm ác, con chịu hậu quả

171. Đục nước béo cò: tình thế lộn xộn là dịp tốt cho kẻ trục lợi 172. Đứng mũi chịu sào: giữ vai quan trọng, chịu trách nhiệm cho tất cả 173. Đứng núi này trông núi nọ: không an phận, lúc nào cũng phân bì 174. Được chim bẻ ná, được cá quên nơm: được việc rồi, quên ơn, bỏ người đã giúp mình nên việc 175. Được đàng chân, lân đàng đầu: tham lam 176. Đứt dây động rừng: nói một người, người khác nghĩ ngợi 177. Được làm vua, thua làm giặc: trong cuộc tranh chấp, kẻ thắng được hơn, người thua chịu kém 178. Được lòng ta, xót xa lòng người: phần mình sướng, tội nghiệp phần người 179. Được tiếng khen ho hen chẳng còn: được khen, nhưng mình mất quá nhiều công sức 180. Được voi đòi tiên: (giống câu 175) quá tham lam

181. Đường đi ở miệng: tới nơi lạ phải chịu hỏi người 182. Đường đi hay tối, nói dối hay cùng: nói dối quanh rồi cũng bị lộ 183. Đứa (người) đi chẳng bực bằng người chực nồi cơm: chờ chực thời gian tâm lí ra như dài, sốt ruột

E 184. Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên: việc hôn nhân con cái, cha mẹ nên hướng dẫn hơn thiệt, không nên ép buộc 185. Ếch ngồi đáy giếng, coi trời bằng vung: người học ít mà tự phụ, như ếch chỉ thấy trời to như miệng giếng thôi

G 186. Gà chết vì tiếng gáy (gà tức nhau vì tiếng gáy): con người bị hại thường do lời mình nói ra khoe khoang 187. Gai trên rừng ai vót mà nhọn, trái trên cây ai vo mà tròn: mọi sinh vật kể cả tâm tánh con người, đều do một Đấng Thiêng liêng tạo ra, không ai muốn thế này hay thế khác mà được 188. Gái có chồng như gông đeo cổ, gái không chồng như phản gỗ long đanh: cuộc hôn nhân có những đau khổ, nhưng người ta chấp nhận bước vào 189.Gái ngoan làm quan cho chồng: giúp chồng học làm quan, giúp chồng lên chức 190. Gái tham tài, trai tham sắc: thường con gái thích lấy chồng giầu, con trai thích lấy vợ đẹp 191. Gậy ông đập lưng ông: mình chịu hại do mình gây ra 192. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng: ảnh hưởng nhau, gần ai giống người ấy

GI 193. Già rồi còn chơi trống bỏi: chê người già lấy vợ trẻ, người già còn mê nhan sắc 194. Già bát canh, trẻ manh áo mới: nhờ canh già ăn ngon, nhờ áo đẹp trẻ ngủ ngon 195. Già néo đứt giây: điều kiện khó quá, đòi hỏi quá sẽ hỏng việc 196. Già sinh tật như đất sinh cỏ: người già thường lẩm cẩm, khó tính, trách móc, nhiều đòi hỏi 197. Giầu đâu ba họ, khó đâu ba đời: đừng tự hào cũng đừng nản 198. Giàu tham việc, thất nghiệp tham ăn: thói thường chịu khó làm giầu thêm, ăn nhiều làm nghèo thêm 199. Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh: khi có giặc, đàn bà cũng có phận sự như đàn ông 200. Giấy rách phải giữ lấy lề: dù nghèo hay sa sút cách nào cũng phải giữ tư cách 201. Giận cá chém thớt: giận ai, hay tức mình vì duyên cớ nào, rồi gặp người nào cũng gây gổ, hoặc đánh đập con cái 202. Giấu đầu hở đuôi: giấu một việc mà sơ ý, nói ra một chi tiết, người ta biết cả chuyện 203. Gieo gió gặt bão: làm ra nguyên nhân, phải chịu hậu quả 204. Gió chiều nào che chiều nấy: tùy thời mà sống, muốn yên thân, người không lập trường riêng 205. Giật đầu cá, vá đầu tôm/giật gấu vá vai: mượn của người này trả cho người kia

H 206. Hà tiện mà ăn cháo hoa, đồng đường đồng đậu cũng ra 3 đồng: hà tiện không biết tính toán 207. Há miệng chờ ho: chờ một tai vạ sắp tới 208. Há miệng chờ sung: lười ở không, đợi bữa ăn 209. Há miệng mắc quai: mở miệng nói điều gì là đụng chạm, bị bắt lỗi, bị vạ 210. Hai bàn tay trắng: nghèo không có tiền bạc chi cả 211. Hai sương một nắng: cực khổ vất vả suốt ngày 212. Hết chuyện nhà, ra chuyện người: người nhiều chuyện, bới chuyện 213. Hết khôn dồn dại: nói nhiều quá, lỡ lời 214. Hết nạc, vạc xương: ăn cào cấu, không chừa lại gì 215. Hết xôi, rồi việc: ăn xong đi mất, không giúp gì người cho ăn

225. Hứng tay dưới, với tay trên: người tham lam, lừa lọc 226. Hữu chí cánh thành: có chí thì nên, sự việc sẽ thành công 227. Hữu danh vô thực/ Có tiếng mà không có miếng: có địa vị, nhưng không có tài điều hành 228. Hữu tài vô hạnh: tài ba chưa đủ, nếu đức hạnh không tốt 229. Hữu xạ tự nhiên hương: có tài tự nhiên người biết, không cần khoe

I 230. Ích kỉ hại nhân: muốn lợi cho mình, nhưng làm hại người 231. Ít kẻ yêu, hơn nhiều người ghét: sẽ có hại nhiều

K 232. Kẻ cắp gặp bà già: kẻ ranh mãnh gặp người ranh mãnh hơn 233. Kẻ có tình rình người vô ý: người ngay thật thường thua người gian trá núp trong bóng tối 234. Kẻ kia tám lạng người này nửa cân: 2 bên bằng nhau, 1 cân ta có 16 lạng (lượng) 235. Kén cá chọn canh: chọn bạn trăm năm cách kĩ càng là điếu tốt, nhưng không nên quá, vì con người ta không có ai tuyệt đối 236. Kéo cày trả nợ: làm việc vì phải làm, không sốt sắng lắm 237. Kiếm củi 3 năm thiêu một giờ/ Khôn ba năm, dại một giờ: sự nghiệp xây dựng rất lâu,chỉ một lúc vô ý, dại dột mà tiêu tan hết, thường nói về trinh nữ… 238. Kiến bò bụng: đói bụng, ví như kiến bò 239. Kiến tha lâu cũng đầy tổ: kiên nhẫn mỗi ngày một ít, lâu ngày thành công 240. Kì đà cản mũi: ngăn cản việc người khác, vô tình hay có ý

