500 Câu Đố Vui Kinh Thánh

--- Bài mới hơn ---

  • Nền Văn Chương Khôn Ngoan Trong Thánh Kinh Cựu Ước: Sách Châm Ngôn, Sách Ông Gióp, Sách Giảng Viên, Sách Huấn Ca, Sách Khôn Ngoan, Sách Thánh Vịnh
  • Giáo Xứ Vinh Sơn Bình Dương: Chương 1 =
  • Chương 5: Sưu Tập Những Lời Của Bậc Khôn Ngoan
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Yêu Thương Chia Sẻ: 50+ Danh Ngôn Hay
  • 27 Câu Nói Hay Giúp Bạn Đánh Bật Sự Chần Chừ Và Làm Việc Hiệu Quả Hơn
  • b. Sáng thế

    c. Đệ nhị luật

    d. Xuất hành

     b /

    2. Thiên Chúa sáng tạo cái gì vào ngày thứ hai?

    a ánh sáng

    b sinh vật dươi biển và chim chóc

    c bầu trời

    d mặt trời, mặt trăng và các vì sao

     c / St 1,6-8

    3. Thiên Chúa tạo dựng cái gì vào ngày thứ tư?

    a thảo mộc và cây cối

    b sinh vật dưới biển

    c mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao

     c / St 1,14-19

    4. Thiên Chúa đã tạo dựng cái gì vào ngày thứ năm?

    a các sinh vật dưới biển và chim trời

    b thú vật sống trên đất

    c người nam và người nữ

    d thảo mộc và cây cối

     a / St 1,20-23

    5. Thiên Chúa tạo dựng người đàn bà đầu tiên từ cái gì?

    a từ một con khỉ

    b từ bụi đất

    c từ chiếc xương sườn của ông A-đam

     c / St 2,21-22

    6. Ông A-đam đã ăn trái cấm trước bà E-và.

    a đúng

    b sai

     b / St 3,6

    7. Thiên Chúa đã trừng phạt con rắn thế nào vì tội dụ dỗ ông A-đam và bà E-và ăn quả cấm?

    a phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời

    b bị đuổi ra khỏi vườn

    c bị đập nát đầu

     a / St 3,14

    8. Người nữ đầu tiên được Thiên Chúa tạo dựng tên là gì?

    a Đê-li-la

    b Rê-bê-ca

    c E-và

    d Đề-bô-ra

     c / St 3,20

    9. Ai may quần áo cho ông A-đam và bà E-và?

    a Thiên Chúa

    b bà E-và

    c ông A-đam

     a / St 3,21

    10. Theo sách Sáng thế, “Người trục xuất con người, và ở phía đông vườn Ê-đen, Người đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm …………, để canh giữ đường đến cây trường sinh”.

    a sắc nhọn

    b sáng lóe

    c dài 9 tấc

     b / St 3,24

    11. Thiên Chúa đã trừng phạt ông A-đam và bà E-và ở đâu sau khi Người trục xuất họ khỏi vườn Ê-đen?

    a phía bắc vườn Ê-đen

    b phía đông vườn Ê-đen

    c phía tây vườn Ê-đen

    d phía nam vườn Ê-đen

     b / St 3,24

    12. A-ben là anh của Ca-in.

    a đúng

    b sai

     b / St 4,1-2

    13. Theo Thánh Kinh, vụ giết người xảy ra lần đầu tiên là vụ nào?

    a Đa-vít giết U-ri-a

    b Áp-sa-lôm giết Am-môn

    c Ca-in giết A-ben

    d Mô-sê giết một người Ai-cập

     c / St 4,8

    14. “Con là người giữ em con hay sao ?”. Ca-in đã trả lời với Chúa.

    a đúng

    b sai

     a / St 4,9

    15. Ca-in đã ở đâu sau cái chết của A-ben?

    a tại xứ Nốt

    b tại xứ Ca-na-an

    c tại Ê-đom

    d

     a / St 4,16

    16. Con cháu ông Nô-ê vừa xây tháp Ba-ben xong thì cơn Hồng thủy ập đến.

    a đúng

    b sai

     b / St 6 – 11

    17. Khi cơn Hồng thủy đến, trong tàu ông Nô-ê có bao nhiêu người?

    a 5

    b 8

    c 7

    d 9

     b / St 7,13

    18. Làm sao ông Nô-ê biết là nước đã rút trên mặt đất?

    a con quạ bay đi và không trở về

    b gà trong tàu gáy dồn dập

    c con bồ câu mà ông thả ra mang về một nhành là ô-liu tươi

     c / St 8,11

    19. Theo sách Sáng thế, ai là người thứ nhất trồng nho?

    a ông Nô-ê

    b ông A-ben

    c ông Kham

    d ông Ca-na-an

     a / St 9,20

    20. Theo sách Sáng thế, ai là người anh hùng đầu tiên trên mặt đất?

    a ông Nim-rốt

    b ông Cút

    c ông Ít-ma-en

     a / St 10,8

    21. Ông Áp-ra-ham ra đi, như Đức Chúa đã phán với ông. Ông Áp-ra-ham được ………… tuổi khi ông rời Kha-ran.

    a 40

    b 55

    c 70

    d 75

     d / St 12,4

    22. Về sự ra đời của họ, I-xa-ác và Sa-mu-en có nét chung nào?

    a họ đều là con út

    b vừa sinh ra đã biết nói cười

    c họ sinh ra do sự can thiệp của Thiên Chúa

     c / St 16,1 ; 17,19 ; 21, 1-3 ; 1 Sm 1,2.11.19-20

    b Ít-ma-en

    c I-xa-ác

     c / St 17,19 ; 21,2-3

    24. Thiên Chúa đã ký kết Giao ước với ông Áp-ram và đổi tên ông thành Áp-ra-ham.

    a đúng

    b sai

     a / St 17,5

    25. Danh xưng “Áp-ra-ham” có nghĩa là gì?

    a con loài người

    b con trai của ông A-đam

    c cha của vô số dân tộc

    d cha của tất của những người sống

     c / St 17,5

    26. Bà Xa-ra là em gái, con cùng cha khác mẹ, và là vợ của ông Áp-ra-ham.

    a đúng

    b sai

     a / St 20,12

    27. Ông nào mơ thấy Thiên Chúa bảo hãy trả bà Xa-ra về cho ông Áp-ra-ham?

    a vua A-bi-mê-léc

    b vua Pha-ra-ô

    c vua Ky-rô

     a / St 20,2-3

    28. Ông Áp-ra-ham đã chứng minh sự tín thác của mình vào Thiên Chúa bằng chính việc ông sẵn sàng hiến tế đứa con trai.

    a đúng

    b sai

     a / St 22,12

    29. Cuối cùng ông Áp-ra-ham đã dâng cho Thiên Chúa vật gì làm lễ toàn thiêu?

    a I-xa-ác, con trai ông

    b con cừu con

    c con cừu đực

     c / St 22,13

    30. Ê-xau và Gia-cóp là hai anh em cùng cha khác mẹ.

    a đúng

    b sai

     b / St 25,25-26

    31. Trong hai người con sinh đôi, bà Rê-béc-ca thương Gia-cóp hơn, trong khi ông I-xa-ác lại thích Ê-xau, vì …………

    a ông ăn thịt săn của cậu

    b đây là miêu duệ ông

    c tay cậu có nhiều lông xứng bậc nam nhi

    d cậu có tài bắn cung tên

     a / St 25,28

    32. Ê-xau đã không đem lòng oán thù Gia-cóp khi ông này đoạt mất lời chúc lành của cha dành cho mình.

    a đúng

    b sai

     b / St 27,41

    33. Ông Gia-cóp nằm mơ thấy một cái thang bắc từ đất lên trời.

    a đúng

    b sai

     a / St 28,10-12

    34. Ông Gia-cóp đã cưới bà nào trước bà Ra-khen?

    a Lê-a

    b Đi-na

    c Xa-ra

     a / St 29,23

    35. Ông Gia-cóp đã bị thương ở đâu đang khi vật lộn?

    a bị thương ở đầu

    b bị trật xương hông

    c bị gãy cổ

     b / St 32,26

    36. Ông Gia-cóp đã tìm cách làm hòa với ai khi ông trở về quê hương sau hai mươi năm xa cách?

    a ông La-ban

    b bà Ra-khen

    c ông Ê-xau

     c / St 32,4

    37. Các con trai ông Gia-cóp đã làm gì để trả thù việc hãm hiếp em gái của họ?

    a họ đã tàn sát tất cả đàn ông và cướp phá thành

    b họ rời bỏ vùng đất và không bao giờ trở lại

    c họ không dám trả thù

     a / St 34,25-29

    38. Ông Giu-se mơ thấy mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao, tất cả đều vâng phục ông.

    a đúng

    b sai

     a / St 37,5-9

    39.Ông Giu-se mơ thấy những con bò và những gié lúa.

    a đúng

    b sai

     b / St 41,17-20

    40. Đầu tiên, ông Giu-se có yêu cầu gì khi cho anh em của ông trở về quê hương?

    a cho cha của họ đến ra mắt ông Giu-se

    b mang đứa em út đến cho ông Giu-se

    c thanh toán món nợ trước kia

     b / St 42,2

    41. Chén bạc của ông Giu-se được tìm thấy trong bao của ai khi anh em ông đang trên đường trở về với cha là ông Gia-cóp?

    a Giu-đa

    b Ben-gia-min

    c Rưu-ven

     b / St 44,2

    42. Ông Giu-se đã giải thích số mệnh của mình trước anh em ông như thế nào?

    a Thiên Chúa đã sai ông Giu-se đi trước với mục đích là để cứu toàn thể gia đình ông.

    b ông Giu-se đã quan hệ cách tuyệt vời

    c vua Pha-ra-ô đã nhận ra tài năng lãnh đạo của ông Giu-se.

    d một sự may mắn bất ngờ.

     a / St 45,7

    43. Dòng dõi ông Gia-cóp trở nên mạnh mẽ và đông đúc bên Ai-cập.

    a đúng

    b sai

     a / Xh 1,7

    44. Vua Pha-ra-ô đã ra lệnh tàn nhẫn nào cho các bà đỡ của Ai-cập?

    a phải chăm sóc mọi trẻ sơ sinh kỹ càng

    b phải làm hại mọi trẻ sơ sinh

    c phải giết tất cả mọi trẻ nam Híp-ri vừa mới sinh

     c / Xh 1,16

    45. Vua Pha-ra-ô ra lệnh giết hết mọi con gái Híp-ri mới sinh ra.

    a đúng

    b sai

     b / Xh 1,22

    46. Ông Mô-sê thuộc dòng họ nào?

    a Lê-vi

    b Giu-đa

    c Ben-gia-min

    d Rưu-ven

     a / Xh 2,1-10

    47. Khi mới sinh, ông Mô-sê đã được giấu bên bờ sông suốt ba tháng.

    a đúng

    b sai

     b / Xh 2,2-3

    48. Ai được trả tiền nuôi nấng ông Mô-sê?

    a mẹ ông

    b chị ông

    c người hầu của công chúa con vua Pha-ra-ô

     a / Xh 2,8-9

    49. Thiên Chúa đòi ông Mô-sê phải làm gì trước khi đến gần bụi cây đang cháy?

    a đánh răng

    b che mặt lại

    c quỳ gối

    d cởi dép ra

     d / Xh 3,5

    50. “Lạy Chúa, xin xá lỗi cho con, từ hồi nào đến giờ, ngay cả từ lúc Chúa ban lời cho tôi tớ Người, con không phải là kẻ có tài ăn nói, vì con cứng miệng cứng lưỡi.” Ai đã nói?

    a ông A-ha-ron

    b ông Mô-sê

    c ông Giu-se

    d vua Đa-vít

     b / Xh 4,10

    51. Ai đã thay ông Mô-sê nói chuyện với vua Pha-ra-ô?

    a ông A-ha-ron

    b ông Giê-rô

    c bà Xíp-pô-ra

     a / Xh 4,16

    52. Theo sách Xuất hành, trận dịch chấy rận xảy ra trước trận dịch ếch nhái.

    a đúng

    b sai

     b / Xh 8,1-18

    53. Theo sách Xuất hành, trận dịch châu chấu xảy ra trước sự kiện tối tăm.

    a đúng

    b sai

     a / Xh 10,4-23

    54. Dấu hiệu nào đã làm cho Thần Tru Diệt “vượt qua” không đánh phạt nhà của dân Ít-ra-en?

    a máu bôi trên khung cửa

    b các phụ nữ lấy khăn trùm đầu lại

    c những nhà có đốt nhang

     a / Xh 12,22

    55. Đức Chúa sát hại mọi con đầu lòng trong đất Ai-cập …

    a lúc bình minh

    b lúc hoàng hôn

    c lúc nửa đêm

    d ngay giữa trưa

     c / Xh 12,29

    56. Khi Mô-sê giơ tay trên biển, nước Biển Đỏ trở nên khô cạn do một cơn gió đông thổi mạnh suốt đêm.

    a đúng

    b sai

     a / Xh 14,21

    57. Thiên Chúa rẽ biển cho ông Mô-sê và dân Ít-ra-en qua bằng cách làm ra một con cá thật lớn để nó uống hết nước biển.

    a đúng

    b sai

     b / Xh 14,21

    58. Khi ở trong sa mạc, vào ngày ………… hàng tuần, dân Ít-ra-en nhặt man-na nhiều gấp đôi so với những ngày khác.

    a thứ bảy

    b thứ ba

    c thứ sáu

    d thứ nhất

     c / Xh 16,5

    59. Ai đã đỡ tay ông Mô-sê khi ông Giô-suê giao chiến tại Rơ-phi-đim?

    a ông A-ha-ron và ông Khua

    b ông A-ha-ron và ông Ê-lê-a-da

    c ông Giê-rô và ông A-ha-ron

    d bà Mi-ri-am và ông Giê-rô

     a / Xh 17,12

    60. Sau khi ông Mô-sê dùng gậy đập vào tảng đá để lấy nước cho dân uống, ông đã đặt tên nơi đó là Ma-xa và Mơ-ri-va, nghĩa là …………

    a hồng ân

    b thử thách

    c lạ lùng

     b / Xh 17,6

    61. Ông Gít-rô là tư tế Ma-đi-an và là ………… ông Mô-sê.

    a nhạc phụ

    b anh họ

    c ông nội

    d không có quan hệ gì

     a / Xh 18,1

    62. Từ khi rời Ai-cập, phải mất bao lâu con cái Ít-ra-en mới tới sa mạc Xi-nai?

    a ba tháng

    b một năm

    c sáu tháng

    d ba năm

     a / Xh 19,1

    63. Ông Mô-sê đã nhận nơi Thiên Chúa cái gì ở trên núi Xi-nai?

    a hòm bia giao ước

    b mười điều răn

    c những cuộn sách ở Biển Chết

     b / Xh 20,1-17

    64. Điều răn thứ ba là gì?

    a “Ngươi không được làm chứng gian hại người”

    b “Ngươi hãy nhớ ngày Sa-bát, mà coi đó là ngày thánh”

    c “Ngươi không được giết người”

    d “Hãy thờ kính cha mẹ”

     b / Xh 20,8

    65. Điều răn “ngươi không được ngoại tình” được đặt trước điều răn “ngươi không được giết người”.

    a đúng

    b sai

     b / Xh 20,13-14

    66. Điều răn “ngươi không được ngoại tình” được đặt trước điều răn “ngươi không được trộm cắp”.

    a đúng

    b sai

     a / Xh 20,14-15

    67. Theo sách Xuất hành, “Ăn trộm phải bồi thường ; nếu không có gì bồi thường thì nó được tha”

    a đúng

    b sai

     b / Xh 22,2

    68. Theo sách Xuất hành, “Ngươi không được hùa theo …… để làm điều trái ; trong một vụ kiện, ngươi không được ngả theo ……… mà làm chứng, khiến công lý bị sai lệch”

    a kẻ mạnh

    b số đông

    c kẻ quyền thế

    d kẻ phạm tội

     b / Xh 23,2

    69.Vật liệu nào đã được dùng để làm Hòm Bia Giao Ước?

    a gỗ keo

    b gỗ tùng

    c gỗ thích

     a / Xh 25,10

    70. Tại sao dân Ít-ra-en đúc một con bê bằng vàng để thờ?

    a bởi vì ông A-ha-ron nổi loạn

    b bởi vì ông Mô-sê quá chậm trễ

    c bởi vì chán nản

    d tất cả đều sai

     b / Xh 32,1

    71. Ai đã đứng ra nài xin thay cho dân chúng sau vụ thờ con bê bằng vàng?

    a các thầy Lê-vi

    b ông A-ha-ron

    c ông Giô-suê

    d ông Mô-sê

     d / Xh 32,11

    72. Ông Mô-sê đã nói : “Ai thờ Đức Chúa thì theo tôi !”

    a đúng

    b sai

     a / Xh 32,26

    73. Thiên Chúa đã cho ông Mô-sê mười điều răn hai lần.

    a đúng

    b sai

     a / Xh 34,1

    74. Thời Mô-sê, người làm việc ngày Sa-bát bị phạt hình phạt nào?

    a bị bỏ tù một năm

    b phải ăn chay một tháng

    c phải chết

    d bị trục xuất

     c / Xh 35,1-3

    75. Ở Ai-cập, ông Giu-se bị ngược đãi như một tên nô lệ.

    a đúng

    b sai

     b / Xh 39,2

    76. Trong Thánh Kinh, sách Lê-vi được đặt trước sách Xuất hành.

    a đúng

    b sai

     b /

    77. Theo sách Lê-vi, ngoài con heo ra, các con vật nào cũng bị coi là ô uế?

    a lạc đà

    b ngân thử

    c thỏ rừng

    d tất cả những con trên

     d / Lv 11,4-6

    78. “Con heo, vì nó có chân chẻ làm hai móng, nhưng không nhai lại : các ngươi phải coi nó là loài ô uế.” Đức Chúa phán với …………

    a ông Mô-sê và ông A-ha-ron

    b ông Giô-suê

    c ông Nô-ê

     a / Lv 11,7

    79. Theo sách Lê-vi, bất cứ ai gây thương tích cho người lân cận thì người ấy sẽ bị gây thương tích lại như vậy.

    a đúng

    b sai

     a / Lv 24,17,22

    80. Theo sách Dân số, điều gì xảy ra cho những thường dân khi họ đến gần Nhà Tạm đựng Hòm Bia Giao Ước?

    a người ấy sẽ bị đuổi ra khỏi trại trong vòng 40 ngày

    b người ấy sẽ phải chết

    c người ấy sẽ bị ô uế

     b / Ds 1,51

    81. Theo sách Dân số, khi dân Ít-ra-en đóng trại, họ tự do cắm lều của mình ở bất cứ nơi nào họ muốn.

    a đúng

    b sai

     b / Ds 2,2

    82. Theo sách Dân số, người con trai nào của ông A-ha-ron phải trông coi toàn bộ NhàTạm cùng mọi vật trong đó : các vật thánh và các đồ phụ tùng?

    a I-tha-ma

    b E-la-da

    c Na-đáp

     b / Ds 4,16

    83. Ông Mô-sê cầu nguyện : “Lạy Đức Chúa, xin đứng lên cho địch thù Ngài tán loạn, và cho kẻ ghét Ngài phải …… !”

    a tiêu vong

    b không còn huênh hoang tự đắc

    c phải hổ thẹn

    d chạy trốn thánh nhan

     d / Ds 10,35

    84. Theo sách Dân số, điều gì sẽ xảy ra nếu chỉ một chiếc kèn được thổi?

    a toàn dân sẽ tập họp lại

    b các kỳ mục sẽ tập họp lại

    c các tư tế sẽ tập họp lại

     b / Ds 10,4

    85. Theo sách Dân số, khi bà Mi-ri-am và ông A-ha-ron phản đối ông Mô-sê vì ông cưới một phụ nữ người Cút, bà Mi-ri-am tức khắc bị ………

    a mù

    b xuất huyết dữ dội

    c cùi

     c / Ds 12,9-16

    86. Theo sách Dân số, vâng lệnh Đức Chúa, ông Mô-sê sai mỗi chi tộc một kỳ mục đi dò thám đất Ca-na-an.

    a đúng

    b sai

     a / Ds 13,2

    87. Ông Mô-sê và ông A-ha-ron không hề dẫn con cái Ít-ra-en vào đất hứa.

    a đúng

    b sai

     a / Ds 20,12

    88. Trong sa mạc, những người than trách ông Mô-sê bị con gì cắn chết?

    a chó sói

    b muỗi

    c rắn độc

    d bọ cạp

     c / Ds 21,6

    89. Ai đã thay thế ông Mô-sê lãnh đạo dân chúng?

    a ông Giô-suê

    b ông Ê-lê-a-da

    c ông Ghi-lê-át

    d ông Ben-gia-min

     a / Ds 27,12-23

    90. Theo sách Đệ nhị luật, người ta không được rạch mình và cạo tóc phía trên trán mà để tang một người chết.

    a đúng

    b sai

    ? a / Đnl 14,1

    91. Theo sách Đệ nhị luật, các loài sống dưới nước bị coi là ô uế là loài …………

    a có vây và có vảy

    b không có vảy

    c không có vây và không có vảy

    ? c / Đnl 14,9-10

    92. Theo sách Đệ nhị luật, những loài chim nào bị coi là ô uế?

    a đại bàng, ó biển, diều mướp, kền kền và mọi thứ diều hâu

    b đà điểu, cú, mòng biển, mọi thứ bồ cắt, cú vọ, cú mèo và chim lợn

    c bồ nông, ó, cốc, cò, diệc, chim đầu rìu, dơi và mọi thứ quạ

    d tất cả những con trên

    ? d / Đnl 14,12-18

    93. Theo sách Đệ nhị luật, “Mọi côn trùng có cánh, anh em phải coi là loài ô uế, anh em không được ăn.”

    a đúng

    b sai

    ? a / Đnl 14,19

    94. Theo sách Đệ nhị luật, “Anh em không được lấy sữa ……… mẹ mà nấu thịt ……… con.

    a bò

    b lừa

    c chiên

    d dê

    ? d / Đnl 14,21

    95. Theo sách Đệ nhị luật, “Anh em không được tế Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, bò hay chiên dê có tật hoặc tỳ vết nào, vì đó là điều ghê tởm đối với Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em.”

    a đúng

    b sai

    ? a / Đnl 17,1

    96. Theo sách Đệ nhị luật, “Từ giữa anh em, trong số các anh em của anh em, Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như tôi để giúp anh em, anh em ………… vị ấy.”

    a hãy trông chờ

    b cầu nguyện cho

    c hãy nghe

    ? c / Đnl 18,15

    97. Theo sách Đệ nhị luật, “Khi anh em thấy bò hay chiên dê của người anh em mình đi lạc, thì đừng bỏ mặc làm ngơ, nhưng …………”

    a được phép mang về làm của mình

    b phải dẫn chúng về cho người anh em

    c phải báo cho vị tư tế

    ? b / Đnl 22,1

    98. Theo sách Đệ nhị luật, nếu bạn không bỏ trái nho nào vào đồ đựng của mình thì bạn được phép ăn nho của nhà hàng xóm. Cũng vậy, luật cho phép bẻ gié lúa của người khác nếu bạn làm việc đó bằng tay.

    a đúng

    b sai

    ? a / Đnl 23,24-25

    99. Ông Mô-sê qua đời trên núi Nơ-vô, trong đất Mô-áp. Ông không hề sửa soạn để chết vì Thiên Chúa không báo trước cho ông.

    a đúng

    b sai

    ? b / Đnl 32,48-52

    b sai

    ? a / Đnl 34,5-6

    101. Truyền văn nào không được dùng trong Ngũ kinh?

    a Gia-vít

    b Tư tế

    c Ê-lô-hít

    d Khải huyền

     d /

    102. Trên sông Gio-đan, Thiên Chúa đã làm một phép lạ tương tự phép lạ rẽ nước ở Biển Đỏ.

    a đúng

    b sai

     a / Gs 1,15-17

    103. Các tư tế đã mang theo cái gì khi dân Ít-ra-en lâm chiến?

    a cờ

    b dao kiếm

    c hòm bia giao ước

     c / Gs 3,3-5

    104. Ông Giô-suê đã xin cho mặt trời đứng yên trên bầu trời để dễ dàng tiêu diệt quân địch.

    a đúng

    b sai

     a / Gs 6,8

    105. Tiếng kèn và tiếng tù và bằng sừng cừu đã nổi lên ngay trước khi thành Giê-ri-khô sụp đổ.

    a đúng

    b sai

     b / Gs 6,20

    106. Dân Ga-ba-ôn đã được thoát nhờ ăn vận quần áo cũ, mang giày rách và dùng thứ bánh mì khô mốc.

    a đúng

    b sai

     a / Gs 9,5.12

    107. Vào thời của phần thứ nhất sách ngôn sứ I-sai-a, thế lực nào trổi vượt?

    a Ba-by-lon

    b Át-sua

    c Ai-cập

    d không có câu nào cả

     b / Gs 10,5-11

    108. Khi ông Giô-suê đánh giặc ở Ca-na-an, mặt trời đã đứng nguyên trên bầu trời suốt bốn mươi ngày đêm.

    a đúng

    b sai

     b / Gs 10,13

    109. Theo lệnh của Giô-suê, binh lính Ít-ra-en không bao giờ lấy chiến lợi phẩm của những thành mà họ chiếm được.

    a đúng

    b sai

     b / Gs 11,12-14

    110. Ai là thủ lãnh đầu tiên của Ít-ra-en?

    a Mô-sê

    b Ghít-on

    c Ót-ni-ên

    d Giô-suê

     c / Tl 3,9-10

    111. Ông Sam-son là người rất cường tráng.

    a đúng

    b sai

     a / Tl 14 – 16

    112. Đa-li-la đã cắt tóc ông Sam-son.

    a đúng

    b sai

     b / Tl 16,19

    113. Bà Rút đã tin vào Thiên Chúa của Ít-ra-en.

    a đúng

    b sai

     a / R 1,16

    114. Theo sách Sa-mu-en, bà An-na cầu xin Thiên Chúa ban cho điều gì?

    a được sống lâu

    b được một đứa con trai

    c được bình an

     b / 1 Sm 1,9-11

    115. “Bà hãy đi về bình an. Xin Thiên Chúa của Ít-ra-en ban cho bà điều bà đã xin Người”. Thầy tư tế Ê-li nói với bà

    a Ê-li-sa-bét

    b An-na

    c Ra-khen

     b / 1 Sm 1,15-17

    116. Bà An-na nói: “Chẳng có Đấng thánh nào như Đức Chúa, chẳng một ai khác ngoại trừ Ngài, chẳng có Núi Đá nào”

    a cao bằng núi Xi-on

    b sánh được với núi Các-men

    c như Thiên Chúa chúng ta

     c / 1 Sm 2,2

    117. Khi dân Bết Se-mét nhìn vào Hòm Bia Thiên Chúa, 70 người đã bị đánh phạt phải chết?

    a đúng

    b sai

     a / 1 Sm 6,19

    118. “Bây giờ, đây là vua dẫn đầu anh em. Phần tôi, tôi đã già nua tóc bạc,…” Ai nói câu này ?

    a Ngôn sứ I-sai-a

    b Ngôn sứ Sa-mu-en

    c Ngôn sứ Đa-ni-en

    d Ngôn sứ Kha-ba-cúc

     b / 1 Sm 12,2

    119. Cậu bé Đa-vít đi đến trại gần nơi quân Ít-ra-en và quân Phi-li-tinh đánh nhau để làm gì?

    a mang thức ăn cho ba người anh trai là lính và xem họ đánh giặc ra sao

    b để xem những xác chết

    c để dụ những người lính Phi-li-tinh đầu hàng

    d mang thơ của cha đến cho các anh trai đang đi lính

     a / 1 Sm 17,17-20

    120. “Than ôi ! Anh hùng nay ngã gục !” Tướng Đa-vít nói về ai?

    a vua Sa-un và con trai ông là Gio-na-than

    b Áp-sa-lôm

    c ông Sam-son

     a / 2 Sm 1,17.19.25.27

    121. Ông Giu-se không phải là nhân vật duy nhất trong Thánh Kinh mặc áo dài nhiều màu. Các con gái còn trinh của vua Sa-lô-môn cũng mặc áo như vậy.

    a đúng

    b sai

     a / 2 Sm 13,18

    122. “Phải chi cha chết thay con !” Vua Đa-vít nói với vua Sa-lô-môn.

    a đúng

    b sai

     b / 2 Sm 19,1

    123. Sau khi vua Đa-vít qua đời, ai đã lên kế vị?

    a Sa-lô-mon

    b Gio-áp

    c Áp-sa-lôm

     a / 1 V 2,12

    124. Vua Sa-lô-môn nói: “Phân đứa trẻ còn sống ra làm hai, và cho mỗi người một nửa !”

    a đúng

    b sai

     a / 1 V 3,25

    125. Vua Sa-lô-môn là một vị vua rất khù khờ.

    a đúng

    b sai

     b / 1 V 3 – 11

    126. Vua Sa-lô-mon đã dùng vật liệu gì để xây Đền Thờ?

    a gỗ từ núi Li-băng

    b những cây cột bằng bạc

    c những viên gạch bằng vàng

     a / 1 V 5,20

    127. Ai giết vua Ê-la và lên làm vua, nhưng ông chỉ cai trị được bảy ngày?

    a Đơ-vô-ra

    b Dim-ri

    c A-suê-rô

     b / 1 V 16,9-10.15

    128. Vua A-kháp làm vua Ít-ra-en trước vua Om-ri.

    a đúng

    b sai

     b / 1 V 16,16.29

    129. Theo lời ngôn sứ Ê-li-a, tại sao vua A-kha-di-a, con trai vua A-kháp, không thể khỏe lại sau khi bị té?

    a vì ông bị té từ trên núi cao xuống

    b vì ông không kêu cầu Thiên Chúa mà lại kêu cầu thần Ba-an

    c vì ông bị đập đầu vào một tảng đá

     b / 2 V 1,15-16

    130. Ông Ê-li-a đã cỡi một con lừa màu vàng mà lên trời.

    a đúng

    b sai

     b / 2 V 2,11

    131. Dân nào bắt dân Ít-ra-en đi lưu đày nhiều năm?

    a dân Sa-ma-ri-a

    b dân Ba-by-lon

    c dân Rô-ma

     b / 2 V 24,10-17

    132. Vua Đa-vít bảo vua Sa-lô-môn xây một đền thờ như ông đã từng mong muốn, nhưng vua Sa-lô-môn không nghe theo mà xây đền thờ kiểu khác.

    a đúng

    b sai

     b / 1 Sb 22,6-7 ; 28,10-20

    133. Đền thờ vua Sa-lô-môn lớn đến mức người ta đã tả là nó lớn hơn cả con tàu của ông Nô-ê.

    a đúng

    b sai

     b / 2 Sb 3,3 ; St 6,15

    134. Thành Ba-by-lon trở thành một phần của đế quốc nào?

    a Ai-cập

    b Ba-tư

    c Rô-ma

     b / Et 1,1-4

    135. Vì ông Ma-đô-kê không cúi lạy ông Ha-man nên ông Ha-man tức giận, quyết định tiêu diệt người Do-thái.

    a đúng

    b sai

     a / Et 3,2.5-6

    136. “Thật chẳng có ai trên cõi đất này giống như nó : một con người vẹn toàn và ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và lánh xa điều ác !” Chúa nói với quỷ Xa-tan về ai?

    a ông Gióp

    b ông Mô-sê

    c ông Áp-ra-ham

    d ông Lót

     a / G 1,8

    137. Con trai con gái ông Gióp đang làm gì khi họ bị giết?

    a chăm sóc đàn gia súc

    b đi tham quan

    c ăn tiệc và uống rượu tại nhà anh cả của họ

    d cấy ngoài ruộng

     c / G 1,18

    138. “Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi : xin chúc tụng Đức Chúa !” Ai nói?

    a ông Tô-bi-a

    b vua Đa-vít

    c vua Sa-lô-môn

    d ông Gióp

     d / G 1,21

    139. Thử thách thứ hai của ông Gióp là gì?

    a mờ mắt

    b bị đói khát hành hạ

    c bị ung nhọt khắp cả người

    d tất cả đều sai

     c / G 2,4-8

    140. Ê-li-phát, bạn của ông Gióp nói rằng nỗi bất hạnh xảy ra …………

    a bởi vì con người sinh ra để mà chịu khổ

    b bởi vì Thiên Chúa làm cho chúng xảy đến

    c bởi vì định mệnh mang đến như vậy

     a / G 5,6-7

    141. Cuối cùng Đức Chúa đáp lại lời cầu xin của ông Gióp thế nào?

    a Đức Chúa giận dữ với ông

    b Đức Chúa đã tăng gấp đôi những gì ông có trước kia

    c Đức Chúa hài lòng về ông

     b / G 42,10

    142. Một thời gian ngắn sau khi phải chịu những thử thách và đau khổ, ông Gióp đã chết.

    a đúng

    b sai

     b / G 42,16

    143. Theo Thánh Vịnh, hạnh phúc cho những ai không theo đường lối của ………….

    a phường ác nhân

    b kẻ nghèo hèn

    c kẻ hiếu chiến

     a / Tv 1,1

    144. Theo lời Thánh vịnh, Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi những ai kiếm tìm Người.

    a đúng

    b sai

     a / Tv 9,11

    145. “Chúa là nguồn sáng và ơn cứu độ của tôi, …… ?”

    a ai sẽ nghe tiếng tôi reo hò

    b tôi còn sợ người nào ?

    c ai sẽ làm cho tôi lạc đường được

     b / Tv 27,1

    146. Theo Thánh vịnh 27, Đức Chúa được mô tả thế nào?

    a vị vua tuyệt vời của tôi

    b vị mục tử tốt lành

    c là nguồn sáng và là ơn cứu độ của tôi

    d là đá tảng và là rừng núi bảo vệ tôi

     c / Tv 27,1

    147. “Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì ………… không để quân thù đắc chí nhạo cười con”

    a đã thương cứu vớt

    b đã không bỏ rơi con

    c đã tha thứ cho con

     a / Tv 30,2

    148. Theo Thánh vịnh 31, “núi đá và ………… bảo vệ con, chính là Chúa”.

    a thành luỹ

    b vinh quang

    c khiên mộc

     a / Tv 31,4

    149. Đức Giê-su thốt ra lời cuối cùng bằng một câu trong Thánh vịnh 31, đó là câu nào?

    a “Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con”

    b “Xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”

    c “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con ?”

     a / Tv 31,6

    150. Theo Thánh vịnh 33, thái độ thích hợp trước nhan Chúa là gì?

    a lòng kính sợ

    b lòng dũng cảm

    c run sợ

    d cầu xin

     a / Tv 33

    151. Trong Thánh vịnh 36, người tội lỗi sống trong ảo tưởng nên không hề có day dứt.

    a đúng

    b sai

     a / Tv 36,2-3

    152. Theo Thánh vịnh 37, cái gì dành sẵn cho những người ở trong sự bình an với Thiên Chúa?

    a niềm vui

    b tất cả những gì họ cần

    c con dòng cháu giống

    d không sợ gì cả

     c / Tv 37,37

    153. Theo Thánh vịnh 41, điều bất hạnh nào có thể tấn công bất thình lình?

    a nghèo nàn

    b động đất

    c bệnh tật

    d hạn hán

     c / Tv 41,1-13

    154. Theo Thánh vịnh 44, dân Ít-ra-en được diễn tả như thế nào?

    a như một dân tộc hùng mạnh

    b như đạo binh của Thiên Chúa

    c như bầy cừu bị sát sinh

    d như một người ngoại tình

     c / Tv 44,23

    155. “Lòng trào dâng những lời cẩm tú, miệng ngâm thơ mừng chúc thánh quân, lưỡi tôi ví tựa …………”

    a ngọc ngà châu báu

    b cung đàn réo rắt

    c tay người phóng bút

     c / Tv 45,2

    156. Theo Thánh vịnh 48, thành của Đức Đại Vương ở đâu?

    a núi Xi-on

    b Sa-ma-ri-a

    c Ni-ni-vê

    d Rô-ma

     a / Tv 48,3

    157. Thánh vịnh 51, được gọi là lời cầu nguyện của lòng thống hối ăn năn, được cảm hứng bởi biến cố nào trong đời sống vua Đa-vít?

    a liên hệ của vua Đa-vít với bà Bát-sê-va

    b cái chết của Áp-sa-lôm

    c vua Đa-vít làm hỏng kế hoạch của vua Sa-un

    d giết chết Gô-li-át

     a / Tv 51,2

    158. “Cả trái đất, hãy …………”

    a tung hô Thiên Chúa

    b thần phục vị vua của chúng ta

    c dâng lời tạ ơn lên trước nhan Chúa

     a / Tv 66,1

    159. Theo Thánh vịnh 80, ai là mục tử của Ít-ra-en?

    a Mô-sê

    b Sa-lô-mon

    c Thiên Chúa

    d Đa-vít

     c / Tv 80,2-4

    160. “Kể cho muôn dân biết …………, cho mọi nước hay những kỳ công của Người”

    a Người thật là vinh hiển

    b Người thật là công chính

    c ngày tuyệt vời của Đức Chúa

     a / Tv 96,3

    161. “Toàn cõi đất này đã xem thấy …………”

    a vương quyền của Thiên Chúa

    b ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta

    c quyền năng của Thiên Chúa

     b / Tv 98,3

    162. “Chư dân hãy xưng tụng danh Ngài, danh vĩ đại khả tôn khả úy, ………… !”

    a danh thánh thiện dường bao

    b danh rạng rỡ vinh quang

    c danh đáng kính trọng muôn đời

     a / Tv 99,3

    163. Trong 150 Thánh vịnh, Thánh vịnh nào ngắn nhất?

    a 117

    b 140

    c 100

    d 20

     a / Tv 117

    164. Thánh vịnh nào dài nhất ?

    a 18

    b 117

    c 115

    d 119

     d / Tv 119

    165. Thánh vịnh 122 cầu cho thành nào được thái bình?

    a Giê-ru-sa-lem

    b Ni-ni-vê

    c Xơ-đôm

     a / Tv 122

    166. Theo Thánh vịnh 136, cái gì tồn tại mãi mãi ?

    a Tình yêu của Thiên Chúa

    b trời đất

    c Lề Luật

     a / Tv 136

    167. Trong Thánh Kinh, sách Thánh vịnh được đặt trước sách Châm Ngôn.

    a đúng

    b sai

     a /

    168. Ai được gọi là tác giả của sách Châm ngôn?

    a vua Đa-vít

    b ngôn sứ Hô-sê

    c ông Mô-sê

    d vua Salô-môn

     d / Cn 1,1

    169. Theo sách Châm ngôn, “Lòng kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của tri thức”.

    a đúng

    b sai

     a / Cn 1,7

    170. Theo sách Châm ngôn, cái gì mà người ta không thể cậy dựa vào?

    a hy vọng cho tương lai

    b lời khuyên của người khác

    c hiểu biết của chính mình

    d tin tưởng vào những gì không thấy được

     c / Cn 3,5

    171. Theo sách Châm ngôn, điều gì làm cho thủ lãnh xiêu lòng ?

    a hăm dọa

    b kiên nhẫn

    c lý lẽ hợp lý

    d quân đội

     b / Cn 5,15

    172. Theo sách Châm ngôn, có bảy điều làm Đức Chúa ghê tởm, ba điều đầu là : mắt kiêu kỳ, lưỡi điêu ngoa, tay đổ máu người vô tội.

    a đúng

    b sai

     a / Cn 6,16

    173. Theo sách Châm ngôn, “phụ nữ đẹp người mà không đẹp nết khác chi khuyên vàng đem xỏ mũi heo”.

    a đúng

    b sai

     a / Cn 11,22

    174. Theo sách Châm Ngôn, điều tự nhiên và tốt đẹp là ghét lời sửa dạy.

    a đúng

    b sai

     b / Cn 12,1

    175. Theo sách Chân ngôn, “Lời ngay thật lưu tồn mãi mãi, lưỡi dối gian chỉ có một thời.”

    a đúng

    b sai

     a / Cn 12,19

    176. Theo sách Châm ngôn, miệng kẻ dại có …………, môi người khôn bảo vệ người khôn.

    a nọc độc chết người

    b mầm kiêu ngạo

    c lưỡi như gươm sắc

     b / Cn 14,3

    177. Theo sách Châm ngôn, lời nói khiêu khích làm ………

    a nổi cơn thịnh nộ

    b người ta hành động

    c cho dốt nát

    d tăng thêm uy tín

     a / Cn 15,1

    178. Theo sách Châm ngôn, cái gì làm hân hoan nét mặt ?

    a giàu có

    b một cây nến

    c nói sự thật

    d lòng mừng vui

     d / Cn 15,13

    179. Theo sách Châm ngôn, mái đầu bạc là …………

    a dấu hiệu của sự suy tàn

    b dấu hiệu của sự lo lắng

    c triều thiên vinh hiển

    d dấu hiệu của sự thông minh

     c / Cn 16,31

    180. Theo sách Châm ngôn, cái gì là cạm bẫy của người ngu?

    a môi miệng nó

    b sự ngu dốt của nó

    c lời hứa của nó

     a / Cn 18,7

    181. Trong sách Châm ngôn chúng ta thấy : “Nhiệt tình mà thiếu suy xét nào có ích chi, ………… ắt có khi lầm lỡ”

    a hành động kiên quyết

    b hành động đúng đắn

    c bước thong thả

    d bước vội vàng

     d / Cn 19,2

    182. Theo sách Châm Ngôn, người ta sẽ cố gắng báo thù.

    a đúng

    b sai

     b / Cn 20,22

    183. Theo sách Châm ngôn, cái gì là điểm chung của người giàu và người nghèo?

    a mặt đất

    b học thức

    c Lề luật

    d họ được Thiên Chúa tạo dựng

     d / Cn 22,2

    184. Theo sách Châm ngôn, “Ai kêu : ‘Than ôi !’ ? Ai kêu : ‘Khổ quá !’ ? Ai cứ gây gổ ? Ai phải thở than ? Ai chịu những vết thương vô lý ? Ai có đôi mắt đỏ ngầu ? Đó là kẻ nấn ná mãi …………”.

    a bên những người bạn xấu

    b ở nơi chợ búa, không chịu làm gì cả

    c xòng bạc

    d bên ly rượu, là người đi nếm đủ thứ rượu ngon

     d / Cn 23,29-30

    185. Theo sách Châm ngôn, cái gì “như rắn cắn, như nọc độc hổ mang”?

    a rượu

    b hiếu chiến

    c giận dữ

    d sự chết

     a / Cn 23,31-32

    186. Theo sách Châm ngôn, “Kẻ lừa đảo bạn bè, rồi bảo : …………, thì cũng như người giả vờ điên phóng lửa, bắn tên gây chết chóc”.

    a “Xin lỗi !”

    b “Đùa đấy thôi !”

    c “Không biết đâu !”

     b / Cn 26,18-19

    187. Theo sách Châm ngôn, “Thà nghèo mà ăn ở vẹn toàn còn hơn ………… mà sống quanh co.”

    a khỏe mạnh

    b đi lại dễ dàng

    c giàu

     c / Cn 28,6

    188. Theo sách Châm ngôn, công lý của mỗi người đều đến từ Lề Luật.

    a đúng

    b sai

     b / Cn 29,26

    189. Theo sách Châm ngôn, “Kẻ nào giương mắt chế giễu cha, và coi thường chuyện vâng lời mẹ, sẽ bị …………”

    a người đời khinh dể

    b con cái đối xử lại như vậy

    c quạ ở lũng sâu móc mắt, và bị loài diều hâu rỉa thịt

    d tất cả đều sai

     c / Cn 30,17

    190. Quyển sách nào trong bộ Thánh Kinh nói về sự phù vân, nhưng thật ra là về giá trị của đời sống con người ?

    a Gióp

    b Giảng viên

    c Huấn ca

    d Khôn ngoan

     b /

    191. Theo sách Giảng viên, không có gì tốt hơn là ………

    a ngồi phía sau và chỉ trích

    b ăn uống và hưởng những thành quảdo công lao khó nhọc mình làm ra

    c đi khỏi quê hương

    d chấp nhận cuộc sống bất công

     b / Gv 2,24

    192. Theo sách Giảng viên, “một thời để khóc lóc, một thời để vui cười, một thời để than van, một thời để …………”

    a múa nhảy

    b reo hò

    c ca hát

     a / Gv 3,4

    193. Theo sách Giảng viên, “một thời để xé rách, một thời để vá khâu, một thời để làm thinh, một thời để …………”

    a gào thét

    b chửi rủa

    c lên tiếng

     c / Gv 3,7

    194. Theo sách Giảng viên, “một thời để yêu thương, một thời để thù ghét, một thời để gây chiến, một thời để ………”

    a giết chết

    b làm hòa

    c ôm hôn

    d chữa lành

     b / Gv 3,8

    195. Theo sách Giảng viên, “Mọi sự đều đi về một nơi, mọi sự đều đến từ bụi đất, mọi sự đều trở về …………”

    a cùng Thiên Chúa

    b bụi đất

    c hư vô

     b / Gv 3,20

    196. Theo sách Giảng viên, người ta sẽ đến gần nhà của Đức Chúa với …………

    a thuế thập phân

    b lòng dũng cảm

    c lòng vâng phục

    d lòng không lo lắng

     c / Gv 4,17

    197. Theo sách Giảng viên, “………… thì hơn dầu quý, và ngày chết hơn ngày sinh.”

    a lao động

    b tiếng tốt danh thơm

    c da sạm nắng

    d bè bạn

     b / Gv 7,1

    198. Theo sách Giảng viên, sự khôn ngoan hiểu biết thì có lợi hơn, vì nó làm cho người khôn được …………

    a sống

    b hạnh phúc

    c có ý tưởng hay

    d giàu có

     a / Gv 7,12

    199. Theo sách Giảng viên, “Cơm bánh của bạn, hãy thả trên mặt nước, về lâu về dài, …………”

    a bạn sẽ được hỷ hoan

    b bạn sẽ tìm lại được

    c bạn sẽ được Đức Chúa ban nhiều gấp bảy

     b / Gv 11,1

    200. Theo sách Giảng viên, “Giữa tuổi thanh xuân, bạn hãy tưởng nhớ Đấng đã dựng nên mình. Đừng chờ cho tai ương ập tới, …………”

    a đừng chờ cho năm tháng qua đi

    b lúc đó bạn trở tay không kịp

    c và bạn sẽ không tránh khỏi

     a / Gv 12,1

    201. Sách Giảng viên có nói : “Sức mạnh là niềm tự hào của giới thanh niên, ………… là vinh dự của hàng bô lão.”

    a kinh nghiệm

    b mái đầu bạc

    c ốm đau

     b / Gv 20,29

    202. Theo sách Khôn ngoan, Thiên Chúa không làm ra …

    a bệnh tật

    b động đất

    c cái chết

    d sóng thần

     c / Kn 1,13

    203. Theo sách Khôn ngoan, không hề có ai trở về từ cõi chết.

    a đúng

    b sai

     a / Kn 2,1

    204. Theo sách Khôn Ngoan, vì đâu mà sự chết đột nhập vào thế gian?

    a sự ngu dốt

    b rủi ro

    c sự ghen tỵ của quỷ dữ

    d một kế hoạch chu đáo

     c / Kn 2,24

    205. Hình ảnh nào mà sách Khôn ngoan đã dùng để chứng minh một tâm hồn được tinh luyện?

    a gặt lúa trên cánh đồng

    b đẽo gọt viên kim cương

    c đất sét của người thợ gốm

    d vàng trong lò lửa

     d / Kn 3,6

    206. Theo sách Khôn ngoan, chết yểu là dấu hiệu mắc nhiều tội ác.

    a đúng

    b sai

     b / Kn 4,7-8

    207. Bước đầu để đạt tới sự khôn ngoan là gì?

    a kiên tâm cầu nguyện

    b thật lòng ham muốn học hỏi

    c làm việc tốt

    d chịu khó rèn luyện

     b / Kn 6,17

    208. Theo sách Khôn ngoan, điều gì làm cho người ta chiếm được sự khôn ngoan?

    a trở nên bạn hữu với Thiên Chúa

    b vương quyền

    c kính trọng người khác

    d sống lâu

     a / Kn 7,14

    209. “Từ thời trai trẻ, tôi đã yêu quý và tìm kiếm ………, tôi tìm cách cưới ……… làm bạn đời ; và vẻ đẹp của ……… làm tôi say đắm.”

