Top 12 # Xem Nhiều Nhất Trích Dẫn Hay Trong Văn Học Việt Nam / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Altimofoundation.com

Trích Dẫn Hay Nhất Trong Sách Văn Học Việt Nam / 2023

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn. Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại. (Vội vàng)

Cái na ná tình yêu thì có trăm cái. Nhưng tình yêu đích thực thì chỉ có một. (Kẻ đi tìm tình yêu)

Phụ bạc len lỏi trong máu của mỗi người. Và những cuộc bỏ rơi nhau vẫn đang xảy ra ở đâu đó. (Gáy người thì lạnh)

Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ. (Hai đứa trẻ)

Khoảnh khắc đó tôi đã biết âm thanh đẹp nhất của cuộc sống là tiếng của một người nói yêu một người. (Khói trời lộng lẫy)

Sự thật ở bên ngoài to lớn quá, mạnh mẽ quá, ăn hiếp hẳn cuộc đời tưởng tượng, hiện hình bằng giấy trắng mực đen. (Sống mòn)

Rất nhiều người sống trên đời cũng mang theo một hoặc nhiều câu hỏi mà không được trả lời. Cuộc sống là gì mà thê lương vậy? (Sông)

Có ai đó đã bảo người nhút nhát trước con gái là người lương thiện. Và tình yêu nhút nhát là tình yêu chân thành. (Ngày xưa có một chuyện tình)

Người ta buồn nhất, cô đơn nhất là khi ngủ dậy. Và khi ngoài bầu trời đang nắng ráo mà không biết phải đi đâu, về đâu. (Biển người mênh mông)

Cuối cùng cũng chẳng có gì quan trọng, chỉ tiếc là không bao giờ nói được hết những gì mình nghĩ với người mình yêu thương. (Thư gửi một người)

Ta chẳng cần ai bảo ta là người tử tế. Ta chỉ cần đừng ai nghĩ rằng ta là một thằng quá hiền lành, người ta muốn bắt nạt thế nào cũng được. (Sống mòn)

Người ta ngây ngất trước sự hào nhoáng, mê mẫn trước sự bóng bẩy, nhưng lại rơi nước mắt trước sự giản dị tự đáy lòng. (Ngày mai của những ngày mai)

Càng ồn ào lễ hội người ta càng cô đơn, càng đông đúc chung quanh ta càng đơn độc, bởi có những tâm hồn không ai chạm thấu được. (Biển của mỗi người)

Khi bạn quá tin cậy hoặc sùng bái một ai, chắc chắn bạn không bao giờ đề phòng, thậm chí nghi ngờ. Và đôi khi bạn chết vì niềm ngây thơ của mình. (Tôi là Bê tô)

Bản chất của tình yêu là hi vọng. Nhiều khi trước một sự thật phũ phàng đã rõ mười mươi người ta vẫn tìm cách giải thích theo chiều hướng ít bi quan nhất. (Mắt biếc)

Than thở chẳng ích gì cho ai, cái bọn dân đinh suốt đời bị đè nén, sở dĩ bị đè nén suốt đời chỉ vì khi đè nén chúng chỉ biết than thở chứ không biết làm gì khác. (Chí Phèo)

Thời gian chưa bao giờ là bạn tốt của con người. Thời gian biến tóc ta thành hoa lau, nhuộm hồn ta thành lá đỏ. Và đến một ngày nó sẽ biến đời ta thành mây trắng lang thang. (Cảm ơn người lớn)

Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng. (Trăng sáng)

Hy sinh vì người khác luôn cho hương thơm bay ngược chiều gió. Gánh nặng vì tình yêu luôn song hành cùng sức mạnh vô song. Bất cứ gỗ đá nào chạm phải tình yêu đều trở nên bao dung mềm mại. (Vô thường)

Cả những đề tài lớn lao nhất như sự thật, như chân lý, đều có thể diễn đạt nó trong vòng 180 giây đồng hồ với điều kiện tác giả phải sẵn sàng đem mạng sống trả giá cho những giây đồng hồ quý báu đó. (Ba phút sự thật)

Trong cuộc sống nhiều lúc gặp biến cố, trái tim chúng ta đau thắt, không kịp dừng lại để nhìn thật kĩ vào vấn đề. Chúng ta bị rối tung lên. Chúng ta cứ tưởng khổ đau bất hạnh cứ ập đến đè nặng lên vai chúng ta. (Vô thường)

Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta quá khổ thì người ta chẳng nghĩ gì đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị nỗi lo lắng, buồn đau ích kỷ che lấp. (Lão Hạc)

Bệnh buồn là hỗn hợp của những đổ vỡ, ngơ ngác, thảng thốt, vu vơ, ngớ ngẩn, lạc lỏng, mất mát, vô nghĩa, không phương hướng. Những cái buồn không nắm bắt được, mù mịt bủa vây. Không biết lối nào để thoát khỏi nó. (Ngày mai của những ngày mai)

Ta giận thân làm gì mà oán đời làm gì? Sự đời là như thế, bao giờ cũng có cái sự gì nó xảy ra để cho chúng ta đang sướng phải hóa ra khổ hoặc đã khổ rồi lại phải khổ hơn trước nữa… Ai cũng chịu đựng số phận như thế chứ chẳng cứ gì một ta đâu. (Giông tố)

Tôi đã dùng đủ mọi phương cách để tìm một chữ “mình” đã bị thất lạc, đã biến hình đổi dạng, trong muôn hình vạn trạng của cuộc đời. Có những ngày tháng tôi đã bỏ mình vào một cõi tịch lặng vô ngôn để thử nhìn lại rõ mình hơn, nhưng lại vô vọng. (Tôi là ai, là ai)

Khi người ta lớn, niềm vui và nỗi buồn cũng lớn theo. Trong những giấc mơ của tôi, không chỉ có châu chấu chuồn chuồn như những ngày thơ bé. Đã có bão giông theo về trong những đêm gió luồn qua mái lá. Ở ngay cả giấc mơ cũng lớn lên đó thôi. (Cây chuối non đi giày xanh)

Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng yêu thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn. (Đời thừa)

Thật vậy, sự phù hoa giả dối của một xã hội chỉ trọng những cái bề ngoài, một nền luân lý ích kỷ, sự tín ngưỡng thế lực hoàng kim, cuộc cạnh tranh dữ dội đến vật chất đã làm hại tâm thuật người đời. Do thế, lúc người ta bần thì người ta còn thanh, và đã nên phú rồi, nhiều khi người ta hóa ra trọc. (Giông tố)

Còn chi buồn bằng tuổi trẻ gân thì cứng, máu thì cuồn cuộn với trái tim và tấm lòng thiết tha mà đành sống theo khuôn khổ bằng phẳng. Tôi không muốn cho đến lúc nhắm mắt vẫn phải ân hận chẳng biết đằng cuối cánh đồng mênh mông kia còn những gì lạ và cuộc đời ở đây ra sao. (Dế mèn phiêu lưu kí)

Một ngày nào đó bạn sẽ nhận ra ý nghĩa của ước mơ không phải là ở chỗ nó có phù hợp với khả năng thực tế hay không. Điều quan trọng là nó cho phép bạn sống thêm một cuộc đời nữa với cảm xúc của riêng bạn, trong một thế giới mà bạn có thể hóa thân một cách hồn nhiên nhất vào đấng toàn năng. (Tôi là Bê tô)

Cái cảm giác tù đọng khi thức giấc với bốn bức tường câm lặng, hé cửa ra là sóng âm thanh hỗn độn của đường phố xô vào. Những bình minh lặp đi lặp lại, không bao giờ nhìn được mặt trời lên, vội vã áo quần, vội vã tất giày, vội vã phấn son rồi ào ra đường, ào qua ngày, qua tháng, qua năm… (Những bình minh khác)

