Top 21 # Xem Nhiều Nhất Thơ Ca Dao Tục Ngữ Về Mẹ / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Altimofoundation.com

Ca Dao Tục Ngữ Về Mẹ / 2023

Lên non mới biết non cao Nuôi con mới biết công lao mẹ hiền.

Ta đi trọn kiếp con người Cũng không đi hết những lời mẹ ru

Công cha nghĩa mẹ cao vời, Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta. Nên người con phải xót xa, Đáp đền nghĩa nặng như là trời cao. Đội ơn chín chữ cù lao, Sanh thành kể mấy non cao cho vừa

Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ mới chân tu

Công cha đức mẹ cao dày, Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ. Nuôi con khó nhọc đến giờ, Trưởng thành con phải biết thờ song thân

Mẹ già ở tấm lều tranh, Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con

Đêm khuya trăng rụng xuống cầu, Cảm thương cha mẹ dãi dầu ruột đau

Biển Đông còn lúc đầy vơi, Chớ lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng

Đêm đêm khấn nguyện Phật Trời, Cầu cho cha mẹ sống đời với con

Ngó lên trời thấy cặp cu đang đá, Ngó ra ngoài biển, thấy cặp cá đang đua. Đi về lập miếu thờ vua, Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha

Muốn cho gần mẹ gần cha, Khi vào thúng thóc, khi ra quan tiền

Ai về tôi gởi buồng cau, Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy. Ai về tôi gởi đôi giày, Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi

Ơn hoài thai, to như bể! Công dưỡng dục, lớn tựa sông! Em nguyện ở vậy không chồng, Lo nuôi cha mẹ, hết lòng làm con

Chim đa đa đậu nhánh đa đa, Chồng gần không lấy, để lấy chồng xa. Mai sau cha yếu mẹ già, Bát cơm đôi đũa, chén trà ai dâng?

Nếu mình hiếu với mẹ cha, Chắc con cũng hiếu với ta khác gì? Nếu mình ăn ở vô nghì, Đừng mong con hiếu làm gì uổng công?

Hiếu thuận sinh ra con hiếu thuận, Ngỗ nghịch nào con có khác chi! Xem thử trước thềm mưa xối nước, Giọt sau, giọt trước chẳng sai gì

Ở đời ai cũng có lần, Làm cha mẹ mới biết ơn sinh thành. Người xưa khó nhọc nuôi mình, Khác gì mình đã hết tình nuôi con

Mẹ dạy thì con khéo, Bố dạy thì con khôn

Mồ côi cha, ăn cơm với cá Mồ côi mẹ lót lá mà nằm

Ai rằng công mẹ như non, Thật ra công mẹ lại còn lớn hơn

Lòng mẹ như bát nước đầy, Mai này khôn lớn, ơn này tính sao

Nhớ ơn chín chữ cù lao, Ba năm bú mớm biết bao thân tình

Con ho lòng mẹ tan tành, Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi

Nuôi con chẳng quản chi thân, Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.

Mẹ ngoảnh đi, con dại, Mẹ ngoảnh lại, con khôn

Mẹ giàu con có, mẹ khó con không

Mẹ già như chuối ba hương, Như xôi nếp một, như đường mía lau

Bồng cho con bú một hồi, Mẹ đã hết sữa, con vòi con la

Nuôi con buôn tảo bán tần, Chỉ mong con lớn nên thân với đời. Những khi trái nắng trở trời, Con đau là mẹ đứng ngồi không yên. Trọn đời vất vả triền miên, Chăm lo bát gạo đồng tiền nuôi con

Thêm một người quả đất chật thêm, Thiếu mẹ thế giới đầy nước mắt

Ca Dao, Tục Ngữ, Thơ Chế / 2023

Ca dao, tục ngữ, thơ chế

Yêu anh mấy núi cũng trèo

Mấy sông cũng lội thấy anh nghèo..lại thôi

Yêu em mấy núi cũng trèo

Khi em mang bụng mấy đèo anh cũng dông!!!

***

Xa quê con nhớ mẹ hiền

Con về gặp mẹ….lấy tiền xong con lại xa quê

***

Râu tôm nấu với ruột bầu,

Chồng chan vợ ngó, lắc đầu hổng ăn.

(version 2) Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp lắc đầu chê tanh

***

Ta về ta tắm ao ta

Sảy chân chết đuối có người nhà vớt lên

(version 2) Ta về ta tắm ao ta

Dù trong dù đục vẫn là cái ao

***

Bình tĩnh tự tin không cay cú

Âm thầm chịu đựng trả thù sau.

***

Má ơi đừng gả con xa

Gả con qua Úc,Canada được rồI

Má ơi đừng gã con xa

Chim kêu vươn hú biết nhà má đâu

Má ơi đừng gã con gần

Con qua mượn gạo nhiều lần má la

***

Tình chỉ đẹp khi còn dang dở

Cưới nhau về tắt thở càng nhanh

***

Vẽ hình em lên cát

Rồi hôn em môt phát

Ôi cuôc đời chua chát

Toàn là đất với cát

***

Cười người chớ dại cười lâu

Cười hết hôm trước hôm sau lấy gì cười

***

Thấy người sang bắt quàng làm họ

Thấy người khó bỏ mặc đi luôn

***

Không tham lam không phải quan huyện

Không nhìu chiện không phải….Ziệt Nam

***

Lên chùa thấy bụt muốn tu,

***

Trên đồng cạn dưới đồng sâu

Chồng cày vợ cấy con trâu…..đi dzìa (về)

***

Không có cuộc tình nào khó

Chỉ sợ mình không liều

Đạp xe và quốc bộ

Quyết chí ắt được yêu

***

Đêm nằm ở dưới bóng trăng

Thương cha nhớ mẹ không bằng nhớ em

***

Ước gì em hoá thành trâu

Để anh là đỉa anh bâu lấy đùi

***

Hồng nào hồng chẳng có gai

Gái nào gái chẳng yêu 2,3 thằng

Hoa hồng thì phải có gai

Con gái thì phải phá thai đôi lần

***

Trên trời có đám mây xanh,

Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng.

