Top 14 # Xem Nhiều Nhất Từ Điển Danh Ngôn Việt Nam / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Altimofoundation.com

Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới / 2023

Từ điển danh ngôn thế giới được tập hợp công phu, kỹ lưỡng mang tính chất bao quát, đề cập đến hầu hết các lĩnh vực nhân sinh, xã hội. Những câu đúc kết ngắn gọn, súc tích, giúp bạn đọc rút ra những kinh nghiệm đối nhân xử thế, để có được cuộc sống hạnh phúc và thành công hơn.

Bước 1: Truy cập website và lựa chọn sản phẩm cần mua để mua hàng

Nếu bạn muốn tiếp tục mua hàng: Bấm vào phần tiếp tục mua hàng để lựa chọn thêm sản phẩm vào giỏ hàng

Nếu bạn muốn xem giỏ hàng để cập nhật sản phẩm: Bấm vào xem giỏ hàng

Nếu bạn muốn đặt hàng và thanh toán cho sản phẩm này vui lòng bấm vào: Đặt hàng và thanh toán

Bước 3: Lựa chọn thông tin tài khoản thanh toán

Nếu bạn đã có tài khoản vui lòng nhập thông tin tên đăng nhập là email và mật khẩu vào mục đã có tài khoản trên hệ thống

Nếu bạn chưa có tài khoản và muốn đăng ký tài khoản vui lòng điền các thông tin cá nhân để tiếp tục đăng ký tài khoản. Khi có tài khoản bạn sẽ dễ dàng theo dõi được đơn hàng của mình

Nếu bạn muốn mua hàng mà không cần tài khoản vui lòng nhấp chuột vào mục đặt hàng không cần tài khoản

Bước 4: Điền các thông tin của bạn để nhận đơn hàng, lựa chọn hình thức thanh toán và vận chuyển cho đơn hàng của mình

Bước 5: Xem lại thông tin đặt hàng, điền chú thích và gửi đơn hàng

Sau khi nhận được đơn hàng bạn gửi chúng tôi sẽ liên hệ bằng cách gọi điện lại để xác nhận lại đơn hàng và địa chỉ của bạn.

Trân trọng cảm ơn.

Bước 1: Truy cập website và lựa chọn sản phẩm cần mua để mua hàng

Nếu bạn muốn tiếp tục mua hàng: Bấm vào phần tiếp tục mua hàng để lựa chọn thêm sản phẩm vào giỏ hàng

Nếu bạn muốn xem giỏ hàng để cập nhật sản phẩm: Bấm vào xem giỏ hàng

Nếu bạn muốn đặt hàng và thanh toán cho sản phẩm này vui lòng bấm vào: Đặt hàng và thanh toán

Bước 3: Lựa chọn thông tin tài khoản thanh toán

Nếu bạn đã có tài khoản vui lòng nhập thông tin tên đăng nhập là email và mật khẩu vào mục đã có tài khoản trên hệ thống

Nếu bạn chưa có tài khoản và muốn đăng ký tài khoản vui lòng điền các thông tin cá nhân để tiếp tục đăng ký tài khoản. Khi có tài khoản bạn sẽ dễ dàng theo dõi được đơn hàng của mình

Nếu bạn muốn mua hàng mà không cần tài khoản vui lòng nhấp chuột vào mục đặt hàng không cần tài khoản

Bước 4: Điền các thông tin của bạn để nhận đơn hàng, lựa chọn hình thức thanh toán và vận chuyển cho đơn hàng của mình

Bước 5: Xem lại thông tin đặt hàng, điền chú thích và gửi đơn hàng

Sau khi nhận được đơn hàng bạn gửi chúng tôi sẽ liên hệ bằng cách gọi điện lại để xác nhận lại đơn hàng và địa chỉ của bạn.

Trân trọng cảm ơn.

Thi Ca Viết Về Gà Trong Văn Học Cổ Điển Việt Nam / 2023

NSGN – Từ khỉ vượn (năm Thân) đến gà (năm Dậu) có thể xem đó là sự nối kết từ xa đến gần. Xa là chốn núi rừng với cây cối trùng điệp và đám khỉ vượn tha hồ leo trèo, nhảy nhót, để hái quả, bẻ lá… Còn gần tức là nhà cửa xóm làng với tre cau, vườn tược, đồng ruộng. Ở đây luôn vang vọng tiếng gà gáy gà kêu la gắn liền với đời sống của nông thôn Việt Nam.

Trong 12 con giáp thì gà xem như là đại diện của loài lông vũ, góp mặt cùng với 11 con vật kia tạo thành sự nối tiếp có hình tượng của vòng thời gian vô tận.

Nhân xuân năm 2017 là Tết con gà (Đinh Dậu), chúng tôi xin bước đầu tập hợp – giới thiệu mảng thi ca chữ Hán và chữ Nôm đã viết về gà, nói chung là khá phong phú, đa dạng.

1- Chùm thơ sấm xung quanh việc lên ngôi (năm 1010) của Lý Núi lớn nổi đầu rồngĐuôi rồng giấu đại côngNhà Lý lập nên nghiệpCây gạo hiện hình longTrong tháng thỏ gà chuộtMặt trời mọc sáng trong.Công Uẩn 974-1028)

* Thi ca chữ Hán

* Bài 1: Đại sơn (Núi lớn)

Số con hai chữ khoa kỳKhôi tinh đã rạng tử vi thêm lòaHiềm vì ngựa chạy đường xaThỏ vừa lố bóng, gà đà gáy tanBao giờ cho đến bắc phang

(Ngô Thế Long dịch. Dẫn theo Thơ văn Lý Trần I, NXB.KHXH, tr.220).