Ở đời có những sự kiện, những khuôn mặt thoảng qua đời ta như cơn gió tình cờ, chẳng lưu lại một điều gì trong ký ức, nhưng cũng có những biến cố khắc sâu vào tâm hồn ta như dao chém vào đá, mãi mãi để lại trong trí não ta một vết hằn mà năm tháng chỉ đánh bóng nó lên chứ không thể làm cho nó phai đi. (Đi qua hoa cúc)

Đời sống có thể làm cho người này không vui và người khác có thể hơi buồn buồn. Ở đây anh tự tìm một cách sống riêng để không bao giờ thấy cuộc đời là một sự khổ ải. Sống thì phải vui nếu không thì hãy ngủ lâu dài. Có những hạnh phúc không bao giờ mình đến gần được. Bình thường thôi, anh sống một mình và cố tìm niềm vui của riêng anh. (Thư gửi một người)

Sứ mệnh của người làm nghệ thuật là đem lại mỹ cảm, vẻ đẹp của tâm hồn và thiên nhiên dâng hiến cuộc đời, nhưng phải với tư cách một vẻ đẹp sáng tạo chưa từng có trước đó. Bản thân sự sáng tạo đã là một ngọn lửa, một ngọn đuốc soi đường và dẫn dắt. Tiếng hát và tác phẩm chân thật sẽ sưởi ấm và an ủi những cõi đời buồn chán, cô đơn và giá lạnh. Người nghệ sĩ có trái tim chân thật luôn là người bạn ấm áp và tốt bụng của mọi người. (Ngẫu hứng)

Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện. Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phằng và quá ư dễ dãi. Hắn chẳng đem một chút gì mới lạ gì đến văn chương. Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa. Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có. (Đời thừa)

21 Trích Dẫn Lãng Mạn Nhất Trong Văn Học / 2023

“Nếu mỗi khi tôi nghĩ đến em lại có một đóa hoa mọc lên… Tôi sẽ lạc bước trong khu vườn bất tận của riêng mình.” – Alfred Tennyson

21 trích dẫn lãng mạn nhất trong văn học

1. “Trong ánh sáng của em anh học cách yêu. Trong nét đẹp của em anh biết làm thơ. Em nhảy múa trong lồng ngực anh, nơi không ai nhìn thấy, nhưng đôi khi anh thấy, và điều anh thấy đó trở thành thơ.” – Rumi.

2. “Ngày xửa ngày xưa có một chàng trai rất yêu một cô gái, và nụ cười của cô gái ấy là câu hỏi mà anh muốn dùng cả cuộc đời để tìm câu trả lời.” – Nicole Krauss, Lịch Sử Tình Yêu (The History of Love).

3. “Đường cong trên môi em viết lại lịch sử.” – Oscar Wilde, Chân Dung Dorian Gray

4. “Trên thế giới này, chỉ có duy nhất trái tim em thuộc về anh. Và cũng trên thế giới này, tình yêu của anh chỉ duy nhất dành cho em.” – Maya Angelou

5. “Nhưng anh yêu đôi bàn chân em, vì chúng đã lê bước khắp đất trời, cưỡi gió và lướt trên mặt nước, cho đến khi chúng tìm thấy anh.” – Pablo Neruda

6. “Phía sau đúng và sai, có một cánh đồng. Ta hẹn người ở đó.” – Rumi

7. “Nếu mỗi khi tôi nghĩ đến em lại có một đóa hoa mọc lên… Tôi sẽ lạc bước trong khu vườn bất tận của riêng mình.” – Alfred Tennyson

8. “Anh yêu em vì cả vũ trụ đã góp sức để anh đến tận đây và gặp được em.” – Paulo Coelho, Nhà Giả Kim (The Alchemist)

9. “Anh yêu em vì em thật hoàn hảo. Sau đó anh nhận ra em chẳng hoàn hảo nữa, và anh lại còn yêu em nhiều hơn.” – Angelita Lim

10. “Mọi lúc mọi nơi, tôi đều nghĩ về thơ, tiểu thuyết và em.” – Virginia Woolf

11. “Vì cậu, cả ngàn lần rồi.” – Khaled Hosseini, Người Đua Diều (The Kite Runner)

12. “Nửa cuộc đời của tình yêu là mãi mãi.” – Junot Diaz (This Is How You Lose Her)

13. “Anh đã chờ cơ hội này hơn nửa thế kỷ, chỉ để được nhắc lại với em một lần nữa lời thề về lòng thủy chung vĩnh cửu và tình yêu bất diệt của anh dành cho em.” – Gabriel Garcia Márquez, Tình Yêu Thời Thổ Tả

14. “Trong trường hợp em có lỡ quên mất, anh chưa bao giờ ngừng nghĩ về em.” – Virginia Woolf, Selected Diaries

15. “Yêu một người không phải vì người đó hoàn hảo, mà là khi dù biết họ không hoàn hảo, bạn vẫn yêu họ.” – Jodi Picout, My Sister’s Keeper

16. “Chúng ta yêu bằng một tình yêu còn hơn là tình yêu.” – Edgar Allan Poe, “Annabel Lee”

17. “Anh muốn biết rằng em đang đi lại và hít thở cùng một thế giới với anh.” – F.Scott Fitzgerald, The Short Stories of F.Scott Fitzgerald

18. “Dù bằng chất gì đi nữa thì tâm hồn anh ấy và tâm hồn tôi cũng vẫn là một.” – Emily Bronte, Đỉnh Gió Hú

19. “Anh bước xuống, cố gắng không nhìn cô quá lâu như kiểu người ta tránh nhìn mặt trời. Nhưng cũng như mặt trời, anh vẫn trông thấy cô dù chưa một lần chạm mắt.” – Lev Tolstoy, Anna Karenina

20. “Bạn nên được hôn thường xuyên. Và việc đó nên do một người biết cách hôn làm.” – Margaret Mitchell, Cuốn Theo Chiều Gió (Gone With The Wind)

21. “Anh mang trái tim em theo anh. (Anh đặt nó trong trái tim mình).” – E. E. Cumming

Thi Ca Viết Về Gà Trong Văn Học Cổ Điển Việt Nam / 2023

NSGN – Từ khỉ vượn (năm Thân) đến gà (năm Dậu) có thể xem đó là sự nối kết từ xa đến gần. Xa là chốn núi rừng với cây cối trùng điệp và đám khỉ vượn tha hồ leo trèo, nhảy nhót, để hái quả, bẻ lá… Còn gần tức là nhà cửa xóm làng với tre cau, vườn tược, đồng ruộng. Ở đây luôn vang vọng tiếng gà gáy gà kêu la gắn liền với đời sống của nông thôn Việt Nam.

Trong 12 con giáp thì gà xem như là đại diện của loài lông vũ, góp mặt cùng với 11 con vật kia tạo thành sự nối tiếp có hình tượng của vòng thời gian vô tận.

Nhân xuân năm 2017 là Tết con gà (Đinh Dậu), chúng tôi xin bước đầu tập hợp – giới thiệu mảng thi ca chữ Hán và chữ Nôm đã viết về gà, nói chung là khá phong phú, đa dạng.

1- Chùm thơ sấm xung quanh việc lên ngôi (năm 1010) của Lý Núi lớn nổi đầu rồngĐuôi rồng giấu đại côngNhà Lý lập nên nghiệpCây gạo hiện hình longTrong tháng thỏ gà chuộtMặt trời mọc sáng trong.Công Uẩn 974-1028)

* Thi ca chữ Hán

* Bài 1: Đại sơn (Núi lớn)

Số con hai chữ khoa kỳKhôi tinh đã rạng tử vi thêm lòaHiềm vì ngựa chạy đường xaThỏ vừa lố bóng, gà đà gáy tanBao giờ cho đến bắc phang

(Ngô Thế Long dịch. Dẫn theo Thơ văn Lý Trần I, NXB.KHXH, tr.220).

