Đề Xuất 5/2022 # Triết Lý Biện Chứng Trong Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam Và Việc Vận Dụng Vào Dạy Học Triết Học # Top Like

Xem 17,424

Cập nhật nội dung chi tiết về Triết Lý Biện Chứng Trong Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam Và Việc Vận Dụng Vào Dạy Học Triết Học mới nhất ngày 20/05/2022 trên website Altimofoundation.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 17,424 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Sưu Tầm, Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ Vào Giảng Dạy Phần Triết Học Trong Môn Giáo Dục Công Dân
  • Những Câu Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội
  • 30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Mang Đậm Triết Lí Nhân Sinh Sâu Sắc Về Cuộc Sống
  • 30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Mang Đậm Triết Lí Nhân Sinh Về Cuộc Sống
  • ‘tục Ngữ Phong Dao’: Di Sản Văn Hóa Dân Gian Của Dân Tộc Việt
  • Ca dao, tục ngữ Việt Nam là thể loại văn học được nhiều người ưa thích.

    Có thể nói, đó những thể loại được yêu thích nhất của văn học dân gian. Ca dao,

    tục ngữ là sản phẩm kết tinh trí tuệ Việt Nam, tâm hồn Việt Nam, cốt cách Việt

    Nam trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc.

    Ca dao, tục ngữ Việt Nam đượm màu sắc dân gian, thể hiện tâm tư, tình

    cảm của đông đảo quần chúng nhân dân lao động Việt Nam. Nó là sự đúc kết

    kinh nghiệm từ thực tiễn lao động sản xuất của cha ông ta, là tài sản vô cùng quý

    giá của dân tộc ta.

    Trong quá trình tìm hiểu, ta thấy những triết lý dân gian trong ca dao, tục

    ngữ có nhiều điểm tương đồng với triết học. Triết lý và triết học đều cùng phản

    ánh thế giới quan và nhân sinh quan chỉ có điều cấp độ phản ánh của chúng là

    khác nhau. Triết lý phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan ở cấp độ kinh

    nghiệm, còn triết học phản ánh ở cấp độ lí luận.

    Ca dao, tục ngữ Việt Nam chứa đựng nhiều triết lý sâu sắc như: triết lý

    duy vật, triết lý về lẽ sống, về cách đối nhân xử thế, triết lý về mối quan hệ giữa

    con người với con người, giữa cá nhân và xã hội mà đặc biệt phải kể đến là triết

    lý biện chứng. Triết lý biện chứng như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong sự đúc

    kết kinh nghiệm của cha ông ta về tự nhiên, xã hội và con người.

    Do đó, việc tìm hiểu những triết lý biện chứng trong ca dao, tục ngữ, thấy

    được sự tương đồng và khác biệt giữa ca dao, tục ngữ và triết học, từ đó vận

    dụng linh hoạt vào việc dạy và học triết học sẽ mở ra một hướng đi tích cực.

    Đề tài bước đầu tìm hiểu “Triết lý biện chứng trong ca dao, tục ngữ Việt

    Nam và việc vận dụng vào dạy – học Triết học”.

    1

    CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

    1.1. Ca dao, tục ngữ là gì?

    Hiện nay chưa có một khái niệm nào chính xác về ca dao, tục ngữ bởi

    thực tế nảy sinh rất nhiều vấn đề phức tạp trong việc phân biệt ca dao với dân

    ca, tục ngữ với thành ngữ. Sự lúng túng trong vấn đề này xảy ra ở hầu hết mọi

    người, kể cả những người trong giới nghiên cứu về ngôn ngữ học. Do vậy, ở

    đây, chúng ta sẽ chỉ có thể trình bày những nét cơ bản nhất về ca dao, tục ngữ

    trong sự phân biệt nó với dân ca, thành ngữ thông qua quan điểm của các nhà

    nghiên cứu.

    1.1.1. Ca dao

    Định nghĩa về ca dao được Dương Quảng Hàm đề cập trong “Việt Nam

    văn học sử yếu” với ý: “ca” – ca hát; “dao” – bài hát không có chương khúc.

    “Ca dao là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình,

    phong tục của người bình dân. Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao (phong:

    phong tục) nữa. Ca dao cũng như tục ngữ, không biết tác giả là ai; chắc lúc ban

    đầu cũng do một người vì có cảm xúc mà làm nên, rồi người sau nhớ lấy mà

    truyền tụng mãi đến bây giờ.” .

    Như vậy ca dao là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, được

    lưu truyền bằng miệng và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, được truyền từ

    thế hệ này sang thế hệ khác. Do vậy, những câu ca dao đến được với chúng ta

    ngày nay đẹp cả về nội dung lẫn hình thức, giúp cho việc biểu lộ thế giới tâm

    hồn đa dạng, phong phú và sâu thẳm của con người.

    1.1.2. Tục ngữ

    Trong cuốn “Giáo trình Văn học dân gian” (2008) của tác giả Phạm Thu

    Yến (chủ biên) có định nghĩa về tục ngữ như sau: “Tục ngữ là một thể loại văn

    học dân gian gồm những câu nói ngắn gọn, có vần điệu, có hình ảnh dễ nhớ, dễ

    truyền, có chức năng đúc kết kinh nghiệm, tri thức lâu đời của nhân dân về thiên

    nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội” .