Nếu mà anh lấy phải nàng,

Anh thà thắt cổ cho nàng ở không.

***

Cá không ăn muối cá ươn

Không có xe đẹp thôi đừng yêu em

***

Ước gì môi em là đít bút

Anh ngồi học bài cắn đít bút hun em

***

Người đi một nửa hồn tôi mất!!

Một nửa hồn kia …… đứng chửi thề

Người đi một nửa hồn tôi mất!!

Một nửa hồn kia …… sửa lại xài

***

Bánh mì phải có patê

Làm trai phải có máu dê trong người!!!

***

Làm trai cho đáng nên trai

Lang beng cũng trải giang mai cũng từng!!!

***

Gió mùa thu anh ru em ngủ

Em ngủ rồi……anh cạy tủ anh đi!!!!

***

Chọn xoài đừng để xoài chua

Chọn bạn đừng để bạn cua bồ mình

***

Những đêm dài ngồi chơi vi tính

Bỗng bàng hoàng khi nhìn thấy roi mây

***

Thân heo vừa béo lại vừa ù

Bảy nổi ba chìm với nước lu

Chết đuối quẫy chân không ai cứu

Đứa nào mà cứu, đứa ấy ngu

***

Ngồi học hồn để lên mây

Ông tiên ổng hỏi: “Lên đây làm gì?”

Thưa rằng lên hỏi đề thi

Ông tiên ổng chửi : “Về đi, con mẹ mày…!!”

***

Hôm nay nhân dzợ đi xa

Còn cô em dzợ, dzê ra khỏi chuồng !

***

Trước mắt em anh là thằng hai lúa

Sau lưng em anh là chúa giang hồ

***

Nhớ quá khứ buồn rơi nước mắt

Nhìn tương lai lạnh toát mồ hôi

***

Nhận được thư em lúc nhá nhem

Mừng mừng tủi tủi mở ra xem

Trong thư em viết dăm ba chữ

“Anh ơi ngày mai nó lấy em”

***

Nắng mưa là chuyện do trời

Cúp cua là chuyện ở đơì học sinh

Cúp cua đừng cúp một mình

Rủ thêm vài đứa tâm tình cho vui

***

Hôm qua anh đến nhà em

Ra về mới nhớ để quên 5000

Anh quay trở lại vội vàng

Em còn ngồi đó, 5000 …mất tiêu

***

(Suy ngẫm) Chị tôi lớn tuổi hơn tôi .

Mẹ tôi lớn tuổi hơn tôi rất nhiều .

Ô Kiaaàa có một cánh diều .

Diều mà có gió thì diều sẽ bay

***

Đời là… cái đinh Tình là… cái que

Bố vợ là… con gà què

Ngo nghoe anh đập chết

***

Đường Sài Gòn vừa dài vừa hẹp

Gái Sài Gòn vừa đẹp vừa dê

***

Ai vô xứ Huế thì vô

Còn tao.. tao cứ thủ đô tao dzìa!

***

Chiều chiều ra đứng ngỏ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

Chờ hoài chờ mãi chẳng thấy mẹ yêu

Sao giờ chưa thấy mẹ yêu gửi tiền.

Chiều chiều lại đứng ngỏ sau,

Mẹ yêu mẹ hỡi mau mau gửi tiền.

ST

Phong Cảnh Việt Qua Tục Ngữ, Ca Dao, Thơ Ca / 2023

Ai lên làng Quỷnh hái chèHái dăm ba lá xuống khe ta ngồi! Hà Nội: Muốn ăn cơm trắng cá mèThì lên làng Quỷnh hái chè với anhMuốn ăn cơm trắng cá rôThì lên làng Quỷnh quẩy bồ cho anh!

Đường vô xứ Nghệ quanh quanhAi về Hà Nội ngược nước Hồng Hà

Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng

Bườm giong ba ngọn vui đà nên vuiĐường về xứ Lạng mù xa…Có về Hà Nội với ta thì vềĐường thủy thì tiện thuyền bèĐường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang

Ai đi trẩy hội chùa HươngLàm ơn gặp khách thập phương hỏi giùmMớ rau sắng, quả mơ nonMơ chua sắng ngọt, biết còn thương chăng?

Ngày xuân cái én xôn xaoCon công cái bán ra vào chùa HươngChim đón lối, vượn đưa đườngNam mô đức Phật bốn phương chùa này.

Ra đi anh nhớ Nghệ AnNhớ Thanh Chương ngon nhútNhớ Nam Đàn thơm tương…

“Tiếng đồn cá mát sông GăngDẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Cồn.”

Hà Tĩnh:

Ai về Nhượng Bạn thì vềGạo nhiều, cá lắm, dễ bề làm ăn.

” Yến sào Vinh SơnMẹ bồng con ra ngồi ái TửCửu khổng cửa rònNam sâm Bố TrạchCua gạch Quảng KhêGái trông chồng đứng núi Vọng PhuBao giờ nguyệt xế, trăng luNghe con chim kêu mùa hạ, biết mấy thu gặp chàng. Sò nghêu quán HànRượu dâu Thuận Lý…”

Quảng Trị:

Đi mô cũng nhớ quê mìnhNhớ Hương Giang gió mát, nhớ Ngự Bình trăng thanh.

