Đề Xuất 5/2022 # Tục Ngữ, Ca Dao Địa Danh Ninh Bình (Lv Thạc Sĩ) # Top Like

Xem 14,850

Cập nhật nội dung chi tiết về Tục Ngữ, Ca Dao Địa Danh Ninh Bình (Lv Thạc Sĩ) mới nhất ngày 25/05/2022 trên website Altimofoundation.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 14,850 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa Việt Nam
  • Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Rượu
  • Mái Đình Làng Trong Văn Hóa Việt
  • Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Địa Danh
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hạnh Phúc, Bất Hạnh, Hiếu Thảo, Có Hiếu
  • ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

    BÙI CÔNG ĐOẠT

    TỤC NGỮ, CA DAO ĐỊA DANH NINH BÌNH

    LUẬN VĂN THẠC SĨ

    NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

    Thái Nguyên – 2022

    ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

    BÙI CÔNG ĐOẠT

    TỤC NGỮ, CA DAO ĐỊA DANH NINH BÌNH

    Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

    Mã số: 8220121

    LUẬN VĂN THẠC SĨ

    NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

    Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Huế

    Thái Nguyên – 2022

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu

    trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều

    trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác.

    Thái Nguyên, tháng 4 năm 2022

    Tác giả luận văn

    Bùi Công Đoạt

    LỜI CẢM ƠN

    Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn

    Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học,

    Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực

    tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập.

    Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng

    dẫn PGS. TS. Nguyễn Thị Huế đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời

    gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

    Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp

    đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn.

    Thái Nguyên, tháng 4 năm 2022

    Tác giả luận văn

    Bùi Công Đoạt

    MỤC LỤC

    MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………………….. 1

    1. Tính cấp thiết của đề tài ………………………………………………………………….. 1

    2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu …………………………………………………………… 2

    3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu …………………………………………………….. 3

    4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu ………………………………………………. 4

    5. Phạm vi nghiên cứu …………………………………………………………………………. 5

    6. Cấu trúc của luận văn ………………………………………………………………………. 5

    7. Đóng góp của luận văn …………………………………………………………………….. 6

    NỘI DUNG……………………………………………………………………………………….. 7

    Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

    ĐẾN ĐỀ TÀI ……………………………………………………………………………………. 7

    1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, đời sống văn hóa,

    con người Ninh Bình …………………………………………………………………………… 7

    1.2. Đời sống văn hóa, con người Ninh Bình …………………………………………. 10

    1.3. Khái niệm Tục ngữ, Ca dao, Địa danh …………………………………………….. 15

    1.4. Văn học dân gian Ninh Bình và tục ngữ, ca dao Ninh Bình ……………….. 18

    1.5. Tục ngữ, ca dao Ninh Bình …………………………………………………………… 20

    Tiểu kết chương 1……………………………………………………………………………….. 23

    Chương 2: TỤC NGỮ, CA DAO ĐỊA DANH NINH BÌNH VỀ MẢNH

    ĐẤT CON NGƯỜI VÀ SẢN VẬT ……………………………………………………. 25

    2.1. Tục ngữ, ca dao địa danh về đất Ninh Bình …………………………………….. 25

    2.2. Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình về người Ninh Bình …………………. 31

    2.3. Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình giới thiệu sản vật, nghề nghiệp

    và phong tục. …………………………………………………………………………………….. 39

    2.4. Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình giới thiệu về phong tục, lễ hội …… 49

    Tiểu kết chương 2……………………………………………………………………………….. 53

    Chương 3: TỤC NGỮ CA DAO ĐỊA DANH NINH BÌNH VỀ KINH

    NGHIỆM SẢN XUẤT, QUAN HỆ XÃ HỘI……………………………………………. 55

    3.1.Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình về kinh nghiệm sản xuất ……………. 55

    3.2. Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình về các quan hệ xã hội ……………….. 61

    3.3. Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình thể hiện tinh thần lạc quan,

    Yêu đời …………………………………………………………………………………………….. 80

    Tiểu kết chương 3……………………………………………………………………………….. 82

    KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………………. 84

    TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………. 86

    PHỤ LỤC ………………………………………………………………………………………… 90

    MỞ ĐẦU

    1. Tính cấp thiết của đề tài (Lý do chọn đề tài)

    Có thể nói rằng Văn học dân gian là một phần không thể tách rời nền văn

    học dân tộc . Ra đời rất sớm (từ khi con người chưa có chữ viết) bộ phận văn học

    này đã góp phần nuôi dưỡng, vun đắp nền văn học Việt Nam. Trong dòng chảy

    của lịch sử, văn học dân gian Ninh Bình đặc biệt là tục ngữ, ca dao đã là những

    mạch nguồn trong mát nuôi dưỡng tâm hồn biết bao người con Ninh Bình để rồi

    “Ăn đâu, làm đâu” mọi người con Ninh Bình đều hướng về quê hương, nguồn cội

    với tấm lòng thành kính, tri ân và khát vọng cống hiến xây dựng quê hương Ninh

    Bình ngày càng văn minh, giầu đẹp.