    Trong cuốn “Tục ngữ và dân ca Việt Nam” (1956), không tán thành với ý

    kiến của Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan cho rằng định nghĩa như vậy không

    được rõ, vì nếu thế, tác dụng của thành ngữ cũng không khác gì tác dụng của tục

    ngữ. Theo ông, tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn một ý, một nhận xét, một kinh

    nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là sự phê phán. Còn thành ngữ là một

    4

    phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng,

    nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn. Về hình thức ngữ pháp, mỗi

    thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải một câu hoàn chỉnh; còn tục ngữ dù

    ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh.

    Bài viết “Về ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ” của tác giả Nguyễn

    Văn Mệnh trong Tạp chí ngôn ngữ (số 3,1972) đã đưa ra ý kiến giải thích sự

    khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ trên cả hai mặt nội dung và hình thức.

    Theo ông, xét về nội dung, thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện

    tượng, một trạng thái, một tính cách, một thái độ. Còn tục ngữ thì khác hẳn, nó

    không dừng lại ở mức độ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng… như thành

    ngữ, mà đi đến một nhận định cụ thể, một kết luận chắc chắn, một kinh nghiệm

    sâu sắc, một lời khuyên răn, một bài học về tư tưởng, đạo đức… Có thể nói nội

    dung của thành ngữ mang tính chất hiện tượng, còn nội dung của tục ngữ nói

    chung là mang tính quy luật.

    Cũng theo ông, về mặt hình thức ngữ pháp, nói chung mỗi thành ngữ chỉ

    là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh. Tục ngữ thì khác hẳn, mỗi tục

    ngữ tối thiểu là một câu.

    Tác giả Cù Đình Tú trong bài viết “Góp ý kiến vê phân biệt giữa

    thành ngữ và tục ngữ” trên Tạp chí ngôn ngữ (số 1, 1973), đã chỉ ra những

    dẫn chứng cụ thể chứng tỏ cách phân biệt tục ngữ và thành ngữ dựa vào mặt

    nội dung và hình thức của tác giả Nguyễn Văn Mệnh là chưa thỏa đáng. Dựa

    trên thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại, ông đã chỉ ra sự khác nhau giữa

    thành ngữ và tục ngữ là sự khác nhau về chức năng. Ông viết: “Thành ngữ là

    đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh, nói khác đi dùng để gọi tên sự

    vật, tính chất, hành động. Về mặt này mà nói, thành ngữ là những đơn vị

    tương đương như từ” .

    Trong “Tục ngữ Việt Nam” (1975) các tác giả Chu Xuân Diên, Lương

    Văn Đang, Phương Tri cũng đưa ra tiêu chí mới để phân biệt: “Cần phải xét

    thành ngữ và tục ngữ không phải chỉ như hai hiện tượng ngôn ngữ khác nhau,

    mà chủ yếu như là một hiện tượng ngôn ngữ và một hiện tượng ý thức xã hội.

    Cho nên, tiêu chí gốc mà chúng tôi thấy cần phải dựa vào để tìm ra sự phân biệt

    giữa thành ngữ và tục ngữ là tiêu chí nhận thức luận. Với tiêu chí đó, chúng tôi

    xem xét tục ngữ chủ yếu như một hiện tượng ý thức xã hội, còn thành ngữ chủ

    yếu như một hiện tượng ngôn ngữ. Cùng với tiêu chí đó, sự khác nhau cơ bản về

    nội dung của thành ngữ và tục ngữ sẽ được phát hiện như là sự khác nhau về nội

    dung của hai hình thức tư duy khác nhau, là khái niệm và phán đoán” .

    Có thể thấy rằng, cho đến nay, có bốn quan niệm đã được đưa ra trong

    việc phân định tục ngữ và thành ngữ. Đó là: quan niệm dựa trên nội dung, quan

    niệm dựa trên chức năng, quan niệm dựa trên hình thức ngữ pháp, và quan niệm

    dựa trên tiêu chí nhận thức luận. Căn cứ vào những điểm khác nhau cơ bản giữa

    thành ngữ và tục ngữ, các nhà nghiên cứu đã phân chia một khối lượng lớn

    những câu là tục ngữ hay thành ngữ một cách chắc chắn. Tuy nhiên, ngoài

    những ngữ liệu chắc chắn là thành ngữ hoặc tục ngữ thì vẫn còn những ngữ liệu

    không biết xếp vào loại nào cho thỏa đáng, bởi vì nếu xét về mặt này thì nó là

    thành ngữ nhưng nếu xét về mặt khác thì nó lại được xem là tục ngữ. Do vậy, cả

    bốn cách phân chia nêu trên chỉ mang tính chất tương đối. Khoa học biện chứng

    đã chứng minh, mọi sự vật, hiện tượng vận động và tồn tại trong thế giới hiện

    thực khách quan có mối quan hệ biện chứng với nhau, và không có đường ranh

    giới tuyệt đối giữa sự vật này với sự vật khác.