    a Nàng

    b đoá hoa đẹp

    c Đức Khôn Ngoan

     c / Kn 8,2

    210. Theo sách Khôn ngoan, “Ý định làm ra các tượng thần là đầu mối của tội bất trung. Sáng chế ra tượng thần là làm cho cuộc đời …………”

    a tăng thêm cạm bẫy

    b hư hỏng

    c tàn tạ

    d thêm rối ren

     b / Kn 14,12

    211. Theo sách Huấn ca, nếu bạn mộ mến khôn ngoan, bạn sẽ làm gì ?

    a bảo vệ môi sinh

    b sống tốt

    c sống hài hòa với mọi người

    d tuân giữ các giới răn

     d / Hc 1,26

    212. Sách Huấn ca quả quyết mạnh mẽ rằng kẻ làm con phải luôn luôn …………

    a nghỉ ngơi thoải mái

    b phục vụ các bậc sinh thành

    c ăn những thức ăn bổ dưỡng

     b / Hc 3,7

    213. Theo sách Huấn ca, chúng ta không có bổn phận phải giúp đỡ những người nghèo khó và túng thiếu.

    a đúng

    b sai

     b / Hc 4,3-5

    214. Theo sách Huấn ca, cái gì làm tăng thêm tình bạn?

    a đề phòng nhau

    b hiểu biết nhau

    c ăn nói dịu dàng

    d tha thứ

     c / Hc 6,5

    215. Sách Huấn ca đã khuyên chúng ta đón nhận điều gì ngay từ độ thanh xuân?

    a thú nhồi bông

    b thật nhiều bạn bè

    c lời giáo huấn

    d những thời khắc vui vẻ

     c / Hc 6,18

    216. Theo sách Huấn ca, không được từ chối điều gì ngay cả đối với người đã chết?

    a làm ơn

    b âm nhạc

    c khoan dung

    d đồ ăn và thức uống

     a / Hc 7,33

    217. Theo sách Huấn ca, đầu mối của tội lỗi là gì ?

    a tinh thần khép kín

    b giàu sang

    c kiêu căng

    d tinh thần trống rỗng

     c / Hc 10,13

    218. Theo sách Huấn ca, “đừng khen một người đàn ông vì người ấy đẹp và đừng gớm ghét ai vì …………”

    a họ giàu sang

    b vẻ bên ngoài

    c lời nói

    d họ thông minh

     b / Hc 11,2

    219. Sách Huấn ca nói rằng dấu hiệu nhận ra cái tốt cái xấu là gì ?

    a việc giúp đỡ

    b lời nhận xét

    c cách cho đi

    d sắc mặt thay đổi

     d / Hc 13,25

    220. Theo sách Huấn ca, của cải không cần cho ai?

    a người nghèo

    b kẻ tiểu nhân

    c người giàu

    d người già cả

     b / Hc 14,3

    221. Theo Sách Huấn Ca, quy luật muôn đời là gì ?

    a dậäy sớm sẽ mắc phải bệnh giun

    b yêu người thân cận

    c mọi người đều phải chết

    d mắt đền mắt

     c / Hc 14,17

    222. Theo sách Huấn ca, mỗi người sẽ lãnh nhận điều mà mình …………

    a mong muốn

    b coi là mục đích

    c đã làm

    d cần thiết

     c / Hc 16,14

    223. Theo sách Huấn ca, cái gì là con ngươi mắt Chúa ?

    a ân đức của chúng ta

    b tài năng của chúng ta

    c nhân cách của chúng ta

    d dáng vẻ của chúng ta

     a / Hc 17,22

    224. Sách Huấn ca nói rằng bạn có thể nhận xét về một người qua …………

    a lời nói

    b dáng vẻ

    c tài năng

    d thế giá gia đình

     b / Hc 19,29

    225. Theo sách Huấn ca, làm thế nào mà người ta có thể gây được thiện cảm?

    a nói về tài năng của người mình đối thoại

    b nói ít

    c nói thẳng

    d làm việc chăm chỉ

     b / Hc 20,13

    226. Theo sách Huấn ca, lời cầu khẩn của ai được nhận lời ngay lập tức ?

    a người nghèo

    b nhà vua

    c tư tế

    d người giàu

     a / Hc 21,5

    227. Theo sách Huấn ca, lời khôn ngoan ở trong ………… con người.

    a tư tưởng

    b đầu óc

    c sách vở

    d hành động

     b / Hc 21,26

    228. Theo sách Huấn ca, người đã quen ………… thì suốt đời không ai sửa dạy nổi.

    a đánh nhau

    b phá phách

    c nói những lời nhục mạ

    d rượu chè

     c / Hc 23,15

    229. Đức Chúa lấy làm vui thích khi …………

    a vợ chồng ý hợp tâm đầu

    b láng giềng thân thiết

    c anh em hòa thuận

    d tất cả những điều trên

     d / Hc 25,1

    230. Theo sách Châm ngôn, cái gì giống như quả táo vàng trên đĩa bạc chạm trổ?

    a kệ sách

    b lời nói ra đúng lúc đúng thời

    c trái cấm

    d hoa tai

     b / Hc 25,11

    231. Theo sách Huấn ca, cái gì bạn có thể đạt tới nếu bạn cố gắng theo đuổi nó?

    a sức mạnh

    b danh tiếng

    c sự công chính

    d giàu sang

     c / Hc 27,8

    232. Sách Huấn ca nói rằng đáng nguyền rủa thay ……… gây chia rẽ giữa bao người đang hòa thuận.

    a kẻ nói xấu, nói hành, kẻ nói lời hai ý

    b kẻ tội lỗi

    c kẻ hiếu chiến

     a / Hc 28,13

    233. Theo sách Huấn ca, cái gì đem lại cho con người thêm sức sống nếu biết điều độ ?

    a công việc

    b của cải

    c rượu

    d lời ca tụng

     c / Hc 31,27

    234. Theo sách Huấn ca, cái gì làm cho người ta thêm lanh lợi tháo vát?

    a lề thói hằng ngày

    b thực phẩm

    c bôn ba

    d rượu

     c / Hc 34,10

    235. Theo sách Huấn ca, ai là người hiểu biết nông cạn?

    a người chưa từng trải

    b người không bao giờ du lịch

    c người không hề đọc sách báo

    d người có ít bạn bè

     a / Hc 34,10

    236. Theo sách Huấn ca, ai không bao giờ sợ hãi?

    a người mạnh mẽ

    b người có quyền sở hữu

    c người kính sợ Đức Chúa

    d người giàu có

     c / Hc 34,14

    237. Theo sách Huấn ca, ai là người dâng lễ đền tội thực sự?

    a người thinh lặng rút lui

    b người xa tránh bất công

    c người làm ra tượng thần

     b / Hc 35,3

    238. Theo sách Huấn ca, Thiên Chúa sẽ trả lại cho sự quảng đại của bạn gấp bao nhiêu lần?

    a hai lần

    b bảy lần

    c bốn lần

    d ba lần

     b / Hc 35,10

    239. Theo sách Huấn ca, nghề nghiệp nào làm tăng thêm sự khôn ngoan?

    a phu khuân vác

    b kinh sư

    c nông dân

    d thợ chạm trổ

     b / Hc 38,24

    240. Thiên Chúa nói với ngôn sứ I-sai-a : “Hãy đến đây, ……”

    a ta cùng nhau tranh luận

    b ta cùng nhau dự tiệc

    c ta cùng lên núi Chúa

     a / Is 1,18

    241. “Đức Chúa phán : vì các con gái Xi-on kiêu kỳ, chúng vừa đi vừa vênh mặt, liếc mắt, chúng bước đi nhún nhảy, khua kiềng đeo chân, nên Chúa Thượng sẽ làm cho con gái Xi-on ghẻ chốc đầy đầu, …”, được viết trong sách nào?

    a Na-khum

    b Gia-ca-ri-a

    c Giê-rê-mi-a

    d I-sai-a

     d / Is 3,16-17

    242. I-sai-a đã báo trước rằng thành ………… sẽ thành một đống đổ nát.

    a Đa-mát

    b Ni-ni-vê

    c Ba-by-lon

     a / Is 17,1

    243. Làm thế nào Thiên Chúa đặt lời của Người vào miệng ngôn sứ Giê-rê-mi-a?

    a đưa tay chạm vào miệng ông

    b đưa cho ông một cuộn sách để ăn

    c đặt cục than cháy đỏ vào miệng ông

     a / Gr 1,9

    244. Ngôn sứ là ai?

    a là người giải thích các ngôi sao

    b là phát ngôn viên của Thiên Chúa

    c là người tiên đoán tương lai

     b / Gr 1,9 ; Xh 4,15-16 ; 7,1

    245. Sứ điệp then chốt của tất cả các ngôn sứ là gì?

    a sự phá hủy và kết án

    b sự ca tụng và vui mừng

    c sự ăn năn hối cải

    d tất cả đều sai

     c /

    246. Một vị ngôn sứ đích danh phải từ bỏ …………

    a ý riêng

    b sự ganh đua với các ngôn sứ khác

    c sự giàu có

    d tất cả những điều trên

     a /

    b các tư tế và các ngôn sứ khác

    c những người đau khổ và bị ruồng bỏ

    d tất cả những câu trên

     c /

    248. Sách ngôn sứ nào ngắn nhất trong Thánh Kinh Cựu Ước?

    a Giô-en

    b A-mốt

    c Ô-va-đi-a

    d Giô-na

     c /

    249. Những lời của một ngôn sứ chỉ có ý nghĩa vào thời mà ngôn sứù đó sống.

    a đúng

    b sai

     b /

    250. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a cầu xin Chúa : “Lạy Đức Chúa, xin chữa lành con, để con được chữa lành ; xin cứu thoát con, để con …………”

    a còn có thể tuyên sấm cho dân

    b còn mở miệng ca tụng Ngài

    c được cứu thoát

    d để quân thù khỏi khinh thường danh Chúa

     c / Gr 17,14

    251. Giê-rê-mi-a nhắc lại lời Thiên Chúa hứa rằng Giê-ru-sa-lem sẽ bị một nước cai trị trong bảy năm, sau đó nước này sẽ bị tiêu diệt. Đó là nước nào ?

    a Át-sua

    b Ba-by-lon

    c Ai-cập

     b / Gr 25,9-12

    252. Sách Ê-dê-ki-en mở đầu nói về vị ngôn sứ bị lưu đày trong xứ Kan-đu, bên sông ………..

    a Nin

    b Tic-ri

    c Cơ-va

     c / Ed 1,1

    253. Thiên Chúa đã hỏi ngôn sứ Ê-dê-ki-en về những bộ xương khô trong thung lũng : “Hỡi con người, liệu các bộ xương này ………… ?”

    a có còn tồn tại mãi không

    b có hồi sinh được không

    c có còn nhận ra xương của người nào không

     b / Ed 27,3

    254. Thiên Chúa bảo ngôn sứ Ê-dê-ki-en nói tiên tri chống lại những kẻ chăn dắt Ít-ra-en vì họ chỉ lo cho bản thân mà không lo cho dân.

    a đúng

    b sai

     a / Ed 34,1-5

    255. Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo mơ thấy hình một cái đầu bằng vàng, hai tay bằng bạc và bụng bằng đồng.

    a đúng

    b sai

    ? a / Đn 2,28-32

    256. Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo đã ném Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô vào lò đang cháy rừng rực vì họ từ chối không cúi lạy thờ phượng một ngẫu tượng, nhưng lửa đã không làm hại được họ.

    a đúng

    b sai

    ? a / Đn 3,14-30

    257. Những người bạn của Đa-ni-en bị nhà vua giết.

    a đúng

    b sai

    ? b / Đn 3,26-27 (93-94)

    258. Ngôn sứ Đa-ni-en đã thuần phục được sư tử.

    a đúng

    b sai

    ? a / Đn 6

    259. Tức giận vì việc ngôn sứ Đa-ni-en cầu nguyện với Thiên Chúa, vua Đa-ri-ô, người cai trị Ba-by-lon, đã ra lệnh ném ngôn sứ Đa-ni-en vào hầm sư tử.

    a đúng

    b sai

    ? b / Đn 6,12-16

    260. Vì lý do nào ngôn sứ Đa-ni-en bị bỏ vào hầm sư tử ?

    a ông chống đối nhà vua

    b ông giết con rắn lớn mà dân Ba-by-lon sùng bái

    c ông trốn về quê hương

    ? b / Đn 14,23-32

    261. Ngôn sứ Đa-ni-en đang ở trong hầm sư tử thì Thiên sứ của Đức Chúa sai một người đem thức ăn đến cho ông. Người ấy là ai ?

    a Kha-na-nia

    b A-da-ri-a

    c Kha-ba-cúc

    d Mi-sa-en

    ? c / Đn 14,33-39

    262. Sau bảy ngày, nhà vua đến hầm sư tử để khóc Đa-ni-en, nhưng nhà vua thấy ông đang ngồi đó, nhà vua liền ca ngợi Thiên Chúa của Đa-ni-en.

    a đúng

    b sai

    ? a / Đn 14,40-41

    263. Ngôn sứ Hô-sê đã dùng hình ảnh nào để diễn tả mối quan hệ giữa Thiên Chúa và dân Ít-ra-en ?

    a người bạn thân

    b người mục tử và đàn chiên

    c hôn nhân

    d hợp đồng kinh doanh

     c /

    264. Bi kịch nào ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời ngôn sứ của ngôn sứ Hô-sê ?

    a cái chết của con trai

    b bệnh phong cùi

    c chứng nghiện rượu

    d bị vợ phản bội

     d /

    265. Ngôn sứ Hô-sê đã cưới ai làm vợ ?

    a Rút

    b Gô-me

    c Giu-đi-tha

     b / Hs 1,2-3

    266. Theo sách ngôn sứ Hô-sê, các tư tế đã không lo hướng dẫn dân chúng mà còn đi vào con đường truỵ lạc.

    a đúng

    b sai

     a / Hs 4,4-19

    267. Ngôn sứ Hô-sê đã nguyền rủa các tư tế bằng câu nói : “Vì thiếu ………… mà dân Ta bị tiêu vong.”

    a hy sinh

    b thực phẩm

    c phúc lành

    d hiểu biết

     d / Hs 4,6

    268. Ngôn sứ Hô-sê đã nhắm vào ai khi ông nói : “Chúng có ăn, nhờ dân Ta phạm tội, chúng thích thú, khi dân Ta lỗi lầm !”

    a hàng tư tế

    b dân Ca-na-an ngoại đạo

    c các nhà chính trị

     a / Hs 4,8

    269. Ngôn sứ Hô-sê cảnh cáo : “Chúng gieo gió thì phải gặt …………”

    a nhiều lợi ích

    b bão

    c được mùa màng bội thu

    d hoa trái

     b / Hs 8,7

    270. Theo sách ngôn sứ Hô-sê, Đức Chúa sẽ báo oán cho tình yêu bị Ít-ra-en khước từ : “Gươm đao sẽ lại hoành hành trong các thành của nó, ………… và ngốn sạch con cái nó, vì chúng có những ý đồ xấu xa.”

    a sẽ làm cỏ

    b sẽ thiêu hủy

    c sẽ đập nát

    d sẽ cày xới

     a / Hs 11,6

    271. Ngôn sứ Hô-sê tuyên bố rằng đứa ngoại tình Ít-ra-en sẽ bị hủy diệt.

    a đúng

    b sai

     b / Hs 11,8-9

    272. Theo sách ngôn sứ Giô-en, “Ngày của Đức Chúa” như thế nào?

    a ngày thinh lặng và thanh thản

    b ngày tối tăm u ám và mây mù tối đen

    c ngày đầy hoan hỉ

     b / Ge 2,1-2

    273. Qua ngôn sứ Giô-en, Thiên Chúa đã hứa rằng : “Con trai con gái các ngươi sẽ trở thành ngôn sứ, người già được báo mộng, thanh niên …………

    a sẽ tuyên sấm ngay giữa hội đường

    b thấy thị kiến

    c sẽ cùng vui ca

     b / Ge 3,1

    274. Theo sách ngôn sứ Giô-en, cánh đồng Giê-hô-sa-phát có ý nghĩa gì ?

    a nơi xét xử cuối cùng

    b nơi dành cho những người phong cùi

    c nơi đày ải

    d nơi an nghỉ

     a / Ge 4,2

    275. Ngôn sứ A-mốt gọi những người đàn bà giàu có ở Ít-ra-en là gì ?

    a mụ bò cái xứ Ba-san

    b mụ phù thủy

    c mụ chằn tinh

    d sư tử cái

     a / Am 4,1

    276. Theo ngôn sứ A-mốt, ngày của Đức Chúa sẽ xảy ra thế nào cho dân Ít-ra-en?

    a một ngày đầy hy vọng

    b một ngày tối tăm

    c một ngày đầy tuyệt vọng

    d một ngày tràn ngập ánh sáng

     b / Am 5,18

    277. Ngôn sứ A-mốt quở trách những nhà cầm quyền là gì?

    a tụi ăn không ngồi rồi

    b bè lũ quân phè phỡn

    c ngồi mát ăn bát vàng

     b / Am 6,7

    278. Tư tế đền thờ Bết Ên đã đuổi ngôn sứ A-mốt. Tư tế ấy tên là gì?

    a Men-ki-sê-đê

    b Ê-dê-ki-en

    c Da-ca-ri-a

    d A-mát-gia

     d / Am 7,12-13

    279. Ngôn sứ A-mốt báo trước hình phạt vào ngày của Chúa: “Ngày ấy, ………… sẽ vì khát mà ngất xỉu.”

    a cụ ông cụ bà

    b nam thanh nữ tú

    c các trẻ thơ măng sữa

    d các ca sĩ

     b / Am 8,13

    280. Ngôn sứ A-mốt có năm thị kiến : một là châu chấu ; hai là hạn hán ; ba là dây dọi ; bốn là giỏ trái cây mùa hạ và năm là …………

    a cành cây mùa đông

    b lá cây mùa thu

    c Đền Thờ bị sụp đổ

    d Giê-ru-sa-lem thái bình

     c / Am 9,1-4

    281. Ngôn sứ Ô-va-đi-a đã thúc giục dân mình cố gắng trả thù chống lại dân lân bang nào?

    a Phi-li-tinh

    b Ê-đom

    c Mô-áp

    d Tia

     b / Ov 1,1-8

    282. Theo sách Ô-va-đi-a, nhà nào sẽ còn tồn tại?

    a nhà Gia-cóp

    b nhà Ca-na-an

    c nhà Ê-xau

    d nhà Ê-đom

     a / Ov 17-18

    283. Ngôn sứ Giô-na đã không vâng lời Thiên Chúa.

    a đúng

    b sai

     a / Gn

    284. Trước khi bị quăng xuống biển, ông Giô-na xin được cầu nguyện một lúc.

    a đúng

    b sai

     b / Gn 1,12-15

    285. Dân thành Ni-ni-vê có phản ứng thế nào đối với lời giảng của ngôn sứ Giô-na?

    a họ đã tin và từ bỏ con đường tội lỗi

    b họ đã xua đuổi ngôn sứ Giô-na

    c họ đã đánh đập ngôn sứ Giô-na

    d họ đã nhạo cười ngôn sứ Giô-na

     a / Gn 3,5-10

    286. Thiên Chúa đã hủy diệt thành Ni-ni-vê sau khi ngôn sứ Giô-na rao giảng ở đó.

    a đúng

    b sai

     b / Gn 3,10

    287. Sau khi không thấy thành Ni-ni-vê bị phá hủy, ngôn sứ Giô-na đã nổi giận với Đức Chúa.

    a đúng

    b sai

     a / Gn 4,1-11

    288. Ngoài thành Giê-ru-sa-lem ra, thành nào mà ngôn sứ Mi-kha kết án sự tội lỗi của nó?

    a Ba-by-lon

    b Sa-ma-ri-a

    c Ni-ni-vê

    d Bê-lem

     b / Mk 1,5-7

    289. Ai đã tiên báo rằng Xi-on sẽ bị cày xới như thửa ruộng?

    a Gia-ca-ri-a

    b Hô-sê

    c Mi-kha

    d Ê-li-a

     c / Mk 3,12

    290. Khi vua Hê-rô-đê hỏi các thượng tế và kinh sư xem Đấng Mê-si-a sinh ra tại đâu, họ đã trả lời tại Be-lem. Họ dựa vào đâu?

    a sách ngôn sứ I-sai-a

    b sách ngôn sứ Xô-phô-ni-a

    c sách ngôn sứ Mi-kha

    d sách ngôn sứ Hô-sê

     c / Mk 5,1

    291. Vị đại ngôn sứ nào sống cùng thời với ngôn sứ Mi-kha?

    a Ê-li-a

    b Ê-dê-ki-en

    c Giê-rê-mi-a

    d I-sai-a

     d /

    292. Ngôn sứ Na-khum đã tuyên sấm thành nào sẽ bị tàn phá?

    a Giê-ru-sa-lem

    b Mô-áp

    c Sa-ma-ri-a

    d Ni-ni-vê

     d / Nk 1,1

    293. Theo sách ngôn sứ Na-khum, “Đức Chúa ghen tương và báo oán, Đức Chúa là Đấng báo oán : Người nổi cơn lôi đình, Đức Chúa báo oán những kẻ thù địch, những kẻ thù của Người,…”

    a Người đuổi xa khuất mắt

    b Người tỏ lòng oán hận

    c Người tỏ lòng xót thương

     b / Nk 1,2

    294. Ngôn sứ Na-khum gọi Át-sua là con gì ?

    a sư tử

    b chó sói

    c quạ đen

    d diều hâu

     a / Nk 2,12-14

    295. Ngôn sứ nào đã kêu cầu Đức Chúa giải thích việc Người cai quản thế giới ?

    a Khác-gai

    b Kha-ba-cúc

    c Na-khum

    d Da-ca-ri-a

     b / Kb 1,2 – 2,1

    296. Theo sách ngôn sứ Xô-phô-ni-a, ai sẽ thoát khỏi sự tàn phá vào ngày của Đức Chúa ?

    a nhà vua

    b số sót trong dân Ít-ra-en

    c hàng tư tế

    d cư dân ở Giê-ru-sa-lem

     b / Xp 3,12-13

    297. “Kìa đức vua của ngươi đang đến với ngươi : Người là Đấng chính trực, Đấng toàn thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ.” Câu này ở trong sách nào?

    a Xô-phô-ni-a

    b Mi-kha

    c I-sai-a

    d Da-ca-ri-a

     d / Dcr 9,9

    298. Ngôn sứ nào tiên báo Đấng Mê-si-a “khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” ?

    a Ê-dê-ki-en

    b Da-ca-ri-a

    c Mi-kha

    d I-sai-a

     b / Dcr 9,9

    299. Theo sách ngôn sứ Ma-la-khi, ai sẽ trở lại trước ngày của Đức Chúa ?

    a ngôn sứ Ê-li-sa

    b ông Mô-sê

    c ngôn sứ Ê-li-a

    d vua Đa-vít

     c / Ml 3,23

    TÂN ƯỚC 300. Mừng nào thường được coi là văn phẩm Ki-tô giáo được viết sớm nhất ?

    a Lu-ca

    b Mác-cô

    c Mát-thêu

    d Gio-an

     c /

    301. Tin Mừng nào bắt đầu bằng gia phả của Đức Giê-su ?

    a Gio-an

    b Mác-cô

    c Lu-ca

    d Mát-thêu

     d / Mt 1,1-17

    302. Theo Tin Mừng Lu-ca, có ba nhà thông thái phương Đông đến thăm Đức Giê-su.

    a đúng

    b sai

     b / Mt 2,1-12

    303. Tại sao thánh Giu-se phải mang Đức Ma-ri-a và trẻ Giê-su trốn qua Ai-cập ?

    a vì được thiên thần báo là vua Hê-rô-đê đang tìm giết hài nhi

    b vì quê quán của thánh Giu-se ở bên Ai-cập

    c vì muốn cho trẻ Giê-su mai sau được làm tể tướng như ông Giu-se ngày xưa

     a / Mt 2,13

    304. Thánh Phê-rô nói : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến.”

    a đúng

    b sai

     b / Mt 3,1-2

    305. Ông Gio-an Tẩy Giả đã làm phép rửa cho dân chúng ở sông Gio-đan.

    a đúng

    b sai

     a / Mt 3,1.6

    306. Thiên Chúa có bao giờ nói rằng Đức Giê-su là Con Yêu Dấu của Người không ?

    a có

    b không

    ? a/ Mt 3,17 ; Mc 9,7 ; Lc 9,35

    307. Vài người trong các tông đồ là …………

    a nông dân

    b ngư phủ

    c thương gia

     b / Mt 4,18

    308. Đức Giê-su nói rằng người đàn ông chỉ nhìn phụ nữ mà có ý ham muốn là đã ngoại tình trong tư tưởng rồi.

    a đúng

    b sai

     a / Mt 5,28

    309. Đức Giê-su dạy các môn đệ phải bố thí cách kín đáo.

    a đúng

    b sai

     a / Mt 6,1-4

    310. Đức Giê-su dạy rằng phải cầu nguyện nơi đám đông để mọi người nhìn thấy và nhận ra anh em là người đạo đức.

    a đúng

    b sai

     b / Mt 6,6

    311. Đức Giê-su dạy các môn đệ ăn chay phải làm ra vẻ thiểu não để cho người ta nhận thấy.

    a đúng

    b sai

     b / Mt 6,16-18

    312. Tin Mừng Mát-thêu có chép kinh Lạy Cha.

    a đúng

    b sai

     a / Mt 6,7-13

    313. Kinh Lạy Cha được ghi lại trong Tin Mừng Mát-thêu và Tin Mừng Lu-ca.

    a đúng

    b sai

     a / Mt 6,9-13 ; Lc 11,2-4

    314. “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy ………… “

    a bắt chước người ta

    b tha thứ cho người ta trước

    c làm cho người ta

     c / Mt 7,12

    315. Theo Đức Giê-su, cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu.

    a đúng

    b sai

     a / Mt 7,17

    316. “Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai.” Ai nói ?

    a thánh Phê-rô

    b thánh Phao-lô

    c thánh Gio-an Tẩy Giả

    d Đức Giê-su

     d / Mt 7,20

    317. Đức Giê-su chữa khỏi mọi căn bệnh trừ ra bệnh cùi.

    a đúng

    b sai

     b / Mt 8,3

    318. Viên đại đội trưởng nói gì với Chúa Giê-su sau khi Chúa đồng ý tới chữa bệnh cho người đầy tớ của ông ?

    a “Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi……”

    b “Cám ơn Ngài”

    c “Thưa Ngài, Ngài có những lời ban sự sống đời đời”

     a / Mt 8,8

    319. Mẹ vợ của ai đã được Đức Giê-su chữa cho khỏi bệnh?

    a Gio-xép

    b Gio-an

    c Phê-rô

    d Ni-cô-đê-mô

     c / Mt 8,14-18

    320. Khi có một môn đệ xin về chôn cất cha rồi mới đến theo Người, Đức Giê-su bảo : “Anh hãy đi theo tôi, cứ để ……… chôn ……… của họ.”

    a kẻ chết

    b người thân

    c phàm nhân

     a / Mt 8,22

    321. Đức Giê-su đã làm điều gì khác cho người bại liệt ngoài việc chữa khỏi bệnh ?

    a tha tội cho anh ta

    b biến anh ta thành môn đệ

    c cho anh ta một ít tiền

    d tất cả đều sai

     a / Mt 9,1-8

    322. Khi hỏi Đức Giê-su, các môn đệ của Gio-an Tẩy Giả đã quan tâm đến vấn đề gì ?

    a Đấng Mê-si-a thật

    b ngày tận thế

    c việc nộp thuế

    d việc ăn chay

     d / Mt 9,14

    323. “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại …………”

    a đau yếu

    b ít

    c nhiều

    d quá chậm chạp

     b / Mt 9,37

    324. Khi Đức Giê-su giảng dạy các dụ ngôn ở bờ biển, Người ngồi ở đâu ?

    a trên thuyền

    b trên một tảng đá cao

    c trên một cành cây

     a / Mt 13,2 ; Mc 14,1

    325. Đức Giê-su đã từng đi bộ trên mặt nước để qua sông Gio-đan.

    a đúng

    b sai

     b / Mt 14,22-33 ; Mc 6,45-52 ; Ga 6,16-21

    326. Vào lúc Đức Giê-su biến hình, vị đại ngôn sứ nào hiện ra với Người ?

    a Giê-rê-mi-a

    b Ê-li-a

    c I-sai-a

     b / Mt 17,3

    327. “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời …………”

    a là nước của trẻ em

    b cửa rất hẹp, chỉ trẻ em mới chui lọt

    c là của những ai giống như chúng

    d đang cần có nhiều trẻ em

     c / Mt 19,14

    328. Đức Giê-su nói với thánh Phê-rô : “Phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp.”

    a đúng

    b sai

     a / Mt 19,29

    329. Đức Giê-su không bao giờ giận dữ.

    a đúng

    b sai

     b / Mt 21,12

    330. Đức Giê-su đói và đến tìm trái ở một cây bên vệ đường nhưng nó không có trái, Đức Giê-su nguyền rủa nó và nó héo khô. Đó là cây gì ?

    a cây nho

    b cây lựu

    c cây cải

    d cây vả

     d / Mt 21,18-19

    331. Khi người ta hỏi Đức Giê-su điều răn nào quan trọng nhất, Người đã trả lời : “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”.

    a đúng

    b sai

     b / Mt 22,36-39 ; Mc 12,28

    332. Theo lời Đức Giê-su trích dẫn, điều răn yêu mến tha nhân được đặt trước điều răn yêu mến Thiên Chúa.

    a đúng

    b sai

     b / Mt 22,37-39 ; Mc 12,29-31

    333. Trong dụ ngôn mười người trinh nữ, tại sao có năm cô bị cho là khờ dại ?

    a mang đèn mà không mang dầu theo

    b mang đèn nhưng đèn không có tim

    c đèn quá nhỏ không đủ sáng

     a / Mt 25,1-3

    334. Giu-đa đã dùng dấu hiệu nào để chỉ Đức Giê-su cho những người đến bắt Người ?

    a bắt tay

    b nháy mắt

    c hôn

     c / Mt 26,4-49

    335. Theo Đức Giê-su, tại sao việc bà Ma-ri-a thành Bê-ta-ni-a lấy dầu đắt tiền xức cho Người lại là một việc làm tốt hơn là bán nó, lấy tiền cho kẻ nghèo khó ?

    a vì Đức Giê-su yêu thương bà ta hơn ông Giu-đa

    b vì Đức Giê-su chỉ còn ở thế gian một thời gian ngắn

    c vì Đức Giê-su thích xức dầu thơm

     b / Mt 26,6-11 ; Mc 14,3-7 ; Ga 12,1-8

    336. “Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu.” Giu-đa Ít-ca-ri-ốt nói với ai ?

    a các luật sĩ

    b nhóm Biệt phái

    c các thượng tế

    d nhóm Pha-ri-sê

     c / Mt 26,14-15

    337. Đức Giê-su lâm cơn hấp hối ở khu vườn nào ?

    a Gio-sê-man

    b ở núi Xi-nai

    c Ê-đen

    d Ghết-sê-ma-ni

     d / Mt 26,36

    338. Vị thượng tế nào đã kết án Đức Giê-su nói phạm thượng?

    a Phi-la-tô

    b Cai-pha

    c Hê-rô-đê

    d An-na

     b / Mt 26,57-65

    339. Theo Tin Mừng Mát-thêu, Giu-đa Ít-ca-ri-ốt không chịu trả lại tiền hối lộ hắn đã nhận để nộp Đức Giê-su. Hắn còn nói: “Bộ chính Thiên Chúa đã ra lệnh như vậy sao ?”

    a đúng

    b sai

     b / Mt 27,3

    340. Quân lính đã làm gì để chế nhạo Đức Giê-su là vua dân Do-thái ?

    a đưa giấm cho Người uống

    b đổ dầu lên đầu Người

    c làm cho Người một vương miện bằng gai

    d tất cả những điều trên

     c / Mt 27,29

    341. “Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung đá vỡ”. Tại sao ?

    a vì Đức Giê-su chết

    b vì Giu-đa Ít-ca-ri-ốt tức quá nên đập phá Đền Thờ

    c vì có một núi phun lửa hoạt động

     a / Mt 27,50-51

    342. Tại sao các thượng tế và những người Pha-ri-sêu lại yêu cầu ông Phi-la-tô cho canh gác mộ Đức Giê-su ?

    a vì họ sợ các môn đệ Đức Giê-su lấy cắp xác rồi phao tin Người sống lại

    b vì họ sợ dân chúng nổi loạn

    c vì một số phụ nữ cứ đòi vào trong mộ Đức Giê-su

    d vì các tông đồ đòi mang đi mai táng chỗ khác

     a / Mt 27,62-64

    343. “Ông ấy bị quỷ vương Bê-en-dê-bun ám và ông dựa vào thế quỷ vương mà trừ quỷ.” Các kinh sư Giê-ru-sa-lem nói về ai ?

    a Đức Giê-su

    b Đức Giáo Hoàng

    c thánh Phao-lô

     a / Mc 3,7.22

    344. Đức Giê-su đầy uy quyền ngay cả gió và biển cũng vâng lệnh Người.

    a đúng

    b sai

     a / Mc 4,39

    345. Sau khi đuổi lũ quỷ ra khỏi người đàn ông ở Ghê-ra-sa, người bảo anh ta phải giữ im lặng.

    a đúng

    b sai

     b / Mc 5,19

    346. Khi nghe danh tiếng Đức Giê-su, vua Hê-rô-đê cho là ông Gio-an Tẩy Gia đã sống lại.

    a đúng

    b sai

     a / Mc 6,14-16

    347. Đức Giê-su báo trước rằng Người sẽ bị giết.

    a đúng

    b sai

     a / Mc 8,31

    348. “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại.” Ai nói ?

    a Đức Giê-su

    b thánh Gio-an Tẩy Giả

    c ông Ni-cô-đê-mô

    d thánh Phê-rô

     a / Mc 9,31

    349. Theo Mác-cô, khi Đức Giê-su bẻ bánh trong Bữa Tiệc Ly, Người nói những gì ?

    a “Hãy đi và làm như vậy”

    b “Đây là man-na từ trời xuống”

    c “Anh em hãy cầm lấy, đây là Mình Thầy”

     c / Mc 14,22

    350. Thánh Phê-rô đã ở với Đức Giê-su suốt phiên tòa xử Người.

    a đúng

    b sai

     b / Mc 14,54

    351. Sau khi phục sinh, Đức Giê-su đã hiện ra với cô Ma-ri-a Mác-đa-la đầu tiên.

    a đúng

    b sai

     a / Mc 16,9 ; Ga 20,1.11-18

    352. Bà Ê-li-sa-bét nói : “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”.

    a đúng

    b sai

     b / Lc 1,26-28

    353. Ai đã đặt tên cho Đức Giê-su ?

    a thánh Giu-se và mẹ Ma-ri-a

    b bà Ê-li-sa-bét

    c ông Si-mê-on ở Đền Thờ

    d thiên thần Gáp-ri-en

     d / Lc 1,31 ; 2,21

    354. Khi ông Gio-an Tẩy Giả ra đời, mẹ ông nói phải đặt tên ông là Gio-an.

    a đúng

    b sai

     a / Lc 1,59-60

    355. “Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết.” Ai nói ?

    a mấy người chăn chiên

    b thiên sứ

    c Đức Giê-su

    d thánh Phi-líp-phê

     a / Lc 2,15

    356. Theo Tin Mừng Lu-ca, lúc mới sinh, Đức Giê-su được tiến dâng cho Thiên Chúa ở đâu ?

    a Ai-cập

    b sa mạc

    c Na-da-rét

    d Giê-ru-sa-lem

     d / Lc 2,22

    357. Lúc Đức Giê-su lên mười hai tuổi, Người lên Giê-ru-sa-lem để mừng lễ Vượt Qua. Lễ xong, Người không về mà ở lại Đền Thờ. Sau mấy ngày thánh Giu-se và Đức Ma-ri-a mới tìm thấy ?

    a ba ngày

    b bốn ngày

    c bảy ngày

    d hai ngày

     a / Lc 2,46

    358. Ông Gio-an Tẩy Giả khởi sự rao giảng vào năm thứ hai mươi triều hoàng đế Ti-bê-ri-ô.

    a đúng

    b sai

     b / Lc 3,1-3

    359. Khi khởi sự rao giảng, Đức Giê-su trạc bao nhiêu tuổi ?

    a 21 tuổi

    b 35 tuổi

    c 30 tuổi

    d 25 tuổi

     c / Lc 3,23

    360. Đức Giê-su nói : “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình”.

    a đúng

    b sai

     a / Lc 4,24

    361. Theo Lu-ca, việc Đức Giê-su lên trời được thực hiện ở đâu ?

    a tại Bê-ta-ni-a

    b bên ngoài thành Giê-ru-sa-lem

    c tại Đền Thờ

     a / Lc 4,50

    362. Cả những người phạm tội công khai, Đức Giê-su cũng tiếp đón.

    a đúng

    b sai

     a / Lc 7,37-50

    363. Người Pha-ri-sêu hài lòng về việc Đức Giê-su tha tội.

    a đúng

    b sai

     b / Lc 7,48-49

    364. Người Pha-ri-sêu tán đồng việc Đức Giê-su tha tội.

    a đúng

    b sai

     b / Lc 7,48-49

    365. Những ai thực sự thuộc về gia đình Đức Giê-su ?

    a những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành

    b các tông đồ

    c mười hai tông đồ và bảy mươi hai môn đệ

     a / Lc 8,21

    366. Theo Tin Mừng Lu-ca, thế giới bên dưới là gì ?

    a luyện ngục

    b nhà tù

    c âm phủ

    d một thế giới khác với thiên đàng

     c / Lc 10,15

    367. Dụ ngôn nào kể về câu chuyện một người cứu một người bị bọn cướp lấy hết của cải và đánh đập ?

    a người Sa-ma-ri-a nhân hậu

    b người quản gia trung tín

    c người mục tử tốt lành

     a / Lc 10,33-34

    368. Đức Giê-su nói rằng Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất bởi vì cô ngồi bên chân Chúa và nghe lời Người dạy.

    a đúng

    b sai

     a / Lc 11,38-42

    369. Người Pha-ri-sêu cho rằng chữa bệnh vào ngày Sa-bát là vi phạm Lề Luật.

    a đúng

    b sai

     a / Lc 14,3-5

    370. Ông Da-kêu giàu hay nghèo ?

    a giàu

    b nghèo

     a / Lc 19,2

    371. Tiến vào Giê-ru-sa-lem trên một con lừa con, khi vừa thấy thành, Đức Giê-su phản ứng thế nào ?

    a Người đã khóc và nói tiên tri về sự phá hủy của thành

    b Người rất sợ hãi và kết án thành

    c Người nhìn thẳng vào thành và động lòng thương

    d Người trở nên giận dữ

     a / Lc 19,41-44

    372. Theo Tin Mừng Lu-ca, ai gây nên cái chết của Đức Giê-su ?

    a người Rô-ma

    b nhóm nhiệt thành

    c nhóm Ét-sê-ni

    d các tư tế, kinh sư và luật sĩ

     d / Lc 19,47

    373. Theo Tin Mừng Lu-ca, Đức Giê-su nói ai là người lớn nhất trong các môn đệ của Người ?

    a đứa trẻ

    b người lãnh đạo

    c người phục vụ

    d người được phục vụ

     c / Lc 22,26-27

    374. Theo Tin Mừng Lu-ca, Đức Giê-su lâm cơn hấp hối trong một khu vườn đến nỗi mồ hôi Người như …………

    a chì

    b những giọt máu

    c băng đá

    d những viên gạch

     b / Lc 22,44

    375. Theo Tin Mừng Luca, hai quan chức nào đã trở thành bạn hữu sau khi tra hỏi Đức Giê-su ?

    a Cai-pha và Giu-đa

    b Phi-la-tô và Ti-bê-ri-ô

    c Hê-rô-đê và Cai-pha

    d Phi-la-tô và Hê-rô-đê

     d / Lc 23,12

    376. Theo Tin Mừng Lu-ca, cái gì làm cho trời đất ra tối tăm lúc Đức Giê-su bị đóng đinh ?

    a một cơn mưa bão

    b một cơn mưa bụi

    c một cơn động đất

    d mặt trời tự nhiên tối đi

     d / Lc 23,45

    377. Theo Tin Mừng Lu-ca, ai đã tuyên bố Đức Giê-su là người công chính ngay lúc Người trút hơi thở cuối cùng?

    a bà Ma-ri-a

    b Giu-đa

    c viên đại đội trưởng

    d Giô-xép thành A-ri-ma-thê

     c / Lc 23,47

    378. Theo Tin Mừng Lu-ca, các phụ nữ đã thấy gì trong mồ, khi họ vào nơi đặt thi hài Đức Giê-su?

    a thi hài Đức Giê-su

    b quân lính đang ngủ ở mồ

    c hai người đàn ông y phục sáng chói

     c / Lc 24,3-4

    379. Theo Tin Mừng Lu-ca, ai đã chạy tới mộ Đức Giê-su khi được các phụ nữ báo tin rằng Đức Giê-su không còn ở đó?

    a Phê-rô

    b Tô-ma

    c Gio-an

    d Phao-lô

     a / Lc 24,12

    380. Tin Mừng Lu-ca kết thúc cũng như khởi đầu tại một nơi. Đó là nơi nào?

    a núi cây ô-liu

    b Ga-li-lê

    c Bê-lem

    d Đền Thờ

     d / Lc 24,53

    381. Tin Mừng theo thánh Lu-ca không hề kể lại việc Đức Giê-su đi trên mặt nước.

    a đúng

    b sai

     a /

    382. Tin Mừng nào bắt đầu bằng việc nói về sự có từ đời đời của Ngôi Lời Thiên Chúa?

    a Mát-thêu

    b Mác-cô

    c Lu-ca

    d Gio-an

     d / Ga 1,1

    383. “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ít-ra-en !” Ai nói câu này?

    a thánh Phi-líp-phê

    b ông Na-tha-na-en

    c thánh Phê-rô

    d thánh Tô-ma

     b / Ga 1,49

    384. Tin Mừng nào miêu tả phép lạ biến nước thành rượu?

    a Mát-thêu

    b Gio-an

    c Lu-ca

    d Mác-cô

     b / Ga 2,1-11

    385. Đức Ma-ri-a đã được chứng kiến phép lạ của Đức Giê-su con mình.

    a đúng

    b sai

     a / Ga 2,1-11

    386. “Một người đã già rồi, làm sao có thể sinh ra được ? Chẳng lẽ người ấy có thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao ?” Ai nói ?

    a ông Ni-cô-đê-mô

    b ông Na-tha-na-en

    c người phụ nữ Sa-ma-ri-a

    d Đức Giê-su

     a / Ga 3,3-4

    387. Trong cuộc nói chuyện của Đức Giê-su với ông Ni-cô-đê-mô, dấu hiệu nào mà ông Mô-sê đã làm giống với thập giá của Đức Ki-tô?

    a việc treo con rắn bằng đồng lên cao trong sa mạc

    b việc ban tặng các bia đá

    c cuộc vượt qua Biển Đỏ

    d tất cả đều sai

     a / Ga 3,14

    388. Hãy cho biết tên cái hồ gần Cửa Chiên, nơi Chúa Giê-su đã chữa lành người bị liêt.

    a Bết-da-tha

    b Si-lô-ác

    c Giê-nê-gia-rét

     a / Ga 5,2-9

    389. Đức Giê-su nói : “Thật, tôi bảo thật các ông : trước khi có ………… thì tôi, Tôi Hằng Hữu !”

    a ông A-đam

    b ông Mô-sê

    c ông Áp-ra-ham

    d ông Gio-an Tẩy Giả

     c / Ga 8,58

    390. Sự sống lại của La-da-rô được nói tới trong Tin Mừng nào?

    a Mát-thêu

    b Lu-ca

    c Mác-cô

    d Gio-an

     d / Ga 11,1-44

    391. Đức Giê-su khóc thương một người bạn đã qua đời, ông ấy tên là gì?

    a Phê-rô

    b La-da-rô

    c Mác-ta

    d Ni-cô-đê-mô

     b / Ga 11,32-36

    392. Theo Tin Mừng Gio-an, dấu lạ nào là dấu lạ lớn nhất mà Đức Giê-su đã làm?

    a biến nước thành rượu

    b chữa người mù từ lúc mới sinh

    c bánh hóa nhiều

    d phục sinh La-da-rô

     d / Ga 11,45-47

    393. Vì sao Đức Giê-su rửa chân cho các môn đệ?

    a vì các ông uống quá say, không thể tự rửa chân được

    b vì để làm gương yêu thương phục vụ cho các tông đồ

    c vì nghi thức của Lễ Vượt Qua buộc phải làm thế

     b / Ga 13,14-15

    394. Đức Giê-su đã vác thập giá lên đồi nào?

    a núi cây Ô-liu

    b Gôn-gô-tha

    c Ghết-sê-ma-ni

     b / Ga 19,17

    395. Sau khi Đức Giê-su bị đóng đinh và chết trên thập giá, một tên lính đã đâm giáo vào cạnh sườn Người, tức thì nước và máu chảy ra.

    a đúng

    b sai

     a / Ga 19,34

    396. Tại sao do hành động của môn đệ Tô-ma mà có thành ngữ “Tô-ma đa nghi”?

    a vì khi ông nghe các phụ nữ báo tin liền cho đó là điều bịa đặt

    b vì ông có đủ lý lẽ để bác bỏ

    c vì ông nói khi nào ông đụng chạm vào Đức Giê-su ông mới tin Người sống lại

     c / Ga 20,24-25

    397. Tin Mừng nào không thuật lại việc Đức Giê-su chịu phép rửa?

    a Lu-ca

    b Mác-cô

    c Mát-thêu

    d Gio-an

     d /

    398. Tin Mừng nào không thuật lại các dụ ngôn của Đức Giê-su?

    a Lu-ca

    b Mác-cô

    c Mát-thêu

    d Gio-an

     d /

    399. Tin Mừng của Gio-an được viết bởi một tác giả duy nhất.

    a đúng

    b sai

     b /

    400. Đức Giê-su còn tiếp tục hiện ra với các Tông đồ sau khi Người sống lại bao nhiêu ngày?

    a năm mươi ngày

    b bốn mươi ngày

    c sáu mươi ngày

     b / Cv 1,3

    401. Theo sách Công vụ Tông đồ, Đức Giê-su lên trời trong……

    a đám mây

    b xe bằng lửa

    c phi thuyền

     a / Cv 1,9

    402. Ông Mát-thi-a đã được chọn thay thế ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt.

    a đúng

    b sai

     a / Cv 1,15-26

    403. Vào ngày lễ Ngũ Tuần, sau khi Thánh Thần xuống trên các Tông Đồ, các ông nói được nhiều thứ tiếng khác nhau.

    a đúng

    b sai

     a / Cv 2,4

    404. Sau bài giảng của thánh Phê-rô vào ngày lễ Ngũ Tuần, có bao nhiêu người tin theo Đức Giê-su?

    a 500

    b 5000

    c 3000

     c / Cv 2,22

    405. Vào thời Giáo Hội sơ khai, tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung.

    a đúng

    b sai

     a / Cv 2,44

    406. “Vàng bạc thì tôi không có ; nhưng có cái này tôi cho anh đây : nhân danh Đức Giê-su Ki-tô người Na-da-rét, anh đứng dậy mà đi !” Thánh Phê-rô nói với ai?

    a người bại liệt ở hồ Bê-da-tha

    b người ăn xin què chân bên ngoài Đền Thờ

    c người phong cùi ở Giê-ri-cô

     b / Cv 3,1-6

    407. Thánh Phê-rô đã chữa một người què từ khi lọt lòng mẹ ở Cửa Đẹp Đền Thờ vào giờ thứ mấy?

    a giờ thứ ba

    b giờ thứ sau

    c giờ thứ chín

    d giờ thứ mười một

     c / Cv 3,1-8

    408. Điều gì xảy ra cho thánh Phê-rô và thánh Gio-an vì chống lại lệnh cấm rao giảng?

    a họ trở nên bạn thân của thượng tế

    b họ bị đuổi đi khỏi Giê-ru-sa-lem

    c họ bị bắt giam

    d họ bị ném đá

     c / Cv 4,3

    409. Ai đã đem tiền biếu các Tông Đồ để xin được quyền đặt tay ban Thánh Thần?

    a ông Si-môn

    b ông Sao-lô

    c ông Co-nê-li-ô

     a / Cv 8,18-19

    410. Thánh Phi-líp-phê đã làm phép rửa cho một viên thái giám của nước …………

    a La-mã

    b Ai-cập

    c Xơ-va

    d Ê-thi-óp

     d / Cv 8,26-39

    411. Ông Sao-lô đã thấy thị kiến trên đường Đa-mát và tin vào Đức Giê-su.

    a đúng

    b sai

     a / Cv 9,1-18

    412. Thánh Phao-lô được cứu thoát do các môn đệ của ông đã đưa ông ra ngoài tường thành bằng một cái thúng. Đó là thành nào?

    a Cô-rin-tô

    b Rô-ma

    c Đa-mát

    d A-rê-ô-pa-gô

     c / Cv 9,19-25

    413. Các môn đệ của Đức Giê-su mau mắn tiếp đón Sao-lô vào nhóm của họ.

    a đúng

    b sai

     b / Cv 9,26

    414. Tại Lốt, thánh Phê-rô đã chữa bệnh tê bại cho ai ?

    a bà Ta-bi-tha

    b ông Si-mon

    c anh Ê-nê

    d ông Co-nê-li-ô

     c / Cv 9,32-35

    415. Ở Gia-phô, thánh Phê-rô làm cho một người chết sống lại.

    a đúng

    b sai

     a / Cv 9,36-41

    416. Khi từ chỗ ông Co-nê-li-ô, các sứ giả đến tìm ông Si-mon để nói chuyện, họ thấy ông đang cầu nguyện ở đâu ?

    a sân sau vườn

    b trên mái nhà

    c trong phòng kín

     b / Cv 10,9-17

    417. Ở nơi nào mà lần đầu tiên các tín hữu được gọi là “ki-tô hữu” ?

    a Giê-ru-sa-lem

    b An-ti-ô-ki-a

    c Rô-ma

    d A-thê-na

     b / Cv 11,26

    418. Khi hai ông Ba-na-ba và Sao-lô giảng dạy giữa dân ngoại, hai ông đã cẩn thận không bao giờ vào các hội đường Do-thái.

    a đúng

    b sai

     b / Cv 13,2.5

    419. Hai thánh Phao-lô và Ba-na-ba đã chuyển qua giảng dạy cho dân ngoại trong khi trước đó họ chỉ giảng dạy cho dân Do-thái. Tại sao ?

    a vì những người Do-thái không tin họ

    b vì nhà vua cấm không cho giảng dạy người Dothái

    c vì người Do-thái bị bắt đi đày

     a / Cv 13,46

    420. Ở thành nào mà thánh Phao-lô và Ba-na-ba được coi là thần linh mặc lốt người phàm ?

    a Lýt-ra

    b Đe-bê

    c Thê-sa-lô-ni-ca

    d Ê-phê-xô

     a / Cv 14,8-12

    421. Thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba đã bất đồng quyết liệt và đã chia tay nhau trong một thời gian.

    a đúng

    b sai

     a / Cv 15,37-41

    422. Bởi vì có sự bất đồng giữa họ, thánh Phao-lô và Ba-na-ba chia tay nhau.

    a đúng

    b sai

     a / Cv 15,39

    423. Sau khi chia tay nhau, thánh Ba-na-ba đem theo ông Mác-cô, còn thánh Phao-lô đem theo …………

    a ông Xi-la

    b ông Gio-an

    c ông A-pô-lô

     a / Cv 15,39-40

    424. Thánh Phao-lô đã chọn ông Ti-mô-thê làm môn đệ ở đâu?

    a Ê-phê-xô

    b Ga-lát

    c Xy-ri

    d Lýt-ra

     d / Cv 16,1-3

    425. Thánh Phao-lô thấy một thị kiến có một người Ma-kê-đô-ni-a xin ông đến giúp đỡ và ông đã đến với họ.

    a đúng

    b sai

     a / Cv 16,9-10

    426. Viên cai ngục, người đã cùm chân hai ông Phao-lô và Xi-la, cuối cùng đã được rửa tội.

    a đúng

    b sai

     a / Cv 16,27-33

    427. Sau bài giảng đầu tiên ở đồi A-rê-ô-pa-gô, có rất nhiều người Hy-lạp tin theo và chịu phép rửa nhân danh Đức Giê-su.

    a đúng

    b sai

     b / Cv 17,32-34

    428. Tại sao thánh Phao-lô đến ở với ông bà A-qui-la và Pơ-rít-ki-la ở Cô-rin-tô ?

    a vì họ làm nghề dệt lều, nghề mà ông cũng làm

    b vì họ mời ông vào nhà mình

    c vì họ muốn nghe giảng

     a / Cv 18,1-3

    429. Các người Do-thái làm nghề trừ quỷ đã lấy danh Đức Giê-su mà trừ quỷ và họ đã thành công.

    a đúng

    b sai

     b / Cv 19,13-16

    430. Ông Đi-mết-ri-ô, thợ bạc ở Ê-phê-xô, lo lắng vì những bài giảng của thánh Phao-lô ảnh hưởng đến công việc làm ăn của ông.

    a đúng

    b sai

     a / Cv 19,24-27

    431. Ở Trô-a, thánh Phao-lô đã làm cho một người chết sống lại.

    a đúng

    b sai

     a / Cv 20,7-12

    432. Thánh Phao-lô đã gọi thượng tế Kha-na-ni-a là cái gì khi ông này sai thuộc hạ đánh vào miệng thánh Phao-lô?

    a “ngôi mộ trắng xóa”

    b “đồ ngu xuẩn”

    c “bức tường tô vôi”

    d “tử thần”

     c / Cv 23,3

    433. Vấn đề nào được nêu ra trước Thượng Hội Đồng ở Giê-ru-sa-lem làm cho thánh Phao-lô được giải thoát ?

    a kẻ chết sống lại

    b ăn thịt không thanh sạch

    c nộp thuế

    d sự cắt bì của dân ngoại

     a / Cv 23,6

    434. Điều gì xảy ra cho thánh Phao-lô khi ông đáp tàu đi Rô-ma ?

    a ông bị đắm tàu

    b ông bị quăng xuống biển

    c ông trốn khỏi bọn lính canh

     a / Cv 27,6-44

    435. Đức Giê-su bị một con rắn cắn, nhưng Người giũ con vật vào lửa mà không hề hấn gì.