    Tìm hiểu địa danh qua tục ngữ, ca dao Ninh Bình giúp chúng ta hiểu thêm

    về diện mạo và đặc trưng của Văn học dân gian Ninh Bình nói chung và tục ngữ,

    ca dao Ninh Bình nói riêng. Ninh Bình, mảnh đất ngàn năm văn hiến mà ở đó mỗi

    tên làng, tên xã, mỗi ngọn núi, dòng sông đều mang “bóng dáng ông cha”, mang

    “dáng hình xứ sở” được ghi lại qua những câu tục ngữ, ca dao để rồi trường tồn

    cùng quê hương, đất nước.

    Đến với Ninh Bình hôm nay, chúng ta cảm nhận về một vùng quê đang

    từng ngày thay đổi trong xu thế đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, có nhiều địa danh

    mới xuất hiện và không ít những địa danh cũ mất đi hoặc thay đổi tên gọi. Tìm

    hiểu những địa danh của Ninh Bình qua những câu tục ngữ, ca dao sẽ giúp chúng

    ta bảo tồn và lưu giữ những giá trị văn hóa vô cùng quí báu của cha ông, để từ đó

    chúng ta thêm tự hào và thấy được trách nhiệm của mình trong việc quảng bá, gìn

    giữ kho tàng tục ngữ, ca dao Ninh Bình cho thế hệ mai sau.

    Từ những mong muốn trên, tôi chọn đề tài luận văn của mình là: “Tục ngữ,

    ca dao địa danh Ninh Bình”. Hy vọng rằng công trình là sự hệ thống những câu

    tục ngữ, ca dao có nói tới những địa danh của tỉnh Ninh Bình với những tên gọi,

    sự tích đầy thú vị, gợi mở cho giáo viên và học sinh Ninh Bình trong quá trình

    tiếp nhận tục ngữ, ca dao địa phương (Ngữ văn lớp 7). Luận văn cũng là món quà

    nhỏ mà người viết tri ân quê hương Ninh Bình yêu dấu.

    2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

    2.1.Việc sưu tầm và giới thiệu tục ngữ, ca dao nói chung đã được tiến hành từ lâu

    (thế kỷ XVIII). Đó là công trình Nam phong giải trào của Trần Danh Án, Ngô

    Hạo Phu, Trần Doãn Giác, soạn vào năm 1788 – 1789 đến nửa thế kỷ XIX; Tục

    ngữ, cổ ngữ gia ngôn của Huỳnh Tịnh Của, xuất bản năm 1897; Việt Nam phong

    sử của Nguyễn Văn Mại, soạn năm 1914; Tục ngữ và cách ngôn của Hàn Thái

    Dương, 1920; An Nam tục ngữ của Vũ Như Lâm và Nguyễn Đa Gia, 1933; Phong

    giao, ca dao, phương ngôn, tục ngữ của Nguyễn Văn Chiểu, năm 1936; Ngạn ngữ

    phong dao của nguyễn Can Mộng, 1941; Đặc biệt là công trình Tục ngữ phong

    dao của Nguyễn Văn Ngọc (Nhà xuất bản Vĩnh Hưng Long), 1928, đã có tới 6

    500 câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao, được sưu tầm và giới thiệu. Tuy nhiên công

    trình này chưa có sự nghiên cứu chuyên sâu.

    Từ sau năm 1975 việc sưu tầm và giới thiệu tục ngữ, ca dao, dân ca đã có

    những thuận lợi hơn, thời kỳ này phải kể tới công trình của Vũ Ngọc Phan đó là

    cuốn Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, (Xuất bản lần đầu năm 1955 đến nay đã

    tái bản nhiều lần). Công trình là một tập hợp tương đối đầy đủ và hệ thống tục

    ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam ở cả ba miền đất nước. Ở ấn phẩm này tác giả đã

    sưu tầm và giới thiệu được một số câu ca dao Ninh Bình về những địa danh nổi

    tiếng như núi Phi Diên (núi Cánh Diều), cửa biển Thần Phù (nay thuộc xã Yên

    Lâm, Yên Mô)…

    Trong khoảng gần 30 năm trở lại đây các nhà nghiên cứu đã tập trung

    nghiên cứu tục ngữ, ca dao theo chuyên đề, đáng chú ý là các công trình nghiên

    cứu sau:

    – Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp của Nguyễn Thái Hòa, Nhà xuất

    bản Khoa học xã hội, năm 1997…

    – Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam của Phan Thị Đào, Nhà xuất bản