    Tiến sĩ Viện ngôn ngữ học, Nguyễn Thị Trung Thành trong bài viết “Cái

    khó trong việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ” in trên Tạp chí Ngôn ngữ và đời

    6

    sống (số 9, 2009) đã khẳng định: “Thành ngữ và tục ngữ có mối quan hệ gần gũi

    với nhau, có sự chuyển hóa trong quá trình sử dụng, có sự biến đổi cùng với sự

    phát triển của xã hội. Vì vậy, khi nghiên cứu thành ngữ, các nhà ngôn ngữ học

    không thể không đề cập đến tục ngữ, và ngược lại… Đôi khi, để tránh phải đụng

    chạm đến khái niệm, trước khi phát ngôn một đơn vị có sẵn mà không biết là tục

    ngữ hay thành ngữ, người sử dụng thường nói một cách chung chung rằng: “dân

    gian có câu”, “người xưa từng nói”, “ông cha ta có câu”… Điều này một lần nữa

    khẳng định: việc xếp loại một bộ phận các đơn vị có sẵn – bộ phận nằm ở vị trí

    trung gian giữa thành ngữ và tục ngữ – là một công việc khó khăn”

    Tục ngữ và ca dao khác nhau ở chỗ tục ngữ thiên về lí trí (nội dung triết

    lí dân gian), ca dao thiên về tình cảm (nội dung trữ tình dân gian). Nhưng giữa

    hai thể loại đó không phải là không có những trường hợp có thể xâm nhập vào

    nhau. Khi những câu tục ngữ có thêm yếu tố cảm xúc, có thêm những tiếng đệm

    trở thành khúc điệu thì tục ngữ đã tiếp cận với ca dao.

    Chẳng hạn: câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim”

    Chuyển thành câu ca dao:

    “Ai ơi đừng chóng chớ chầy,

    7

    Có công mài sắt có ngày nên kim”

    Trong kho tàng văn học Việt Nam, tục ngữ, ca dao là những viên ngọc

    quý nhất. Nó quý ở chỗ trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam từ xưa

    đến nay, nó luôn luôn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển

    tiếng nói của dân tộc, phản ánh sinh hoạt của nhân dân, biểu hiện những nhận

    xét, những ý nghĩ của nhân dân trong công cuộc đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh

    xã hội, xây dựng đất nước. Trong quá trình phát triển của xã hội, ca dao, tục ngữ

    sẽ tiếp tục bộc lộ những giá trị của mình, ngày càng thâm nhập một cách sâu

    rộng vào đời sống xã hội, tô thắm cuộc sống của con người.

    1.2. Triết lý biện chứng

    Tư tưởng biện chứng có từ rất sớm, hòa cùng sự phát triển của nền văn

    hóa loài người ở cả phương Đông và phương Tây, và được biểu hiện với nhiều

    hình thức phong phú. Đó là sự nhìn nhận sự vật, hiện tượng luôn trong trạng thái

    vận động và phát triển; trong mối liên hệ, sự tác động với các sự vật, hiện tượng

    khác; trong sự thống nhất mâu thuẫn giữa những mặt đối lập cùng tồn tại trong

    sự vật, hiện tượng; ở sự thừa nhận một chỉnh thể trong lúc nó vừa là nó lại vừa

    không phải là nó…

    Ngay từ khoảng thế kỉ VI – V trCN, Hêraclit – nhà triết học nổi tiếng của

    Hy Lạp cổ đại đã thể hiện tư tưởng biện chứng của mình:

    Thứ nhất: Tư tưởng về sự vận động, biến đổi của thế giới

    Theo ông, mọi sự vật, hiện tượng luôn nằm trong xu hướng chung là sự

    vận động, phát triển; không có sự vật, hiện tượng nào là đứng im, bất biến cả.

    “Tất cả mọi cái đều vận động, không có cái gì tồn tại mà lại cố định”

    .

    “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông” .

    “Cái lạnh nóng lên, cái nóng lạnh đi” .

    “Sống là chết, chết là sống, chúng sống là nhờ cái kia chết, chúng chết là

    cho cái kia sống”.

    “Đạo trời giống như buộc dây cung vào cung chăng? Dây cung ở cao

    quá thì nó lại hạ xuống, ở thấp quá thì đưa nó lên, dài quá thì bỏ bớt đi, ngắn

    quá thì thêm vào. Đạo trời bớt chỗ thừa, bù chỗ thiếu” .

    Thứ hai: Tư tưởng về sự thống nhất biện chứng giữa các mặt đối lập

    “Có và không sinh lẫn nhau, dễ và khó tạo nên nhau, ngắn và dài làm

    rõ nhau, cao và thấp tựa vào nhau, trước và sau theo nhau” .

    Ca dao, tục ngữ Việt Nam cũng thể hiện rất rõ tư tưởng biện chứng.

    Chỉ có điều tư tưởng biện chứng không được thể hiện thành một hệ thống

    với những nguyên lý, những quy luật mà là sự khái quát ngẫu nhiên, bề

    9

    ngoài thông qua sự đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn quá trình lao động, sản

    xuấ t. Và ta gọ i đó là nhữ ng triế t lý biệ n chứ ng.

    Chẳng hạn thể hiện sự vận động, biến đổi của mọi sự vật, hiện tượng,

    có câu:

    “Tre già, măng mọc”

    “Người có lúc vinh, lúc nhục

    Nước có lúc đục, lúc trong”

    Thể hiện sự thống nhất mâu thuẫn giữa các mặt đối lập cùng tồn tại trong

    sự vật, hiện tượng:

    “Thớt trên mòn, thớt dưới cũng mòn”

    “Đượ c mù a mua, thua mù a bá n”

    Có thể nói, sự phát triển của tư duy nhân loại hoàn toàn không phụ

    thuộc vào vị trí địa lí. Cùng thể hiện một tư tưởng, cách biểu đạt ở nơi này

    hoặc nơi khác có thể khác nhau nhưng giữa chúng lại có những điểm tương

    đồng. Chính điều này đã tạo nên sự gặp gỡ về tư tưởng giữa các quốc gia,

    các dân tộc ở những vùng miền khác nhau trên thế giới. Đó chính là biểu

    hiện của tính thống nhất trong tính đa dạng của sự phát triển tư duy nhân

    loại, nền văn hóa loài người.