    a đúng

    b sai

     b / Cv 28,3-5

    436. Sự tường thuật của sách Công vụ Tông đồ có trọng tâm là cuộc đấu tranh và mối bất đồng của các ki-tô hữu tiên khởi.

    a đúng

    b sai

     b /

    437. Thánh Phao-lô không muốn đến với các tín hữu ở Rô-ma.

    a đúng

    b sai

     b / Rm 1,15

    438. Nhóm người nào được nghe Tin Mừng cứu độ đầu tiên ?

    a người Sa-ma-ri-a

    b người Do-thái

    c người Hy-lạp

     b / Rm 1,16

    439. Thánh Phao-lô nói với chúng ta rằng có một số người sẽ được cứu độ, ngay cả khi họ không nghe biết Lề Luật.

    a đúng

    b sai

     a / Rm 2,14-15

    440. Thánh Phao-lô nói người ta được nên công chính bởi …

    a Lề Luật

    b lòng tin

    c việc tốt

     b / Rm 3,28

    441. Theo thư Rô-ma, “Lương bổng mà tội lỗi trả cho người ta, là …………”

    a đau khổ

    b bệnh tật

    c cái chết

    d già lão

     c / Rm 6,23

    442. Theo thư Rô-ma, “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, “

    a ai còn chống lại được chúng ta

    b ai còn tranh tụng với ta được

    c chúng ta còn sợ gì ai

    d chúng ta không lo lắng gì

     a / Rm 8,31

    443. Theo thánh Phao-lô, người ta được chọn lựa không phải vì mong muốn hay là chạy vạy, nhưng do lòng thương xót của Thiên Chúa.

    a đúng

    b sai

     a / Rm 9,16

    444. Thánh Phao-lô nói rằng chúng ta sẽ chiến thắng sự ác bằng …………

    a sức mạnh của Lề Luật

    b sự nhẫn nại

    c sự thiện

     c / Rm 12,21

    445. Thánh Phao-lô lo lắng các ki-tô hữu ở Cô-rin-tô ………

    a có quá nhiều nhà thờ

    b quá giàu có

    c có bè phái giữa họ

     c / 1 Cr 1,11

    446. Theo thánh Phao-lô, Thiên Chúa đã chọn sự yếu kém của thế gian để hạ nhục những kẻ hùng mạnh.

    a đúng

    b sai

     a / 1 Cr 1,27

    447. Theo thánh Phao-lô, “Nếu trong anh em có ai tự cho mình là khôn ngoan theo thói đời thì hãy …………”

    a cố gắng gìn giữ cho vững bền

    b trở nên điên rồ, để được khôn ngoan thật

    c chứng minh chúng bằng việc làm

     b / 1 Cr 3,18

    448. Thánh Phao-lô rao giảng ở Cô-rin-tô như người cha nói với con cái.

    a đúng

    b sai

     a / 1 Cr 4,15

    449. Thánh Phao-lô cấm rất ngặt các ki-tô hữu ăn thịt cúng.

    a đúng

    b sai

     b / 1 Cr 8,1-12 ; 10,23-28

    450. Thánh Phao-lô tự hào rằng mình có thể rao giảng Tin Mừng.

    a đúng

    b sai

     b / 1 Cr 9,16

    451. Thánh Phao-lô tin rằng Thánh Thần của Thiên Chúa ban ơn cho từng người trong chúng ta như là những tặng phẩm thần linh.

    a đúng

    b sai

     b / 1 Cr 12,4

    452. Trong các thơ của thánh Phao-lô, lá thơ nào có “bài ca đức mến” ?

    a Rô-ma

    b 1 Cô-rin-tô

    c 2 Cô-rin-tô

    d Ga-lát

     b / 1 Cr 13

    453. “Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con ; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con.” Ai nói?

    a thánh Phê-rô

    b thánh Phao-lô

    c thánh Gio-an

     b / 1 Cr 13,11

    454. Thánh Phao-lô tự coi mình như đứa trẻ sinh non.

    a đúng

    b sai

     a / 1 Cr 15,8

    455. Thánh Phao-lô thường coi mình là người cao cả trong các tông đồ.

    a đúng

    b sai

     b / 1 Cr 15,9

    456. Theo thánh Phao-lô, điều tiên quyết để được cứu độ là gì ?

    a tin vào Đức Giê-su Ki-tô

    b giữ mười điều răn

    c giữ ngày sa-bát

    d chịu khó làm việc

     a / Gl 2,16

    457. Thánh Phao-lô đã đưa ra điều gì cho người Ga-lát để chứng thực họ là con cái Thiên Chúa?

    a họ được công nhận ở hội đường

    b tất cả họ đã cắt bì

    c Thánh Thần của Con Thiên Chúa ngự trong lòng họ

    d họ là con cháu ông Áp-ra-ham

     c / Gl 4,6

    458. Thánh Phao-lô khuyên rằng khi sửa dạy người anh em lầm lỗi phải có thái độ nào ?

    a yên lặng

    b rõ ràng và dứt khoát

    c tinh thần hiền hòa

     c / Gl 6,1

    459. Thánh Phao-lô đã nói với các ki-tô hữu nhất thiết phải làm điều nào cho người khác ?

    a phải ở ngoài đường lối của họ

    b tạo sự thuận lợi cho người yếu đuối

    c phải tha thứ và quên đi lỗi lầm của người khác

    d phải mang gánh nặng cho nhau

     d / Gl 6,2

    460. Theo thư Ê-phê-xô, ai là Đầu của thân mình Hội Thánh?

    a thánh Phao-lô

    b thánh Phê-rô

    c Đức Giáo Hoàng

    d Đức Ki-tô

     d / Ep 1,22

    461. Theo thư Ê-phê-xô, nét đặc trưng của sứ mệnh nơi Giáo Hội là gì?

    a một tổ chức hoàn hảo

    b sự thành công

    c sự phổ quát

    d sự bất diệt

     c / Ep 4,6

    462. Thánh Phao-lô khuyên những người nô lệ hãy cố gắng độc lập khỏi tay những chủ nhân của họ.

    a đúng

    b sai

     b / Ep 6,5

    463. Thánh Phao-lô đồng ý là người ki-tô hữu sẽ sống nhờ Luật Mô-sê, kể cả việc cắt bì.

    a đúng

    b sai

     b / Pl 3,2-3

    464. Ai đã gầy dựng tinh thần hiệp thông cho các ki-tô hữu ở Cô-lô-xê ?

    a Phao-lô

    b Ê-páp-ra

    c Phê-rô

    d Ti-mô-thê

     b / Cl 1,7-8

    b Thê-sa-lô-ni-ca

    c Cô-lô-xê

    d Ê-phê-xô

     c / Cl 2,1-5

    466. Điều gì mà dân thành Thê-xa-lô-ni-ca quan tâm lo lắng được thánh Phao-lô đề cập đến ?

    a niềm hy vọng sau cái chết

    b ăn thịt heo

    c thuế Đền thờ

    d ăn uống quá độ lúc cử hành hiến tế Tạ Ơn

     a / 1 Tx 3,13tt ; 2 Tx 1 – 3

    467. Theo thơ thứ hai Thê-xa-lô-ni-ca, trước ngày Đức Giê-su Ki-tô quang lâm sẽ có hiện tượng chối đạo, xuất hiện người gian ác, đứa hư hỏng, và tên đối thủ tôn mình lên trên tất cả những gì được gọi là thần.

    a đúng

    b sai

     a / 2 Tx 2,3-4

    468. Vấn đề chính của lá thơ “mục tử” (1 Tm) là gì ?

    a sử dụng của cải

    b Đức Ki-tô quang lâm

    c giáo lý sai lạc

     c / 1 Tm 1,3-7

    469. Theo thứ thứ nhất gởi cho Ti-mô-thê, điều nào không được yêu cầu đối với các giám quản ?

    a chỉ kết hôn một lần

    b phải đổi mới

    c không nghiện rượu

    d tiết độ

     b / 1 Tm 3,2-7

    470. Điều khổ hạnh nào bị kết án bởi thơ thứ nhất Ti-mô-thê?

    a cấm kết hôn

    b vâng lời giới lãnh đạo

    c đòi hỏi cầu nguyện hàng ngày

    d bố thí cho bà góa

     a / 1 Tm 4,1-5

    471. Thánh Phao-lô đã nhắc nhở Ti-mô-thê hãy là một trợ thủ đắc lực và trung thành của Đức Ki-tô. Hình ảnh nào thánh Phao-lô đã dùng tới ?

    a người nông dân làm việc vất vả

    b vận động viên điền kinh

    c chiến sĩ của Đức Ki-tô

    d tất cả những câu trên

     d / 2 Tm 2,3-7

    472. Theo thư thứ hai Ti-mô-thê, tất cả những ai muốn sống đạo đức trong Đức Ki-tô đều sẽ …………

    a bị thất vọng

    b được người đời ca tụng

    c bị bắt bớ

    d chịu trách nhiệm

     c / 2 Tm 3,12

    473. Lá thơ nào của thánh Phao-lô nói rằng ông đã đấu trong cuộc đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin?

    a Ga-lát

    b Phi-lê-môn

    c Ti-tô

    d 2 Ti-mô-thê

     d / 2 Tm 4,6-8

    474. Theo thơ của thánh Phao-lô gởi cho ông Ti-tô, ông Ti-tô làm kỳ mục ở đâu?

    a Miếc-na

    b Ni-kê-a

    c Cơ-rê-ta

    d Rô-ma

     c / Tt 1,5

    475. Thánh Phao-lô giảng dạy chống lại cảnh nô lệ vào thời của ông.

    a đúng

    b sai

     b / Tt 2,9

    476. Ai là “chủ nhân” trong thơ gởi cho Phi-lê-môn?

    a Phi-lê-môn

    b Ác-síp-pô

    c Ê-páp-ra

    d Ô-nê-si-mô

     a / Plm 1,1

    477. Ai là “người nô lệ” trong thơ gởi cho Phi-lê-môn?

    a Ê-páp-ra

    b Ô-nê-xi-mô

    c Phi-lê-môn

    d Ác-síp-pô

     b / Plm 1,10

    478. Lời Chúa được nói là “sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi” trong sách nào?

    a Rô-ma

    b Do-thái

    c Ê-phê-xô

    d Cô-lô-xê

     b / Dt 4,12

    479. Thời xưa, các tư tế dâng máu của con vật để thờ phượng; Đức Giê-su đã dâng gì để làm của lễ hy sinh?

    a người con hoang đàng

    b con chiên lạc

    c chính máu của Người

     c / Dt 9,14

    480. Theo thơ Do-thái, ơn ban nào làm cho chúng ta nhận ra rằng chúng ta được Thiên Chúa cứu độ ?

    a lòng mến

    b niềm hy vọng

    c lòng tin

     c / Dt 11,1

    481. Trong tất cả các thơ của thánh Phao-lô, lá thơ nào ngắn nhất ?

    a Phi-lê-môn

    b Ti-tô

    c 2 Ti-mô-thê

    d 2 Thê-xa-lô-ni-ca

     a /

    482. Thánh Gia-cô-bê nhắc nhở chúng ta phải để ý khi sử dụng chi thể nào ?

    a đôi tay

    b đôi tai

    c miệng lưỡi

     c / Gc 3,1-10

    483. Theo thánh Gia-cô-bê, đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người …………

    a thanh khiết và hiếu hòa

    b khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt

    c không thiên vị và giả hình

    d tất cả những điều trên

     d / Gc 3,17

    484. Theo thánh Gia-cô-bê, bởi đâu có chiến tranh và xung đột?

    a khoái lạc

    b tiền bạc

    c do tội nguyên tổ

     a / Gc 4,1

    485. Theo thư Gia-cô-bê, các ki-tô hữu sẽ thú tội với nhau.

    a đúng

    b sai

     a / Gc 5,16

    486. Theo thư thứ nhất của thánh Phê-rô, gia tài Thiên Chúa ban cho những người tin là gì ?

    a ơn cứu độ

    b một đất nước tràn trề sữa và mật

    c đức khôn ngoan

     a / 1 Pr 1,3-5

    487. Theo thư thứ nhất của thánh Phê-rô, con người được tái sinh nhờ điều gì ?

    a Lề Luật

    b việc làm tốt

    c Lời Chúa

    d tất cả đều sai

     c / 1 Pr 1,23

    488. Theo thư thứ nhất của thánh Phê-rô, người ki-tô hữu được gọi là …………, vì lẽ họ là khách lạ và là khách lữ hành.

    a người lính

    b trẻ em

    c người tạm trú

    d thường dân

     c / 1 Pr 2,11

    489. Thư thứ nhất của thánh Phê-rô thúc giục các ki-tô hữu lẩn tránh thế giới này để có được thế giới mai sau.

    a đúng

    b sai

     b / 1 Pr 2,13-17

    490. .. , người được nói đến là đã viết thơ thứ nhất của thánh Phê-rô, có lẽ anh từng là thư ký của thánh Phê-rô.

    a Lu-ca

    b Xin-va-nô

    c Mác-cô

    d Ba-rúc

     b / 1 Pr 5,12

    491. “Điều đã có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi chạm đến, đó là …………”

    a Lời sự sống

    b vương quốc của Thiên Chúa

    c trời mới đất mới

     a / 1 Ga 1,1

    492. Bất cứ ai nói rằng mình không có tội, người ấy …………

    a đứa khờ dại

    b tự lừa dối mình

    c tên dốt nát

     b / 1 Ga 1,8

    493. Thư thứ nhất của thánh Gio-an nói rằng chúng ta có thể yêu thế gian.

    a đúng

    b sai

     b / 1 Ga 2,15

    494. Những ai chối rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô đều là …

    a kẻ ngu dốt

    b kẻ khờ dại

    c kẻ dối trá

     c / 1 Ga 2,22

    495. Chúng ta có thể biết Đức Giê-su mà không cần tuân giữ các giới răn của Người.

    a đúng

    b sai

     b / 1 Ga 2,4

    496. Theo thánh Gio-an, người thắng được thế gian là người tin rằng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa.

    a đúng

    b sai

     a / 1 Ga 5,5

    497. Thánh Gio-an đã viết lá thơ thứ ba gởi cho ai ?

    a ông Gai-ô

    b ông Đi-ốt-rê-phét

    c ông Ti-mô-thê

     a / 3 Ga 1,1

    498. Người phụ nữ xuất hiện trên trời trong sách Khải Huyền có dáng vẻ thế nào?

    a giận dữ

    b đang mang thai

    c già cả

    d trẻ trung dễ thương

     b / Kh 12,2

    499. Con vật nào đe dọa làm hại người Phụ Nữ trong sách Khải Huyền?

    a con mãng xà

    b con ó

    c con sư tử

     a / Kh 12,4

    500. Trong sách Khải Huyền, thiên thần hùng mạnh nào đã giao chiến với con thú cũng gọi là Xa-tan?

    a Mi-ca-en

    b Ra-pha-en

    c Gáp-ri-en

     a / Kh 12,7

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 115: Sách Châm Ngôn
  • Danh Ngôn Của Steve Job
  • Những Câu Châm Ngôn Hay
  • Những Câu Nói Hay Về Cảm Xúc Con Người: 67+ Danh Ngôn Hay
  • Những Câu Nói Bất Hủ Hay Nhất Trong Tiểu Thuyết Ngôn Tình
  • Nền Văn Chương Khôn Ngoan Trong Thánh Kinh Cựu Ước: Sách Châm Ngôn, Sách Ông Gióp, Sách Giảng Viên, Sách Huấn Ca, Sách Khôn Ngoan, Sách Thánh Vịnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Xứ Vinh Sơn Bình Dương: Chương 1 =
  • Chương 5: Sưu Tập Những Lời Của Bậc Khôn Ngoan
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Yêu Thương Chia Sẻ: 50+ Danh Ngôn Hay
  • 27 Câu Nói Hay Giúp Bạn Đánh Bật Sự Chần Chừ Và Làm Việc Hiệu Quả Hơn
  • Danh Ngôn Về Cách Làm Người
  • Loạt bài về nền văn chương khôn ngoan trong Thánh Kinh Cựu Ước gồm các bài viết đã được phát cho mục ” Tìm hiểu Kinh Thánh ” của Chương Trình Việt Ngữ Đài Chân Lý Á châu Manila.

    Tài liệu chính được sử dụng là phần dẫn nhập các sách khôn ngoan của bộ chú giải Kinh Thánh tiếng Ý “La Bibbia. Nuovissima versione dai testi originali”, Vol. II, Antico Testamento, Ed. Paoline Milano 1991. Đây là một trong các bộ chú giải phổ thông nổi tiếng của các chuyên viên kinh thánh Italia.

    Cầu mong loạt bài này giúp chúng ta lãnh hội được các giáo huấn tinh túy trong kho tàng khôn ngoan của Thánh Kinh Cựu Ước và đặc biệt trở nên giống Chúa Giêsu Kitô, hiện thân sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa.

    LM Giuse Hoàng Minh Thắng

    MỤC LỤC

    NỀN VĂN CHƯƠNG KHÔN NGOAN

    TRONG THÁNH KINH CỰU ƯÓC

    Chương II: Sách Châm Ngôn: kết cấu, nội dung, từ vựng

    8. Sách Châm Ngôn

    9. Hai sưu tập chính của sách Châm Ngôn

    10.Các sưu tập còn lại của sách Châm Ngôn

    1. Cấu trúc các sưu tập sách Châm Ngôn
    2. Thế giới khôn ngoan của sách Châm Ngôn
    3. Từ ngữ và kiểu hành văn của sách Châm Ngôn
    4. Các bức chân dung nhỏ và việc nhân cách hóa sự khôn ngoan
    5. Bản văn sách Châm Ngôn

    Chương III: Các giáo huấn của sách Châm Ngôn Chương IV: Sách ông Gióp: nội dung, ,cấu trúc, văn thể, tác giả và thời gian sáng tác

    1. Tên gọi, chỗ đứng trong Thánh Kinh và nội dung
    2. Văn thể, ngôn ngữ và kiểu diễn tả
    3. Các nguồn tài liệu và tác giả
    4. Thời gian sáng tác các văn bản và mục đích

    Chương V: Sứ điệp thần học sách ông Gióp

    1. Quan niệm về Thiên Chúa
    2. Sách ông Gióp trong sự phát triển của Mạc Khải và tính cách thời sự của nó

    Tên gọi, cấu trúc, thời gian sáng tác và bối cảnh lịch sử sách Giảng Viên

    1. Qohelet hay sách Giảng Viên
    2. Tên gọi và tính cách hợp quy của sách Giảng Viên
    3. Thời gian sáng tác và bối cảnh lịch sử
    4. Cấu trúc sách Giảng Viên
    1. Tri thức luận theo sách Giảng Viên
    2. Thiên nhiên và vũ trụ
    3. Thiên Chúa sáng tạo và con ngưòi
    4. Giá trị cuộc sống con người
    5. Vấn đề thiện ích
    6. Tôn giáo theo quan niệm của Qohelet
    1. Các hình thái văn chương khác nhau
    2. Một vài hình thái văn chương khác
    3. Từ ngữ tượng hình trong sách Huấn Ca
    4. Từ vựng tượng hình trong sách Huấn Ca
    5. Văn bản và các bản dịch sách Huấn Ca
    6. Tính cách hợp quy của sách Huấn Ca

    Chương I

    Tác giả, thời gian sáng tác, cấu trúc, văn bản

    1. Sách Khôn Ngoan: tác giả, nơi chốn và thời gian sáng tác
    2. Người nhận, mục đích, văn thể, cấu trúc, đơn vị văn chương và nội dung
    3. Sự linh ứng và tính cách hợp quy. Văn bản, các lần in ấn và các bản dịch

    Chương III

    Tương quan giữa sách Khôn Ngoan và nền văn chương ngoài Thánh Kinh

    1. Tương quan giữa sách Khôn Ngoan và nền văn chương ngoài Thánh Kinh
    2. Tưong quan giữa sách Khôn Ngoan và nền văn chương Hy lạp
    3. Các ảnh hưởng kinh thánh trên sách Khôn Ngoan
    4. Vai trò của sách Khôn Ngoan trong tiến trình mạc khải. Ảnh hưởng của sách Khôn Ngoan trên tư tưởng của thánh Phaolô
    5. Ảnh hưởng của sách Khôn Ngoan trên thánh Gioan

    Chương IV

    Sách Thánh Vịnh. Việc hình thành, cấu trúc, tựa để, các tác giả, thời gian sáng tác

    1. Sách Thánh Vịnh
    2. Việc hình thành, cấu trúc và tựa đề các Thánh Vịnh
    3. Các tác giả và thời gian sáng tác
    4. Các Thánh Vịnh được sáng tác trước hay sau thời lưu đầy?

    Chương V

    Môi trường nguồn gốc phụng tự, văn thể. Tương quan với nền văn chương vùng Trung Đông Cổ

    1. Môi trường nguồn gốc của các Thánh Vịnh và các văn thể
    2. Nguồn gốc phụng tự của các Thánh Vịnh
    3. Tương quan giữa các Thánh Vịnh và nền văn chương vùng Trung Đông Cổ
    1. 001 Nền văn chương khôn ngoan trong Thánh Kinh Cựu Ước
    2. 002 Một số tác phẩm trong nền văn chương khôn ngoan Ai Cập
    3. 003 Tương quan giữa sự khôn ngoan đông phương và sự khôn ngoan do thái
    4. 004 Sự khôn ngoan trong lịch sử tư tưởng do thái
    5. 005 Trào lưu khôn ngoan bên trong các trào lưu thần học do thái thời hậu lưu đầy
    6. 006 Trào lưu khải huyền
    7. 007 Các tác phẩm khôn ngoan được biên soạn sau năm 200 trước công nguyên
    8. 008 Sách Châm Ngôn
    9. 009 Hai sưu tập chính của sách Châm Ngôn
    10. 0010 Các sưu tập còn lại của sách Châm Ngôn
    11. 0011 Cấu trúc các sưu tập sách Châm Ngôn
    12. 0012 Thế giới khôn ngoan của sách Châm Ngôn
    13. 0013 Từ ngữ và kiểu hành văn của sách Châm Ngôn
    14. 0014 Các bức chân dung nhỏ và việc nhân cách hóa sự khôn ngoan
    15. 0015 Bản văn sách Châm Ngôn
    16. 0016 Các đề tài và giáo huấn của sách Châm Ngôn sự khôn ngoan
    17. 0017 Người khôn ngoan, kẻ khờ dại
    18. 0018 Lời nói theo sách Châm Ngôn
    19. 0019 Sự giận dữ và tự chế. Gìn giữ nội tâm và tiết độ, Đức khiêm nhường và tính kiêu căng
    20. 0020 Gương mặt của phụ nữ
    21. 0021 Tương quan giữa cha mẹ và con cái
    22. 0022 Một nền giáo dục mạnh mẽ
    23. 0023 Sự tai hại của tật nghiện rượu. Tính siêng năng và lười biếng
    24. 0024 Của cải giầu sang và sự nghèo túng
    25. 0025 Tình bạn, lòng tốt và sự liêm chính
    26. 0026 Cãi vả, kiện tụng, công lý và làm chứng
    27. 0027 Thương mại và các nguy cơ, các bảo đảm. Đừng lấy ác báo ác. Kín đáo trong lời ăn tiếng nói
    28. 0028 Vua chúa và chính quyền
    29. 0029 Thiên Chúa và con ngưòi
    30. 0030 Người khôn ngoan và người công chính
    31. 0031 Sự thưởng phạt
    32. 0032 Tên gọi, chỗ đứng trong Thánh Kinh và nội dung
    33. 0033 Cấu trúc
    34. 0034 Văn thể, ngôn ngữ và kiểu diễn tả
    35. 0035 Các nguồn tài liệu và tác giả
    36. 0036 Thời gian sáng tác các văn bản và mục đích
    37. 0037 Quan niệm về Thiên Chúa
    38. 0038 Con người
    39. 0039 Khổ đau
    40. 0040 Sách ông Gióp trong sự phát triển của Mạc Khải và tính cách thời sự của nó
    41. 0041 Qohelet hay sách Giảng Viên
    42. 0042 Tên gọi và tính cách hợp quy của sách Giảng Viên
    43. 0043 Thời gian sáng tác và bối cảnh lịch sử
    44. 0044 Cấu trúc sách Giảng Viên
    45. 0045 Tri thức luận theo sách Giảng Viên
    46. 0046 Thiên nhiên và vũ trụ
    47. 0047 Thiên Chúa sáng tạo và con người
    48. 0048 Giá trị cuộc sống con người
    49. 0049 Vấn đề thiện ích
    50. 0050 Tôn giáo theo quan niệm của Qohelet
    51. 0051 Thế đứng của sách Giảng Viên trong tư tưởng vùng Trung Đông Cổ
    52. 0052 Tư tưởng của Qohelet trong tương quan với tư tưởng khôn ngoan Ai Cập
    53. 0053 Sự khôn ngoan trong các tác phẩm văn chương vùng Lưỡng Hà Mêsopôtamia
    54. 0054 Thế đứng của Qohelet trong lịch sử nên văn hóa Do thái
    55. 0055 Các quan niệm khác nhau về sự thưởng phạt trong thế giới Do thái
    56. 0056 Các quan niệm khác nhau trong quan niệm thưởng phạt của thế giới Do thái
    57. 0057 Những vấn đề còn bỏ ngỏ trong sách Giảng Viên
    58. 0058 Qohelet và vấn đề bất tử của linh hồn
    59. 0059 Thứ từ ngữ Qohelet dùng trong văn bản
    60. 0060 Lịch sử vấn đề sách Qohelet
    61. 0061 Ben Sira hay sách Huấn Ca. Tên gọi và kết cấu
    62. 0062 Viễn tượng thần học và nội dung giáo lý của sách Huấn Ca
    63. 0063 Gương mặt của sự khôn ngoan
    64. 0064 Đức Khôn Ngoan theo chương 24
    65. 0065 Sự thưởng phạt theo giáo huấn sách Ben Sira
    66. 0066 Một vài giáo huấn luân lý. Cẩn trọng trong lời nói và tiết độ trong cách sống
    67. 0067 Quan niệm về sự giầu có và nghèo túng
    68. 0068 Vai trò của phụ nữ
    69. 0069 Các hình thái văn chương khác nhau
    70. 0070 Một vài hình thái văn chương khác
    71. 0071 Từ ngữ tượng hình trong sách Huấn Ca
    72. 0072 Từ vựng tượng hình trong sách Huấn Ca
    73. 0073 Văn bản và các bản dịch sách Huấn Ca
    74. 0074 Tính cách hợp quy của sách Huấn Ca
    75. 0075 Sách Khôn Ngoan – tác giả, nơi chốn và thời gian sáng tác
    76. 0076 Người nhận, mục đích, văn thể, cấu trúc, đơn vị văn chương và nội dung
    77. 0077 Sự linh ứng và tính cách hợp quy. Văn bản, các lần in ấn và các bản dịch
    78. 0078 Quan niệm về con người
    79. 0079 Số phận con người theo sách Khôn Ngoan
    80. 0080 Cái chết, sự thưởng phạt và sự sống lại
    81. 0081 Đức Khôn Ngoan được nhân cách hóa
    82. 0082 Vai trò của Đức Khôn Ngoan trong công trình tạo dựng và tương quan của Đức Khôn Ngoan với con cái loài người
    83. 0083 Phương pháp sư phạm của Đức Khôn Ngoan trong việc giáo huấn con người
    84. 0084 Thuyết độc thần theo giáo huấn sách Khôn Ngoan
    85. 0085 Tội tôn thờ thiên nhiên và tôn thờ các ngẫu tượng
    86. 0086 Tương quan giữa sách Khôn Ngoan và nền văn chương ngoài Thánh Kinh
    87. 0087 Tưong quan giữa sách Khôn Ngoan và nền văn chương Hy lạp
    88. 0088 Các ảnh hưởng kinh thánh trên sách Khôn Ngoan
    89. 0089 Vai trò của sách Khôn Ngoan trong tiến trình mạc khải. Ảnh hưởng của sách Khôn Ngoan trên tư tưởng của thánh Phaolô
    90. 0090 Ảnh hưởng của sách Khôn Ngoan trên thánh Gioan
    91. 0091 Sách Thánh Vịnh
    92. 0092 Việc hình thành, cấu trúc và tựa đề các Thánh Vịnh
    93. 0093 Các tác giả và thời gian sáng tác
    94. 0094 Các Thánh Vịnh được sáng tác trước hay sau thời lưu đầy
    95. 0095 Môi trường nguồn gốc của các Thánh Vịnh và các văn thể
    96. 0096 Nguồn gốc phụng tự của các Thánh Vịnh
    97. 0097 Tương quan giữa các Thánh Vịnh và nền văn chương vùng Trung Đông Cổ
    98. 0098 Ý niệm về Thiên Chúa
    99. 0099 Thiên Chúa thánh thiện và vinh quang
    100. 0100 Giavê Thiên Chúa đối với hạnh phúc của con người
    101. 0101 Thiên Chúa cứu độ và công trình của Người
    102. 0102 Thiên Chúa là Đấng yêu mến và thương xót con người
    103. 0103 Thái độ của con người đối với Thiên Chúa
    104. 0104 Các người đạo đức và các thánh theo sách Thánh Vịnh
    105. 0105 Kinh nghiệm về sự dữ
    106. 0106 Bốn dấu chỉ giúp con người hiệp thông với Thiên Chúa
    107. 0107 Kinh nghiệm kết hiệp thần bí
    108. 0108 Viễn tượng cánh chung
    109. 0109 Vấn đề thưởng phạt
    110. 0110 Thiên Chúa đánh phạt kẻ gian ác và báo oán các thù địch của Người

    Download file audio: Độc Giả ” Phải Chuột” vào từng đề tài trong playlist và chọn ” Save Taget As” hoặc ” Save Link As” tùy thuộc vào trình duyệt nào đang sử dụng.

    Chúc Độc Giả thành công.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 500 Câu Đố Vui Kinh Thánh
  • Bài 115: Sách Châm Ngôn
  • Danh Ngôn Của Steve Job
  • Những Câu Châm Ngôn Hay
  • Những Câu Nói Hay Về Cảm Xúc Con Người: 67+ Danh Ngôn Hay
  • Những Câu Kinh Thánh Chọn Lọc Trích Dẫn Từ Mỗi Sách Trong Kinh Thánh

    --- Bài mới hơn ---

  • 25 Câu Gốc Được Sử Dụng Nhiều Nhất Trong Kinh Thánh
  • Món Quà Lời Nói: Hãy Nói “Những Lời Tốt Lành Giúp Vững Mạnh”
  • 76 Câu Nói Hay Về Cuộc Sống … – Giáo Phận Cần Thơ
  • Bạn Có Biết Câu Nói “Hỏi Thế Gian Tình Ái Là Chi” Của Lý Mạc Sầu Bắt Nguồn Từ Đâu Không?
  • Chương 1: Lời Nói Đầu, Lã Bất Vi, Tác Giả Hàn Diệu Kì
  • “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” (Sáng Thế Ký 1:1)

    “Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ… Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ nên một thịt.” (1:27  2:24).

    “Hê-nóc Đồng Đi Cùng Đức Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi.” (5:24).

    “Nô-ê Đồng Đi Cùng Đức Chúa Trời “. (6:9).

    “Đức Chúa Trời hay đoái xem.”(16:13).

    “Há có điều chi Đức Giê-hô-va làm không được chăng?” (18:14).

    “Đấng đoán xét toàn thế gian, há lại không làm sự công bình sao?” (18:25).

    “Áp-ram tin Đức Giê-hô-va, thì Ngài kể sự đó là công bình cho người.” (15:6).

    “Gia-cốp cứ đi đường, có thiên sứ Đức Chúa Trời gặp người.” (32:1).

    “Đức Giê-hô-va, là Đấng ta phục sự, sẽ sai thiên sứ theo ngươi, làm cho thành công việc ngươi đi.” (24:40).

    “Nầy, Ta ở cùng ngươi, ngươi đi đâu, sẽ theo gìn giữ đó.” (28:15).

    “Khi chúng ta phân cách nhau, cầu xin Đức Giê-hô-va coi sóc cậu và cháu!” (31:49).

    “Thật Đức Giê-hô-va hiện có trong nơi đây… Đây thật là đền Đức Chúa Trời, thật là cửa của trời!” (28:16,17).

    “Chẳng phải các anh sai tôi đến đây đâu, ấy là Đức Chúa Trời.” (45:8).

    “Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi.” (50:20).

    “Cầu xin Đức Chúa Trời mà tổ phụ tôi, là Áp-ra-ham và Y-sác, đã thờ phượng, là Đức Chúa Trời đã chăn nuôi tôi từ khi mới lọt lòng cho đến ngày nay… hãy ban phước cho hai đứa trẻ nầy!” (48:15,16).

    “Các ngươi sẽ biết ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời.” (Xuất Ê-díp-tô 6:7).

    “Người Ê-díp-tô sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.” (7:5).

    “Ta sai một thiên sứ đi trước mặt ngươi, đặng phù hộ trong lúc đi đường, và đưa ngươi vào nơi Ta đã dự bị.” (23:20).

    “Đức Giê-hô-va chép trên hai bảng đá các lời giao ước, tức là Mười Điều răn.” (34:28).

    “Hai bảng chứng bằng đá bởi ngón tay Đức Chúa Trời viết ra.” (31:18).

    “Hai bảng đó là việc của Đức Chúa Trời làm ra; chữ cũng là chữ của Đức Chúa Trời khắc trên bảng.” (32:16).

    “Trước mặt TA, ngươi chớ có các thần khác.

    “Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình… Ngươi chớ quì lạy trước các hình tượng đó.

    “Ngươi chớ lấy Danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi.

    “Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh.

    “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi.

    “Ngươi chớ giết người.

    “Ngươi chớ phạm tội tà dâm.

    “Ngươi chớ trộm cướp.

    “Ngươi chớ nói chứng dối.

    “Ngươi chớ tham… vật chi thuộc về kẻ lân cận ngươi.” (20:3-17).

    “Phàm thuế một phần mười thổ sản… đều thuộc về Đức Giê-hô-va.” (Lê-vi Ký 27:30).

    “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi; Ta là thánh, nên các ngươi phải nên thánh.” (11:44).

    “Hãy đem đến… một bó lúa đầu mùa của các người,… dâng của lễ cho Đức Chúa Trời mình.” (23:10,14).

    “Chớ toan báo thù, chớ giữ sự báo thù…, nhưng hãy yêu thương kẻ lân cận như mình… Kẻ khách kiều ngụ giữa các ngươi,… hãy thương yêu người như mình.” (19:18,34).

    “Nếu các ngươi giữ gìn các Điều răn Ta,… đất sẽ sanh hoa lợi,… các ngươi sẽ ở bình yên trong xứ mình… Các ngươi ngủ không sợ ai dọa… Ta sẽ đi giữa các ngươi, làm Đức Chúa Trời các ngươi… Song nếu các ngươi không nghe Ta… Ta sẽ khiến trời các ngươi cứng như sắt và đất trơ như đồng… Ta sẽ làm cho thành các ngươi ra vắng vẻ,… Ta sẽ tản lạc các ngươi trong các dân… Xứ các ngươi sẽ hoang vu.” (26:3,5,6,12,14,19,31-33).

    “Phải biết rằng tội chắc sẽ đổ lại trên các ngươi.” (Dân Số Ký 32:23).

    “Một Ngôi Sao hiện ra từ Gia-cốp.” (24:17).

    “Chúng tôi đi đến xứ mà Đức Giê-hô-va có phán rằng: Ta sẽ ban xứ đó cho các ngươi. Xin anh hãy đi cùng chúng tôi, chúng tôi sẽ đãi anh tử tế.” (10:29).

    “Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và phù hộ ngươi! Cầu xin Đức Giê-hô- va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi, và làm ơn cho ngươi! Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái xem ngươi và ban bình an cho ngươi!” (6:24-26).

    “Giê-hô-va, ấy là Đức Chúa Trời trên trời cao kia và dưới đất thấp nầy: chẳng có ai khác.” (4:39).

    “Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi là Đức Chúa Trời của các thần, và Chúa của các chúa.” (10:17).

    “Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.” (6:5).

    “Khá cẩn thận giữ lấy những Điều răn… của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi.” (6:17).

    “Các ngươi chớ thêm chi và đừng bớt chi về điều ta truyền cho, để giữ theo các Điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi mà ta đã truyền.” (4:2).

    “Các lời mà ta truyền cho ngươi ngày nay, sẽ ở tại trong lòng ngươi; khá ân cần dạy dỗ điều đó cho con cái ngươi.” (6:6,7).

    “Loài người sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi, nhưng loài người sống nhờ mọi lời bởi miệng Đức Giê-hô-va mà ra.” (8:3).

    “Khá lập một vua lên cai trị ngươi… Vua phải chiếu theo luật pháp nầy, chép một bổn cho mình. Trọn đời vua phải đọc ở trong, để tập biết kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình.” (17:14,15,18,19).

    “Đức Giê-hô-va có phán cùng chúng ta khá làm theo các luật lệ nầy, kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, hầu cho chúng ta được phước luôn luôn.” (6:24,25).

    “Đời ngươi lâu bao nhiêu, sức mạnh ngươi lâu bấy nhiêu.” (33:25).

    “Đức Chúa Trời hằng sống là nơi ở của ngươi, ở dưới có cánh tay đời đời của Ngài.” (33:27).

    “Ngươi sẽ tìm cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và khi nào hết lòng, hết ý tìm cầu Ngài, thì mới gặp.” (4:29).

    “Trong bốn mươi năm nầy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi; ngươi không thiếu chi hết.” (2:7).

    “Ngươi phải làm điều ngay thẳng và tốt lành trước mặt Đức Giê-hô-va, để ngươi được phước.” (6:18).

    “Khá giữ lấy mình, kẻo ngươi quên Đức Giê-hô-va.” (6:12).

    “Ngươi sẽ vui vẻ trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, về mọi việc tay ngươi đã làm.” (12:18).

    “—! Chớ chi dân nầy thường có một lòng kính sợ Ta, hằng giữ theo các điều răn Ta như thế, để chúng nó và con cháu chúng nó được phước đời đời!” (5:29).

    “Kìa, ngày nay ta đặt trước mặt các ngươi sự phước lành và sự rủa sả. Sự phước lành: nếu các ngươi nghe theo…; sự rủa sả: nếu các ngươi không nghe theo.” (11:26-28).

    “Nếu ngươi nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi cách trung thành, cẩn thận làm theo mọi điều răn của Ngài,… thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ ban cho ngươi sự trổi hơn mọi dân trên đất.” (28:1).

    “Nhưng nếu ngươi không nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi… Ngài sẽ khiến giáng cho ngươi sự rủa sả, kinh khủng… ôn dịch… bịnh lao, bịnh nóng lạnh,… sự nóng cháy,sự hạn hán, binh đao,… sự sảng sốt, sự đui mù, và sự lãng trí… Đức Giê-hô-va sẽ ban cho ngươi một tấm lòng run sợ… Sớm mai ngươi sẽ nói: Chớ chi được chiều tối rồi! Chiều tối ngươi sẽ nói: Ước gì được sáng mai rồi!” (28:15-67).

    “Ngày nay, ta bắt trời và đất làm chứng cho các ngươi rằng ta đã đặt trước mặt ngươi sự sống và sự chết, sự phước lành và sự rủa sả… Hãy chọn sự sống… thương mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi… và tríu mến Ngài,… Hãy để lòng chăm chỉ,… cẩn thận làm theo các lời của luật pháp nầy. Vì chẳng phải một lời nói vô giá trị cho các ngươi đâu,nhưng nó là sự sống của các ngươi; nhờ lời nói nầy, các ngươi sẽ ở lâu ngày trên đất.” (30:19,20  32:46,47).

    “Ta sẽ ở cùng ngươi như Ta ở cùng Môi-se; Ta sẽ không lìa ngươi, không bỏ ngươi đâu.” (Giô-suê 1:5).

    “Chỉ hãy vững lòng bền chí, và cẩn thận làm theo hết thảy luật pháp mà Môi-se, tôi tớ Ta, đã truyền cho ngươi; chớ xây qua bên hữu hoặc bên tả, để hễ ngươi đi đâu, cũng đều được thạnh vượng.” (1:7).

    “Quyển sách luật pháp nầy chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong; vì như vậy, ngươi mới được may mắn trong con đường mình, và mới được phước.” (1:8).

    “Có lắm điều dò xét trong lòng.” (Các Quan Xét 5:16 — theo nguyên văn).

    “Bá tánh dâng mình cách vui lòng.” (5:2).

    “Những ngôi sao cứ theo đường mình mà đánh” (vì dân Y-sơ-ra-ên). (5:20).

    “Mẹ đi đâu, tôi sẽ đi đó; mẹ ở nơi nào, tôi sẽ ở nơi đó. Dân của mẹ, tức là dân của tôi; Đức Chúa Trời của mẹ, tức là Đức Chúa Trời của tôi, mẹ thác nơi nào, tôi muốn thác và được chôn nơi đó.Ví bằng có sự chi khác hơn sự chết phân rẽ tôi khỏi mẹ, nguyện Đức Giê-hô-va giáng họa cho tôi!” (Ru-tơ 1:16,Ru-tơ 1:17).

    “Đức Giê-hô-va chẳng xem điều gì loài người xem; loài người xem bề ngoài, nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng.” (1Sa-mu-ên 16:7).

    “Còn ta đây, cũng chẳng phạm tội cùng Đức Giê-hô-va mà thôi cầu nguyện cho các ngươi… Sa-mu-ên… kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va trọn đêm.” (12:23  15:11).

    “Đức Giê-hô-va là Chúa của chiến trận.” (17:47).

    “Chẳng do sức riêng mình mà người nào được thắng.” (2:9).

    “Nếu các ngươi thật hết lòng trở lại cùng Đức Giê-hô-va,… Ngài ắt sẽ giải cứu các ngươi khỏi tay dân Phi-li-tin.” (7:3).

    “Hãy kính sợ Đức Giê-hô-va, lấy hết lòng trung tín phục sự Ngài.” (12:24).

    “Hoặc giả Đức Giê-hô-va sẽ hành sự vì chúng ta chăng; vì Đức Giê-hô-va khiến cho số ít người được thắng cũng như số đông người vậy.” (14:6).

    “Người Phi-li-tin nầy, kẻ chẳng chịu phép cắt-bì nầy là ai, mà lại dám sỉ nhục đạo binh của Đức Chúa Trời hằng sống?” (17:26).

    “Bây giờ nó đã chết… Ta sẽ đi đến nó, nhưng nó không trở lại cùng ta.” (2Sa-mu-ên 12:22,2Sa-mu-ên 12:23).

    “Ta sẽ kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va.” (22:4).

    “Đức Chúa Trời tôi là hòn đá tôi,nơi tôi sẽ nương náu mình, là thuẫn đỡ tôi, sừng chửng cứu tôi, ngọn tháp cao và nơi nương dựa của tôi. Hỡi Đấng che chở tôi, ấy Ngài giải cứu tôi khỏi sự hung bạo… Ngài giải cứu tôi khỏi kẻ thù nghịch.” (22:2,3,18).

    “Ta không muốn dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta những của lễ thiêu không đáng giá chi.” (24:24).

    “Khá mạnh dạn và nên người trượng phu! Hãy giữ điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời muốn con giữ, để đi trong đường lối Ngài, gìn giữ… những điều răn… của Ngài,… hầu cho con làm điều chi hay là đi nơi nào, đều được thành công.” (1Các vua 2:2,1Các vua 2:3).

    “Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va! Về các lời tốt lành mà Ngài đã… phán ra, chẳng có một lời nào mà không ứng nghiệm.” (8:56).

    “Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi ôi!… Tôi chỉ là một đứa trẻ nhỏ… Xin ban cho kẻ tôi tớ Chúa tấm lòng khôn sáng, để phân biệt điều lành, điều dữ.” (3:7-9).

    “Có một ngọn gió mạnh thổi dữ tợn trước mặt Ngài, xé núi ra, và làm tan nát các hòn đá; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong trận gió. Sau trận gió có cơn động đất; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong cơn động đất. Sau cơn động đất có đám lửa; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong đám lửa. Sau đám lửa, có một tiếng êm dịu nhỏ nhẹ.” (19:11,12).

    “Chớ sợ, những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng nó…

    “Đức Giê-hô-va mở mắt người ra,thì người thấy núi đầy những ngựa và xe bằng lửa ở xung quanh Ê-li-sê.” (2Các vua 6:16,2Các vua 6:17).

    “Ê-xê-chia nhờ cậy nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời… gìn giữ các Điều-răn mà Đức Chúa Trời đã truyền cho Môi-se.Đức Giê-hô-va ở cùng người; hễ người đi làm sự gì, đều được thành tựu.” (18:5,6,7).

    “Y-sơ-ra-ên bị cất khỏi xứ mình…(vì) đã phạm tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ… Dân Y-sơ-ra-ên làm lén những việc bất chánh… dựng lên những trụ thờ…, hầu việc những hình tượng…Bởi cớ ấy, Đức Giê-hô-va rất nổi giận dữ cùng dân Y-sơ-ra-ên, xua đuổi chúng khỏi trước mặt Ngài.” (17:23,7,9,10,12,18).

    “Hãy ca hát cho Ngài.” (1Sử Ký 16:9).

    “Đức Giê-hô-va quản trị.” (16:31).

    “Trận nầy bởi Đức Chúa Trời mà có.” (5:22).

    “Đức Giê-hô-va ở với người.” (9:20).

    “Hãy lấy Danh thánh Ngài làm vinh.” (16:10).

    “Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va.” (16:8).

    “Phải tìm mặt Ngài luôn luôn.” (16:11).

    “Có một lòng một dạ.” (12:33).

    “Phải tìm cầu Đức Giê-hô-va và sức mạnh Ngài.” (16:11).

    “Hãy mặc lấy trang sức thánh khiết mà thờ lạy Đức Giê-hô-va.” (16:29).

    “Đa-vít đi đến đâu, thì Đức Giê-hô-va cũng khiến cho người được thắng.” (18:6).

    “Giê-hô-va Đức Chúa Trời… chẳng hề từ bỏ con, cũng chẳng hề lìa khỏi con.” (28:20).

    “Mọi vật đều do nơi Chúa mà đến;và những vật chúng tôi đã dâng cho Chúa chẳng qua là đã thuộc về Chúa.” (29:14).

    “Đa-vít và cả Y-sơ-ra-ên đều hết sức vui chơi trước mặt Đức Chúa Trời, XƯỚNG CA.” (13:8).

    “Trong khi giao chiến, chúng kêu cầu cùng Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời vì chúng có lòng tin cậy Ngài, thì cứu giúp cho.” (5:20).

    “Hỡi Đức Giê-hô-va! Sự cao cả,quyền năng, vinh quang, toàn thắng và oai nghi đáng qui về Ngài,… nước thuộc về Ngài.” (29:11).

    “Đức Giê-hô-va dò xét tấm lòng, và phân biệt các ý tưởng. Nếu con tìm kiếm Ngài, Ngài sẽ cho con gặp; nhưng nếu con lìa bỏ Ngài, ắt Ngài sẽ từ bỏ con đời đời.” (28:9).

    “Nầy, Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta, làm Đầu chúng ta.” (2Sử Ký 13:12).

    “Khá tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, thì các ngươi sẽ vững chắc.” (20:20).

    “Dân Giu-đa được thắng hơn, vì chúng nhờ cậy nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời.” (13:18).

    “Bởi vì họ lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ… nên Ngài đã giáng trên họ các tai vạ nầy.” (7:22).

    “Hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi ôi,… nơi chúng tôi chẳng còn sức lực gì…, và chúng tôi cũng không biết điều gì mình phải làm; nhưng con mắt chúng tôi ngửa trông Chúa!” (20:12).

    “Trong lúc khốn khó, chúng trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, mà tìm cầu Ngài, thì lại gặp Ngài đặng.” (15:4).

    “Lạy Đức Giê-hô-va! Trừ ra Chúa,chẳng có ai giúp đỡ người yếu thắng được người mạnh;… ấy là nhơn danh Chúa mà chúng tôi đến đối địch cùng đoàn quân nầy.” (14:11).

    “Nhược bằng dân Ta, là dân gọi bằng Danh Ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt Ta, và trở lại, bỏ con đường tà, thì Ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ.” (7:14).

    “Ô-xia tìm kiếm (Đức Chúa Trời)bao lâu, thì Đức Chúa Trời khiến cho người đặng may mắn bấy lâu.” (26:5).

    “Giô-tham trở nên cường thạnh, bởi vì người đi đường chánh đáng trước mặt Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời mình.” (27:6).

    “Đức Giê-hô-va ở cùng Giô-sa-phát,vì người tìm cầu Đức Chúa Trời…, giữ theo các Điều-răn của Ngài.” (17:3,4).

    “Trong các việc người làm… nơi Đền của Đức Chúa Trời… thì người hết lòng mà làm, và được hanh thông.” (31:21).

    “Đương khi chúng khởi ca hát và ngợi khen, thì Đức Giê-hô-va đặt phục binh xông vào…, và các dân ấy đều bị bại.” (20:22).

    “Xảy khi kẻ thổi kèn và kẻ ca hát… khen ngợi, cảm tạ Đức Giê-hô-va,… thì… sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va đầy lấp đền của Đức Chúa Trời.” (5:3,14).

    “Cơn giận của Đức Giê-hô-va đã giáng trên chúng ta thật lớn thay, bởi… ta không gìn giữ lời phán của Đức Giê-hô-va, và chẳng làm theo các điều đã chép trong sách nầy.” (34:21).

    “Có nhiều trưởng tộc… dâng những của lễ lạc ý cho Nhà Đức Chúa Trời.” (E-xơ-ra 2:68).

    “Con mắt Đức Chúa Trời của chúng đoái xem các trưởng lão dân Giu-đa.” (5:5).

    “Những người đã tự chia rẽ ra sự ô uế của các dân tộc trong xứ.” (6:21).

    “Hỡi Đức Chúa Trời của chúng tôi ôi, thật Chúa chẳng có phạt chúng tôi cho đáng như tội chúng tôi.” (9:13).

    “Phàm điều gì Đức Chúa Trời truyền dạy…, khá làm cho cần mẫn.” (7:23).

    “E-xơ-ra đã định chí tra xét luật pháp của Đức Giê-hô-va, giữ làm theo, và dạy cho dân Y-sơ-ra-ên biết những luật pháp và giới mạng.” (7:10).

    “Đức Chúa Trời của chúng ta sẽ chiến đấu cho chúng ta.” (Nê-hê-mi 4:20).

    “Hãy đứng dậy, ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.” (9:5).

    “Sự vui vẻ của Đức Giê-hô-va là sức lực của các ngươi.” (8:10).

    “Chúng tôi sẽ chẳng lìa bỏ Đền của Đức Chúa Trời chúng tôi đâu.” (10:39).

    “Đức Chúa Trời của các từng trời sẽ ban cho chúng ta sự hanh thông.” (2:20).

    “… Là một người trung tín và kính sợ Đức Chúa Trời hơn nhiều kẻ khác.” (7:2).

    “Anh em há chẳng đáng lẽ ăn ở cách kính sợ Đức Chúa Trời… sao?” (5:9).

    “Chúng được vững chắc trong ý nhất định làm công việc tốt lành nầy.” (2:18).

    “Ta mắc làm công việc lớn, xuống không đặng.” (6:3).

    “Những kẻ ca hát tiếng lớn,… vì Đức Chúa Trời đã khiến cho chúng vui mừng khấp khởi.” (12:42,43).

    “Chúng tôi cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời chúng tôi, và lập kẻ ngày và đêm canh giữ họ… Vậy, chúng tôi xây cất vách thành lại, vì dân chuyên thành làm công việc.” (4:9,6).

    “Nào ai biết rằng chẳng phải vì cớ cơ hội hiện lúc nầy mà ngươi được vị hoàng hậu sao?” (Ê-xơ-tê 4:14).

    “Tôi sẽ vào cùng vua…; nếu tôi phải chết, thì tôi chết.” (4:16).

    “Đức Giê-hô-va đã ban cho, Đức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Đức Giê-hô-va!