Theo sách Thơ văn Lý Trần I (Sđd, tr.220) “thì bài thơ trên – vốn được chép trong sách Thiền uyển tập anh, đã ra đời thuộc một trong 2 khả năng: 1- Do Đinh La Quý sáng tác nhưng nhà sư này không phải sống vào cuối thời Bắc thuộc như sách Thiền uyển tập anh đã chép, mà sống trong khoảng cuối tiền Lê đầu Lý, giống như trường hợp các sư Vạn Hạnh, Đa Bảo. 2- Là một bài thơ khuyết danh, xuất hiện trong khoảng cuối Tiền Lê đầu Lý, nhưng để thêm phần linh thiêng người ta đã gán nó cho Đinh La Quý, là người đã sống hàng trăm năm trước…”.

2- Tuệ Trung thượng sĩ Trần Quốc Tung (1230-1291)

Dùng các tháng thỏ gà chuột (thố, kê, thử) theo âm lịch để nói đến một sự đổi ngôi có thể xảy ra, cũng như sau này nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) trong tác phẩm Lục Vân Tiên, đã cho nhân vật sư phụ của Lục Vân Tiên nói với đệ tử của mình về con đường công danh:

Gặp chuột ra đàng con mới nên danh.

Tấm thân suy yếu kể chi màHạc nội nào đâu lẩn tránh gàMuôn tía nghìn xanh mờ đất nướcChân trời góc biển dưỡng tình ta.

( Lục Vân Tiên. Câu 65-70. Dẫn theo Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập I, NXB. Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, 1980, tr.95).

Một gương mặt thiền học tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam đời Trần (1225-1400) cũng là một gương mặt thi ca nổi bật của văn học Việt Nam thế kỷ XIII, qua các tác phẩm thơ của mình đã 3 lần nói đến hình ảnh gà:

– Hoặc là hình ảnh gà để so sánh với hạc:

(Bài Dưỡng chân. Đỗ Văn Hỷ dịch, Thơ văn Lý Trần II,NXB.KHXH, 1989, tr.226).

Niệm dấy tâm tâm dấyTâm tan niệm niệm tanMuốn hay điều chân thựcHổ đá cắn dê vàng.Trời đất, ngón tay gảyNon sông, tiếng dặng khanGió mưa lay thoáng chốcGà gáy lúc canh tàn.

Hạc nội nào đâu lẩn tránh gà (phi quan lão hạc tị kê quần):

Chim hạc lánh đàn gà: xuất xứ từ thành ngữ: Hạc lập kê quần, tức là chim hạc đứng giữa đàn gà. Ở đây tác giả muốn nói: vấn đề chính là dưỡng chân chứ không phải là chuyện đau ốm hay lẩn tránh nơi quần chúng.

Sống chết về đâu chớ hỏi quanh

– Hoặc là tiếng gà gáy lúc canh năm, chỉ cho thời gian, mà lúc nào người tu hành cũng luôn thâu giữ tâm niệm:

Mây ngàn vốn tự bay ra núi

(Bài Gợi bảo học trò; Huệ Chi dịch, Sđd, tr.245).

Độ độ hoa cười xuân tới tiếtĐêm đêm gà gáy lúc tàn canh

– Hoặc là, cũng như hàng năm hoa vẫn nở vào tháng Ba, sáng sớm, gà vẫn gáy vào canh năm:

Trời nọ người kia thảy giả danh.

Nhân duyên thời tiết tự nhiên thành

3- Trần Quang Triều (1286-1325)

Nước suối thường khi đổ xuống ghềnh.

Khuôn trăng người mẹ(1) ai hay biết

(Bài Thời tiết yên đinh; Đỗ Văn Hỷ dịch, Sđd, tr.246).

Gà chó râm ran xế bến sông

Là con của Trần Quốc Tảng (1252-1313), cháu nội của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1232-1300) cũng là một gương mặt thi ca đáng chú ý của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XIV.

Mừng người, gió nhẹ bãi hoa rung.Dâu non, ăn rỗi tằm theo láMưa xuống, liền mây lúa rợp đồng

Nơi bài thơ thất ngôn bát cú Tức cảnh xóm bên sông (Giang thôn tức sự) tác giả Trần Quang Kiều đã ghi nhận tóm tắt về một số cảnh vật nơi thôn xóm ven sông, trong ấy tất nhiên là có tiếng gà gáy chó sủa:

Về kinh, thuyền trẩy chục hôm ròng.

Thôn Tây xóm ngõ cách thôn Đông

4- Nguyễn Sưởng (thế kỷ XIII-XIV)

Giỡn bóng, chiều hôm đàn én liệng

Hè đuổi xuân đi vộiGốc cây chim ríu ranTrăng rèm bóng hoa chuyểnGió trúc, hơi mát lan.Làng rượu mong say khướtĐất cờ vui cuộc nhànNước Hoa Tư(2) bừng mắtGà xóm cách tường vang.

Cười ngất nhà thơ tham ngắm cảnh

5- Trần Nguyên Đán (1325-1390)

(Huệ Chi dịch, Sđd, tr.517-618).

Sống cùng thời với Trần Quang Triều (1286-1325), Nguyễn Trung Ngạn (1289-1368), có tham gia thi xã Bích động do Trần Quang Triều sáng lập. Bài thơ Ở làng (Thôn cư) của ông viết theo thể ngũ ngôn bát cú, cũng là những ghi nhận chấm phá về cảnh và người nơi thôn quê:

Hiên cao tấp nập gót chư côngSĩ tử khó xem vách mấy trùngNgọc đá đáng đem phân biệt rõ

(Nguyễn Đổng Chi dịch, Sđd, tr.767).

Là nhạc phụ của Nguyễn Phi Khanh (1355-1428), tức ông ngoại của thi hào Nguyễn Trãi (1380-1442). Họ Trần cũng là một gương mặt thơ tiêu biểu của Văn học Việt Nam thế kỷ XIV. Trong số 51 bài thơ của Trần Nguyên Đán được Lê Quý Đôn (1726-1784) chép trong sách Toàn Việt Thi lục còn lưu lại, có 2 bài tác giả đã nói đến hình ảnh gà:

– Hoặc là hình ảnh so với phượng để nhắn chư vị chấm thi nên dốc sức phát hiện nhân tài:

Phượng gà há để liệng bay chung…

Bấm đốt xa nhà trọn chục tuầnBáo sáng gà xui kinh giấc mộngGiục về quyên gọi tiễn tàn xuân.

(Bài: Dùng vần thơ… Đào Phương Bình dịch. Thơ văn Lý Trần tập III, NXB.KHXH, 1978, tr.175).

Bèo nước đâu còn gặp cố nhânBiển rộng trời cao nhàn tản quá

– Hoặc là Tiếng gà gáy làm thức giấc trong khi tác giả còn lận đận nơi xứ lạ:

6- Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)

Thân mang gươm bút bước phù vân

Công danh chưa muộn chờ ngày khác

Khéo đem trời đất đóng vào khuôn

(Bài: Cảm xúc khi ở trong quân; Hoàng Lê, Trần Lê Sáng dịch, Sđd, tr.184).

Là gương mặt thi ca tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XVI. Trong Bạch Vân Am thi tập (thơ chữ Hán) của ông có bài đường luật thất ngôn bát cú viết về Trứng gà (Kê noãn):

Thái cực(6) chưa chia còn hỗn độn

Cũng chẳng tròn mà cũng chẳng vuông

Mọc ra lông cánh liền bay bổng

Ngoài đồng thái tố(4) hai lần trắng

Trong chứa đan biêm(5) một điểm vàng.

7- Lê Hữu Trác (1720-1791)

Lưỡng nghi(7) hợp lại mới khai trương

Biến hóa kim kê(8) giúp thái dương.