    Khi nói Ca dao, tục ngữ Việt Nam chứa đựng triết lý biện chứng thì

    “triết lý biện chứng” được hiểu là gì?

    Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Khoa học – Xã hội – Nhân văn – Viện

    Ngôn ngữ (Nxb Từ điển Bách Khoa, 2007), triết lý được hiểu theo hai nghĩa:

    Khi “triết lý” là một danh từ thì nó được hiểu là: Ý niệm của nhân

    loại đã tự ý thức được đời sống ấy lên một chỗ thích hợp nhất. Triết lý cũng

    như bao nhiêu giá trị khác, phải biến đổi theo hoàn cảnh xã hội, theo

    phương tiện sinh hoạt của con người.

    Khi “triết lý” là một động từ thì được hiểu là: tỏ ý niệm riêng của

    mình về việc gì đó. VD: Thôi đừng triết lý nữa.

    10

    Theo Từ điển Triết học (Nxb Tiến bộ Matxcơva) thì “biện chứng”

    được hiểu là: khoa học về những quy luật phát triển chung nhất của tự

    nhiên, xã hội và tư duy.

    Như vậy có thể hiểu “Triết lý biện chứng” là một danh từ dùng để

    chỉ: ý niệm của nhân loại ý thức được quy luật phát triển của tự nhiên, xã

    hội và tư duy. Và triết lý biện chứng cũng được thay đổi cùng với sự thay

    đổi của hoàn cảnh xã hội, phương tiện sinh hoạt của con người.

    Từ đó chúng ta hiểu “Triết lý biện chứng trong ca dao, tục ngữ Việt

    Nam” là ý niệm của cha ông ta về những quy luật phát triển của tự nhiên,

    xã hội và tư duy, được rút ra thông qua thực tiễn quá trình lao động sản

    xuất. Ý niệm đó được thay đổi cùng với sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội,

    phương tiện sinh hoạt của con người.

    11

    CHƯƠNG 2: TRIẾT LÝ BIỆN CHỨNG TRONG CA DAO, TỤC NGƯ

    VIỆT NAM

    Triết lý biện chứng trong ca dao, tục ngữ không phải là sự khái quát thành

    những nguyên lí, những quy luật, những phạm trù mà nó là những kết luận riêng

    lẻ, là sự đúc kết kinh nghiệm, là sự khái quát ngẫu nhiên, bề ngoài về sự vận

    động, biến đổi của tự nhiên, xã hội và con người.

    Mặc dù những tri thức trong ca dao, tục ngữ là những tri thức kinh nghiệm

    nhưng nó đã thể hiện triết lý biện chứng một cách hết sức giản dị mà sâu sắc: Luôn

    đặt sự vật, hiện tượng trong sự vận động, phát triển, trong mối quan hệ với các sự

    vật, hiện tượng khác; xem xét sự vật trong sự thống nhất mâu thuẫn giữa các mặt

    đối lập. Ngoài ra, triết lý biện chứng còn thể hiện ở sự nhìn nhận sự vật, hiện tượng

    luôn trong một chỉnh thể, có nguyên nhân xuất hiện, có nội dung, hình thức, có bản

    chất, hiện tượng trong mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng, chịu sự chi phối

    bởi cái ngẫu nhiên và tất nhiên…

    Cụ thể, triết lý biện chứng trong ca dao, tục ngữ Việt Nam thể hiện ở một

    số nội dung cơ bản đó là:

    2.1. Triết lý về sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng

    Đó là cách nhìn nhận sự vật, hiện tượng luôn trong xu hướng vận động,

    biến đổi và phát triển.

    – “Tre già măng mọc”

    – “Sông có khúc, người có lúc”

    – “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”

    – “Hết cơn bĩ cực đến kỳ thái lai”

    – “Người có lúc vinh lúc nhục,

    Nước có lúc đục lúc trong”

    – “Cuộc đời như cảnh phù du,

    Sớm còn tối mất, công phu nhọc nhằn”

    Triết lý biện chứng còn thể hiện ở sự khẳng định sự phát triển của mọi sự

    vật, hiện tượng mang tính khách quan, tính kế thừa và tính đa dạng phong phú.

    12

    Sự phát triển mang tính khách quan.

    Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân của sự vật, do

    mâu thuẫn trong chính sự vật quy định. Đó là quá trình liên tục giải quyết những

    mâu thuẫn trong bản thân sự vật. Sự phát triển như vậy không phụ thuộc vào ý

    muốn, nguyện vọng của con người. Dù con người có muốn hay không thì sự vật

    vẫn vận động, phát triển theo khuynh hướng chung của thế giới vật chất.

    – “Trăng đến rằm thì trăng tròn,

    Sao đến tối thì sao mọc”

    – “Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”

    – “Ngày đi, trúc chửa mọc măng

    Ngày về, trúc đã cao bằng ngọn tre

    Ngày đi, lúa chửa chia vè,

    Ngày về lúa đã đỏ hoe ngoài đồng

    Ngày đi, em chửa có chồng

    Ngày về, em đã con bồng, con mang”

    Sự phát triển mang tính kế thừa.