Theo sách Thơ văn Lý Trần I (Sđd, tr.220) “thì bài thơ trên – vốn được chép trong sách Thiền uyển tập anh, đã ra đời thuộc một trong 2 khả năng: 1- Do Đinh La Quý sáng tác nhưng nhà sư này không phải sống vào cuối thời Bắc thuộc như sách Thiền uyển tập anh đã chép, mà sống trong khoảng cuối tiền Lê đầu Lý, giống như trường hợp các sư Vạn Hạnh, Đa Bảo. 2- Là một bài thơ khuyết danh, xuất hiện trong khoảng cuối Tiền Lê đầu Lý, nhưng để thêm phần linh thiêng người ta đã gán nó cho Đinh La Quý, là người đã sống hàng trăm năm trước…”.

2- Tuệ Trung thượng sĩ Trần Quốc Tung (1230-1291)

Dùng các tháng thỏ gà chuột (thố, kê, thử) theo âm lịch để nói đến một sự đổi ngôi có thể xảy ra, cũng như sau này nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) trong tác phẩm Lục Vân Tiên, đã cho nhân vật sư phụ của Lục Vân Tiên nói với đệ tử của mình về con đường công danh:

Gặp chuột ra đàng con mới nên danh.

Tấm thân suy yếu kể chi màHạc nội nào đâu lẩn tránh gàMuôn tía nghìn xanh mờ đất nướcChân trời góc biển dưỡng tình ta.

( Lục Vân Tiên. Câu 65-70. Dẫn theo Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập I, NXB. Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, 1980, tr.95).

Một gương mặt thiền học tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam đời Trần (1225-1400) cũng là một gương mặt thi ca nổi bật của văn học Việt Nam thế kỷ XIII, qua các tác phẩm thơ của mình đã 3 lần nói đến hình ảnh gà:

– Hoặc là hình ảnh gà để so sánh với hạc:

(Bài Dưỡng chân. Đỗ Văn Hỷ dịch, Thơ văn Lý Trần II,NXB.KHXH, 1989, tr.226).

Niệm dấy tâm tâm dấyTâm tan niệm niệm tanMuốn hay điều chân thựcHổ đá cắn dê vàng.Trời đất, ngón tay gảyNon sông, tiếng dặng khanGió mưa lay thoáng chốcGà gáy lúc canh tàn.

Hạc nội nào đâu lẩn tránh gà (phi quan lão hạc tị kê quần):

Chim hạc lánh đàn gà: xuất xứ từ thành ngữ: Hạc lập kê quần, tức là chim hạc đứng giữa đàn gà. Ở đây tác giả muốn nói: vấn đề chính là dưỡng chân chứ không phải là chuyện đau ốm hay lẩn tránh nơi quần chúng.

Sống chết về đâu chớ hỏi quanh

– Hoặc là tiếng gà gáy lúc canh năm, chỉ cho thời gian, mà lúc nào người tu hành cũng luôn thâu giữ tâm niệm:

Mây ngàn vốn tự bay ra núi

(Bài Gợi bảo học trò; Huệ Chi dịch, Sđd, tr.245).

Độ độ hoa cười xuân tới tiếtĐêm đêm gà gáy lúc tàn canh

– Hoặc là, cũng như hàng năm hoa vẫn nở vào tháng Ba, sáng sớm, gà vẫn gáy vào canh năm:

Trời nọ người kia thảy giả danh.

Nhân duyên thời tiết tự nhiên thành

3- Trần Quang Triều (1286-1325)

Nước suối thường khi đổ xuống ghềnh.

Khuôn trăng người mẹ(1) ai hay biết

(Bài Thời tiết yên đinh; Đỗ Văn Hỷ dịch, Sđd, tr.246).

Gà chó râm ran xế bến sông

Là con của Trần Quốc Tảng (1252-1313), cháu nội của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1232-1300) cũng là một gương mặt thi ca đáng chú ý của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XIV.

Mừng người, gió nhẹ bãi hoa rung.Dâu non, ăn rỗi tằm theo láMưa xuống, liền mây lúa rợp đồng

Nơi bài thơ thất ngôn bát cú Tức cảnh xóm bên sông (Giang thôn tức sự) tác giả Trần Quang Kiều đã ghi nhận tóm tắt về một số cảnh vật nơi thôn xóm ven sông, trong ấy tất nhiên là có tiếng gà gáy chó sủa:

Về kinh, thuyền trẩy chục hôm ròng.

Thôn Tây xóm ngõ cách thôn Đông

4- Nguyễn Sưởng (thế kỷ XIII-XIV)

Giỡn bóng, chiều hôm đàn én liệng

Hè đuổi xuân đi vộiGốc cây chim ríu ranTrăng rèm bóng hoa chuyểnGió trúc, hơi mát lan.Làng rượu mong say khướtĐất cờ vui cuộc nhànNước Hoa Tư(2) bừng mắtGà xóm cách tường vang.

Cười ngất nhà thơ tham ngắm cảnh

5- Trần Nguyên Đán (1325-1390)

(Huệ Chi dịch, Sđd, tr.517-618).

Sống cùng thời với Trần Quang Triều (1286-1325), Nguyễn Trung Ngạn (1289-1368), có tham gia thi xã Bích động do Trần Quang Triều sáng lập. Bài thơ Ở làng (Thôn cư) của ông viết theo thể ngũ ngôn bát cú, cũng là những ghi nhận chấm phá về cảnh và người nơi thôn quê:

Hiên cao tấp nập gót chư côngSĩ tử khó xem vách mấy trùngNgọc đá đáng đem phân biệt rõ

(Nguyễn Đổng Chi dịch, Sđd, tr.767).