    Thuận Hóa, năm 1999

    – Tiếp cận ca dao bằng phương thức xâu chuỗi theo mô hình cấu trúc của

    Triều Nguyên, Nhà xuất bản Thuận Hóa, năm 2003

    – Thi pháp ca dao, do Nguyễn Xuân Kính chủ biên, Nhà xuất bản Đại học

    Quốc gia Hà Nội năm 2006

    2.2. Giới thiệu về tục ngữ, ca dao Ninh Bình cho đến nay còn có ở trong các công

    trình của Ninh Bình: Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình, do Trương Đình Tưởng

    chủ biên, Nhà xuất bản Thế giới, năm 2004;

    Địa chí Ninh Bình, do Tỉnh ủy Ninh Bình – Viện khoa học xã hội Việt

    Nam chịu trách nhiệm nội dung, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, năm 2010;

    Chùa Dầu di tích lịch sử văn hóa, do Thích Minh Đức, Lã Đăng Bật chủ

    biên, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc, năm 2008;

    Tục ngữ ca dao, dân ca Yên Mô, do Trần Đình Hồng chủ biên, Nhà xuất

    bản vãn hóa thông tin, nãm 2012. Bên cạnh ðó còn có các tác giả: Đặng Hữu Vân,

    Phạm Thị Ánh Nguyệt, biên tập phần tục ngữ, ca dao giảng dạy trong chương

    trình ngữ văn địa phương trong các trường THCS tỉnh Ninh Bình.

    Tất cả những công trình trên là những tài liệu quí báu, định hướng cho tôi có

    được cái nhìn sâu sắc về địa danh Ninh Bình qua những câu tục ngữ, ca dao. Tuy

    nhiên một số công trình nghiên cứu trên chỉ giới thiệu tục ngữ, ca dao Ninh Bình qua

    dư địa chí, hoặc nghiên cứu tục ngữ, ca dao Ninh Bình trong dòng chảy của văn học

    dân gian nói chung, hoặc nghiên cứu tục ngữ, ca dao của một huyện, một vùng, nên

    chưa có được cái nhìn thật khái quát, đầy đủ về tục ngữ, ca dao Ninh Bình đặc biệt

    là những câu tục ngữ, ca dao gắn với các địa danh trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Từ lý

    do đó tôi mạnh dạn chọn đề tài Tục ngữ, ca dao về địa danh Ninh Bình, nhằm nối

    dài những nghiên cứu về tục ngữ ca dao Ninh Bình đặc biệt là tìm hiểu những địa

    danh của tỉnh được nhắc tới trong tục ngữ, ca dao, những tên gọi, sự tích, ý nghĩa của

    mỗi địa danh đều có sức hấp dẫn riêng mà mỗi người con Ninh Bình nhất là thế hệ

    trẻ cần phải hiểu biết và gìn giữ.

    3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

    3.1. Đối tượng nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là tục ngữ, ca dao về địa danh

    Ninh Bình, trong đó tập trung làm rõ một số vấn đề sau:

    7. Đóng góp của luận văn

    – Luận văn lần đầu tiên là một tập hợp những câu tục ngữ, những bài ca dao

    về địa danh Ninh Bình.

    – Luận văn lần đầu tiên đi sâu tìm hiểu nội dung phản ánh, giá trị và ý nghĩa

    tên gọi của mỗi địa danh trong các câu tục ngữ, ca dao của Ninh Bình. Qua đó

    giúp chúng ta thấy được một phần diện mạo của văn hóa dân gian Ninh Bình, thấy

    được vẻ đẹp tiềm ẩn trong mỗi cảnh vật nơi đây, và đặc biệt là chúng ta cảm nhận

    được tâm hồn tình cảm của mỗi người con Ninh Bình đối với quê hương, đất nước.

    – Luận văn góp phần cung cấp tài liệu cho giáo viên và học sinh tỉnh Ninh

    Bình nói riêng và các địa phương khác nói chung trong các tiết Ngữ văn địa

    phương.

    NỘI DUNG

    Khí hậu: Ninh Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, chịu ảnh

    hưởng của khí hậu ven biển. Thời tiết trong năm chia làm hai mùa khá rõ: mùa

    khô từ tháng 11-12 năm trước đến tháng 4 năm sau; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng

    10. Lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1.860 – 1.950 mm nhưng phân bố

    không đều, tập trung 70% lượng mưa vào mùa hạ.

    Dân cư: Dân số Ninh Bình tính đến năm 2022 là 952 509 người, đại bộ phận

    dân cư Ninh Bình là dân tộc Kinh và có khoảng 20 000 người là đồng bào dân tộc ít

    người, chủ yếu là dân tộc Mường sinh sống ở một số xã miền núi huyện Nho Quan.