    Cái mới chỉ có thể ra đời trên nền tảng của cái cũ, là sự phát triển tiếp tục

    của cái cũ trên cơ sở gạt bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời của cái cũ và chọn lọc

    giữ lại những mặt thích hợp với hiện thực.

    “Tre già măng mọc”

    Sự vật mới ra đời, dần thay thế cho sự vật cũ: “tre già” thì “măng mọc”.

    Tuy nhiên sự vật mới ra đời không phải trên mảnh đất trống không mà phải trên

    cơ sở kết thừa nền tảng, yếu tố tích cực của sự vật cũ. “Măng” ra đời trên nền

    tảng, gốc rễ của khóm tre già có từ trước nó. Nó không thể đứng độc lập một

    mình mà chỉ có thể phát triển trong sự bao bọc, chở che của khóm tre già.

    Sự phát triển mang tính đa dạng phong phú.

    Khuynh hướng phát triển là khuynh hướng chung của sự vật, hiện tượng

    song ở mỗi hoàn cảnh cụ thể các sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triển

    khác nhau.

    – “Người đời khác nữa là hoa,

    Sớm còn tối mất, nở ra lại tàn”

    13

    – “Trời còn có khi nắng khi mưa,

    Ngày còn khi sớm khi trưa nữa người”

    Triết lý biện chứng còn thể hiện ở sự khẳng định mọi sự vật, hiện tượng

    vận động, biến đổi, phát triển đều bằng phương thức nhất định.

    Phương thức của sự phát triển là sự tích lũy, biến đổi về lượng dẫn đến

    sự thay đổi về chất.

    – “Tích tiểu thành đại”

    – “Góp gió thành bão”

    – “Năng nhặt chặt bị”

    Mối quan hệ giữa chất lượng và số lượng cũng được thể hiện một cách hết

    sức phong phú, sinh động, mang tính đặc thù. Tuy không trực tiếp nói đến khái

    niệm “chất”, “lượng” nhưng ca dao, tục ngữ đã phần nào thể hiện mối quan hệ

    giữa số lượng và chất lượng trên tinh thần biện chứng.

    Trước hết, khi phân biệt chất khác nhau được tạo nên từ những thuộc tính

    khác nhau có câu:

    – “Chẳng chua cũng thể là chanh,

    Chẳng ngọt cũng thể cam sành chín cây”

    – “Chẳng thanh cũng thể hoa lài,

    Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”

    – “Chẳng vui cũng thể hội Thầy,

    Chẳng trong cũng thể Hồ Tây xứ Đoài”

    Chất khác nhau tạo ra các giá trị khác nhau:

    – “Trăng mờ còn tỏ hơn sao,

    Dẫu rằng núi nở còn cao hơn đồi”

    – “Tối trăng còn hơn sáng sao,

    Phơn phớt lòng đào hơn thắm màu vang”

    Chất bao giờ cũng được coi trọng hơn lượng:

    – “Quý hồ tinh bất quý hồ đa”

    – “Văn hay chẳng lọ dài dòng”

    – “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề”

    14

    Và không thể lấy lượng thay chất được dù rằng lượng gấp bao nhiêu lần:

    “Trăm đom đóm không bằng bó đuốc,

    Trăm hòm chì chẳng đúc nên chuông”

    Khi sự vật tích lũy đủ về lượng, đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy để

    tạo ra sự thay đổi về chất, chất mới ra đời.

    – “Quá mù sang mưa “

    – “Tốt quá hóa lốp”

    – “Mèo già hóa cáo”

    – “Góp gió thành bão, góp cây nên rừng”

    – “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”

    – “Rượu lạt uống lắm cũng say

    Người khôn nói lắm, dẫu hay cũng nhàm”

    – “Năng mưa thì giếng năng đầy

    Anh năng đi lại, mẹ thầy năng thương”

    Những thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng, chất mới ra đời sẽ

    tác động trở lại lượng của sự vật. Chất mới có thể làm thay đổi kết cấu, quy mô,

    trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển của sự vật.

    – “Cái khó bó cái khôn”

    – “Phú quý sinh lễ nghĩa”

    Khi con người ta trở từ nghèo khổ trở nên giàu có thì sẽ dẫn đến sự thay đổi

    trong cách nghĩ, cách làm, cách đối xử với mọi người: “phú quý” sinh “lễ nghĩa”.

    Với những hình ảnh hết sức gần gũi, giản dị, ca dao, tục ngữ đã thể hiện

    tư tưởng biện chứng về sự vận động và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng.

    Phát triển là xu hướng tất yếu khách quan, thông qua sự tích lũy dần về lượng sẽ

    dẫn đến sự thay đổi về chất và khi đó sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ.

    Đặc biệt ca dao, tục ngữ còn đề cao vai trò của thực tiễn trong việc xem

    xét sự vận động và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng:

    – “Thức khuya mới biết đêm dài,

    Sống lâu mới biết lòng người có nhân”

    – “Lên non mới biết non cao,

    Lội sông mới biết lạch nào cạn sâu”

    15

    – “Cởi ra mới biết béo gầy,

    Đến khi cả gió, biết cây cứng mềm”

    – “Gừng già, gừng rụng, gừng cay,

    Anh hùng càng cực, càng dày nghĩa nhân”

    – “Có gió rung, mới biết tùng bách cứng

    Có ngọn lửa hừng, mới rõ thức vàng cao”

    Từ việc thấu hiểu triết lý về sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng,

    thông qua ca dao, tục ngữ, cha ông ta còn đúc rút được kinh nghiệm trong cuộc

    sống. Đó là sự khẳng định vai trò to lớn của lao động đối với cuộc sống con người.