Là nhạc phụ của Nguyễn Phi Khanh (1355-1428), tức ông ngoại của thi hào Nguyễn Trãi (1380-1442). Họ Trần cũng là một gương mặt thơ tiêu biểu của Văn học Việt Nam thế kỷ XIV. Trong số 51 bài thơ của Trần Nguyên Đán được Lê Quý Đôn (1726-1784) chép trong sách Toàn Việt Thi lục còn lưu lại, có 2 bài tác giả đã nói đến hình ảnh gà:

– Hoặc là hình ảnh so với phượng để nhắn chư vị chấm thi nên dốc sức phát hiện nhân tài:

Phượng gà há để liệng bay chung…

Bấm đốt xa nhà trọn chục tuầnBáo sáng gà xui kinh giấc mộngGiục về quyên gọi tiễn tàn xuân.

(Bài: Dùng vần thơ… Đào Phương Bình dịch. Thơ văn Lý Trần tập III, NXB.KHXH, 1978, tr.175).

Bèo nước đâu còn gặp cố nhânBiển rộng trời cao nhàn tản quá

– Hoặc là Tiếng gà gáy làm thức giấc trong khi tác giả còn lận đận nơi xứ lạ:

6- Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)

Thân mang gươm bút bước phù vân

Công danh chưa muộn chờ ngày khác

Khéo đem trời đất đóng vào khuôn

(Bài: Cảm xúc khi ở trong quân; Hoàng Lê, Trần Lê Sáng dịch, Sđd, tr.184).

Là gương mặt thi ca tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XVI. Trong Bạch Vân Am thi tập (thơ chữ Hán) của ông có bài đường luật thất ngôn bát cú viết về Trứng gà (Kê noãn):

Thái cực(6) chưa chia còn hỗn độn

Cũng chẳng tròn mà cũng chẳng vuông

Mọc ra lông cánh liền bay bổng

Ngoài đồng thái tố(4) hai lần trắng

Trong chứa đan biêm(5) một điểm vàng.

7- Lê Hữu Trác (1720-1791)

Lưỡng nghi(7) hợp lại mới khai trương

Biến hóa kim kê(8) giúp thái dương.

Xóm đông một ngó không xa mấyXao xác gà thôn xui nỗi kháchBâng quơ trống tối dấy thu hàn.Tin nhau đạo đức rành không khóGặp mặt đàn, ly chả dễ dàngMột tiếng chim kêu buồn khó nóiDậy nhìn trăng xế bóng Tiêu san.

(Ngô Lập Chi dịch. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, NXB.Văn Học 1976, tr.688-689).

Là một trong 2 vị danh y tiêu biểu nhất của nền y học cổ truyền Việt Nam (vị kia là sư Tuệ Tĩnh), cũng là một gương mặt thơ văn nổi bật của văn học Việt Nam thế kỷ XVIII. Ngoài tác phẩm Thượng Kinh Kỷ Sự nổi tiếng, thi ca chữ Hán của Hải Thượng Lãn Ông được chép trong phần Y lý thâu nhàn lý ngôn phụ chí (trong khi làm thuốc, nhân lúc rảnh, dùng lời quê mùa bày tỏ ý chí), đã được Bùi Hạnh Cẩn dịch (in nơi phần sau của bản dịch sách Thượng Kinh Kỷ Sự, NXB.Hà Nội, 1977).

Đôi bờ non núi chìm sương nặng

Thi ca chữ Hán của Lê Hữu Trác phần lớn là ghi nhận về những cảnh vật và con người ở nông thôn nên tất nhiên là có cả tiếng gà gáy quen thuộc:

Canh khuya eo óc gà thôn gáyBãi vắng đàn ngư lửa bập bùngHơi lạnh đìu hiu bên gối khách

(Bài: Vào trọ an ấp… Bùi Hạnh Cẩn dịch, Sđd, tr.205).

8- Lê Quý Đôn (1726-1784)

Hoặc:

Tân cảnh lưu hồng thụTà dương hạ thúy viKê minh giang nguyệt thượngThiền táo(11) hải vân quyTriều thủy hữu triêu tịchNgư ông vô thị phi.

Một ánh trăng trong chảy giữa dòng

(Cây đỏ lưu cảnh mớiTriền núi giữ bóng chiềuGà gáy, trăng trên sóngMây biển về, ve reoNước ròng rọt sớm tốiNgư ông gác việc đời).

(Bài: Đọc đường đi chữa bệnh; Bùi Hạnh Cẩn dịch, Sđd, tr.210).

9- Đoàn Nguyễn Tuấn (1751-?)

Được xem là vị học giả bác học trong văn học cổ điển Việt Nam. Thơ chữ Hán của Lê Quý Đôn tuy không nhiều nhưng cũng rất đáng chú ý. Bài thơ Vịnh cảnh sông Đại Đăng gần với núi Dục Thúy (thuộc huyện Yên Khang, phủ Trường Yên – Thanh Hóa) đã được Phan Huy Chú (1782-1840) ghi lại trong phần Dư Địa Chí của sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, cũng là những ghi nhận tinh tế, hài hòa:

Trèo lên chót vót thượng tầngSo le theo đá, cây dần chếch lênNgửa nghe gà gáy tầng trên

( Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí; Bản dịch của Viện Sử học, tập I, NXB.KHXH, 1992, tr.61).

Mấy nhà hang vượn leo teo

(Do sách LTHCLC chỉ dịch nghĩa, nên chúng tôi đã cố gắng để dịch thơ)(12).

Mỏm non ngồi ngó xa vời

Anh vợ của thi hào Nguyễn Du (1765-1820), là gương mặt thi ca xuất sắc của văn học thời Tây Sơn (1771-1802). Thơ chữ Hán của Đoàn Nguyễn Tuấn nói nhiều về cảnh vật ở nông thôn, về những núi sông, đèo ải, rừng khe v.v… mà ông từng đi qua, nên thỉnh thoảng vẫn có tiếng gà gáy:

Cúi nhìn bóng nhạn vẽ nên ráng chiều

Đường trần như kiến dập dìu ngược xuôi

Nhà ta kia chốn mây trôi bồng bềnh.