“Quít giấy Hương CầnCam đường Mỹ LợiVải trắng Cung ViênNhãn lồng phụng tiêuĐào tiên Thế miếuThanh trà Nguyệt biếudâu da làng TruồiHạt sen Hồ Trịnh…”

Quảng Nam:

Nem chả Hòa VangBánh tổ Hội AnKhoai lang Trà KiệuRượu thơm Tam kỳ…

Cô gái làng SonKhông bằng tô don Vạn Tường.

Quảng Ngãi:

Ai về Quảng Ngãi quê taMía ngon, đường ngọt, trắng ngà dễ ănMạch nha, đường phổi, đường phènKẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền

“Mứt gừng Đức PhổBánh nổ Nghĩa HànhĐậu xanh Sơn Tịnh”.

Mạch nha Thi PhổBánh nổ Thu XàMuốn ăn chà làLên núi Định Cương

Bình Định:

“Gỏi chính Châu TrúcBánh tráng Tam quanNón lá Gò GăngNem chua chợ Huyện”

Công đâu công uổng công thừaCông đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

Muốn ăn bánh ít lá gaiLấy chồng Bình Định sợ dài đường đi…

Quảng Nam nổi tiếng bòn bonChả viên Bình Định vừa ngon vừa lànhChín mùi da vẫn còn xanhMùi thơm cơm nếp, vị thanh đường phèn…

Bình Định có núi Vọng PhuCó đầm Thị Nại, có cù lao XanhEm về Bình Định cùng anhĐược ăn bí đỏ nấu canh nước dừa

“Xoài đá trắngYến xào Hòn Nội Phú Yên:

Sắn Phương lụa”

Vịt lộn Ninh HòaTôm hùm Đinh BaNai khô Diên KhánhCá tràu Võ cạnhSò huyết Thủy Triều…

Phan Rí, Phan Thiết (Bình Thuận) :Cô kia bới tóc cánh tiênGhe bầu đi cưới một thiên cá mòiChẳng tin giở thử ra coiRau răm ở dưới cá mòi ở trên

Miền Nam

Sài Gòn:

Trầu Bà Điểm xẻ ra nửa láThuốc Gò Vấp hút đã một hơiBuồn tình gá nghĩa mà chơiHay là anh quyết ở đời với em?

Chị Hươu đi chợ Đồng NaiBước qua Bến Nghé ngồi nhai thịt bò

Đất Sài Gòn nam thanh nữ túCột cờ Thủ Ngữ thật là caoVì thương anh em vàng võ má đàoEm tìm khắp chốn nhưng nào thấy anh.

Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoaiĐất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường.

Khánh Hòa:

Đường Sài Gòn cong cong quẹo quẹo Gái Sài Gòn khó ghẹo lắm anh ơi

Đèn Sài Gòn (Cầu Tàu) ngọn xanh ngọn đỏ Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu Anh về học lấy chữ nhu Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ.

Đi đâu mà chẳng biết ta Ta ở Thủ Đức vốn nhà làm nem.

Nhà Bè nước chảy chia hai Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về

Biên Hòa có bưởi Thanh Trà Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh.

Chợ Sài Gòn cẩn đá Chợ Rạch Giá cẩn xi măng Giã em xứ sở vuông tròn Anh về xứ sở không còn ra vô.

Trúc mọc bờ ao kêu bằng trúc thủy Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ cũng xa. Viết thư thăm hết mọi nhà Trước thăm phụ mẫu sau là thăm em

Chợ Sài Gòn đèn xanh đèn đỏ Anh coi không tỏ anh ngỡ đèn tàu Lấy anh em đâu kể sang giàu Rau dưa mắm muối có nơi nào hơn em.

Anh ngồi quạt quán Bến Thành Nghe em có chốn anh đành quăng om! Anh ngồi quạt quán Bà Hom Hành khách chẳng có, đá om quăng lò.

Bình Dương:

Ăn bưởi thì hãy đến đâyVào mùa bưởi chín, vàng cây trĩu cànhNgọt hơn quít mật, cam sànhBiên Hòa có bưởi trứ danh tiếng đồn

Biên Hòa bưởi chẳng đắng theĂn vào ngọt lịm như chè đậu xanh.

Chim bay về núi Biên HòaChồng đây vợ đó ai mà muốn xa

Ai ơi về Đại Phố ChâuThăm núi Châu Thới, thăm cầu Đồng Nai.

Đồng Nai gạo trắng nước trongAi đi đến đó thời không muốn về

Đồng Nai nước ngọt gió hiềnBiên Hùng muôn thuở tiếng truyền an vui

Ai qua Phú Hội, Phước Thiền (Thành)Bâng khuâng nhớ mãi sầu riêng Long Thành

Hết gạo thì có Đồng NaiHết củi thì có Tân Sài chở vô

Sông Đồng Nai nước trong lại mátĐường Hiệp Hòa lắm cát dễ điGái Hiệp Hòa xinh như hoa thiên lýTrai Hiệp Hòa chí khí hiên ngang.

Long An:

Gái Tầm Vu đồng xu ba đứaCon trai Thủ Thừa cưỡi ngựa xuống mua

Đèn nào cao bằng đèn Ba GácGái nào bạc bằng gái chợ GiồngAnh thương em từ thuở mẹ bồngBây giờ em khôn lớn, em lấy chồng bỏ anh(Bến Lức – Long An)

Anh muốn về Long An, Vàm CỏMấy lời em to nhỏ, anh bỏ sao đànhChừng nào chiếc xáng nọ bung vànhNúi kia hết đá, anh mới đành xa em.