Xóm đông một ngó không xa mấyXao xác gà thôn xui nỗi kháchBâng quơ trống tối dấy thu hàn.Tin nhau đạo đức rành không khóGặp mặt đàn, ly chả dễ dàngMột tiếng chim kêu buồn khó nóiDậy nhìn trăng xế bóng Tiêu san.

(Ngô Lập Chi dịch. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, NXB.Văn Học 1976, tr.688-689).

Là một trong 2 vị danh y tiêu biểu nhất của nền y học cổ truyền Việt Nam (vị kia là sư Tuệ Tĩnh), cũng là một gương mặt thơ văn nổi bật của văn học Việt Nam thế kỷ XVIII. Ngoài tác phẩm Thượng Kinh Kỷ Sự nổi tiếng, thi ca chữ Hán của Hải Thượng Lãn Ông được chép trong phần Y lý thâu nhàn lý ngôn phụ chí (trong khi làm thuốc, nhân lúc rảnh, dùng lời quê mùa bày tỏ ý chí), đã được Bùi Hạnh Cẩn dịch (in nơi phần sau của bản dịch sách Thượng Kinh Kỷ Sự, NXB.Hà Nội, 1977).

Đôi bờ non núi chìm sương nặng

Thi ca chữ Hán của Lê Hữu Trác phần lớn là ghi nhận về những cảnh vật và con người ở nông thôn nên tất nhiên là có cả tiếng gà gáy quen thuộc:

Canh khuya eo óc gà thôn gáyBãi vắng đàn ngư lửa bập bùngHơi lạnh đìu hiu bên gối khách

(Bài: Vào trọ an ấp… Bùi Hạnh Cẩn dịch, Sđd, tr.205).

8- Lê Quý Đôn (1726-1784)

Hoặc:

Tân cảnh lưu hồng thụTà dương hạ thúy viKê minh giang nguyệt thượngThiền táo(11) hải vân quyTriều thủy hữu triêu tịchNgư ông vô thị phi.

Một ánh trăng trong chảy giữa dòng

(Cây đỏ lưu cảnh mớiTriền núi giữ bóng chiềuGà gáy, trăng trên sóngMây biển về, ve reoNước ròng rọt sớm tốiNgư ông gác việc đời).

(Bài: Đọc đường đi chữa bệnh; Bùi Hạnh Cẩn dịch, Sđd, tr.210).

9- Đoàn Nguyễn Tuấn (1751-?)

Được xem là vị học giả bác học trong văn học cổ điển Việt Nam. Thơ chữ Hán của Lê Quý Đôn tuy không nhiều nhưng cũng rất đáng chú ý. Bài thơ Vịnh cảnh sông Đại Đăng gần với núi Dục Thúy (thuộc huyện Yên Khang, phủ Trường Yên – Thanh Hóa) đã được Phan Huy Chú (1782-1840) ghi lại trong phần Dư Địa Chí của sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, cũng là những ghi nhận tinh tế, hài hòa:

Trèo lên chót vót thượng tầngSo le theo đá, cây dần chếch lênNgửa nghe gà gáy tầng trên

( Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí; Bản dịch của Viện Sử học, tập I, NXB.KHXH, 1992, tr.61).

Mấy nhà hang vượn leo teo

(Do sách LTHCLC chỉ dịch nghĩa, nên chúng tôi đã cố gắng để dịch thơ)(12).

Mỏm non ngồi ngó xa vời

Anh vợ của thi hào Nguyễn Du (1765-1820), là gương mặt thi ca xuất sắc của văn học thời Tây Sơn (1771-1802). Thơ chữ Hán của Đoàn Nguyễn Tuấn nói nhiều về cảnh vật ở nông thôn, về những núi sông, đèo ải, rừng khe v.v… mà ông từng đi qua, nên thỉnh thoảng vẫn có tiếng gà gáy:

Cúi nhìn bóng nhạn vẽ nên ráng chiều

Đường trần như kiến dập dìu ngược xuôi

Nhà ta kia chốn mây trôi bồng bềnh.

Vọng Nam là muôn ngọn núi đồiNườm nượp dấu chân in chốn bụiMịt mờ đèo ải đám cây côiCảnh đẹp rốt cùng đều mộng ảoĐường đời cất bước luống bồi hồiThẩn thờ người bóng cùng riêng hỏiGà gáy vang vang giục tỉnh thôi.

(Bài: Lên núi kháo(13) Nguyễn Văn Bách dịch. Dẫn theo: Thơ Văn Đoàn Nguyễn Tuấn… NXB.KHXH, 1982, tr.51).

10- Nguyễn Thông (1827-1884)

Hoặc nơi bài Qua núi Tam Điệp(14):

Sóng cương xuyên kẽ rừngRừng rậm dấu người vắngBuôn bản hẳn đâu đâyTiếng gà chó văng vẳng.Rẽ bụi quanh bờ kheMây thu chiều nhạt nắngNhìn về nơi ra điMù trời cây mấy rặng.

Tam Điệp hướng Bắc toàn mây trôi

(Dẫn theo Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn … Sđd, tr.65. Phầndịch thơ là của chúng tôi).

Cành Nam nay thả mày về lạiBạn cũ gà rừng mặc sức vuiBên suối uống ăn nên cẩn thậnChút thân dừng để lọt tay ai.

Nhà thơ, là gương mặt nho sĩ trí thức thuộc loại chân chính bậc nhất của học giới Việt Nam thế kỷ XIX. Thi ca chữ Hán của Nguyễn Thông khá dồi dào, viết nhiều về cảnh vật nơi thôn dã, sông rạch, ao hồ, ruộng đồng v.v… có 3 bài đã nói đến gà:

(Bài: Chập tối vào làng bà dần; Giản Chi dịch. Dẫn theo Nguyễn Thông. Con người và tác phẩm, NXB.TP.HCM,1984, tr.154).

Cỡi hạc giong loan đã lỗi thờiNgõ lau về nghỉ cảnh già thôiVài gian nhà lá bên dòng nướcChiếc ghế rừng thông dưới gió đồiCâu nghĩ, thuyền về kề cửa đậu

Hoặc:

Ổ này cảm thấy: gà yên chỗThôi chớ ăn năn sự đã rồi!

(Bài: Thả chim đa đa; Bảo Định Giang dịch, Sđd, tr.214).

Và:

1- Thơ Nôm khuyết danh của Hội Tao Đàn:

Ngâm xong, chim liệng trước thềm chơi

– Bài thứ 3:Đêm chia nửa, khéo hay làGiữa giáp canh ban trống ba

(Bài: Thơ kết của bài Tiểu Tập Ngọa Du Sào(15) Lê Thước, Phạm Khắc Khoan dịch, Sđd, tr.224-225).

Trên không lác đác tuyết bay hoaBâng khuâng kẻ mệt hồn thần nữPhảng phất trời cao bóng tố ngaNhớ chữa kìa ai nằm chẳng nhắpThâu đêm trằn trọc đợi canh gà.

* Thi ca chữ Nôm

– Bài thứ 5:Canh chầy đèn hạnh lâm dâmXao xác lầu canh trống điểm nămNguyệt đầu non treo chếch chếchSương mặt đất ướt đầm đầmRừng kia bố cốc(16) còn khua dóngLàng nọ nông phu đã thức nằmBóng ác trời đông đã rạng

* Hai bài thất ngôn bát cú (có xem vài câu chỉ có 6 chữ) thứ 3 và thứ 5 trong 5 bài viết về Năm canh, đã nói đến Canh gà, tiếng gà:

Đường quạnh phất phơ cây hớt gió

Gà nay gà ngũ đức kê

( Hồng Đức quốc âm thi tập; Dẫn theo: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Sđd, tr.509).