L 265. Lá lành đùm lá rách: người khá giả giúp người nghèo đói 266. Lá rụng về cội: con cái dù được ai nuôi dưỡng cũng tìm về cha mẹ đẻ 267. Lạy ông tôi ở bụi này/ Ai khảo mà xưng): người dại dột, tự cáo tội mình 268. Làm hoa cho người ta hái, làm gái cho người ta trêu: lẽ thường, không nên vì bị chọc ghẹo mà làm lớn chuyện hại mình 269. Làm khách sạch ruột: làm bộ từ chối mà chịu đói bụng 270. Làm lành lánh dữ: làm điều tốt lành, tránh điều độc ác là luật tự nhiên con người 271. Làm ơn mắc oán: có khi làm ơn gây ra oán thù, mình bị hại 272. Làm phúc nơi nao, cầu ao rách nát: trách người làm phúc chỗ khác mà địa phương mình thì không 273. Làm phúc quá tay, ăn mày không kịp: trách người không biết suy tính đấn đo 274. Làm rể nhà giầu, vừa được cơm no, vừa được bò cỡi: mỉa mai người hành động chỉ để được ăn uống, hưởng lợi 275. Làm tớ người khôn hơn làm thầy kẻ dại: ở với người khôn được nhiều lợi, với người dại mang nhiều tiếng xấu 276.Lành làm gáo, vỡ làm muôi: khéo lợi dụng tất cả, không bỏ phí gì, sao cũng được 277. Lắm mối tối nằm không: nhiều nhân tình, không ai làm vợ để xây dựng làm ăn 278. Lắm sãi không ai đóng cửa chùa: nhóm đông người, không ai điều khiển, không ai để ý làm việc chung 279.Lắm thầy thối ma, nhiều cha con khó lấy chồng: nhiều ý kiến, không biết theo ai 280.Lấy vải thưa che mắt thánh: làm việc gian để dối gạt kẻ trên, nhưng bị lộ 281. Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam: hướng nam luôn có gió thổi mát cho nhà nghèo 282. Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống: kết hôn cần chọn con nhà đức độ, tránh gia truyền bệnh tật 283. Lấp sông lấp giếng, ai lấp được miệng thiên hạ: miệng đời tự do ăn nói, khó cản 284. Lệnh làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ: việc ai nấy lo, đừng xía vô việc người 285.Lệnh ông không bằng cồng bà: nói về người chồng quá nể hay sợ vợ 286. Liệu cơm gắp mắm, liệu con gả chồng: con gái lớn thường sợ lỡ việc hôn nhân 287. Lo cho bò trắng răng: lo những chuyện không ai cần mình lo 288. Lon ton như con với mẹ: nói năng mừng rỡ hấp tấp vội vàng 289.Lời nói không mất tiền mua, liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau: nói năng phải suy nghĩ trước sau để được việc mới hay 290. Lời thật mất lòng/ thuốc đắng đã tật…/lời thật trái tai: tự nhiên không thích lời nói trái tai 291. Lợn lành chữa ra lợn què: đồ hư ít, chữa xong lại hư nhiều vì không biết sửa 292. Lợn trong chuồng thả ra mà đuổi: tự mình gây ra chuyện khó cho mình 293. Lửa cháy còn đổ dầu thêm: người ta đang nóng giận, lại nói thêm cho họ giận thêm 294. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén: trai gái thân nhau quá, lâu ngày khó tránh sa ngã, vụng trộm 295. Lửa thử vàng, gian nan thử đức: phải chờ người qua gian nan mới biết giá trị 296. Lực bất tòng tâm: có lòng muốn, nhưng không có sức làm 297. Lưỡi không xương , nhiều đường lắt léo: lời nói dễ tráo trở, hiền ra dữ, làm hư việc, xấu tốt đều do miệng lưỡi, nói năng 298. Lưỡi mềm lưỡi còn, răng cứng răng rụng: mềm mỏng, nhịn nhục tránh được tai họa, cứng cỏi, háo thắng, thân khó an toàn

M Ma cũ bắt nạt ma mới: người cũ thường ỷ mình thạo việc, quen nhiều mà chèn ép người mới Ma chê cưới trách: những đám ma đám cưới, dù cử hành đúng lễ đến đâu cũng bị người ta phê bình, chê trách, bởi lẽ phong tục mỗi nơi mỗi khác, ý mỗi người mỗi khác. Ma trêu quỉ ám: dục tình quá mạnh, xúi con người mất cả lương tri,, quên cả khôn dại,tốt xấu, đến làm việc dại dột, loạn luân Mang nặng đẻ đau: chỉ công khó nhọc của cha mẹ đối với con cái khi mang thai nặng nề, lắm khi bệnh hoạn vì cái thai, lúc sinh con thì phải trải qua cơn đau đớn kinh khủng, có khi chết vì trắc trở Mạnh về gạo, bạo về tiền: giầu có đen cũng thay trắng được, sai quấy cũng ra phải được Máu chảy ruột mềm: người cùng máu mủ họ hàng bị hoạn nạn thì mình cảm thấy đau đớn lây Máu loãng còn hơn nước lã: bà con xa vẫn còn thân hơn người dưng Mất trộm mới rào giậu: ngày thường không lo, bị hại mới đề phòng Mẹ gà con vịt: không phải con mình sinh ra (mẹ gà con vịt chít chiu, mấy đời dì ghẻ nâng niu con chồng) Mẹ hát con khen hay: người cùng bọn tán tụng nhau. Óc chủ quan chỉ thấy cái hay của phe mình Mẹ cha nuôi con bằng trời bằng bể, con nuôi cha mẹ con kể từng ngày: cha mẹ nuôi con không tính toán, con nuôi cha mẹ con tính toán, hạn chế, lẽ thường là vậy Mẹ tròn, con vuông: lời chúc đàn bà sinh con toàn vẹn, không bệnh tật, sức khỏe như trời tròn, như đất vuông Mèo già hóa cáo: người tinh ranh, càng lớn tuổi càng nhiều kinh nghiệm gian xảo hơn Mèo khen mèo dài đuôi: khoe mình, cái gì mình làm ra thì khéo thì hay Mèo mả gà đồng: trai gái tư tình hẹn hò với nhau Mền nắn, rắn buông: ăn hiếp người hiền lành, thật thà, gặp người cứng cỏi thì chịu thua Miếng ăn là miếng nhục: ăn uống, quyền lợi thường làm cho anh em kình địch nhau Miếng giữa làng bằng sàng xó bếp: nghèo được dân ca ngợi, hơn giầu mà âm ỉ trong nhà Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời: việc tốt thì nhớ hoài, thù sâu ghim vào dạ Miệng kẻ sang có gang có thép: người quyền quí nói ra được tôi tớ tuân theo Miệng nam mô, bụng bồ dao găm: miệng nói hiền nhưng lòng ác độc Mỏng môi hay hớt: kinh nghiệm dân gian Mồ cha không khóc, đi khóc đống mối: giầu tình cảm, nhưng lầm chỗ Một câu nhịn chín câu lành: nhịn được ai thì hậu quả tốt sẽ đến có khi không ngờ Một con én không làm nên mùa xuân: một người dẫu tài cũng không làm nên việc, cần nhiều người Một con ngựa đau, cả tàu chê cỏ: đồng bọn có tình thương nhau, một người mắc nạn, mọi người thông cảm Một cổ hai tròng: một mình 2 gánh, vất vả, khó liệu Một chữ nên thày, một ngày nên nghĩa: học với ai ít chữ, lấy nhau chưa lâu,cũng không nên bội bạc nhau Một đời ta, ba đời nó: không nên hà tiện, lấy thân che của Một giọt máu đào hơn ao nước lã: bà con dầu xa vẫn hơn người dưng Một mất mười ngờ: khi mất vật gì, người ta thường ngờ cho tất cả những ai có thể ngờ Một miếng khi đói bằng gói khi no: giúp người khi họ ngặt nghèo mới quí Một người làm quan, cả họ được nhờ: ở nước chậm tiến người ta kiêng nể kẻ có quyền Mở miệng mắc quai: vừa nói một lời đã chịu trách nhiệm Mũ ni che tai, việc ai cũng biết: tu hành gác bỏ sự đời, nhưng lại tò mò làm ngược lại Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng: muốn có danh thơm phải cố gắng nhiều, muốn làm hư danh thì không khó Mua pháo mượn người đốt: góp công sức mình, mà người khác được khen Múa vụng chê đất lệch: làm hư việc rồi kiếm cớ đổ thừa, không nhận mình dở Muốn ăn phải lăn vào bếp: muốn được việc phải gắng sức Muốn là được: nếu thật lòng, gắng sức làm, sẽ nên công việc Mưa lúc nào mát mặt lúc ấy: lợi dụng hiện tại, không nên đòi quá Mười voi không được bát nước xáo: khoe khoang, hứa hẹn mà kết quả không ra gì Mượn đầu heo nấu cháo: vay chỗ nọ bù đắp chỗ kia Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên: con người tính toán, trời cho xong việc mới được