    Có hai tôn giao chính: phật giáo và công giáo. Phật giáo chiếm khoảng 5,18% và

    công giáo chiếm 16,3% dân số (chủ yếu ở huyện Kim Sơn)

    Ninh Bình là nơi những dấu tích của con người tồn tại từ hàng vạn năm trở

    về trước vẫn còn lưu lại; là cố đô Hoa Lư một thời sáng chói, như một minh chứng

    về một vùng đất cổ “địa linh, nhân kiệt”. Truyền thống, hiện đại luôn hoà quyện

    với nhau để làm nên một Ninh Bình giàu bản sắc văn hoá, giàu truyền thống yêu

    nước và cách mạng, là cội nguồn sức mạnh của người dân Ninh Bình trong kháng

    chiến chống giặc ngoại xâm cũng như trong thời kỳ hội nhập và phát triển cùng

    đất nước.

    Về tài nguyên thiên nhiên, đây là mảnh đất có rất nhiều tiềm năng và thế

    mạnh, cụ thể:

    Đất đai: Ninh Bình có tổng diện tích đất tự nhiên là 139.011 ha. Trong đó

    đất cho sản xuất nông nghiệp là 61.959 ha (chiếm 44,57%). Các loại đất phù sa

    được bồi và phù sa không được bồi tạo điều kiện cho nuôi trồng thuỷ sản và cây

    công nghiệp; đất phù sa cũ chua, nghèo…thích hợp cho thâm canh lúa, hoa màu;

    đất feranit thích hợp phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp, cây dược liệu.

    Sinh vật: Ninh Bình có thảm thực vật rừng phong phú, tập trung ở vườn

    Quốc gia Cúc Phương. Rừng Cúc Phương thuộc loại rừng mưa nhiệt đới điển hình

    với cấu trúc thảm thực vật nhiều tầng, phong phú về thành phần loài. Một số loài

    thực vật điển hình là Chò xanh, cây Lê, cây Chân chim…Động vật ở đây cũng

    rất phong phú. Hiện đã phát hiện 233 loài động vật có xương sống, nhiều loài

    chim và 24 bộ côn trùng trong số 30 bộ côn trùng thường gặp ở nước ta.

    Tài nguyên khoáng sản: Ninh Bình có nhiều loại khoáng sản nhưng đáng

    kể nhất là đá vôi với diện tích 1,2 vạn ha, trữ lượng hàng chục tỷ mét khối và hàng

    chục triệu tấn đôlômit, chất lượng tốt. Đây là nguồn nguyên liệu lớn cho sản xuất

    vật liệu xây dựng. Ngoài ra, đất sét phân bố rải rác ở các vùng đồi núi thấp dùng

    để sản xuất gạch ngói và là nguyên liệu cho ngành đúc. Than bùn có trữ lượng

    2triệu tấn/năm dùng để sản xuất phân vi sinh. Nước suối Kênh Gà, Nước khoáng

    Cúc Phương cũng là những nguồn lợi lớn trong việc chữa bệnh và phát triển du

    lịch…

    1.2. Đời sống văn hóa, con người Ninh Bình

    1.2.1. Ninh Bình – nơi in đậm dấu ấn văn hoá của cư dân Việt cổ

    Dấu vết khảo cổ học: Ninh Bình là vùng đất có con người cư trú từ rất sớm.

    Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trầm tích có xương răng đười ươi và các động

    vật trên cạn ở Núi Ba (Tam Điệp) thuộc sơ kỳ đồ đá cũ, cách ta khoảng ba mươi

    vạn năm; ở Thung Lang (Tam Điệp) có niên đại cách ta khoảng ba mươi nghìn

    năm; động ngưòi xưa (Cúc Phương) có di chỉ cư trú của con người thời văn hoá

    Hoà Bình cách ta khoảng 7.580 + 100 năm. Di chỉ của con người văn hoá Hoà

    Bình còn tìm thấy ở một số hang động ở Tam Điệp, Nho Quan. Sau thời kỳ văn

    hoá Hoà Bình, các nhà khảo cổ cho rằng, vùng đồng bằng ven biển Thanh Hoá,

    Ninh Bình là nơi định cư của con ngưòi thời đại đồ đá mới Việt Nam. Di chỉ Đồng

    Vườn (Yên Thành, Yên Mô) đã được định niên đại muộn hơn di chỉ Gò Trũng (di

    chỉ Gò Trũng có niên đại C14: 4700 + 50 năm cách ngày nay). Cư dân cổ di chỉ

    Đồng Vườn đã phát triển lên cư dân cổ di chỉ Mán Bạc (Yên Thành, Yên Mô) ở

    giai đoạn văn hoá đồ đồng từ cuối Phùng Nguyên đến đầu Đồng Đậu, cách đây

    3.300 – 3700 năm.