    – “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”

    – “Muốn no thì phải chăm làm,

    Một hột thóc vàng, chín hột mồ hôi”

    – “Khen nết hay làm ai khen nết hay ăn”

    – “Có vất vả mới thanh nhàn,

    Không dưng ai dễ cầm tàn che cho”

    – “Số giàu đưa đến dửng dưng

    Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu”

    Ngoài ra, nói đến lao động thì không thể không nói đến công cụ lao động,

    yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất. Ca dao, tục ngữ đề cao vai trò của

    công cụ lao động. Thông qua quá trình lao động sản xuất mà con người đã đúc

    rút được những kinh nghiệm để chế tạo những công cụ lao động phù hợp với

    từng công việc sản xuất:

    “Gỗ kền anh để đóng cày,

    Gỗ lim, gỗ sến, anh nay đóng bừa…”

    Lao động của con người là lao động có mục đích, có ý nghĩa nên loài người

    đã chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho mục đích của mình. Con

    người còn biết sáng chế công cụ, cải tạo kĩ thuật canh tác như:

    “Răng bừa tám cái còn thưa,

    16

    Lưỡi cày tám tấc đã vừa luống to.

    Muốn cho lúa nảy bông to,

    Cày sâu, bừa kĩ, phân tro cho nhiều…”

    Trong lao động, thông qua giao tiếp, con người đã tạo nên các mối quan

    hệ xã hội:

    – “Lời chào cao hơn mâm cỗ”

    – “Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

    Như vậy, vận động là tất yếu, khách quan đối với mọi sự vật, hiện tượng

    trong đó có con người. Nguồn gốc của sự vận động nằm ngay trong bản thân sự

    vật. Thông qua sự tích lũy dần về lượng, đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy để

    tạo ra sự thay đổi về chất đã dẫn đến chất mới ra đời thay thế cho chất cũ. Đó chính

    là phương thức của sự vận động, phát triển không ngừng của sự vật, hiện tượng.

    2.2. Triết lý về mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng

    Đó là cách nhìn nhận sự vật, hiện tượng luôn trong mối quan hệ với các

    sự vật, hiện tượng khác.

    Ca dao, tục ngữ đã nói lên mối quan hệ mang tính tất yếu khách quan

    giữa mọi sự vật, hiện tượng. Mọi sự vật, hiện tượng luôn tồn tại và phát triển

    trong mối quan hệ tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau.

    “Nguồn đục dòng cũng đục”

    Vì “nguồn” và “dòng” có mối quan hệ mật thiết với nhau cho nên khi

    “nguồn đục” thì “dòng cũng đục”. Và hiện tượng này mang tính khách quan,

    không phụ thuộc vào ý muốn của con người.

    “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”

    Câu tục ngữ trên nói lên mối liên hệ, sự tác động mang tính tất yếu của

    yếu tố môi trường đối với sự phát triển nhân cách con người.

    “Gần lửa rát mặt”

    “Nhiệt” là đặc tính khách quan của lửa cho nên “gần lửa” thì “rát mặt” là

    kết quả của đặc tính khách quan và nó không phụ thuộc vào ý muốn của con người.

    Bất kì một sự vật, hiện tượng nào, ở bất kì thời gian và không gian nào

    cũng có mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Ngay trong cùng một sự

    17

    18

    khác. Và sự tác động, mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng luôn mang tính

    khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú.

    Ca dao, tục ngữ còn đề cập tới mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên:

    “Khi vui non nước cũng vui

    Khi buồn, sáo thổi kèn đôi cũng buồn”

    Đặc biệt ca dao, tục ngữ còn thể hiện một cách sinh động tư tưởng “thiên

    nhân tương ứng” – trời có gì thì con người có cái ấy. Vì thế cho nên mới có

    những cách ví von đậm tính triết học:

    “Cổ tay em trắng như ngà,

    Con mắt em liếc như là dao cau.

    Miệng cười như thể hoa ngâu,

    Cái khăn đội đầu như thể hoa sen”

    Khi phản ánh những vấn đề về con người và xã hội, ca dao, tục ngữ đã thể

    hiện rất rõ tư tưởng nhân đạo trên lập trường duy vật. Trong ca dao, tục ngữ,

    con người vừa là một thực thể sinh học vừa là một thực thể xã hội.