Nam nữ thọ thọ bất thân: quan niệm các cụ xưa: trai gái trao hay nhận vật gì, không được dùng tay chạm vào nhau Nằm trong chăn mới biết chăn có rận(rệp): có ở trong cuộc mới biết nỗi khó khăn của việc làm, hay điều xấu của người đồng bọn Năng nhặt chặt bị: góp mỗi lúc một ít, lâu ngày sẽ thành nhiều Nắng chiều nào che chiều nấy: không lý tưởng, theo thời cuộc mà xoay xở, bỏ cái cũ Nâng như trứng, hứng như hoa: nương chiều quá lắm Ném đá giấu tay: làm chuyện mờ ám, gây xáo trộn để người khác bị nghi oan Ném tiền qua cửa sổ: phung phí tiền bạc, xài không đúng chuyện No mất ngon, giận mất khôn: tức lên nói bừa, lỡ lời, gây hại No ra bụt, đói ra ma: người đủ ăn dễ giữ đạo làm người, người túng thiếu hay làm liều Nói có sách, mách có chứng: lời trình bày có nhân chứng, vật chứng Nói một đàng, quàng một nẻo: người nói với ý này, người nghe bẻ ra ý khác, sinh cãi vã Nói ngọt lọt đến xương: lời ngon ngọt dễ thấm, chuyện khó thành dễ, chuyện dở hóa lành Nói như đinh đóng cột: nói chắc một lời, không sửa đổi Nói như nước đổ lá khoai (môn): nói với người không biết nghe, không kết quả Nói dối sám hối bảy ngày: nói dối luôn có hậu quả tai hại Nồi nào vung nấy: chồng thế nào thì vợ thế ấy, vợ chồng rất xứng đôi Nợ như chúa chổm: nói về ông Lê Duy Huyên hồi chưa làm vua mắc nợ rất nhiều, sau ông lên làm vua Lê Trung Tông nhà Lê. Nuôi ong trong tay áo: chứa chấp nuôi dưỡng kẻ không biết điều thường bị chúng lấy ơn làm oán mà hại mình. Nước chảy đá mòn: nước róc rách chảy lâu ngày cũng làm mòn đá, người tối dạ tới đâu cố gắng học cũng giỏi. Nước đến chân mới nhảy: người không lo suy tính trước, nhiều khi lỡ việc. Nước lã vã nên hồ: việc chẳng có chi hoặc rất nhỏ mà gây thành chuyện lớn. Nước mắt chảy xuôi: tình cảm giữa người thân bao giờ cũng bắt đầu từ trên đi xuống. Ông bà cha mẹ thương con cháu nhiều hơn là con cháu thương ông bà.

NG Ngang như cua: nói ngược, không thuận tai, khó được chấp nhận Ngồi lê đôi mách: tới nhà ai, kể chuyện hàng xóm và chê khen thêm bớt. Ngồi mát ăn bát vàng: ở không mà được hưởng sung sướng. Ngủ ngày quen mắt, ăn vặt quen mồm: tật xấu dễ thành thói quen Ngựa quen đường cũ: thói quen khó bỏ, làm việc xấu dầu được khuyên bảo, cũng nhớ chuyện cũ mà làm quấy lại. Người ăn ốc, kẻ đổ vỏ: người được hưởng lợi bỏ đi, kẻ khác đến sửa sang tu bổ. Người ăn thì có, người mó thì không: một đám người hầu hết chỉ ăn, không làm chi cả. Người ăn thì còn, con ăn thì hết: cho người ta món quà, họ sẽ biếu lại món khác, cho con cái, chúng ăn hết, đâu biếu lại gì Người bảy mươi học người bảy mốt: không ai dám phụ rằng khôn, rằng biết đủ mọi việc dù cho học nhiều cũng cần học hỏi thêm với người lớn tuổi có nhiều kinh nghiệm. Người đẹp về lụa, lúa tốt về phân: người dầu không đẹp nhưng biết cách trang điểm, mặc quần áo tốt cũng dễ coi. Người đi không bực bằng người chực nồi cơm: một người đi, người ở lại, người ở lại muốn biết kết quả công việc và chờ đợi ở người kia nên thấy thời giờ đi rất lâu. Người gầy thầy cơm: người ốm thường mạnh ăn Người khôn của khó: người khôn như vật quý rất ít và khó tìm ra. Người không học như ngọc không mài: người khôn cần học để biết sự đời, ngọc quí cần được mài dũa để thành vật trang sức quý giá. Người là vàng, của là ngãi: mạng người bao giờ cũng quí hơn bất kì của cải nào dù cao giá đến đâu Người làm sao chiêm bao làm vậy: người thế nào thì ước mơ thế ấy, người tham ước được của, người cờ bạc ước được tiền, người lành ước mơ có dịp giúp người.

NGH Nghe hơi nồi chõ: hay tin nhà nào có đám tiệc hoặc đình chùa có cúng thì tìm đến kiếm ăn. Nghe như vịt nghe sấm: nghe những lời lẽ cao siêu, những lời lẽ quá tầm hiểu biết nên chẳng hiểu chi hết. Nghèo (đói) cho sạch, rách cho thơm: giàu nghèo cũng nên giữ mình cho trong sạch, không gian tham, không làm sỉ nhục đến thanh danh. Nghèo rớt mồng tơi: nghèo quá không đủ ăn, đủ mặc. Nghĩa tử là nghĩa tận: chết là hết, thực ra còn nhiều niềm tin khác…

NH Nhà giầu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột: nhà giàu không quen cực khổ, hễ gặp phải trở ngại sơ sài hay đau ốm chút đỉnh là lo lắng lăng xăng, lại cũng sẵn tiền dám chịu tốn hao, ngược lại nhà nghèo đã quen dày dạn, và không sẵn tiền, nên để lây lất cho qua những cơn rủi ro Nhà giầu dẵm gai, bằng nhà khó gãy 2 xương sườn: ý nghĩa như trên. Nhà ngói cây mít: cất nhà thì nên cất nhà cho bền, trồng cây thì nên trồng cây mít vì loại này sống lâu, nghĩa bóng là cơ sở vững bền. Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm: nhà nào được quét dọn sạch sẽ, bàn ghế lau chùi trơn bóng ai bước vào cũng nghe hơi thở nhẹ nhàng, không khí mát mẻ dễ chịu. Mâm cơm cũng vậy, bát đĩa láng sạch không có mùi hôi, dầu đồ ăn chẳng ngon, ai dùng bữa cũng thấy ngon. Nhàn cư vi bất thiện: ở không hay làm quấy. Nhát như thỏ đế: rất nhát không khác gì giống thỏ rừng luôn luôn ẩn núp trong đám cỏ. Nhạt như nước ốc: nhạt lắm, không đậm đà niềm nở. Nhân vô thập toàn: làm người không ai vẹn tròn được cả mười. Nhập gia tùy tục, đáo giang tùy khúc: đến đâu phải trọng phong tục ở đó. Nhất con nhì cháu thứ sáu người dưng: về mặt tình cảm phải lo con trước rồi mới đến cháu, có thừa lắm mới tới người xa lạ. Nhất cử lưỡng tiện: một công hai việc, làm một lần mà xong cả hai. Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô: dầu chỉ có một con trai cũng được kể là con mình, còn người con gái cũng kể như không có. Con trai có con đều lấy họ nhà mình, con gái lấy chồng đều theo họ nhà chồng, đó là quan niệm thời trước. Nhất quỉ nhì ma, thứ ba học trò: học trò hay nghịch ngợm phá phách không khác gì ma quỷ. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh: chuyên một nghề cho giỏi, thì thân được sướng. Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ: theo sự sắp hàng ngày trước, người theo nghề nghiên bút đứng trước người làm ruộng, nhưng khi đói kém thì người làm ruộng được đứng trên, vật gì cũng chẳng hơn đồng tiền bát gạo. Nhất tội nhì nợ: khổ nhất là phạm tội, bị gông cùm, xa vợ con, thứ nhì là mắc nợ lo chạy ngược chạy xuôi. Ở đời cần tránh hai việc đó. Nhất vợ nhì Trời: lời mai mỉa kẻ sợ vợ cho rằng trên đời kẻ ấy coi vợ trên hết rồi mới tới Trời, các việc khác ở sau. Nhi nữ thường tình: tính thông thường của phụ nữ là yếu ớt, hay mủi lòng, bịn rịn chồng con. Nhịn đói nằm co, hơn ăn no phải làm: thà nhịn đói mà được ở không, sung sướng hơn là ăn no mà phải làm việc, đó là lý luận của kẻ lười biếng. Nhiều sãi không ai đóng cửa chùa: đông người mà thiếu tổ chức phân công cho rành thì công việc không chạy, việc thì đôi ba người dành làm, việc thì không ai ngó tới. Nhổ râu ông nọ cắm cằm bà kia: làm việc lộn xộn, việc của ngưòi này cho là của người khác. Như mèo thấy mỡ: mèo thích mỡ, mừng rỡ vì bắt gặp điều mong ước đúng ý nguyện hay sở thích