    1.2.2. Ninh Bình – ” văn hoá mới” của cư dân ven biển

    Ninh Bình là một trong những tỉnh điển hình về sự mở rộng không gian

    văn hoá Việt xuống biển Đông. Trong quá trình kiến tạo địa chất, biển lùi dần tạo

    ra đồng bằng vùng hạ lưu sông Đáy. Con người tiến dần ra chiếm lĩnh vùng đồng

    bằng ven biển và tạo ra những trung tâm văn hóa như Hoa Lư, sau là kinh đô của

    cả nước trong 42 năm (968-1010). Vùng ven sông Vân sau là trung tâm của đạo,

    trấn, rồi tỉnh Ninh Bình. Dấu ấn về biển còn in đậm trên đất Ninh Bình. Những

    địa danh: cửa biển Phúc Thành (thành phố Ninh Bình), cửa biển Đại An (nay là

    ngã ba Độc Bộ), nơi tiếp giáp giữa yên Khánh và Nghĩa Hưng (Nam Định), cửa

    biển Con Mèo (Yên Thành, Yên Mô), cửa Biển Thần Phù (Yên Lâm, Yên Mô)

    làm cho chúng ta có cảm tưởng một thời biển còn ở đâu đây. Cùng với các địa

    danh về các cửa biển là các con đê lịch sử như đê Hồng Đức (1471), đê Hồng Lĩnh

    (1773) do Nguyễn Nghiễm – thân phụ Nguyễn Du đắp, đê Đường Quan(1830), đê

    Hồng Ân (1899), đê Hoàng Trực (1927), đê Văn Hải (1933-1934), đê Bình Minh

    I (1959-1960), đê Bình Minh II (1981). Cho đến nay, Ninh Bình vẫn tiến ra biển

    mỗi năm gần 100m. Như vậy, từ ngàn xưa, ngưòi dân Ninh Bình đã hướng ra

    biển, khát vọng chinh phục biển, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hoá

    từ Bắc vào Nam, từ biển vào. Kinh tế biển còn in đậm các di chỉ văn hoá thời kỳ

    đồ đồng. Cho đến nay, kinh tế biển còn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế

    của tỉnh. Khai thác kinh tế biển như nghề đánh bắt cá biển, nuôi tôm sú, tôm rảo,

    nuôi cua…vẫn là hướng phát triển quan trọng. Cùng với phát triển kinh tế tỉnh

    Ninh Bình cũng rất chú trọng đến công tác đảm bảo an ninh quốc phòng cũng như

    môi trường sinh thái biển để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của nền kinh tế

    quan trọng này.

    1.2 3. Hệ thống di tích văn hoá, lịch sử và những danh lam thắng cảnh nổi tiếng

    của Ninh Bình

    Trước khi đi sâu tìm hiểu giới thiệu về tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình

    chúng tôi muốn giới thiệu về hệ thống di tích lịch sử văn hóa những danh lam

    thắng cảnh nổi tiếng của Ninh Bình để độc giả hình dung ra một Ninh Bình “Địa

    linh nhân kiệt”.

    Ninh Bình cùng với Hạ Long là 2 đỉnh cạnh đáy của tam giác châu thổ sông

    Hồng với địa hình Karst được các biến đổi địa chất theo thời gian và phù sa bồi

    đắp tạo cho Ninh Bình một “Hạ Long trên cạn” với vô số các hang động, đầm hồ

    ngập nước có giá trị phát triển du lịch. Ninh Bình, vùng đất “địa linh” là nơi chứa

    những vật báu của trời”(Nguyễn Tử Mẫn), nơi hội tụ đầy đủ các yếu tố của một

    Việt Nam thu nhỏ: có rừng, núi, sông, với các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc

    gia, khu dự trữ sinh quyển thế giới, khu du lịch quốc gia…

    Nói đến Ninh Bình là nói đến một mảnh đất có mật độ dày đặc các di tích

    văn hoá – lịch sử. Theo thống kê, Ninh Bình có 795 di tích lịch sử, văn hoá với

    225 ngôi chùa, 242 đình làng…Ngoài ra còn có 280 nhà thờ, trong đó có 73 nhà

    thờ giáo xứ, 207 nhà thờ họ.

    1.2.3.1. Những di tích lịch sử, văn hoá

    Ninh Bình có khu di tích lịch sử văn hoá cố đô Hoa Lư được công nhận là

    di tích đặc biệt quan trọng cấp quốc gia, với 47 di tích trong đó nổi bật là: Đền

    thờ vua Đinh Tiên Hoàng, lăng mộ vua Đinh; đền thờ và lăng mộ vua Lê Đại

    Hành; nhà bia tưởng niệm vua Lý Thái Tổ; đền thờ công chúa Phất Kim; miếu

    thờ công chúa Phù Dung; đền Trần Quý Minh; phủ Khổng; phủ Đột; động Hoa

    Sơn; động Hoa Lư; núi Mã Tiên; bia Cầu Dền; sông Sào Khê; đền Vực Vông…

    Khu văn hoá tâm linh núi chùa Bái Đính với chùa Bái Đính cổ (có đền thánh

    Nguyễn Minh Không, các hang động thờ Mẫu, thờ Phật, thờ thần Núi…) và khu

    chùa Bái Đính mới với 5 toà lớn dọc theo sườn núi. Bảo tháp với chiều cao 100

    m, 13 tầng, có thang máy và 72 bậc leo, là nơi trưng bày xá lợi Phật từ Ấn Độ

    cũng là một điểm nhấn của khu du lịch tâm linh này.