    Là một thực thể sinh học, con người cũng có những nhu cầu tối thiểu như:

    ăn, mặc, ở, đi lại… Trong đó, ăn là nhu cầu hàng đầu:

    -“Mẻ không ăn cũng chết”

    – “Có thực mới vực được đạo”

    Sau ăn là mặc: “Bụng được no còn lo ấm cật”

    Ăn no, mặc ấm là nhu cầu thiết yếu, hàng đầu của con người. Tuy nhiên,

    không chỉ là một thực thể sinh học mà con người còn là một thực thể xã hội. Do

    đó mà:

    – “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”

    – “Uống nước nhớ nguồn,

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

    Không chỉ dừng lại ở đó, con người còn ý thức được rằng:

    – “Có làm thì mới có ăn

    Không dưng ai dễ đem phần đến cho”

    – “Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”

    Về cái mặc, lúc này mặc không chỉ là nhu cầu “che thân” cho “ấm cật”

    mà nó trở thành nhu cầu thẩm mỹ, làm tôn thêm vẻ đẹp cho con người:

    19

    “Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”

    Cái ăn, cái mặc đối với con người cũng phải có điều độ:

    “Cơm ba bát, áo ba manh,

    Đói không xanh, rét không chết”

    Và cho dù có nghèo đói thì con người vẫn giữ cái nét đẹp văn hoá cho mình:

    “Đói cho sạch, rách cho thơm”

    Bởi vì người ta ý thức được rằng:

    “Hơn nhau manh áo tấm quần

    Cởi ra ai cũng mình trần như ai”

    Đề cao giá trị con người, tục ngữ có câu: “Người ta là hoa đất” thể hiện

    sâu sắc, tinh tế quan niệm về cả vũ trụ và nhân sinh với một tư tưởng nhân văn

    cao đẹp. Câu tục ngữ trên đã khẳng định: con người là một bộ phận của giới tự

    nhiên, có quan hệ mật thiết với giới tự nhiên, là sản phẩm kết tinh những gì tốt

    đẹp nhất, tinh tuý nhất của giới tự nhiên.

    Khẳng định con người là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị vật chất cho xã

    hội, ca dao, tục ngữ thường so sánh con người với của cải, và bao giờ cũng đặt

    con người lên trên hết:

    – “Người làm ra của, của không làm ra người”

    – “Một mặt người bằng mười mặt của”

    – “Người sống hơn đống vàng”

    Ca dao, tục ngữ còn đặc biệt coi trọng giá trị tốt đẹp của con người:

    – “Hoa thơm ai nỡ bỏ rơi,

    Người khôn ai nói nặng lời làm chi”

    – “Kim vàng ai nỡ uốn câu,

    Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời”

    – “Người khôn không nỡ roi đòn,

    Một lời nhè nhẹ hãy còn đắng cay”

    20

    Ca dao, tục ngữ phần nào cũng khẳng định cuộc sống con người có rất

    nhiều khó khăn, muốn làm con người cho ra con người cũng không phải dễ dàng

    gì. Con người muốn sống thì phải lao động, phải lo toan mọi bề, phải đấu tranh

    với chính bản thân mình để vươn lên trong cuộc sống, phải điều tiết mọi mối

    quan hệ, để có thể sống được:

    – “Làm người suy chín, xét xa,

    Cho tường gốc ngọn, cho ra vắn dài”

    – “Làm người phải đắn phải đo,

    Phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâu”

    – “Làm người ăn tối lo mai,

    Việc mình hồ dễ để ai đo lường”

    – “Năm canh thì ngủ lấy ba,

    Hai canh lo lắng việc nhà làm ăn”

    – “Người ta hữu tử hữu sanh,

    Sống lo xứng phận, thác dành tiếng thơm”

    Ca dao, tục ngữ đã thể hiện rất rõ mối quan hệ giữa con người với con

    người, giữa cá nhân với xã hội, và phần nào cũng khẳng định trong tính hiện

    thực của nó bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên,

    đó không phải là các mối quan hệ kinh tế, chính trị… mà trong ca dao, tục ngữ

    đó là mối quan hệ của con người với gia đình, anh em, bạn bè… Chính những

    mối quan hệ này đã tạo nên bản chất xã hội của con người

    Trong quan hệ với cha mẹ, đó là tình thương yêu, sự kính trọng, biết ơn

    công lao sinh thành, dưỡng dục của người con đối với cha mẹ mình:

    – “Cây khô chưa dễ mọc chồi

    Bác mẹ chưa dễ ở đời với ta

    Non xanh bao tuổi mà già

    Bởi vì sương tuyết hóa ra bạc đầu”

    21

    – “Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Một lòng thờ mẹ kính cha

    Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

    – “Lên non mới biết non cao

    Nuôi con mới biết công lao mẫu từ”

    – “Đói lòng ăn quả chà là

    Dành cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”

    – “Tu đâu cho bằng tu nhà

    Thờ cha kính mẹ, ấy là chân tu”

    – “Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời

    Cầu cho cha mẹ sống đời với con”

    Trong quan hệ vợ chồng, đó là tình yêu thương son sắt, thủy chung, cùng

    nhau vượt qua mọi khó khăn, gian khổ của cuộc sống.

    – “Rủ nhau lên núi đốt than

    Chồng mang đòn gánh, vợ mang quanh gành

    Củi than nhem nhuốc với tình

    Ghi lời vàng đá xin đừng quên nhau”

    – “Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”

    – “Chồng em áo rách em thương

    Chồng người áo gấm sông hương mặc người”

    – “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”

    Trong quan hệ bạn bè, đó là sự giúp đỡ lẫn nhau

    – “Giàu vì bạn sang vì vợ”

    – “Bạn bè là nghĩa tương tri,

    Sao cho sau trước một bề mới nên”

    22

    Trong tình bạn cũng có sự chọn lựa:

    – “Ở chọn nơi, chơi chọn bạn”

    – “Bạn vàng lại gặp bạn vàng

    Long, lân, quy, phượng một đoàn tứ linh”

    Sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong quan hệ bạn bè còn thể hiện sự thi