Ô Ông ăn chả bà ăn nem: vợ chồng phân bì nhau để tranh nhau làm quấy thường là đi cờ bạc hay trai gái với người khác. Ông nói gà bà nói vịt, ông bảo làm thịt, bà bảo để nuôi: kẻ nói thế này, người nói thế khác không hợp ý nhau rồi kiếm chuyện cãi nhau. Ông thầy khoe tốt, bà cốt khoe hay: ai cũng khoe tài mình để kể công. Ông Trời còn chẳng vừa lòng thiên hạ: trời đất tuy rộng lớn người ta còn có chỗ hờn như mưa chiều nắng gió…không ai ở cho vừa lòng người, hễ được lòng người này thì mất lòng người kia, vì quyền lợi cá nhân luôn luôn xung đột, ý mỗi người mỗi khác.

Ơ Ở bẩn sống lâu: lời tỏ sự lời biếng. Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài: do ảnh hưởng của hoàn cảnh, của giáo dục, của sự chung đụng hằng ngày mà con người có tính tốt hay xấu Ở chọn nơi, chơi chọn bạn: nếu biết chọn nơi cao ráo mát mẻ hay tiện lợi cho cuộc làm ăn thì nên chọn, cũng nên chọn người tốt mà chơi để học hỏi thêm điều hay. Ở hiền gặp lành: ăn ở hiền lành thì được nhiều cảm tình của người chung quanh, nên được nhiều người giúp đỡ làm ăn xoay sở dễ chịu. Ớt nào là ớt chẳng cay, gái nào là gái chẳng hay ghen chồng: đàn bà ai cũng có máu ghen, mà hễ ghen thì mất sáng suốt làm nhiều điều có hại cho gia đình và mất danh giá của chồng. Làm đàn ông phải biết điều đó mà tránh cho vợ ghen tương.

PH Phấn giồi mặt ai nỡ giồi chân: theo lẽ thường ở đời ai cũng làm điều phải để nêu danh thơm tiếng tốt. Phóng lao phải theo lao: đã bắt đầu làm việc gì, dầu khó cũng phải theo tới cùng mới hay Phú quí sinh lễ nghĩa: giàu sang rồi bày đặt khuôn phép nọ kia cho rắc rối. Phúc đức tại mẫu: con nhờ đức của mẹ.

Q Qua sông phải lụy đò: Muốn qua sông phải năn nỉ người ta chở thuyền đò. Muốn xong việc mình phải hạ mình năn nỉ người giúp. Quan nhất thời, dân vạn đại: người chức việc chỉ làm một thời gian dài vắn, còn dân thì làm dân muôn đời, dầu chức trọng quyền cao thế nào khi về già cũng trở về với dân Quen mui thấy mùi ăn mãi: được lợi một lần ăn quen khai thác mãi. Quí hồ tinh bất quí hồ đa: cái quý là ở chỗ tinh ròng, phẩm chất, chớ không ở số nhiều về lượng Quít làm cam chịu: người này gây tội mà người khác bị oan ức. Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách: nước nhà còn hùng hay phải mất, một người dân thường cũng có trách nhiệm

R Ra đường hỏi già, về nhà hỏi trẻ: việc ngoài đường thì nên hỏi người lớn, người quen, việc trong nhà thì nên hỏi trẻ vì chúng hay nói thật, không biết dối quanh. Rán sành ra mỡ: có ít muốn lợi nhiều. Râu ông cắm cằm bà: lấy chỗ nọ vá chỗ kia để làm lợi cho mình. Rối như canh hẹ: chuyện khó giải quyết. Hẹ nấu chín rối vào nhau khó múc. Rủ nhau làm phúc, chớ rủ nhau đi kiện: nên kiếm người làm tốt, hơn là rủ nhau đi kiện cáo, gây thù oán. Rút giây động rừng: nói một người động những người khác Ruộng bề bề không bằng nghề trong tay: ruộng đất rộng, tiền của nhiều chưa hẳn là sung sướng, vì còn sợ lo mất trộm, có ngày phải đói, nhưng có sẵn một nghề trong tay thì không sợ đói. Rượu vào lời ra: rượu uống vào thì ngà ngà say rồi sinh hứng nói chuyện lung tung nhiều khi đến cãi nhau.

S Sa cơ lỡ bước: rủi ro, lầm lỡ trong một lúc mà hại lâu Sai một li đi một dặm: tính sai một bước, việc có thể thất bại to. Sáng tai ọ, điếc tai cày: người làm biếng, bảo nghỉ thì nghe rất rõ nghỉ liền, nhưng bảo làm thì giả bộ không nghe cứ lờ đi mà chơi mãi. Sau cơn mưa trời lại sáng: hết hoạn nạn đến vinh quang. Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì: em trai thường giúp anh, em gái sẵn lòng giúp mẹ Sẩy đàn tan nghé: trâu con mà bị lạc đàn tức thì bị thú dữ ăn thịt. Còn trẻ mà bỏ cha mẹ ở nhà đi hoang thế nào cũng hư. Sấm bên đông động bên tây: nói người này để nhắc nhớ người khác. Sinh con ai dễ sinh lòng: mẹ sinh hình hài con cái còn lòng nó thì tự nó có hoặc do ảnh hưởng bên ngoài hoặc do Trời ban cho. Sinh, lão, bệnh, tử: sinh ra, rồi già, rồi bệnh, rồi chết, 4 cái khổ của con người theo Phật giáo. Sinh kí, tử qui: sống ở, chết về. Quan niệm xem đời là cõi tạm, chỗ ở đời đời là niết bàn hay thiên đàng, bởi vậy sống không mừng, chết không sợ. Sinh li tử biệt: sống thì xa nhau, chết thì biệt hẳn.Cảnh đau đớn giữa người thân với nhau. Sinh vô gia cư, tử vô địa táng: quá nghèo sống không nhà ở, chết không đất chôn. Sông có khúc, người có lúc: sông có khúc cạn khúc sâu, khúc quanh khúc thẳng, con người có lúc làm nên, có lúc suy sụp, bởi vậy không nên nản chí Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi: xem mạch bắt thuốc xong thì lấy tiền, còn bệnh có lành hoặc có chết, làm nên hay hư không cần biết đến nữa. Sống để bụng, chết mang theo: giữ việc bí mật cho đến chết chớ chẳng nói ra hoặc ôm mối thù trong lòng để chờ ngày trả thù cho bằng được Sống đục sao bằng chết trong: sống một đời nhục nhã sao bằng chết mà danh được trong sạch Sống khôn chết thiêng: khi còn sống đã có trí khôn hiểu biết mọi việc bây giờ chết rồi cũng nên linh thiêng mà chứng giám phù hộ. Sống tết, chết giỗ: cha mẹ còn sống thì mình phải nuôi dưỡng kính trọng, mỗi ngày tết trong năm đều phải có lễ tết cho cha me, khi chết thì thờ kính cúng giỗ đàng hoàng. Sợ người nói phải, hãi người cho ăn: người nói phải sử xự đàng hoàng mình sợ đã đành, người mà mình làm công để sống cũng phải sợ, vì không vậy mình sẽ mất bát cơm. Suy bụng ta ra bụng người: ý mình thế nào thì ý người khác cũng vậy, nên ăn ở thế nào cho phải, chứ đừng dành cả phần lợi cho mình mà để thiệt cho người. Bụng mình xấu rồi tưởng người ta cũng xấu như mình. Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay: óc chủ quan khiến ai cũng thấy chỉ có mình là hay là giỏi, nhất là hay dành phần phải về mình.