Muôn dân dậy sớm thức khuya

( Hồng Đức quốc âm thi tập; Dẫn theo: Hợp tuyển, Sđd, tr.510).

Thứ dân cho đến nhà quan

* Sách Quốc âm thi ca tạp lục: Có chép bài Gà giải đàn(18) gồm 36 câu thơ lục bát cũng có thể xem là thơ Nôm vào đời Hồng Đức. Ở đây xin nêu dẫn 10 câu đầu:

Xuân hè bốn vụ thu đôngLấy gà tiến nộp lễ dùng mọi nơi.Thần từ miếu mạo các ngôi

Canh nông Nghiêu Thuấn sớm khuya cày bừa.

Canh cửi năm nghề nghe gà gáy tan.

2- Đào Duy Từ (1572-1634):

Lấy gà làm lễ thiên nhan thường dùng.

“Thú vui mảng những lân la

Dùng gà làm lễ cứu người dương gian…

“Lơ thơ bóng xế hải đườngGà rừng eo óc, dế tường đảnh đa”.

(Dẫn theo: Văn học Việt Nam I của Phạm Văn Diêu. NXB.Tân Việt, S, 1960, tr.549).

3- Nguyễn Huy Lượng (?-1808):

Gương mặt thơ Nôm đáng chú ý của văn học Việt Nam thế kỷ XVII. Tác phẩm thơ Nôm có Ngọa Long Cương Vãn, Tư Dung Vãn. Đây là các câu 61-62 và 229-230 của Tư Dung Vãn đã ghi nhận về tiếng gà gáy quen thuộc:

Bỗng đâu xao xác tiếng gà gióng canh”.

(Dẫn theo Đào Duy Từ khảo biện của Đặng Quý Địch. NXB.Thanh Hóa, 1998, tr.436, 445).

Tác giả bài Phú Nôm Tụng Tây Hồ phú nổi tiếng, trong ấy có 2 lần, Nguyễn Huy Lượng đã ghi nhận về tiếng gà gáy thân quen trong mối tương quan sinh động:

4- Phạm Thái (1777-1814):

* Trông mơ màng dường đỉnh Thứu nơi kia, vài tổ thước cuối làng kêu chích chích. Nghe phảng phất ngỡ động đào mái nọ, mấy tiếng gà trong trại gáy o o.

Có miền gọi Thúy hoa đường

* Chốn chiểu đài(19) xem cá nhảy chim bay, thấu sĩ lộ nơi thông nơi trệ. Miền thôn ổ lắng muông kêu gà gáy, lượng dân gian đâu háo (thưa) đâu trù (đông).

(Dẫn theo: 101 bài thơ Phú Tây Hồ; Bùi Hạnh Cẩn Sưu tầm. Biên dịch, NXB.Văn Hóa TT, 1996, tr.188-195).

Gương mặt thơ Nôm xuất sắc của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XIX. Trong tác phẩm Sơ Kính Tân Trang, họ Phạm ít nhất là 2 lần đã nói đến tiếng gà gáy, đều là một trong những âm thanh gắn liền với khung cảnh tươi đẹp nhiều màu sắc:

Thị thành sở thú dưỡng nhàn

Trời thêu thức ngọc, xuân trong màu hồng

Hải đường, thược dược, phù dung

Hạ sen, thu cúc, đông tùng, xuân lan

Một sư một tiểu thảnh thơi

Chim cành gióng nhạc gà ngàn gáy canh…

Kim sơn thắng cảnh đâu bằng

(câu 217-222)

Chim gà gióng giỏi tiếng ca

Hoặc là khung cảnh chùa chiền:

Cảnh thanh có chốn đợi người thanh tăng

Hoa đưa chén cúc, hương lừng án thung…

5- Nguyễn Du (1765-1820):

Nước tuôn khe biếc khó pha lá vàng…

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩnLặn mặt trời lẩn thẩn tìm raLôi thôi ẵm trẻ dắt già

(Câu 857-860, 867-868)

(Dẫn theo: Phạm Thái Và Sơ Kính Tân Trang. Nguyễn Văn Xung biên soạn. NXB.Lửa Thiêng, S, 1972, tr.96-123).

* Tiếng gà gáy trong tác phẩm Văn tế thập loại chúng sinh của thi hào Nguyễn Du đã gắn với một chùm hình ảnh hết sức đặc biệt: Đó là đám cô hồn lạc loài đang dắt díu lang thang vô định. Và tác giả mong muốn họ nên tìm về cửa Phật để nghe kinh, ngõ hầu có thể được đầu thai làm người…:

Những là đo đắn ngược xuôiTiếng gà nghe đã gáy sôi mé tường.

( Văn tế Thập loại chúng sinh, câu: 153-156).(Dẫn theo: Nguyễn Du [thơ Hán Nôm] Bùi Thức Phước sưu tầm – biên soạn. NXB.Hội Nhà Văn, 2015, tr.75).

Tiếng gà xao xác gáy mau

* Trong Truyện Kiều: Qua 3.254 câu thơ Nôm lục bát, thi hào Nguyễn Du đã có 5 lần nói về gà: 4 lần là tiếng gà gáy và 1 lần là gà với sự nối kết.

– Câu 865-866:

Mịt mù dặm cát đồi cây

– Câu 1123-1124:

Tiếng người đâu đã mé sau dậy dàng.

Chuyện trò chưa cạn tóc tơ

– Câu 2029-2030:

Tiếng gà điếm nguyệt dẫu giấy cầu sương.

– Câu 3215-3216:

Con này chẳng phải thiện nhân

Gà đà gáy sáng trời vừa rạng đông.

Ra tuồng mèo mả gà đồng

Ba lần trước là tiếng gà gắn liền với quảng đời lưu lạc của Thúy Kiều. Lần thứ 4 là tiếng gà chứng kiến cho sự đoàn viên.

– Còn đây là lời mắng mang tính trịch thượng, hách dịch của mụ bà (Do mẹ của Hoạn Thư dàn cảnh để bắt Thúy Kiều làm thanh y, sau thì cho sang hầu hạ Hoạn Thư).

6- Nguyễn Huy Hổ (1783-1841):

Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

Ngàn đông khói lẫn lạc hà(21)Giọt mưa cổ thụ tiếng gà cô thôn…

Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào.

Say sưa đòi thú lân la

(Câu 1729-1732. Tất cả đều dẫn theo: Truyện Kiều, Đào Duy Anh khảo chứng, hiệu đính, chú giải. NXB.Văn Học, 2015).

Con của Nguyễn Huy Tự, (1743-1790, tác giả truyện Nôm Hoa Tiên). Tác phẩm Thơ nôm của Nguyễn Huy Hổ là Mai Đình Mộng Ký viết theo thể lục bát. Qua đấy ít nhất là 2 lần, tác giả đã ghi nhận về tiếng gà gáy, trong lộ trình ngồi thuyền ngược dòng sông Lam, trước khi nằm mộng:

7- Cao Bá Nhạ (thế kỷ XIX):

Và:

Năm ba kẻ thước, người hèoGà eo óc vừa tàn giấc mộngNhặng vo ve sực động hồn kinhTiểu đồng thổn thức chung quanh

Giang thành đã gióng canh gà sang tư…

(Dẫn theo VN thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm,1968, tr.251-252).

8- Nguyễn Khuyến (1835-1909):

Con của Cao Bá Đạt, gọi nhà thơ Cao Bá Quát (1809-1855)bằng chú. Bị liên lụy với vụ án của chú, tuy Cao Bá Nhạ đã trốn thoát được 8 năm, nhưng rồi cũng bị bắt trở lại. Tác phẩm Nôm tự tình khúc (gồm 608 câu song thất lục bát) được viết trong thời gian Cao Bá Nhạ bị giam nơi ngục.