    đua nhau trong học tập, không ngừng phấn đấu để phát triển

    – “Thua trời một vạn không bằng thua bạn một ly”

    – “Học thầy không tầy học bạn”

    Trong quan hệ thầy trò, đó là sự kính trọng và biết ơn công lao của

    người thầy:

    – “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”

    – “Không thầy đố mày làm nên”

    – “Mấy ai là kẻ không thầy,

    Thế gian thường nói đố mày làm nên”

    – “Dốt kia thì phải cậy thầy,

    Vụng kia cậy thợ thì mày làm nên”

    Đặc biệt trong ca dao, tục ngữ còn thể hiện mối quan hệ giữa gia đình và

    nhà trường trong việc phối hợp giáo dục con trẻ:

    “Muốn sang thì bắc cầu kiều

    Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”

    Câu ca dao đã phần nào khẳng định quá trình giáo dục không chỉ đơn

    thuần là quá trình diễn ra ở nhà trường với sự tác động giữa thầy và trò mà quá

    trình giáo dục trong nhà trường có quan hệ mật thiết với các quá trình giáo dục

    gia đình và giáo dục xã hội. Qua đó thể hiện một cách gián tiếp tư tưởng biện

    chứng của quá trình giáo dục. Ở đây “yêu lấy thầy” có nghĩa là sự quan tâm,

    kính trọng, biết ơn công lao của người thầy, cùng phối kết hợp với thầy trong

    việc giáo dục con trẻ.

    23

    Trong quan hệ với anh em, đó là là sự yêu thương, đùm bọc, nhường nhịn

    lẫn nhau:

    – “Chị ngã em nâng”

    – “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”

    – “Anh em như thể tay chân

    Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần”

    – “Khôn ngoan đá đáp người ngoài

    Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”

    Trong quan hệ với láng giềng, đó là sự giúp đỡ lẫn nhau:

    “Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”

    Hàng xóm sống thân tình, gắn bó với nhau như anh em họ hàng. Đôi khi

    anh em họ hàng vì hoàn cảnh xa cách nên không thường xuyên quan tâm, giúp

    đỡ được nhau thì hàng xóm, láng giềng chính là nơi ta có thể cậy nhờ, giúp ta

    vượt qua không ít khó khăn trong cuộc sống. Cho nên mới có câu:

    “Bán anh em xa mua láng giềng gần”

    Trong quan hệ với người khác:

    – “Thương người như thể thương thân

    Lá lành đùm lá rách”

    – “Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

    Người trong một nước phải thương nhau cùng”

    – “Bầu ơi thương lấy bí cùng,

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

    – “Thương người, người lại thương ta,

    Ghét người, người lại hóa ra ghét mình”

    Ca dao, tục ngữ còn đặc biệt nhấn mạnh tình yêu đối với trẻ nhỏ và tính

    cảm kính trọng đối với những người có tuổi:

    “Yêu trẻ, trẻ hay đến nhà;

    Kính già, già để tuổi cho”

    24

    Trong quan hệ tình yêu nam nữ:

    – “Em ơi! chua ngọt đã từng,

    Non xanh nước bạc, ta đừng quên nhau!”

    – “Em về, anh mượn khăn tay,

    Gói câu tình nghĩa, lâu ngày sợ quên”

    – “Cây đa rụng lá đầy đình,

    Bao nhiêu lá rụng ta thương mình bấy nhiêu”

    – “Yêu nhau chẳng quản đường xa

    Đá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều”

    – “Yêu nhau vạn sự chẳng nề,

    Một trăm gỗ lệch cũng kê cho bằng”

    – “Yêu nhau, ruột héo xương mòn

    Yêu nhau đến thác vẫn còn yêu nhau”

    Câu ca dao thể hiện sự cùng nhau chịu đựng gian khổ của những người

    lao động “tạc nghĩa đá vàng”, làm cho họ quyết một lòng chung thủy, cùng

    nhau gắn bó keo sơn vượt qua mọi khó khăn gian khổ. Trên cơ sở tình yêu thắm

    thiết của đôi trai gái họ đã xây dựng lên những gia đình hạnh phúc.

    Qua những câu ca dao, tục ngữ trên ta thấy chính những mối quan hệ đa

    dạng giữa con người với con người trong cuộc sống đã làm nên bản chất tốt đẹp

    của con người Việt Nam: thủy chung, son sắt, ân tình, nghĩa tình thống nhất

    trong mọi mối quan hệ, tạo nên bản chất xã hội trong mỗi con người.

    Như vậy, sự vật, hiện tượng, kể cả con người luôn tồn tại và phát triển

    trong sự tác động, trong mối liên hệ với các sự vật khác, với cá nhân khác và với

    xã hội. Không có sự vật, hiện tượng nào phát triển mà tồn tại biệt lập, tách rời

    với thế giới xung quanh, với môi trường xã hội.

    2.3. Triết lý về mâu thuẫn trong mọi sự vật, hiện tượng

    Đó là cách nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong sự thống nhất mâu thuẫn

    giữa các mặt đối lập.

    25

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá
  • Tài Liệu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Chị Em Doc
  • Câu Hỏi Của Nguyễn Thị Thu Nga
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Biển, Biển Đảo, Biển Vũng Tàu Nha Trang Hay Nhất
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Triết Lý Biện Chứng Trong Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam Và Việc Vận Dụng Vào Dạy Học Triết Học trên website Altimofoundation.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100