T Tai bay vạ gió: tai họa từ đâu đến cách bất ngờ. Tai nghe không bằng mắt thấy: nghe lời đồn đãi hoặc nghe người nói lại không đáng tin bằng chính mắt mình thấy. Tai vách mạch rừng: trẻ vô tình nghe lóm câu chuyện rồi đồn thổi ra ngoài, dù mình chỉ nói với người thân trong nhà. Tay làm hàm nhai: nghèo làm bữa nào ăn bữa nấy chứ không có dư. Tay xách nách mang: mang xách đùm đề. Tam sao thất bản: sao đi chép lại vài lần thì sai hẳn nguyên văn. Kẻ nói đi người nói lại không thể đúng sự thật được. Táng tận lương tâm: tàn nhẫn, làm một việc hết sức độc ác không kể tình nghĩa hay phải trái chi cả. Tắt lửa tối đèn: lúc nhà có việc bất cứ lớn nhỏ đều cần có lối xóm giúp đỡ. Tiên học lễ hậu học văn: trước học cách sống, sau học chữ nghĩa Tiên trách kỉ, hậu trách nhân: trước cần trách mình, sau mới trách người. Tiền dâm hậu thú: lấy trước cưới sau. Tiền mất tật mang: chữa trị hết tiền mà bệnh tật vẫn còn Tiền rừng bạc bể: giàu có, tiền bạc man vàn Tiền trao cháo múc: mua bán sòng phẳng không nợ nần Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống: nghèo có đồng nào xài hết đồng nấy Tiếng chào cao hơn mâm cỗ: xã giao lịch thiệp, kính trọng nhau quý hơn miếng ăn. Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn ba ngày làng: làm phải, làm quấy đều có người hay biết và đồn đãi xa gần Tiếng ong tiếng ve: lời thủ thỉ xui giục. To gan lớn mật: bạo dạn, dám làm những việc to tát, nguy hiểm. Tốt danh hơn lành áo: ăn ở hiền lành càng sinh nhiều lợi cho có tiếng tốt với đời hơn là lo cái mã cho đẹp. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn: nên trọng cái thực chất bên trong còn cái vỏ bên ngoài càng lòe loẹt càng tố cáo cái hèn kém bên trong. Ca dao có câu: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người”. Tốt thì khoe ra, xấu xa đậy điệm: cái gì tốt thì đem ra khoe, cái gì xấu thì che giấu mất đó là tánh tự nhiên của người thường. Bởi vậy thấy cái gì tốt của người chớ vội tin rằng tất cả những gì của người ấy cũng đều tốt, biết đâu họ còn nhiều cái xấu đang được che lấp. Ngược lại, khi biết được cái xấu của người ta, ta nên thản nhiên cho đó là lẽ tự nhiên chớ đừng giận sao người ta gạt mình hoặc moi móc ra mà làm cho người ta phải xấu hổ. Tốt lễ dễ xin: nói lên tình trạng tham nhũng, không ngay thẳng. Lễ lỡi làm mù mắt quan xét. Tới đâu hay đó: cứ để sự việc xảy ra tự nhiên, hi vọng sẽ tìm được cách đối phó Tùy cơ ứng biến: tùy việc xảy ra mà tìm cách cư xử, không theo khuôn khổ nào. Tự ti mặc cảm: tủi phận vì thấy thấp kém, dầu có nhiều chỗ khác bằng, hơn người. Tương kính như tân: vợ chồng nên kính trọng như khách mới sống cả đời với nhau được. Tửu nhập ngôn xuất: uống rượu vào, say sưa ăn nói lung tung.

TH Tha phương cầu thực: đi làm ăn ở xứ xa. Thả mồi bắt bóng: bỏ cái đã nắm trong tay để theo tìm cái mới rồi đặt hy vọng vào Thác trong hơn sống đục: giữ lòng trong trắng mà chịu chết hơn làm việc nhuốc nhơ để được sống. Thay trắng đổi đen: mưu mẹo gian xảo, thay đổi sự việc Thay lòng đổi dạ: ăn ở bội bạc với người cũ, trước thương sau ghét, trước trung hậu, sau phản Tham bữa cỗ bỏ bữa cày: bữa cỗ ngon cũng kém hơn bữa cày Tham quyền cố vị: ham quyền chức mà tìm đủ cách để củng cố địa vị không kể quyền lợi chung của dân của nước, người nước nào cũng nhiều kẻ như vậy Tham sinh úy tử: thói thường người ta ai cũng ham sống sợ chết. Tham tài hiếu sắc: người nữ muốn lấy chồng giỏi, người nam muốn lấy vợ đẹp Tham thì thâm: người tham lam hay làm điều càn dỡ không cân nhắc lợi hại. Tham thực cực thân: ham ăn, ăn nhiều quá thường sinh hại thân. Vì quá tham lam danh lợi mà làm điều phi pháp phải tù đày cực khổ. Tham trăng quên đèn: mê người có sắc đẹp hơn hoặc giàu có hơn mà ruồng rẫy vợ/chồng cũ Tham vàng bỏ nghĩa: vì miếng mồi danh lợi mà phải bỏ cái nghĩa đáng lẽ mình phải giữ đối với một người nào đó. Thanh thiên bạch nhật: thời gian giữa ban ngày Thao thao bất tuyệt: nói hay viết cách trôi chảy, không vấp Thăm ván bán thuyền: Người bội bạc, vừa quen người mới, đã phụ bạc người cũ. Vừa biết có ván tốt, đã tính bán chiếc thuyền đang dùng. Thắm lắm phai nhiều: cái gì quá độ cũng chóng nhạt phai Thằng chết cãi thằng khiêng: đã thất bại lại còn chống chế với người đang tìm phương cách cứu mình. Thắt lưng buộc bụng: ăn tiêu dè dặt, tiết kiệm lại, sợ thiếu thốn về sau. Thầy bói nói dựa: phần nhiều thầy bói chỉ dựa theo lời hay sắc mặt của thân chủ mà đoán, nếu thấy sai họ mau miệng sửa lại. Thấy của tối mắt: thấy tiền của nhiều quá thì động lòng tham, không nghĩ đến nhân nghĩa hay luật pháp. Thấy người sang bắt quàng làm họ: thấy ai được thiên hạ yêu chuộng hay kính nể thì tìm cách làm thân. Thần giao cách cảm: sự giao cảm giữa hai người ở cách xa hai nơi. 209. Thập tử nhất sinh: lúc bệnh nặng, coi như sắp chết 210. Thất bại là mẹ thành công: nhờ thất bại mà có kinh nghiệm để thành công. Không nên thối chí mà bỏ. 211. Thật thà là cha quỷ quái: gian dối xảo quyệt thế nào cũng không quí bằng thành thật 212. Thật thà như đếm: thật thà lắm, việc chi biết chắc mới nói chứ không đoán chừng. 213. Theo đóm ăn tàn: nịnh bợ, dù hưởng lợi không là bao 214. Thề sống thề chết: nhất định đem mạng sống ra thề cho người ta tin. 215. Thế thái nhân tình: thói đời và tình người. 216. Thiên thời, địa lợi, nhân hòa: ba điều kiện chính để thành công: vận trời, thế đất, lòng người 217. Thọc gậy bánh xe: bày ra điều làm trở ngại công việc của người ta đang tiến hành. 218. Thợ may ăn giẻ, thợ mã ăn hồ: làm nghề gì cũng có ăn gian chút đỉnh đó là việc nhỏ mọn thường tình, nên bỏ qua 219. Thơm (Tốt) danh hơn lành áo: ở đời giàu nghèo mà được tiếng tốt, hơn giàu mà mang tiếng xấu. 220. Thua trời một vạn, không bằng thua bạn một ly: thua Trời là tự nhiên, đừng để thua bạn cùng giống với mình 221. Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn: trong nhà vợ chồng hòa thuận nhau thì việc chi dầu khó mấy cũng xong. 222. Thuốc đắng giã tật, lời thật mất lòng: thuốc đắng trị mau lành bệnh, lời thật khó nghe nhưng rất có ích để nên tốt. 223. Thức khuya mới biết đêm dài, ở lâu mới biết lòng người có nhân: thời gian minh chứng cho biết hơn thiệt 224. Thương con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi: nuông chiều con là làm cho con hư hỏng, không nhất thiết phải đánh đập, nhất là khi nóng nảy.