Bến Tre:

Bến tre dừa ngọt sông dàiNơi chợ Mõ Cày có kẹo nổi danhKẹo Mõ Cày vừa thơm vừa béoGái Mõ Cày vừa khéo vừa ngoanAnh đây muốn hỏi thiệt nàngLà trai Thạnh Phú cưới nàng được chăng?

Bến Tre biển rộng sông dàiAo trong nuôi cá, bãi ngoài thả nghêu

Muối khô ở Gảnh mặn nồngGiồng Trôm, Phong Nẫm dưa đồng giăng giăng

Bến Tre trai lịch, gái thanhNói năng duyên dáng ai nhìn cũng ưa.

Tiền Giang:

Gò Công giáp biển nổi tiếng mắm tôm chàMắm tôm chua ai ai cũng chắc lưỡi hít hàSài Gòn, chợ Mỹ ai mà không hay.

Sông vàm Cỏ nước trong thấy đáyDòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàngAi về Mỹ Thuận, Tiền GiangCó thương nhớ gã đánh đàn năm xưa?

Phượng hoàng đậu nhánh vông nemPhải dè năm ngoái cưới em cho rồiNgã tư chợ Gạo nước hồiTui chồng mình vợ còn chờ đợi ai.

Đồng Tháp:Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánhNước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

Muốn ăn bông súng mắm khoThì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

Tháp Mười nước mặn đồng chuaNửa mùa nắng cháy, nửa mùa nước dâng.

Tháp Mười sinh nghiệp phèn chuaHổ mây, cá sấu thi đua vẫy vùng

Ai ơi về miệt Tháp MườiCá tôm sẳn bắt, lúa trời sẳn ăn.

Đèn nào sáng bằng đèn Sa ĐécGái nào đẹp bằng gái Nha MânAnh thả ghe câu lên xuống mấy lầnThương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run.

Hoa Sa ĐécNem Lai Vung vừa chua vừa ngọtQuít Lai Vung võ đỏ ruột hồng

Cần Thơ gạo trắng nước trong Cần Thơ:

Bến Ninh Kiều

Ai đi đến đó thời không muốn về

Đất Cần Thơ nam thanh nữ túĐất Rạch Giá vượn hú chim kêuQuản chi nắng sớm mưa chiềuLên voi xuống vịnh cũng trèo thăm em.

Cần Thơ là tỉnh, Cao Lãnh là quêAnh đi lục tỉnh bốn bềMãi lo buôn bán không về thăm em.

Bạc Liêu:Sông nước Bạc Liêu Lục tỉnh có hạt Ba XuyênBạc Liêu chữ đặt, bình yên dân ràyMâu Thìn vốn thiệt năm nayMột ngàn hai tám, tiếng rày nổi vang.Phong Thạnh vốn thiệt tên làngGiá Rai là quận, chợ làng kêu chung.Anh em Mười Chức công khùngBị tranh điền thổ, rùng rùng thác oan…

Bạc Liêu nước chảy lờ đờDưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu.

Kiên Giang:

Vịt nằm bờ mía rỉa lôngCám cảnh thương chồng đi thú Hà Tiên

Trai nào khôn bằng trai Long MỹGái nào mũ mỹ bằng gái Hà Tiên.

U Minh, Rạch Giá thị hóa Sơn TrườngDưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua.

Cà Mau:

Rau đắng nấu với cá trêAi đến đất Mũi thì “mê” không về!

Cà Mau khỉ khọt trên bưngDưới sông sấu lội, trên rừng cọp um.

Cà Mau hãy đến mà coiMuỗi kêu như sáo thổiĐĩa lội lềnh như bánh canh.Rừng U Minh là nơi trú ngụ của nhiều loài thú rừng, chim muông.Rừng quốc gia U Minh Hạ

Mỗi địa danh, mỗi vùng miền có một kho tàng ca dao dân ca nói riêng, nói lên vẽ đẹp về thiên nhiên, về con người, về món ăn đặc sản. Nhưng tất cả đều mang một nét chung đó là thể hiện tình cảm, những suy nghĩ của con người Việt Nam về những vùng đất trù phú của quê hương ta.

Mỗi câu ca dao, tục ngữ, những bài thơ đều phảng phất những nét đẹp về con người, về sự trù phú mà thiên nhiên đã ban tặng cho những vùng đất nơi đây. Nơi mà con người hiền hòa, thân thiện và hiếu khách, quanh năm cần mẫn với ruộng đồng, chịu thương chịu khó. Nơi mà những vùng đất với những con người anh dũng, bất khuất chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng ngã xuống để mang lại độc lập tự do, ấm no cho đất nước. Nơi có những tài nguyên màu mỡ, phong phú mà thiên nhiên, tạo hóa đã ưu ái ban tặng cho con người Việt Nam chúng ta.

Tục Ngữ Ca Dao Và Thơ Nói Về Khỉ: / 2023

Tranh của thiền sư Nhật Bản Hakuin Ekaku (. 1686 -1769 ) 1. Khỉ trong tục ngữ, ca dao:

Chuyền qua chuyền lại rớt ùm xuống sông.

Hứa hươu hứa vượn: hươu vượn ở núi nhanh nhẹn thấy đó mất đó, nên “hứa hươu hứa vượn” là hứa suông, hứa cho qua chuyện, không có gì ch ắc chắn.