    “Trong mọi sự ấy, Gióp không phạm tội, và chẳng nói phạm thượng cùng Đức Chúa Trời.” (Gióp 1:21,Gióp 1:22).

    “Người mà Đức Chúa Trời quở trách lấy làm phước thay! Vậy, chớ khinh sự sửa phạt của Đấng Toàn năng.

    “Vì Ngài làm cho bị thương tích,rồi lại bó rịt cho; Ngài đánh bại, rồi tay Ngài chữa lành cho.” (5:17,18).

    “Loài người là gì…? Nhân sao Chúa lưu ý đến người, viếng thăm người mỗi buổi sớm, và thử thách người mỗi lúc, mỗi khi?” (7:17,18).

    “Nhờ ánh sáng Ngài, tôi bước qua sự tối tăm.” (29:3).

    “Chúa biết con đường tôi đi; khi Ngài đã thử rèn tôi, tôi sẽ ra như vàng.” (23:10).

    “Vì ít số năm còn phải đến, rồi tôi sẽ đi con đường mà tôi chẳng hề trở lại.” (16:22).

    “Mắt đã thấy tôi sẽ chẳng thấy tôi nữa.” (7:8).

    “Nếu loài người chết, có được sống lại chăng? Trọn ngày giặc giã tôi, tôi đợi chờ, cho đến chừng tôi được buông thả.

    “Chúa sẽ gọi, tôi sẽ thưa lại;Chúa sẽ đoái đến công việc của tay Chúa.” (14:14,15).

    “Mặc dầu xảy đến cho ta điều gì…dầu Chúa giết ta, Ta Cũng Còn Nhờ Cậy Nơi Ngài.” (13:13,15).

    “Tôi Biết Rằng Đấng Cứu Chuộc Tôi Vẫn Sống, đến lúc cuối cùng, Ngài sẽ đứng trên đất.

    “Chính tôi sẽ thấy Ngài, mắt tôi sẽ nhìn xem Ngài.” (19:25,27).

    “Phước cho người nào… lấy làm vui vẻ về luật pháp của Đức Giê-hô-va, và suy gẫm luật pháp ấy ngày và đêm!” (Thi Thiên 1:1,Thi Thiên 1:2).

    “Tôi nằm xuống mà ngủ; tôi tỉnh thức, vì Đức Giê-hô-va nâng đỡ tôi.” (3:5).

    “Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi sẽ nằm và ngủ bình an; vì chỉ một mình Ngài làm cho tôi được ở yên ổn.” (4:8).

    “Chúa khiến lòng tôi vui mừng nhiều hơn chúng nó, dầu khi chúng nó có lúa mì và rượu nho dư dật.” (4:7).

    “Phàm ai nương náu mình nơi Chúa sẽ khoái lạc, cất tiếng reo mừng đến mãi mãi, vì Chúa bảo hộ các người ấy.” (5:11).

    “Đức Giê-hô-va làm Vua đến đời đời vô cùng.” (10:16).

    “Nguyện các dân biết mình chẳng qua là người phàm!” (9:20).

    “Phàm kẻ nào nương náu mình nơi Ngài có phước thay.” (2:12).

    “Đức Chúa Trời là cái khiên của tôi.” (7:10).

    “Khi ta kêu cầu Đức Giê-hô-va, ắt Ngài sẽ nghe lời ta.” (4:3).

    “Tôi sẽ không nao muôn người vây tôi khắp bốn bên.” (3:6).

    “Tôi sẽ hát ngợi khen Đức Giê-hô-va.” (13:6).

    “Tôi nương náu mình nơi Đức Giê-hô-va.” (11:1).

    “Tôi hằng để Đức Giê-hô-va đứng ở trước mặt tôi; tôi chẳng hề bị rúng động, vì Ngài ở bên hữu tôi.” (16:8).

    “Hỡi Đức Giê-hô-va,… xin lấy công bình Ngài mà dẫn dắt tôi, và ban bằng đường Ngài trước mặt tôi.” (5:8).

    “Chúa sẽ chỉ cho tôi biết con đường sự sống; trước mặt Chúa có trọn sự khoái lạc; tại bên hữu Chúa có điều vui sướng vô cùng.” (16:11).

    “Tôi sẽ hết lòng cảm tạ Đức Giê-hô-va… Tôi sẽ vui vẻ, hớn hở nơi Ngài.” (9:1,2).

    “Tôi nương náu mình nơi Chúa…Ngài là Chúa tôi.” (16:1,2).

    “Kỳ mạng tôi ở nơi tay Chúa.”(31:15).

    “Khi tôi tỉnh thức, tôi sẽ thỏa nguyện nhìn xem hình dạng của Chúa.” (17:15).

    “Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi.” (27:1).

    “Đức Chúa Trời hằng ngày nổi giận cùng kẻ ác.” (7:11).

    “Đức Giê-hô-va đã để riêng cho mình người nhơn đức.” (4:3).

    “Đức Chúa Trời thắt lưng tôi bằng năng lực.” (18:32).

    “Tôi sẽ kêu cầu Ngài, ắt sẽ được giải cứu.” (18:3).

    “Ngài là sự nhơn từ tôi, đồn lũy tôi, nơi ẩn náu cao của tôi, và là Đấng giải cứu tôi.” (144:9).

    “Kẻ nầy nhờ cậy xe cộ, kẻ khác nhờ cậy ngựa, nhưng chúng tôi nhờ cậy Danh Giê- hô-va, là Đức Chúa Trời chúng tôi.” (20:7).

    “Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại; sự chứng cớ Đức Giê-hô-va là chắc chắn, làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan…

    “Các mạng lịnh của Đức Giê-hô-va là chơn thật, thảy đều công bình cả. Các điều ấy quí hơn vàng, thật báu hơn vàng ròng; lại ngọt hơn mật… Ai gìn giữ lấy, được phần thưởng lớn thay!”(19:7-11).

    “Xin Chúa tha các lỗi tôi không biết.

    “Xin Chúa giữ kẻ tôi tớ Chúa khỏi cố ý phạm tội. Nguyện tội ấy không cai trị tôi!

    “Hỡi Đức Giê-hô-va, là Hòn Đá tôi,và là Đấng cứu chuộc tôi, nguyện lời nói của miệng tôi, sự suy gẫm của lòng tôi được đẹp ý Ngài!” (19:12-14).

    “Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi: Tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì.” (23:1).

    “Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào; vì Chúa ở cùng tôi.” (23:4).

    “Quả thật, trọn đời tôi phước hạnh và sự thương xót sẽ theo tôi; tôi sẽ ở trong nhà Đức Giê-hô-va cho đến lâu dài.” (23:6).

    “Nước nào có Đức Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình,… có phước thay!” (33:12).

    “Sự khóc lóc đến trọ ban đêm,nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng.” (30:5;).

    “Hãy trông đợi Đức Giê-hô-va; hãy vững lòng bền chí! Phải, hãy trông đợi Đức Giê-hô-va.” (27:14).

    “Hãy tin cậy Đức Giê-hô-va và làm điều lành.” (37:3).

    “Hãy yên tịnh trước mặt Đức Giê-hô-va, và chờ đợi Ngài.” (37:7).

    “Hãy khoái lạc nơi Đức Giê-hô-va,thì Ngài sẽ ban cho ngươi điều lòng mình ao ước.” (37:4),

    “Hãy phó thác đường lối mình cho Đức Giê-hô-va, và nhờ cậy nơi Ngài, thì Ngài sẽ làm thành việc ấy.” (37:5).

    “Đức Giê-hô-va định liệu các bước của người (công bình)…. Dầu người té, cũng không nằm sải dài…

    “Luật pháp Đức Chúa Trời người ở trong lòng người, bước người không hề xiêu tó.” (37:23,24,31).

    “Tôi sẽ đến thuật công việc quyền năng của Chúa Giê-hô-va.” (71:16).

    “Tôi sẽ giữ các đường lối tôi, để tôi không dùng lưỡi mình mà phạm tội.” (39:1).

    “Nếu lòng tôi có chú về tội ác, ắt Chúa chẳng nghe tôi.” (66:18).

    “Đức Chúa Trời là Vua.” (47:7).

    “Đức Chúa Trời là Sự Tiếp trợ tôi.” (54:4).

    “Tôi kêu cầu cùng Đức Chúa Trời.” (55:16).

    “Tôi đã để lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời.” (56:11).

    “Đức Giê-hô-va sẽ làm… một nơi ẩn náu cao trong thì gian truân.” (9:9).

    “Linh hồn tôi khát khao Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời hằng sống.” (42:2).

    “Lòng và thịt tôi kêu la về Đức Chúa Trời hằng sống.” (84:2).

    “Đức Chúa Trời nầy là Đức Chúa Trời chúng tôi đến đời đời vô cùng; Ngài sẽ dẫn chúng tôi cho đến kỳ chết.” (48:14).

    “Chúng tôi chẳng sợ dầu đất bị biến cải,… dầu nước biển ầm ầm sôi bọt, và các núi rúng động.” (46:2,3).

    “Chúa là Đức Chúa Trời tôi.” (63:1).

    “Tôi sẽ ca hát về sức lực Chúa.

    Tôi sẽ hát lớn tiếng về sự nhơn từ Chúa.” (59:16).

    “Tôi sẽ hát ngợi khen Danh Chúa đời đời.” (61:8).

    “Nguyện các dân ngợi khen Chúa!Nguyện muôn dân ca tụng Ngài!” (67:5).

    “Phước cho người nào được sức lực trong Chúa!” (84:5).

    “Chúa đã thử thách chúng tôi, rèn luyện chúng tôi… Chúng tôi đi qua lửa, qua nước; nhưng Chúa đem chúng tôi ra nơi giàu có.” (66:10,12).

    “Kẻ nào gieo giống mà giọt lệ, sẽ gặt hái cách vui mừng.” (126:5).

    “Đức Giê-hô-va ở gần những người có lòng đau thương.” (34:18).

    “Người công bình bị nhiều tai họa,nhưng Đức Giê-hô-va cứu người khỏi hết” (34:19).

    “Người nào ở nơi kín đáo của Đấng Chí cao, sẽ được hằng ở dưới bóng của Đấng Toàn năng.” (91:1).

    “Ngài sẽ giải cứu ngươi khỏi bẫy chim, và khỏi dịch lệ độc hại…

    “Ngươi sẽ chẳng sợ hoặc sự kinh khiếp ban đêm, hoặc tên bay ban ngày,

    “Hoặc dịch lệ lây ra trong tối tăm, hay là sự tàn diệt phá hoại đương lúc trưa.

    “Sẽ có ngàn người sa ngã bên ngươi, và muôn người sa ngã bên hữu ngươi; song tai họa sẽ chẳng đến gần ngươi.” (91:3-7).

    “Sẽ chẳng có tai họa gì xảy đến ngươi… Vì Ngài sẽ ban lịnh cho thiên sứ Ngài, bảo gìn giữ ngươi trong các đường lối ngươi.” (91:10,11).

    “Nguyện các thánh Ngài mừng rỡ…,Hát Vui Vẻ.” (149:5).

    “Những kẻ được trồng trong Nhà Đức Giê-hô-va sẽ trổ bông trong hành lang của Đức Chúa Trời chúng ta.” (92:13).

    “Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách vui mừng, hãy hát xướng mà đến trước mặt Ngài.” (100:2).

    “Hỡi Đức Giê-hô-va, phước cho người nào Ngài sửa phạt, và dạy luật phap Ngài cho, để ban cho người ấy được an nghỉ trong ngày hoạn nạn,” (94:12,13).

    “Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Mọi điều gì ở trong ta hãy ca tụng Danh Thánh của Ngài!” (103:1).

    “Đức Giê-hô-va có lòng thương xót,hay làm ơn, chậm nóng giận và đầy sự nhơn từ.

    “Ngài không bắt tội luôn luôn,cũng chẳng giữ lòng giận đến đời đời.

    “Ngài không đãi chúng tôi theo tội lỗi chúng tôi, cũng không báo trả chúng tôi tùy sự gian ác của chúng tôi.

    “Vì hễ các từng trời cao trên đất bao nhiêu, thì sự nhơn từ Ngài càng lớn cho kẻ nào kính sợ Ngài bấy nhiêu.” (103:8-11).

    “Sự nhơn từ của Đức Giê-hô-va hằng có đời đời cho những người kính sợ Ngài.” (103:17).

    “Tôi yêu mến Đức Giê-hô-va, vì Ngài nghe tiếng tôi, và lời nài xin của tôi.

    “Tôi sẽ cầu khẩn Ngài trọn đời tôi, bởi vì Ngài có nghiêng tai qua tôi.” (116:65).

    “Tôi trông cậy Lời của Chúa.”(119:81).

    “Tôi tin cậy nơi Lời Chúa.” (119:42).

    “Luật pháp Chúa là điều tôi ưa thích.” (119:77).

    “Chứng cớ Chúa thật lạ lùng.”(119:129).

    “Tôi chẳng hề quên giềng mối Chúa.” (119:93).

    “Sự bày giãi Lời Chúa soi sáng cho.” (119:130).

    “Tôi yêu mến Điều răn Chúa hơn vàng.” (119:127).

    “Phàm kẻ nào yêu mến luật pháp Chúa được bình yên lớn.” (119:111).  “Chứng cớ Chúa là… sự mừng rỡ của tôi.” (119:111).

    “Hỡi Đức Giê-hô-va, Lời Ngài được vững lập đời đời trên trời.” (119:89).

    “Lời Chúa… thật ngọt hơn mật ong trong miệng tôi!” (119:103).

    “Lời Chúa là ngọn đèn cho chơn tôi, ánh sáng cho đường lối tôi.” (119:105).

    “Tôi yêu mến luật pháp Chúa biết bao! Trọn ngày tôi suy gẫm luật pháp ấy.” (119:97).

    “Tôi đã giấu Lời Chúa trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Chúa.” (119:11).

    “Xin Chúa mở mắt tôi, để tôi thấy sự lạ lùng trong luật pháp của Ngài.” (119:18).

    “Người trẻ tuổi phải làm sao cho đường lối mình được trong sạch? Phải cẩn thận theo Lời Chúa.” (119:9).

    “Nếu Đức Giê-hô-va không cất nhà,thì những thợ xây cất làm uổng công.

    “Nhược bằng Đức Giê-hô-va không coi giữ thành, thì người canh thức canh luống công.” (127:1).

    “Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy giữ miệng tôi, và canh cửa môi tôi.” (141:3).

    “Đức Chúa Trời ôi! Xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng.” (51:10;).

    “Đức Chúa Trời ơi, xin hãy tra xét tôi, và biết lòng tôi; hãy thử thách tôi, và biết tư tưởng tôi; xin xem thử tôi có lối ác nào chăng, xin dắt tôi vào con đường đời đời.” (139:23,24).

    “Trọn đời sống tôi sẽ ngợi khen Đức Giê-hô-va.” (146:2).

    “Kẻ nào gieo giống mà giọt lệ, sẽ gặt hái cách vui mừng.” (126:5).

    “Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự khôn ngoan.” (111:10).

    “Phàm vật chi thở, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va!” (150:6).

    “Sự kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là ghét điều ác.” (Châm Ngôn 8:13).

    “Sự kính sợ Đức Giê-hô-va gia thêm ngày tháng.” (10:27).

    “Sự kính sợ Đức Giê-hô-va vốn một nguồn sự sống.” (14:27).

    “Kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là khởi đầu sự khôn ngoan.” (9:10).

    “Sự khôn ngoan là điều cần nhứt;vậy khá cầu lấy sự khôn ngoan.” (4:7).

    “Sự khôn ngoan quí báu hơn châu ngọc, chẳng một bửu vật nào con ưa thích mà sánh kịp nó được.

    “Tay hữu nó cầm sự trường thọ,

    còn trong tay tả, có sự giàu có và vinh hiển.

    “Các nẻo nó vốn là nẻo khoái lạc,và các lối nó cả đều bình an.” (3:15,17).

    “Khá gìn giữ sự khôn ngoan thật…, thì… con sẽ bước đi vững vàng… Khi con nằm… con sẽ… ngủ ngon giấc,… vì Đức Giê-hô-va là nơi nương cậy của con.” (3:21,23,24,26).

    “Miệng kẻ ngu muội là sự bại hoại của nó.” (18:7).

    “Ai rải điều nói hành là kẻ ngu dại.” (10:18).

    “Lời đáp êm nhẹ làm nguôi cơn giận.” (15:1).

    “Lưỡi hiền lành giống như một cây sự sống.” (15:4).

    “Kẻ canh giữ miệng mình, giữ được mạng sống mình.” (13:3).

    “Lời nói phải thì lấy làm tốt biết bao!” (15:23).

    “Sống, chết ở nơi quyền của lưỡi.” (18:21).

    “Khi nín lặng, dầu người ngu dại,cũng được cầm bằng khôn ngoan.” (17:28).

    “Ai giữ lấy miệng và lưỡi mình,giữ linh hồn mình khỏi hoạn nạn.” (21:23).

    “Lời nói phải thì, khác nào trái bình bát bằng vàng có cẩn bạc.” (25:11).

    “Lòng người toan định đường lối mình; song Đức Giê-hô-va chỉ dẫn các bước của người.” (16:9).

    “Trong lòng loài người có nhiều mưu kế; song ý chỉ của Đức Giê-hô-va sẽ thành được.” (19:21).

    “Phàm trong các việc làm của con,khá nhận biết Ngài, thì Ngài sẽ chỉ dẫn các nẻo của con.” (3:6).

    “Hãy hết lòng tin cậy Đức Giê-hô-va, chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con.” (3:5;).

    “Khá cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết, vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra.” (4:23).

    “Hắn tưởng trong lòng thể nào, thì hắn quả thể ấy.” (23:7).

    “Hãy lấy tài vật và huê lợi đầu mùa của con mà tôn vinh Đức Giê-hô-va; vậy, các vựa lẫm con sẽ đầy dư dật.” (3:9,10).

    “Con có thấy người nào siêng năng trong công việc mình chăng? Người ấy hẳn sẽ đứng ở trước mặt các vua.” (22:29).

    “Con đường người công bình giống như sự sáng chiếu rạng, càng sáng thêm lên cho đến giữa trưa.” (4:18).

    “Sự sống ở nơi đường công bình;trên lối nó không có sự chết.” (12:28).

    “Trong ngày thới thạnh hãy vui mừng, trong ngày tai nạn hãy coi chừng; vì Đức Chúa Trời đặt ngày nầy đối với ngày kia.” (Truyền Đạo 7:14).

    “Mọi việc tay ngươi làm được, hãy làm hết sức mình.” (9:10).

    “Vừa sáng sớm, khá gieo giống ngươi, và buổi chiều, chớ nghỉ tay ngươi; vì ngươi chẳng biết giống nào sẽ mọc tốt, hoặc giống nầy, hoặc giống kia.” (11:6).

    “Hãy liệng bánh ngươi nơi mặt nước, vì khỏi lâu ngày, ngươi sẽ tìm nó lại.” (11:1).

    “Trong buổi còn thơ ấu, hãy tưởng nhớ Đấng Tạo-hóa ngươi.” (12:1).

    “Khá kính sợ Đức Chúa Trời và vâng giữ các Điều-răn Ngài; ấy là trọn phận sự của ngươi.

    “Vì Đức Chúa Trời sẽ đem đoán xét các công việc, đến đỗi việc kín nhiệm hơn hết, hoặc thiện, hoặc ác cũng vậy.” (12:13,14).

    “Trong ngày ấy,… người đi đến nơi ở đời đời của mình….

    “Bụi tro trở vào đất y như nguyên-cũ, và thần linh trở về nơi Đức Chúa Trời, là Đấng đã ban nó.” (12:3,5,7).

    “Lương nhơn tôi thuộc về tôi, và tôi thuộc về người.” (Nhã Ca 2:16).

    “Tôi thuộc về lương nhơn tôi, và lương nhơn tôi thuộc về tôi.” (6:3).

    “Hỡi các từng trời, hãy nghe; hỡi đất, hãy lắng tai; vì Đức Giê-hô-va có phán.” (Ê-sai 1:2).

    “Ôi! Nước mắc tội, dân mang lỗi nặng nề,… khi các ngươi giơ tay, thì Ta che mắt khỏi các ngươi.” (1:4,15).

    “Hãy rửa đi, hãy làm cho sạch! Hãy tránh (Nên dịch là: “cất.”) những việc ác khỏi trước mắt Ta.” (1:16).

    “Bây giờ hãy đến, cho chúng ta biện luận cùng nhau. Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên.” (1:18).

    “Hỡi dân Ta, kẻ dẫn ngươi làm cho ngươi sai lạc.” (3:12).

    “Hãy theo luật pháp và lời chứng!Nếu dân chẳng nói như vậy, chắc sẽ chẳng có rạng đông cho nó.” (8:20).

    “Đức Giê-hô-va là Vua chúng ta.” (33:21,22).

    “Đức Giê-hô-va sẽ làm cho nghe tiếng oai nghiêm Ngài. Ngài sẽ tỏ cánh tay ngăm đe của mình ra.” (30:30).

    “Các ngươi sẽ được rỗi, là tại trở lại và yên nghỉ; các ngươi sẽ được sức mạnh, là tại yên lặng và trông cậy…

    “Giê-hô-va là Đức Chúa Trời công nghĩa. Phước thay cho mọi kẻ trông đợi Ngài!.” (30:15,18).

    “Hãy tìm trong sách Đức Giê-hô-va và đọc lấy.” (34:16).

    “Cỏ khô, hoa rụng; nhưng Lời của Đức Chúa Trời chúng ta còn mãi đời đời.” (40:8).

    “Tại đó sẽ có một đường cái, và một lối gọi là đường thánh… Ai đi trong đường đó, dầu khờ dại, cũng không lầm lạc…

    “Những kẻ được chuộc sẽ bước đi đường ấy, những kẻ Đức Giê-hô-va đã chuộc sẽ về, ca hát mà đến Si-ôn; sự vui vẻ vô cùng sẽ ở trên đầu họ… Sự buồn bực, than vãn sẽ trốn đi.” (35:8-10).

    “Người nào để trí mình nương dựa nơi Ngài, thì Ngài sẽ gìn giữ người trong sự bình yên trọn vẹn, vì người nhờ cậy Ngài.

    “Hãy nhờ cậy Đức Giê-hô-va đời đời, vì Đức Giê-hô-va,… là Vầng Đá của các thời đại.” (26:3,4).

    “Ngươi không biết sao, không nghe sao? Đức Chúa Trời hằng sống, là Đức Giê-hô- va, là Đấng đã dựng nên các đầu cùng đất, chẳng mỏi, chẳng mệt… Ngài ban sức mạnh cho kẻ nhọc nhằn …

    “Ai trông đợi Đức Giê-hô-va, thì chắc được sức mới, cất cánh bay cao như chim ưng, chạy mà không mệt nhọc, đi mà không mòn mỏi.” (40:28-31).

    “Nầy, tay Đức Giê-hô-va chẳng trở nên ngắn mà không cứu được; tai Ngài cũng chẳng nặng nề mà không nghe được đâu.

    “Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Đức Chúa Trời, và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa.” (59:1,2).

    “Thật Đức Giê-hô-va là Quan xét chúng ta, Đức Giê-hô-va là Đấng lập luật cho chúng ta, Đức Giê-hô-va là Vua chúng ta; chính Ngài sẽ cứu chúng ta!” (33:22).

    “Chúa Giê-hô-va sẽ giúp ta…;vậy, ta làm cho mặt ta cứng như đá, vì biết mình sẽ chẳng có điều chi xấu hổ.” (50:7).

    “Hãy ca tụng Đức Giê-hô-va.” (12:5).

    “Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi tôi.” (12:2).

    “Hãy trổi giọng hát mừng chung rập.” (52:9).

    “Ngoài Ta, không có Cứu Chúa nào khác.” (43:11).

    “Nầy là đường đây, hãy noi theo!” (30:21).

    “Hãy nhìn xem Ta và được cứu.” (45:22).

    “Ta là Đức Chúa Trời, chẳng có ai giống như Ta.” (46:9).

    “Ta làm ra, ai ngăn cấm Ta được?” (43:13).

    “Ngươi sẽ được xưng bằng tên mới.” (62:2).

    “Hỡi Si-ôn, hãy chổi dậy, giũ bụi bặm đi.” (52:1,2).

    “Lòng nhơn từ Ta đối với ngươi chẳng dời khỏi ngươi.” (54:10).

    “Sự bình an của con cái ngươi sẽ lớn.” (54:13).

    “Phước thay cho các ngươi gieo giống ở bên mọi dòng nước!” (32:20).

    “Ta sẽ dựng trời mới, đất mới.” (65:17).

    “Những ngày sầu thảm của ngươi đã hết rồi.” (60:20).

    “Đức Giê-hô-va sẽ là Sự Sáng đời đời cho ngươi.” (60:20).

    “Những kẻ trông cậy Ta sẽ chẳng hổ thẹn.” (49:23).

    “Tại đó sẽ chẳng còn nghe tiếng khóc lóc, kêu la nữa.” (65:19).

    “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, sẽ nắm tay hữu ngươi.” (41:13).

    “Hỡi đất, đất, đất! Hãy nghe Lời của Đức Giê-hô-va.” (22:29).

    “Trong đất nầy đã xảy ra sự lạ lùng đáng gớm. Những tiên tri nói tiên tri dối, các thầy tế lễ bởi đó mà cầm quyền! Dân Ta đều lấy làm ưa thích.” (5:30,31).

    “Chính kẻ tiên tri, thầy tế lễ,đều là ô uế.” (23:11).

    “Từ kẻ rất nhỏ cho đến người rất lớn, đều tham lam; từ kẻ tiên tri cho đến thầy tế lễ, đều làm sự giả dối.”(6:13).

    “Hỡi nhà Gia-cốp,… lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi,… ấy là một sự xấu xa, cay đắng.” (2:4,19).

    “Các ngươi há chẳng trộm cướp,giết người, phạm tội tà dâm, thề dối, dâng hương cho Ba-anh, đi theo thần khác… sao?” (7:9).

    “Tổ phụ các ngươi đã bỏ Ta, mà theo các thần khác,… còn các ngươi lại làm xấu hơn tổ phụ mình.” (16:11,12).

    “Hãy đi các đường phố Giê-ru-sa-lem, và nhìn xem,… thử có thấy một người chăng, nếu có một người làm sự công bình…

    “Chúng nó chẳng chịu dạy dỗ. Chúng nó tự làm cứng mặt mình hơn vầng đá, chẳng khứng trở lại.

    “Dầu ngươi lấy hỏa tiêu… rửa mình, tội lỗi ngươi cũng còn ghi mãi trước mặt Ta.

    “Ta há chẳng thăm phạt vì những sự đó hay sao? Thần Ta há chẳng trả thù một nước như vậy hay sao?” (5:1,3  2:22  5:9).

    “Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy làm sạch hết điều ác trong lòng ngươi, hầu cho ngươi được cứu.” (4:14).

    “Hãy… tra xét những đường lối cũ, xem thử đường tốt ở đâu: hãy đi đường ấy, thì các ngươi sẽ được an nghỉ cho linh hồn mình.” (6:16).

    “Bây giờ các ngươi hãy sửa lại đường lối và việc làm của mình,… thì Đức Giê-hô-va sẽ ăn năn về tai họa mà Ngài đã rao ra nghịch cùng các ngươi.” (26:13).

    “Tội của Giu-đa đã chép bằng bút sắt, bằng dùi kim cương, đã chạm trên bảng trong lòng chúng nó.” (17:1).

    “Khi còn ban ngày, mặt trời nó đã lặn.” (15:9).

    “Mùa gặt đã qua, mùa hạ đã hết, mà chúng ta chưa được cứu rỗi!” (8:20).

    “Về các tiên tri, lòng ta tan nát trong ta… chúng nó… nói sự hiện thấy bởi lòng mình, chẳng phải bởi miệng Đức Giê-hô-va.” (23:9,16).

    “Nếu những tiên tri nầy có đứng trong sự bàn luận Ta, thì đã khiến dân Ta nghe lời Ta, và đã làm cho dân từ đường dữ, việc xấu mà trở lại rồi.” (23:22).

    “Chúng nó nhơn Danh Ta mà nói tiên tri giả dối rằng: Ta có chiêm bao; thật ta có chiêm bao!” (23:25).

    “Đức Giê-hô-va phán: Khi tiên tri nào có chiêm bao, hãy thuật chiêm bao ấy đi; còn kẻ nào đã lãnh Lời Ta, Hãy Truyền Lại Lời Ta Cách Trung Tín.” (23:28).

    “Lời Ta há chẳng như lửa, như búa đập vỡ đá sao? Đức Giê-hô-va phán vậy.” (23:29).

    “Nếu dân nầy hỏi ngươi rằng: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va là gì?… Lời của mỗi người sẽ là gánh nặng của nó.” (23:33,36).

    “Các ngươi đã làm trái những lời của Đức Chúa Trời hằng sống.” (23:36).

    “Chớ nhờ cậy những lời dối trá.” (7:4).

    “Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng.” (17:10).

    “Nầy, Ta đã đặt những Lời Ta trong miệng ngươi.” (1:9).

    “Chúng nó đã bỏ Lời của Đức Giê-hô-va.” (8:9).

    “Tội ác ngươi sẽ sửa phạt ngươi.” (2:19).

    “Phải, Ta đã lấy sự yêu thương đời đời mà yêu ngươi.” (31:3).

    “Dân ta sẽ no nê về ơn phước của Ta.” (31:14).

    “Lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi,… ấy là một sự xấu xa, cay đắng.” (2:19).

    “Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời thật; Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống, là Vua đời đời.” (10:10).

    “Nầy, Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của mọi xác thịt; có sự gì khó quá cho ta chăng?” (32:27).

    “Hãy kêu cầu Ta, Ta sẽ trả lời cho; Ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn,… vì đã để lòng trông cậy trong Ta.” (33:3  39:8).

    “Đáng chúc phước thay là kẻ nhờ cậy Đức Giê-hô-va!” (17:7).

    “Các ngươi sẽ tìm Ta, và gặp được,khi các ngươi tìm kiếm Ta hết lòng.” (29:13).

    “Sự thành tín Ngài là lớn lắm.” (Ca Thương 3:23).

    “Đức Giê-hô-va ban sự nhơn từ cho những kẻ trông đợi Ngài.” (3:25).

    “Khi Ta nói với kẻ dữ rằng: Mầy chắc sẽ chết! — nếu ngươi không răn bảo nó,… thì người dữ đó sẽ chết trong tội lỗi nó; nhưng Ta sẽ đòi huyết nó nơi tay ngươi.” (Ê-xê-chiên 3:18).

    “Trái lại, nếu ngươi răn bảo kẻ dữ, mà nó không từ bỏ sự dữ,… thì nó sẽ chết trong tội lỗi nó; còn ngươi, thì giải cứu được linh hồn mình.” (3:19).

    Sự khôi phục nước Y-sơ-ra-ên

    “Ta cũng sẽ tìm chiên Ta ra…, Ta sẽ nhóm chúng nó lại từ các nước, và đem chúng nó về trong đất riêng chúng nó…. Người sẽ chăn chúng nó, tức là Đa-vít, tôi tớ Ta,… ấy sẽ là cơn mưa của phước lành.” (34:12,13,23,26).

    Sự hiện thấy về hài cốt

    “Đức Giê-hô-va… đặt ta giữa trũng; nó đầy những hài cốt… Những hài cốt ấy… đều là khô lắm… Có tiếng,và nầy, có động đất: những xương nhóm lại, hiệp với nhau… Gân và thịt sanh ra trên những xương ấy,… chúng nó sống.” (37:1-10).

    “Hỡi con người, những hài cốt nầy,ấy là cả nhà Y-sơ-ra-ên… Hỡi dân Ta, nầy, Ta sẽ mở mồ mả các ngươi,… Ta sẽ lại lập các ngươi trong đất riêng của các ngươi… Tôi tớ Ta, là Đa-vít, sẽ làm vua trên chúng nó.” (37:11-25).

    Gót và Ma-gốc

    “Trong những năm sau rốt, (khi)chúng nó (dân Y-sơ-ra-ên) hết thảy sẽ ở yên, (thì) ở phía cực bắc,… (với) một cơ binh đông lắm,… Gót sẽ đến đánh dân Y-sơ-ra-ên Ta…

    “Ta sẽ khiến những trận mưa dầm,mưa đá, lửa và diêm sinh đổ xuống trên nó, trên đạo binh nó, và dân đông đi với nó.” (38:8-22).

    “Nầy, sự ấy đến và sẽ làm thành,… ấy là ngày mà Ta đã rao.” (39:8).

    Sự hiện thấy về dòng nước ban sự sống

    “Có những nước văng ra từ dưới ngạch cửa (Đền thờ), về phía Đông… Người… đo được một ngàn cu-đê,… nước vừa đến mắt cá ta. Người lại đo một ngàn,… nước vừa đến đầu gối ta… Người lại đo một ngàn,… nước lên đến hông ta. Người lại đo một ngàn nữa; bấy giờ là một con sông, ta không lội qua được… Trên bờ nầy và bờ kia, sẽ sanh đủ thứ cây có trái ăn được,… lá nó dùng để làm thuốc… Khắp nơi nào sông ấy chảy đến, thì mọi vật sẽ sống ở đó.” (12:1-12).

    Chiêm bao về bốn nước

    “Trong đời các vua nầy, Chúa trên trời sẽ dựng nên một Nước không bao giờ bị hủy diệt…

    “Nó sẽ đánh tan và hủy diệt hết các nước trước kia, mà mình thì đứng đời đời.” (Đa-ni-ên 2:44).

    Lò lửa hực

    “Đức Chúa Trời mà chúng tôi hầu việc, có thể cứu chúng tôi thoát khỏi lò lửa hực.” (3:17).

    “Đức Chúa Trời… đã sai thiên sứ Ngài và giải cứu các tôi tớ Ngài nhờ cậy Ngài.” (3:28).

    Bàn tay viết trên tường

    “Đức Chúa Trời đã đếm nước vua và khiến nó đến cuối cùng.” (5:26).

    “Vua đã bị cân trên cái cân, và thấy là kém thiếu.” (5:27).

    Đa-ni-ên trong hang sư-tử

    “Đức Chúa Trời tôi đã sai thiên sứ Ngài, và bịt miệng các sư-tử.” (6:22).

    “Người ta không thấy một vết tích nào trên người, bởi người đã nhờ cậy Đức Chúa Trời mình.” (6:23).

    Bảy mươi tuần lễ

    “Từ khi ra lịnh tu bổ và xây lại Giê-ru-sa-lem cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là Vua, thì được bảy tuần lễ, và sáu mươi hai tuần lễ…

    “Sau sáu mươi hai tuần lễ đó, Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi… và đến giữa tuần ấy, người sẽ khiến của lễ và của lễ chay dứt đi…

    “Đặng ngăn sự phạm phép, trừ tội lỗi, làm sạch sự gian ác, và đem sự công bình đời đời vào.” (9:25,26,27,24).

    Kỳ sau rốt

    “Trong kỳ đó,… sẽ có tai nạn,đến nỗi… chẳng có như vậy bao giờ…

    “Nhiều kẻ sẽ đi qua đi lại, và sự học thức sẽ được thêm lên…

    “Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì để được sự sống đời đời, kẻ thì để chịu sự xấu hổ, nhơ nhuốc đời đời.

    “Những kẻ khôn sáng sẽ được rực rỡ như sự sáng trên vòng khung; và những kẻ dắt đem nhiều người về sự công bình sẽ sáng láng như các ngôi sao đời đời mãi mãi.” (12:1-10).

    “Hết thảy chúng nó đều tà dâm.” (Ô-sê 7:4).

    “Chúng nó cứ phạm tội càng ngày càng hơn.” (Ô-sê 13:2).

    “Là kỳ tìm kiếm Đức Giê-hô-va.” (10:12).

    “Các quan trưởng nó vui lòng trong sự sỉ nhục.” (4:17).

    “Thật, dân Ta quyết ý trái bỏ Ta.” (11:7).

    “Chúng nó bại hoại rất sâu.” (9:9).

    “Ép-ra-im sa mê thần tượng, hãy để mặc nó!” (4:17).

    “Bọn thầy tế lễ cũng giết người…, chúng nó phạm biết bao là tội ác!” (6:9).

    “Dân Ta bị diệt vì cớ thiếu sự thông biết.” (4:6).

    “Chúng nó đã gieo gió và sẽ gặt bão lốc.” (8:7).

    “Công việc chúng nó làm ngăn trở chúng nó về cùng Đức Chúa Trời mình.” (5:4).

    “Trong đất nầy chẳng có lẽ thật,chẳng có nhơn từ, cũng chẳng có sự nhìn biết Đức Chúa Trời.” (4:1).”Ta sẽ đổ cơn giận Ta trên chúng nó như trút nước… Đức Chúa Trời ta sẽ bỏ chúng nó,… và chúng nó sẽ đi dông dài trong các nước.” (5:10  9:17).

    “Nhưng, rồi đó, con cái Y-sơ-ra-ên sẽ trở lại tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, và Đa-vít, Vua mình.” (3:5).

    Dự ngôn về kỷ nguyên tin lành

    “Sau đó, Ta sẽ đổ Thần Ta trên cả loài xác thịt.” (Giô-suê 2:28).

    “Đức Giê-hô-va… làm cho vang tiếng mình ra từ Giê-ru-sa-lem: các từng trời và đất đều rúng động.” (3:16).

    “Một cái suối sẽ ra từ Nhà Đức Giê-hô-va.” (3:18).

    “Ai cầu khẩn Danh Đức Giê-hô-va,thì sẽ được cứu.” (2:32).

    “Hãy tra lưỡi hái, vì mùa gặt đã chín… Đoàn đông dường nào, đoàn đông dường nào tại trong trũng đoán định!” (3:13,14).

    “Ta đã làm cho răng các ngươi nên sạch… Dầu vậy, các ngươi cũng không trở lại cùng Ta…

    “Ta cũng đã không xuống mưa,…nhưng các ngươi không trở về cùng Ta…

    “Ta đã dùng gió nóng và sâu lúa mà đánh các ngươi… Nhưng các ngươi chẳng trở về cùng Ta…

    “Ta đã khiến ôn dịch đến trong các ngươi,… nhưng các ngươi chẳng trở về cùng Ta….

    “Hỡi Y-sơ-ra-ên, vậy nên… Ngươi Khá Sửa Soạn Mà Gặp Đức Chúa Trời Ngươi.” (A-mốt 4:6-12).

    “Ta sẽ không còn đi qua đó nữa.” (7:8).

    “Khốn thay cho những kẻ ăn ở nể trong Si-ôn!” (6:1).

    “Nầy, con mắt Chúa Giê-hô-va để trên nước có tội nầy.” (8:9).

    “Sự kiêu ngạo của lòng ngươi đã lừa dối ngươi…

    “Dầu ngươi lên cao như chim ưng,dầu ngươi lót ổ giữa các ngôi sao, Ta cũng sẽ xô ngươi xuống khỏi đó, Đức Giê-hô-va phán vậy.” (câu 3, 4).

    “Người ta sẽ làm cho ngươi như chính mình ngươi đã làm; những việc làm của ngươi sẽ đổ lại trên đầu ngươi.” (câu 15).

    “Còn bốn mươi ngày nữa, Ni-ni-ve sẽ bị đổ xuống.” (Giô-na 3:4).

    “Dân thành Ni-ni-ve tin Đức Chúa Trời… Vua… quấn bao gai và truyền lịnh… mọi người khá ra sức kêu cùng Đức Chúa Trời, khá bỏ đường lối xấu mình và việc hung dữ của tay mình.” (3:5-8).

    “Bấy giờ Đức Chúa Trời… bèn ăn năn sự họa mà Ngài đã phán sẽ làm cho họ.” (3:10).

    “Hỡi người!… Cái điều mà Đức Giê-hô-va đòi ngươi há chẳng phải là làm sự công bình, ưa sự nhơn từ, và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi, sao?” (Mi-chê 6:8).

    “Đức Giê-hô-va có sự đối nại với dân Ngài.” (6:2).

    “Kẻ cai trị nhà Y-sơ-ra-ên… gớm sự chánh trực… Các quan trưởng xét đoán vì của hối lộ, các thầy tế lễ dạy dỗ vì tiền công, còn các kẻ tiên tri nói tiên tri vì bạc… Các ngươi lấy huyết…xây thành Giê-ru-sa-lem… Vết thương của nó không thể chữa được…

    “Vậy nên… Si-ôn sẽ bị cày như ruộng.” (1:9  3:9-12).

    “Hỡi Bết-lê-hem,… từ nơi ngươi sẽ ra cho Ta một Đấng cai trị trong Y-sơ-ra-ên; gốc tích của Ngài bởi từ đời xưa, từ trước vô cùng…

    “Ngài sẽ làm lớn cho đến các đầu cùng đất.” (5:2-4).

    “Nhiều nước sẽ đi đến đó, mà rằng:hãy đến, chúng ta hãy lên núi của Đức Giê-hô- va,… Ngài sẽ dạy chúng ta về đường lối Ngài, và chúng ta sẽ đi trong các nẻo Ngài…

    “Nhiều dân… sẽ lấy gươm rèn lưỡi cày, lấy giáo rèn lưỡi liềm; nước nầy chẳng giá gươm lên nghịch cùng nước khác,và cũng không tập sự chiến tranh nữa…

    “Chúng ta sẽ bước theo Danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đời đời vô cùng!” (4:2-5).

    “Ni-ni-ve… khốn thay cho thành đổ máu! Nó đầy dẫy những sự dối trá và cường bạo, cướp bóc không thôi.” (Na-hum 1:1  3:1).

    “Đức Giê-hô-va chậm giận… cưu giận cho kẻ thù nghịch.” (1:3,2).

    “Những xe đi hỗn độn trong đường phố,… và chạy như chớp.” (2:4).

    “Người ta nghe tăm roi, tiếng ầm của bánh xe; ngựa thì phóng đại, xe thì chạy mau… Gươm sáng lòe, giáo nhấp nhoáng… có từng đống thây lớn….

    “Ni-ni-ve đã hoang vu.” (3:2,3,7).

    “Sự nhận biết vinh quang Đức Giê-hô-va sẽ đầy dẫy khắp đất như nước tràn đầy biển.” (Ha 2:14).

    “Ngươi khá chép lấy sự hiện thấy,và rõ rệt nó ra… hầu cho người đương chạy đọc được. Vì sự hiện thấy còn phải ứng nghiệm trong kỳ nhứt định,… nếu nó chậm trễ, ngươi hãy đợi… Nó chắc sẽ đến.” (2:2,3).

    “Dầu cây vả sẽ không nứt lộc nữa,và sẽ không có trái trên những cây nho; cây Ô-li-ve không sanh sản, và chẳng có ruộng nào sanh ra đồ ăn; bầy chiên sẽ bị dứt khỏi ràn, và không có bầy bò trong chuồng nữa,

    “Dầu vậy, tôi sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va,… Đức Giê-hô-va là Chúa, là sức mạnh của tôi.” (3:17-19).

    “Người công bình thì sống bởi đức tin mình.” (2:4).

    “Ngày lớn của Đức Giê-hô-va đã gần… Ngày ấy là ngày thạnh nộ.” (Sô-phô-ni 1:14,Sô-phô-ni 1:15).

    “Cả đất nầy sẽ bị lửa ghen Ngài thiêu nuốt.” (1:18).

    “Hỡi các ngươi là kẻ nhu mì của đất,… hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va,… hoặc giả các ngươi sẽ được giấu kín trong ngày thạnh nộ của Đức Giê-hô-va.” (2:3).

    “Cả đất sẽ bị nuốt bởi lửa ghen Ta.”(3:8).

    “Trong ngày đó,… Ta sẽ để sót lại ở giữa ngươi một dân khốn cùng, nghèo thiếu, nó sẽ ẩn náu trong Danh Đức Giê-hô-va.” (3:11,12).

    “Chúng nó sẽ ăn và nằm ngủ, không ai làm cho kinh hãi.” (3:13).

    “Dân nầy nói rằng: Thì giờ chưa đến, tức là thì giờ xây lại Nhà Đức Giê-hô-va…

    “Đức Giê-hô-va phán: Nay có phải là thì giờ các ngươi ở trong nhà có trần ván, khi Nhà nầy hoang vu sao?” (A-mốt 1:2-4).

    “Các ngươi khá xem xét đường lối mình. Các ngươi gieo nhiều mà gặt ít, ăn mà không no…

    “Ấy là tại làm sao? Ấy là tại Nhà Ta thì hoang vu, mà các ngươi ai nấy lo xây nhà mình.” (1:5,6,9).

    “Các ngươi khá xem xét đường lối mình… Hãy… xây Nhà nầy… (thì) từ ngày nầy, Ta sẽ ban phước cho các ngươi.” (1:7,8  2:19).

    “Khỏi ít lâu nữa,… sự ao ước của các nước hầu đến, rồi Ta sẽ làm cho vinh quang đầy dẫy Nhà nầy… Bạc là của Ta, vàng là của Ta…

    “Vinh quang sau rốt của Nhà nầy sẽ lớn hơn vinh quang trước.” (2:6-9).

    “Ấy chẳng phải là bởi quyền thế,cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần Ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.” (Xa-cha-ri 4:6).

    “Nầy, có một Người tên là Chồi Mống… chính Người sẽ xây Đền thờ Đức Giê- hô-va, và chính Người sẽ được sự oai nghiêm, ngồi cai trị trên ngôi mình.” (6:12,13).

    “Ngài sẽ phán sự bình an cho các nước, quyền thế Ngài sẽ trải từ biển nầy đến biển kia, từ Sông cái cho đến các đầu cùng đất.” (9:10).

    “Trong ngày đó,… nhà Đa-vít sẽ như Đức Chúa Trời.” (12:8).

    “Trong ngày đó sẽ có một suối mở ra… vì tội lỗi và sự ô uế.” (13:1).

    “Nước sống sẽ ra từ Giê-ru-sa-lem,… (và) Đức Giê-hô-va sẽ làm Vua khắp đất.” (14:8,9).

    “Các ngươi hãy đem hết thảy phần mười vào kho,… và từ nay các ngươi khá lấy điều nầy mà thử Ta… xem Ta có mở các cửa sổ trên trời cho các ngươi, đổ phước xuống cho các ngươi đến nỗi không chỗ chứa chăng.” (Ma-thi-ơ 3:10).

    “Một sách để ghi nhớ được chép trước mặt Ngài cho những kẻ kính sợ Đức Giê-hô-va và tưởng đến Danh Ngài…

    “Đức Giê-hô-va vạn quân phán:Những kẻ ấy sẽ thuộc về Ta… trong ngày Ta làm (Bản tiếng Anh có thêm:”nên các châu ngọc của Ta.”) (3:16,17).

    “Ngươi khá đặt tên là Jêsus, vì chính Con Trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội.” (Ma-thi-ơ 1:21).

    “Ngài… giê thật sạch sân lúa mình, và Ngài sẽ chứa lúa vào kho, còn rơm rạ thì đốt trong lửa chẳng hề tắt.” (3:12).

    “Ngươi phải thờ phượng Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi.” (4:10).

    “Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời.” (4:4).

    “Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì Nước Thiên đàng là của những kẻ ấy!

    “Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!

    “Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất!

    “Phước cho những kẻ đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ!

    “Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót!

    “Phước cho những kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời!

    “Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời!

    “Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì Nước Thiên đàng là của những kẻ ấy!

    “Khi nào vì cớ Ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước.” Hãy vui vẻ và nức lòng mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm.” (5:3-12).

    “Các ngươi là sự sáng của thế gian… Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời.” (5:14,16).

    “Đừng thề chi hết… Song ngươi phải nói rằng: Phải, phải, không, không. Còn điều người ta nói thêm đó, bởi nơi quỷ dữ mà ra.” (5:34,37).

    “Hãy yêu kẻ thù nghịch (Bản tiếng Anh còn thêm: “Chúc phước cho kẻ rủa sả mình, làm ơn cho kẻ ghét mình.” (xem  Lu-ca 6:27,Lu-ca 6:28) và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi.” (Ma-thi-ơ 5:44).

    “Các ngươi hãy cầu như vầy:

    “Lạy Cha chúng tôi ở trên trời;Danh Cha được thánh; Nước Cha được đến; ý Cha được nên, ở đất như trời!

    “Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày;

    “Xin tha tội lỗi cho chúng tôi,như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi;

    “Xin chớ để chúng tôi bị cám dỗ,mà cứu chúng tôi khỏi điều ác!

    “Vì Nước, quyền, vinh hiển đều thuộc về Cha đời đời. A-men.” (6:9-13).

    “Nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ các ngươi. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi.” (6:14-15).

    “Chẳng ai được làm tôi hai chủ…Các ngươi không có thể làm tôi Đức Chúa Trời, lại làm tôi Ma-môn nữa.” (6:24).

    “Các ngươi chớ chứa của cải ở dưới đất,… nhưng phải chứa của cải ở trên trời…

    “Vì chưng của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó.” (6:16-21).

    “Đừng vì sự sống mình mà lo đồ ăn uống…

    “Hãy xem loài chim trời: chẳng có gieo, gặt,… mà Cha các ngươi trên trời nuôi nó.

    “Các ngươi há chẳng phải là quí trọng hơn loài chim sao?” (6:25-26).

    “Hãy ngắm xem những hoa huệ ngoài đồng mọc lên thể nào: chẳng làm khó nhọc, cũng không kéo chỉ…

    “Nhưng dẫu vua Sa-lô-môn sang trọng đến đâu, cũng không được mặc áo tốt như một hoa nào trong giống đó.

    “Hỡi kẻ ít đức tin, Đức Chúa Trời còn cho loài cỏ ngoài đồng mặc đẹp thể ấy thay, huống chi là các ngươi!” (6:28-30).

    “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ ban cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa.” (6:33).

    “Ví không theo ý muốn Cha các ngươi, thì chẳng hề một con chim sẻ nào rơi xuống đất. Tóc trên đầu các ngươi cũng đã đếm hết rồi.” (10:29,30).

    “Các ngươi đừng đoán xét ai… vì các ngươi đoán xét người ta thể nào, thì họ cũng đoán xét lại thể ấy.” (7:1,2).

    “Hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ, vì ấy là luật pháp và lời tiên tri.” (7:12).

    “Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho.” (7:7).

    “Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều.

    “Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít.” (7:13,14).

    “Hãy coi chừng tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muông sói hay cắn xé…

    “Các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được.” (7:15,20).

    “Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào Nước Thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời mà thôi.

    “Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng Ta rằng; lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn Danh Chúa mà nói tiên tri sao?… nhơn Danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao?

    “Khi ấy, Ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta!” (7:21-23).

    “Kẻ nào nghe và làm theo lời Ta phán đây, thì giống như một người khôn ngoan cất nhà mình trên Vầng Đá…

    “Kẻ nào nghe lời Ta phán đây, mà không làm theo, khác nào như người dại cất nhà mình trên đất cát.” (7:24-27).

    “Không hề bao giờ thấy sự như vậy trong dân Y-sơ-ra-ên.” (9:33).

    “Người nầy là Ai, mà gió và biển đều vâng lịnh Người.” (8:27).

    “Theo như điều ngươi tin, thì sẽ được thành vậy.” (8:13).

    “Hai ngươi tin ta làm được điều hai ngươi ước ao sao?… Theo như đức tin các ngươi, phải được thành vậy.”(9:28,29).

    “Mùa gặt thì thật trúng, song con gặt thì ít. Vậy, hãy cầu xin Chủ mùa gặt sai con gặt đến trong mùa mình.” (9:37,38).

    “Kìa, Ta sai các ngươi đi khác nào như chiên vào giữa bầy muông sói. Vậy, hãy khôn khéo như rắn, đơn sơ như chim bò câu.” (10:16).