    Quần thể nhà thờ Phát Diệm là kỳ quan Thiên chúa giáo, một công trình

    kiến trúc có một không hai ở Việt Nam. Các công trình kiến trúc nguy nga, tráng

    lệ nhưng hài hoà giữa truyền thống và hiện đại bao gồm: Ao hồ, Phương Đình,

    nhà thờ lớn và 4 nhà thờ ở 2 bên, 3 hang đá nhân tạo. Nhà thờ đá Phát Diệm được

    thiết kế độc đáo, thể hiện sự giao hòa giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo, cũng là

    nét kết hợp văn hóa Đông – Tây đậm nét nhất.

    Các di tích văn hoá khác như phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn; đồn Gián

    Khẩu; các đền thờ: Trương Hán Siêu, Nguyễn Công Trứ, Triệu Quang Phục, Lý

    Quốc Sư, đền Thái Vi, cửa Thần Phù, Cố Viên Lầu…

    Các di tích tâm linh Nho giáo: Chùa Bích Động, chùa Nhất Trụ, chùa Đồng

    Đắc, chùa Địch Lộng, chùa Bàn Long, chùa Bái Đính, chùa Non Nước…

    Các di tích lịch sử, cách mạng: Khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu, núi Non

    Nước, di tích chiến dịch Hà Nam Ninh…

    1.2.3.2. Những danh lam thắng cảnh nổi tiếng

    Khu du lịch vườn Quốc gia Cúc Phương với các loại hình: sinh thái, môi

    trường, nghiên cứu khoa học, đa dạng sinh học, khảo cổ học, đêm lửa trại và tìm

    hiểu văn hoá Mường…

    Khu du lịch Tam Cốc- Bích động với nhiều tuyến du thuyền trên sông với

    các điểm hang động, di tích lịch sử.

    Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long với các loại hình du lịch trên đầm sinh

    thái cảnh quan ngập nước.

    Khu dự trữ sinh quyển đồng bằng sông Hồng với du lịch sinh thái đồng quê

    và cảnh quan ven biển.

    Các ngọn núi và các hang động đẹp như: núi Ngọc Mỹ Nhân, núi Non Nước

    (núi Thuý), núi Kỳ Lân, động Địch Lộng, động Vân Trình, động Mã Tiên, động

    Bích Động, động Tam Giao, động Thiên Tôn, động Tiên, động Sinh Dược là

    những điểm hấp dẫn khách du lịch với thời gian tham quan ngắn.

    Các hồ nước tự nhiên: Hồ Kỳ Lân, hồ Đồng Chương, Hồ Yên Quang phù

    hợp với loại hình du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần; hồ Yên Thắng, hồ Đồng thái còn

    có thêm loại hình du lịch thể thao.

    Các di tích lịch sử- văn hoá và những danh lam thắng cảnh nổi tiếng trên

    chính là món quà của thiên nhiên ban tặng cho mảnh đất này. Các di tích văn hóa

    hữu thể và phi vật thể ấy đã làm nên nét đặc sắc văn hoá Ninh Bình.

    Ninh Bình còn là vùng đất có vị trí chiến lược trong suốt hàng ngàn năm

    dựng nước, giữ nước của dân tộc. Các cuộc hành quân thần tốc vào Nam hay ra

    Bắc vẫn âm vang trên mặt đất này. Đây còn là vùng đất rút lui chiến lược để vào

    Thanh Hoá của tướng Đô Dương (thời Hai Bà Trưng). Đất phát tích của Đinh Bộ

    Lĩnh, là kinh đô của cả nước trong suốt 42 năm. Đất Ninh Bình ken dày vết chân

    lịch sử. Kinh đô Hoa Lư với ngót nửa thế kỷ của hai vương triều Đinh – Lê dựng

    nền độc lập chính thống. Nơi hoạch định kế sách và phát xuất các đạo hùng binh

    năm 981 – 982 phá Tống, bình Chiêm. Lê Đại Hành đã kiến tạo võ công oanh liệt

    trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Hoa Lư cũng là nơi khai sinh

    ra vương triều Lý với áng văn “Chiếu dời đô” lịch sử.

    Một yếu tố khác vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện

    mạo đa dạng, phong phú của văn hoá Ninh Bình, đó là sự lưu lại dấu vết văn hoá

    của các “tao nhân mặc khách” khi qua vùng sơn thanh, thuỷ tú này. Bao đế vương,

    công hầu, khanh tướng danh nhân văn hoá lớn về đây, xếp gương, đề bút, sông

    núi hoá thành thi ca! Chỉ nói riêng núi Thuý đã có trên 30 bài thơ, văn khắc vào

    và còn đến hàng trăm bài thơ vịnh cảnh của các danh nhân qua các triều đại: Trần

    Anh Tông, Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông,

    Phạm Huy ích, Ngô Thì Nhậm, Ninh Tốn, Cao Bá Quát, Nguyễn khuyến, Phạm

    Văn Nghị…Nhân cách bác học và phẩm cách văn hoá lớn của các danh nhân đó

    đã thấm đẫm vào tầng văn hoá địa phương, được nhân dân tiếp thu, sáng tạo làm

    giàu thêm sắc thái văn hoá Ninh Bình.