Tháng Tư đầu mùa hạTiết trời thực oi ảTiếng dế kêu thiết thaĐàn muỗi bay tơi tảNỗi ấy biết cùng aiCảnh này buồn cả dạBiếng nhắp năm canh chầy

Thê nhi lăn lóc bên mình khóc than.

(Câu 207-212) là những ghi nhận về người, cảnh vật lúc tác giả bị bắt (Dẫn theo VN thi văn hợp tuyển, Sđd, tr.170).

Đã bấy lâu nay bác tới nhàTrẻ thời đi vắng chợ thời xaAo sâu sóng cả khôn chài cá

Gương mặt thi ca tiêu biểu bậc nhất của văn học Việt Nam hậu bán thế kỷ XIX. Thơ nôm của Tam Nguyên Yên Đỗ viết nhiều về cảnh vật ở nông thôn, nên không hề vắng thiếu tiếng gà:

Gà đà sớm giục giã.

(Bài: Đêm mùa hạ, dẫn theo VN thi văn hợp tuyển, Sđd,tr.172)

9- Trần Tế Xương (1870-1907):

Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà…

Cái học nhà Nho đã hỏng rồiMười người đi học chín người thôiCô hàng bán sách lim dim ngủ

(Bài: Bạn đến chơi nhà.

Sĩ khí rụt rè, gà phải cáoVăn chương liều lĩnh đấm ăn xôiTôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉTrình có quan Tiên, Thứ chỉ tôi.

Dẫn theo thi hào Nguyễn Khuyến Đời và Thơ. NXB.Giáo Dục, 1994, tr.627).

Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàuTrăm nghìn vạn mớ để vào đâuPhen này ắt hẳn gà ăn bạcĐồng rụng đồng rơi lọ phải cầu.

Gương mặt thơ Nôm xuất sắc của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Thơ Nôm của Tú Xương phần nhiều mang sắc thái trào phúng và phản ánh xã hội. Như nơi bài thơ này, là nói về tình cảnh sa sút của Nho học thời bấy giờ:

10- Một vài truyện Nôm:

Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi

(Bài: Cái học nhà nho. Dẫn theo VN văn học sử trích yếu của Nghiêm Toản, 1949, tr.95). Hoặc là những mỉa mai, chế giễu về sự kiện thiên hạ chúc nhau trong dịp Tết:

Mặc ai ong bướm xôn xao

(Bài: Chúc Tết. Dẫn theo Việt Nam VHS trích yếu, Sđd, tr.96).

Hạ qua dám ước lại xuânDễ hầu gà luộc mấy lần hay sao?

* Truyện Trinh Thử: Thuộc loại truyện Nôm khuyết danh (chưa tìm ra tác giả), viết theo thể lục bát gồm 850 câu và 2 bài thơ thất ngôn.

Gà về bới nát cỏ sân

– Nơi đoạn I, nói về chuột bạch góa chồng đi kiếm mồi để nuôi con, gặp chó đuổi phải chạy vào ẩn nơi hang, vốn là chỗ ở của đôi vợ chồng chuột. Nhân chuột cái vắng nhà, chuột đực đã dùng lời ngọt ngào để ve vãn, nhưng chuột bạch cự tuyệt… Đây là một đoạn ghi nhận về lời biện của chuột bạch:

Chó nằm hè gặm vỏ khoai

Mười phần cũng chẳng chuyển, dao một phần

– Ở đoạn III, tác giả đã nói đến cảnh vật nơi chỗ ngụ của một thầy đồ nghèo:

Mèo buồn lại chạy kiếm ăn ngõ ngoài

Lợn ngồi dũi đất ngậm hơi gầy gò.

(Dẫn theo: Văn học Việt Nam I, Sđd, tr.372-374).

Nuôi chúng tôi lợi nước lợi nhàNuôi giống gà thật vô ơn ngãiThấy chủ vãi đám ngò vạt cảiTúc nhau bươi chếch gốc trốc cây

* Truyện Lục súc tranh công:

Rủ nhau vầy nát bông nát lá…

Là truyện Nôm ngụ ngôn khuyết danh, gồm 453 câu, viết theo thể nói lối (văn tuồng) kể về sự việc tranh công của 6 con vật nuôi trong nhà là trâu, ngựa, chó, dê, gà và lợn.

– Đây là lời của dê, sau khi thuận hợp với ngựa thì lại chê trách gà:

Gà nghe nói nóng gan nóng phổi

Thấy người trồng đám đậu vồng khoai

Này này! Gà năm đức thẳm sâuNhân, dũng, tín, võ, văn gồm đủTrên đầu đội văn quan một mũ

(Lục súc tranh công. Dẫn theo: Truyện Lục súc tranh công Bùi Thức Phước sưu tầm biên soạn, NXB.Hội Nhà Văn 2015,tr.68).

Đã ghe phen đến chốn chiến trườngLập công trận vang tai lói óc

– Sau đấy thì gà xuất hiện, biện bác với dê và đề cao công trạng của mình:

Liền nhảy ra chớp cánh dương đầu

Dưới chân đeo hai cựa thần thương

Gà gáy đầu ba tiếng đêm khuya…

(Truyện Lục súc tranh công, Sđd, tr.69).

(1) Khuôn trăng người mẹ: Dịch từ Nương sinh diện. Tương đương với thuật ngữ Bản lai diện mục.

(2) Nước Hoa Tư: Sách Liệt Tử chép: Hoàng đế ngủ ngày, mơ thấy mình đến nước Hoa Tư. Người ở nước ấy sống rất hồn nhiên, không có tham dục, yêu ghét riêng v.v…

(3) Bạch âu: chim âu trắng.

(4) Thái tố: là chất bắt đầu. Sách Liệt Tử: Sau khi có khí, có hình mới có chất.

(5) Đan biêm: Đan là màu đỏ. Biêm là một thứ đá dùng để châm chích chữa bệnh (ngày xưa). Hai chữ đan biêm ở đây chưa rõ nghĩa.

(6) Thái cực: Thuật ngữ của Kinh Dịch, chỉ cho thời kỳ trời đất chưa sinh. Thái cực sinh lưỡng nghi.

(7) Lưỡng nghi: Tức âm dương. Lưỡng nghi sinh tứ tượng. Tứ tượng sinh bát quái. Bái quái sinh vạn vật.

(8) Kim kê: Là ngôi sao chủ về việc ân xá. Thái dương là mặt trời, chỉ cho vua.

(9) Kiếm quan: là một địa danh.

(10) Bài thơ thất ngôn này chỉ có 6 câu. Tác giả chỉ viết có 6 câu hay người dịch nêu dẫn chưa hết?

(11) Thiền táo: là ve kêu rộn rã (Thiền là con ve sầu).

(12) Bài thơ ngũ ngôn của Lê Quý Đôn ở đây cũng chỉ có 6 câu. Sách Lịch Triều HCLC chỉ nêu dẫn có 6 câu. Bài thơ chữ Hán Vịnh núi, Cánh diều của Lê Quý Đôn được nêu dẫn ở trang 60 cũng chỉ có 6 câu. Trong sách Đại cương VHS Trung Quốc, tập 2, học giả Nguyễn Hiến Lê đã nêu dẫn khá nhiều bài thơ Đường của các nhà thơ nổi danh, trong ấy có một số bài thất ngôn, ngũ ngôn chỉ có 6 câu (bài kim Lăng tửu tứ lưu biệt, bài Xuân tứ của Lý Bạch. Bài Tân phong chiết bích ông của Bạch Cư Dị. Bài Tống biệt của Vương Duy. Bài Phê bình thơ Lý, đỗ của Hàn Dũ. Bài Liệt nữ tháo của Mạnh Giao…Như vậy, thơ thất ngôn ngũ ngôn bát cú về số câu có trường hợp chỉ có 6 câu.

(13) Núi Kháo: Tên một rặng núi ở Lạng Sơn.