Chim kêu, vượn hú biết nhà má đâu?: Nỗi lòng cô gái hiếu thảo không muốn cha mẹ gả con xa, đồng thời có ý khuyên chúng ta không nên ép duyên, mà hãy để cho con cái được tự do lựa chọn hôn nhân dựa trên tình yêu.

Người ta tuổi Ngọ, tuổi Mùi Em đây luống những ngậm ngùi tuổi Thân.

Tâm viên ý mã: Tâm ý tán loạn chạy như vượn như mã, không tập trung.

Vượn sống, ăn, ngủ trên cây, bắt phải lìa cây sẽ chết rũ. Tình yêu cũng vậy, buộc phải lìa nhau “quân tại tương giang đầu, thiếp tại tương giang vĩ” thì sẽ “muôn năm sầu thảm/ Nhớ thương còn một nắm xương thôi/ Thân tàn ma dại đi rồi/ Rầu rầu nước mắt, bời bời ruột gan” (thơ Hàn Mặc Tử).

Thiền Tông Bản Hạnh: Bảnin năm 1745, ở phần phụ ghi như sau:

” Yên Tử sơn Trúc Lâm đệ tam tổ Huyền Quang tôn giả Vịnh Hoa Yên Tự phú. ( có nghĩa là: Phú Vịnh Chùa Hoa Yên của ngài Huyền Quang, tổ thứ ba Trúc Lâm núi Yên Tử).

Thiền sư Chân Nguyên (1647-1726): từng trụ trì hai chùa lớn nhất của hệ phái Trúc Lâm Yên Tử là chùa Quỳnh Lâm và chùa Long Động.

Thiền Sư Huyền Quang (1254-1334) thi đỗ T rạng Nguyên làm trong Viện Nội Hàn, tiếp sứ Bắc triều… Lúc 51 tuổi treo ấn từ quan theo Vua Trần Nhân Tông đi tu, là tổ thứ ba dòng Trúc Lâm Yên Tử . Người ta xem Sư cùng Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân Tông và ngang hàng với 6 vị tổ của và 28 vị tổ của Thiền Ấn Độ. Lê Quý Đôn khen thơ Sư “ý tinh tế, cao siêu, lời bay bướm, phóng khoáng”.Tác phẩm của Sư gồm có:

Vịnh Hoa Yên Tự Phú: (Phú vịnh Chùa Hoa Yên) ếtheo thể phú gồm 98 vế trong đó có nhắc đến vượn 2 lần, xin trích 3 đoạn như sau:

Ngự sử mai hai hàng chầu rạp, Trượng phu tùng mấy chạnh phò quanh. Phỉ thuý sắp hai hàng loan phượng, (cây phỉ thúy) Tử vi bày liệt vị công khanh. (bụi tử vi) Chim óc bạn cắn hoa nâng cúng (óc là gọi) Vượn bồng con kề cửa nghe kinh.

Thi sĩ Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370): từ nhỏ nổi tiếng thần đồng, năm 15 tuổi đỗ hoàng giáp. Đỗ tiến sĩ cùng khoa với Mạc Ðĩnh Chi. Năm 24 tuổi làm Giám quân, năm 28 tuổi đi sứ nhà Nguyên. Tính cương trực, tài kim văn võ, có công trong việc xây dựng, bảo vệ đất nước, làm quan qua 5 đời vua triều Trần. Ông có 5 tác ph ẩm:

Trong bài thơ ” Yên Tử sơn Long Động tự” có tả tiếng vượn kêu trăng (viên minh nguyệt) ai oán buồn thảm sau đây:

Yên Tử sơn Long Động tự

Nhà sử học nhận xét ” Ông tuổi trẻ đã văn chương nổi tiếng. Kinh sử, bách gia, binh thư thao lược đều am hiểu cả”.

Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh làm quan . Sau có 10 năm phiêu dạt (1407-1417) trong văn thơ ông có nói nhiều đến “thập niên phiêu chuyển” (mười năm phiêu dạt) lênh đênh góc biển chân trời. Có người đoán ông đã từng sang Tàu trong thời kỳ nàydựa trên một số thơ của ông có nhắc đến nhiều địa danh ở Trung Hoa

Chụm tự nhiên một thảo am Nguyễn Trãi Nguyễn Trãi Nguyễn Trãi Dầu lòng đi Bắc liễn về Nam

Thơ văn Nguyễn Trãi gồm lẫn Nôm thuộc các lãnh vực văn học, lịch sử, địa lý, luật pháp, lễ nghi… song đã bị thất lạc sau vụ án Lệ Chi Viên . Các tác phẩm còn lại phần lớn được sưu tập trong bộ ỨcTrai Thi Tập của Dương Bá Cung khắc in năm .

Ngập ngừng bưng chén ly bôi, Tình sum họp chiếu chăn càng mãi mãi Hay là cá nước chẳng ưa màu phấn đạiÐem duyên em buộc lại chàng TôXui nên kẻ Hán người Hồ. Nghĩ mình muôn dặm thương người năm canh.Nhớ duyên kỳ ngộ ba sinh,Trăm năm xin gửi chút tình lại đây.

gồm 105 bài thơ chữ Hán. Quốc Âm Thi Tập gồm 254 bài chữ Nôm. Ông được xem như nhà thơ đầu tiên làm thơ chữ Nôm, cũng là người có số lượng thơ luật chữ Nôm nhiều nhất trong thơ cổ điển VN.