Vọng Nam là muôn ngọn núi đồiNườm nượp dấu chân in chốn bụiMịt mờ đèo ải đám cây côiCảnh đẹp rốt cùng đều mộng ảoĐường đời cất bước luống bồi hồiThẩn thờ người bóng cùng riêng hỏiGà gáy vang vang giục tỉnh thôi.

(Bài: Lên núi kháo(13) Nguyễn Văn Bách dịch. Dẫn theo: Thơ Văn Đoàn Nguyễn Tuấn… NXB.KHXH, 1982, tr.51).

10- Nguyễn Thông (1827-1884)

Hoặc nơi bài Qua núi Tam Điệp(14):

Sóng cương xuyên kẽ rừngRừng rậm dấu người vắngBuôn bản hẳn đâu đâyTiếng gà chó văng vẳng.Rẽ bụi quanh bờ kheMây thu chiều nhạt nắngNhìn về nơi ra điMù trời cây mấy rặng.

Tam Điệp hướng Bắc toàn mây trôi

(Dẫn theo Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn … Sđd, tr.65. Phầndịch thơ là của chúng tôi).

Cành Nam nay thả mày về lạiBạn cũ gà rừng mặc sức vuiBên suối uống ăn nên cẩn thậnChút thân dừng để lọt tay ai.

Nhà thơ, là gương mặt nho sĩ trí thức thuộc loại chân chính bậc nhất của học giới Việt Nam thế kỷ XIX. Thi ca chữ Hán của Nguyễn Thông khá dồi dào, viết nhiều về cảnh vật nơi thôn dã, sông rạch, ao hồ, ruộng đồng v.v… có 3 bài đã nói đến gà:

(Bài: Chập tối vào làng bà dần; Giản Chi dịch. Dẫn theo Nguyễn Thông. Con người và tác phẩm, NXB.TP.HCM,1984, tr.154).

Cỡi hạc giong loan đã lỗi thờiNgõ lau về nghỉ cảnh già thôiVài gian nhà lá bên dòng nướcChiếc ghế rừng thông dưới gió đồiCâu nghĩ, thuyền về kề cửa đậu

Hoặc:

Ổ này cảm thấy: gà yên chỗThôi chớ ăn năn sự đã rồi!

(Bài: Thả chim đa đa; Bảo Định Giang dịch, Sđd, tr.214).

Và:

1- Thơ Nôm khuyết danh của Hội Tao Đàn:

Ngâm xong, chim liệng trước thềm chơi

– Bài thứ 3:Đêm chia nửa, khéo hay làGiữa giáp canh ban trống ba

(Bài: Thơ kết của bài Tiểu Tập Ngọa Du Sào(15) Lê Thước, Phạm Khắc Khoan dịch, Sđd, tr.224-225).

Trên không lác đác tuyết bay hoaBâng khuâng kẻ mệt hồn thần nữPhảng phất trời cao bóng tố ngaNhớ chữa kìa ai nằm chẳng nhắpThâu đêm trằn trọc đợi canh gà.

* Thi ca chữ Nôm

– Bài thứ 5:Canh chầy đèn hạnh lâm dâmXao xác lầu canh trống điểm nămNguyệt đầu non treo chếch chếchSương mặt đất ướt đầm đầmRừng kia bố cốc(16) còn khua dóngLàng nọ nông phu đã thức nằmBóng ác trời đông đã rạng

* Hai bài thất ngôn bát cú (có xem vài câu chỉ có 6 chữ) thứ 3 và thứ 5 trong 5 bài viết về Năm canh, đã nói đến Canh gà, tiếng gà:

Đường quạnh phất phơ cây hớt gió

Gà nay gà ngũ đức kê

( Hồng Đức quốc âm thi tập; Dẫn theo: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Sđd, tr.509).

Muôn dân dậy sớm thức khuya

( Hồng Đức quốc âm thi tập; Dẫn theo: Hợp tuyển, Sđd, tr.510).

Thứ dân cho đến nhà quan

* Sách Quốc âm thi ca tạp lục: Có chép bài Gà giải đàn(18) gồm 36 câu thơ lục bát cũng có thể xem là thơ Nôm vào đời Hồng Đức. Ở đây xin nêu dẫn 10 câu đầu:

Xuân hè bốn vụ thu đôngLấy gà tiến nộp lễ dùng mọi nơi.Thần từ miếu mạo các ngôi

Canh nông Nghiêu Thuấn sớm khuya cày bừa.

Canh cửi năm nghề nghe gà gáy tan.

2- Đào Duy Từ (1572-1634):

Lấy gà làm lễ thiên nhan thường dùng.

“Thú vui mảng những lân la

Dùng gà làm lễ cứu người dương gian…

“Lơ thơ bóng xế hải đườngGà rừng eo óc, dế tường đảnh đa”.

(Dẫn theo: Văn học Việt Nam I của Phạm Văn Diêu. NXB.Tân Việt, S, 1960, tr.549).

3- Nguyễn Huy Lượng (?-1808):

Gương mặt thơ Nôm đáng chú ý của văn học Việt Nam thế kỷ XVII. Tác phẩm thơ Nôm có Ngọa Long Cương Vãn, Tư Dung Vãn. Đây là các câu 61-62 và 229-230 của Tư Dung Vãn đã ghi nhận về tiếng gà gáy quen thuộc:

Bỗng đâu xao xác tiếng gà gióng canh”.

(Dẫn theo Đào Duy Từ khảo biện của Đặng Quý Địch. NXB.Thanh Hóa, 1998, tr.436, 445).