(14) Núi Tam Điệp: Dãy núi ở phía nam Ninh Bình, tiếp giáp với Thanh Hóa.

(15) Ngọa Du Sào: tên tác phẩm của Nguyễn Thông. Có nghĩa là “Ổ nằm chơi”.

(16) Bố cốc: Một loại chim thường kêu vào lúc nhà nông sắp sửa gieo hạt. Ta thường gọi là chim bồ cốc.

(17) Tiếng Hàn châm: Tiếng chày đập vải.

(18) Gà giải đàn: Gà dâng cúng để cầu an hoặc cầu siêu.

(19) Chiểu đài: Hồ và đài.

(20) Nghe kinh: Một hình tượng quy Phật đã được thi ca Việt Nam nói đến: Ca dao (Rủ nhau xuống biển xem đua, Lên nón ngắm nhạn vô chùa nghe kinh). Đến các nhà thơ như Thiền sư Huyền Quang: 1254-1334. Đào Duy Từ: 1572-1634. Nguyễn Du: 1765-1820. Chu Mạnh Trinh: 1862-1905. Cả đến nhà thơ nữ Anh Thơ trong tập Bức tranh quê cũng nói đến:

Quyến cô hồn nương gió lại nghe kinh.

(21) Lạc hà: Vầng ráng chiều.

(22) Đan biều: đan là chiếc giỏ. Biều là vỏ bầu khô để đựng nước. Nhắc tích Nhan Hồi, học trò của Đức Khổng Tử, nhà nghèo, ở ngỏ hẻm. Vật dụng chỉ có giỏ cơm và bầu nước. Cả câu: Ngõ nhan…: ý nói đám lính tráng đã vào nhà đập phá hết cả.

92 Câu Nói Hay Về Học Tập Dùng Để Trích Dẫn Trong Bài Văn Nghị Luận / 2023

92 câu nói hay về học tập dùng để trích dẫn trong bài văn nghị luận

1. “Học vấn do người siêng năng đạt được, tài sản do người tinh tế sở hữu, quyền lợi do người dũng cảm nắm giữ, thiên đường do người lương thiện xây dựng” – Franklin

2. “Hiền dữ đâu phải do tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên” – Hồ Chí Minh

3. “Học tập là hạt giống của kiến thức, kiến thức là hạt giống của hạnh phúc” – Ngạn ngữ Gruzia

4. “Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới” – N. Mandela

5. “Đọc sách không bằng suy ngẫm. Học trường không hơn được trường đời” – Immanuel Kant

6. “Cần phải lựa chọn một cách nghiêm ngặt xem nên học gì và không nên học gì” – Lev. Tolstoy

7. “Đọc sách không bằng suy ngẫm. Học trường không hơn được trường đời” – Immanuel Kant

8. “Học không biết chán, dạy người không biết mỏi” – Khổng Tử.

9. “Sự ngu dốt, hơn hẳn cả sự ở không, mới là mẹ của tất cả các thói xấu. Ðịnh mệnh của các thế hệ tương lai nằm ở trong nền giáo dục khôn ngoan, một nền giáo dục cần phải phổ cập để có thể có ích lợi” – Ethel churchill, l.e. Landon.

10. “Tôi đã học được ba điều quan trọng ở đại học: Biết dùng thư viện, biết nhớ nhanh và chính xác, biết ngủ mọi lúc nếu rảnh 15 phút và có một mặt phẳng. Điều mà tôi chưa học được là làm thế nào suy nghĩ có sáng tạo theo một thời khóa biểu” .

11. “Ngủ dậy muộn thì phí mất cả ngày, ở tuổi thanh niên mà không học tập thì phí mất cả cuộc đời”.

12. “Có học vấn không có đạo đức như một kẻ xấu; có đạo đức không có học vấn như một người thô bỉ” – Roosevelt (Mỹ).

13. “Nhà trường chỉ cho chúng ta chiếc chìa khóa tri thức, học trong cuộc sống là công việc cả đời” – Bill Gates

14. “Giáo dục là một điều đáng kính trọng nhưng nên nhớ rằng đôi khi những điều được dạy là những cái không đáng biết”.

15. “Kẻ ngu dốt có học ngu dốt hơn người vô học nhiều”.

16. “Hãy học khi người khác ngủ; lao động khi người khác lười nhác; chuẩn bị khi người khác chơi bời; và có giấc mơ khi người khác chỉ ao ước”.

17. “Hãy học từ sai lầm của người khác. Bạn sẽ không bao giờ sống đủ lâu để phạm phải tất cả sai lầm”.

18. “Học… học để là chính mình, và học để từ bỏ với vẻ thanh cao những gì không phải là mình”.

19. “Ta có thể nói rằng bí ẩn vĩnh cửu của thế giới này chính là sự lĩnh hội”.

20. “Cho dù tài năng bẩm sinh của một người có cao đến đâu, ta không thể học tất cả nghệ thuật viết cùng một lúc”.

21. “Có ba nguyên tắc để đạt được tri thức… quan sát tự nhiên, suy ngẫm và thử nghiệm. Quan sát thu thập thực tế; suy ngẫm kết hợp chúng; thử nghiệm xác minh kết quả kết hợp đó”.

22. “Thất học ở thế kỷ 21 sẽ không phải là những người không thể đọc và viết, thay vì thế, là những người không thể học hỏi, gạt bỏ, và học lại”.

23. “Một đứa trẻ được dạy bảo tốt sẽ trở thành người tốt”.

24. “Đọc sách không bằng suy ngẫm. Học trường không hơn được trường đời”.

25. “Muốn xây dựng đất nước, trước hết phải phát triển giáo dục. Muốn trị nước phải trọng dụng người tài” – Chiếu Lập Học 

26. “Biết cách học là đủ chứng tỏ bạn thông thái” –Henry Brooks Adams

27. “Học mà không nghĩ là phí công”. (Khổng tử)

28. “Vũ trụ có biết bao nhiêu điều kì thú chờ đợi ta ở phía trước” – Eden Phillpotts

29. “Phải luôn luôn học tập chừng nào còn một đều chưa biết”– Lxeneska

30. “Đọc những cuốn sách tốt có khác gì hầu chuyện những bậc tao nhã thời qua” – Descartes

31. “Ai làm chủ giáo dục có thể thay đổi thế giới” – Leibniz

32. “Bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục” – Karl Marx

33. “Bé chẳng học, lớn làm gì?” – Ngạn ngữ Trung Quốc

34. “Bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người” – Ngạn ngữ Nga

35. “Các bài giảng của giáo sư, cho dù có đầy đủ, xúc tích đến đâu, có chứa chan tình yêu tri thức của bản thân giáo viên đến đâu, thì về thực chất, mà nói, đó chẳng qua cũng vẫn chỉ là chương trình, là những lời chỉ dẫn tuần tự để điều chỉnh trật tự nhận thức của sinh viên. Người nào chỉ biết ngồi nghe giáo sư giảng chứ bản thân mình trong lòng không cảm thấy khát khao đọc sách, thì có thể nói tất cả những điều người ấy nghe giảng ở trường đại học cũng sẽ chỉ như một tòa nhà xây trên cát mà thôi” – I.A. Gontcharov

36. “Cần phải lựa chọn một cách nghiêm ngặt xem nên học gì và không nên học gì” – Lev. Tolstoy

37. “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”  – Tục ngữ Việt Nam

38. “Đọc sách không bằng suy ngẫm, Học trường không hơn được trường đời” – Immanuel Kant

39. “Đời sống có hạn mà sự học thì vô hạn” – Trang Tử

40. “Đừng xấu hổ khi không biết, chỉ xấu hổ khi không học” – Khuyết Danh

41. “Giáo dục là làm cho con người tìm thấy chính mình” – Socrates

42. “Giáo dục là một điều đáng kính trọng, nhưng nên nhớ rằng đôi khi những điều được dạy là những cái không đáng biết” – Oscar Wilde