TR

225. Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa: Chê người hay việc không vừa ý, lại gặp người hay việc khác còn tệ hơn nhiều. 226. Tránh ma chẳng xấu mặt nào: thua người mạnh hơn mình về sức lực, không bị ai chê cười cả. 227. Trăm con ếch cũng bắt được con ếch: chịu khó và bền chí thế nào cũng thành công. 228. Trăm hay không bằng tay quen: giỏi về lý thuyết mà không thực hành cũng không bằng người làm quen giàu kinh nghiệm. 229. Trăm voi không được bát nước xáo (giống như mười voi không được bát nước xáo): nói nhiều, hứa nhiều không có kết quả 230. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết: hai người, hai phe, hai nước đánh nhau, dân chúng hay người ở gần bị họa lây. 231. Trâu chậm uống nước đục: chậm chân thì dùng của thừa thãi, chịu nhiều thiệt thòi 232. Trẻ cậy cha, già cậy con: con còn trẻ nhờ cha mẹ nuôi dưỡng, che chở. Khi cha mẹ già, nhờ lại con, đó là quan niệm gia đình của người phương Đông. 233. Trẻ vui nhà, già vui chùa: trẻ con làm cho gia đình vui vẻ, nhờ chúng hay đùa giỡn, người già siêng đi chùa, nhà thờ làm vui cảnh chùa nhà thờ 234. Trèo cao té đau: càng ham ở địa vị cao, khi thất bại, càng khổ đau 235. Trên đe dưới búa: kẹt giữa hai sức mạnh không lối thoát. 236. Trên kính dưới nhường: cách ở đời của người lịch sự hay đứa con hiếu thảo 237. Trêu cò, cò mổ mắt: khinh người kém thế hay yếu sức, trong đường cùng để bảo vệ danh dự người ta sẽ chống lại mình. 238. Trói gà không chặt: người yếu sức không làm nên việc lớn. 239. Trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã hay: người có trách nhiệm trong nhà chưa hay biết mà tiếng tăm đã đồn đãi xa gần. 240. Trong đầm gì đẹp bằng sen, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn: chung lộn với kẻ xấu mà không giống họ. 241. Trốn việc quan đi ở chùa: tìm cách tránh làm phận sự gia đình. 242. Trông gà hóa cuốc: không tinh mắt, trông vật này ra vật khác. Lầm lẫn việc này với việc kia. 243. Trông mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo thì lòng mới ngon: xem tướng người mà đối xử cách trọng hay khinh 244. Trống đánh xuôi kèn thổi ngược: cùng phe mà kẻ nói này, kẻ nói khác. 245. Trời cao có mắt: Trời ở trên cao thấu hiểu mọi việc làm thiện ác của người đời để rồi chẳng sớm thì muộn cũng thưởng phạt. 246. Trời cho hơn lo làm: mọi của do làm ra hay do may mắn đều có gốc là do trời cho cả. 247. Trời đánh còn tránh bữa ăn: việc quan trọng cách nào, cũng phải lịch sự, đợi người ta dùng bữa xong sẽ nói, sẽ làm 248. Trời sinh trời dưỡng: Trời đã sinh con người, đồng thời cũng lo nuôi dưỡng, nếu ta siêng năng làm việc thì không sợ chết đói, có bệnh cũng cứ bình tĩnh lo thuốc thang.

V

249. Vạch áo cho người xem lưng: bày cái dở cái xấu của mình hay của phe mình một cách vô ý thức cho người ta thấy. 250. Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm: vắng người có quyền trong nhà, kẻ dưới vượt quyền, lên mặt ức hiếp bạn bè 251. Vắt cổ chày ra nước: ráo riết, khai thác triệt để. 252. Vắt chanh bỏ vỏ: bạc bẽo, dùng đến hết sức người ta, giục bỏ không thương tiếc 253. Vặt đầu cá, vá đầu tôm: lấy cái nọ bù vào cái kia, thiếu vẫn hoàn thiếu 254. Vẽ đường cho hươu chạy: chỉ đường cho người rành việc hơn mình. 255. Việc người thì sáng, việc mình thì quáng: việc của người, mình không trách nhiệm thì giải quyết dễ dàng, việc của mình thì khó giải quyết êm đẹp. Lỗi lầm của người, mình đứng ngoài trông thấy rất rõ, lỗi của mình thì mù mờ, giấu nhẹm 256. Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng: việc của mình, không bị ai thúc giục, bỏ qua không lo đến, việc của người khác thì tỏ ra sốt sắng giúp đỡ 257. Vỏ quít dày, móng tay nhọn: dầu khôn ngoan, lanh lợi, xảo trá đến đâu, cũng có kẻ đồng tài, hoặc cao hơn chống lại. 258. Vong ân bội nghĩa: lời chê trách người đã mang ơn rồi tỏ ra bội bạc với người ấy. 259. Vơ đũa cả nắm: không phân biệt người tốt kẻ xấu, việc hay việc dở. 260. Vụng chèo, khéo chống: có lỗi nhưng tìm cách chống đỡ để khỏi chịu trách nhiệm 261. Vụng múa, chê đất lệch: làm vụng về hoăc sai lầm rồi kiếm cớ chạy tội. 262. Vừa ăn cướp, vừa la làng: làm quấy lại to tiếng thanh minh, đánh lạc hướng

X 263. Xanh vỏ đỏ lòng: tuy xấu bên ngoài, nhưng lòng dạ rất tốt 264. Xấu đều hơn tốt lỏi: đều đặn với nhau, còn hơn điều tốt mà so le lệch lạc 265. Xấu gỗ hơn tốt nước sơn: hôn nhân: trọng người có đức tốt hơn người có sắc đẹp 266. Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ: người xấu bụng thì hay khoe tốt cho mình, người dốt lại hay mượn lời của thánh hiền nói để loè người ta. 267. Xôi hỏng bỏng không: để hư việc lớn, quay sang việc nhỏ cũng hỏng luôn. 268. Xởi lởi trời gởi của cho, so đo trời co ro lại: rộng rãi với người, Trời ở rộng cho, keo kiết với người, Trời không cho nữa 269. Xúc tép nuôi cò: uổng công làm việc vô ích cho ai mà bị phản bội

Y 270. Y phục xứng kì đức: người địa vị nào đối xử, ăn mặc theo vị ấy 271.Yêu con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi: cha mẹ nuông chiều, con sẽ hư 272.Yêu nên tốt, ghét nên xấu: Tình yêu che lấp mọi khuyết điểm, khó khăn 273Yêu nhau lắm, cắn nhau đau: càng yêu nhiều, khi giận nhau càng trả đũa mạnh 274.Yêu nhau như chị em gái, dái nhau như chị em dâu, đánh nhau vỡ đầu là anh em rể: cùng khúc ruột thì tự nhiên thân nhau hơn 275.Yêu trẻ trẻ đến nhà, kính già, già để tuổi cho: trẻ yêu ai yêu nó, già thích ai trọng mình.

Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam / 2023

LTS: Chỉ ra các sai sót chủ yếu trong phần Tục ngữ của cuốn sách Ca dao tục ngữ Việt Nam do Phương Thu sưu tầm và biên soạn được Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2004, tác giả Trần Sơn đã có bài viết chia sẻ. Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả bài viết.

Ở bài viết này, người viết xin được chỉ ra các sai sót chủ yếu trong phần Tục ngữ của cuốn sách.

Trong phần này, do sơ suất từ khâu biên soạn, biên tập và in ấn đã có hàng chục câu tục ngữ sai với các kiểu sai khác nhau đã làm cho các câu tục ngữ này bị biến dạng, nhiều khi rất vô nghĩa và hài hước.

Nhầm thơ trong Truyện Kiều thành tục ngữ

Có một số câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du mà soạn giả Phương Thu lại nhầm thành tục ngữ.