    Đất Ninh Bình không chỉ là “địa linh” mà còn là nơi “nhân kiệt”. Biết bao

    danh nhân, danh tướng, danh sỹ sinh ra trên mảnh đất này! Khí thiêng sông núi

    quê hương đã hun đúc nên họ. Thời nào Ninh Bình cũng có những nhân tài như:

    anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh, các danh tướng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh

    Tú, Lưu Cơ, hoàng hậu Dương Vân Nga, Quốc sư Nguyễn Minh Không, nhà thơ

    Trương Hán Siêu, bảng nhãn Vũ Duy Thanh, tiến sĩ Ninh Tốn, nhà văn hóa Vũ

    Phạm Khải, Phạm Thận Duật…Có thể nói, yếu tố “địa linh”,”nhân kiệt”là nhân

    tố quan trọng và chủ yếu nhất làm nên gương mặt lịch sử – văn hoá Ninh Bình

    qua các thời đại.

    1.3. Khái niệm Tục ngữ, Ca dao, Địa danh

    1.3.1. Khái niệm về tục ngữ

    Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian hình thành, phát triển và tồn tại

    trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân.

    Về nội dung: Tục ngữ thường phản ánh những kinh nghiệm về lao động

    sản xuất, ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội, hoặc thể hiện triết lý dân gian

    của nhân dân. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản

    xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác, theo nhà văn hóa

    Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” (Xuất bản lần đầu

    năm 1955 đến nay đã tái bản nhiều lần) thì ” Tục ngữ là một câu tự nó đã diến đạt

    trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi

    nó là một sự phê phán”. Như vậy có thể thấy tục ngữ là

    những câu hoàn chỉnh, có vần, dễ nhớ, dễ thuộc, đặc điểm này giúp chúng ta dễ

    dàng phân biệt tục ngữ với thành ngữ. Bởi cũng theo tác giả Vũ Ngọc Phan trong

    cuốn “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” “Về hình thức ngữ pháp mỗi thành ngữ

    chỉ là một nhóm từ, chưa phải một câu hoàn chỉnh” “[03; 37; 08TLTK]. Từ những

    đặc điểm trên chúng ta có thể thấy tục ngữ là một thể loại văn học dân gian rất dễ

    nhớ, dễ vận dụng, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân,

    Giữa hình thức và nội dung tục ngữ cũng có sự gắn bó chặt chẽ, một câu

    tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc

    kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Hình

    tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so

    sánh, nhân hóa, ẩn dụ…

    Đa số tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt

    nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ

    ca… Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục

    ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán,

    nhưng cũng có thể có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán. Các kiểu suy luận:

    liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ

    phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả.

    1.3.2. Khái niệm ca dao

    Nếu như tục ngữ là một thể loại văn học dân gian ra đời trước ca dao, thiên

    về tổng kết những kinh nghiệm về tự nhiên, xã hội thì ca dao lại thiên về đời sống

    tình cảm của con người. Như vậy có thể thấy ca dao ra đời khi đời sống xã hội

    của con người đã phức tạp hơn. Không chỉ biểu hiện đời sống vật chất, đời sống

    tình cảm ca dao còn thể hiện ý thức của con người trong lao động sản xuất, cải tạo

    thiên nhiên, kinh tế xã hội và tinh thần đấu tranh chống lại áp bức, cường quyền,

    những thói hư tật xấu trong xã hội…Về cơ bản ca dao thể hiện mối quan hệ giữa

    con người với con người trong xã hội, mối quan hệ giữa con người với tự

    nhiên…nên ca dao bao giờ cũng thể hiện cái nhìn chủ quan của con người với thế

    giới khách quan, đó là cái tôi trữ tình mà chúng ta rất dễ nhận ra qua những sáng

    tác dân gian này.