Đoản trạo hệ tà dương, Thông thông yết thượng phương. Vân quy Thiền sáp lãnh, Hoa lạc giản lưu hương.Nhật mộ viên thanh cấp, Sơn không trúc ảnh trường. Cá trung chân hữu ý, Dục ngữ hốt hoàn vương (vong).

tự Quỳnh Hương, không rõ năm sinh năm mất, là chị em họ với vua Nữ sĩ Ngô Chi Lan: Lê Thánh Tông , một trong những nhà thơ nữ đầu tiên trong văn học sử VN , được Nguyễn Trãi nhận làm con nuôi cải thành họ Nguyễn tên là Hạ Huệ. Năm 1442, cha mẹ nuôi bị vu tội giết vua bị án tử hình, Bà liền cải dạng lấy lại tên thật trốn ở nhiều nơi cho đến khi thái tử Lê Tư Thành lên nối ngôi vua, bà mới dám trở về. Bà nổi tiếng đẹp người, đẹp nết, giỏi thi ca, thông hiểu , viết chữ đẹp, nên được Vua ban hiệu là Kim Hoa nữ học sĩ cho dự nhiều cuộc xướng họa thơ văn, đảm đương việc dạy lễ nghi, văn chương cho các cung nữ.

“Việt Nam khởi tổ xây nền”.

Thi hào Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585): Năm 45 tuổi Ông mới chịu đi thi và đỗ Trạng nguyên , làm quan được Trình Tuyền Hầu rồi thăng Trình Quốc Công mà dân gian quen gọi là Trạng Trình.

Khi Ấu Chúa tin dùng nịnh th ần, triều chính nhiễu nhương chia bè kết phái, Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ xin trị tội 18 lộng thần, nhưng không được chấp thuận, năm 1542 ông xin về quê trí sĩ (sau 8 năm làm quan) dựng am Bạch Vân, lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ, lập quán Trung Tân, làm Nghinh Phong… mở trường dạy học cạnh sông Tuyết, được các môn sinh tôn là “Tuyết Giang “, học trò có nhiều người hiển đạt như Phùng Khắc Khoan …

Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu Nguyễn Bỉnh Khiêm Có một đàn xà đánh lộn nhau

Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang chất triết lý, suy tưởng, thời thế… gồm chữ Hán: Bạch Vân am thi tập có khoảng 1,000 bài, nay còn lại khoảng 800 bài. Chữ Nôm: Bạch Vân quốc ngữ thi tập sáng tác từ khi qui ẩn hiện còn lại khoảng 180 bài. Ngoài ra, còn nhiều (bi ký), một số khắc vào đá đã được tìm thấy.

còn gọi là ” Sấm Trạng Trình ” là những lời tiên tri bằng thơ về các biến cố chính của dân tộc Việt trong khoảng 500 năm (1509-2019).

Đình đài ai dựng ở nơi này, Tam Giang khẩu đường dạ bạc Chặt hết cành tùng, trứng hạc bay. Ngọ mộng tỉnh lai vãn, Tà nhật yểm song phi. Phong kính duy thuyền tảo, Sơn cao đắc nguyệt trì. Ỷ bồng thiên lý vọng, Hợp nhãn cách niên ty (tư). Mạc cận thương nhai túc, Ðề viên triệt dạ bi. Ðêm đậu thuyền ở Sơn Ðường Ngủ trưa, tỉnh dậy muộn, Bóng xế dọi song tây. Gió mạnh, neo thuyền sớm, Non cao, thấy nguyệt chầy. Dựa mui, nghìn dặm ngóng, Chớp mắt, một năm đầy. Chớ đậu thuyền gần núi, Vượn hú đêm buồn lây. Một cung gió thảm mưa sầu, Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay! Ve ngâm vượn hót nào tày, Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu.Hỏi rằng: “Này khúc ở đâu? Hang đá năm nào vừa đục phá, Tượng vàng đêm trước mất còn đây? Mây ngừng chốn chốn sư yên giấc, Chiều xuống non non vượn oán ai? Ðốt nén hương đàn tiêu tuệ nghiệp, Quay đầu đã cách vạn trùng nhai.

Ngay trong phần đầu của tập có tựa đề “Trình tiên sinh quốc ngữ”, lần đầu tiên 2 chữ Việt Nam đã được nhắc đến:

Thành Thăng Long Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Nguyễn Công Trứ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An Anh Giả Điếc Trong thiên hạ có anh giả điếc, Khéo ngơ ngơ ngác ngác, ngỡ là ngây! Chẳng ai ngờ “sáng tai họ, điếc tai cày”, Lối điếc ấy sau này em muốn học. Toạ trung đàm tiếu, nhân như mộc Dạ lí phan viên nhĩ tự hầu. Khi vườn sau, khi ao trước; khi điếu thuốc, khi miếng trầu. Khi chè chuyên năm bảy chén, khi Kiều lẩy một đôi câu; Sáng một chốc, lâu lâu rồi lại điếc Điếc như thế ai không muốn điếc? Điếc như anh dễ bắt chước ru mà! Hỏi anh, anh cứ ậm à. Nguyễn Khuyến Hồi thủ khả lân ca vũ địaĐất Tràng An là cổ đế kinhNước non một dải hữu tìnhTrời Nam Việt trước gây đồ đế kỷNgười thôn ổ dấu phong lưu thành thịĐất kinh kỳ riêng một áng lâm toànMen sườn non tiếng mục véo vonIn mặt nước buồm ngư lã chãHoa thảo kỷ, kinh xuân đại tạGiang sơn do tiếu cổ hưng vươngĐồ thiên nhiên riêng một bức tang thươngKhách du lãm coi chừng thăm hỏiĐã mấy độ sao dời vật đổiNào vương cung đế miếu ở đâu nàoMỉa mai vượn hót oanh chào!

Ông còn sử dụng 2 chữ Việt thêm 3 lần nữa trong tập thơ Bạch Vân am thi tập.