Tác giả bài Phú Nôm Tụng Tây Hồ phú nổi tiếng, trong ấy có 2 lần, Nguyễn Huy Lượng đã ghi nhận về tiếng gà gáy thân quen trong mối tương quan sinh động:

4- Phạm Thái (1777-1814):

* Trông mơ màng dường đỉnh Thứu nơi kia, vài tổ thước cuối làng kêu chích chích. Nghe phảng phất ngỡ động đào mái nọ, mấy tiếng gà trong trại gáy o o.

Có miền gọi Thúy hoa đường

* Chốn chiểu đài(19) xem cá nhảy chim bay, thấu sĩ lộ nơi thông nơi trệ. Miền thôn ổ lắng muông kêu gà gáy, lượng dân gian đâu háo (thưa) đâu trù (đông).

(Dẫn theo: 101 bài thơ Phú Tây Hồ; Bùi Hạnh Cẩn Sưu tầm. Biên dịch, NXB.Văn Hóa TT, 1996, tr.188-195).

Gương mặt thơ Nôm xuất sắc của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XIX. Trong tác phẩm Sơ Kính Tân Trang, họ Phạm ít nhất là 2 lần đã nói đến tiếng gà gáy, đều là một trong những âm thanh gắn liền với khung cảnh tươi đẹp nhiều màu sắc:

Thị thành sở thú dưỡng nhàn

Trời thêu thức ngọc, xuân trong màu hồng

Hải đường, thược dược, phù dung

Hạ sen, thu cúc, đông tùng, xuân lan

Một sư một tiểu thảnh thơi

Chim cành gióng nhạc gà ngàn gáy canh…

Kim sơn thắng cảnh đâu bằng

(câu 217-222)

Chim gà gióng giỏi tiếng ca

Hoặc là khung cảnh chùa chiền:

Cảnh thanh có chốn đợi người thanh tăng

Hoa đưa chén cúc, hương lừng án thung…

5- Nguyễn Du (1765-1820):

Nước tuôn khe biếc khó pha lá vàng…

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩnLặn mặt trời lẩn thẩn tìm raLôi thôi ẵm trẻ dắt già

(Câu 857-860, 867-868)

(Dẫn theo: Phạm Thái Và Sơ Kính Tân Trang. Nguyễn Văn Xung biên soạn. NXB.Lửa Thiêng, S, 1972, tr.96-123).

* Tiếng gà gáy trong tác phẩm Văn tế thập loại chúng sinh của thi hào Nguyễn Du đã gắn với một chùm hình ảnh hết sức đặc biệt: Đó là đám cô hồn lạc loài đang dắt díu lang thang vô định. Và tác giả mong muốn họ nên tìm về cửa Phật để nghe kinh, ngõ hầu có thể được đầu thai làm người…:

Những là đo đắn ngược xuôiTiếng gà nghe đã gáy sôi mé tường.

( Văn tế Thập loại chúng sinh, câu: 153-156).(Dẫn theo: Nguyễn Du [thơ Hán Nôm] Bùi Thức Phước sưu tầm – biên soạn. NXB.Hội Nhà Văn, 2015, tr.75).

Tiếng gà xao xác gáy mau

* Trong Truyện Kiều: Qua 3.254 câu thơ Nôm lục bát, thi hào Nguyễn Du đã có 5 lần nói về gà: 4 lần là tiếng gà gáy và 1 lần là gà với sự nối kết.

– Câu 865-866:

Mịt mù dặm cát đồi cây

– Câu 1123-1124:

Tiếng người đâu đã mé sau dậy dàng.

Chuyện trò chưa cạn tóc tơ

– Câu 2029-2030:

Tiếng gà điếm nguyệt dẫu giấy cầu sương.

– Câu 3215-3216:

Con này chẳng phải thiện nhân

Gà đà gáy sáng trời vừa rạng đông.

Ra tuồng mèo mả gà đồng

Ba lần trước là tiếng gà gắn liền với quảng đời lưu lạc của Thúy Kiều. Lần thứ 4 là tiếng gà chứng kiến cho sự đoàn viên.

– Còn đây là lời mắng mang tính trịch thượng, hách dịch của mụ bà (Do mẹ của Hoạn Thư dàn cảnh để bắt Thúy Kiều làm thanh y, sau thì cho sang hầu hạ Hoạn Thư).

6- Nguyễn Huy Hổ (1783-1841):

Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

Ngàn đông khói lẫn lạc hà(21)Giọt mưa cổ thụ tiếng gà cô thôn…

Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào.

Say sưa đòi thú lân la

(Câu 1729-1732. Tất cả đều dẫn theo: Truyện Kiều, Đào Duy Anh khảo chứng, hiệu đính, chú giải. NXB.Văn Học, 2015).

Con của Nguyễn Huy Tự, (1743-1790, tác giả truyện Nôm Hoa Tiên). Tác phẩm Thơ nôm của Nguyễn Huy Hổ là Mai Đình Mộng Ký viết theo thể lục bát. Qua đấy ít nhất là 2 lần, tác giả đã ghi nhận về tiếng gà gáy, trong lộ trình ngồi thuyền ngược dòng sông Lam, trước khi nằm mộng:

7- Cao Bá Nhạ (thế kỷ XIX):

Và:

Năm ba kẻ thước, người hèoGà eo óc vừa tàn giấc mộngNhặng vo ve sực động hồn kinhTiểu đồng thổn thức chung quanh

Giang thành đã gióng canh gà sang tư…

(Dẫn theo VN thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm,1968, tr.251-252).

8- Nguyễn Khuyến (1835-1909):

Con của Cao Bá Đạt, gọi nhà thơ Cao Bá Quát (1809-1855)bằng chú. Bị liên lụy với vụ án của chú, tuy Cao Bá Nhạ đã trốn thoát được 8 năm, nhưng rồi cũng bị bắt trở lại. Tác phẩm Nôm tự tình khúc (gồm 608 câu song thất lục bát) được viết trong thời gian Cao Bá Nhạ bị giam nơi ngục.