    Là thể loại văn học dân gian tồn tại bằng phương thức truyền miệng ca dao

    đã được nhiều thế hệ lưu truyền với những dị bản khác nhau. Tuy nhiên ca dao

    vẫn giữ được nét mộc mạc, giản dị trong cách thể hiện. Chúng ta có thể bắt gặp

    Quán cháo -Tam Điệp (đền Quán Cháo gắn liền với sự tích tiên nữ dâng cháo cho

    quân lính Tây Sơn trước giờ xung trận), Cầu Lim- cầu bắc qua sông Vân ở trung

    tâm thành phố Ninh Bình (chuyện kể khi xưa cầu được bắc bằng gỗ lim, tên gọi

    này còn mãi đến nay)…

    1.4. Văn học dân gian Ninh Bình và tục ngữ, ca dao Ninh Bình

    1.4.1. Khái quát về văn học dân gian Ninh Bình

    1.4.1.1. Thể loại tự sự

    Thần thoại

    Thần thoại Ninh Bình tập hợp những chuyện kể dân gian về các vị thần,

    các nhân vật anh hùng, các nhân vật sáng tạo văn hóa, sư tổ của nghề; phản ánh

    quan niệm của người thời cổ về nguồn gốc thế giới và đời sống con người…

    Thần thoại Ninh Bình bị truyền thuyết hóa, biến tướng trong phật thoại, tiên

    thoại, truyện cố tích…

    Thần thoại tiêu biểu và phổ biến nhất ở Ninh Bình là thần thoại về ông

    Khổng Lồ (Nguyễn Minh Không 1066 – 1141)

    Truyền thuyết

    Truyền thuyết Ninh Bình kể lại tích các nhân vật lịch sử, giải thích các

    nguồn gốc, các phong vật địa phương theo quan niệm, tưởng tượng của người dân.

    Truyền thuyết dân gian Ninh Bình mang dấu ấn về vùng đất và con người

    Ninh Bình.

    Truyện truyền thuyết Ninh Bình ghi đậm công tích của người Ninh Bình

    trong việc khai khẩn đất hoang, lập làng, lập ấp… và đặc biệt là truyền thuyết về

    các vị vua.

    Cổ tích

    Truyện cổ tích Ninh Bình phản ánh những xung đột, mâu thuẫn trong gia

    đình và xã hội.

    Truyện cổ tích Ninh Bình thể hiện ước mơ về một cuộc sống ấm no, hạnh

    phúc của nhân dân.

    Truyện cổ tích Ninh Bình phản ánh triết lý sống, đạo lý làm người và ước

    mơ công lý của nhân dân.

    Truyện cười

    Truyện cười Ninh Bình là hình thức giải trí, đem lại tiếng cười vui trong

    cuộc sống thường ngày.

    Phê phán những thói hư, tật xấu của con người, lên án các ác, đả kích giai

    cấp thống trị trong xã hội phong kiến.

    Truyện thơ

    Truyện thơ Ninh Bình mang tính tự sự kể về một sự kiện, một hiện tượng

    xã hội như Ký sự nhật trình, Kim Sơn sự tích Doanh điền ca…

    Truyện thơ viết về đề tài lịch sử, danh nhân văn hóa, nhân vật lịch sử:

    Truyện Đinh Tiên Hoàng diễn ca, Thánh Nguyễn…

    1.4.1.2. Thể loại trữ tình và luận lý

    Ca dao, dân ca: Ca dao, dân ca Ninh Bình giản dị, chất phác như đất và

    người Ninh Bình, phản ánh đời sống, tình cảm, tâm hồn của người dân Ninh Bình.

    Tục ngữ: có tính chất đúc kết kinh nghiệm về con người, về lao động sản

    xuất, đấu tranh xã hội, thiên nhiên, về những sản vật của địa phương Ninh Bình.

    1.4.1.3. Khái quát về đặc trưng, đặc điểm của văn học dân gian Ninh Bình

    Là một bộ phận không thể tách rời của văn học dân tộc, văn học dân gian

    Ninh Bình cũng có đầy đủ những đặc điểm chung của văn học dân gian. Tuy nhiên

    được ra đời và phát triển gắn liền với những sinh hoạt văn hóa làng xã của cư dân

    nông nghiệp với đa dạng địa hình nên văn học dân gian Ninh Bình cũng mang

    màu sắc địa phương khá rõ nét đó là:

    * Tính đa dân tộc của văn học dân gian Ninh Bình

    Ninh Bình có hai dân tộc chính là người Kinh và người Mường. Tộc người

    Mường sinh sống chủ yếu ở một số xã vùng núi huyện Nho Quan như: Thạch

    Bình, Xích Thổ, Yên Quang, Văn Phương, Phú Long, Kỳ Phú, Cúc Phương,

    Quảng Lạc…Tộc người Kinh chiếm đa phần, phân bố ở các huyện, thành phố còn

    lại trong tỉnh. Chính vì vậy văn học của người Kinh chiếm số lượng lớn với nhiều

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nhất Về Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Hè, Mùa Xuân, Mùa Thu, Mùa Đông
  • Đặc Sản Miền Trung Qua Ca Dao
  • Cách Nói Của Người Miền Tây Nam Bộ Qua Ca Dao Trần Minh Thương
  • Ca Dao Tục Ngữ Qua 2 Miền Nam Bắc Pptx
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Tục Ngữ, Ca Dao Địa Danh Ninh Bình (Lv Thạc Sĩ) trên website Altimofoundation.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100