Đó là câu “Chữ trinh đáng giá ngàn vàng” (trang 40), đây vốn là câu thứ 3095 trong Truyện Kiều; còn câu “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê” (trang 86) là câu thứ 1306 của Truyện Kiều.

Chữ tác đánh chữ tộ

Tất nhiên mỗi câu tục ngữ cũng như các thể loại văn học dân gian khác có thể có nhiều dị bản, nhưng trong cuốn sách này rất nhiều câu tục ngữ bị viết sai chứ đó không phải là các dị bản của câu tục ngữ đó.

Đây là kiểu sai sót phổ biến trong cuốn sách này, không biết là do khâu biên soạn, biên tập hay lỗi đánh máy mà rất nhiều câu trong đó chữ “tác” đánh chữ “tộ” làm cho nhiều câu tục ngữ bị sai nghĩa, thậm chí vô nghĩa.

Câu “Ăn lấy chắc, mặc lấy bền” bị biến thành câu “Ăn lấy chắc, mặc lấy tiền” (trang 4).

“Mặc lấy bền” mới có ý nghĩa và tương thích với vế trước của nó là “Ăn lấy chắc”, chứ “mặc lấy tiền” thì có ý nghĩa gì?

Câu “Xấu mặt xin tương, cả phường cùng húp” được những người làm sách chép thành “Xấu mặt xin tương, cả phường cùng úp” (trang 6). Xin tương là để cùng húp chứ xin tương để cùng úp thì có nghĩa gì?

Câu “Giàu thủ kho, no nhà bếp” bị biến thành “Giàu chủ kho, no nhà bếp” (trang 7).

“Chủ kho” thì giàu là tất nhiên rồi, sao cần phải nói nữa; thực ra, từ đúng trong câu tục ngữ này phải là “thủ kho” (người giữ kho). Đây chắc nhìn chữ nọ sọ chữ kia nên hóa sai.

Câu “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ” được cuốn sách viết thành “Tay làm hàm nhai, tay quay miệng trễ” (trang 15) đã làm cho câu tục ngũ bị sai nghĩa hoàn toàn vì “tay quay” cũng có nghĩa là “tay làm” (quay có nghĩa là hoạt động).

Vậy “tay làm” mà “miệng trễ” thì mâu thuẫn quá, không hợp với lôgíc trong câu tục ngữ này.

Câu “Ăn cơm lừa thóc, ăn cóc bỏ gan” bị biến thành câu “Ăn cơm lừa thóc, ăn cỏ bỏ gan” (trang 20).

Cỏ làm sao có ganmà bỏ? Làm sách tục ngữ kiểu này đúng là quá xem thường độc giả.

Câu “Ghen vợ, ghen chồng chẳng nồng bằng ghen ăn” được soạn giả chép thành “Ghen vợ, ghen tuồng không nồng bằng miếng ăn” (trang 20).

Đang nói về “ghen vợ” sao không ghép với “ghen chồng” lại ghép “ghen tuồng”? Đây cũng là kiểu chép nhầm “tác” thành “tộ”.

Câu “Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống” được cuốn sách viết thành “Tiền vào nhà khó như gió từ nhà trống”.

“Từ” với “vào” nghĩa khác nhau, vế trước dùng từ “vào” thì vế sau cũng phải dùng từ “vào” mới hợp lôgíc và cấu trúc của câu tục ngữ này.

Câu “Của chẳng ngon, nhà đông con cũng hết” bị viết sai thành câu “Của chẳng ngon, nhà nhiều con chẳng hết” (trang 42).

Nghĩa của câu tục ngữ sai này rất không ổn vì nó phi lôgic. Câu tục ngữ này nghĩa hai vế là đối lập nhau, “của chẳng ngon” nhưng “nhà đông con cũng hết” mới hợp lý chứ “của chẳng ngon” nhưng “nhà nhiều con chẳng hết” thì chẳng có ý nghĩa gì.

Câu “Hùm dữ chẳng nỡ ăn thịt con” bị viết sai thành “Hùm chẳng ăn thịt con” (trang 43).

Đọc câu tục ngữ sai này nghe như là đang nói về một loài thực vật nào đó chứ không phải nói về con vật.

Trang 46 có câu “Áo năng may năng nói, người năng tới năng thân”. Áo mà lại biết nói ư? Hay là tác giả đã nhân hóa?

Hóa ra là lỗi nhầm từ do trông gà hóa cuốc, từ “mới” lại đánh thành từ “nói”, vì câu tục ngữ đó đúng phải là “Áo năng may năng mới, người năng tới năng thân”.

Vẫn ở trang này, lại có câu “Thua trời một bạn, không bằng thua bạn một ly”. Đọc lên thấy rất lạ, từ xưa nay lấy “bạn” làm đơn vị số lượng để so sánh bao giờ và “bạn” thì làm sao đối được với “ly”.

Hóa ra, cụm từ “một vạn” được những người làm sách đánh nhầm thành “một bạn”.

Thực ra câu tục ngữ này còn có một dị bản nữa là “Thua thầy một vạn, không bằng thua bạn một ly”.

Trang 48 có 2 câu tục ngữ được viết sai: “Tháng giêng rét dài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng ” và “Mồng bảy ngâu ra, mồng ba ngâu”. Thì ra, chữ “tác” đánh chữ “tộ” nên “Bân” viết thành “Bần” , “vào” viết thành “vàng”.

Trang 49 của cuốn sách lại có câu tục ngữ rất lạ “Sao thì , sao thì ” mặc dù ngay dưới câu này là câu “Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”.

Vậy là hai câu tục ngữ này “cãi nhau”: một câu nói xuôi, một câu nói ngược. Thực ra, chỉ có câu sau là đúng, câu trước là sai. Đây là lỗi của soạn giả và cả người biên tập.

Trang 55 có câu “Làm tùy phủ, ngủ tùy chồng”. Đang nói về nơi chốn sao lại nói người, “phủ” thì phải đi với “nhà” chứ, sao lại đi với “chồng”.

Thực ra, câu tục ngữ đúng là “Ăn tùy chủ, ngủ tùy chồng”. Hóa ra, do nghe từ được, từ mất mà những người làm sách đã nhầm “chủ” thành “phủ”.

Thực ra, chỉ có câu tục ngữ “Giỏ nhà ai, quai nhà ấy”, vì chỉ có “quai” đi với “giỏ” mới hợp.

Và, có như vậy mới đảm bảo ý nghĩa và vần của câu tục ngữ chứ không có câu tục ngữ sai như sách đã viết.

Trang 60 có câu “Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò chạy đi”.

Trẻ mới có chín tháng thì làm sao mà “chạy đi” được, mà mới “lò dò” thì làm sao mà “chạy đi” được?

Đây là lỗi kiến thức của soạn giả. Thực ra, phải thay “chạy đi” bằng “biết đi” mới đúng.

Trang 63 có câu “Để đau chạy thuốc, chẳng tành giải trước thì hơn”. Đọc câu này, độc giả chẳng hiểu “chẳng tành” có nghĩa là gì.

Hóa ra, những người làm sách nhầm chữ nọ sang chữ kia, “chẳng thà” hóa “chẳng tành”. Đúng là một kiểu làm sách quá ẩu!

Trang 56 cũng có lỗi tương tự khi sách viết nhầm “hỏng” thành “lỏng” trong câu “Kén quá hóa lỏng“. Đọc câu tục ngữ sai này độc giả không hiểu vì sao “kén quá” lại “hóa lỏng”.

Câu tục ngữ “Gieo gió gặt bão” bị viết sai thành “gieo gió gặp bão” (trang 113). Đây là câu tục ngữ chỉ quan hệ nhân quả nên “gieo” phải đi với “gặt” mới phù hợp, chứ không thể đi với “gặp”.

Trang 115 có cuốn sách có câu tục ngữ rất buồn cười ” ăn thì no, co thì ấm”.

Phải chăng những người làm sách này hiểu câu tục ngữ trên là “kéo nhau đi ăn thì sẽ no và mùa rét năng kéo co thì sẽ ấm”?