Trong các bản Xin trích 3 đoạn trong bản Sấm ký dịch ra quốc ngữ thì bản của Sở Cuổng là sớm nhất in trong Quốc học tùng thư (Nam Ký xuất bản, Hà Nội, 1930, in tại nhà in Trịnh Văn Bích). Sấm ký này có nhắc đến “Khỉ, Thân, Vượn” như sau:

Thi hào Nguyễn Du (1766-1820): sinh ra trong gia đình đại quý tộc, năm 10 tuổi mất cha, 13 tuổi mất mẹ, ở cùng anh cả, có lúc làm con nuôi của một vị quan, từmg đi giang hồ 3 năm ở Trung Hoa. Đỗ tam trường năm 19 tuổi, nhưng đời hoạn lộ thăng trầm bởi thời thế đổi thay. Có 10 năm phiêu bạt (1786-1796). Học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ như: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật, ca, hành… ở thể nào cũng có bài đặc sắc.

Ngoài 4 tác phẩm bằng chữ Nôm, có 3 tác phẩm bằng chữ Hán trong đó có ” gồm 131 bài viết trong chuyến đi sứ sang Tàu. Trong tập thơ này xin trích 3 bài sau đây có nhắc đến tiếng vượn kêu buồn:

Tú Xương

Vọng Quan Âm miếu

Trong bài Sơn Đường dạ bạc (Đêm đậu thuyền ở Sơn Đư ờng) cónhắc đến tiếng vượn kêu não lòng:

Nguyễn Nhược Pháp

Sau cuộc nổi dậy ở Sơn Tây thất bại, các tác phẩm của Cao Bá Quát đã bị thu đốt, cấm tàng trữ lưu hành, nên đã bị thất lạc nhiều. Hiện còn sót lại 4 thi tập có trên 1,000 bài thơ (có cả văn xuôi) được viết bằng lẫn Hán.Cao Bá Quát nhà nghèo, thông minh, có khí phách anh hùng, dám nói dám làm, khinh kẻ quỳ gối khom lưng. ” đày đi làm Giáo thụ ở Quốc Oai, Sơn Tây xa xôi hẻo lánh ít học trò, Ông viết 2 câu đối dán ngoài nhà học đầy mỉa mai khinh bạt, trong đó có 2 chữđười ươi” như sau :

Nhà dột một hai gian, một thầy, một cô, một chó cái.

bài thơ “Thành Thăng Long” ở câu cuối có nhắc đến 2 chữ Thi sĩ Nguyễn Công Trứ (1778-1858): nhà nghèo, có chí, làm quan nhiều lần bị giáng chức. Năm 80 tuổi còn dâng sớ xin cầm quân đánh quân Pháp xâm lược. Thơ văn của ông chỉ còn khoảng 150 bài, nhiều nhất là ca trù và thơ Nôm. Trong vượn hót” như sau:

gồm khoảng 200 bài bằng chữ Hán và 100 bài bằng với nhiều thể loại khác nhau. Có bài Ông viết bằng rồi tự dịch ra chữ Nôm, hoặc viết bằng chữ Nôm rồi tự dịch sang chữ Hán, cả hai đều điêu luyện.

Lục Vân Tiên (gồm 2,082 câu thơ ) sau thời gian truyền miệng, năm được khắc in lần đầu, được các nhà văn Pháp dịch ra tiếng nước ngoài.

Truyện thơ Nôm (gồm 3.456 câu) trong đó phần lớn là thơ lục bát, có xen 33 bài thơ và các thể khác.

Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca (Ngư tiều y thuật vấn đáp) thơ Nôm (gồm 3,642 câu) phần lớn là thơ lục bát, có xen 21 bài thơ ĐL và một số bài phú…

Thời gian rạch xé tô bồi cho em. (Bùi Giáng, Xuân ra đi)

Trong Lục Văn Tiên có 6 câu tả cảnh+tả tình đặc sắc, hình ảnh con vượn được nhắc đến buồn bã giống như tâm trạng của con người trước cảnh chia ly:

Thi sĩ Tú Xương Nhà thơ trào phúng lấy vợ năm 16 tuổi, đi thi từ lúc 17 tuổi (); cuộc đời 37 năm bần hàn chỉ gắn liền với thi cử: thi 8 lần mới đỗ Tú Tài, và vì không đỗ được Cử Nhân nên ở nhà ăn lương vợ cho đến mất, nhưng thơ ông đã được xếp vào bậc “thần thơ thánh chữ”. Cuốn “Tú Xương tác phẩm giai thoại” xuất bản đã chọn ra 134 bài cho là của Tú Xương, trong đó bài “Than sự thi” nhắc đến khỉvới ý chửi rũa trách móc như sau:

con của học giả Nguyễn Văn Vĩnh ; đỗ tú tài, từng viết báo Annam Nouveau, Hà Nội Báo, Tinh hoa, Đông Dương Tạp chí, mất năm 24 tuổi do bệnh thương hàn. Ông có 2 tác phẩm Ngày xưa (1935), Người học vẽ (1936).

3. Kết Luận:

Trong bài thơ “Chùa Hương” của ông có nhắc đến bầy “khỉ” dễ thương hiền lành đang ngồi trong cảnh núi rừng hoang dã khi người đẹp đi qua, xin trích 2 khổ:

Réo rắt suối đưa quanh, Ven bờ, ngọn núi xanh, Nhịp cầu xa nho nhỏ: Cảnh đẹp gần như tranh.