43. Hiền dữ đâu phải do tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên” – Hồ Chí Minh

44. “Học không biết chán, dạy người không biết mỏi” – Khổng Tử

45. “Học kiến thức phải giỏi suy nghĩ, suy nghĩ, lại suy nghĩ. Chính nhờ cách ấy tôi đã trở thành nhà khoa học” – A. Einstein

46. “Học tập là hạt giống của kiến thức, kiến thức là hạt giống của hạnh phúc” – Ngạn ngữ Gruzia

47. “Học thầy, học bạn, vô vạn phong lưu” – Tục ngữ dân tộc Thái, Việt Nam

48. “Học, học nữa, học mãi” – V.I. Lenin

49. “Hỏi một câu chỉ dốt chốc lát. Nhưng không hỏi sẽ dốt nát cả đời” – Ngạn ngữ phương Tây

50. “Không bỏ ra một công phu nhất định thì không có khả năng khám phá sự thật và ai sợ mất công sức thì không có khả năng lĩnh hội được chân lý” – Khuyết Danh

51. “Không nên dạy cho trẻ em những gì chúng phải suy nghĩ, mà dạy cho chúng cách suy nghĩ” – Margaret Mead

52. “Kiến thức chỉ có được qua tư duy của con người” – A. Einstein

53. “Một đứa trẻ được dạy bảo tốt sẽ trở thành người tốt” – Victor Hugo

54. “Một ngày ngồi trách móc sao bằng một giờ làm việc. Một giờ này làm lòng ta nhẹ và túi ta nặng” – Benjamin Franklin

55. Mục tiêu của giáo dục không phải là dạy cách kiếm sống hay cung cấp công cụ để đạt được sự giàu có, mà đó phải là con đường dẫn lối tâm hồn con người vươn đến cái Chân và thực hành cái Thiện” – Vijaya Lakshmi Pandit

56. “Muốn xây dựng đất nước, trước hết phải phát triển giáo dục. Muốn trị nước, phải trọng dụng người tài” – Chiếu Lập Học

“57. Nếu ở Hoa Kỳ chỉ có một lời để lưu truyền từ thế hệ phụ huynh đến thế hệ con em của họ thì đó chỉ là một câu gồm hai chữ Tự tân. Và nếu ở mỗi thành phố có một ngôi đền dành cho sự tự tân, thì đó là ngôi trường học của nơi đó” – Ellen Goodman

58. “Ngủ dậy muộn thi phí mất cả ngày, ở tuổi thanh niên mà không học tập thì phí mất cả cuộc đời” – Ngạn ngữ Trung Quốc

59. “Nhà trường phải luôn luôn có chủ trương tạo cho học trò một cá tính cân đối chớ không nên biến chúng thành một nhà chuyên môn” – A. Einstein

60. “Nhiệm vụ của một trường đại học tiến bộ không phải là cung cấp những câu trả lời thích hợp, mà chính phải là đặt ra các câu hỏi thích hợp” – Cynthia Ozick

61. “Sự ngu dốt, hơn hẳn cả sự ở không, mới là mẹ của tất cả các thói xấu. Ðịnh mệnh của các thế hệ tương lai nằm ở trong nền giáo dục khôn ngoan, một nền giáo dục cần phải phổ cập để có thể có ích lợi” – L.E. Landon, Ethel Churchill

62. “Thà phải tìm hiểu sự thật suốt đêm còn hơn phải nghi ngờ nó suốt đời” – F. Engels

63. “Thầy giáo của anh có thể dắt anh đến cửa; đạt được sự học là việc tùy thuộc vào mỗi người” – Danh Ngôn Trung Quốc

64. “Tôi đã học được ba điều quan trọng ở đại học: Biết dùng thư viện, biết nhớ nhanh và chính xác, biết ngủ mọi lúc nếu rảnh 15 phút và có một mặt phẳng. Điều mà tôi chưa học được là làm thế nào suy nghĩ có sáng tạo theo một thời khóa biểu” – Agnes de Mille

65. “Tri thức là sức mạnh” – F.Bacon

66. “Trong cách học, phải lấy tự học làm cốt” – Hồ Chí Minh

67. “Trong việc giáo dục, vị trí rộng lớn nhất cho quá trình tự bồi dưỡng… chỉ có qua con đường tự học, loài người mới có thể phát triển mạnh mẽ lên được” – Herrert Spencer

68. “Trường học có thể hô biến những người thắng và người bại, nhưng cuộc sống thì không” – Bill Gate.

69. “Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác” – Usinxki

70. “Chúng ta không thể dạy bảo cho ai bất cứ điều gì, chúng ta chỉ có thể giúp họ phát hiện ra những gì còn tiềm ẩn trong họ” – Galileo

71. “Chúng ta không thể dạy bảo nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác” – Usinxki

72. “Dạy tức là học hai lần” – G. Guibe

73. “Dưới ánh mặt trời không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học” – Comenxki

74. “Đem việc làm mà dạy người thì người ta theo; chỉ đem lời nói mà dạy người thì người ta không phục” – Đệ Ngũ luận

75. “Đối với người giáo viên, cần phải có kiến thức, có hiểu biết sư phạm về quy luật xã hội, có khả năng dung lời nói để tác động đến tâm hồn học sinh. Có kỹ năng đặc sắc nhìn nhận con người và cảm thấy những rung động tinh tế nhất của trái tim con người” – Xukhomlinxki

76. “Giáo dục như ánh thái dương phản chiếu cả đến những gian nhà cỏ thấp bé, mái tranh của con nhà nghèo” – Pestalogi

77. “Không thể trồng cây ở những nơi thiếu ánh sáng, cũng không thể nuôi dạy trẻ với chút ít nhiệt tình” – Can Jung

78. “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy” – Tục ngữ Việt Nam

79. “Một gánh sách không bằng một người thầy giỏi” – Ngạn ngữ Trung Quốc

80. “Một ông thầy mà không dạy cho học trò được việc ham muốn học tập thì chỉ là đập búa trên sắt nguội mà thôi” – Horaceman

81. “Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu kính thầy” – Tục ngữ Việt Nam

82. “Nào ai có giỏi hơn con kiến, thế mà nó chẳng cần nói một lời nào” – Benjamin Franklin

83. “Nếu người kỹ sư vui mừng nhìn thấy cây cầu mà mình vừa mới xây xong, người nông dân mỉm cười nhìn đồng lúa mình vừa mới trồng, thì người giáo viên vui sướng khi nhìn thấy học sinh đang trưởng thành, lớn lên” – Gôlôbôlin

84. “Người cha chính là người thầy đầu tiên của đứa trẻ ” – T. Thore

85. “Người thầy trung bình chỉ biết nói, Người thầy giỏi biết giải thích, Người thầy xuất chúng biết minh họa, Người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng” – William A. Warrd

87. “Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác” – Usinxki

88. “Phải tôn kính thầy dạy mình, bởi lẽ nếu cha mẹ cho ta sự sống thì chính các thầy giáo cho ta phương cách sống đàng hoàng tử tế” – Philoxêne De Cythêrê

89. “Sự gương mẫu của người thầy giáo là tia sáng mặt trời thuận lợi nhất đối với sự phát triển tâm hồn non trẻ mà không có gì thay thế được” – Usinxki

90. “Thầy giáo là đường tinh, học sinh là đường đã lọc” – Ngạn ngữ Ba Tư

91. “Tôi dường như không phải là thầy giáo…và những con đường dẫn đến trái tim tuổi thơ sẽ bị đóng kín đối với tôi nếu tôi chỉ là người đứng trên bục giảng” – V.A. Sukhomlinxki

92. “Trọng thầy mới được làm thầy” – Ngạn ngữ Trung Quốc