    “Các ngươi lại sẽ bị thiên hạ ghen ghét vì Danh Ta; song, ai bền lòng cho đến cuối cùng thì sẽ được rỗi.” (Ma-thi-ơ 10:22).

    “Đừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn; nhưng thà sợ Đấng làm cho mất được linh hồn và thân thể trong địa ngục.” (10:28).

    “Trong những người bởi đờn bà sanh ra, không có ai được tôn trọng hơn Giăng Báp- tít, nhưng mà kẻ rất nhỏ hèn trong Nước Thiên đàng còn được tôn trọng hơn người.” (11:11).

    “Đây nầy, có một Người tôn trọng hơn Giô-na.” (12:41).

    “Đây nầy, có một Người tôn trọng hơn vua Sa-lô-môn .” (12:42).

    “Con người là Chúa ngày Sa-bát.” (12:8).

    “Tại chỗ nầy có một Đấng tôn trọng hơn Đền thờ.” (12:6).

    “Có nhiều Đấng tiên tri, nhiều người công chính đã ước ao thấy điều các ngươi thấy,… nghe điều các ngươi nghe.” (13:17).

    “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì,khiêm nhường, nên hãy gánh lấy ách của Ta và học theo Ta, thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. Vì ách Ta dễ chịu và gánh Ta nhẹ nhàng.” (11:28-30).

    “Chúa là Đấng Christ, ConĐức Chúa Trời hằng sống.” (16:16).

    “Ta sẽ lập Hội Thánh Ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được Hội đó.” (16:18).

    “Đến ngày phán xét, người ta sẽ khai ra mọi lời hư không mà mình đã nói; vì bởi lời nói mà ngươi sẽ được xưng là công bình, cũng bởi lời nói mà ngươi sẽ bị phạt.” (12:36,37).

    “Mùa gặt là ngày tận thế; con gặt là các thiên sứ.” (13:39).

    “Nước Thiên đàng cũng giống như một tay lưới thả xuống biển, bắt đủ mọi thứ cá… Người đánh cá kéo vào bờ,…chọn giống tốt… đem bỏ vào rổ, còn giống xấu thì ném đi. Đến ngày tận thế cũng như vậy: các thiên sứ sẽ đến và chia kẻ ác với người công bình ra, ném kẻ ác vào lò lửa, ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng.” (13:47-50).

    “Khi ấy, những người công bình sẽ chói rạng như mặt trời trong Nước của Cha mình.” (13:43).

    “Nước Thiên Đàng giống như của báu chôn trong một đám ruộng kia. Một người kia tìm được,… bán hết gia tài mình,mua đám ruộng đó.” (13:44).

    “Nước Thiên đàng lại giống như một người lái buôn kiếm ngọc châu tốt, khi đã tìm được một hột châu quí giá, thì đi bán hết gia tài mình mà mua hột châu đó.” (13:45,46).

    “Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn,hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. Ấy là điều răn thứ nhất và lớn hơn hết.

    “Còn điều răn thứ hai đây, cũng như vậy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình.

    “Hết thảy luật pháp và lời tiên tri đều bởi hai điều răn đó mà ra.” (22:37-40).

    “Hỡi Giê-ru-sa-lem,… bao nhiêu lần Ta muốn nhóm họp các con ngươi như gà mái túc con mình lại ấp trong cánh,mà các ngươi chẳng khứng!” (23:37).

    “Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình!… Hỡi loài rắn, dòng dõi rắn lục kia,thế nào mà tránh khỏi sự đoán phạt nơi địa ngục được?” (23:13,33).

    “Tin lành nầy về Nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ, sự cuối cùng sẽ đến.” (24:14).

    “Mọi dân tộc dưới đất sẽ… thấy Con Người lấy đại quyền, đại vinh ngự trên mây trời mà xuống.” (24:30).

    “Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương kia.” (24:31).

    “Khi Con Người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài. Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra…

    “Bấy giờ, Vua sẽ phán cùng những người ở bên hữu rằng: Hỡi các người được Cha Ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy Nước Thiên đàng đã sắp sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất. Vì ta đói,các ngươi đã cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống; Ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước Ta; Ta đau, các ngươi thăm Ta; Ta bị tù, các ngươi viếng Ta…Hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em Ta, ấy là đã làm cho chính mình Ta vậy…

    “Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi Ta, đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỷ sứ nó… Hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho Ta vậy.” (25:31-46).

    “Ngài không ở đây đâu: Ngài sống lại rồi.” (28:6).

    “Thật Người nầy là Con Đức Chúa Trời.” (27:54).

    “Hết Cả Quyền Phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho Ta.” (28:18).

    “Vậy, hãy đi dạy dỗ Muôn Dân,hãy nhơn Danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà Ta đã truyền cho các ngươi. và nầy, Ta Thường Ở Cùng Các Ngươi Luôn cho đến tận thế.” (28:19,20).

    “Có Đấng… đến sau ta; ta không đáng cuối xuống mở dây giày Ngài.” (Mác 1:7).

    “Có thiên sứ hầu việc Ngài.” (1:13).

    “Dân nầy lấy môi miếng tôn kính Ta, nhưng lòng chúng nó cách xa Ta lắm. Sự chúng nó thờ lạy Ta là vô ích, vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra.” (7:6,7).

    “Thật là tự trong, tự lòng người mà ra những ác tưởng, sự dâm dục, trộm cướp, giết người, tà dâm, tham lam, hung ác, gian dối, hoang đàng, con mắt ganh đố, lộng ngôn, kiêu ngạo, điên cuồng.Hết thảy những điều xấu ấy ra từ trong lòng, thì làm cho dơ dáy người.” (7:21-23).

    “Nếu ai muốn theo Ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo Ta.

    “Vì ai muốn cứu sự sống mình, thì sẽ mất; còn ai vì cớ Ta và đạo Tin lành mà mất sự sống, thì sẽ cứu.” (8:34,35).

    “Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? hay là có người nào lấy chi mà đổi linh hồn mình ư?” (8:36,37).

    “Nếu tay ngươi làm cho ngươi phạm tội, hãy chặt nó đi; thà rằng một tay mà vào sự sống, còn hơn đủ hai tay mà sa xuống địa ngục, trong lửa chẳng hề tắt.

    “Lại nếu chơn ngươi làm cho ngươi phạm tội, hãy chặt nó đi; thà rằng què chơn mà vào sự sống, còn hơn đủ hai chơn mà bị quăng vào địa ngục.

    “Còn nếu mắt ngươi làm cho ngươi phạm tội, hãy móc nó đi; thà rằng chỉ một mắt mà vào Nước Đức Chúa Trời, còn hơn đủ hai mắt mà bị quăng vào địa ngục — đó là nơi sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết và là nơi lửa chẳng hề tắt.” (9:43-48).

    “Nầy là Con rất yêu dấu của Ta,hãy vâng nghe Người.” (9:7).

    “Nếu có chỗ nào người ta không chịu tiếp các ngươi, và cũng không nghe các ngươi nữa, thì hãy đi khỏi đó, và phủi bụi đã dính chơn mình, để làm chứng cho họ.” (6:11).

    “Hãy để con trẻ đến cùng Ta,… vì Nước Đức Chúa Trời thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy…

    “Ai chẳng nhận lấy Nước Đức Chúa Trời như một đứa trẻ, thì chẳng được vào đó bao giờ.” (10:14,15).

    “Chẳng một người nào vì Ta và Tin-lành từ bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, mà chẳng lãnh được đương bấy giờ, trong đời nầy, trăm lần hơn về những nhà cửa, anh em,chị em, mẹ con, đất ruộng, với sự bắt bớ, và Sự Sống Đời Đời trong đời sau.” (10:29,30).

    “Đức Chúa Trời làm mọi sự được cả.” (10:27).

    “Kẻ nào tin, thì mọi việc đều được cả.” (9:23).

    “Mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, Hãy Tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi.” (11:24).

    “Thế lực các từng trời sẽ rúng động. Bấy giờ người ta sẽ thấy Con người… ngự đến trên đám mây…

    “Về ngày và giờ đó, chẳng ai biết chi hết, các thiên sứ trên trời, hay là Con cũng chẳng biết nữa; song chỉ Cha mà thôi.

    “Hãy giữ mình, tỉnh thức (Bản tiếng Anh có thêm: “và cầu nguyện”),… e cho Ngài về thình lình, gặp các ngươi ngủ chăng. Điều mà Ta nói cùng các ngươi, Ta cũng nói cho mọi người:Hãy tỉnh thức!” (13:25-37).

    “NGÀI SỐNG LẠI RỒI.” (16:6).

    “Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin lành cho mọi người. Ai tin và chịu phép-báp-têm sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán phạt.” (16:15,16).

    “Trời đất sẽ qua đi, song Lời Ta không bao giờ qua đâu.” (13:31).

    “Đức Chúa Jêsus… được đem lên trời, ngồi bên hữu Đức Chúa Trời.” (16:19).

    “Người sẽ… sanh một Con Trai mà đặt tên là JÊSUS. Con Trai ấy sẽ… được xưng là Con Đức Chúa Trời.

    “Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít, là tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, Nước Ngài vô cùng.” (Lu-ca 1:30-35).

    “Ta báo cho các ngươi một tin lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân… Hôm nay, tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là CHRIST, là Chúa.” (2:10,11).

    “Sáng Danh Chúa trên các từng trời rất cao, bình an dưới đất, ân trạch cho loài người!” (2:14).

    “Tôi phải lo việc Cha tôi.” (2:49).

    “Đức Chúa Jêsus khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và người ta.” (2:52).

    “Ai nấy đều… lấy làm lạ về các lời đầy ơn lành từ miệng Ngài ra… Ngài dùng quyền phép mà phán.” (4:22,32).

    “Ngài lánh đi nơi đồng vắng mà cầu nguyện.” (5:16).

    “Đức Chúa Jêsus đi lên núi để cầu nguyện, và thức thâu đêm cầu nguyện Đức Chúa Trời.” (6:12).

    “Phước cho các ngươi nghèo khó, vì Nước Đức Chúa Trời thuộc về các ngươi!

    “Phước cho các ngươi hiện đang đói, vì sẽ được no đủ!

    “Phước cho các ngươi hiện đang khóc lóc, vì sẽ được vui mừng!

    “Phước cho các ngươi khi vì cớ Con người, thiên hạ sẽ ghét, đuổi, mắng nhiếc các ngươi…

    “Ngày đó hãy vui vẻ, nhảy nhót và mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi trên trời sẽ lớn lắm.” (6:20-23).

    “Các ngươi muốn người ta làm cho mình thể nào, hãy làm cho người ta thể ấy.” (6:31).

    “Hãy yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, chúc phước cho kẻ rủa mình, và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình.” (6:27,28).

    “Đừng đoán xét ai, thì các ngươi khỏi bị đoán xét.

    “Đừng lên án ai, thì các ngươi khỏi bị lên án.

    “Hãy tha thứ, người sẽ tha thứ mình.

    “Hãy cho, người sẽ cho mình…

    “Vì các ngươi lường mực nào, thì họ cũng lường lại cho các ngươi mực ấy.” (6:37,38).

    “Sao các ngươi gọi Ta Chúa, Chúa,mà không làm theo lời Ta phán?” (6:46).

    “Ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với Nước Đức Chúa Trời.” (9:62).

    “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi, và yêu người lân cận như mình…

    “Hãy làm điều đó, thì được sống.” (10:27,28).

    “Khi các ngươi cầu nguyện, hãy nói:

    “Lạy Cha! Danh Cha được thánh;Nước Cha được đến; xin cho chúng tôi ngày nào đủ bánh ngày ấy; xin tha tội chúng tôi, vì chúng tôi cũng tha kẻ mích lòng mình; và xin chớ đem chúng tôi vào sự cám dỗ.” (11:2-4).

    “Ta nói cùng các ngươi, là bạn hữu Ta: Đừng sợ kẻ giết xác, rồi sau không làm gì được nữa.

    “Song Ta chỉ cho các ngươi biết phải sợ Ai: Phải sợ Đấng khi đã giết rồi, có quyền bỏ xuống địa ngục;

    “Phải, Ta nói cùng các ngươi, ấy là Đấng các ngươi phải sợ!” (12:4,5).

    “Hãy giữ mình về… sự giả hình.

    “Chẳng có sự gì giấu mà không phải lộ ra… Mọi điều mà các ngươi nói vào lỗ tai trong buồng kín, sẽ giảng ra trên mái nhà.” (12:1-3).

    “Hãy giữ cẩn thận, chớ hà tiện gì hết; vì sự sống của người ta không cốt tại của cải mình dư dật đâu.” (12:15).

    “Hãy… bố thí. Hãy sắm cho mình túi không hư, và của báu không hề hao kém ở trên trời…

    “Của báu các ngươi ở đâu, thì lòng ở đó.” (12:33-34).

    “Ai đã được giao cho nhiều, thì sẽ bị đòi lại nhiều hơn.” (12:48).

    “Hãy dùng của bất nghĩa mà kết bạn, để khi của ấy hết đi, họ tiếp các ngươi vào Nhà đời đời.” (16:9).

    “Nếu các ngươi không trung tín về của bất nghĩa, có ai đem của thật giao cho các ngươi?” (16:11).

    “Khi ngươi đãi tiệc, hãy mời những kẻ nghèo khó, tàn tật, què đui.

    “Thì ngươi sẽ được phước, vì họ không có thể trả lại cho ngươi; đến kỳ kẻ công bình sống lại, ngươi sẽ được trả.” (14:13,14).

    “Nếu anh em ngươi đã phạm tội, hãy quở trách họ; và nếu họ ăn năn, thì hãy tha thứ.

    “Dầu trong một ngày, họ phạm tội cùng ngươi bảy lần, và bảy lần trở lại cùng ngươi mà nói rằng: Tôi ăn năn, thì hãy tha tội cho họ.” (17:3,4).

    “Xin thêm đức tin cho chúng tôi!” (17:5).

    “Đức tin của ngươi đã chữa lành ngươi.” (18:42).

    “Đức tin ngươi đã cứu ngươi.”(17:19).

    “Sự chi người ta không làm được,thì Đức Chúa Trời làm được.” (18:27).

    “Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội!” (18:13).

    “Nước Đức Chúa Trời ở trong các ngươi.” (17:21).

    “Hôm nay sự cứu đã vào nhà nầy.” (19:9).

    “Phải cầu nguyện luôn, chớ hề mỏi mệt.” (18:1).

    “Người nghèo chết, thiên sứ đem để vào lòng Áp-ra-ham.” (16:22).

    “Lạy Cha,… xin ý Cha được nên,chớ không theo ý Con.” (22:42).

    “Trong cơn rất đau thương, Ngài cầu nguyện càng thiết, mồ hôi trở nên như giọt máu lớn rơi xuống đất.” (22:44).

    “Chúa xây mặt lại ngó Phi-e-rơ…Phi-e-rơ… đi ra ngoài khóc lóc thảm thiết.” (22:61,62).

    “Ta không thấy người nầy có tội gì.” (23:4).

    “Chúng điệu Đức Chúa Jêsus đi,…đến một chỗ gọi là chỗ Sọ, họ đóng đinh Ngài trên cây Thập tự tại đó.” (23:26,33).

    “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì.” (23:34).

    “Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong Nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi…. Hôm nay, ngươi sẽ được ở với Ta trong Ba-ra-đi.” (23:42,43).

    “Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha.” (23:46).

    “Ngài đã Sống Lại.” (24:6).

    “Chúa thật đã Sống Lại.”(24:34).

    “Đấng Christ phải chịu đau đớn dường ấy, ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại, và người ta nhơn Danh Ngài mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn để được tha tội.” (24:46,47).

    “Khi nãy đi đường, Ngài nói cùng chúng ta và cắt nghĩa Kinh Thánh, lòng chúng ta há chẳng nóng nảy sao?” (24:32).

    “Ngài đem môn đồ đi đến nơi xung quanh làng Bê-tha-ni, giơ tay lên mà ban phước cho. Đương khi ban phước, Ngài lìa môn đồ mà được đem lên trời.” (24:50,51).

    “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời…

    “Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài.

    “Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người.” (Giăng 1:1,Giăng 1:3,Giăng 1:4).

    “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật. Chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha.” (1:14).

    “Hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin Danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người,nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy.” (1:12,13).

    “Ấy chính Ngài là Con Đức Chúa Trời.” (1:34).

    “Chúng ta đã gặp Đấng Mê-si.”(1:41).

    “Người bèn dẫn Si-môn đến cùng Đức Chúa Jêsus.” (1:42).

    “Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời,là Đấng cất tội lỗi thế gian đi!” (1:29).

    “Các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và thiên sứ của Đức Chúa Trời lên xuống trên Con người.” (1:51).

    “Nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được Nước Đức Chúa Trời…

    “Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần.” (3:3,6).

    “Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất, mà được sự sống đời đời.” (Giăng 3:16).

    “Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó.” (3:36).

    “Giờ đến, khi mọi người ở trong mồ mả nghe tiếng Ngài và ra khỏi: ai đã làm lành thì sống lại để được sống, ai đã làm dữ thì sống lại để bị xét đoán.” (5:28,29).

    “Ta là Bánh của Sự Sống; ai đến cùng Ta chẳng hề đói, và ai tin Ta chẳng hề khát.” (6:35).

    “Ta bởi trên mà có.” (8:23).

    “Ta là Sự Sáng của thế gian.”(8:12).

    “Nếu kẻ nào giữ Lời Ta, sẽ chẳng thấy sự chết bao giờ.” (8:51).

    “Nếu các ngươi chẳng tin Ta là Đấng đó, thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi.” (8:24).

    “Chẳng hề có người nào đã nói như Người nầy!” (7:46).

    “Đồ ăn của Ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai Ta đến.” (4:34).

    “Trong khi còn ban ngày, Ta phải làm trọn những việc của Đấng đã sai Ta đến; tối lại, thì không ai làm việc được.” (9:4).

    “Họ kiếm thế bắt Ngài; nhưng không ai tra tay trên Ngài, vì giờ Ngài chưa đến.” (7:30).

    “Nếu các ngươi hằng ở trong đạo Ta, thì thật là môn đồ Ta; các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi.” (8:31,32).

    “Ta là Con Đức Chúa Trời.” (10:36).

    “Trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có Ta.” (8:58).

    “Ta là Đường Đi, Lẽ Thật và Sự Sống; chẳng bởi Ta, thì không ai được đến cùng Cha.” (14:6).

    “Ta là Người Chăn hiền lành… Ta vì chiên Ta phó sự sống mình… Ta ban cho nó sự sống đời đời; nó chẳng chết mất bao giờ, và chẳng ai cướp nó khỏi tay Ta.” (10:14,15,28).

    “Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin Ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Con ai sống và tin Ta, thì không hề chết.” (11:25,26).

    “Nếu hột giống lúa mì kia chẳng chết sau khi gieo xuống đất, thì cứ ở một mình; nhưng nếu chết đi, thì kết quả được nhiều.” (12:24).

    “Hiện nay ngươi chẳng biết sự Ta làm, nhưng về sau sẽ biết.” (13:7).

    “Ta ban cho các ngươi một điều răn mới: nghĩa là các ngươi phải yêu nhau… Ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ Ta.” (13:34,35).

    “Lòng các ngươi chớ hề bối rối;hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin Ta nữa. Trong Nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở;bằng chẳng vậy, Ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi Ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, Ta sẽ trở lại, đem các ngươi đi với Ta, hầu cho Ta ở đâu, thì các ngươi cũng ở đó.” (14:1-3).

    “Người nào yêu mến Ta sẽ được Cha Ta yêu lại…

    “Nếu ai yêu mến Ta, thì vâng giữ Lời Ta, Cha Ta sẽ yêu thương người, Chúng Ta đều đến cùng người và ở trong người.” (14:21,23).

    “Ta để sự bình an lại cho các ngươi; Ta ban sự bình an Ta cho các ngươi…

    “Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi.” (14:27).

    “Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng. Ta đã thắng thế gian rồi!” (16:33).

    “Ta là Gốc Nho thật, Cha Ta là người trồng nho… các ngươi là nhánh.” (15:1,5).

    “Hễ nhánh nào trong Ta mà không kết quả, thì Ngài chặt hết; và Ngài tỉa sửa những nhánh nào kết quả, để được sai trái hơn.” (15:2).

    “Hãy cứ ở trong Ta, thì Ta sẽ ở trong các ngươi… Ngoài Ta, các ngươi chẳng làm chi được.” (15:4,5).

    “Ví bằng các ngươi cứ ở trong Ta,và những lời Ta ở trong các ngươi, hãy cầu xin mọi điều mình muốn, thì sẽ được điều đó.” (15:7).

    “Lời Cha tức là Lẽ Thật.” (17:17).

    “Nước của Ta chẳng phải thuộc về thế gian nầy.” (18:36).

    “Ai đã thấy Ta, tức là đã thấy Cha.” (14:9).

    “Hãy cầu xin đi, các ngươi sẽ được.” (16:24).

    “Ta không ở một mình, vì Cha ở cùng Ta.” (16:32).

    “Ví thử các ngươi làm theo điều Ta dạy, thì các ngươi là bạn hữu Ta.” (15:14).

    “Cha ôi! Bây giờ xin lấy sự vinh hiển Con vốn có nơi Cha trước khi chưa có thế gian mà làm vinh hiển Con nơi chính mình Cha.” (17:5).

    “Kìa, xem người nầy!” (19:5).

    “Vua các ngươi kia kìa!” (19:14).

    “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!” (20:28).

    “Còn ngươi, hãy theo ta.” (21:22).

    “Ngươi yêu Ta chăng?… Hãy chăn chiên Ta.” (21:17).

    “Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy!” (20:29).

    “Lại còn nhiều việc nữa mà Đức Chúa Jêsus đã làm; ví bằng người ta cứ từng việc mà chép hết, thì Ta tưởng rằng cả thế gian không thể chứa hết các sách của người ta chép vậy!” (21:25).

    “Các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ Danh Ngài mà được sự sống.” (20:31).

    “Các ngươi sẽ… làm chứng về Ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri cho đến cùng trái đất.”(Công vụ 1:8).

    “Jêsus nầy được cất lên trời khỏi giữa các ngươi thể nào, cũng sẽ trở lại như cách các ngươi đã thấy Ngài lên trời vậy.” (1:11).

    “Cả nhà Y-sơ-ra-ên khá biết chắc rằng Đức Chúa Trời đã tôn Jêsus nầy… làm Chúa và Đấng Christ.” (2:36).

    “Hãy hối cải, ai nấy phải nhơn Danh Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-têm , để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh.” (2:38).

    “Ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu.” (4:12).

    “Các sứ đồ… đều hớn hở về mình đã được kể là xứng đáng chịu nhục vì Danh Đức Chúa Jêsus…

    “Bền lòng đồng một ý mà cầu nguyện.” (5:40,41  1:14).

    “Còn chúng ta cứ chuyên lo về sự cầu nguyện và chức vụ giảng đạo.” (6:4).

    “Những kẻ đã bị tan lạc đi từ nơi nầy đến nơi khác, truyền giảng đạo Tin lành.” (8:4).

    “Lạy Đức Chúa Jêsus, xin tiếp lấy linh hồn tôi.” (7:59).

    “Lạy Chúa, xin đừng đổ tội nầy cho họ!” (7:60).

    “Chúng ta tin rằng nhờ ơn Đức Chúa Jêsus, chúng ta được cứu.” (15:11).

    “Hãy tin Đức Chúa Jêsus, thì ngươi… sẽ được cứu rỗi.” (15:11).

    “Đức Chúa Jêsus… đi từ nơi nọ qua chỗ kia làm phước.” (10:38).

    “Ngày thứ ba, Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại, lại cho Ngài được tỏ ra… với chúng ta, là kẻ đã ăn uống cùng Ngài, sau khi Ngài từ kẻ chết sống lại… Chính Ngài là Đấng Đức Chúa Trời đã lập lên để đoán xét kẻ sống và kẻ chết.” (10:40-42).

    “Ba-na-ba thật là người lành, đầy dẫy Đức Thánh Linh và đức tin ,… khuyên mọi người phải cứ vững lòng theo Chúa.” (11:23,24).

    “Các môn đồ thì được đầy dẫy sự vui vẻ và Đức Thánh Linh.” (13:52).

    “Ban cho thì có phước hơn là nhận lãnh.” (20:35).

    “Phải trải qua nhiều nỗi khó khăn mới vào được Nước Đức Chúa Trời.” (14:22).

    “Những người nầy… đều sẵn lòng chịu lấy đạo, ngày nào cũng tra xem Kinh Thánh… Có nhiều người tin theo.” (17:11,12).

    “Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới…Ngài là Đấng ban sự sống… cho mọi người. Ngài đã làm cho muôn dân sanh ra bởi chỉ một người…

    “Tại trong Ngài, chúng ta được sống động và có… Chúng ta là dòng dõi của Ngài… Chớ nên ngờ (Bản tiếng Anh dịch là: “nghĩ.”) rằng Chúa giống như bạc, vàng, hay là đá, bởi công nghệ và tài xảo của người ta chạm trổ nên.” (17:24-29).

    “Đức Chúa Trời đã bỏ qua các đời ngu muội đó, mà nay biểu hết thảy các người trong mọi nơi đều phải ăn năn.” (17:30).

    “Ngài đã chỉ định một ngày, khi Ngài sẽ… đoán xét thế gian bởi Người Ngài đã lập, và Đức Chúa Trời đã khiến Người từ kẻ chết sống lại, để làm chứng chắc về điều đó cho thiên hạ.” (17:31).

    “Sẽ có sự sống lại của người công bình và không công bình.” (24:15).

    “Tôi hầu việc Chúa cách khiêm nhường, phải nhiều nước mắt,… Tôi đã dạy anh em hoặc giữa công chúng, hoặc từ nhà nầy sang nhà kia,… về sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời, và đức tin trong Đức Chúa Jêsus, là Chúa chúng ta… Dây xích và hoạn nạn đương đợi tôi đó…Nhưng tôi chẳng kể sự sống mình làm quí, miễn chạy cho xong việc đua tôi.”(20:18-24).

    “Bây giờ tôi giao phó anh em cho Đức Chúa Trời và cho đạo của ơn Ngài, là giao phó cho Đấng có thể gây dựng, và ban gia tài cho anh em chung với hết thảy những người đã được nên thánh.” (20:32).

    “Tôi sẵn lòng chẳng những để bị trói thôi, lại cũng sẵn lòng vì Danh Đức Chúa Jêsus chịu chết.” (21:13).

    “Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin.” (Rô-ma 1:16).

    “Tiền công của tội lỗi là sự chết;nhưng sự ban của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ,Chúa chúng ta.” (6:23).

    “Tôi là tánh xác thịt, đã bị bán cho tội lỗi… Tôi không làm điều lành mình muốn, nhưng làm điều dữ mình không muốn…

    “Theo người bề trong, tôi vẫn lấy luật pháp Đức Chúa Trời làm đẹp lòng; nhưng tôi cảm biết trong chi thể mình có một luật khác,… bắt mình phải làm phu tù cho luật của tội lỗi…

    “Khốn nạn cho tôi! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết nầy? Cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta!” (7:14,19,22-25).

    “Chăm về xác thịt sanh ra sự chết,còn chăm về Thánh Linh sanh ra sự sống và bình an.” (8:6).

    “Nếu anh em sống theo xác thịt,thì phải chết; song nếu nhờ Thánh Linh, làm cho chết các việc của thân thể, thì anh em sẽ sống.” (8:13).

    “Hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời.” (8:14).

    “Nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài.” (8:9).

    “Những sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta…

    “Muôn vật… cũng sẽ được giải cứu khỏi làm tôi sự hư nát, đặng dự phần trong sự tự do vinh hiển của con cái Đức Chúa Trời.” (8:18,21).

    “Chúng ta biết rằng, mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời.” (8:28).

    “Sự cứu hiện nay đã gần chúng ta hơn lúc chúng ta mới tin. Đêm đã khuya, ngày gần đến.” (13:11,12).

    “Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm hay là gươm giáo chăng?…

    “Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần.

    “Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết,sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta.” (8:35-39).

    “Ai kêu cầu Danh Chúa, thì sẽ được cứu…

    “Vậy, nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu;

    “Vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi.” (10:13,9,10).

    “Đừng làm theo điều nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình.” (12:2).

    “Tôi nói với mỗi người trong anh em chớ có tư tưởng cao quá lẽ.” (12:3).

    “Lòng yêu thương phải cho thành thật. Hãy gớm sự dữ mà mến sự lành. Hãy lấy lòng yêu thương mềm mại mà yêu nhau; hãy lấy lẽ kính nhường nhau. Hãy siêng năng mà chớ làm biếng; phải có lòng sốt sắng; phải hầu việc Chúa.

    “Hãy vui mừng trong sự trông cậy,nhịn nhục trong sự hoạn nạn, bền lòng mà cầu nguyện.

    “Hãy cung cấp sự cần dùng cho các thánh đồ; hãy ân cần tiếp khách.

    “Hãy chúc phước cho kẻ bắt bớ anh em; hãy chúc phước, chớ nguyền rủa. Hãy vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc…

    “Chớ cho mình là khôn ngoan. Chớ lấy ác trả ác cho ai… Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người…

    “Chính mình chớ trả thù ai… Nếu kẻ thù mình có đói, hãy cho ăn; có khát, hãy cho uống; vì làm như vậy khác nào mình lấy những than lửa đỏ mà chất trên đầu người. Đừng để điều ác thắng mình,nhưng hãy lấy điều thiện thắng điều ác.” (12:9-21).

    “Chúng ta giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên cây Thập tự… Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.” (1Cô-rinh-tô 1:23,1Cô-rinh-tô 1:24).

    “Tôi đã đoán định (Nên dịch là:”quyết định”) rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Jêsus Christ và Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên cây Thập tự.”(2:2).

    “Chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài Nền đã lập là Đức Chúa Jêsus Christ.” (3:11).

    “Chớ ai khoe mình về loài người.” (3:21).

    “Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa.” (1:31).

    “Tôi đã trồng, A-bô-lô đã tưới,nhưng Đức Chúa Trời đã làm cho lớn lên.” (3:6).

    “Mọi sự đều thuộc về anh em: hoặc Phao-lô, hoặc A-bô-lô, hoặc Sê-pha, hoặc thế gian, hoặc sự sống, hoặc sự chết,hoặc những sự bây giờ, hoặc những sự hầu đến. hết thảy mọi sự đều thuộc về anh em, anh em thuộc về Đấng Christ, Đấng Christ thuộc về Đức Chúa Trời.” (3:21-23).

    “Thì giờ ngắn ngủi… Hình trạng thế gian nầy qua đi.” (7:29,31).

    “Ấy là sự mắt chưa thấy, tai chưa nghe, và lòng người chưa nghĩ đến, nhưng Đức Chúa Trời đã sắm sẵn đều ấy cho những người yêu mến Ngài.” (2:9).

    “Hãy lấy thân thể mình làm sáng Danh Đức Chúa Trời.” (6:20).  “Khỏi bị quở trách trong ngày của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta.” (1:8).

    “Anh em há chẳng biết mình là đền thờ của Đức Chúa Trời… sao?” (3:16).

    “Nhưng tôi nay là người thể nào,là nhờ ơn Đức Chúa Trời.” (15:10).

    “Tôi đãi thân thể tôi cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục, e rằng sau khi tôi đã giảng dạy kẻ khác, mà chính mình phải bị bỏ chăng.” (9:27).

    “Ai tưởng mình đứng, hãy giữ, kẻo ngã.” (10:12).

    “Chớ tự dối mình: Phàm những kẻ tà dâm, kẻ thờ hình tượng, kẻ ngoại tình, kẻ làm giáng yểu điệu, kẻ đắm nam sắc,kẻ trộm cướp, kẻ hà tiện, kẻ say sưa, kẻ chửi rủa, kẻ chắt bóp, đều chẳng hưởng được Nước Đức Chúa Trời đâu.” (6:9,10).

    “Đức Chúa Trời dường đã phơi…các Sứ đồ ra… làm trò cho thế gian, thiên sứ, loài người cùng xem vậy. Chúng tôi vẫn bị đói khát, trần mình, bị người ta vả trên mặt, lưu lạc rày đây, mai đó…

    “Khi bị rủa sả, chúng tôi chúc phước; khi bị bắt bớ, chúng tôi nhịn nhục; khi bị vu oan, chúng tôi khuyên dỗ.

    “Chúng tôi giống như rác rến của thế gian, cặn bã của loài người cho đến ngày nay.” (4:9,11-13).

    “Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập chỏa vang tiếng.

    “Dầu tôi được ơn nói tiên tri,cùng biết đủ các sự mầu nhiệm và mọi sự hay biết, dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương, thì tôi chẳng ra gì.

    “Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi.” (13:1-3).

    “Tình yêu thương hay nhịn nhục;tình yêu thương hay nhơn từ; tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình,chẳng lên mình kiêu ngạo,

    “Chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ.

    “Chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật.

    “Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ.” (13:4-8).

    “Người chết sống lại thể nào?…Thân thể đã gieo ra hay hư nát, mà sống lại là không hay hư nát; đã gieo ra là nhục, mà sống lại là vinh; đã gieo ra là yếu, mà sống lại là mạnh; đã gieo ra là thể huyết khí, mà sống lại là thể thiêng liêng.

    “Như chúng ta đã mang ảnh tượng của người thuộc về đất, thì chúng ta cũng sẽ mang ảnh tượng của Người thuộc về trời.” (15:35,42-49).

    “Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại, được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa.” (15:51,52).

    “Vả, thể hay hư nát nầy phải mặc lấy sự không hay hư nát, và thể hay chết nầy phải mặc lấy sự không hay chết,thì được ứng nghiệm lời Kinh Thánh rằng: Sự chết đã bị nuốt mất trong sự thắng.Hỡi sự chết, sự thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu? Cái nọc sự chết là tội lỗi, sức mạnh tội lỗi là luật pháp.

    “Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta.

    “Vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi.Hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn.” (15:53-58).

    “Anh em đứng vững vàng trong đức tin.” (2Cô-rinh-tô 1:24).

    “Không phải tôi tìm của cải anh em, bèn là tìm chính anh em vậy.” (12:14).

    “Chúng tôi chẳng rao giảng chính mình chúng tôi, nhưng rao giảng Đức Chúa Jêsus Christ.” (4:5).

    “Chính anh em hãy tự xét để xem mình có đức tin chăng.” (13:5).

    “Nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới.” (5:17).

    “Chúng ta ai nấy đều để mặt trần mà nhìn xem vinh hiển Chúa như trong gương, thì hóa nên cũng một ảnh tượng Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển.” (3:18).

    “Sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng vô biên.” (4:17).

    “Chúng ta biết rằng nếu nhà tạm chúng ta dưới đất đổ nát, thì chúng ta lại có nhà đời đời tại trên trời, bởi Đức Chúa Trời, không phải bởi tay người làm ra.” (5:1).

    “Biết rằng khi chúng ta đang ở trong thân thể nầy, thì cách xa Chúa. Vậy, chúng ta muốn lìa bỏ thân thể nầy đặng ở cùng Chúa thì hơn.” (5:6,8).

    “Chúng tôi bị ép đủ cách, nhưng không đến cùng; bị túng thế, nhưng không ngã lòng; bị bắt bớ, nhưng không đến bỏ; bị đánh đập, nhưng không đến chết mất. Chúng tôi thường mang sự chết của Đức Chúa Jêsus trong thân thể mình.” (4:8-10).

    “Tôi đã chịu… tù rạc nhiều hơn,đòn vọt quá chừng,… năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày, một đêm.

    “Lại nhiều lần tôi đi đường…nguy với trộm cướp, chịu khó chịu nhọc,… chịu đói khát, thường khi phải nhịn ăn, chịu lạnh và lõa lồ.” (11:23-27).

    “Đã có một cái giằm xóc vào thịt tôi… Đã ba lần tôi cầu nguyện Chúa cho nó lìa xa tôi.

    “Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển Ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của Ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối…

    “Cho nên tôi vì Đấng Christ mà đành chịu trong sự yếu đuối, nhuốc nha, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó; vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ.” (12:7-10).

    “Nếu có ai, hoặc chính chúng tôi,hoặc thiên sứ trên trời, truyền cho anh em một Tin lành nào khác với Tin lành chúng tôi đã truyền cho anh em, thì người ấy đáng bị a-na-them!” (Ga-la-ti 1:8).

    “Trong mình tôi có đốt dấu vết của Đức Chúa Jêsus.” (6:17).

    “Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về Thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta.” (6:14).

    “Nếu có ai, dầu mình không ra chi hết, mà cũng tưởng mình ra chi, ấy là mình dối lấy mình.” (6:3).

    “Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy.

    “Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát.

    “Song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời.” (6:7,8).

    “Các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán,tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, ganh gổ, say sưa,mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy.” (5:19-21).

    “Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ.” (5:22).

    “Hãy bước đi trong sự yêu thương.” (Ê-phê-sô 5:2).

    “Anh em phải làm mạnh dạn trong Chúa.” (6:10).

    “Hãy ở với nhau cách nhơn từ.” (4:32).

    “Đâm rễ, vững nền trong sự yêu thương.” (3:18).

    “Được dầy dẫy mọi sự dư dật của Đức Chúa Trời.” (3:19).

    “Đấng Christ nhơn đức tin mà ngự trong lòng anh em.” (3:17).

    “Hãy thường thường… vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời.” (5:20).

    “Tôi… rao truyền… sự giàu có không dò được của Đấng Christ.” (3:8).

    “Sự giàu có của cơ nghiệp vinh hiển Ngài cho các thánh đồ.” (1:18).

    “Nguyện Ngài được vinh hiển…trải các thời đại, đời đời vô cùng!” (3:21).

    “Ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin,mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời.” (2:8).

    “Phải đầy dẫy Đức Thánh Linh. Hãy Lấy Ca Vịnh, Thơ Thánh và Bài Hát thiêng liêng mà đối đáp cùng nhau, và hết lòng hát mừng ngợi khen Chúa.” (5:18,19).

    “Tôi xin trong khi cầu nguyện…cho anh em được tinh sạch không chỗ trách được, cho đến ngày Đấng Christ.”(Phi-líp 1:9,Phi-líp 1:10).

    “Ở giữa dòng dõi hung ác, ngang nghịch, được nên con cái của Đức Chúa Trời, không vít, không tì, không chỗ trách được.” (2:15).

    “Dầu tôi sống hay chết, Đấng Christ sẽ được cả sáng trong mình tôi…

    “Tôi… muốn đi ở với Đấng Christ,là điều rất tốt hơn…

    “Vì Đấng Christ là Sự Sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy.” (1:20,21,23).

    “Tôi cứ làm một điều:… Bươn theo sự ở đằng trước,… cho đến nỗi tôi được biết Ngài và quyền phép sự sống lại của Ngài…

    “Mong cho tôi được đến sự sống lại từ trong kẻ chết.” (3:13,14,10,11).

    “Chúng ta là công dân trên trời;ấy là từ nơi đó mà chúng ta trông đợi Cứu Chúa mình…

    “Ngài sẽ biến hóa thân thể hèn mạt chúng ta ra giống như thân thể vinh hiển Ngài.” (3:20,21).

    “Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn. Tôi lại còn nói nữa: Hãy Vui Mừng Đi!” (4:4).

    “Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự, hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời.

    “Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ.” (4:6,7).

    “Ấy chính Ngài (Đức Chúa Jêsus Christ) là Hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên. Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài,… vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh…

    “Ngài có trước muôn vật, và muôn vật đứng vững trong Ngài… Chính Ngài là Đầu của Thân thể, tức là Đầu Hội Thánh…

    “Ngài là ban đầu, sanh trước nhất từ trong những kẻ chết…

    “Trong Ngài đã giấu kín mọi sự quí báu về khôn ngoan, thông sáng… Sự đầy dẫy của bổn tánh Đức Chúa Trời thảy đều ở trong Đấng ấy như có hình. Anh em lại nhờ Ngài mà có được đầy dẫy mọi sự.” (Cô-lô-se 1:4,Cô-lô-se 1:15-20  2:3-10).

    “Hãy bước đi trong Ngài…, hãy châm rễ và lập nền trong Ngài.” (2:6,7).

    “Hãy ham mến các sự ở trên trời,đừng ham mến các sự ở dưới đất; vì anh em đã chết, sự sống mình đã giấu với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời.” (3:2,3).

    “Khi nào Đấng Christ, là Sự Sống của anh em, sẽ hiện ra, bấy giờ anh em cũng sẽ hiện ra với Ngài trong sự vinh hiển.” (3:4).

    “Vậy, hãy làm chết các chi thể của anh em ở nơi hạ giới, tức là tà dâm, ô uế, tình dục, ham muốn xấu xa, tham lam,– tham lam chẳng khác gì thờ hình tượng.” (3:5).

    “Anh em nên trừ bỏ hết mọi sự đó,tức là sự thạnh nộ, buồn giận và hung ác,… nói hành…, lời tục tỉu… nói dối.” (3:8,9).

    “Hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhơn từ, khiêm nhượng, mềm mại, nhịn nhục,… Hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau.” (3:12,13).

    “Trên hết mọi sự đó, phải mặc lấy lòng yêu thương… Nguyền xin sự bình an của Đấng Christ cai trị trong lòng anh em!” (3:14,15).

    “Phải biết ơn. Nguyền xin Lời của Đấng Christ ở đầy trong lòng anh em!… Hãy dùng những Ca Vịnh, Thơ Thánh,Bài Hát thiêng liêng mà dạy và khuyên nhau; vì được đầy ơn Ngài, nên hãy hết lòng hát khen Đức Chúa Trời.” (3:15,16).

    “Hãy vui mừng mãi mãi.” (1Tê-sa-lô-ni-ca 5:16).

    “Cầu nguyện không thôi.” (5:17).

    “Phàm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa.” (5:18).

    “Hãy tìm điều thiện luôn luôn.” (5:15).

    “Bất cứ việc gì tựa như điều ác,thì phải tránh đi.” (5:22).

    “Ráng tập ăn ở cho yên lặng, lấy chính tay mình làm lụng.” (4:11).

    “Về phần người đã ngủ… trong Đức Chúa Jêsus, nầy là điều chúng tôi nhờ Lời Chúa mà rao bảo cho anh em…

    “Sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn, cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống;

    “Bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ sẽ sống lại trước hết. Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa.

    “Như vậy, chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn.” (5:13-17).

    “Đức Chúa Jêsus từ trời hiện đến với các thiên sứ của quyền phép Ngài.” (2Tê-sa-lô-ni-ca 1:7).

    “Phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác… hiện ra,… tôn mình lên…, rất đỗi ngồi trong Đền Đức Chúa Trời, chính mình tự xưng là Đức Chúa Trời.” (2:3,4).

    “Mục đích của sự răn bảo, ấy là sự yêu thương, bởi lòng tinh sạch, lương tâm tốt và đức tin thật mà sanh ra.”(1Ti-mô-thê 1:5).

    “Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật.” (3:15).

    “Hãy làm nhiều việc phước đức.” (6:18).

    “Cầm lấy sự sống thật.” (6:19).

    “Hãy vì đức tin mà đánh trận tốt lành.” (6:12).

    “Hãy… tìm điều công bình, tin kính, đức tin, yêu thương, nhịn nhục, mềm mại.” (6:11).

    “Phải lấy lời nói, nết làm, sự yêu thương, đức tin và sự tinh sạch mà làm gương cho các tín đồ.” (4:12).

    “Về phần kẻ ưa sự vui chơi, thì dẫu sống cũng như chết.” (5:6).

    “Sự tin kính là ích cho mọi việc,vì có lời hứa về đời nầy và về đời sau nữa.”(4:8).

    “Sự tin kính cùng sự thỏa lòng, ấy là một lợi lớn. Vì chúng ta ra đời chẳng hề đem gì theo, chúng ta qua đời cũng chẳng đem gì đi được.” (6:6,7).

    “TA… BIẾT TA ĐÃ TIN ĐẤNG NÀO,chắc rằng Đấng ấy có quyền phép giữ sự ta đã phó thác cho đến ngày đó.” (2Ti-mô-thê 1:12).

    “Tôi tớ của Chúa không nên ưa sự tranh cạnh; nhưng phải ở tử tế với mọi người, có tài dạy dỗ, nhịn nhục, dùng cách mềm mại mà sửa dạy những kẻ chống trả.” (2:24,25).

    “Từ khi con còn thơ ấu, đã biết Kinh Thánh vốn có thể khiến con khôn ngoan để được cứu bởi đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ.” (3:15).

    “Hãy chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng dạy Lời của lẽ thật.” (2:15).

    “Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành.” (3:16,17).

    “Hãy biết rằng trong ngày sau rốt,sẽ có những thời kỳ khó khăn. Vì người ta đều tư kỷ, tham tiền, khoe khoang,xấc xược, hay nói xấu, nghịch cha mẹ, bội bạc, không tin kính, vô tình, khó hòa thuận, hay phao vu, không tiết độ, dữ tợn, thù người lành, lường thầy phản bạn,hay nóng giận, lên mình kiêu ngạo, ưa thích sự vui chơi hơn là yêu mến Đức Chúa Trời, bề ngoài giữ điều nhơn đức, nhưng chối bỏ quyền phép của nhơn đức đó.” (3:1-5).

    “Tuy vậy,… Chúa biết kẻ thuộc về Ngài.” (2:19).

    “Ta ở trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt Đức Chúa Jêsus Christ… mà răn bảo con rằng: Hãy Giảng Đạo,…Hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi.” (4:1,2).

    “Ta đang bị đổ ra làm lễ quán, kỳ qua đời của ta gần rồi. Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin.

    “Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta; Chúa… sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó,…cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài.” (4:6-8).

    “Trông cậy sự sống đời đời.” (Tit 1:2).

    “Hãy lấy mình con làm gương về việc lành cho họ.” (2:7).

    “Hãy nhắc lại cho các tín đồ phải… sẵn sàng làm mọi việc lành.” (3:1).

    “Ta muốn con nói quyết sự đó, hầu cho những kẻ đã tin Đức Chúa Trời lo chăm chỉ làm việc lành.” (3:1).

    “Những người bổn đạo ta cũng phải học tập chuyên làm việc lành,… để làm cho tôn quí đạo Đức Chúa Trời.” (3:14  2:10).

    “Đương chờ đợi sự trông cậy hạnh phước của chúng ta, và sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng liều mình vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội và làm cho sạch, đặng lấy chúng ta làm một dân thuộc riêng về Ngài, là dân có lòng sốt sắng về các việc lành.” (2:13,14).

    “Có lẽ người đã tạm xa cách anh,cốt để anh nhận lấy người mãi mãi.” (câu 15).

    “Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần, nhiều cách,

    “Rồi đến những ngày sau rốt nầy,Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật,lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian.

    “Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài, lấy Lời có quyền phép Ngài nâng đỡ muôn vật;

    “Sau khi Con làm xong sự sạch tội,bèn ngồi bên hữu Đấng Tôn nghiêm ở trong nơi rất cao.” (Hê-bơ-rơ 1:1-3).

    “Nếu lời thiên sứ rao truyền đã vững chắc và sự trái phép nghịch mạng đã được báo ứng xứng đáng rồi,

    “Mà nếu ta còn trễ nải sự cứu rỗi lớn dường ấy, thì làm sao tránh cho khỏi được? — là sự cứu rỗi Chúa truyền ra.” (2:2,3).

    “Thật, Đấng mà muôn vật hướng về Ngài và bởi Ngài, vì muốn đem nhiều con đến sự vinh hiển, thì đã khiến Đấng làm cội rễ sự cứu rỗi của những con ấy, nhờ sự đau đớn mà nên trọn lành, là phải lắm,…

    “Hầu cho Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ, lại cho giải thoát mọi người vì sự chết, bị cầm trong vòng tôi mọi trọn đời.” (2:10,14,15).

    “Bởi cớ đó, hỡi anh em thánh, là kẻ dự phần ơn trên trời gọi,… hãy giữ lấy, kẻo ai trong anh em có lòng dữ và chẳng tin mà trái bỏ Đức Chúa Trời hằng sống chăng,…

    “Hầu cho trong anh em không ai bị tội lỗi dỗ dành mà cứng lòng.  “Vì chúng ta đã được dự phần với Đấng Christ, miễn là giữ lòng tin ban đầu của chúng ta cho vững bền đến cuối cùng.” (3:1,12-14).

    “Lời của Đức Chúa Trời là Lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt,tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng…

    “Thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại.” (4:12,13).

    “Theo quyền phép của sự sống chẳng hay hư, hay hết,… Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy.” (7:16,25).

    “Những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Đức Thánh Linh, nếm đạo lành Đức Chúa Trời, và quyền phép của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên Thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường.” (6:4-6).

    “Nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa, nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự hình phạt, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi.” (10:26,27).

    “Ai đã phạm luật pháp Môi-se,…thì chết đi không thương xót, huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi Huyết của giao ước, tức là Huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn, thì… há chẳng… đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao?” (10:28,29).

    “Đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét,

    “Cũng vậy, Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người; Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội đi nữa, nhưng để ban sự cứu rỗi cho kẻ chờ đợi Ngài.” (9:27,28).

    “Người công bình… sẽ cậy đức tin mà sống.” (10:38).

    “Hãy hằng có tình yêu thương anh em.” (13:1).

    “Bởi đức tin, Hê-nóc được cất lên.” (11:5).

    “Chúa sửa phạt kẻ Ngài yêu.” (12:6).

    “Hãy lấy điều mình có làm đủ rồi.” (13:5).

    “Không có đức tin, thì chẳng thế nào ở cho đẹp ý Ngài.” (11:6).

    “Đức Chúa Jêsus Christ hôm qua,ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi.” (13:8).

    “Chớ bỏ lòng dạn dĩ mình… Còn ít lâu, thật ít lâu nữa, thì Đấng đến, sẽ đến.” (10:35,37).

    “Bởi đức tin, Môi-se… đành cùng dân Đức Chúa Trời chịu hà hiếp hơn là tạm hưởng sự vui sướng của tội lỗi…Người đứng vững như thấy Đấng không thấy được.” (11:24,27).

    “Phước cho người bị cám dỗ, vì lúc đã chịu nỗi sự thử thách rồi, thì sẽ lãnh mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kẻ kính mến Ngài.” (Gia-cơ 1:12).

    “Hãy… đem lòng nhu mì nhận lấy Lời đã trồng trong anh em, là Lời cứu được linh hồn anh em.

    “Hãy làm theo Lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình.” (1:21,22).

    “Nhược bằng có ai tưởng mình tin đạo, mà không cầm giữ lưỡi mình, nhưng lại lừa dối lòng mình, thì sự tin đạo của người hạng ấy là vô ích.

    “Sự tin đạo thanh sạch, không vết,trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là: thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn khốn khó của họ, và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian.”(1:26,27).

    “Ví bằng… có kẻ kém khôn ngoan,hãy cầu xin Đức Chúa Trời,… thì kẻ ấy sẽ được ban cho.” (1:5).

    “Trong anh em có ai chịu khổ chăng? Người ấy hãy cầu nguyện… Sự cầu nguyện bởi đức tin sẽ cứu kẻ bịnh…

    “Người công bình lấy lòng sốt sắng cầu nguyện, thật có linh nghiệm nhiều.” (5:13,15,16).

    “Anh em cầu xin mà không nhận lãnh được, vì cầu xin trái lẽ, để dùng trong tư dục mình.

    “Hỡi bọn tà dâm kia, anh em há chẳng biết làm bạn với thế gian tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời sao?” (4:3,4).

    “Đức tin không có việc làm cũng chết.” (2:26).

    “Hãy chống trả ma quỉ, thì nó sẽ lánh xa anh em.” (4:7).

    “Tội ác đã trọn, sanh ra sự chết.” (1:15).