Thực ra, đây là câu tục ngữ rất quen thuộc “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”.

Làm sách tục ngữ kiểu này đúng là làm hỏng ngôn ngữ, tục ngữ thành “ngữ tục”!

Câu “Con bò cạp có nọc đằng đuôi” bị chép sai thành “Con bò cọp có nọc ở đuôi” (trang 25).

Bò là bò, cọp là cọp làm gì có con bò cọp. Hóa ra là lỗi biên tập, lỗi đánh máy ẩu nên “con bò cạp” thành “con bò cọp”.

Tương tự như trên câu “Trưởng giả còn thiếu trã nấu ăn” bị viết sai thành ” giả còn thiếu nấu ăn”.

Vì lỗi đánh máy, lỗi chính tả mà câu tục ngữ này thật tối nghĩa, không hiểu nổi.

Trong phần Tục ngữ, lỗi đánh máy chữ nọ sọ chữ kia, sai chính tả trong cuốn sách còn xuất hiện ở rất nhiều câu tục ngữ nữa như:

Câu “Vắng trăng có sao, vắng đào có lý” thành “Vầng trăng có sao, vắng đào có lý” (trang 39);

Câu “Ở góa ba năm lấy chồng buồn ngủ” thành “Ở hóa ba năm lấy chồng buồn ngủ” (trang 37);

“Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” thành “Một tiếng giữa làng, bằng một sàng xó bếp” (trang 34);

“Lẽ” thành “lẻ” trong câu “Gái phải làm lẻ thà rằng chết trẻ còn hơn” (trang 35);

“Nhỡ” thành “nhở” trong câu “Đừng tham da trắng tóc dài, đến khi nhở bữa chẳng mài mà ăn” (trang 35);

“Mặt” thành “mặc” trong câu “Đánh chuông ra mặc, đánh giặc ra tay” (trang 33);

“Lắt léo” thành “lắc léo” trong câu “Lưỡi không xương nhiều đường lắc léo” (trang 32);

“Đau” thành “đâu” trong câu “Miếng ngon nhớ lâu, lời đâu nhớ đời”;

“Phường” thành “phương” trong câu “Buôn có bạn, bán có phương” (trang 18);

“Trỏ: thành “trò” trong câu “Cho nhau vàng, không bằng trò đàng đi buôn” (trang 18);

“Xơ” thành “sơ” trong câu “Ăn mít bỏ sơ, ăn cá bỏ lờ” (trang 10).

Ngoài ra, còn rất nhiều câu khác trong phần Tục ngữ cũng bị in sai như:

“Hết cơn cực, đến hồi thái lai” (trang 116); “Tắt đèn, ngói cũng như nhà tranh” (trang 116); “Non cao ai đắp mà … ” (trang 113); “Con giun lắm cũng ” (trang 109); “Văn , vợ người” (trang 109); “Đi một ngày đàng, học một khôn” (trang 106);

“Những người mắt nhọ nhem, bởi chưng kiếp trước đĩa đèn không lau” (trang 94); “Đất cứng trồng cây ngả ” (trang 74); “Nhất chơi tiền, nhì tiền” (trang 64); “Ba năm ở với người /Chẳng bằng một lúc đứng gần người khôn” (trang 105).

Phải chăng vì cuốn sách này không có người sửa bản in (không thấy đề ở cuối sách) nên sách này có rất nhiều lỗi đánh máy và người đánh máy lại là một người nghiệp dư và làm ẩu?

Râu ông nọ cắm cằm bà kia

Đây là kiểu sai sót mà soạn giả lấy nửa câu tục ngữ nọ ghép mới nửa câu tục ngữ kia để làm ra câu mới một cách khiên cưỡng, không hợp cả về vần và về nghĩa.

Câu ” Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại biết đâu mà dò ” (trang 71) lấy phần đầu của câu “Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo” (trang 72) và phần cuối của câu “Người khôn rào trước đón sau, để cho người dại nửa mừng nửa lo” (trang 71) rồi ghép một cách cơ học lại với nhau.

Câu “Mực mài tròn, mài son đánh giặc” (trang 24) cũng được lắp ghép theo cách tương tự như trên.

Phần đầu “Mực mài tròn” lấy ở câu “Mực mài tròn, son mài dài”; phần sau “mài son đánh giặc” lấy ở câu “Mài mực ru con, mài son đánh giặc”.

Đây đúng là cách sáng tác tục ngữ theo kiểu “Râu ông nọ cắm cằm bà kia” điển hình của soạn giả.

Chẻ một câu tục ngữ làm hai

Đây có lẽ là lỗi trình bày. Một câu tục ngữ dạng thơ lục bát được trình bày thành 2 dòng nhưng đầu mỗi dòng đều có dấu gạch ngang nên người đọc nhầm tưởng là 2 câu tục ngữ.

Có hàng chục câu tục ngữ mắc lỗi như vậy kéo dài suốt từ trang 105 đến trang 115.

– Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

– Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người (trang 105).

– Muốn sang thì bắc cầu kiều,

– Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy (trang 106).

– Một cây làm chẳng nên non,

– Ba cây chụm lại nên hòn núi cao (trang 107).

– Người khôn con mắt đen sì,

– Người dại con mắt nửa chì nửa thau (trang 108).

– Nói lời thì giữ lấy lời,

– Đừng như con bướm đầu rồi lại bay (trang 109).

– Vàng thì thử lửa thử than,

– Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời (trang 110).

– Thứ nhất thì tu tại gia,

– Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa (trang 112).

– Khúc sông bên lở bên bồi,

– Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm (trang 113).

– Sự đời nghĩ cũng nực cười,

– Ai ơi đã quyết thì hành.

– Đã đan thì lận tròn vành mới thôi (trang 115).

Nhầm thành ngữ, tục ngữ thành ca dao

Trong phần cuối của cuốn sách (phần Ca dao), trong mục 14. Ca dao đối với giai cấp phong kiến, soạn giả đã đưa hàng trăm câu tục ngữ, thành ngữ vào mục này.

Vậy là soạn giả không phân biệt rõ được đâu là ca dao, đâu là tục ngữ, thành ngữ.

Đầu tắt, mặt tối; Thắt lưng, buộc bụng; Cái khó bó cái khôn; Tham buổi giỗ, lỗ buổi cày; Một năm làm nhà, ba năm hết gạo; Ruộng sâu, trâu nái; Hết nạc vạc đến xương;

Giàu bán chó, khó bán con; Bút sa, gà chết; Miệng quan, trôn trẻ; Được làm vua, thua làm giặc; Nén bạc đâm toạc tờ giấy; Khó giữ đầu, giàu giữ của ;…

Cuốn sách ca dao tục ngữ Việt Nam có nhiều sai sót này, năm 2010, lại được Nhà xuất bản Thời Đại liên kết với Nhà sách Minh Thắng xuất bản vẫn giữ nguyên mẫu bìa cả trước, cả sau.

Tuy nhiên, trong cuốn sách mới này vẫn còn hàng câu tục ngữ sai vẫn chưa được sửa chữa như:

Ăn cơm lừa thóc, ăn bỏ gan; Ở ba năm, lấy chồng buồn ngủ; Giàu kho, no nhà bếp; Mực mài tròn, mài son đánh giặc; Làm tùy , ngủ tùy chồng;

Áo năng may năng , người năng tới năng thân; Ghen vợ, ghen không nồng bằng miếng ăn; Đánh chuông ra , đánh giặc ra tay; Kén quá hóa ; Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò đi; Để đau chạy thuốc, chẳng giải trước thì hơn…

Hiện nay trên mạng, một số nhà sách và Facebook vẫn đang rao bán cuốn sách này.

Để góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, đề nghị các cơ quan chức năng cho kiểm tra và có biện pháp xử lí thích hợp với các đơn vị xuất bản và phát hành.

Đặc biệt là độc giả cần lựa chọn những cuốn sách được làm một cách nghiêm túc, được ấn hành bởi các nhà xuất bản uy tín.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tục Ngữ Khánh Hòa – Nhà Văn Việt Nam / 2023 trên website Altimofoundation.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!