Tháng Tư đầu mùa hạTiết trời thực oi ảTiếng dế kêu thiết thaĐàn muỗi bay tơi tảNỗi ấy biết cùng aiCảnh này buồn cả dạBiếng nhắp năm canh chầy

Thê nhi lăn lóc bên mình khóc than.

(Câu 207-212) là những ghi nhận về người, cảnh vật lúc tác giả bị bắt (Dẫn theo VN thi văn hợp tuyển, Sđd, tr.170).

Đã bấy lâu nay bác tới nhàTrẻ thời đi vắng chợ thời xaAo sâu sóng cả khôn chài cá

Gương mặt thi ca tiêu biểu bậc nhất của văn học Việt Nam hậu bán thế kỷ XIX. Thơ nôm của Tam Nguyên Yên Đỗ viết nhiều về cảnh vật ở nông thôn, nên không hề vắng thiếu tiếng gà:

Gà đà sớm giục giã.

(Bài: Đêm mùa hạ, dẫn theo VN thi văn hợp tuyển, Sđd,tr.172)

9- Trần Tế Xương (1870-1907):

Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà…

Cái học nhà Nho đã hỏng rồiMười người đi học chín người thôiCô hàng bán sách lim dim ngủ

(Bài: Bạn đến chơi nhà.

Sĩ khí rụt rè, gà phải cáoVăn chương liều lĩnh đấm ăn xôiTôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉTrình có quan Tiên, Thứ chỉ tôi.

Dẫn theo thi hào Nguyễn Khuyến Đời và Thơ. NXB.Giáo Dục, 1994, tr.627).

Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàuTrăm nghìn vạn mớ để vào đâuPhen này ắt hẳn gà ăn bạcĐồng rụng đồng rơi lọ phải cầu.

Gương mặt thơ Nôm xuất sắc của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Thơ Nôm của Tú Xương phần nhiều mang sắc thái trào phúng và phản ánh xã hội. Như nơi bài thơ này, là nói về tình cảnh sa sút của Nho học thời bấy giờ:

10- Một vài truyện Nôm:

Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi

(Bài: Cái học nhà nho. Dẫn theo VN văn học sử trích yếu của Nghiêm Toản, 1949, tr.95). Hoặc là những mỉa mai, chế giễu về sự kiện thiên hạ chúc nhau trong dịp Tết:

Mặc ai ong bướm xôn xao

(Bài: Chúc Tết. Dẫn theo Việt Nam VHS trích yếu, Sđd, tr.96).

Hạ qua dám ước lại xuânDễ hầu gà luộc mấy lần hay sao?

* Truyện Trinh Thử: Thuộc loại truyện Nôm khuyết danh (chưa tìm ra tác giả), viết theo thể lục bát gồm 850 câu và 2 bài thơ thất ngôn.

Gà về bới nát cỏ sân

– Nơi đoạn I, nói về chuột bạch góa chồng đi kiếm mồi để nuôi con, gặp chó đuổi phải chạy vào ẩn nơi hang, vốn là chỗ ở của đôi vợ chồng chuột. Nhân chuột cái vắng nhà, chuột đực đã dùng lời ngọt ngào để ve vãn, nhưng chuột bạch cự tuyệt… Đây là một đoạn ghi nhận về lời biện của chuột bạch:

Chó nằm hè gặm vỏ khoai

Mười phần cũng chẳng chuyển, dao một phần

– Ở đoạn III, tác giả đã nói đến cảnh vật nơi chỗ ngụ của một thầy đồ nghèo:

Mèo buồn lại chạy kiếm ăn ngõ ngoài

Lợn ngồi dũi đất ngậm hơi gầy gò.

(Dẫn theo: Văn học Việt Nam I, Sđd, tr.372-374).

Nuôi chúng tôi lợi nước lợi nhàNuôi giống gà thật vô ơn ngãiThấy chủ vãi đám ngò vạt cảiTúc nhau bươi chếch gốc trốc cây

* Truyện Lục súc tranh công:

Rủ nhau vầy nát bông nát lá…

Là truyện Nôm ngụ ngôn khuyết danh, gồm 453 câu, viết theo thể nói lối (văn tuồng) kể về sự việc tranh công của 6 con vật nuôi trong nhà là trâu, ngựa, chó, dê, gà và lợn.

– Đây là lời của dê, sau khi thuận hợp với ngựa thì lại chê trách gà:

Gà nghe nói nóng gan nóng phổi

Thấy người trồng đám đậu vồng khoai

Này này! Gà năm đức thẳm sâuNhân, dũng, tín, võ, văn gồm đủTrên đầu đội văn quan một mũ

(Lục súc tranh công. Dẫn theo: Truyện Lục súc tranh công Bùi Thức Phước sưu tầm biên soạn, NXB.Hội Nhà Văn 2015,tr.68).

Đã ghe phen đến chốn chiến trườngLập công trận vang tai lói óc

– Sau đấy thì gà xuất hiện, biện bác với dê và đề cao công trạng của mình:

Liền nhảy ra chớp cánh dương đầu

Dưới chân đeo hai cựa thần thương

Gà gáy đầu ba tiếng đêm khuya…

(Truyện Lục súc tranh công, Sđd, tr.69).

(1) Khuôn trăng người mẹ: Dịch từ Nương sinh diện. Tương đương với thuật ngữ Bản lai diện mục.

(2) Nước Hoa Tư: Sách Liệt Tử chép: Hoàng đế ngủ ngày, mơ thấy mình đến nước Hoa Tư. Người ở nước ấy sống rất hồn nhiên, không có tham dục, yêu ghét riêng v.v…

(3) Bạch âu: chim âu trắng.

(4) Thái tố: là chất bắt đầu. Sách Liệt Tử: Sau khi có khí, có hình mới có chất.