    “Hãy đến gần Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ đến gần anh em.” (4:8).

    “Trong vòng anh em, nếu có ai lầm lạc, cách xa lẽ thật, mà có người khác làm cho nó trở lại, thì phải biết rằng kẻ làm cho người có tội trở lại, bỏ đường lầm lạc, ấy là cứu linh hồn người khỏi sự chết và che đậy vô số tội lỗi.” (5:19,20).

    “Ngợi khen Đức Chúa Trời,…Ngài… khiến chúng ta lại sanh, đặng chúng ta nhờ Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết mà có sự trông cậy sống, là cơ nghiệp không hư đi, không ô uế, không suy tàn, để dành trong các từng trời cho anh em, là kẻ bởi đức tin,nhờ quyền phép của Đức Chúa Trời giữ cho, để được sự cứu rỗi gần hiện ra trong kỳ sau rốt! Anh em vui mừng về điều đó.” (1Phi-e-rơ 1:3-6).

    “Hỡi kẻ rất yêu dấu, khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường…

    “Nhưng anh em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, hầu cho đến ngày vinh hiển của Ngài hiện ra, thì anh em cũng được vui mừng nhảy nhót.”(4:12,13).

    “Hầu cho sự thử thách đức tin anh em quí hơn vàng…, sanh ra ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra.

    “Ngài là Đấng anh em không thấy mà YÊU MẾN;… anh em… tin Ngài, và vui mừng lắm một cách không xiết kể và vinh hiển,

    “Nhận được phần thưởng về đức tin anh em, là sự cứu rỗi linh hồn mình.” (1:7-9).

    “Vì thời kỳ đã đến, là khi sự phán xét sẽ khởi từ Nhà Đức Chúa Trời; vả nếu khởi từ chúng ta, thì sự cuối cùng của những kẻ chẳng vâng theo Tin lành Đức Chúa Trời sẽ ra thể nào?

    “Lại nếu người công bình còn khó được rỗi, thì những kẻ nghịch đạo sẽ trở nên thế nào?

    “Vậy, những kẻ chịu khổ theo ý muốn Đức Chúa Trời, hãy cứ làm lành mà phó linh hồn mình cho Đấng Tạo hóa thành tín.” (4:17-19).

    “Hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em.” (5:7).

    “Lấy sự trông cậy trọn vẹn đợi chờ ơn sẽ ban cho mình, trong khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra.” (1:13).

    “Phải… yêu anh em, có lòng nhơn từ và đức khiêm nhượng.” (3:8).

    “Anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình.” (1:15).

    “Cho anh em, là kẻ đã tin, thì (Ngài) là Đá quí.” (2:7).

    “Hãy lấy lòng kính sợ mà ăn ở trong thời kỳ ở trọ đời nầy.” (1:17).

    “Hãy yêu nhau sốt sắng hết lòng.” (1:22).

    “Anh em đã được chuộc… bởi Huyết báu Đấng Christ.” (1:18,19).

    “Nhứt là trong vòng anh em phải có lòng yêu thương sốt sắng.” (4:8).

    “Hãy thường sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi lẽ về sự trông cậy trong anh em.” (3:15).

    “Gởi cho những kẻ… đã lãnh phần đức tin đồng quí báu như của chúng tôi…

    “Chúng ta biết Đấng lấy vinh hiển và nhơn đức mà gọi chúng ta,–

    “Và, bởi vinh hiển, nhơn đức ấy,Ngài lại ban lời hứa rất quí, rất lớn cho chúng ta, hầu cho nhờ đó anh em được… trở nên người dự phần bổn tánh Đức Chúa Trời.” (2Phi-e-rơ 1:1,2Phi-e-rơ 1:3-4).

    “Phải gắng sức thêm cho đức tin mình sự nhơn đức, thêm cho nhơn đức sự học thức, thêm cho học thức sự tiết độ,thêm cho tiết độ sự nhịn nhục, thêm cho nhịn nhục sự tin kính, thêm cho tin kính tình yêu thương anh em, thêm cho tình yêu thương anh em lòng yêu mến…Làm điều đó, anh em sẽ không hề vấp ngã.

    “Dường ấy, anh em sẽ được cho vào cách rộng rãi trong Nước đời đời của Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa và Cứu Chúa của chúng ta.” (1:5-11).

    “Trong ngày sau rốt, sẽ có mấy kẻ hay gièm chê…, nói rằng: Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu? Vì từ khi tổ phụ chúng ta qua đời rồi, muôn vật vẫn còn nguyên như lúc bắt đầu sáng thế.” (3:3,4).

    “Hỡi kẻ rất yêu dấu,… ở trước mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày.

    “Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất.” (3:8,9).

    “Song le, ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Bấy giờ các từng trời sẽ có tiếng vang rầm mà qua đi, các thể chất bị đốt mà tiêu tán, đất và mọi công trình trên nó đều sẽ bị đốt cháy cả.” (3:10).

    “Vì mọi vật đó phải tiêu tán, thì anh em đáng nên thánh và tin kính trong mọi sự ăn ở của mình là dường nào,trong khi chờ đợi, trông mong cho ngày Đức Chúa Trời mau đến.” (3:11,12).

    “Vả, theo lời hứa của Chúa, chúng ta chờ đợi trời mới, đất mới…

    “Vậy nên, … anh em… phải làm hết sức mình, hầu cho Chúa thấy anh em ở bình an, không dấu vít, chẳng chỗ trách được.” (3:13,14).

    “Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy.

    “Vì mọi sự trong thế gian, như sự mê tham của xác thịt, mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế gian mà ra.

    “Vả, thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời.” (1Giăng 2:15-17).

    “Chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì đều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy.

    “Ai có sự trông cậy đó trong lòng,thì tự mình làm nên thanh sạch, cũng như Ngài là thanh sạch.” (3:2,3).

    “Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình.” (3:14).

    “Ai ghét anh em mình, là kẻ giết người; anh em biết rằng chẳng một kẻ nào giết người có sự sống đời đời ở trong mình.” (3:15).

    “Sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta.” (5:4).

    “Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống.” (5:12).

    “Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến Danh Con Đức Chúa Trời.” (5:13).

    “Chúng ta phải yêu thương nhau.” (câu 5).

    “Tôi cầu nguyện cho anh được thạnh vượng trong mọi sự, và được khỏe mạnh phần xác anh cũng như đã được thạnh vượng về phần linh hồn anh vậy.” (câu 2).

    “Khuyên anh em vì đạo (Nên dịch là: “đức tin”) mà tranh chiến, là đạo đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi.” (câu 3).

    “Hãy giữ mình trong sự yêu mến Đức Chúa Trời, và trông đợi sự thương xót của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta cho được sự sống đời đời.” (câu 21).

    “Phước cho những kẻ đọc cùng những kẻ nghe lời tiên tri nầy, và giữ theo điều đã viết ra đây!” (Khải Huyền 1:3).

    “Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy Huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta,… đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng!” (1:6).

    “Kìa, Ngài đến giữa những đám mây,mọi mắt sẽ trông thấy, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng trông thấy!” (1:7).

    “Ta là An-pha và Ô-mê-ga…, là Đấng trước hết, và là Đấng sau cùng…, Đấng hiện có, đã có, và còn đến…

    “Ta đã chết, kìa, nay Ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và Âm phủ.” (1:5,8,17,18).

    “Khá giữ trung tín cho đến chết,rồi Ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống.” (2:10).

    “Ở Sạt-đe, ngươi còn có mấy người chưa làm ô uế áo xống mình; những kẻ đó sẽ mặc áo trắng mà đi cùng Ta, vì họ xứng đáng như vậy.” (3:4).

    “Ta biết công việc của ngươi:ngươi không lạnh, cũng không nóng…

    “Vậy, vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên Ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng Ta.” (3:15,16).

    “Phàm người kẻ Ta đã yêu, thì Ta quở trách, sửa phạt…

    “Nầy, Ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng Ta mà mở cửa cho, thì Ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người và người với Ta.” (3:19,20).

    “Tôi nhìn xem, thấy vô số người,không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra…

    “Đó là những kẻ… đã giặt và phiếu trắng áo mình trong Huyết Chiên Con…

    “Chúng sẽ không đói, không khát nữa;… Đức Chúa Trời sẽ lau hết nước mắt nơi mắt chúng.” (7:9,14,16,17).

    “Đó là những lời chơn thật của Đức Chúa Trời.” (19:9).

    “Mùa màng dưới đất đã chín rồi.” (14:15).

    “Tôi thấy một tòa lớn và trắng,cùng Đấng đương ngồi ở trên… Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa…

    “Biển đem trả những người chết mình chứa; Sự Chết và Âm phủ cũng đem trả những người chết mình có…

    “Các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là Sách Sự Sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy…

    “Kẻ nào không được biên vào Sách Sự Sống đều bị ném xuống hồ lửa.” (20:11,12,13,15).

    “Tôi thấy trời mới và đất mới…Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai mà đến, nói rằng:

    “Nầy, Đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng.

    “Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng; sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhứt đã qua rồi.

    “Những lời nầy đều trung tín và chơn thật.” (21:1-5).

    “Thiên sứ chỉ cho tôi xem Sông nước sự sống, trong như lưu ly, từ ngôi Đức Chúa Trời và Chiên Con chảy ra…

    “Trên hai bờ sông có cây sự sống,… mỗi tháng một lần ra trái.  “Những lá cây đó dùng để chữa lành cho các dân. Chẳng còn có sự nguyền rủa nữa.

    “Ngôi của Đức Chúa Trời và Chiên Con sẽ ở trong thành… Chúng sẽ được thấy mặt Chúa… Chúng sẽ trị vì đời đời…

    “Những lời nầy là trung tín và chơn thật.” (22:1-6).

    “Kẻ nào không công bình, cứ không công bình nữa; kẻ nào ô uế, cứ còn ô uế nữa; kẻ nào công bình, cứ làm điều công bình nữa; kẻ nào là thánh, cứ làm nên thánh nữa!” (22:11).

    “Thánh Linh và vợ mới cùng nói:Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến!

    “Ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn,khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không.” (22:17).

    “Đấng làm chứng cho những điều ấy phán rằng: Phải, Ta đến mau chóng.–

    “A-MEN, LAY ĐUC CHÚA JÊSUS, XIN HÃY ĐẾN!” (22:20).”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Hỏi Nào Quan Trọng/nổi Tiếng Nhất Trong Kinh Thánh?
  • Hòa Hợp Dân Tộc Theo Tinh Thần Cố Thủ Tướng Chính Phủ Võ Văn Kiệt
  • 10 Câu Nói Bất Hủ Của Huyền Thoại Steve Jobs
  • Vị Tướng Kiệt Xuất Trần Quốc Tuấn Và Bài Học Cho Người Trẻ
  • Những Câu Nói Lưu Danh Sử Sách Của Đức Thánh Trần.
  • Mùa Xuân Trong Danh Ngôn Và Thánh Kinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Danh Ngôn Về Mùa Xuân
  • Những Câu Nói Hay Về Môi Trường: 30+ Danh Ngôn Hay
  • Châm Ngôn Về Môi Trường
  • Những Câu Châm Ngôn
  • Danh Ngôn Hay Nhất Của Mahatma Gandhi
  • Chào năm mới tinh khôi

    Một năm đầy nhựa sống

    Xua đi những lo âu

    Nghi ngờ và sợ hãi

    Để yêu, cười và trao tặng

    Mong năm mới tươi hồng

    Cho tôi từng ngày vui

    Tôi lớn mạnh từng ngày

    Cái tôi tốt đẹp nhất

    Tôi thêm nhiều cơ hội

    Sửa lại những sai lầm

    Nguyện cầu cho hoà bình

    Trồng thêm một cây xanh

    Another fresh new year is here . . .

    Another year to live!

    To banish worry, doubt, and fear,

    To love and laugh and give!

    This bright new year is given me

    To live each day with zest . . .

    To daily grow and try to be

    My highest and my best!

    I have the opportunity

    Once more to right some wrongs,

    To pray for peace, to plant a tree,

    And sing more joyful songs!

    ~William Arthur Ward Một năm mới đang mở ra- như một nụ hoa với những cánh hoa xếp lại phô ra vẻ đẹp ẩn chứa bên trong

    A new year is unfolding – like a blossom with petals curled tightly concealing the beauty within.

    Unknown Mùa xuân là cách bày tỏ của thiên nhiên: ” Ta hãy vui chơi”

    Spring is nature’s way of saying, “Let’s party!

    ~Robin Williams Mùa là những gì phải là của một bản giao hưởng: bốn phần hoàn hảo hoà hợp với nhau

    The seasons are what a symphony ought to be: four perfect movements in harmony with each other.

    ~Arthur Rubenstein Xuân ở thơ ca

    Thơ ca vào xuân

    Spring in verses,

    Verses in spring.

    ~Violet Gartenlicht

    Một người lạc quan thức đến nửa đêm để đón giao thừa. Người bi quan thức để chắc chắn rằng năm cũ đã qua.

    An optimist stays up until midnight to see the new year in. A pessimist stays up to make sure the old year leaves.

    Bill Vaughn Ngày mà Thượng đế tạo ra hi vọng có lẽ cùng một ngày ngài tạo ra mùa Xuân

    The day the Lord created hope was probably the same day he created Spring.

    ~Bern Williams

    Chúng ta sẽ mở cuốn sách với các trang trắng tinh. Chính chúng ta sẽ viết lên đó.

    Quyển sách có tên là Cơ Hội và chương đầu tiên là Ngày Đầu Năm.

    We will open the book. Its pages are blank. We are going to put words on them ourselves. The book is called Opportunity and its first chapter is New Year’s Day.

    Edith Lovejoy Pierce Hoan hô năm mới và cơ hội mới để chúng ta tu sửa.

    Cheers to a new year and another chance for us to get it right.

    ~Oprah Winfrey Mục tiêu của năm mới không phải là chúng ta cần có một năm mới. Cái chính là ta phải có một tâm hồn mới.

    The object of a new year is not that we should have a new year. It is that we should have a new soul.

    G. K. Chesterton Ngày Tết là sinh nhật của mọi người

    New Year’s Day is every man’s birthday.

    Charles Lamb Tôi yêu mùa xuân khắp nơi, nhưng nếu được chọn lựa tôi sẽ luôn chào đón mùa xuân trong một khu vườn

    I love spring anywhere, but if I could choose I would always greet it in a garden.

    ~Ruth Stout Dẫu mùa đông dài bao lâu, mùa xuân chắc chắn tiếp nối

    No matter how long the winter, spring is sure to follow.

    ~Proverb Năm khởi đầu bằng mùa xuân

    Ngày mở ra với ban mai

    Buổi sáng bắt đầu lúc 7 giờ

    Triền đồi sương long lanh

    Chim Sơn ca đang bay

    Ốc sên bò trên cành gai

    Thượng Đế trên Trời

    An hoà dười trần thế!

    The year’s at the spring

    And day’s at the morn;

    Morning’s at seven;

    The hillside’s dew-pearled;

    The lark’s on the wing;

    The snail’s on the thorn;

    God’s in His heaven –

    All’s right with the world!

    ~Robert Browning

    Mùa Xuân là mùa đặc biệt, không chỉ có cảnh vật đẹp nhất trong năm vì cây cối vừa hồi sinh từ mùa Đông băng giá: Đâm chồi, nảy lộc, đơm hoa, kết trái; đồng thời lòng người cũng cảm thấy rất “khác lạ”. Mùa Xuân được ví là thời tuổi trẻ – gọi là tuổi thanh xuân. Trong đời người, tuổi xuân là tuổi đẹp nhất. Xuân đời và Xuân người, đó là kỳ công của Thiên Chúa, và là tặng phẩm Ngài trao ban cho con người.

    Kinh thánh cũng nói đến mùa Xuân với những khía cạnh khác nhau, cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Kinh Thánh nhắc tới mùa Xuân theo nghĩa bình thường, tức là một trong bốn mùa trong năm:

    – Vị ngôn sứ đến gặp vua Ít-ra-en và thưa với vua: “Mời vua đi! Xin vua can đảm lên! Xin cân nhắc và xem xét điều ngài phải thực hiện, vì mùa xuân tới vua A-ram sẽ tấn công ngài” (1 V 20:22). Như vậy, mùa Xuân còn là cơ hội để chúng ta đắn đo, cân nhắc, suy nghĩ,…

    – Mùa Xuân là mùa bình an, nhưng người ta vẫn chưa thực sự an bình: “Khi mùa xuân tới, vua Ben Ha-đát kiểm tra người A-ram và tiến lên A-phếch giao chiến với Ít-ra-en” (1 V 20:26).

    – Mùa Xuân là mùa yêu thương, vậy mà vẫn có tội ác: “Lúc xuân về, thời mà các vua ra quân, ông Giô-áp đưa lực lượng quân đội tàn phá đất đai của con cái Am-mon. Ông tiến quân vây hãm Ráp-ba, còn vua Đa-vít ở lại Giêrusalem. Ông Giô-áp tấn công và triệt hạ Ráp-ba” (1 Sbn 20:1), hoặc: “Lúc xuân về, thời mà các vua ra quân, vua Đa-vít sai ông Giô-áp đi, cùng với các bề tôi của vua và toàn thể Ít-ra-en. Họ giết hại con cái Am-mon và vây hãm Ráp-ba. Còn vua Đa-vít thì ở lại Giêrusalem” (2 Sm 11:1).

    – Nói về Thượng tế Si-môn, sách Huấn Ca ví von: “Ông ví như đoá hồng tươi nở giữa mùa xuân, như cây huệ mọc bên bờ nước, tựa chồi non Li-băng giữa mùa hè” (Hc 50:8).

    – Mưa Xuân đặc biệt hơn các loại mưa khác. Ơn mưa móc của Hoàng đế nhắc nhở chúng ta về hồng ân Thiên Chúa: “Long nhan rạng rỡ là bầy tôi được sống, ơn vua ban xuống như mây đổ mưa xuân” (Cn 16:15).

    – Ngay trong lời than vãn của Thánh Gióp vẫn chứa niềm hy vọng, và ông còn so sánh với mùa Xuân: “Họ chờ đợi tôi như chờ đợi mưa rào, mở miệng ra như để đón mưa xuân” (G 29:23).

    Cái gì cũng có nghĩa đen và nghĩa bóng. Mùa Xuân cũng vậy. Kinh Thánh nói nhiều về mùa Xuân theo nghĩa bóng:

    – Mùa Xuân hiểu theo tuổi thọ: “Hằng tháng, vào ngày mừng sinh nhật của vua, người Do-thái phải ngậm đắng nuốt cay mà dự các bữa tiệc cúng thần. Đến ngày lễ kính thần Đi-ô-ny-xô, họ buộc phải đội vòng hoa trường xuân đi kiệu thần Đi-ô-ny-xô” (2 Mcb 6:7).

    – Về tội lỗi thời tuổi trẻ: “Quả thật, nhằm chống lại con, Ngài đã viết những lời cay đắng, đã kể ra các tội con phạm lúc xuân xanh” (G 13:26). Hậu quả của tội lỗi xảy ra nhãn tiền: “Đời họ sẽ lụi tàn giữa tuổi thanh xuân, mạng họ tiêu vong vì bọn trai điếm” (G 36:14).

    – Về sự tin tưởng, không thất vọng, xin Thiên Chúa thương xót: Tuổi xuân trót dại bao lầm lỗi, xin Ngài đừng nhớ đến, nhưng xin lấy tình thương mà nhớ đến con cùng” (Tv 25:7).

    – Về tình cảm gia đình: “Từ thuở thanh xuân, tôi đã nuôi nó như một dưỡng phụ và đã hướng dẫn nó ngay từ lúc tôi lọt lòng mẫu thân” (G 31:18).

    – Thật diễm phúc nếu chúng ta có thể xác định mà không cảm thấy tự hổ thẹn với lòng mình: “Từ độ thanh xuân, tôi trông cậy Chúa” (Tv 71:1). Lý do tín thác vào Chúa rất rõ ràng, và điều này đã được xác định từ hồi còn trẻ: “Vì lạy Chúa, chính Ngài là Đấng con trông đợi, lạy Đức Chúa, chính Ngài là Đấng con tin tưởng ngay từ độ thanh xuân” (Tv 71:5). Và thật là đại phúc nếu chúng ta luôn giữ đúng như vậy cho tới hơi thở cuối cùng với niềm tin yêu mạnh mẽ: “Từ độ thanh xuân, lạy Thiên Chúa, con đã được Ngài thương dạy dỗ. Tới giờ này, con vẫn truyền rao vĩ nghiệp của Ngài” (Tv 71:17).

    – Thiên Chúa là Đấng tạo dựng muôn loài, hữu hình và vô hình, kể cả sự sống: “Chúa rút ngắn tuổi xuân người lại, trút nỗi nhục nhằn xuống toàn thân” (Tv 89:46). Ngài là Nguồn Sống, Ngài muốn cho ai trường thọ hoặc đoản mênh là quyền của Ngài, vả lại Ngài có kế hoạch mầu nhiệm mà phàm nhân chúng ta không thể hiểu thấu.

    – Chúng ta chẳng đáng gì, nhưng tình yêu của Ngài bao la, lòng thương xót của Ngài lớn hơn mọi tội lỗi: “Chúa tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi, thương chữa lành các bệnh tật ngươi. Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt, bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà, ban cho đời ngươi chứa chan hạnh phúc, khiến tuổi xuân ngươi mạnh mẽ tựa chim bằng” (Tv 103:3-5).

    – Tuổi trẻ còn bồng bột, háo thắng, háo danh, ưa “nổ”, khoái “chảnh”, do đó mà rất dễ sa ngã. Làm sao bảo toàn “chiếc áo trắng” đã được “giặt sạch” khi lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy? Tác giả Thánh vịnh hỏi và trả lời: “Làm thế nào giữ được tuổi xuân trong trắng? Thưa phải tuân theo lời Chúa dạy” (Tv 119:9).

    – Nam và nữ có những điểm tương đồng và dị biệt, nhưng tất cả đều phát xuất từ Thiên Chúa và quy về Ngài. Tác giả Thánh Vịnh cầu chúc: “Mong đàn con trai ta mạnh như cây vừa lớn đang tuổi xuân mơn mởn; mong bầy con gái ta đẹp như hình mỹ nữ khắc trên cột đền đài” (Tv 144:12).

    – Còn trẻ người non dạ, người trẻ cần phải “học ăn, học nói, học gói, học mở” để tích lũy kinh nghiệm. Và Kinh Thánh dặn dò: “Này bạn thanh niên, cứ vui hưởng tuổi xuân của bạn, và làm cho tâm hồn được hạnh phúc trong những ngày còn trẻ: cứ chiều theo ước muốn của lòng mình và những gì mắt mình ưa thích. Nhưng bạn phải biết rằng: về tất cả những điều đó, Thiên Chúa sẽ gọi bạn ra xét xử” (Gv 11:9). Gọi là lời khuyên nhưng lại cũng chính là lời cảnh báo đấy!

    – Kinh Thánh có thêm lời khuyên dành cho giới trẻ: “Giữa tuổi thanh xuân, bạn hãy tưởng nhớ Đấng đã dựng nên mình. Đừng chờ đến ngày tai ương ập tới, đừng chờ cho năm tháng qua đi, những nằm tháng mà rồi bạn sẽ phải nói: Tôi chẳng có được một niềm vui nào trong thời gian đó cả!” (Gv 12:1).

    Lạy Chúa Xuân, chúng con cảm tạ Ngài thương ban cho chúng con Mùa Xuân trần gian để “nếm thử” Mùa Xuân Trường Sinh mai sau. Xin giúp chúng con biết tận hưởng Mùa Xuân Hồng Ân, Mùa Xuân của Lòng Chúa Thương Xót, và luôn ngưỡng vọng về Mùa Xuân Vĩnh Cửu nơi Thiên Quốc. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Danh Ngôn Tình Yêu Lãng Mạn Nổi Tiếng
  • “hé Lộ” Những Câu Danh Ngôn Tình Yêu Đầy Lãng Mạn Và Yêu Thương
  • Danh Ngôn Tình Yêu Lãng Mạn
  • Danh Ngôn Về Làm Đẹp
  • Câu Châm Ngôn Về Lòng Người
  • Danh Ngôn, Châm Ngôn Về Sự Đố Kỵ Ghen Ghét, Tục Ngữ Ca Dao Về Đố Kỵ

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Mưa
  • 10 Câu Danh Ngôn Tiếng Anh Gia Đình Hay Nhất
  • Những Stt Chất Ngầu Ngắn Facebook Từng Được 999.199 Like
  • [List] Những Câu Nói Hay Về Mùa Thu Ngọt Ngào Với Bao Kỷ Niệm
  • Lời Chúc Ngày Lễ Vu Lan Hay Và Ý Nghĩa
  • Tổng hợp những danh ngôn, châm ngôn về sự đố kỵ ghen ghét, tục ngữ ca dao về sự đố kỵ

    Danh ngôn, châm ngôn về sự đố kỵ ghen ghét, tục ngữ ca dao về đố kỵ

    1. Trái tim lành mạnh là sức sống của thân thể, nhưng lòng ghen tỵ là ung thư ăn mục tới xương.

    2. Cỏ ở phía bên kia hàng rào lúc nào trông cũng xanh hơn.

    3. Nếu lòng ghen tỵ là một cơn sốt thì cả thế giới sẽ bị bịnh.

    4. Trâu buộc ghét trâu ăn.

    5. Trong sự ghen tuông có nhiều tự ái hơn tình yêu.

    6. Lòng ghen tỵ là tài khéo đếm những phước lành của kẻ khác thay vì phước lành của chính mình.

    7. Lòng ghen tuông giống như muối trong thức ăn: một chút có thể tăng thêm vị, nhưng nhiều quá có thể làm mất ngon, và, trong một số trường hợp nào đó, có thể nguy hiểm đến tính mạng.

    8. Lòng ghen tỵ tự giết mình bằng mũi tên của chính nó.

    9. Bạn không thể vừa ghen tị và vừa hạnh phúc.

    10. Thật may mắn cho ai học được cách khâm phục mà không ghen tị, đi theo mà không bắt chước, khen ngợi mà không tâng bốc, và dẫn đường mà không thao túng.

    11. Hạnh phúc là người thầy hà khắc, đặc biệt là hạnh phúc của người khác.

    12. Có lẽ chẳng có hiện tượng nào chứa nhiều cảm xúc tiêu cực như sự phẫn nộ vì đạo đức, nó cho phép ghen tị được hoành hành dưới vỏ bọc của đức hạnh.

    13. Sự ghen tị với người khác nuốt chửng chúng ta nhiều nhất.

    14. Tại sao những kẻ đố kỵ bao giờ cũng có một cái gì để buồn phiền? Bởi vì hắn bị dày vò không chỉ vì những thất bại của bản thân hắn mà cả vì những thành công của người khác.

    15. Bạn tin không? Tình bạn trong thế giới này cũng tồn tại sự ghen ghét, cái tư vị ấy không thua gì tình yêu đâu.

    16. Ở núi này tưởng thấp, ngắm núi nọ tưởng cao.

    17. Đừng ganh tị với kẻ ác, cũng đừng mong ước kết bạn với chúng. Đầu óc chúng chỉ âm mưu hung bạo, và lúc nào cũng nói đến chuyện gây rối.

    18. Không ai có thể khiến bạn ghen tị, tức giận, thù hận hay tham lam – trừ phi bạn cho phép điều đó.

    19. Sự cao cả là ở chỗ không cảm thấy ghen tị khi nhìn những người khác đạt được những thành công mà bản thân mình khao khát.

    20. Số ít có hành động là đối tượng ghen tị của số đông chỉ quan sát.

    21. Đừng ganh tị với kẻ ác, đừng đố kỵ với kẻ gian tà

    22. Tôi thường tìm thấy sự so sánh là con đường cao tốc dẫn tới nỗi bất hạnh. Không ai từng so sánh mình với người khác và thấy mình bằng được. Chín trên mười lần, ta so sánh bản thân mình với những người tốt hơn ta ở điểm nào đó, và kết quả là cảm thấy càng thấp kém hơn.

    23. Đóa hoa độc nhất không cần phải ghen tị với gai nhiều vô số.

    24. Tôi chẳng bao giờ thán phục của cải của người khác đến mức bất mãn với của bản thân.

    25. Nếu không đố kị không tham cầu thì vì sao mà không tốt?

    (Bất kĩ bất cầu, hà dụng bất tang?)

    26. Thứ có thể hủy diệt hoàn toàn một người phụ nữ không phải là sự nghèo khó mà là sự đố kỵ, sự đố kỵ điên cuồng.

    27. Không ghen ghét ai, không cầu cạnh ai, thì làm việc gì mà chẳng lành, chẳng tốt.

    28. Rất dễ căm ghét thứ mình không thể có.

    29. Việc được, thì gièm pha nổi lên. Đức cao, thì chê bai kéo đến.

    30. Nếu bạn ghen tị với những người thành công, bạn tạo ra một trường lực lượng tiêu cực đẩy bạn khỏi những điều bạn cần làm để thành công. Nếu bạn khâm phục những người thành công, bạn tạo ra một trường lực lượng tích cực hấp dẫn bạn trở nên ngày càng giống những người bạn muốn giống.

    31. Khi sự thịnh vượng đến, lòng ghen tị vây hãm và tấn công nó; và khi nó rời đi, để lại phía sau là đau khổ và ăn năn.

    32. Khi đầy lòng ghen tị, người ta chê bai mọi thứ, dù tốt hay xấu.

    33. Có lẽ chẳng có hiện tượng nào chứa nhiều cảm xúc tiêu cực như sự phẫn nộ vì đạo đức, nó cho phép ghen tị được hoành hành dưới vỏ bọc của đức hạnh.

    34. Thật may mắn cho ai học được cách khâm phục mà không ghen tị, đi theo mà không bắt chước, khen ngợi mà không tâng bốc, và dẫn đường mà không thao túng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Stt Hay Về Tuổi Trẻ Thanh Xuân Ý Nghĩa Nhất Trên Facebook
  • Stt Hay Về Đám Cưới Được Yêu Thích Nhất Tháng 9 2022
  • Những Câu Danh Ngôn Tiếng Anh Hay Về Mẹ
  • 99 Câu Nói & Stt Hay Khi Cảm Thấy Cuộc Sống, Cuộc Đời Buồn Chán
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống Giả Tạo
  • Bài 115: Sách Châm Ngôn

    --- Bài mới hơn ---

  • 500 Câu Đố Vui Kinh Thánh
  • Nền Văn Chương Khôn Ngoan Trong Thánh Kinh Cựu Ước: Sách Châm Ngôn, Sách Ông Gióp, Sách Giảng Viên, Sách Huấn Ca, Sách Khôn Ngoan, Sách Thánh Vịnh
  • Giáo Xứ Vinh Sơn Bình Dương: Chương 1 =
  • Chương 5: Sưu Tập Những Lời Của Bậc Khôn Ngoan
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Yêu Thương Chia Sẻ: 50+ Danh Ngôn Hay
  • Đây là Châm Ngôn của Sa-lô-môn, con trai của Vua Đa-vít. Những gì ông viết nhằm dạy người ta biết cách sống, biết làm thế nào để hành xử trong mọi tình huống vì ông muốn họ có sự hiểu biết và chính trực trong mọi việc họ làm. Mục đích là khiến kẻ ngu muội được khôn ngoan, người trai trẻ biết đối phó với những khó khăn họ sẽ gặp, người khôn ngoan sẽ được khôn ngoan hơn, và trở nên người lãnh đạo bằng cách học hỏi ý nghĩa sâu nhiệm của những sự dạy dỗ này. Làm thế nào để trở nên khôn ngoan? Bước đầu tiên là tin cậy và kính sợ Chúa. Vì kính sợ Chúa là nền tảng cho mọi khôn ngoan. Hiểu biết Chúa là căn bản cho những hiểu biết khác.

    Chúng ta có thể đặt vấn đề, “Tại sao Sa-lô-môn, tác giả của sách Châm Ngôn, sách khuyên dạy người khác sống thành công mà chính ông là người thất bại trong cuộc sống?” Sa-lô-môn là người khôn ngoan nhất đã từng sống, sự khôn ngoan của ông được thể hiện qua sách Châm Ngôn. Sách chứa đựng những lời khuyên dạy hết sức khôn ngoan thiết thực. Làm thế nào một người thất bại như Sa-lô-môn lại viết sách để chỉ dạy người khác? Có một số câu trả lời cho câu hỏi này. Sự khôn ngoan trong sách Châm Ngôn không tùy thuộc vào việc tác giả có áp dụng cho mình hay không. Châm Ngôn là những lời khôn ngoan được linh cảm bởi Chúa. Bên cạnh đó, qua sách Châm Ngôn và Thi Thiên 127, Sa-lô-môn muốn nói các bạn trẻ rằng, “Đừng làm theo những gì mà ta đã làm, hãy học từ những kinh nghiệm thất bại của ta thay vì đem chính các ngươi ra mà học, kinh nghiệm đó sẽ trở thành người thầy cho các ngươi.”

    Một câu trả lời khác đó là Sa-lô-môn là một triết gia, một người yêu thích kiến thức. Nhiều người hiểu biết nhưng không luôn luôn áp dụng những gì họ hiểu biết. Trong phần mở đầu của Châm Ngôn, Sa-lô-môn cho biết vì sao ông viết sách này. Ông nói, “Ta muốn các ngươi biết phải sống thế nào.” Xin nhớ rằng Kinh Thánh được ban cho để con người biết cách sống. Môi-se nói trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 8:3 rằng, “loài người sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi, nhưng loài người sống nhờ mọi lời bởi miệng Đức Giê-hô-va mà ra.” Môi-se nhắn nhủ rằng con người sống bởi tuân giữ Lời Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa là Lời Chúa và cuộc sống đi đôi với nhau. Càng hiểu biết Lời Chúa, chúng ta càng hiểu biết về cuộc sống; và càng hiểu biết về cuộc sống, chúng ta càng hiểu biết Lời Chúa. Điều đó đúng trong sách Châm Ngôn.

    Mục đích của Sa-lô-môn khi viết sách Châm Ngôn là nhằm dạy chúng ta biết làm thế nào để sống, để người khôn ngoan được khôn ngoan hơn và trở nên người lãnh đạo. Ông đặc biệt chú ý đến giới trẻ. Sa-lô-môn khuyến cáo các thanh niên về những cám dỗ mà họ phải đương đầu. Vì lý do đó các bạn trẻ nên đọc Châm Ngôn mỗi ngày. Có 31 đoạn, như vậy mỗi ngày đọc và suy gẫm một đoạn.

    Vì có nhiều Châm Ngôn, chúng ta sẽ không học tất cả, nhưng chỉ tập trung vào một số Châm Ngôn tiêu biểu. Với sách Thi Thiên, chúng ta cũng chỉ phân tích một số Thi Thiên điển hình để giúp độc giả có ý niệm nhằm tìm hiểu phần còn lại. Cùng một cách đó, chúng ta sẽ phân tích một số Châm Ngôn điển hình, qua đó, chúng tôi hy vọng rằng quý vị sẽ được trang bị và khích lệ để học hết sách Châm Ngôn.

    Chúng tôi sẽ diễn tả lời của Sa-lô-môn nhằm giúp chúng ta dễ hiểu hơn và áp dụng vào cuộc sống. Sau phần dẫn nhập Sa-lô-môn nói rằng, “Tôi muốn quí vị học biết chân lý quan trọng này, người khôn ngoan nhất là người làm điều đúng, bằng không quí vị phải gặt lấy bông trái của sự cay đắng khi đi theo ý riêng và trải qua những nỗi kinh hoàng về con đường mà quí vị đã chọn.” Phát biểu này có thể tóm tắt cuộc đời của Sa-lô-môn. Ông biết mình đã thất bại. Nhưng ngay trong trang đầu, ông cho biết một trong những cách để học khôn ngoan là thông qua thất bại. Một người đã nói, “Sớm muộn gì rồi ai cũng phải gặt những gì mình đã gieo.” Một cách để lĩnh hội khôn ngoan là qua thất bại. Khi trải qua những nỗi hãi hùng vì chọn con đường sai, chúng ta học được những bài học quí giá. Các bậc phụ huynh thường làm hỏng cơ hội khi mà con họ sắp học những bài học này. Khi thấy con cái chuẩn bị gặt lấy hậu quả mà do chúng gieo ra và đối diện với những hãi hùng thì họ lập tức ra tay cứu giúp chúng. Các bậc phụ huynh đánh mất cơ hội để con họ học những bài học khôn ngoan từ các hậu quả do chúng gây ra. Sa-lô-môn đã tiên đoán rằng một khi trải qua những nỗi đắng cay vì sự chọn lựa sai trật, chúng ta sẽ học biết rằng, “Người làm điều đúng là người khôn ngoan nhất.”

    Vì yêu chúng ta nên Chúa phán dạy chúng ta những gì là đúng qua Lời của Ngài. Chúa muốn chúng ta làm điều đúng vì Ngài biết rằng điều đúng cuối cùng sẽ đem lại kết quả tốt. Khi Ngài cấm một điều gì đó hoặc cho biết điều gì là sai quấy, không phải vì Ngài khắc nghiệt muốn làm cho chúng ta đau khổ. Nhưng Chúa biết rằng những điều sai quấy cuối cùng sẽ đem lại những hậu quả đắng cay. Ngài không muốn chúng ta đau khổ vì những hậu quả đó. Như vậy ngay trong những dòng đầu, Sa-lô-môn muốn chúng ta học rằng “Người làm điều đúng là người khôn ngoan nhất.”

    Châm Ngôn 5:15 – 19 là lời khuyên dành cho những người trẻ khi họ đối đầu với những cám dỗ từ những người đàn bà quyến rũ. Dĩ nhiên vấn đề này có hai mặt. Những người nữ cũng được khuyến cáo trước những quyến rũ của những người nam. Tuy nhiên sách Châm Ngôn chỉ nói đến những người nam cần phải thận trọng trước sự cám dỗ của người nữ. Người nam ở đây là những người đã có gia đình. Những gì Sa-lô-môn nói trong 5 câu này được tóm tắt như sau, “Cách bảo vệ tốt nhất là tấn công. Điều này có nghĩa là để bảo vệ khỏi sự cám dỗ ngoại tình thì phải có một hôn nhân vững mạnh”. Sa-lô-môn nói rằng người chồng phải luôn tìm sự vui thỏa với vợ của mình để dù có những sự cám dỗ bên ngoài thì người chồng vẫn không bị sa ngã vì nhu cầu tâm sinh lý đã được đáp ứng. Đó là lời khuyên khôn ngoan. Sa-lô-môn cảnh cáo về những người nữ lẳng lơ cũng như những người đàn bà ngoại tình. Ông nói, “Bất cứ người nam nào phạm tội tà dâm là hoàn toàn ngu muội vì người đó hủy diệt linh hồn mình. Nếu ngươi muốn tìm con đường xuống âm phủ thì nó ở nơi nhà của dâm phụ.”

    Trong khi theo học tại trường Kinh Thánh thì một sinh viên thần học đã lưu tâm đến một số người vô gia cư sống tại một công viên gần trường. Sinh viên này dùng thời gian rảnh của mình đến tại công viên để nói chuyện với họ và tìm hiểu vì sao họ bị cách ly với xã hội và sống lầm lũi như vậy. Anh sinh viên đã làm điều này trong suốt hai năm, và một trong những kết luận mà anh thấy đó là vì phụ nữ. Những người vô gia cư này đã bắt đầu bằng những vụ ngoại tình lăng nhăng với các phụ nữ, từ đó dẫn đến sự tan vỡ gia đình, rồi rượu chè, nghiện ngập và cuối cùng là sống đầu đường xó chợ. Hầu như hậu quả này cứ lặp đi lặp lại thường xuyên. Tất cả bắt đầu bởi một người phụ nữ đầy quyến rũ rồi dẫn đến chỗ mất cả gia đình. Họ lâm vào con đường nghiện ngập nên mất công ăn việc làm và cuối cùng là mất mọi sự. Từ nhận xét trên chúng ta thấy rằng những gì Sa-lô-môn khuyên bảo là khôn ngoan và thực tế. “Ngôi nhà của dâm phụ dẫn đến âm phủ.”

    Sa-lô-môn đã nói về “Kỷ luật bản thân” như sau: “Hỡi kẻ biếng nhác, hãy đi đến loài kiến; khá xem xét cách ăn ở nó mà học khôn ngoan. Tuy nó không có hoặc quan tướng, hay quan cai đốc, hay là quan trấn, thì nó cũng biết sắm sửa lương phạn mình trong lúc mùa hè, và thâu trữ vật thực nó trong khi mùa gặt”.

    Sa-lô-môn cho biết chúng ta có thể học về kỷ luật bản thân từ loài kiến. Khi tốt nghiệp trường học chúng ta phải bắt đầu tự lập. Ở mức tiểu học hoặc trung học, thầy cô giáo ra bài tập và chúng ta làm bài với sự giúp đỡ của cha mẹ. Nhưng khi lớn lên, chúng ta tự làm lấy, tự đặt mình vào khuôn khổ kỷ luật. Đây là sứ điệp mà chúng ta học được từ loài kiến.

    Châm Ngôn nhấn mạnh rất nhiều đến lời nói, “Hễ lắm lời, vi phạm nào có thiếu; Nhưng ai cầm giữ miệng mình là khôn ngoan”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Danh Ngôn Của Steve Job
  • Những Câu Châm Ngôn Hay
  • Những Câu Nói Hay Về Cảm Xúc Con Người: 67+ Danh Ngôn Hay
  • Những Câu Nói Bất Hủ Hay Nhất Trong Tiểu Thuyết Ngôn Tình
  • Danh Ngôn Hay Trong Kinh Doanh
  • Câu Châm Ngôn Hay Về Sách

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Chuyện Về Người Đàn Ông Kì Lạ Steve Jobs Mà Bạn Chưa Biết
  • Danh Ngôn Kẻ Tiểu Nhân
  • 8 Châm Ngôn Bạn Cần Nhớ Đến Đầu Tiên Khi Vấp Ngã
  • Những Câu Nói Hay Về Vấp Ngã: 30+ Danh Ngôn Hay
  • Châm Ngôn Về Hạnh Phúc
  • 2. 100 Câu nói hay về TÌNH YÊU – Chưa Yêu Đừng Xem! .

    31. Ông mô tả Phu Nhân Khôn Ngoan và lời đề nghị của nàng cho hạng người ngu muội sẽ được bảo vệ tại nhà của nàng (Châm ngôn 9:1-12).

    32. Tổng hợp những câu nói hay về sách, không cần phải có thời điểm và địa điểm đúng để đọc sách.

    33. Nhiều khi đọc được những câu châm ngôn hay về cuộc sống phù hợp, và đúng lúc, bạn sẽ có thêm một nguồn cảm hứng cực kỳ lớn để hành động.

    36. Những câu châm ngôn về sách giúp cho ta hiểu hơn ý nghĩa của sách và đến gần với thế giới của sách hơn.

    37. 18 Th5, 2022 in Học Tiếng Nhật / Những câu châm ngôn tiếng Nhật hay về cuộc sống / Uncategorized tagged châm ngôn về cuộc sống của nhật / Những câu châm ngôn tiếng Nhật hay về cuộc sống / những câu châm ngôn về cuộc sống by Dang Thuy Phuong (updated on 21/06/2017).

    39. Những danh ngôn hay về học tập, Giáo dục là một điều đáng kính trọng nhưng nên nhớ rằng đôi khi những điều được dạy là những cái không đáng biết.

    41. Những Câu Nói Hay Về Sách, Đọc Sách – Châm Ngôn Khẩu Hiệu Về Sách,,Người ta nói rằng ”Mỗi trang sách,một tương lai”.

    45. Người đọc quá nhiều và dùng tới bộ óc quá ít sẽ rơi vào thói quen suy nghĩ lười biếng.

    47. Áp dụng thực tiễn: Có một thực tiễn không thể chối cãi được trong sách này vì những câu trả lời có cơ sở và có hiểu biết cho mọi cách cư xử khó khăn phức tạp đều được tìm thấy trong vòng 31 chương của sách.

    --- Bài cũ hơn ---

  • ‘em Chưa 18’, An Nguy, Jun Phạm
  • Những Câu Nói Hay Về Tết Nguyên Đán ❤️ Tân Sửu 2022
  • Châm Ngôn Tình Nghĩa Vợ Chồng
  • Châm Ngôn Ngạn Ngữ (Bài 1)
  • 12 Câu Trích Dẫn Cho Cảm Hứng Sáng Tạo
  • Tìm Hiểu Sách Châm Ngôn

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Ngoại Tình Dành Cho Bạn – Vera Hà Anh
  • Những Câu Nói Hài Hước Không “Đỡ” Được
  • Bài Học Cuộc Sống
  • Một Hướng Dẫn Công Giáo Về Kinh Thánh
  • Châm Ngôn Về Việc Là Chính Mình
  • Written by Super User

    Sách Châm ngôn còn cho chúng ta cái nhìn lạc quan về cuộc sống, cái nhìn ấy có được là nhờ xác tín rằng vũ trụ có trật tự và nhờ ơn Chúa ta có thể sống theo trật tự đã an bài để được an bình và hạnh phúc.

    Lẫn trong các giáo huấn đó có những đoạn văn trong đó Đấng khôn ngoan nói với loài người (1,20-33; 9,1-6…) Nhưng sự khôn ngoan được nhân cách hóa đó là ai? Từ đâu những suy tư của mình con người thấy rằng có qui luật điều khiển vũ trụ, cách cư xử của con người, các kỹ thuật lao động. Từ đó rút ra rằng: có một trật tự nào đó điều khiển thế giới, thế giới không phải một thứ hỗn mang không đọc được ý nghĩa nhưng có một ý nghĩa. Khám phá trật tự đó, ý nghĩa đó là tạo cho mình cơ may tốt để thành công trong lao động, trong gia đình và việc cai trị quốc gia. Đó là một người khôn ngoan, là khôn ngoan. Dân Israel chia sẻ ý tưởng đó với các dân tộc lân bang. Nhưng để trả lời câu hỏi sự khôn ngoan từ đâu đến, do đâu mà cuộc sống con người và của vũ trụ có một ý nghĩa? Dân Israel trả lời: Từ Đức Chúa mà có. Trước khi bắt đầu công trình sáng tạo, Đức Chúa đã “sinh ra” sự khôn ngoan, điều đó mang lại ý nghĩa cho vũ trụ thụ tạo, bảo đảm cái đẹp và sự hài hòa của vũ trụ (8,22-31). Như vậy sự khôn ngoan kia là một ngôn ngữ phổ quát mọi người có thể hiểu sứ điệp ngay lúc con ngưới đi tìm ý nghĩa cuộc đời mình và của thế giới (1,20-23; 8,1-21; 9,1-6).

    Đọc sách Châm ngôn ta thấy những lời giáo huấn ở đây có vẻ thấp so với giáo huấn của Chúa Giêsu, nhưng cũng đừng quên rằng tôn giáo đích thực bao giờ cũng được triển khai dựa trên đời sống lương thiện, nhân bản. Đã có những châm ngôn báo trước luân lý của Tin mừng (14,31; 15,8; 20,22…) Mời gọi ta làm điều tốt vì yêu tha nhân. Tân ước trích dẫn Châm ngôn 14 lần và nhiều lần lấy lại tư tưởng hoặc nội dung dù không trích dẫn trực tiếp. Đức Giêsu được gọi là sự khôn ngoan của của Thiên Chúa (1Cr 1,24); Người khôn ngoan hơn cả Salomon (Lc 11,31). Trong các chương 11-22 cụm từ Đức Chúa xuất hiện nhiều. Đức Chúa được coi như Đấng tạo thành con người (14,31; 17,5; 20,12). Người hướng dẫn mọi bước đi của con người (16,9; 20,24); mắt Người thấu suốt mọi tư tưởng, hành động của nó (5,21; 16,2). Người cũng là Đấng thưởng phạt người lành kẻ dữ nơi trần gian (22,4; 24,12). Người lành được hạnh phúc, mạnh khoẻ… kẻ dữ sẽ bị phạt. Sách Châm ngôn chưa có được quan niệm về sự thưởng phạt đời sau, chưa tin vào sự phục sinh của người chết như Đn 13,2. Đó là một thiếu sót vì mạc khải của Cựu ước còn phải qua nhiều giai đoạn tiệm tiến trước khi tới chỗ hoàn toàn và sáng tỏ trong Tân ước. Vì thế luân lý của Châm ngôn cần phải được bổ túc qua mạc khải Tân ước.

    Vì thế, lẽ khôn ngoan thật của chúng ta là lòng kính sợ Chúa (1,7). Theo Thánh kinh từ ngữ đó có nghĩa là lòng đạo đức sốt sáng, nhiệt tình với Chúa. Đừng quên câu đầu sách đã giới thiệu “cách ngôn của Salomon, con của David”. Câu này ngụ ý rằng nội dung sách do một tín đồ nhiệt tình với đạo Chúa răn dạy cách sống, cách lãnh đạo, không phải theo thói khôn ngoan của người đời, nhưng theo lẽ khôn ngoan của người sống có kết ước với Thiên Chúa. Dạy khôn là dạy cho biết “Kính sợ Giavê” (15,16).

    Ngay trong chương đầu 1,20-33, theo một số nhà chú giải, khôn ngoan được mô tả như một phụ nữ đi tìm môn đệ trong thành. Bà này tương phản với bà thứ hai – khờ dại (9,13). Cả hai cố lôi kéo con người vào đường của mình. Có lẽ đây là lối nhân cách hóa thường thấy trong thơ Hipri (Is 52,9; Tv 98,8).

    Sách Châm ngôn không chỉ gồm những câu châm ngôn mà còn có những văn thể khác bằng tiếng Hipri mang ý nghĩa rộng hơn. Mashal là một văn thể lớn, nó có thể là một bài thơ, bài châm biếm như (Is 14,4-21) hay một dụ ngôn (Ed 17,2-8; 24,3-6), một lời sấm (Ds 23,7-10) hay một diễn từ dài (G 29,1-31,37) chứ không chỉ là một câu châm ngôn gồm hai vế. Sách Châm ngôn có nhiều văn thể, nhưng tất cả đều nằm trong văn thể Mashal này. Có những văn thể chính sau đây.

    Đây là sưu tập thứ hai của Salomon gồm 127 câu do những người của Ezekia vua Giuđa thu tập, hình thức giống như sưu tập hai với những nhận xét rất thực tế về nhân tình thế thái, đôi khi châm biếm và khôi hài (người biếng nhác 19,24; 20,4; 22,13) người đàn bà hay cãi lộn (21,19; 27,15…) luân lý đơn giản: ăn ngay ở lành sẽ được thành công, sẽ được sống, còn kẻ làm điều ác sẽ dẫn tới diệt vong. Theo quan niệm của sách Châm ngôn cũng như sách Cựu ước thời xưa sự thưởng phạt đó xảy ra ngay ở đời này. Nhiều câu trong phần hai và phần 4 giống với tục ngữ ca dao Việt Nam. Riêng đoạn 25-27 vận dụng lối ví nhiều hơn như 26,20.

    Là bộ sưu tập những lời của các nhà khôn ngoan. Theo các nhà chuyên môn thì Cn 22,17-23 giống với các điều dạy khôn trong tập Amen-em-ope của Ai-cập. Trong đó có khúc châm biếm người say rượu rất hóm hỉnh (23,29-35).