Vinh Hồ Orlando 7/10/2000

Sau khi đậu “cao đẳng tiểu học” được học bổng theo ban chuyên khoa để thi tú tài bản xứ thì “thần Ái tình hiện đến” khiến ông bỏ học, quay qua viết văn, làm thơ. Sở trường thơ tượng trưng, có nhiều tứ thơ, hình ảnh, ngôn từ lạ lẫm, ma quái, hoặc đài các mê hồn, thường tìm về thuở sơ khai, siêu tưởng…

Năm tập thơ Mê Hồn Ca ra đời. Năm , ông cộng tác với giữ mục Tao Đàn chuyên về thơ ca cho đến hết đời. Năm , in tập thơ Đường vào tình sử (được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962). Đinh Hùng còn 8 tác phẩm chưa xuất bản.

Ta mê tiếng vượn sầu muôn kiếp Chim núi cầm canh, hoẵng gọi bầy. Hay:Rồi những đêm sâu, bỗng hiện về Vượn lâm tuyền khóc rợn trăng khuya.

Trải sông nước vượt qua từng châu thổ Ta đến đây nghe vượn núi kêu sầu.

Tiếng vư ợn sầu hoang liêu tê tái trong thơ lục bát: Quạnh hiu cũng chẳng cô đơn, Người đi trong bóng linh hồn rừng sâu . Mênh mang tiếng vượn gọi sầu, Giật mình hoa rụng trắng màu tóc bay .Đinh Hùng (trích bài Thủy Mặc I)

ặng tính triết học, tư tưởng, như 1 nhà hiền triết phiêu bồng giữa thực và mộng. ( Bùi Giáng đã xuất bản trên 50 tác phẩm đủ loại, nổi tiếng với những câu thơ xuất thần đặc biệt là lục bát. Thơ ông n Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu/ Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa. (Chớp Biển, tr. 132)

VINH HỒ

N ăm 1946, Bùi Giáng có 15 năm chăn dê vùng trung du Trung Phước, miền Trung. có bút danh Đười Ươi Thi Sĩ, ca ngợi con người tiền sử có tâm hồn chất phác đơn sơ, mong tìm lại con người nguyên thủy trong cõi trời đất hoang sơ. Hình ảnh “Đười Ươi ” xuất hiện đầy thân ái, trân trọng trong thơ ông:

Ở lại quê hương trì trọng nhẫn Ra đi khách địa ngậm thay ngùi Cháu con dâu rễ thành đại tập Cảm động đười ươi cũng sụt sùi.

Thi sĩ/ ngục sĩ với tổng cộng 27 năm tù. Năm 1979, ông chạy vào Tòa Ðại Sứ Anh ở Hà Nội trao tập thơ 400 bài do ông ghi lại bằng trí nhớ, làm khi ở trong tù. Năm 1980, tại Washington D.C. xuất hiện 1 tập thơ mang tên “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực” không ghi rõ tên tác giả mà chỉ ghi là “khuyết danh”. Ít tuần sau, tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong ra tiếp một ấn bản cùng nội dung với tựa đề “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt .” Năm 1984, Yale Center for International& Area Studies in bản “Flowers from Hell” do Huỳnh Sanh Thông dịch, đây là lần đầu tiêu đề Hoa Địa Ngục (Flowers from Hell) xuất hiện. Sau này người ta mới biết tác giả tên Nguyễn Chí Thiện.Hoa Địa Ngục đã được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Ðức, Hòa Lan, , , ,… Nguyễn Chí Thiện được nhiều giải thưởng quốc tế. Năm 2001 ông xuất bản tập truyện Hỏa Lò, năm 2008 xuất bản tập truyện Hai Chuyện Tù. Địa vị văn học của ông được ghi nhận trong cuốn “Who’s who in Twentieth-century World Poetry” do Mark Willhard chủ biên ( London& , Routledge, 2000).

Bài thơ ” ” của ông có nhắc đến hình ảnh con vượn, xin trích 8 câu sau đây:

Cảm động đười ươi cũng sụt sùi.

* Bùi Giáng có bút hiệu là Đười Ươi Thi Sĩ.

“ Kiến tố, bảo phác, thiểu tư, nhi quả dục. (Trích chương 19 Đạo Đức Kinh).

Có ghĩa là: Thấy nguyên sơ, giữ mộc mạc, giảm suy nghĩ, bớt dục vọng.

Tương tự ” Kiến tố, bảo phác” trongĐạo Đức Kinh, Thiền học có “minh tâm kiến tánh” quan niệm đời là vô thường ảo ảnh, khi mây tan biến thì vầng trăng ló dạng, khi tư tưởng buông bỏ thì bản lai diện mục xuất hiện. Bản lai diện mục tức là tự tâm, bản tánh. Khi minh tâm kiến tánh thì sẽ hốt nhiên giác ngộ thành Phật.

Chữ “Phác” trong Đạo Đức Kinh dùng để ám chỉ Đạo, cái thể thuần phác lúc ban đầu, cái trạng thái bản nguyên của tâm hồn chưa bị luân lí, tập quán, học thuyết, chủ nghĩa… mà ta gọi chung là văn hóa hay văn minh làm sai lạc… Bản tính Phác ở đây cũng đồng nghĩa với tự nhiên. Nhận thức được cái bản tính đơn thuần (Tố), và ôm giữ cái bản tính tự nhiên ấy, đó là mục đích cuối cùng của người học Đạo tu Tiên.

Phải chăng Bùi Giáng, thi sĩ cô đơn đi giữa ch ợ đời đã bị ảnh hưởng bởi quan điểm “Kiến tố, bảo phác” trong Đạo Đức Kinh?