(5) Đan biêm: Đan là màu đỏ. Biêm là một thứ đá dùng để châm chích chữa bệnh (ngày xưa). Hai chữ đan biêm ở đây chưa rõ nghĩa.

(6) Thái cực: Thuật ngữ của Kinh Dịch, chỉ cho thời kỳ trời đất chưa sinh. Thái cực sinh lưỡng nghi.

(7) Lưỡng nghi: Tức âm dương. Lưỡng nghi sinh tứ tượng. Tứ tượng sinh bát quái. Bái quái sinh vạn vật.

(8) Kim kê: Là ngôi sao chủ về việc ân xá. Thái dương là mặt trời, chỉ cho vua.

(9) Kiếm quan: là một địa danh.

(10) Bài thơ thất ngôn này chỉ có 6 câu. Tác giả chỉ viết có 6 câu hay người dịch nêu dẫn chưa hết?

(11) Thiền táo: là ve kêu rộn rã (Thiền là con ve sầu).

(12) Bài thơ ngũ ngôn của Lê Quý Đôn ở đây cũng chỉ có 6 câu. Sách Lịch Triều HCLC chỉ nêu dẫn có 6 câu. Bài thơ chữ Hán Vịnh núi, Cánh diều của Lê Quý Đôn được nêu dẫn ở trang 60 cũng chỉ có 6 câu. Trong sách Đại cương VHS Trung Quốc, tập 2, học giả Nguyễn Hiến Lê đã nêu dẫn khá nhiều bài thơ Đường của các nhà thơ nổi danh, trong ấy có một số bài thất ngôn, ngũ ngôn chỉ có 6 câu (bài kim Lăng tửu tứ lưu biệt, bài Xuân tứ của Lý Bạch. Bài Tân phong chiết bích ông của Bạch Cư Dị. Bài Tống biệt của Vương Duy. Bài Phê bình thơ Lý, đỗ của Hàn Dũ. Bài Liệt nữ tháo của Mạnh Giao…Như vậy, thơ thất ngôn ngũ ngôn bát cú về số câu có trường hợp chỉ có 6 câu.

(13) Núi Kháo: Tên một rặng núi ở Lạng Sơn.

(14) Núi Tam Điệp: Dãy núi ở phía nam Ninh Bình, tiếp giáp với Thanh Hóa.

(15) Ngọa Du Sào: tên tác phẩm của Nguyễn Thông. Có nghĩa là “Ổ nằm chơi”.

(16) Bố cốc: Một loại chim thường kêu vào lúc nhà nông sắp sửa gieo hạt. Ta thường gọi là chim bồ cốc.

(17) Tiếng Hàn châm: Tiếng chày đập vải.

(18) Gà giải đàn: Gà dâng cúng để cầu an hoặc cầu siêu.

(19) Chiểu đài: Hồ và đài.

(20) Nghe kinh: Một hình tượng quy Phật đã được thi ca Việt Nam nói đến: Ca dao (Rủ nhau xuống biển xem đua, Lên nón ngắm nhạn vô chùa nghe kinh). Đến các nhà thơ như Thiền sư Huyền Quang: 1254-1334. Đào Duy Từ: 1572-1634. Nguyễn Du: 1765-1820. Chu Mạnh Trinh: 1862-1905. Cả đến nhà thơ nữ Anh Thơ trong tập Bức tranh quê cũng nói đến:

Quyến cô hồn nương gió lại nghe kinh.

(21) Lạc hà: Vầng ráng chiều.

(22) Đan biều: đan là chiếc giỏ. Biều là vỏ bầu khô để đựng nước. Nhắc tích Nhan Hồi, học trò của Đức Khổng Tử, nhà nghèo, ở ngỏ hẻm. Vật dụng chỉ có giỏ cơm và bầu nước. Cả câu: Ngõ nhan…: ý nói đám lính tráng đã vào nhà đập phá hết cả.

Châm Ngôn Gđpt Việt Nam : Bi / 2023

do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548 )

I. Chuẩn bị :

Một vài mẫu văn bản hành chánh của GĐPT như : thư mời dự chu niên, đơn xin gia nhập, chứng chỉ trúng cách,…

II. Giờ học :

Cuộc đời con người có thể ví dụ như con thuyền ở giữa biển mênh mông, không biết nơi nào là bến, cần có la bàn định hướng. Với GĐPT, la bàn đó chính là châm ngôn Bi – Trí – Dũng. Em đã từng thấy các từ này ghi liền nhau trong văn bản nào ? ( Giới thiệu các mẩu văn bản hành chánh có ghi châm ngôn ).

– Châm ngôn của GĐPT là gì ?

– Thế nào là Bi ? Trí ? Dũng ?

– Vì sao Bi, Trí , Dũng phải có mặt đầy đủ ở mỗi đoàn sinh GĐPT ?

– Em thực hành châm ngôn Bi – Trí – Dũng ra sao ?

Châm ngôn của GĐPT là Bi – Trí – Dũng

– Bi : trong nghĩa từ bi ( cho vui cứu khổ ).

Học theo hạnh của Phật và chư vị Bồ tát, người Phật tử không thể thản nhiên trước nỗi khổ của người khác kể cả loài vật. Cho dù với hành động nhỏ nhặt mà diệt trừ được khổ đau, đem an vui đến cho người và vật ta quyết không từ chối.

– Trí : Trong nghĩa trí tuệ ( hiểu biết sáng suốt không bị vô minh che lấp ). Người Phật tử không cam chịu dốt, sống trong u mê mà phải luôn tìm tòi học hỏi đúng chánh pháp, chân lý. Ngoài ra còn phải giúp mọi người được học hỏi và hiểu biết như mình.

– Dũng : Trong nghĩa tinh tấn, dũng mãnh ( không yếu đối, ương hèn, biếng nhát ). Là đoàn sinh GĐPT, em phải luôn cố gắng, kiên trì, vượt mọi thử thách, chướng ngại để tiến đến giác ngộ, phải dám nghĩ, dám làm.