    Bố cục của sách không có hệ thống chặt chẽ, sách gồm 9 sưu tập gộp lại (TOB/ 1514) tất cả đều xoay quanh 2 sưu tập chính 10-22,16 và 25-29. Sưu tập gồm các đoạn 10-22,16 được gọi là cách ngôn của Salomon. Sưu tập gồm các đoạn 25-29 được giới thiệu đây là những cách ngôn của Salomon do những người của Ezekia, vua Giuđa thu thập (25,1). Sưu tập một có thêm phần phụ lục “lời hằng khôn ngoan”. Đó là sưu tập các lời hiền nhân vô danh xưa được truyền lại: (22,16-24). Hết sưu tập thứ hai thêm phần phụ lục lời của A-gua (30,1-14) và của Lơ-mu-en (31,1-9) là những vay mượn của ngoại quốc, trong đó dân Chúa nhận ra được mối thao thức của mình về sự công bình với người xung quanh (30,14-31…) Giữa hai sưu tập đó chen vào những châm ngôn được ghi bằng số (30,16-31) gọi là châm ngôn số vì được xây dựng theo lối tiến cấp số mà chúng ta gặp nơi Amos (1,3-2,6).

    Sách Châm ngôn “sưu tập những bộ sưu tập” rất khó xác định thời gian soạn thảo từng phần của sách này. Trước khi các châm ngôn được viết lại thì chúng đã phải trải qua giai đoạn truyền khẩu, sau đó trong gia đình, hay cộng đoàn xuất hiện những bộ sưu tập châm ngôn rồi dưới thời Salomon và các vị kế tiếp thì chúng được viết ra. Chín đoạn đầu có lẽ do một số ký lục biên soạn vào sau thời lưu đày. Từ đó ta có thể nói được rằng sưu tập hiện nay được hoàn thành quãng năm 480.

    Như vậy, chúng ta có thể coi hai phần chính 10-12 và 25-29 là do Salomon soạn hoặc do các ký lục trong triều đình lấy cảm hứng từ ý nhà vua mà soạn ra, phần còn lại, ta có thể hiểu vua là soạn giả tinh thần.

    Cách ngôn của Israel ngày xưa cũng thuộc loại văn như thế họ gọi là Mashal. Về hình thức văn học thì khởi đầu Cách ngôn của Israel là những câu ngắn gọn, về sau phát triển thành những câu thơ có hai hay nhiều vế, có hai ý nghịch nhau với dụng ý làm nổi bật điều muốn răn dạy (28,1). Cũng có thể là những câu dài có lý luận (30,20), có khi ở dạng câu đố (30,15) và câu ví (25,16). Có thể do những đặc tính này mà bản Vulgatha dịch là Parabolae Solomonis (1,1).

    More in this category:

    « Khái Lược Về Sách Gióp

    Tìm Hiểu Sách Khôn Ngoan »

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Danh Ngôn Tiếng Anh Về Sự Nghiệp Học Hành – Speak English
  • Những Câu Danh Ngôn Tiếng Anh Hay Về Phụ Nữ
  • Những Câu Nói Hay Về Tuổi Trẻ Bằng Tiếng Anh Giúp Bạn Học Tiếng Anh Hiệu Quả
  • Châm Ngôn Tiếng Anh Về Phụ Nữ
  • Danh Ngôn Bằng Tiếng Nhật Cực Hay
  • Những Câu Hay Trong Thánh Kinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Tập Những Stt Hay Về Tình Bạn Trên Facebook Hot Nhất Hiện Nay
  • Tải Về Từ Điển Danh Ngôn Thế Giới Sách Miễn Phí Pdf * Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • Sưu Tầm Những Nhận Định Hay Về Văn Học
  • 20 Bài Thơ Tết Xa Nhà Hay Nhất Cho Sinh Viên, Người Lao Động Xa Quê Hư
  • Những Câu Danh Ngôn Chất , Đểu & Độc Nhất
  • NHỮNG CÂU HAY TRONG THÁNH KINH TÂN ƯỚC

    Bản dịch do Nhóm Giờ Kinh Phụng Vụ Việt Nam

    TIN MỪNG THEO THÁNH MÁT-THÊU

    Mt3:2 “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến.”

    Mt3:3 Hãy dọn sẵn con đường cho Ðức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.

    Mt3:10 Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa.

    Mt4:4 Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.

    Mt5.3 “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

    Mt5.4 Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

    Mt5.5 Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

    Mt5.6 Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

    Mt5.7 Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

    Mt5.8 Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

    Mt5.9 Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

    Mt5.10 Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

    Mt5.11 Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.

    Mt5:13 Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng.

    Mt5:14 Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.

    Mt5:17 Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn.

    Mt5:18 Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng không thể qua đi được, cho đến khi mọi sự được hoàn thành.

    Mt5:23-24 Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình.

    Mt5:28 Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.

    Mt5:30 Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục.

    Mt5:34-35 Ðừng thề chi cả. Ðừng chỉ trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa. Ðừng chỉ đất mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người.

    Mt5:37 Hễ “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

    Mt5:39 Ðừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa.

    Mt5:44 Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.

    Mt5.48 Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.

    Mt6:1 Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, ban thưởng.

    Mt6:3-4 Khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Ðấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh.

    Mt6:6 Khi anh cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Ðấng hiện diện nơi kín đáo.

    Mt6:7-8 Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Ðừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.

    Mt6.14-15 Nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em

    Mt6:17-18 Khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh.

    Mt6:19-20 Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, nơi kẻ trộm khoét vách và lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, nơi trộm cắp không đào ngạch và lấy đi được.

    Mt6:21 Kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó.

    Mt6.22 Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt anh sáng, thì toàn thân anh sẽ sáng.

    Mt6:24 Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được.

    Mt6.25 Đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc.

    Mt6.31-32 Anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó.

    Mt6:33 Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.

    Mt6:34 Anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.

    Mt7:1 Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán.

    Mt7:3 Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới?

    Mt7:7 Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho.

    Mt7:9-10 Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá? Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn?

    Mt7:11 Nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao?.

    Mt7.12 Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta.

    Mt7:16 Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai.

    Mt7:17 Hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu.

    Mt7:21 Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Ðấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.

    Mt7:24 Ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá.

    Mt7:26 Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát.

    Mt8:8 Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh.

    Mt8.17 Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta.

    Mt9:12 “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần”.

    Mt9:13 Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì Ta không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi”.

    Mt9.22 Này con, cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con

    Mt9.29 Các anh tin thế nào thì được như vậy

    Mt9:37 “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít”.

    Mt10.8 Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy

    Mt10:16 Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu.

    Mt10:19-20 Khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.

    Mt10.22 Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.

    Mt10:27 Ðiều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng.

    Mt10:28 Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Ðúng hơn, anh em hãy sợ Ðấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.

    Mt10.30 Ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi.

    Mt10:32-33 Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy.

    Mt10:38-39 Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được

    Mt10.40 Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy

    Mt10:42 Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã mà thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.

    Mt11:25 Con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.

    Mt11:28 Những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.

    Mt11:29 Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.

    Mt12:7 Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế.

    Mt12.31 Mọi tội, kể cả tội nói phạm thượng, cũng sẽ được tha cho loài người, chứ tội nói phạm đến Thần Khí sẽ chẳng được tha.

    Mt12.32 Ai nói phạm đến Con Người thì được tha; nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần sẽ chẳng được tha, cả đời này lẫn đời sau.

    Mt12.33 Cây mà tốt thì quả cũng tốt; cây mà sâu thì quả cũng sâu, vì xem quả thì biết cây.

    Mt12:50 Ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Ðấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.

    Mt13.31-32 Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. Tuy nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ lớn nhất; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được.

    Mt13.44 Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.

    Mt13.45-46 Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.

    Mt13.57 Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình và trong gia đình mình mà thôi.

    Mt14.34,36 Người ta đem tất cả những kẻ đau ốm đến với Người. Họ nài xin Người cho họ chỉ sờ vào tua áo của Người thôi, và ai đã sờ vào thì đều được khỏi.

    Mt15:8 Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta.

    Mt15.11 Không phải cái vào miệng làm cho con người ra ô uế, nhưng cái từ miệng xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế

    Mt15.28 Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy.

    Mt15.30-31 Họ đặt những kẻ ấy dưới chân Người và Người chữa lành, khiến đám đông phải kinh ngạc vì thấy kẻ câm nói được, người tàn tật được lành, người què đi được, người mù xem thấy.

    Mt16.15-16 “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Ông Si-môn Phê-rô thưa: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.”

    Mt16.18-19 Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy

    Mt16:24 Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Ta.

    Mt16:25 Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.

    Mt17:20 Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: “rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được”.

    Mt18:3 Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ em, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

    Mt18.4 Ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời.

    Mt18.6 Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin Thầy đây phải sa ngã, thì thà treo cối đá lớn vào cổ nó mà xô cho chìm xuống đáy biển còn hơn.

    Mt18.9 Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; thà chột mắt mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào lửa hoả ngục.

    Mt18.18 Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy.

    Mt18:19-20 Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.

    Mt18:21-22 “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?”…….. “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy”.

    Mt19.6 Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.

    Mt19.14 Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời là của những ai giống như chúng.

    Mt19:23-24 Thầy bảo thật anh em, người giàu có khó vào Nước Trời. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.

    Mt19.26 Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được.

    Mt19.29 Phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp.

    Mt19.30 Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu.

    Mt20:26-27 Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em.

    Mt20:28 Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.

    Mt21:22 Tất cả những gì anh em lấy lòng tin mà xin khi cầu nguyện, thì anh em sẽ được.

    Mt21:42 Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường.

    Mt22:14 Kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít.

    Mt22:21 Cái gì của Xê-da, trả về Xê-da; cái gì của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.

    Mt22:37,39 Ngươi phải yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi…… Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.

    Mt23.8 Phần anh em, đừng để ai gọi mình là “ráp-bi”, vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau.

    Mt23.9 Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời.

    Mt23.11 Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em.

    Mt23:12 Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.

    Mt23:27 Hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế.

    Mt24.35 Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu.

    Mt24.42 Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến.

    Mt24.44 Anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.

    Mt25:35-36 Xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm.

    Mt25:40 Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.

    Mt26:34 Thầy bảo thật anh: nội đêm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần”.

    Mt26.40-41 Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao? Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn.

    Mt26.42 Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha.

    Mt29.18-20 Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.

    TIN MỪNG THEO THÁNH MÁC-CÔ

    Mc 1:3 Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.

    Mc 1:8 Tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần.

    Mc 1:11 “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con.”

    Mc 1:17 Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.

    Mc 2:17 Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.

    Mc 2:27-28 Ngày sa-bát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sa-bát. Bởi đó, Con Người làm chủ luôn cả ngày sa-bát.

    Mc 3:28-29 Tôi bảo thật anh em: mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng, và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa, thì cũng còn được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần, thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời.

    Mc 3:35 Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi.

    Mc 4:9 Ai có tai nghe thì nghe.

    Mc 4:21-22 Chẳng lẽ mang đèn tới để đặt dưới cái thùng hay dưới gầm giường? Nào chẳng phải là để đặt trên đế sao? Vì chẳng có gì che giấu mà không phải là để được tỏ bày, chẳng có gì bí ẩn mà không phải là để đưa ra ánh sang.

    Mc 4:24 Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em, và còn cho anh em hơn nữa.

    Mc 4:31-32 Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng.

    Mc5:9 Người hỏi quỉ: “Tên ngươi là gì?” Nó thưa: “Tên tôi là đạo binh, vì chúng tôi đông lắm.”

    Mc5:28 Bà tự nhủ: “Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.” Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh.

    Mc5:34 Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.

    Mc6:4 Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.

    Mc6:50 Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!

    Mc7:15 Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế

    Mc8:29 Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? Ông Phê-rô trả lời: “Thầy là Đấng Ki-tô.”

    Mc8:34-36 Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.Vì được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì?

    Mc9:41 Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.

    Mc9:42 Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn.

    Mc9:47 Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục.

    Mc10:9 Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.

    Mc10:11-12 Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình.

    Mc10:14 Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng.

    Mc10:21 Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.

    Mc10:24-25 Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao! Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.

    Mc10:27 Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được.

    Mc10:31 Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, còn những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu.

    Mc10:39-40 Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được.

    Mc10:43-44 Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người.

    Mc10:45 Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.

    Mc10:52 Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!

    Mc11:23 Thầy bảo thật anh em: nếu có ai nói với núi này: Dời chỗ đi, nhào xuống biển! , mà trong lòng chẳng nghi nan, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì sẽ được như ý.

    Mc11:24 Tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý.

    Mc11:25 Khi anh em đứng cầu nguyện, nếu anh em có chuyện bất bình với ai, thì hãy tha thứ cho họ, để Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng tha lỗi cho anh em.

    Mc12:17 Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.

    Mc12:29-30 Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi.

    Mc12:31 Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.

    Mc12:43-44 Bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống.

    Mc13:11 Khi người ta điệu anh em đi nộp, thì anh em đừng lo trước phải nói gì, nhưng trong giờ đó, Thiên Chúa cho anh em biết điều gì, thì hãy nói điều ấy: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thánh Thần nói.

    Mc13:13 Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.

    Mc13:31 Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu.

    Mc13:33 Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến.

    Mc14:36 “Ap-ba, Cha ơi! Cha có thể làm được mọi sự, xin tha cho con khỏi uống chén này. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha”.

    Mc14:38 Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối.

    Mc14:72 Ngay lúc đó, gà gáy lần thứ hai. Ông Phê-rô sực nhớ điều Đức Giê-su đã nói với mình: “Gà chưa kịp gáy hai lần, thì anh đã chối Thầy đến ba lần.” Thế là ông oà lên khóc.

    Mc16:15-16 Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án.

    Mc16:17-18 Nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ.

    TIN MỪNG THEO THÁNH LU-CA

    Lc 1:35 Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.

    Lc1:38 “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”.

    Lc 1:46-47 “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.

    Lc 1:52 Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.

    Lc 2:14 “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.”

    Lc 2:40 Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa

    Lc 2:49 Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?

    Lc 3:16 Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa.

    Lc 4:18-19 Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa.

    Lc 5:31 Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.

    Lc 5:32 Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn.

    Lc 6:20 “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em.

    Lc 6:22-23 “Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

    Lc 6:26 Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.

    Lc 6:27 Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em.

    Lc 6:28 Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em.

    Lc 6:29 Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong.

    Lc 6:30 Ai xin, thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại.

    Lc 6:31 Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy.

    Lc 6:32 Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ.

    Lc 6:33 Nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế.

    Lc 6:34 Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa? Cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẳng.

    Lc 6:35 Anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả.

    Lc 6:36 “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ.

    Lc 6:37 Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha.

    Lc 6:38 Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.

    Lc 6:41 Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới?

    Lc 6:43 Không có cây nào tốt mà lại sinh quả sâu, cũng chẳng có cây nào sâu mà lại sinh quả tốt .

    Lc7:28 Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, không có ai cao trọng hơn ông Gio-an; tuy nhiên kẻ nhỏ nhất trong Nước Thiên Chúa còn cao trọng hơn Gioan.

    Lc7:47 Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít.

    Lc7:50 Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an.

    Lc8:16 Chẳng có ai đốt đèn, rồi lấy hũ che đi hoặc đặt dưới gầm giường, nhưng đặt trên đế, để những ai đi vào thì nhìn thấy ánh sáng.

    Lc8:21 Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành.

    Lc8:48 Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy đi bình an.

    Lc9:1 Đức Giê-su tập họp Nhóm Mười Hai lại, ban cho các ông năng lực và quyền phép để trừ mọi thứ quỷ và chữa các bệnh tật.

    Lc9:23 Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.

    Lc9:24 Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.

    Lc9:25 Được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?

    Lc9:26 Ai xấu hổ vì tôi và những lời của tôi, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy.

    Lc9:48 Ai tiếp đón em nhỏ này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, là tiếp đón Đấng đã sai Thầy.

    Lc9:58 Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.

    Lc9:62 Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa.

    Lc10:3 Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói.

    Lc10:16 Ai nghe anh em là nghe Thầy; và ai khước từ anh em là khước từ Thầy; mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy.

    Lc10:19 Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em.

    Lc10:20 Anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.

    Lc10:21 Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.

    Lc10:41-42 “Mác-ta! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi”.

    Lc11:9-10 Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho.

    Lc11:24,26 “Khi thần ô uế xuất khỏi một người, thì nó đi rảo qua những nơi khô cháy, tìm chốn nghỉ ngơi. Mà vì tìm không ra, nó nói: “Ta sẽ trở về nhà ta, nơi ta đã bỏ ra đi”. Nó liền đi kéo thêm bảy thần khác dữ hơn nó, và chúng vào ở đó. Rốt cuộc tình trạng của người ấy lại còn tệ hơn trước”.

    Lc11:28 Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.

    Lc11:33 Chẳng có ai đốt đèn lên rồi đặt vào chỗ khuất hoặc dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, để những ai đi vào thì nhìn thấy ánh sáng.

    Lc11:34 Đèn của thân thể là con mắt của anh. Khi mắt anh sáng, thì toàn thân anh cũng sáng. Nhưng khi mắt anh xấu, thì thân anh cũng tối.

    Lc12:4-5 Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác, mà sau đó không làm gì hơn được nữa. hãy sợ Ðấng đã giết rồi, lại có quyền ném vào hoả ngục.

    Lc12:7 Ngay đến tóc trên đầu anh em cũng được đếm cả rồi. Anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.

    Lc12:8-9 Thầy nói cho anh em biết: phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Con Người cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì sẽ bị chối trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa.

    Lc12:10 Bất cứ ai nói phạm đến Con Người, thì còn được tha; nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần, thì sẽ chẳng được tha.

    Lc12:11-12 Khi người ta đưa anh em ra trước hội đường, trước mặt những người lãnh đạo và những người cầm quyền, thì anh em đừng lo phải bào chữa làm sao, hoặc phải nói gì, vì ngay trong giờ đó, Thánh Thần sẽ dạy cho anh em biết những điều phải nói.

    Lc12:15 Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu.

    Lc12:20 “Ðồ ngốc! Nội đêm nay, ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?”

    Lc12:22-23 Đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc; vì mạng sống thì hơn của ăn, và thân thể thì hơn áo mặc.

    Lc12:25 Ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được một gang tay?

    Lc12:31 Hãy lo tìm Nước của Người, còn các thứ kia, Người sẽ thêm cho.

    Lc12:32 Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em.

    Lc12:33-34 Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng không thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm không bén mảng, mối mọt không đục phá. Vì kho tàng của anh em ở đâu, thì lòng anh em ở đó.

    Lc12:40 Hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.

    Lc12:51,53 “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết, không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng”.

    Lc14:11 Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.

    Lc14:26 Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được.

    Lc14:27 Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.

    Lc14:34 Muối quả là một cái gì tốt. Nhưng chính muối mà nhạt đi, thì lấy gì ướp nó cho mặn lại?

    Lc15:7 Trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.

    Lc16:8 Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại.

    Lc16:10 Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn.

    Lc16:13 Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được.

    Lc16:18 Bất cứ ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị chồng rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình.

    Lc17:4 Dù nó xúc phạm đến anh một ngày đến bảy lần, rồi bảy lần trở lại nói với anh: Tôi hối hận, thì anh cũng phải tha cho nó.

    Lc17:6 Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh em.

    Lc17:10 Đối với anh em cũng vậy: khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi.

    Lc17:17 Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu?

    Lc17:19 Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh.

    Lc18:8 Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?

    Lc18:14 Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.

    Lc18:22 Ông chỉ còn thiếu có một điều, là hãy bán tất cả những gì ông có mà phân phát cho người nghèo, và ông sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.

    Lc18:24-25 Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao! con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.

    Lc18:27 Những gì không thể được đối với loài người, thì đều có thể được đối với Thiên Chúa.

    Lc18:29-30 Thầy bảo thật anh em: chẳng hề có ai bỏ nhà, bỏ vợ, anh em, cha mẹ hay con cái vì Nước Thiên Chúa, mà lại không được gấp bội ở đời này và sự sống vĩnh cửu ở đời sau.

    Lc19:10 Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.

    Lc19:40 “Họ mà làm thinh, thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên!”

    Lc19:46 “Nhà Ta sẽ là nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi đã biến thành sào huyệt của bọn cướp!”

    Lc21:3-4 Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.

    Lc21:8 “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính ta đây”, và: “Thời kỳ đã đến gần”; anh em chớ có theo họ.

    Lc21:17-18 Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu.

    Lc21:36 Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người.

    Lc22:19 “Ðây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy”.

    Lc22:26 Ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ.

    Lc22:31 Si-mon, Si-mon ơi, kìa Xa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo.

    Lc22:34 “Này Phê-rô, Thầy bảo cho anh biết, hôm nay gà chưa kịp gáy, thì đã ba lần anh chối là không biết Thầy”.

    Lc22:35 Thầy sai anh em ra đi, không túi tiền, không bao bị, không giày dép, anh em có thiếu thốn gì không?

    Lc22:40 “Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ”.

    Lc22:42 “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin tha cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà xin theo ý Cha”.

    Lc23:34 “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”.

    Lc24:36 “Bình an cho anh em!”

    Lc24:49 “Chính Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống”.

    TIN MỪNG THEO THÁNH GIO-AN

    Ga1:1 Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa.

    Ga1:3 Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành.

    Ga1:4 ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.

    Ga1:9 Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người.

    Ga1:10 Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người.

    Ga1:12 Những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.

    Ga1:14 Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.

    Ga1:32 Gio-an làm chứng: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người.

    Ga1:33 Chính Ðấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Thánh Thần.”

    Ga2:3 Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Ðức Giê-su nói với Người: “Họ hết rượu rồi.”

    Ga2:4 “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và con? Giờ của con chưa đến.”

    Ga2:16 “Ðem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.”

    Ga2:19 “Các ông cứ phá hủy Ðền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại.”

    Ga3:5 “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.

    Ga3:6 Cái gì bởi xác thịt mà sinh ra, thì là xác thịt; còn cái gì bởi Thần Khí mà sinh ra, thì là thần khí.

    Ga3:8 Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu.

    Ga3:14 Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy.

    Ga3:16 Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.

    Ga3:17 Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Người, mà được cứu độ.

    Ga3:18 Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.

    Ga3:19 Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa.

    Ga3:20-21 Ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng,

    Ga3:27 Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban.

    Ga3:30 Người phải nổi bật lên, còn thầy (Gioan) phải lu mờ đi.

    Ga3:35 Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người.

    Ga3:36 Ai tin vào người Con, thì được sự sống đời dời; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con, thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy.

    Ga4:13-14 “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”

    Ga4:21,23 Ðã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem…. Nhưng giờ đã đến – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật.

    Ga4:24 Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.”

    Ga4:34 Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Ðấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người.

    Ga5:14 Này, anh đã được khỏi bệnh. Ðừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước!

    Ga5:24 Thật, tôi bảo thật các ông: ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống.

    Ga5:28-29 Khi giờ đã đến, giờ mọi kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng người Con và sẽ ra khỏi đó: ai đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án.

    Ga5:38 Các ông đã không để cho lời Người ở mãi trong lòng, bởi vì chính các ông không tin vào Đấng Người đã sai đến.

    Ga6:27 Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông,

    Ga6:29 Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến.

    Ga6:35 Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!

    Ga6:40 Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.

    Ga6:44 Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha, là Ðấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy.

    Ga6:47 Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời.

    Ga6:48-50 Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết.

    Ga6:51 Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.

    Ga6:53-54 “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết.

    Ga6:56 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy.

    Ga6:63 Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.

    Ga6:65 Thầy đã bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho.

    Ga6:68 “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”.

    Ga7:37,39 Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống. Ðức Giê-su muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Thật thế, bấy giờ họ chưa nhận được Thần Khí, vì Ðức Giê-su chưa được tôn vinh.

    Ga7:38 Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống.

    Ga8:7 “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.”

    Ga8:11 “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”

    Ga8:12 Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.

    Ga8:31-32 Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông.

    Ga8:34 Hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội.

    Ga8:36 Con Người có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do.

    Ga8:51 Tôi bảo thật các ông: ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết.

    Ga9:2-3 Các môn đệ hỏi “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” Ðức Giê-su trả lời: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng chuyện đó xảy ra là để các việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.

    Ga9:39 “Tôi đến thế gian này cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!”

    Ga9:41 “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn!”

    Ga10:11 Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.

    Ga10:14 Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi.

    Ga10:15 Như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.

    Ga10:27-28 Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.

    Ga11:25 Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.

    Ga12:24 Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.

    Ga12:25 Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.

    Ga12:26 Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy.

    Ga12:27-28 Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha.

    Ga12:32 Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.

    Ga12:40 Thiên Chúa đã làm cho mắt chúng ra đui mù và lòng chúng ra chai đá, kẻo mắt chúng thấy và lòng chúng hiểu được mà hoán cải, rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành!

    Ga12:44-45 Ai tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng là tin vào Đấng đã sai tôi; ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi.

    Ga12:46 Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối.

    Ga12:47 Ai nghe những lời tôi nói mà không tuân giữ, thì không phải chính tôi xét xử người ấy, vì tôi đến không phải để xét xử thế gian, nhưng để cứu thế gian.

    Ga12:48 Ai từ chối tôi và không đón nhận lời tôi, thì có quan toà xét xử người ấy: chính lời tôi đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết.

    Ga13:14 Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.

    Ga13:16 Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi.

    Ga13:34 Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.

    Ga13:35 Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.

    Ga14:1 Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.

    Ga14:2 Trong nhà Cha của Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em.

    Ga14:6 Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.

    Ga14:9 Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.

    Ga14:12 Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa.

    Ga14:13 Bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm.

    Ga14:14 Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó.

    Ga14:15 Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy.

    Ga14:16 Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Ðấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.

    Ga14:17 Ðó là Thần Khí sự thật, Ðấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người

    Ga14:21 Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.

    Ga14:23 Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.

    Ga14:24 Lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy.

    Ga14:26 Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.

    Ga14:27 Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng. Lòng anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.

    Ga15:1 Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho.

    Ga15:2 Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn.

    Ga15:5 Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.

    Ga15:7 Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý.

    Ga15:8 Ðiều làm Chúa Cha được tôn vinh là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy.

    Ga15:12 Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.

    Ga15:13 Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.

    Ga15:14 Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy.

    Ga15:15 Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.

    Ga15:16 Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em.

    Ga15:17 Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.

    Ga15:18 Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước.

    Ga15:20 Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em.

    Ga15:26 Khi Ðấng Bảo Trợ đến, Ðấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy.

    Ga16:7 Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Ðấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em.

    Ga16:8 Khi Ðấng Bảo Trợ đến, Người sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và việc xét xử.

    Ga16:13 Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến.

    Ga16:21 Khi sinh con, người đàn bà lo buồn vì đến giờ của mình; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui.

    Ga16:23 Thầy bảo thật anh em: anh em mà xin Chúa Cha điều gì, thì Người sẽ ban cho anh em nhân danh Thầy.

    Ga16:33 Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian.

    Ga17:15 Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần.

    Ga17:18 Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian.

    Ga17:26 Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa.

    Ga18:11 Hãy xỏ gươm vào bao. Chén đắng Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?”

    Ga18:36 Nước tôi không thuộc về thế gian này

    Ga19:26-27 Ðức Giê-su nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với môn đệ: “Ðây là mẹ của anh.”

    Ga19:30 “Thế là đã hoàn tất!” Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.

    Ga20:21 Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.

    Ga20:22-23 Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.

    Ga20:27 Người bảo Tô-ma: “Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Ðừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.”

    Ga20:29 Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin.

    CÔNG VỤ TÔNG ĐỒ đến KHẢI HUYỀN

    Cv1:4-5 Ðức Giê-su truyền cho các ông không được rời khỏi Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, đó là: ông Gio-an thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần.”

    Cv 1:14 Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Ma-ri-a thân mẫu Ðức Giê-su, và với anh em của Ðức Giê-su.

    Cv 2:1-4 Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho.

    Cv 2:17-18 Trong những ngày cuối cùng, Ta sẽ đổ Thần Khí Ta trên hết thảy người phàm, con trai con gái các ngươi sẽ trở thành ngôn sứ, thanh niên sẽ thấy thị kiến, bô lão sẽ được báo mộng. Trong những ngày đó, Ta cũng sẽ đổ Thần Khí Ta cả trên tôi nam tớ nữ của Ta, và chúng sẽ trở thành ngôn sứ.

    Cv 2:38 “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Ðức Giê-su Ki-tô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần.

    Cv 3:6 Ông Phê-rô nói: “Vàng bạc thì tôi không có; nhưng cái tôi có, tôi cho anh đây: nhân danh Ðức Giê-su Ki-tô người Na-da-rét, anh đứng dậy mà đi!”

    Cv 4:31 Họ cầu nguyện xong, thì nơi họ họp nhau rung chuyển; ai nấy đều được tràn đầy Thánh Thần và bắt đầu mạnh dạn nói lời Thiên Chúa.

    Cv 5:19-20 Ban đêm thiên sứ của Ðức Chúa mở cửa ngục, đưa các ông ra mà nói: “Các ông hãy đi, vào đứng trong Ðền Thờ mà nói cho dân những lời ban sự sống.”

    Cv 8:15-17 Khi đến nơi, hai ông cầu nguyện cho họ, để họ nhận được Thánh Thần. Vì Thánh Thần chưa ngự xuống một ai trong nhóm họ: họ mới chỉ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giê-su. Bấy giờ hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần.

    Cv 8:18-19 Ông Si-mon thấy khi các Tông Ðồ đặt tay, thì Thánh Thần được ban xuống, nên ông đem tiền đến biếu các ông và nói: “Xin cũng ban quyền ấy cho tôi nữa, để tôi đặt tay cho ai thì người ấy nhận được Thánh Thần.”

    Cv 8:36-38 Tới một chỗ có nước, viên thái giám mới nói: “Sẵn nước đây, có gì ngăn trở tôi chịu phép rửa không? Ông Phi-líp-phê đáp: “Nếu ngài tin hết lòng, thì được.” Viên thái giám thưa: “Tôi tin Ðức Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa.” Ông truyền dừng xe lại. Ông Phi-líp-phê và viên thái giám, cả hai cùng xuống chỗ có nước, và ông Phi-líp-phê làm phép rửa cho ông quan.

    Cv 9:3-4 Vậy đang khi ông đi đường và đến gần Ða-mát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông. Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?”

    Cv 10:14-15 Phê-rô thưa: “Lạy Chúa, không thể được, vì không bao giờ con ăn những gì ô uế và không thanh sạch.” Lại có tiếng phán bảo ông lần thứ hai: “Những gì Thiên Chúa đã tuyên bố là thanh sạch, thì ngươi chớ gọi là ô uế.”

    Cv 10:44 Phê-rô còn đang nói những điều đó, thì Thánh Thần đã ngự xuống trên tất cả những người đang nghe lời Thiên Chúa.

    Cv 11:15-16 Tôi vừa mới bắt đầu nói, thì Thánh Thần đã ngự xuống trên họ, như đã ngự xuống trên chúng ta lúc ban đầu.Tôi sực nhớ lại lời Chúa nói rằng: `Ông Gio-an thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì sẽ được rửa trong Thánh Thần.’

    Cv 12:6-7 Trong đêm trước ngày bị vua Hê-rô-đê đem ra xử, ông Phê-rô ngủ giữa hai người lính, và bị khoá vào hai cái xiềng. Trước cửa ngục lại có lính canh. Và kìa, thiên sứ của Chúa đứng bên cạnh ông, và ánh sáng chói rực cả phòng giam. Thiên sứ đập vào cạnh sườn ông Phê-rô, đánh thức ông và bảo: “Ðứng dậy mau đi!” Xiềng xích liền tuột khỏi tay ông.

    Cv 13:3 Bấy giờ họ ăn chay cầu nguyện, rồi đặt tay trên hai ông và tiễn đi.

    Cv 16:25-26 Vào quãng nửa đêm, ông Phao-lô và ông Xi-la hát thánh ca cầu nguyện với Thiên Chúa; các người tù nghe hai ông hát. Bỗng nhiên có động đất mạnh, khiến nền móng nhà tù phải rung chuyển. Ngay lúc đó, tất cả các cửa mở toang và xiềng xích của mọi người buột tung ra.

    Cv 19:2 “Khi tin theo, anh em đã nhận được Thánh Thần chưa?” Họ trả lời: “Ngay cả việc có Thánh Thần, chúng tôi cũng chưa hề được nghe nói.”

    Cv 19:6 Khi ông Phao-lô đặt tay trên họ, thì Thánh Thần ngự xuống trên họ, họ nói tiếng lạ và nói tiên tri.

    Cv 19:11-12 Thiên Chúa dùng tay ông Phao-lô mà làm những phép lạ phi thường, đến nỗi người ta lấy cả khăn cả áo đã chạm đến da thịt ông mà đặt trên người bệnh, và bệnh tật biến đi, tà thần cũng phải xuất.

    Cv 20:29-30 “Phần tôi, tôi biết rằng khi tôi đi rồi, thì sẽ có những sói dữ đột nhập vào anh em, chúng không tha đàn chiên. Ngay từ giữa hàng ngũ anh em sẽ xuất hiện những người giảng dạy những điều sai lạc, hòng lôi cuốn các môn đệ theo chúng.

    Cv 20:35 “Cho thì có phúc hơn là nhận.”

    Rm 3:28 Người ta được nên công chính vì tin, chứ không phải vì làm những gì Luật dạy.

    Rm 5:12 Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết.

    Rm 6:8 Nếu chúng ta đã cùng chết với Ðức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người

    Rm 6:13 Anh em đừng dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều bất chính, phục vụ cho tội lỗi nữa. Anh em hãy hiến toàn thân cho Thiên Chúa, và dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều công chính, phục vụ Thiên Chúa.

    Rm 6:23 Lương bổng mà tội lỗi trả cho người ta, là cái chết; còn ân huệ Thiên Chúa ban không, là sự sống đời đời trong Ðức Ki-tô Giê-su.

    Rm 7:3 Bao lâu chồng còn sống, mà vợ đi lấy người khác, thì sẽ bị gọi là kẻ ngoại tình. Nhưng nếu chồng chết, thì vợ được tự do không phải giữ luật đó nữa

    Rm 7:15 Tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm.

    Rm 7:19 Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm.

    Rm 8:5-6 Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an.

    Rm 8:8 Những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể vừa lòng Thiên Chúa.

    Rm 8:13 Nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống.

    Rm 8:14 Phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa.

    Rm 8:26-27 Hơn nữa, lại có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả. Và Thiên Chúa, Ðấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho các thánh theo đúng ý Thiên Chúa.

    Rm 8:32 Ðến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?

    Rm 9:15 Ta muốn thương xót ai thì thương xót, muốn cảm thương ai thì cảm thương.

    Rm 9:20 Bạn là ai mà dám cãi lại Thiên Chúa? Chẳng lẽ sản phẩm lại nói với người sản xuất: Sao ông làm ra tôi như thế này?

    Rm 10:10 Có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ.

    Rm 10:21 Về dân Ít-ra-en, Isaia nói: Suốt ngày Ta dang tay kêu gọi một dân không vâng lời và ngỗ nghịch.

    Rm 11:8 Thiên Chúa đã cho họ một thần khí hôn mê, cho họ mắt để không thấy, tai để không nghe, mãi cho đến ngày nay.

    Rm 11:33 Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai dò cho thấu! Ðường lối của Người, ai theo dõi được!

    Rm 12:6-8 Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tuỳ theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người. Ðược ơn làm ngôn sứ, thì phải nói sao cho phù hợp với đức tin. Ðược ơn phục vụ, thì phải phục vụ. Ai dạy bảo, thì cứ dạy bảo. Ai khuyên răn, thì cứ khuyên răn. Ai phân phát, thì phải chân thành. Ai chủ toạ, thì phải có nhiệt tâm. Ai làm việc bác ái, thì hãy vui vẻ.

    Rm 12:14-15 Hãy chúc lành cho những người bắt bớ anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa: vui với người vui, khóc với người khóc.

    Rm 12:21 Ðừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác.

    Rm 14:4 Bạn là ai mà xét đoán người nhà của kẻ khác? Nó đứng hay nó ngã, đó là việc của chủ nó. Nhưng nó sẽ đứng, vì Chúa có khả năng làm cho nó đứng.

    Rm 14:17 Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.

    Rm 15:9 Giữa muôn dân con cất lời cảm tạ, dâng điệu hát cung đàn ca mừng danh thánh Chúa.

    Rm 15:11 Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa, ngàn dân ơi, hãy chúc tụng Người!

    1Cor 1:10 Anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hoà thuận, một lòng một ý với nhau.

    1Cor 1:19 Ta sẽ huỷ diệt sự khôn ngoan của kẻ khôn ngoan, và sẽ vứt bỏ sự thông thái của người thông thái.

    1Cor 1:25 Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người.

    1Cor 2:10 Chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa.

    1Cor 2:11 Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa.

    1Cor 2:14 Con người sống theo tính tự nhiên thì không đón nhận những gì của Thần Khí Thiên Chúa, vì cho đó là sự điên rồ.

    1Cor 3:16 Anh em chẳng biết rằng anh em là Ðền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?

    1Cor 3:19 Vì sự khôn ngoan đời này là sự điên rồ trước mặt Thiên Chúa, như có lời chép rằng: Chúa bắt được kẻ khôn ngoan bằng chính mưu gian của chúng.

    1Cor 4:20 Nước Thiên Chúa không cốt ở tài ăn nói, nhưng ở quyền năng.

    1Cor 6:20 Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em. Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em.

    1Cor 7:4 Vợ không có quyền trên thân xác mình, nhưng là chồng; cũng vậy, chồng không có quyền trên thân xác mình, nhưng là vợ.

    1Cor 7:23 Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em. Anh em đừng trở nên nô lệ cho người phàm.

    1Cor 9:24 Trong cuộc chạy đua trên thao trường, tất cả mọi người đều chạy, nhưng chỉ có một người đoạt giải. Anh em hãy chạy thế nào để chiếm cho được phần thưởng.

    1Cor 10:9-10 Ta đừng thử thách Chúa, như một số trong nhóm họ đã thử thách Người và đã bị rắn cắn chết. Anh em đừng lẩm bẩm kêu trách, như một số trong nhóm họ đã lẩm bẩm kêu trách: họ đã chết bởi tay Thần Tru Diệt.

    1Cor 10:13 Không một thử thách nào đã xảy ra cho anh em mà lại vượt quá sức loài người; nhưng khi để anh em bị thử thách, Người sẽ cho kết thúc tốt đẹp.

    1Cor 10:20-21 Ðồ cúng là cúng cho ma quỷ, chứ không phải cho Thiên Chúa. Anh em không thể vừa uống chén của Chúa, vừa uống chén của ma quỷ được; anh em không thể vừa ăn ở bàn tiệc của Chúa, vừa ăn ở bàn tiệc của ma quỷ được.

    1Cor 12:1 Tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì về các ân huệ thiêng liêng.

    1Cor 12:3 Chẳng có ai ở trong Thần Khí Thiên Chúa mà lại nói: “Giê-su là đồ khốn kiếp!”; cũng không ai có thể nói rằng: “Ðức Giê-su là Chúa”, nếu người ấy không ở trong Thần Khí.

    1Cor 12:4-5 Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa.

    1Cor 12:7 Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung.

    1Cor 12:8-11 Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bày. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ. Nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tuỳ theo ý của Người.

    1Cor 14:1 Anh em hãy cố đạt cho được đức mến, hãy khao khát những ơn của Thần Khí, nhất là ơn nói tiên tri.

    1Cor 14:12 Vì khao khát những ơn của Thần Khí, anh em hãy tìm kiếm để được dồi dào các ân huệ đó, nhằm xây dựng Hội Thánh.

    1Cor 14:18 Tôi cảm tạ Thiên Chúa vì tôi nói các tiếng lạ nhiều hơn tất cả anh em.

    1Cor 15:14 Nếu Ðức Ki-tô đã không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng.

    1Cor 15:19 Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Ðức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người.

    1Cor 15:33 Anh em chớ có lầm: “Chơi với kẻ xấu, người tốt cũng ra xấu”.

    1Cor 15:45-46 Con người đầu tiên là A-đam được dựng nên thành một sinh vật, còn A-đam cuối cùng là thần khí ban sự sống. Loài xuất hiện trước không phải là loài có thần khí, nhưng là loài có sinh khí; loài có thần khí chỉ xuất hiện sau đó.

    2Cor 1:22 Chính Thiên Chúa đã đóng ấn tín trên chúng ta và đổ Thần Khí vào lòng chúng ta làm bảo chứng.

    2Cor 3:17 Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do.

    2Cor 3:18 Chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí.

    2Cor 4:7 Nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi.

    2Cor 4:18 Chúng ta không chú tâm đến những sự vật hữu hình, nhưng đến những thực tại vô hình. Quả vậy, những sự vật hữu hình thì chỉ tạm thời, còn những thực tại vô hình mới tồn tại vĩnh viễn.

    2Cor 5:13 Chúng tôi có điên, thì cũng là vì Thiên Chúa.

    2Cor 5:19 Trong Ðức Ki-tô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người. Người không còn chấp tội nhân loại nữa.

    2Cor 8:9 Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có.

    2Cor 9:7 Mỗi người hãy cho tuỳ theo quyết định của lòng mình, không buồn phiền, cũng không miễn cưỡng, vì ai vui vẻ dâng hiến, thì được Thiên Chúa yêu thương.

    2Cor 11:14-15 Lạ gì đâu! Vì chính Xa-tan cũng đội lốt thiên thần sáng láng! Vậy có gì là khác thường khi kẻ phục vụ nó đội lốt người phục vụ sự công chính.

    2Cor 12:2 Tôi biết có một người môn đệ Ðức Ki-tô, trước đây mười bốn năm đã được nhắc lên tới tầng trời thứ ba – có ở trong thân xác hay không, tôi không biết, có ở ngoài thân xác hay không, tôi cũng không biết, chỉ có Thiên Chúa biết.

    2Cor 12:9 Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối của con.

    2Cor 13:5 Anh em hãy tự xét xem mình có còn sống trong đức tin hay không. Hãy tự kiểm điểm. Anh em chẳng nhận thấy là có Ðức Giê-su Ki-tô ở trong anh em sao?

    Gl 2:6 Thiên Chúa không thiên vị ai.

    Gl 2:16 Chúng ta tin vào Ðức Ki-tô Giê-su, để được nên công chính, chứ không phải nhờ làm những gì Luật dạy.

    Gl 2:20 Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Ðức Ki-tô sống trong tôi.

    Gl 3:14 Nhờ đức tin, chúng ta nhận được ơn Thiên Chúa đã hứa tức là Thần Khí.

    Gl 4:6 Ðể chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Áp-ba, Cha ơi!”

    Gl 5:6 Trong Ðức Ki-tô Giê-su, cắt bì hay không cắt bì đều không có giá trị, chỉ có đức tin hành động nhờ đức ái.

    Gl 5:9 Một chút men làm cả khối bột dậy men.

    Gl 5:15 Nếu anh em cắn xé nhau, anh em hãy coi chừng, anh em tiêu diệt lẫn nhau đấy!

    Gl 5:17 Tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt.

    Gl 5:22 Hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ.

    Gl 5:24 Những ai thuộc về Ðức Ki-tô Giê-su thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê.

    Gl 5:25 Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước.

    Gl 6:8 Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu, thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt, là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt, thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí, là sự sống đời đời.

    Ep1:4 Trong Ðức Ki-tô, Người đã chọn chúng ta trước cả khi tạo thành vũ trụ.

    Ep 1:13 Trong Ðức Ki-tô, một khi đã tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần.

    Ep 2:8 Chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa.

    Ep 2:10 Chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa, chúng ta được dựng nên trong Ðức Ki-tô Giê-su, để sống mà thực hiện công trình tốt đẹp Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta.

    Ep 2:16 Trên thập giá, Người đã tiêu diệt sự thù ghét.

    Ep 2:22 Trong Người, cả anh em nữa, cũng được xây dựng cùng với những người khác thành ngôi nhà Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí.

    Ep 3:17-19 Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Ðức Ki-tô ngự trong tâm hồn; xin cho anh em được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái để cùng toàn thể các thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết tình thương của Ðức Ki-tô.

    Ep 4:7 Mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tuỳ theo mức độ Ðức Ki-tô ban cho.

    Ep 4:8 Người đã lên cao, dẫn theo một đám tù; Người đã ban ân huệ cho loài người.

    Ep 4:22-24 Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới.

    Ep 4:26 Anh em nổi nóng ư? Ðừng phạm tội: chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn.

    Ep 4:30 Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa, vì chính Người là dấu ấn ghi trên anh em, để chờ ngày cứu chuộc.

    Ep 4:31 Ðừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thoá mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác.

    Ep 4:32 Phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Ðức Ki-tô.

    Ep 5:5 Không một kẻ gian dâm, ô uế hay tham lam thờ ngẫu tượng nào được thừa hưởng cơ nghiệp trong Nước của Ðức Ki-tô và của Thiên Chúa.

    Ep 5:11 Ðừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng.

    Ep 5:15-16 Anh em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối.

    Ep 5:18 Chớ say sưa rượu chè, vì rượu chè đưa tới truỵ lạc, nhưng hãy thấm nhuần Thần Khí.

    Ep 6:1 Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo.

    Ep 6:4 Những bậc làm cha mẹ, đừng làm cho con cái tức giận, nhưng hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy.

    Ep 6:11-12 Hãy mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa, để có thể đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ. Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thần linh quái ác chốn trời cao.

    Ep 6:18 Theo Thần Khí hướng dẫn, anh em hãy dùng mọi lời kinh và mọi tiếng van nài mà cầu nguyện luôn mãi.

    Cl4:2 Anh em hãy siêng năng cầu nguyện; hãy tỉnh thức mà cầu nguyện và tạ ơn.

    1Tx4:16-17 Vì khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng tổng lãnh thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người đã chết trong Ðức Ki-tô sẽ sống lại trước tiên; rồi đến chúng ta, là những người đang sống, những người còn lại, chúng ta sẽ được đem đi trên đám mây cùng với họ, để nghênh đón Chúa trên không trung.

    1Tx 5:3 Khi người ta nói: “Bình an biết bao, yên ổn biết bao!”, thì lúc ấy tai hoạ sẽ thình lình ập xuống, tựa cơn đau chuyển bụng đến với người đàn bà có thai, và sẽ chẳng có ai trốn thoát được.

    1Tx 5:4 Anh em không ở trong bóng tối, để ngày ấy như kẻ trộm bắt chợt anh em. Vì tất cả anh em là con cái ánh sáng, con cái của ban ngày. Chúng ta không thuộc về đêm, cũng không thuộc về bóng tối.

    1Tx 5:14 Hãy khuyên bảo người vô kỷ luật, khích lệ kẻ nhút nhát, nâng đỡ người yếu đuối, và kiên nhẫn với mọi người.

    1Tx 5:15 Ðừng có ai lấy ác báo ác, nhưng hãy luôn luôn cố gắng làm điều thiện cho nhau cũng như cho mọi người.

    1Tx 5:19-20 Anh em đừng dập tắt Thần Khí. Chớ khinh thường ơn nói tiên tri.

    2Tx 2:2 Nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã được thần khí mặc khải, hoặc đã nói, đã viết thư quả quyết rằng ngày của Chúa gần đến, thì anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ.

    1Tm 2:5 Chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Ðấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Ðức Kitô Giê-su.

    1Tm 4:1 Vào những thời cuối cùng, một số người sẽ bỏ đức tin mà theo những thần khí lừa dối và những giáo huấn của ma quỷ.

    2Tm 1:7 Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ.

    2Tm 2:24 Người tôi tớ Chúa thì không được cãi cọ, nhưng phải dịu dàng với mọi người, có khả năng giảng dạy, biết chịu đựng gian khổ.

    2Tm 3:16 Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính.

    2Tm 4:7-8 Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính

    Dt 2:4 Thiên Chúa chứng thực bằng những dấu lạ điềm thiêng, bằng nhiều quyền năng khác nhau và bằng các ân huệ của Thánh Thần mà Người phân phát tuỳ ý muốn của Người.

    Dt 4:12 Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người.

    Dt 4:13 Không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Ðấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ.

    Dt 6:12 Anh em đừng trở nên uể oải, nhưng hãy bắt chước những người nhờ có đức tin và lòng kiên nhẫn mà được thừa hưởng các lời hứa.

    Dt 8:10 Ta sẽ ghi vào lòng trí chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng lề luật của Ta; Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là Dân của Ta.

    Dt 8:12 Ta sẽ dung thứ những điều gian ác chúng làm, sẽ không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa.

    Dt 10:25 Chúng ta đừng bỏ các buổi hội họp, như vài người quen làm; trái lại, phải khuyến khích nhau.

    Dt 12:6 Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt.

    Dt 12:29 Thiên Chúa chúng ta là một ngọn lửa thiêu.

    Dt 13:8 Ðức Giê-su Ki-tô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời.

    Gc 1:3 Ðức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn.

    Gc 1:12 Phúc thay người biết kiên trì chịu đựng cơn thử thách, vì một khi đã được tôi luyện, họ sẽ lãnh phần thưởng là sự sống Chúa đã hứa ban cho những ai yêu mến Người.

    Gc 1:13 Khi bị cám dỗ, đừng ai nói: “Tôi bị Thiên Chúa cám dỗ”, vì Thiên Chúa không thể bị cám dỗ làm điều xấu, và chính Người cũng không cám dỗ ai.

    Gc 1:19-20 Mỗi người phải mau nghe, đừng vội nói, và khoan giận, vì khi nóng giận, con người không thực thi đường lối công chính của Thiên Chúa.

    Gc 1:23-24 Ai lắng nghe Lời Chúa mà không thực hành, thì giống như người soi gương thấy khuôn mặt tự nhiên của mình. Người ấy soi gương rồi đi, và quên ngay không nhớ mặt mình thế nào.

    Gc 2:24 Nhờ hành động mà con người được nên công chính, chứ không phải chỉ nhờ đức tin mà thôi.

    Gc 2:26 Một thân xác không hơi thở là một xác chết, cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin chết.

    Gc 3:8-9 Cái lưỡi thì không ai chế ngự được: nó là một sự dữ không bao giờ ở yên, vì nó chứa đầy nọc độc giết người. Ta dùng lưỡi mà chúc tụng Chúa là Cha chúng ta, ta cũng dùng lưỡi mà nguyền rủa những con người đã được làm ra theo hình ảnh Thiên Chúa.

    Gc 3:16 Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa.

    Gc 4:2-3 Anh em không có, là vì anh em không xin; anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc.

    Gc 4:5 Thần Khí mà Thiên Chúa đã đặt trong chúng ta, ước muốn đến phát ghen lên.

    Gc 4:6 Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường.

    Gc 4:10 Anh em hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa và Người sẽ cất nhắc anh em lên.

    Gc 5:12 Ðừng có thề, dù là lấy trời, lấy đất, hay lấy cái gì khác mà thề. Nhưng hễ “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”, như thế, anh em sẽ không bị xét xử.

    Gc 5:13 Ai trong anh em đau khổ ư? Người ấy hãy cầu nguyện. Ai vui vẻ chăng? Người ấy hãy hát thánh ca.

    Gc 5:14 Ai trong anh em đau yếu ư? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa.

    Gc 5:15 Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh; người ấy được Chúa nâng dậy, và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha.

    1Pr 1:16 Hãy sống thánh thiện, vì Thiên Chúa là Ðấng Thánh.

    1Pr 2:2 Như trẻ sơ sinh, anh em hãy khao khát sữa tinh tuyền là Lời Chúa, nhờ đó anh em sẽ lớn lên để hưởng ơn cứu độ.

    1Pr 3:9 Ðừng lấy ác báo ác, đừng lấy lời nguyền rủa đáp lại lời nguyền rủa, nhưng trái lại, hãy chúc phúc, vì anh chị em được Thiên Chúa kêu gọi chính là để thừa hưởng lời chúc phúc.

    1Pr 4:10 Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy, anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa.

    1Pr 4:18 Nếu người công chính còn khó được cứu độ, thì người vô đạo, kẻ tội lỗi sẽ ở đâu?

    1Pr 5:5 Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường.

    2Pr 3:8 Ðối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày.

    2Pr 3:9 Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ. Người kiên nhẫn đối với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong.

    2Pr 3:10 Ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Ngày đó, các tầng trời sẽ ầm ầm sụp đổ, ngũ hành bốc cháy tiêu tan, mặt đất và các công trình trên đó sẽ bị thiêu huỷ.

    1Ga1:5 Thiên Chúa là ánh sáng; nơi Người, không có một chút bóng tối nào.

    1Ga 1:9 Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa là Ðấng trung thành và công chính sẽ tha tội cho chúng ta, và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính.

    1Ga 2:4 Ai nói rằng mình biết Người mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối, và sự thật không ở nơi người ấy.

    1Ga 3:10 Căn cứ vào điều này mà người ta phân biệt con cái Thiên Chúa với con cái ma quỷ: phàm ai không sống công chính thì không thuộc về Thiên Chúa; ai không yêu thương anh em mình, thì cũng vậy.

    1Ga 4:1 Anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian.

    1Ga 4:2-3 Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra thần khí của Thiên Chúa: thần khí nào tuyên xưng Ðức Giê-su Ki-tô là Ðấng đã đến và trở nên người phàm, thì thần khí ấy bởi Thiên Chúa. còn thần khí nào không tuyên xưng Ðức Giê-su, thì không bởi Thiên Chúa.

    1Ga 4:4 Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, anh em thuộc về Thiên Chúa, và anh em đã thắng được các ngôn sứ giả đó, vì Ðấng ở trong anh em mạnh hơn kẻ ở trong thế gian.

    1Ga 4:8 Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu.

    1Ga 5:21 Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, hãy tránh xa các tà thần!

    Gđ1:20 Hãy xây dựng đời mình trên nền tảng đức tin rất thánh của anh em, hãy cầu nguyện nhờ Thánh Thần.

    Pl 1:21 Ðối với tôi, sống là Ðức Ki-tô, và chết là một mối lợi.

    Pl 2:3-4 Ðừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác.

    Pl 2:11 Ðể tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Ðức Giê-su Ki-tô là Chúa”.

    Pl 3:7 Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Ðức Ki-tô, tôi cho là thiệt thòi.

    Pl 3:8 Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Ðức Ki-tô Giê-su. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Ðức Ki-tô.

    Pl 3:13 Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước.

    Pl 4:4 Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em!

    Pl 4:6 Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện.

    Pl 4:19 Thiên Chúa của tôi sẽ thoả mãn mọi nhu cầu của anh em một cách tuyệt vời, theo sự giàu sang của Người trong Ðức Ki-tô Giê-su.

    Kh 15:9 Giữa muôn dân con cất lời cảm tạ, dâng điệu hát cung đàn ca mừng danh thánh Chúa.

    Kh 15:11 Muôn nước hỡi, nào hãy ca ngợi Chúa, ngàn dân ơi, hãy chúc tụng Người!

    Ngọn lửa nhỏ sưu tầm từ Internet

    --- Bài cũ hơn ---

  • Danh Ngôn Về Đạo Đức Giả
  • Những Lời Chúc Chia Tay Đồng Nghiệp Hay Dịp Nghỉ Việc, Chuyển Công Tác
  • Tổng Hợp Lời Chúc Năm Mới Cho Bạn Bè Từ Nghiêm Túc Đến Lầy Lội
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Bằng Tiếng Nhật Siêu Lãng Mạn
  • Tổng Hợp Stt Hay Về Cuộc Sống
  • Những Câu Hay Trong Kinh Thánh (Hai Ngôn Ngữ Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Về Tình Yêu Đơn Phương Hay Nhất, Thấm Nhất
  • Những Câu Thư Pháp Nói Về Chữ Hiếu
  • Tình Bạn Còn Lãng Mạn Hơn Cả Tình Yêu
  • Sinopsis I Fine Thank You Love You, Problematika Asmara Guru Bahasa Inggris Halaman All
  • #1✅ I Fine..thank You..love You • One More Time With Feeling
  • Mt4:4 Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.

    Mt4:4 One does not live by bread alone, but by every word that comes forth from the mouth of God.

    Mt5.4 Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

    Mt5.4 Blessed are the kind of heart, for theirs is the kingdom of heaven.

    Mt5.6 Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

    Mt5.6 Blessed are they who hunger and thirst for righteousness, for they will be satisfied.

    Mt5.3 “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

    Mt5.3 Blessed are the poor in spirit, for theirs is the kingdom of heaven.

    Mt5.5 Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

    Mt5.5 Blessed are they who mourn, for they will be comforted.

    Mt5.7 Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

    Mt5.7 Blessed are the merciful, for they will be shown mercy.

    Mt5.8 Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

    Mt5.8 Blessed are the clean of heart, for they will see God.

    Mt5.10 Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

    Mt5.10 Blessed are they who are persecuted for the sake of righteousness, for theirs is the kingdom of heaven.

    Mt5:13 Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng.

    Mt5:13 You are the salt of the earth. But if salt loses its taste, with what can it be seasoned? It is no longer good for anything but to be thrown out and trampled underfoot.

    Mt5.9 Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

    Mt5.9 Blessed are the peacemakers, for they will be called children of God.

    Mt5.11 Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.

    Mt5.11 Blessed are you when they insult you and persecute you and utter every kind of evil against you (falsely) because of me

    Mt5:14 Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.

    Mt5:14 You are the light of the world.

    Mt5:23-24 Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã.

    Mt5:23-24 Therefore, if you bring your gift to the altar, and there recall that your brother has anything against you, leave your gift there at the altar, go and be reconciled with your brother.

    Mt5.48 Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.

    Mt5.48 So be perfect, just as your heavenly Father is perfect.

    Mt6:3-4 Khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

    Mt6:3-4 When you give alms, do not let your left hand know what your right is doing, so that your almsgiving may be secret. And your Father who sees in secret will repay you.

    Mt5:37 Hễ “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

    Mt5:37 Let your ‘Yes’ mean ‘Yes,’ and your ‘No’ mean ‘No.’ Anything more is from the evil one.

    Mt6:1 Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, ban thưởng.

    Mt6:1 Take care not to perform righteous deeds in order that people may see them; otherwise, you will have no recompense from your heavenly Father.

    Mt6:6 Khi anh cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Ðấng hiện diện nơi kín đáo.

    Mt6:6 When you pray, go to your inner room, close the door, and pray to your Father in secret. And your Father who sees in secret will repay you.

    Mt6:14-15 Nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.

    Mt6:14-15 If you forgive others their transgressions, your heavenly Father will forgive you. But if you do not forgive others, neither will your Father forgive your transgressions.

    Mt6:24 Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được.

    Mt6:24 No one can serve two masters. He will either hate one and love the other, or be devoted to one and despise the other. You cannot serve God and mammon.

    Mt6:33 Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.

    Mt6:33 Seek first the kingdom of God and his righteousness, and all these things will be given you.

    Mt6:19-20 Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, nơi kẻ trộm khoét vách và lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, nơi trộm cắp không lấy đi được.

    Mt6:19-20 Do not store up for yourselves treasures on earth, where moth and decay destroy, and thieves break in and steal. But store up treasures in heaven, where neither moth nor decay destroys, nor thieves break in and steal.

    Mt6.31-32 Anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó.

    Mt6.31-32 Do not worry about your life, what you will eat (or drink), or about your body, what you will wear. Your heavenly Father knows that you need them all.

    Mt6:34 Anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.

    Mt6:34 Do not worry about tomorrow; tomorrow will take care of itself. Sufficient for a day is its own evil.

    Mt7:7 Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho.

    Mt7:7 Ask and it will be given to you; seek and you will find; knock and the door will be opened to you.

    Mt7:24 Ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá.

    Mt7:24 Everyone who listens to these words of mine and acts on them will be like a wise man who built his house on rock.

    Mt10.22 Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.

    Mt10.22 You will be hated by all because of my name, but whoever endures to the end will be saved.

    Mt7.12 Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta.

    Mt7.12 Do to others whatever you would have them do to you.

    Mt10:16 Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu.

    Mt10:16 I am sending you like sheep in the midst of wolves; so be shrewd as serpents and simple as doves.

    Mt10:19-20 Khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.

    Mt10:19-20 When they hand you over, do not worry about how you are to speak or what you are to say. You will be given at that moment what you are to say. For it will not be you who speak but the Spirit of your Father speaking through you.

    Mt10:27 Ðiều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng.

    Mt10:27 What I say to you in the darkness, speak in the light; what you hear whispered, proclaim on the housetops.

    Mt10:32-33 Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy.

    Mt10:32-33 Everyone who acknowledges me before others I will acknowledge before my heavenly Father. But whoever denies me before others, I will deny before my heavenly Father.

    Mt10:42 Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã mà thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.

    Mt10:42 Whoever gives only a cup of cold water to one of these little ones to drink because he is a disciple–amen, I say to you, he will surely not lose his reward.

    Mt10:28 Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Ðúng hơn, anh em hãy sợ Ðấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.

    Mt10:28 Do not be afraid of those who kill the body but cannot kill the soul; rather, be afraid of the one who can destroy both soul and body in Gehenna.

    Mt10:38-39 Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được

    Mt10:38-39 Whoever does not take up his cross and follow after me is not worthy of me. Whoever finds his life will lose it, and whoever loses his life for my sake will find it.

    Mt10:40 Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.

    Mt10:40 Whoever receives you receives me, and whoever receives me receives the one who sent me.

    Mt11:25 Con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.

    Mt11:25 I give praise to you, Father, Lord of heaven and earth, for although you have hidden these things from the wise and the learned you have revealed them to the childlike.

    Mt11:29 Anh em hãy mang lấy ách của Ta, và hãy học với Ta, vì Ta có lòng hiền hậu và khiêm nhường.

    Mt11:29 Take my yoke upon you and learn from me, for I am meek and humble of heart; and you will find rest for your selves. For my yoke is easy, and my burden light.

    Mt16:24 Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Ta.

    Mt16:24 Whoever wishes to come after me must deny himself, take up his cross, and follow me.

    Mt11:28 Những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.

    Mt11:28 Come to me, all you who labor and are burdened, and I will give you rest.

    Mt12:50 Ai thi hành ý muốn của Cha Ta, Ðấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em Ta, là mẹ Ta.

    Mt12:50 Whoever does the will of my heavenly Father is my brother, and sister, and mother.

    Mt16:25 Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.

    Mt16:25 Whoever wishes to save his life will lose it, but whoever loses his life for my sake will find it.

    Mt17:20 Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: “rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được”.

    Mt17:20 If you have faith the size of a mustard seed, you will say to this mountain, ‘Move from here to there,’ and it will move. Nothing will be impossible for you.

    Mt19.29 Phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp.

    Mt19.29 Everyone who has given up houses or brothers or sisters or father or mother or children or lands for the sake of my name will receive a hundred times more, and will inherit eternal life.

    Mt20:28 Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.

    Mt20:28 Just so, the Son of Man did not come to be served but to serve and to give his life as a ransom for many.

    Mt18:21-22 Nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?”… Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.

    Mt18:21-22 If my brother sins against me, how often must I forgive him? As many as seven times? “I say to you, not seven times but seventy-seven times.”

    Mt20:26-27 Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em.

    Mt20:26-27 Whoever wishes to be great among you shall be your servant; whoever wishes to be first among you shall be your slave.

    Mt21:22 Tất cả những gì anh em lấy lòng tin mà xin khi cầu nguyện, thì anh em sẽ được.

    Mt21:22 Whatever you ask for in prayer with faith, you will receive.

    Mt22:21 Cái gì của Xê-da, trả về Xê-da; cái gì của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.

    Mt22:21 Repay to Caesar what belongs to Caesar and to God what belongs to God.

    Mt23.11 Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em.

    Mt23.11 The greatest among you must be your servant.

    Mt25:40 Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.

    Mt25:40 ‘Amen, I say to you, whatever you did for one of these least brothers of mine, you did for me.’

    Mt22:37,39 Ngươi phải yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi.. Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.

    Mt22:37,39 You shall love the Lord, your God, with all your heart, with all your soul, and with all your mind. You shall love your neighbor as yourself.

    Mt23:12 Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.

    Mt23:12 Whoever exalts himself will be humbled; but whoever humbles himself will be exalted.

    Mt24.42 Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến.

    Mt24.42 Stay awake! For you do not know on which day your Lord will come.

    Mt28.19 Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

    Mt28.19 Go, and make disciples of all nations, baptizing them in the name of the Father, and of the Son, and of the holy Spirit.

    Mc 1:11 “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con.”

    Mk 1:11 “You are my beloved Son; with you I am well pleased.”

    Mc 8:36 Được cả thế giian mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì?

    Mk 8:36 What profit is there for one to gain the whole world and forfeit his life?

    Mc 1:3 Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.

    Mk 1:3 ‘Prepare the way of the Lord, make straight his paths.’

    Mc 4:24 Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em, và còn cho anh em hơn nữa.

    Mk 4:24 The measure with which you measure will be measured out to you, and still more will be given to you.

    Mc 6:50 Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!

    Mk 6:50 “Take courage, it is I, do not be afraid!”

    Mc10:43-44 Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người.

    Mk10:43-44 Whoever wishes to be great among you will be your servant; whoever wishes to be first among you will be the slave of all.

    Mc11:23 Thầy bảo thật anh em: nếu có ai nói với núi này: Dời chỗ đi, nhào xuống biển! , mà trong lòng chẳng nghi nan, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì sẽ được như ý.

    Mk11:23 Whoever says to this mountain, ‘Be lifted up and thrown into the sea,’ and does not doubt in his heart but believes that what he says will happen, it shall be done for him.

    Mc13:11 Khi người ta điệu anh em đi nộp, thì anh em đừng lo trước phải nói gì, nhưng trong giờ đó, Thiên Chúa cho anh em biết điều gì, thì hãy nói điều ấy: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thánh Thần

    Mk13:11 When they lead you away and hand you over, do not worry beforehand about what you are to say. But say whatever will be given to you at that hour. For it will not be you who are speaking but the holy Spirit.

    Mc9:41 Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.

    Mk9:41 Anyone who gives you a cup of water to drink because you belong to Christ, amen, I say to you, will surely not lose his reward.

    Mc11:25 Khi anh em đứng cầu nguyện, nếu anh em có chuyện bất bình với ai, thì hãy tha thứ cho họ, để Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng tha lỗi cho anh em.

    Mk11:25 When you stand to pray, forgive anyone against whom you have a grievance, so that your heavenly Father may in turn forgive you your transgressions.

    Mc13:13 Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.

    Mk13:13 You will be hated by all because of my name. But the one who perseveres to the end will be saved.

    Mc16:17-18 Nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được khỏi.

    Mk16:17-18 In my name they will drive out demons, they will speak new languages. They will pick up serpents, and if they drink any deadly thing, it will not harm them. They will lay hands on the sick, and they will recover.

    Lc 1:46-47 Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.

    Lk 1:46-47 My soul proclaims the greatness of the Lord; my spirit rejoices in God my savior.

    Lc 1:52 Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.

    Lk 1:52 He has thrown down the rulers from their thrones but lifted up the lowly.

    Mc14:38 Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối.

    Mk14:38 Watch and pray that you may not undergo the test. The spirit is willing but the flesh is weak.

    Lc 1:49-50 Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn! Từ đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.

    Lk 1:49-50 The Mighty One has done great things for me, and holy is his name. His mercy is from age to age to those who fear him.

    Lc 6:20 Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em.

    Lk 6:20 Blessed are you who are poor, for the kingdom of God is yours.

    Lc 6:22-23 Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

    Lk 6:22-23 Blessed are you when people hate you, and when they exclude and insult you, and denounce your name as evil on account of the Son of Man. Rejoice and leap for your reward will be great in heaven.

    Lc 6:37 Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha.

    Lk 6:37 Stop judging and you will not be judged. Stop condemning and you will not be condemned. Forgive and you will be forgiven.

    Lc 6:28 Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em.

    Lk 6:28 Bless those who curse you, pray for those who mistreat you.

    Lc 6:38 Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì TC sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.

    Lk 6:38 Give and gifts will be given to you; a good measure, packed together, shaken down, and overflowing, will be poured into your lap. For the measure with which you measure will in return be measured out to you.

    Lc10:3 Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói.

    Lk10:3 I am sending you like lambs among wolves.

    Lc10:19 Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em.

    Lk10:19 I have given you the power ‘to tread upon serpents’ and scorpions and upon the full force of the enemy and nothing will harm you.

    Lc11:9-10 Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho.

    Lk11:9-10 I tell you, ask and you will receive; seek and you will find; knock and the door will be opened to you.

    Lc12:4-5 Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác, mà sau đó không làm gì hơn được nữa. hãy sợ Ðấng đã giết rồi, lại có quyền ném vào hoả ngục.

    Lk12:4-5 Do not be afraid of those who kill the body but after that can do no more. Be afraid of the one who after killing has the power to cast into Gehenna.

    Lc12:32 Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em.

    Lk12:32 Do not be afraid any longer, little flock, for your Father is pleased to give you the kingdom.

    Lc11:28 Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.

    Lk11:28 Blessed are those who hear the word of God and observe it.

    Lc12:7 Ngay đến tóc trên đầu anh em cũng được đếm cả rồi. Anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.

    Lk12:7 The hairs of your head have all been counted. Do not be afraid. You are worth more than many sparrows.

    Lc12:8-9 Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Con Người cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì sẽ bị chối trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa.

    Lk12:8-9 Everyone who acknowledges me before others the Son of Man will acknowledge before the angels of God. But whoever denies me before others will be denied before the angels of God.

    Lc16:10 Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn.

    Lk16:10 The person who is trustworthy in very small matters is also trustworthy in great ones; and the person who is dishonest in very small matters is also dishonest in great ones.

    Lc16:13 Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của.

    Lk16:13 No servant can serve two masters. He will either hate one and love the other, or be devoted to one and despise the other. You cannot serve God and mammon.

    Lc17:4 Dù nó xúc phạm đến anh một ngày đến bảy lần, rồi bảy lần trở lại nói với anh: Tôi hối hận, thì anh cũng phải tha cho nó.

    Lk17:4 And if he wrongs you seven times in one day and returns to you seven times saying, ‘I am sorry,’ you should forgive him.

    Lc17:6 Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh em.

    Lk17:6 If you have faith the size of a mustard seed, you would say to (this) mulberry tree, ‘Be uprooted and planted in the sea,’ and it would obey you.

    Lc21:17-18 Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu.

    Lk21:17-18 You will be hated by all because of my name, but not a hair on your head will be destroyed.

    Lc21:36 Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người.

    Lk21:36 Be vigilant at all times and pray that you have the strength to escape the tribulations that are imminent and to stand before the Son of Man.

    Lc 22:26 Anh em thì không phải như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ.

    Lk 22:26 Among you it shall not be so. Rather, let the greatest among you be as the youngest, and the leader as the servant.

    Ga3:30 Người phải nổi bật lên, còn thầy (Gioan) phải lu mờ đi.

    Jn3:30 He must increase; I (John) must decrease.

    Ga4:13-14 Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước Ta cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước Ta cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.

    Jn4:13-14 Everyone who drinks this water will be thirsty again; but whoever drinks the water I shall give will never thirst; the water I shall give will become in him a spring of water welling up to eternal life.

    Lc22:40 “Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ”.

    Lk22:40 “Pray that you may not undergo the test.”

    Lc24:36 “Bình an cho anh em!”

    Lk24:36 “Peace be with you.”

    Ga4:24 Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.”

    Jn4:24 God is Spirit, and those who worship him must worship in Spirit and truth.

    Ga6:35 Chính Ta là bánh trường sinh. Ai đến với Ta, không hề phải đói; ai tin vào Ta, chẳng khát bao giờ!

    Jn6:35 I am the bread of life; whoever comes to me will never hunger, and whoever believes in me will never thirst.

    Ga6:56 Ai ăn thịt và uống máu Ta, thì ở lại trong Ta, và Ta ở lại trong người ấy.

    Jn6:56 Whoever eats my flesh and drinks my blood remains in me and I in him.

    Ga7:37b-38 Ai khát, hãy đến với Ta, ai tin vào Ta, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống.

    Jn7: 37b-38 Let anyone who thirsts come to me and drink. Whoever believes in me, as scripture says: ‘Rivers of living water will flow from within him.’

    Ga6:51 Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh Ta sẽ ban tặng, chính là thịt Ta đây, để cho thế gian được sống.

    Jn6:51 I am the living bread that came down from heaven; whoever eats this bread will live forever; and the bread that I will give is my flesh for the life of the world.

    Ga6:63 Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.

    Jn6:63 It is the Spirit that gives life, while the flesh is of no avail. The words I have spoken to you are spirit and life.

    Ga8:12 Ta là ánh sáng thế gian. Ai theo Ta, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.

    Jn8:12 “I am the light of the world. Whoever follows me will not walk in darkness, but will have the light of life.”

    Ga10:27 Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta.

    Jn10:27 My sheep hear my voice; I know them, and they follow me.

    Ga11:25 Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.

    Jn11:25 I am the resurrection and the life; whoever believes in me even if he dies, will live.

    a12:24 Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.

    Jn12:24 Amen, amen, I say to you, unless a grain of wheat falls to the ground and dies, it remains just a grain of wheat; but if it dies, it produces much fruit.

    Ga12:25 Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.

    Jn12:25 Whoever loves his life loses it, and whoever hates his life in this world will pserve it for eternal life.

    Ga12:26 Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy.

    Jn12:26 Whoever serves me must follow me, and where I am, there also will my servant be. The Father will honor whoever serves me.

    Ga13:14 Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.

    Jn13:14 If I, therefore, the master and teacher, have washed your feet, you ought to wash one another’s feet.

    Ga13:34 Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.

    Jn13:34 I give you a new commandment: love one another. As I have loved you, so you also should love one another.

    Ga14:12 Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa.

    Jn14:12 Amen, amen, I say to you, whoever believes in me will do the works that I do, and will do greater ones.

    Ga13:35 Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.

    Jn13:35 This is how all will know that you are my disciples, if you have love for one another.

    Ga14:1 Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.

    Jn14:1 Do not let your hearts be troubled. You have faith in God; have faith also in me.

    Ga14:16 Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Ðấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.

    Jn14:16 I will ask the Father, and he will give you another Advocate to be with you always.

    Ga14:23 Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.

    Jn14:23 Whoever loves me will keep my word, and my Father will love him, and we will come to him and make our dwelling with him.

    Ga14:26 Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.

    Jn14:26 The Advocate, the holy Spirit that the Father will send in my name–he will teach you everything and remind you of all that I told you.

    Ga14:27 Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng. Lòng anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.

    Jn14:27 Peace I leave with you; my peace I give to you. Not as the world gives do I give it to you. Do not let your hearts be troubled or afraid.

    Ga15:15 Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.

    Jn15:15 I no longer call you slaves, because a slave does not know what his master is doing. I have called you friends, because I have told you everything I have heard from my Father.

    Ga14:21 Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.

    Jn14:21 Whoever has my commandments and observes them is the one who loves me. And whoever loves me will be loved by my Father, and I will love him and reveal myself to him.

    Ga15:5 Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.

    Jn15:5 I am the vine, you are the branches, Whoever remains in me and I in him will bear much fruit, because without me you can do nothing.

    Ga15:8 Ðiều làm Chúa Cha được tôn vinh là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy.

    Jn15:8 By this is my Father glorified, that you bear much fruit and become my disciples.

    Ga15:20 Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em.

    Jn15:20 Remember the word I spoke to you, ‘No slave is greater than his master.’ If they persecuted me, they will also persecute you. If they kept my word, they will also keep yours.

    Ga16:33 Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian.

    Jn16:33 I have told you this so that you might have peace in me. In the world you will have trouble, but take courage, I have conquered the world.

    Cv 20:19 Khi phục vụ Chúa, tôi đã hết lòng khiêm tốn, đã nhiều lần phải rơi lệ, đã gặp bao thử thách do những âm mưu của người Do-thái.

    Acts 20:19 I served the Lord with all humility and with the tears and trials that came to me because of the plots of the Jews.

    Ga15:18 Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước.

    Jn15:18 If the world hates you, realize that it hated me first.

    Ga20:21 Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.

    Jn20:21 “Peace be with you. As the Father has sent me, so I send you.”

    Cv 20:35 “Cho thì có phúc hơn là nhận.”

    Acts 20:35 ‘It is more blessed to give than to receive.’

    Rm 6:8 Nếu chúng ta đã cùng chết với Ðức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người.

    Rom 6:8 If, then, we have died with Christ, we believe that we shall also live with him.

    Rm 8:10 Nếu Đức Ki-tô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính.

    Rom 8:10 If Christ is in you, although the body is dead because of sin, the spirit is alive because of righteousness.

    Rm 8:11 Lại nữa, nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới.

    Rom 8:11 If the Spirit of the one who raised Jesus from the dead dwells in you, the one who raised Christ from the dead will give life to your mortal bodies also, through his Spirit that dwells in you.

    Rm 7:15 Tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm.

    Rom 7:15 What I do, I do not understand. For I do not do what I want, but I do what I hate.

    Rm 8:13 Nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống.

    Rom 8:13 If you live according to the flesh, you will die, but if by the spirit you put to death the deeds of the body, you will live.

    Rm 8:15 Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: “Áp-ba! Cha ơi!”

    Rom 8:15 For you did not receive a spirit of slavery to fall back into fear, but you received a spirit of adoption, through which we cry, “Abba, Father!”

    Rm 12:14-15 Hãy chúc lành cho những người bắt bớ anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa: vui với người vui, khóc với người khóc.

    Rom 12:14-15 Bless those who persecute (you), bless and do not curse them. Rejoice with those who rejoice, weep with those who weep.

    Rm 14:17 Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.

    Rom 14:17 For the kingdom of God is not a matter of food and drink, but of righteousness, peace, and joy in the holy Spirit.

    1Cor 1:5 Trong Đức Ki-tô Giê-su, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, phong phú vì được nghe lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Người.

    1Cor 1:5 I give thanks to my God always on your account for the grace of God bestowed on you in Christ Jesus, that in him you were enriched in every way, with all discourse and all knowledge.

    Rm 12:21 Ðừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác.

    Rom 12:21 Do not be conquered by evil but conquer evil with good.

    Rm 15:9 Giữa muôn dân con cất lời cảm tạ, dâng điệu hát cung đàn ca mừng Danh Thánh Chúa.

    Rom 15:9 I will praise you among the Gentiles and sing praises to your Name.

    1Cor 1:10 Anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hoà thuận, một lòng một ý với nhau.

    1Cor 1:10 In the name of our Lord Jesus Christ, that all of you agree in what you say, and that there be no pisions among you, but that you be united in the same mind and in the same purpose.

    1Cor 1:18 Lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa.

    1Cor 1:18 The message of the cross is foolishness to those who are perishing, but to us who are being saved it is the power of God.

    1Cor 2:10 Còn chúng ta, chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa.

    1Cor 2:10 God has revealed to us through the Spirit. For the Spirit scrutinizes everything, even the depths of God.

    1Cor 2:12 Phần chúng ta, chúng ta đã không lãnh nhận thần trí của thế gian, nhưng là Thần Khí phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta.

    1Cor 2:12 We have not received the spirit of the world but the Spirit that is from God, so that we may understand the things freely given us by God.

    1Cor 3:16 Anh em chẳng biết rằng anh em là Ðền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?

    1Cor 3:16 Do you not know that you are the temple of God, and that the Spirit of God dwells in you?

    1Cor 6:20 Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em. Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em.

    1Cor 6:20 For you have been purchased at a price. Therefore, glorify God in your body.

    1Cor 7:23 Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em. Anh em đừng trở nên nô lệ cho người phàm.

    1Cor 7:23 You have been purchased at a price. Do not become slaves to human beings.

    1Cor 10:13 Không một thử thách nào đã xảy ra cho anh em mà lại vượt quá sức loài người; nhưng khi để anh em bị thử thách, Người sẽ cho kết thúc tốt đẹp.

    1Cor 10:13 No trial has come to you but what is human. God is faithful and will not let you be tried beyond your strength; but with the trial he will also provide a way out, so that you may be able to bear it.

    1Cor 13:3 Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.

    1Cor 13:3 If I give away everything I own, and if I hand my body over so that I may boast but do not have love, I gain nothing.

    1Cor 14:12 Anh em cũng vậy: vì khao khát những ơn của Thần Khí, anh em hãy tìm kiếm để được dồi dào các ân huệ đó, nhằm xây dựng Hội Thánh.

    1Cor 14:12 So with yourselves: since you strive eagerly for spirits, seek to have an abundance of them for building up the church.

    1Cor 10:31 Dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa.

    1Cor 10:31 Whether you eat or drink, or whatever you do, do everything for the glory of God.

    1Cor 13:7 Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.

    1Cor 13:7 Love bears all things, believes all things, hopes all things, endures all things.

    1Cor 14:1 Anh em hãy cố đạt cho được đức mến, hãy khao khát những ơn của Thần Khí, nhất là ơn nói tiên tri.

    1Cor 14:1 Pursue love, but strive eagerly for the spiritual gifts, above all that you may prophesy.

    1Cor 15:19 Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Ðức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người.

    1Cor 15:19 If for this life only we have hoped in Christ, we are the most pitiable people of all.

    2Cor 2:7 Vì vậy, tốt hơn, anh em phải tha thứ và an ủi, kẻo người đó bị chìm đắm trong nỗi ưu phiền quá mức chăng.

    2Cor 2:7 On the contrary, you should forgive and encourage him instead, or else the person may be overwhelmed by excessive pain.

    2Cor 1:4 Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó.

    2Cor 1:4 Lord Jesus Christ who encourages us in our every affliction, so that we may be able to encourage those who are in any affliction with the encouragement with which we ourselves are encouraged by God.

    2Cor 7:6 Thiên Chúa, Đấng an ủi những kẻ yếu hèn, đã an ủi chúng tôi bằng cách sai anh Ti-tô đến.

    2Cor 7:6 God, who encourages the downcast, encouraged us by the arrival of Titus.

    2Cor 8:9 Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có.

    2Cor 9:7 Mỗi người hãy cho tuỳ theo quyết định của lòng mình, không buồn phiền, cũng không miễn cưỡng, vì ai vui vẻ dâng hiến, thì được Thiên Chúa yêu thương.

    2Cor 9:7 Each must do as already determined, without sadness or compulsion, for God loves a cheerful giver.

    2Cor 8:9 Lord Jesus Christ, that for your sake he became poor although he was rich, so that by his poverty you might become rich.

    2Cor 9:13 Việc phục vụ này là một bằng cớ cho họ tôn vinh Thiên Chúa, vì thấy anh em vâng phục và tuyên xưng Tin Mừng của Đức Ki-tô, và vì thấy anh em có lòng quảng đại, sẵn sàng chia sẻ với họ và với mọi người.

    2Cor 9:13 Through the evidence of this service, you are glorifying God for your obedient confession of the gospel of Christ and the generosity of your contribution to them and to all others.

    2Cor 12:9 Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối của con.

    2Cor 12:9 My grace is sufficient for you, for power is made perfect in weakness.

    Gl 5:17 Tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt.

    Gal 5:17 For the flesh has desires against the Spirit, and the Spirit against the flesh; these are opposed to each other, so that you may not do what you want.

    2Cor 9:15 Xin cảm tạ Thiên Chúa vì phúc lộc khôn tả Người ban!

    2Cor 9:15 Thanks be to God for his indescribable gift!

    2Cor 13:11 Anh em hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an, sẽ ở cùng anh em.

    2Cor 13:11 Brothers and sisters, rejoice. Mend your ways, encourage one another, agree with one another, live in peace, and the God of love and peace will be with you.

    Gl 2:20 Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Ðức Ki-tô sống trong tôi.

    Gal 2:20 I live, no longer I, but Christ lives in me.

    Gl 5:22 Hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ.

    Gal 5:22 The fruit of the Spirit is love, joy, peace, patience, kindness, generosity, faithfulness, gentleness, self-control.

    Gl 5:24 Những ai thuộc về Ðức Ki-tô Giê-su thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê.

    Gal 5:24 those who belong to Christ (Jesus) have crucified their flesh with its passions and desires.

    Gl 5:25 Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước.

    Gal 5:25 If we live in the Spirit, let us also follow the Spirit.

    Gl 6:8 Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu, thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt, là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt, thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí, là sự sống đời đời.

    Gal 6:8 The one who sows for flesh will reap corruption from flesh, but the one who sows for spirit will reap eternal life from spirit.

    Ep1:4 Trong Ðức Ki-tô, Người đã chọn chúng ta trước cả khi tạo thành vũ trụ.

    Eph1:4 In Christ, He chose us in him, before the foundation of the world.

    Ep1:7 Trong Thánh Tử, nhờ máu Thánh Tử đổ ra chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi theo lượng ân sủng rất phong phú của Người.

    Eph1:7 In him we have redemption by his blood, the forgiveness of transgressions, in accord with the riches of his

    Ep1:13 Trong Đức Ki-tô, cả anh em nữa anh em đã được nghe lời chân lý à Tin Mừng cứu độ anh em; vẫn trong Đức Ki-tô, một khi đã tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần, Đấng Thiên Chúa đã hứa.

    Eph1:13 In him you also, who have heard the word of truth, the gospel of your salvation, and have believed in him, were sealed with the promised holy Spirit.

    Ep 2:8 Chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa.

    Eph 2:8 For by grace you have been saved through faith, and this is not from you; it is the gift of God.

    Ep 2:22 Trong Người, cả anh em nữa, cũng được xây dựng cùng với những người khác thành ngôi nhà Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí.

    Eph 2:22 Through Him the whole structure is held together and grows into a temple sacred in the Lord by the Spirit.

    Ep 2:4-5 Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Ki-tô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ!

    Eph 2:4-5 God, who is rich in mercy, because of the great love he had for us,even when we were dead in our transgressions, brought us to life with Christ (by grace you have been saved).

    Ep 2:10 Chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa, chúng ta được dựng nên trong Ðức Kitô Giê-su, để sống mà thực hiện công trình tốt đẹp Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta.

    Ep 3:17-19 Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Ðức Kitô ngự trong tâm hồn; được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái để cùng toàn thể các thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết tình thương của Ðức Kitô.

    Eph 3:17-19 Christ may dwell in your hearts through faith; that you, rooted and grounded in love, may have strength to comphend with all the holy ones what is the breadth and length and height and depth, and to know the love of Christ.

    Ep 3:20 Xin tôn vinh Đấng có thể dùng quyền năng đang hoạt động nơi chúng ta, mà làm gấp ngàn lần điều chúng ta dám cầu xin hay nghĩ tới.

    Eph 3:20 Now to him who is able to accomplish far more than all we ask or imagine, by the power at work within us.

    Ep 4:22-24 Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới.

    Eph 4:22-24 You should put away the old self of your former way of life, corrupted through deceitful desires, and be renewed in the spirit of your minds.

    Ep 5:2 Hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt.

    Eph 5:2 Live in love, as Christ loved us and handed himself over for us as a sacrificial offering to God for a fragrant aroma.

    Ep 4:3 Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau.

    Eph 4:3 Strive to pserve the unity of the spirit through the bond of peace.

    Ep 4:32 phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Ki-tô.

    Eph 4:32 Be kind to one another, compassionate, forgiving one another as God has forgiven you in Christ.

    Ep 5:11 Ðừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng.

    Eph 5:11 Take no part in the fruitless works of darkness; rather expose them.

    Eph 5:19 Addressing one another (in) psalms and hymns and spiritual songs, singing and playing to the Lord in your hearts.

    Ep 6:1-2 Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa.

    Eph 6:1-2 Children, obey your parents (in the Lord), for this is right. “Honor your father and mother.” This is the first commandment with a promise.

    Ep 6:11-12A Hãy mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa, để có thể đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ. Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những quyền lực thần thiêng.

    Eph 6:11-12A Put on the armor of God so that you may be able to stand firm against the tactics of the devil. For our struggle is not with flesh and blood but with the principalities, with the powers.

    Ep 5:20 Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha.

    Eph 5:20 Give thanks always and for everything in the name of our Lord Jesus Christ to God the Father.

    Ep 6:7-8 Hãy vui lòng phục vụ, như thể phục vụ Chúa, chứ không phải người ta Anh em biết đấy: ai làm việc tốt, sẽ được Chúa trả công, bất luận nô lệ hay tự do.

    Eph 6:7-8 Willingly serving the Lord and not human beings, knowing that each will be requited from the Lord for whatever good he does, whether he is slave or free.

    Ep 6:18 Theo Thần Khí hướng dẫn, anh em hãy dùng mọi lời kinh và mọi tiếng van nài mà cầu nguyện luôn mãi.

    Eph 6:18 With all prayer and supplication, pray at every opportunity in the Spirit.

    Cl 1:12 Anh em hãy vui mừng cảm tạ Chúa Cha, đã làm cho anh em trở nên xứng đáng chung hưởng phần gia nghiệp của dân thánh trong cõi đầy ánh sáng.

    Col 1:12 Giving thanks to the Father, who has made you fit to share in the inheritance of the holy ones in light.

    Cl 2:13 Trước kia, anh em là những kẻ chết vì anh em đã sa ngã, và vì thân xác anh em không được cắt bì, nay Thiên Chúa đã cho anh em được cùng sống với Đức Kitô: Thiên Chúa đã ban ơn tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta.

    Col 2:13 You were buried with him in baptism, in which you were also raised with him through faith in the power of God, who raised him from the dead.

    Cl 3:16a Ước chi lời Đức Ki-tô ngự giữa anh em thật dồi dào phong phú. Anh em hãy dạy dỗ khuyên bảo nhau với tất cả sự khôn ngoan.

    Col 3:16a Let the word of Christ dwell in you richly, as in all wisdom you teach.

    Cl 2:7 Anh em hãy bén rễ sâu và xây dựng đời mình trên nền tảng là Đức Ki-tô Giê-su, hãy dựa vào đức tin mà anh em đã được thụ huấn, và để cho lòng chan chứa niềm tri ân cảm tạ.

    Col 2:7 Received Christ Jesus the Lord, walk in him, rooted in him and built upon him and established in the faith as you were taught, abounding in thanksgiving.

    Cl 3:13 Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau.

    Col 3:13 Bear with one another and forgiving one another, if one has a grievance against another; as the Lord has forgiven you, so must you also do.

    Cl 3:16b Để tỏ lòng biết ơn, anh em hãy đem cả tâm hồn mà hát dâng Thiên Chúa những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca, do Thần Khí linh hứng.

    Col 3:16b Admonish one another, singing psalms, hymns, and spiritual songs with gratitude in your hearts to God.

    Cl 3:17 Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giê-su và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha.

    Col 3:17 Whatever you do, in word or in deed, do everything in the name of the Lord Jesus, giving thanks to God the Father through him.

    Cl 4:2 Anh em hãy siêng năng cầu nguyện; hãy tỉnh thức mà cầu nguyện và tạ ơn.

    Col 4:2 Persevere in prayer, being watchful in it with thanksgiving.

    1Tx 5:16-17 Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng.

    1Thes 5:16-17 Rejoice always. Pray without ceasing.

    Cl 3:20 Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa.

    Col 3:20 Children, obey your parents in everything, for this is pleasing to the Lord.

    1Tx 5:4 Anh em không ở trong bóng tối, để ngày ấy như kẻ trộm bắt chợt anh em. Vì tất cả anh em là con cái ánh sáng, con cái của ban ngày. Chúng ta không thuộc về đêm, cũng không thuộc về bóng tối. 1Thes 5:4 You, brothers, are not in darkness, for that day to overtake you like a thief. For all of you are children of the light 1 and children of the day. We are not of the night or of darkness.

    1Tx 5:16-18 Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Ki-tô Giê-su.

    1Thes 5:16-18 In all circumstances give thanks, for this is the will of God for you in Christ Jesus.

    2Tx 3:16 Chúa là nguồn mạch bình an, xin Người ban cho anh em được bình an mọi lúc và về mọi phương diện. Xin Chúa ở cùng tất cả anh em.

    2Thes 3:16 May the Lord of peace himself give you peace at all times and in every way. The Lord be with all of you.

    1Tm 1:12 Tôi tạ ơn Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta, Đấng đã ban sức mạnh cho tôi, vì Người đã tín nhiệm mà gọi tôi đến phục vụ Người.

    1Tm 1:12 I am grateful to him who has strengthened me, Christ Jesus our Lord, because he considered me trustworthy in appointing me to the ministry.

    2Tm 4:2 Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ.

    2Tm 4:2 Proclaim the word; be persistent whether it is convenient or inconvenient; convince, reprimand, encourage through all patience and teaching.

    1Tx 5:21-22 Hãy cân nhắc mọi sự: điều gì tốt thì giữ; còn điều xấu dưới bất cứ hình thức nào thì lánh cho xa.

    1Thes 5:21-22 Test everything; retain what is good. Refrain from every kind of evil.

    2Tm 1:7 Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ.

    2Tm 1:7 God did not give us a spirit of cowardice but rather of power and love and self-control.

    Tt 3:5 Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Người thương xót, nên Người đã cứu chúng ta nhờ phép rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh và đổi mới.

    Ti 3:5 Not because of any righteous deeds we had done but because of his mercy, he saved us through the bath of rebirth and renewal by the holy Spirit.

    Dt 8:10b Ta sẽ ghi vào lòng trí chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng lề luật của Ta; Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là Dân của Ta.

    Heb 8:10b I will put my laws in their minds and I will write them upon their hearts. I will be their God, and they shall be my people.

    Dt 12:6 Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt.

    Heb 12:6 Whom the Lord loves, he disciplines; he scourges every son he acknowledges.

    Gc 1:12 Phúc thay người biết kiên trì chịu đựng cơn thử thách, vì một khi đã được tôi luyện, họ sẽ lãnh phần thưởng là sự sống Chúa đã hứa ban cho những ai yêu mến Người.

    Jas 1:12 Blessed is the man who perseveres in temptation, for when he has been proved he will receive the crown of life that he promised to those who love him.

    Dt 4:12 Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người.

    Heb 4:12 Indeed, the word of God is living and effective, sharper than any two-edged sword, penetrating even between soul and spirit, joints and marrow, and able to discern reflections and thoughts of the heart.

    Gc 1:3 Vì như anh em biết: đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn.

    Jas 1:3 For you know that the testing of your faith produces perseverance.

    Gc 1:25 Ai thiết tha và trung thành tuân giữ luật trọn hảo -luật mang lại tự do-, ai thi hành luật Chúa, chứ không nghe qua rồi bỏ, thì sẽ tìm được hạnh phúc trong mọi việc mình làm.

    Jas 1:25 The one who peers into the perfect law of freedom and perseveres, and is not a hearer who forgets but a doer who acts, such a one shall be blessed in what he does.

    Gc 2:26 Một thân xác không hơi thở là một xác chết, cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin chết.

    Jas 2:26 For just as a body without a spirit is dead, so also faith without works is dead.

    Gc 4:10 Anh em hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa và Người sẽ cất nhắc anh em lên.

    Jas 4:10 Humble yourselves before the Lord and he will exalt you.

    1Pr 1:7 Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội. Vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Giêsu Kitô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự.

    1Pt 1:7 The genuineness of your faith, more pcious than gold that is perishable even though tested by fire, may prove to be for praise, glory, and honor at the revelation of Jesus Christ.

    Gc 3:5 Cái lưỡi cũng vậy: nó là một bộ phận nhỏ bé của thân thể, mà lại huênh hoang làm được những chuyện to lớn. Cứ xem tia lửa nhỏ bé dường nào, mà làm bốc cháy đám rừng to lớn biết bao!

    Jas 3:5 In the same way the tongue is a small member and yet has great ptensions. Consider how small a fire can set a huge forest ablaze.

    Gc 5:13 Ai trong anh em đau khổ ư? Người ấy hãy cầu nguyện. Ai vui vẻ chăng? Người ấy hãy hát thánh ca.

    Jas 5:13 Is anyone among you suffering? He should pray. Is anyone in good spirits? He should sing praise.

    1Pr 1:16 “Hãy sống thánh thiện, vì Thiên Chúa là Ðấng Thánh”.

    1Pt 1:16 “Be holy because I am holy.”

    1Pr 2:10 Xưa anh em chưa phải là một dân, nay anh em đã là Dân của Thiên Chúa; xưa anh em chưa được hưởng lòng thương xót, nay anh em đã được xót thương.

    1Pt 2:10 Once you were “no people” but now you are God’s people; you “had not received mercy” but now you have received mercy.

    1Pr 2:2 Như trẻ sơ sinh, anh em hãy khao khát sữa tinh tuyền là Lời Chúa, nhờ đó anh em sẽ lớn lên để hưởng ơn cứu độ.

    1Pt 2:2 Like newborn infants, long for pure spiritual milk so that through it you may grow into salvation.

    1Pr 4:10 Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy, anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa.

    1Pt 4:10 As each one has received a gift, use it to serve one another as good stewards of God’s varied grace.

    1Pr 4:14 Nếu bị sỉ nhục vì danh Đức Ki-tô, anh em thật có phúc, bởi lẽ Thần Khí vinh hiển và uy quyền, là Thần Khí của Thiên Chúa, ngự trên anh em.

    1Pt 4:14 If you are insulted for the name of Christ, blessed are you, for the Spirit of glory and of God rests upon you.

    1Pr 4:16 Nếu có ai phải chịu khổ vì danh hiệu Kitô hữu, thì đừng xấu hổ, nhưng hãy tôn vinh Thiên Chúa vì được mang danh hiệu đó.

    1Pt 4:16 Whoever is made to suffer as a Christian should not be ashamed but glorify God because of the name.

    1Pr 5:5 Anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường.

    1Pt 5:5 Humility in your dealings with one another, for: “God opposes the proud but bestows favor on the humble.”

    1Ga 1:9 Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa là Ðấng trung thành và công chính sẽ tha tội cho chúng ta, và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính.

    1Jn 1:9 If we acknowledge our sins, he is faithful and just and will forgive our sins and cleanse us from every wrongdoing.

    1Ga 4:4 Hỡi anh em bé nhỏ, anh em thuộc về Thiên Chúa, và anh em đã thắng được các ngôn sứ giả đó, vì Ðấng ở trong anh em mạnh hơn kẻ ở trong thế gian.

    1Jn 4:4 You belong to God, children, and you have conquered them, for the one who is in you is greater than the one who is in the world.

    1Ga 4:10 Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta.

    1Jn 4:10 In this is love: not that we have loved God, but that he loved us and sent his Son as expiation for our sins.

    1Ga 3:18 Hỡi anh em bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm.

    1Jn 3:18 Children, let us love not in word or speech but in deed and truth.

    1Ga 4:8 Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu.

    1Jn 4:8 Whoever is without love does not know God, for God is love.

    2Ga 1:3 Thiên Chúa là Cha và Đức Giê-su Ki-tô là Con Chúa Cha sẽ cho chúng ta được hưởng ân sủng, lòng thương xót và bình an, trong sự thật và tình thương.

    2Jn 1:3 In this way we know that we love the children of God when we love God and obey his commandments.

    Gđ1:20 Hãy xây dựng đời mình trên nền tảng đức tin rất thánh của anh em, hãy cầu nguyện nhờ Thánh Thần.

    Jude1:20 But you, beloved, build yourselves up in your most holy faith; pray in the holy Spirit.

    Pl 2:3-4 Ðừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác.

    Phil 2:3-4 Do nothing out of selfishness or out of vainglory; rather, humbly regard others as more important than yourselves, each looking out not for his own interests, but (also) everyone for those of others.

    Pl 3:8 Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Ðức Ki-tô Giê-su. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Ðức Ki-tô.

    Phil 3:8 I even consider everything as a loss because of the supme good of knowing Christ Jesus my Lord. For his sake I have accepted the loss of all things and I consider them so much rubbish, that I may gain Christ.

    Pl 1:21 Ðối với tôi, sống là Ðức Ki-tô, và chết là một mối lợi.

    Phil 1:21 For to me life is Christ, and death is gain.

    Pl 3:7 Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Ðức Ki-tô, tôi cho là thiệt thòi.

    Phil 3:7 Whatever gains I had, these I have come to consider a loss because of Christ.

    Pl 4:6 Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện.

    Phil 4:6 Have no anxiety at all, but in everything, by prayer and petition, with thanksgiving, make your requests known to God.

    Kh 3:3 Ngươi đã lãnh nhận và nghe Lời Chúa thế nào; hãy tuân giữ và hối cải! Vậy nếu ngươi không tỉnh thức, thì Ta sẽ đến như kẻ trộm, ngươi chẳng biết giờ nào Ta sẽ đến bắt chợt ngươi.

    Rv 3:3 Remember then how you accepted and heard; keep it, and repent. If you are not watchful, I will come like a thief, and you will never know at what hour I will come upon you.

    2Pr 3:9b Chúa kiên nhẫn đối với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải.

    2Pt 3:9b God is patient with you, not wishing that any should perish but that all should come to repentance.

    1Ga 2:9 Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng mà lại ghét anh em mình, thì vẫn còn ở trong bóng tối.

    1Jn 2:9 Whoever says he is in the light, yet hates his brother, is still in the darkness.

    Pl 4:19 Thiên Chúa của tôi sẽ thoả mãn mọi nhu cầu của anh em một cách tuyệt vời, theo sự giàu sang của Người trong Ðức Ki-tô Giê-su.

    Phil 4:19 My God will fully supply whatever you need, in accord with his glorious riches in Christ Jesus.

    1Ga 1:9 Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính sẽ tha tội cho chúng ta, và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính.

    1Jn 1:9 If we acknowledge our sins, he is faithful and just and will forgive our sins and cleanse us from every wrongdoing.

    1Ga 2:15 Anh em đừng yêu thế gian và những gì ở trong thế gian. Kẻ nào yêu thế gian thì nơi kẻ ấy không có lòng mến Chúa Cha.

    1Jn 2:15 Do not love the world or the things of the world. If anyone loves the world, the love of the Father is not in him.

    1Ga 3:17 Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?

    1Jn 3:17 If someone who has worldly means sees a brother in need and refuses him compassion, how can the love of God remain in him?

    1Ga 4:9 Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống.

    1Jn 4:9 In this way the love of God was revealed to us: God sent his only Son into the world so that we might have life through him.

    Ga 3:5 Chúa Giêsu trả lời: Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.

    Jn 3:5 Jesus answered, Amen, amen, I say to you, no one can enter the kingdom of God without being born of water and Spirit.

    1Ga 4:8 Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu.

    1Jn 4:8 Whoever is without love does not know God, for God is love.

    1Ga 5:21 Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, hãy tránh xa các tà thần!

    1Jn 5:21 Children, be on your guard against idols.

    Ga 20:22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”.

    Jn 20:22 He breathed on them and said to them, “Receive the Holy Spirit”.

    Cv 2:18 Trong những ngày đó, Ta cũng sẽ đổ Thần Khí Ta cả trên tôi nam tớ nữ của Ta, và chúng sẽ trở thành ngôn sứ.

    1Cor3:16 Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?

    Acts 2:18 Indeed, upon my servants and my handmaids I will pour out a portion of my spirit in those days, and they shall prophesy.

    1Cor3:16 Do you not know that you are the temple of God, and that the Spirit of God dwells in you?

    Rm 8:27 Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa.

    Rom 8:27 The one who searches hearts knows what is the intention of the Spirit, because it intercedes for the holy ones according to God’s will.

    1Cor14:1 Anh em hãy cố đạt cho được đức mến, hãy khao khát những ơn của Thần Khí, nhất là ơn nói tiên tri.

    1Cor14:1 Pursue love, but strive eagerly for the spiritual gifts, above all that you may prophesy.

    Rm 8:5 Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí.

    Rom 8:5 For those who live according to the flesh are concerned with the things of the flesh, but those who live according to the spirit with the things of the spirit.

    2Cor1:22 Chính Người cũng đã đóng ấn tín trên chúng ta và đổ Thần Khí vào lòng chúng ta làm bảo chứng.

    2Cor1:22 He has also put his seal upon us and given the Spirit in our hearts as a first installment.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngày Trôi Về Phía Cũ
  • Hào Môn Kinh Mộng I – 99 Ngày Làm Cô Dâu
  • Các Bài Thơ Hay Về Kế Hoạch Hóa Gia Đình
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Bạn Mùa Chia Tay
  • Cap Hay Về Bóng Đá Thả Thính ❤️ Stt Thả Thính Về Bóng Đá
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100