– Bi – Trí – Dũng phải phối hợp, hỗ trợ, nương vào nhau. Bi thiếu Trí, Dũng cũng thành nhu nhược, sai lầm. Trí, Dũng không Bi sẽ luôn nguy hiểm và gây khổ cho nhau. Có Bi, Trí mà không Dũng thì Bi, Trí ấy vô dụng. Dũng không Bi, Trí sẽ hành động sai lầm, độc ác,…

– Em thương yêu tất cả mọi người, mọi loài, luôn quan tâm, giúp đỡ người khác vượt khó, vượt khổ, tìm được sự an lạc.

– Em cố gắng trao dồi kiến thức, học hỏi giáo pháp để thấy rõ chân lý.

– Em cố gắng tu tập, không ngại khó, ngại khổ trên đường thực hiện lý tưởng giác ngộ.

Tải Về Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới Sách Miễn Phí Pdf • Thư Viện Sách Hướng Dẫn / 2023

Định dạng PDF là gì? Đây là một định dạng tài liệu đề cập đến tài liệu điện tử Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới PDF và các loại sau. Đây là định dạng tập tin phổ quát được phát triển bởi Adobe, và tất cả các phông chữ, định dạng, đồ hoạ và màu sắc của tài liệu nguồn được bảo toàn cho dù ứng dụng hoặc nền tảng được sử dụng để tạo ra chúng. Trong những năm đầu, chúng tôi công bố tài liệu trên máy tính để bàn sử dụng Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới Định dạng PDF và trao đổi tài liệu giữa các chương trình khác nhau và hệ điều hành. Do sự độc lập nền tảng, nó lan truyền trên Internet như một phương tiện trao đổi tài liệu. Điều này đã làm tăng việc thực hiện công nghiệp phần mềm và chiếm vị trí thống lĩnh như là một dạng tài liệu được cấy ghép. Để hiển thị sách bằng PDF Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới định dạng, phần mềm đặc biệt cần thiết tại thời điểm hiện tại là cần thiết. Tuy nhiên, Adobe cung cấp cho Acrobat Reader, bạn có thể tải xuống miễn phí và xem cuốn sách rõ ràng. Ngoài ra, hầu hết các trình duyệt đều có plugin để hiển thị Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới Tập tin PDF. Tạo tài liệu PDF bằng PDF Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới thường là một hoạt động rất đơn giản, tùy thuộc vào gói phần mềm bạn sử dụng, nhưng chúng tôi khuyên bạn nên Adobe. Các phần mềm khác sẽ giúp bạn mở PDF Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới sẽ bao gồm LibreOffice và Wordperfect (phiên bản 9 trở lên). Nếu bạn chuyển đổi một tài liệu hiện có sang PDF Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới hoặc chuyển đổi tài liệu PDF sang định dạng tập tin khác, bạn có thể chuyển đổi tài liệu sang PDF. Nhiều nhà phát triển cung cấp phần mềm chuyển đổi PDF Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới để định dạng khác nhau, nhưng tôi khuyên bạn nên nó để Adobe. Thông tin tác giảLưu Văn HyLưu Văn HyVào trang riêng của tác giảXem tất cả các sách của tác giảMột công trình sưu tầm, biên soạn công phu được đông đảo người đọc trang trọng đón nhận qua nhiều lần tái bản với những điểm nổi bật :* Trên 15000 câu trích của hơn 2000 tác giả.* Nhiều câu tục ngữ và câu hát ru tiên biểu nhất.* Các bản văn thánh của các tôn giáo trên thế giới.* Khẩu hiệu cổ động, lời thoại trong phim ảnh … chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc nhất.Từ điển Danh Ngôn Thế Giớimang tính chất bao quát, đề cập hầu hết các lĩnh vực nhân sinh và xã hội với những sự kiện, thông tin phong phú và chính xác. Đặc biệt, ngôn ngữ luôn cập nhật qua những câu trích từ các sự kiện thời sự đang được nhiều người quan tâm nhất. Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới PDF đại diện cho định dạng của tài liệu sẽ được chuyển. Trong trường hợp này, định dạng sách điện tử được sử dụng để hiển thị các tài liệu dưới dạng điện tử, bất kể phần mềm, phần cứng hoặc hệ điều hành, được xuất bản dưới dạng sách (Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới PDF). Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới Định dạng PDF được phát triển bởi Adobe Systems như là một định dạng tương thích phổ quát dựa trên PostScript bây giờ Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới Sách PDF. Điều này sau đó đã trở thành một tiêu chuẩn quốc tế về trao đổi tài liệu và thông tin dưới dạng PDF. Adobe từ chối kiểm soát việc phát triển tệp PDF trong ISO (Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế) và sách Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới PDF trong năm 2008, nhưng PDF đã trở thành một “tiêu chuẩn mở” của nhiều sách. Các đặc điểm kỹ thuật của phiên bản hiện tại của PDF Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới (1.7) được mô tả trong ISO 32000. Ngoài ra, ISO sẽ chịu trách nhiệm cập nhật và phát triển các phiên bản trong tương lai (Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới PDF 2.0, tuân thủ ISO 3200-2, sẽ được công bố vào năm 2015). Vui lòng tải xuống Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới PDF sang trang của chúng tôi miễn phí.

Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới chi tiết

Tác giả: Lưu Văn Hy

Nhà xuất bản: Nxb Tổng hợp TP.HCM

Ngày xuất bản:

Che:

Ngôn ngữ:

ISBN-10: 8935073020315

ISBN-13:

Kích thước: 14.5×20.5 cm

Cân nặng: 440.00 gam

Trang: 352

Loạt:

Cấp:

Tuổi tác: