Danh Ngôn Phụ Nữ Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hài Hước Siêu Bựa Nhất Cười Ra Nước Mắt
  • Châm Ngôn Cười Ra Nước Mắt
  • Danh Ngôn Hay Nhất Của Ralph Waldo Emerson P I
  • Những Stt Ý Nghĩa Giúp Bạn Trưởng Thành Hơn Trong Cuộc Sống
  • Danh Ngôn Tiếng Anh Bất Hủ
  • 2. Paris By Night 90 – Chân Dung Người Phụ Nữ Việt Nam (Part 1)

    3. Vào dịp này, chị em phụ nữ được nhiều người bày tỏ sự quan tâm và tôn vinh dưới nhiều hình thức, như tặng hoa, tặng thiệp và kèm theo những lời chúc mừng.

    4. Những câu danh ngôn bất hủ về phụ nữ Một người đàn bà xấu mặt nhưng đẹp lòng là người đàn bà đẹp.

    9. Tìm hiểu chăm sóc bà bầu, làm đẹp, thời trang, Gia đình, đưa phụ nữ LÊN ĐỈNH.

    15. Tổng hợp danh ngôn về tính cách hay nhất, những quan điểm của những người nổi tiếng về tính cách, những câu nói về tính cách hay nhất.

    17. Aug 17, 2022 · Phụ nữ luôn muốn bản thân không ngừng đổi mới trong mắt đối phương, còn các chàng trai lại không ngừng tìm hiểu những điều còn chưa biết về họ.

    20. Tuyển tập những câu danh ngôn phụ nữ hay nhất, những câu nói hay về phụ nữ, tìm hiểu những điều bạn chưa biết về phụ nữ.

    21. Jul 21, 2022 · Là Phụ Nữ có chết cũng cần phải ghi lòng tạc dạ những điều này để cuộc sống sung sướng và yên bình – Duration: 15:46.

    22. Phụ nữ Việt Nam là nguồn nhân tố quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của xã hội Việt Nam.

    24. Danh ngôn Việt Nam “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn.

    36. Để nói về vẻ đẹp của người phụ nữ, có lẽ nếu vận dụng mọi ngôn ngữ trên thế giới cũng thật khó để diễn tả ….

    38. Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 và chẳng có lời chúc mừng nào có thể sánh bằng những câu danh ngôn dành cho phụ nữ nhằm tôn vinh những đóng góp và cống hiến của họ đối với gia đình và xã hội.

    40. Báo phụ nữ – Đọc báo tin tức 24h mới nhất trong ngày về phụ nữ Việt Nam và hạnh phúc gia đình,xem báo phụ nữ online để cập nhật bí quyết làm đẹp,giữ gìn hạnh phúc.

    42. 4000 năm giữ nước và dựng nước, không kém cạnh các đấng mày râu, ở bất kỳ đời nào thời nào, ở bất cứ công việc nào từ làm khoa học, sáng tác văn thơ, giết giặc, trị nước, cũng có những.

    43. 100 Bài Bolero Nhạc Vàng Xưa ĐẶC BIỆT Hay Tê Tái Nhạc Hay Việt Nam 792.

    44. Nhân tuần lễ 8/3, Tạp chí Phụ nữ xin dành thời gian chia sẻ tâm sự của người phụ nữ Việt Nam thành danh trên đất Mỹ.

    45. Cách đây từ rất nhiều năm, những người phụ nữ Việt Nam đã được dành tặng 8 chữ vàng là “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

    47. – PIGAULT LEBRUN -Cái khó khăn chính đối với người đàn bà đức hạnh không phải là chinh phục họ, mà là đưa họ vào một nơi khép kín.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Danh Ngôn Về Dũng Khí Hay Nhất !!!
  • Danh Ngôn Về Lòng Can Đảm
  • Những Câu Nói Hay Về Lòng Dũng Cảm, Danh Ngôn Hay
  • Những Câu Nói Hay Về Lòng Dạ Con Người Thâm Sâu, Khó Đoán
  • Những Câu Nói Hay Về Lòng Dạ Con Người ✅
  • Phép So Sánh Trong Danh Ngôn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Danh Y Danh Ngôn Tinh Hoa
  • Những Câu Nói Hay Về Nỗi Sợ: 100+ Danh Ngôn Hay
  • Danh Ngôn Cuộc Sống Gia Đình
  • Kho Tàng Danh Ngôn Cuộc Sống
  • 100 Câu Nói Hay Về Nghị Lực Cuộc Sống Giúp Bạn Tự Tin Vượt Lên Chính Mình
  • Phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam

    1.1. Khái quát về danh ngôn

    1.1.1. Định nghĩa danh ngôn

    1.1.2. Vấn đề phân loại các câu danh ngôn

    1.2. Khái quát về phép so sánh và cấu trúc so sánh

    1.2.1. Một số định nghĩa về “so sánh” và “phép so sánh”

    1.2.2. Phân biệt so sánh luận lí và so sánh tu từ

    1.3. Khái quát về văn hóa, sơ lược về văn hóa Việt Nam thể hiện trong danh ngôn Việt Nam.

    1.3.1. Khái quát về văn hoá

    1.3.2. Sơ lược về văn hoá Việt Nam thể hiện trong danh ngôn Việt Nam

    Chương 2. KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ PHÂN LOẠI PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN VIỆT NAM

    2.1. Số liệu khảo sát và phân loại khái quát phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam

    2.1.2. Phân loại khái quát phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam

    2.2. Các kiểu so sánh trong danh ngôn Việt Nam được phân loại theo cấu trúc

    2.2.2. Miêu tả các kiểu cấu trúc so sánh trong danh ngôn Việt Nam

    2.3. Các tiểu loại phép so sánh được phân theo nội dung ngữ nghĩa

    2.3.1. Phép so sánh có đối tượng được so sánh nói về người, đối tượng so sánh không nói về người

    2.3.2. Phép so sánh có đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh đều nói về con người

    2.3.3. Phép so sánh có đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh đều không nói về con người

    2.3.4. Phép so sánh có đối tượng được so sánh không nói về người, đối tượng so sánh nói về người

    Chương 3. PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN VIỆT NAM VỚI VIỆC LƯU GIỮ TRI THỨC VĂN HÓA

    3.1. Nhận xét chung về vai trò của phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam với việc lưu giữ tri thức văn hóa dân tộc

    3.2. Một số tri thức văn hóa dân tộc được lưu giữ qua phép so sánh trong danh ngôn việt nam

    3.2.1. Tri thức văn hóa về thực vật

    3.2.2. Tri thức văn hóa về động vật

    3.2.3. Tri thức về văn hóa ẩm thực

    3.2.4. Tri thức văn hóa về tôn giáo, tín ngưỡng

    3.2.5. Tri thức văn hóa về quan niệm tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc gia đình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 6 Bài Văn Hay Viết Về Chân Lý Sống “trên Con Đường Thành Công Không Có Dấu Chân Của Kẻ Lười Biếng” Của Nhà Văn Lỗ Tấn
  • Suy Nghĩ Về Câu Nói: “trên Con Đường Thành Công Không Có Dấu Chân Của Kẻ Lười Biếng”
  • Những Bài Thơ Hay Về Thầy Cô Và Mái Trường
  • Danh Ngôn Phụ Nữ, Hiểu Phụ Nữ Qua Câu Danh Ngôn Về Phụ Nữ
  • Danh Ngon Chuc Mung Nam Moi
  • Đề Tài Phép So Sánh Trong Danh Ngôn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Danh Ngôn Tiếng Anh Về Thời Gian
  • Những Câu Stt Hay Về Bản Thân Mình Đáng Suy Ngẫm
  • 150+ Stt Hay Về Cuộc Sống Chất Đáng Suy Ngẫm
  • Những Lời Chúc Ngày Quốc Tế Phụ Nữ Mùng 8/3 Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Stt Thất Bại, Danh Ngôn & 70 Câu Nói Hay Về Sự Thất Bại Ý Nghĩa
  • ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

    TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

    NGÔ THỊ THU HẢI

    PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN

    VIỆT NAM

    LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

    THÁI NGUYÊN, NĂM 2012

    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

    http://www.lrc-tnu.edu.vn

    ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

    TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

    NGÔ THỊ THU HẢI

    PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN

    VIỆT NAM

    Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

    Mã số: 60.22.01

    LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

    Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS – TS. Đào Thị Vân

    THÁI NGUYÊN, NĂM 2012

    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

    http://www.lrc-tnu.edu.vn

    LỜI CẢM ƠN

    Trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ, em đã được

    sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo.

    Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Boxxyno.com Đào Thị Vân Người đã hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn vừa qua.

    Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của thầy, cô

    giáo trong Viện ngôn ngữ, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn và khoa sau

    Đại học – Đại học sư phạm – Đại học Thái Nguyên.

    Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã đọc và chỉ ra

    những thành công và hạn chế của luận văn tốt nghiệp này.

    Thái Nguyên, tháng 5 năm 2012

    Học viên: Ngô Thị Thu Hải

    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

    http://www.lrc-tnu.edu.vn

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số

    liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố

    trong một công trình nghiên cứu nào khác.

    Tác giả

    Ngô Thị Thu Hải

    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

    http://www.lrc-tnu.edu.vn

    i

    MỤC LỤC

    Trang

    Trang bìa phụ

    Lời cảm ơn

    Lời cam đoan

    Mục lục …………………………………………………………………………………………………. i

    Danh mục các bảng ……………………………………………………………………………….iii

    MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………….. 1

    Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN ………………………………………………………………. 10

    1.1. Khái quát về danh ngôn …………………………………………………………………… 10

    1.1.1. Định nghĩa danh ngôn ……………………………………………………………. 10

    1.1.2. Vấn đề phân loại các câu danh ngôn………………………………………… 11

    1.2. Khái quát về phép so sánh và cấu trúc so sánh…………………………………… 12

    1.2.1. Một số định nghĩa về “so sánh” và “phép so sánh” ……………………. 12

    1.2.2. Phân biệt so sánh luận lí và so sánh tu từ …………………………………. 15

    1.2.3. Cấu trúc so sánh ……………………………………………………………………. 17

    1.3. Khái quát về văn hóa, sơ lược về văn hóa Việt Nam thể hiện trong

    danh ngôn Việt Nam. …………………………………………………………………………….. 25

    1.3.1. Khái quát về văn hoá……………………………………………………………… 25

    1.3.2. Sơ lược về văn hoá Việt Nam thể hiện trong danh ngôn Việt Nam 30

    1.4. Tiểu kết …………………………………………………………………………………………. 31

    Chƣơng 2. KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ PHÂN LOẠI PHÉP SO SÁNH

    TRONG DANH NGÔN VIỆT NAM …………………………………………………… 33

    2.1. Số liệu khảo sát và phân loại khái quát phép so sánh trong danh ngôn

    Việt Nam ……………………………………………………………………………………………… 33

    2.1.1. Số liệu khảo sát …………………………………………………………………….. 33

    2.1.2. Phân loại khái quát phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam ……… 33

    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

    http://www.lrc-tnu.edu.vn

    ii

    2.2. Các kiểu so sánh trong danh ngôn Việt Nam được phân loại theo cấu trúc … 42

    2.2.1. Nhận xét chung …………………………………………………………………….. 42

    2.2.2. Miêu tả các kiểu cấu trúc so sánh trong danh ngôn Việt Nam …….. 43

    2.3. Các tiểu loại phép so sánh được phân theo nội dung ngữ nghĩa …………… 80

    2.3.1. Phép so sánh có đối tượng được so sánh nói về người, đối tượng

    so sánh không nói về người …………………………………………………………….. 80

    2.3.2. Phép so sánh có đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh đều

    nói về con người…………………………………………………………………………….. 82

    2.3.3. Phép so sánh có đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh

    đều không nói về con người …………………………………………………………….. 83

    2.3.4. Phép so sánh có đối tượng được so sánh không nói về người, đối

    tượng so sánh nói về người ……………………………………………………………… 84

    2.4. Tiểu kết …………………………………………………………………………………………. 85

    Chƣơng 3. PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN VIỆT NAM VỚI

    VIỆC LƢU GIỮ TRI THỨC VĂN HÓA ……………………………………………. 87

    3.1. Nhận xét chung về vai trò của phép so sánh trong danh ngôn Việt

    Nam với việc lưu giữ tri thức văn hóa dân tộc ………………………………………… 87

    3.2. Một số tri thức văn hóa dân tộc được lưu giữ qua phép so sánh trong

    danh ngôn việt nam……………………………………………………………………………….. 88

    3.2.1. Tri thức văn hóa về thực vật …………………………………………………… 88

    3.2.2. Tri thức văn hóa về động vật ………………………………………………….. 94

    3.2.3. Tri thức về văn hóa ẩm thực ………………………………………………… 101

    3.2.4. Tri thức văn hóa về tôn giáo, tín ngưỡng ………………………………… 103

    3.2.5. Tri thức văn hóa về quan niệm tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc

    gia đình……………………………………………………………………………………….. 105

    KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………… 114

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

    http://www.lrc-tnu.edu.vn

    iii

    DANH MỤC CÁC BẢNG

    Trang

    Bảng 2.1: Bảng tổng kết so sánh luận lí và so sánh tu từ trong danh ngôn

    Việt Nam …………………………………………………………………………….. 35

    Bảng 2.2: Bảng tổng kết các tiểu loại so sánh đồng nhất trong danh ngôn

    Việt Nam …………………………………………………………………………….. 38

    Bảng 2.3: Bảng tổng kết các tiểu loại so sánh dị biệt trong danh ngôn Việt Nam …. 41

    Bảng 2.4: Bảng tổng kết các kiểu cấu trúc so sánh trong danh ngôn Việt Nam ……. 43

    Bảng 2.5: Bảng tổng kết các tiểu loại thành tố A trong phép so sánh sử

    dụng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 64

    Bảng 2.6: Bảng tổng kết các tiểu loại thành tố A trong cấu trúc so sánh sử

    dụng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 64

    Bảng 2.7: Bảng tổng kết các tiểu loại thành tố t trong phép so sánh sử

    dụng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 69

    Bảng 2.8: Bảng tổng kết từ ngữ chỉ phương diện so sánh trong danh ngôn

    Việt Nam …………………………………………………………………………….. 69

    Bảng 2.9: Bảng tổng kết các từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh trong danh

    ngôn Việt Nam…………………………………………………………………….. 70

    Bảng 2.10: Bảng tổng kết các tiểu loại của thành tố B trong phép so sánh

    dùng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 79

    Bảng 2.11: Bảng tổng kết các tiểu loại của thành tố B trong phép so sánh

    dùng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 79

    Bảng 2.12: Bảng tổng kết các tiểu loại so sánh trong danh ngôn Việt Nam

    được phân loại theo nội dung A và B. …………………………………….. 85

    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

    http://www.lrc-tnu.edu.vn

    1

    MỞ ĐẦU

    1. Lí do chọn đề tài

    1.1. So sánh là một thao tác được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong cuộc

    sống hàng ngày nói chung, trong văn chương nghệ thuật nói riêng. Để nhận thức

    thế giới khách quan, để nắm được bản chất quy luật của các sự vật hiện tượng

    muôn màu muôn vẻ của cuộc sống, con người thường sử dụng thao tác này.

    Trong sáng tạo nghệ thuật, so sánh là thủ pháp hết sức quen thuộc,

    được sử dụng thường xuyên. Đây là một biện pháp nghệ thuật độc đáo, đặc

    sắc. Nhờ phép so sánh, người viết có thể gợi ra những hình ảnh cụ thể, những

    cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh, đẹp đẽ cho người đọc, người nghe. So sánh

    được coi là một trong những phương thức tạo hình gợi cảm hiệu quả nhất, có

    tác dụng lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng

    tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét đánh giá của con người. Mặt khác nó

    còn làm cho tâm hồn và trí tuệ của con người thêm phong phú, giúp con

    người cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế hơn. Nghiên cứu về

    phương thức so sánh sẽ giúp chúng ta có nhận thức sâu sắc hơn về vai trò và

    giá trị của biện pháp này đối với việc cấu thành và biểu đạt ngôn ngữ nói

    chung, văn học nghệ thuật nói riêng.

    1.2. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân loại được lưu giữ dưới

    nhiều hình thức. Một trong số những hình thức ấy là các lời danh ngôn. Theo

    Từ điển tiếng Việt, (Nxb Từ điển bách khoa, Viện Ngôn ngữ học, tái bản năm

    2010 ; Hoàng Phê chủ biên) thì “Danh ngôn là những lời nói hay được người

    đời truyền tụng” , có tác giả hoặc

    khuyết danh. Tuy nhiên, hiếm có ai đi sâu vào tìm tòi nghiên cứu cách thức sử

    dụng từ ngữ, giá trị của các biện pháp tu từ mà cụ thể là phép so sánh trong

    danh ngôn. Đây là một vấn đề khá mới mẻ đối với nhiều bạn đọc. Việc lựa

    chọn nghiên cứu “phép so sánh trong danh ngôn của Việt Nam” là một việc

    làm cần thiết, phù hợp với nhu cầu hiểu biết, cần khám phá sâu hơn về danh

    ngôn của độc giả.

    Vì những lí do trên nên trong luận văn này, chúng tôi đã mạnh dạn tìm

    hiểu về: Phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam.

    2. Lịch sử vấn đề

    2.1. Tình hình nghiên cứu danh ngôn nói chung và nghiên cứu danh

    ngôn Việt Nam nói riêng

    2.1.1. Tình hình nghiên cứu danh ngôn nói chung

    Với những bài học sâu sắc và ý nghĩa thiết thực, đã từ lâu danh ngôn

    trở thành món ăn mang đến cho nhân loại những hương vị độc đáo, mới mẻ.

    Mỗi lời danh ngôn vừa như một trải nghiệm, lại vừa như một phát hiện lý thú,

    sáng tạo của con người về công việc, kinh nghiệm sống, quan niệm tình yêu,

    hôn nhân, hạnh phúc, gia đình… Hiện nay, có không ít những công trình biên

    soạn, sưu tầm các câu danh ngôn: Danh ngôn thế giới đông tây kim cổ (Biên

    soạn, biên dịch, sưu tầm, khảo cứu: Trần Tất Lạnh, Hoàng Điệp, Hà Quang

    Năng, Nxb Văn hóa thông tin, 2004); Danh ngôn thế giới (Biên soạn: Ngọc

    Khuê, Nxb Trẻ, 2001); 3500 câu danh ngôn nổi tiếng thế giới (Trần Mạnh

    Thường tuyển chọn, Nxb Văn hóa thông tin, 1996); Danh ngôn cổ điển; Danh

    ngôn hiện đại (Tri thức Việt biên soạn, Nxb Lao động, 2010); Sổ tay danh

    ngôn (Nguyễn Huy Giới sưu tầm, biên soạn, Nxb Lao động Xã hội, 2006);

    Danh ngôn Trung Hoa (Nguyễn Hữu Trọng biên dịch, Nxb Đồng Nai, 1996);

    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

    http://www.lrc-tnu.edu.vn

    3

    Danh ngôn tình yêu (Vũ Tiến Quỳnh tuyển chọn, giới thiệu, Nxb Văn nghệ

    Thành phố Hồ Chí Minh, 2000); Tây phương xử thế (Kiều Văn biên soạn Tái bản lần thứ 1, có sửa chữa, bổ sung, Nxb. Đồng Nai, 2003); Danh ngôn

    thế giới tình bạn – tình yêu (Trường Tân, Trường Khang sưu tầm, tuyển chọn,

    Nxb Văn hoá Thông tin, 2004)…

    Có thể nói, các công trình nghiên cứu đã sưu tầm, biên soạn và khảo

    cứu một số lượng khổng lồ lời danh ngôn của nhân loại, được đúc rút từ nhiều

    nguồn tư liệu khác nhau trên thế giới. Hệ thống những lời danh ngôn ấy dung

    nạp từ những câu nói nổi tiếng của các nhân vật tiêu biểu trong lịch sử loài

    người cho đến những câu thành ngữ, tục ngữ, ngạn ngữ, cách ngôn, châm

    thành nguồn tư liệu quý báu và vô giá cho hậu thế.

    2.1.2. Tình hình nghiên cứu danh ngôn Việt Nam

    Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam là một quốc gia có

    nền văn hóa, văn học mang đậm dấu ấn dân tộc. Có thể nói những lời danh

    ngôn Việt Nam chính là cái hồn, là thần thái của con người nơi đây, bởi

    chúng được hoài thai, sinh ra và nuôi dưỡng trong lòng dải đất hình chữ S.

    Danh ngôn Việt Nam không chỉ là những câu nói hay của các danh nhân

    người Việt, mà còn là các câu tục ngữ, ca dao sâu sắc do cha ông từ xưa

    truyền đời để lại. Biên soạn sưu tầm các lời danh ngôn này có các công trình

    tiêu biểu: Từ điển danh ngôn: Thế giới và Việt Nam (Nguyễn Nhật Hoài, Vũ

    Tiến Quỳnh, Nxb Phương Đông, 2006); Danh ngôn Hồ Chí Minh (Sưu tầm và

    biên soạn: Trí Thắng, Kim Dung, Nxb Văn hoá Thông tin, 2000); Danh ngôn

    Đông – Tây: Pháp – Việt (Biên soạn: Vương Trung Hiếu, Trần Đức Tuấn, Nxb

    Đà Nẵng, 1994); Tục ngữ Anh – Pháp – Việt (Lê Ngọc Tú, Nxb Khoa học xã

    hội, 1996); Danh ngôn tình yêu hôn nhân gia đình: Việt – Anh – Pháp (Vương

    Trung Hiếu, Nxb Đồng Nai, 1998); Lời non nước: Danh ngôn Chủ tịch Hồ

    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

    http://www.lrc-tnu.edu.vn

    4

    Chí Minh (Đào Thản sưu tầm và chú dẫn, Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 2005);

    Danh ngôn thế giới và Việt Nam (Huỳnh Hữu Lộc biên soạn, Nxb Thuận Hóa,

    2005); 365câu danh ngôn cho cuộc sống hàng ngày (Việt Phương biên soạn,

    Nxb Thanh niên, 2010); Danh ngôn làm giàu, Đức Uy biên soạn, Nxb Thanh

    niên, 2008)…

    Nhìn chung, các công trình trên đã sưu tầm và biên soạn một số lượng

    tương đối các lời danh ngôn Việt Nam trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống:

    kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, gia đình, ứng xử, quan niệm về hôn

    nhân, công việc, xử thế… Dưới ảnh hưởng của nền văn hóa dân tộc, các lời

    danh ngôn đều mang đậm chất Việt Nam, những hình ảnh, từ ngữ, cách thức

    diễn đạt… đều lưu giữ dấu ấn văn hóa Việt Nam.

    2.2. Tình hình nghiên cứu danh ngôn Việt Nam về phương diện ngôn ngữ

    2.2.1. Nghiên cứu về phương diện ngôn ngữ nói chung

    Trên thực tế, có rất nhiều tác giả biên soạn, sưu tầm các lời danh ngôn.

    Tuy nhiên, nghiên cứu sâu về danh ngôn trên phương diện ngôn ngữ thì có rất

    ít công trình. Tiêu biểu hơn cả trong số đó là bài viết Vận dụng tục ngữ, thành

    ngữ và danh ngôn trên báo chí (Nguyễn Đức Dân, tạp chí ngôn ngữ, số 10,

    Tr.1-7, 2004).

    Trong bài viết này, tác giả có đề cập tới danh ngôn trong việc vận dụng

    danh ngôn trên báo chí. Song, để nghiên cứu sâu về danh ngôn trên phương

    diện ngôn ngữ, hình thức biểu đạt, các biện pháp tu từ… thì chưa có tác giả

    nào quan tâm đến.

    2.2.2. Nghiên cứu về phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam.

    Trong nghiên cứu văn học, một trong các phương thức biểu hiện của

    ngôn từ nghệ thuật ở tác phẩm văn chương là phương thức so sánh. Nhìn từ

    góc độ phong cách học, so sánh là một phương thức biểu đạt hình tượng của

    mọi ngôn ngữ. Vì thế đây cũng là một trong những vấn đề được các nhà ngôn

    ngữ học trên thế giới quan tâm nghiên cứu.

    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

    http://www.lrc-tnu.edu.vn

    5

    Trong lịch sử hình thành và phát triển của nền văn học thế giới, từ

    những buổi đầu, phương thức so sánh đã được nhà triết học lỗi lạc Hy Lạp

    Arisstole quan tâm. Trong cuốn Thi học, ông đã đề cập tới so sánh. Arisstole

    xem đây là một trong những biện pháp được sử dụng rộng rãi trong văn

    chương, bởi nó mang đến giá trị biểu cảm và tính thẩm mĩ cao.

    Với nền văn học Trung Hoa cổ đại, phép so sánh được thể hiện qua

    những lời bình giải về hai thể tỉ và hứng trong thi ca dân gian Trung Quốc. Tỉ

    gió trong văn học.

    Vấn đề này ở nước ta cũng sớm được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học

    đề cập đến. Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX khi xuất hiện những

    công trình nghiên cứu tiếng Việt thì trong đó phương thức so sánh cũng được

    miêu tả trong giáo trình bài giảng Phong cách học. Nghiên cứu về phép so

    sánh có thể kể đến các tác giả tiêu biểu như: Đinh Trọng Lạc với Giáo trình

    Việt ngữ (Nxb Giáo dục, H. 1964), Phong cách học tiếng Việt (Nxb Giáo dục,

    H. 1998), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (Nxb Giáo dục, H.

    2005); Cù Đình Tú với cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt

    (Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H. 1973); Nguyễn Thế Lịch với

    Từ so sánh đến ẩn dụ (T/c Ngôn ngữ, số 3, 1991); Hữu Đạt với Phong cách

    học Tiếng Việt hiện đại (Nxb ĐHQGHN, 2001); Hoàng Kim Ngọc với cuốn

    So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình (Nxb KHXH, 2009)…

    Ở những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đi đến sự hình thành

    khái niệm, phân loại và tìm ra giá trị của phương thức so sánh. Đây là cơ sở

    lý thuyết vô cùng quý báu giúp chúng ta tham khảo trước khi đi sâu nghiên

    cứu, khám phá về phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam.

    2.3. Tổng kết về tình hình nghiên cứu danh ngôn Việt Nam

    Kết quả khảo sát tư liệu cho thấy, đã có nhiều công trình sưu tầm và

    biên soạn danh ngôn Việt Nam, danh ngôn thế giới. Nhưng để đi sâu và tìm

    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

    http://www.lrc-tnu.edu.vn

    6

    hiểu đầy đủ, toàn vẹn về danh ngôn trên phương diện ngôn ngữ thì hiếm có

    hoặc có rất ít công trình. Đặc biệt, tìm hiểu về phép so sánh trong danh ngôn

    Việt Nam thì chưa thấy có tài liệu nghiên cứu riêng nào. Bởi vậy, trong

    khuôn khổ luận văn này, bước đầu chúng tôi đi tìm hiểu về phép so sánh trong

    danh ngôn Việt Nam, từ đó thấy được giá trị của chúng trong sáng tạo nghệ

    thuật truyền thống.

    3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

    3.1. Đối tượng nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phép so sánh trong danh ngôn

    Việt Nam.

    3.2. Phạm vi nghiên cứu

    – Về đối tượng khảo sát: Đối tượng khảo sát của luận văn là các lời

    danh ngôn Việt Nam trong một số công trình sau:

    + Danh ngôn Hồ Chí Minh (Sưu tầm và biên soạn: Trí Thắng, Kim

    Dung, Nxb Văn hoá Thông tin, 2000);

    + Danh ngôn thế giới và Việt Nam (Huỳnh Hữu Lộc biên soạn, Nxb

    Thuận Hóa, 2005);

    + 365 câu danh ngôn cho cuộc sống hàng ngày (Việt Phương biên

    soạn, Nxb Thanh niên, 2010);

    + Danh ngôn làm giàu, Đức Uy biên soạn, Nxb Thanh niên, 2008);

    + Danh ngôn thế giới Đông Tây kim cổ (Biên soạn, biên dịch, sưu tầm,

    khảo cứu: Trần Tất Lạnh, Hoàng Điệp, Hà Quang Năng, Nxb Văn hóa thông

    tin, 2004 )

    + 7500 câu danh ngôn (Nhiều tác giả biên soạn, Nxb Thanh niên, 2010);

    + 3600 câu danh ngôn (Mai Ngọc Lan biên soạn, Nxb Văn hóa Thông

    tin, 2010);

    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

    http://www.lrc-tnu.edu.vn

    7

    + Danh ngôn hôn nhân và gia đình (Việt Hương sưu tầm, Nxb Thanh

    Niên, 2005)

    + Danh ngôn thế giới (Việt Hùng sưu tầm, Nxb Văn hóa Thông tin, 2005).

    – Về nội dung nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu phép so sánh trong các

    câu danh ngôn của người Việt về hai phương diện sau:

    (1) Nghiên cứu đặc điểm của phép so sánh được sử dụng trong các câu

    danh ngôn của người Việt: (Cấu trúc, ngữ nghĩa; Phương thức so sánh; Hình

    thức so sánh…);

    (2) Nghiên cứu phép so sánh trong các câu danh ngôn của người Việt

    với vai trò lưu giữ tri thức văn hoá dân tộc.

    4. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu

    4.1. Mục đích nghiên cứu:

    4.1.1. Về mặt lí luận: Nghiên cứu phép so sánh trong danh ngôn của

    Việt Nam, người viết nhằm tìm hiểu đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của phép so

    sánh và phân loại phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam, đồng thời qua đó

    thấy được vai trò lưu giữ tri thức văn hóa dân tộc của phép so sánh trong danh

    ngôn người Việt.

    4.1.2. Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu phép so sánh trong danh ngôn Việt

    Nam, người viết hi vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham

    khảo cho những ai muốn nghiên cứu danh ngôn về phương diện ngôn ngữ nói

    chung và phép so sánh nói riêng.

    4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

    Để đạt mục tiêu nói trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ chính sau đây:

    căn cứ lí luận cho đề tài;

    2. Thống kê và phân loại đối tượng nghiên cứu theo các tiêu chí đã

    định trước;

    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

    http://www.lrc-tnu.edu.vn

    8

    3. Miêu tả, phân tích đối tượng nghiên cứu đã phân loại;

    4. Tổng kết các kết quả đã nghiên cứu được và rút ra kết luận.

    5. Các phƣơng pháp nghiên cứu

    Nghiên cứu đề tài này, luận văn sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên

    cứu chủ yếu sau đây:

    5.1. Phương pháp thống kê, phân loại

    Các phương pháp nghiên cứu này được dùng để thống kê và phân loại

    đối tượng nghiên cứu, cụ thể ở đây là thông kê và phân loại những trường hợp

    sử dụng phép so sánh trong các câu danh ngôn của người Việt trong nguồn tư

    liệu đã chọn.

    5.2. Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp

    Các phương pháp nghiên cứu này được dùng để phân tích đối tượng

    nghiên cứu và tổng kết các kết quả nghiên cứu.

    5.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu

    Phương pháp nghiên cứu này dùng để so sánh các câu danh ngôn về

    một số phương diện cụ thể khi cần.

    6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

    – Về mặt lí luận:

    Đây là lần đầu tiên có một đề tài nghiên cứu tương đối đầy đủ và sâu

    sắc về phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam về phương diện cấu trúc và

    ngữ nghĩa. Nếu đạt được mục tiêu đề ra, luận văn sẽ góp phần làm rõ thêm về

    vai trò của phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam nói riêng, trong văn học

    nói chung.

    – Về mặt thực tiễn

    Như đã nói ở phần mục đích của đề tài, luận văn sẽ là tài liệu tham

    khảo cho những ai muốn học tập và nghiên cứu về phép so sánh sử dụng

    trong danh ngôn.

    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

    http://www.lrc-tnu.edu.vn

    9

    7. Cấu trúc của luận văn

    Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, luận văn

    gồm 3 chương:

    Chƣơng 1: Cơ sở lí luận

    Chƣơng 2: Kết quả khảo sát và phân loại phép so sánh trong danh ngôn

    Việt Nam

    Chƣơng 3: Phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam với việc lưu giữ tri

    thức văn hóa.

    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

    http://www.lrc-tnu.edu.vn

    10

    Chƣơng 1

    CƠ SỞ LÍ LUẬN

    1.1. Khái quát về danh ngôn

    1.1.1. Định nghĩa danh ngôn

    1.1.1.1. Định nghĩa danh ngôn trong từ điển

    Theo Từ điển tiếng Việt (Nxb Từ điển bách khoa, Viện Ngôn ngữ học,

    Hoàng Phê chủ biên ; H. 2010 ) thì “Danh ngôn là những lời nói hay được

    người đời truyền tụng” .

    Cuốn Đại từ điển tiếng Việt (Nxb Đại học quốc gia TPHCM; Nguyễn

    Như Ý chủ biên, năm 2009) đưa ra định nghĩa về danh ngôn như sau:

    “Danh ngôn là câu nói ngắn gọn, sâu sắc của một nhà tư tưởng, nhà

    hoạt động chính trị xã hội hay nhà khoa học, văn nghệ sĩ nổi tiếng về con

    người và cuộc sống” ;

    Theo Từ điển tiếng Việt dành cho học sinh (Nxb Văn hóa Thông tin;

    Song Dương, Đặng Thông chủ biên; H. 2010) thì so sánh là “xem xét để tìm

    ra những điểm giống, tương tự hoặc khác biệt về mặt số lượng, kích thước,

    phẩm chất” .

    Ở cuốn giáo trình này, ngoài nghiên cứu những biện pháp tu từ khác,

    tác giả còn bàn về hình thức biểu hiện của biện pháp tu từ so sánh. Có thể nói,

    đây chính là một trong những giáo trình đầu tiên của môn Phong cách học ở

    Việt Nam nghiên cứu về các biện pháp tu từ nói chung và biện pháp tu từ so

    sánh nói riêng.

    b) Định nghĩa của tác giả Đinh Trọng Lạc và tác giả Nguyễn Thái Hòa:

    Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, hai tác giả này cũng đưa ra định

    nghĩa về so sánh:

    ” So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu

    với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi

    ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc,

    người nghe” [17,190].

    Như vậy, trong định nghĩa trên, hai tác giả không chỉ đưa ra quan niệm về

    so sánh tu từ mà còn đề cập đến hiệu quả nghệ thuật khi sử dụng phép so sánh.

    c) Định nghĩa của tác giả Nguyễn Thế Lịch:

    Trong bài viết “Các yếu tố và cấu trúc của so sánh nghệ thuật tiếng

    Việt” (đăng trên Số phụ, Tạp chí Ngôn ngữ số 1, 1988), tác giả đã đưa ra định

    nghĩa về so sánh như sau:

    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

    http://www.lrc-tnu.edu.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Ngắn Gọn Và Xúc Tích Nhất
  • Những Câu Nói Vui Về Cuộc Sống Tình Yêu Hài Hước Bá Đạo
  • Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Cho Bạn Trai Cũ.
  • Những Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Em Gái Hay, Ý Nghĩa Nhất
  • 21 Câu Nói Kinh Điển Chỉ Có Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa (Phần 3)
  • Châm Ngôn Gđpt Việt Nam : Bi

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Của Bts ❤️ ❤️
  • Danh Ngôn Về Chờ Đợi
  • 65+ Câu Nói Về Duyên Số, Duyên Nợ, Sự Tình Cờ Trong Cuộc Sống
  • Danh Ngôn Về Danh Dự Và Dối Trá
  • Những Câu Nói Tỏ Tình Dễ Thương
  • do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548 )

    I. Chuẩn bị :

    Một vài mẫu văn bản hành chánh của GĐPT như : thư mời dự chu niên, đơn xin gia nhập, chứng chỉ trúng cách,…

    II. Giờ học :

    Cuộc đời con người có thể ví dụ như con thuyền ở giữa biển mênh mông, không biết nơi nào là bến, cần có la bàn định hướng. Với GĐPT, la bàn đó chính là châm ngôn Bi – Trí – Dũng. Em đã từng thấy các từ này ghi liền nhau trong văn bản nào ? ( Giới thiệu các mẩu văn bản hành chánh có ghi châm ngôn ).

    – Châm ngôn của GĐPT là gì ?

    – Thế nào là Bi ? Trí ? Dũng ?

    – Vì sao Bi, Trí , Dũng phải có mặt đầy đủ ở mỗi đoàn sinh GĐPT ?

    – Em thực hành châm ngôn Bi – Trí – Dũng ra sao ?

    Châm ngôn của GĐPT là Bi – Trí – Dũng

    Bi : trong nghĩa từ bi ( cho vui cứu khổ ).

    Học theo hạnh của Phật và chư vị Bồ tát, người Phật tử không thể thản nhiên trước nỗi khổ của người khác kể cả loài vật. Cho dù với hành động nhỏ nhặt mà diệt trừ được khổ đau, đem an vui đến cho người và vật ta quyết không từ chối.

    Trí : Trong nghĩa trí tuệ ( hiểu biết sáng suốt không bị vô minh che lấp ). Người Phật tử không cam chịu dốt, sống trong u mê mà phải luôn tìm tòi học hỏi đúng chánh pháp, chân lý. Ngoài ra còn phải giúp mọi người được học hỏi và hiểu biết như mình.

    Dũng : Trong nghĩa tinh tấn, dũng mãnh ( không yếu đối, ương hèn, biếng nhát ). Là đoàn sinh GĐPT, em phải luôn cố gắng, kiên trì, vượt mọi thử thách, chướng ngại để tiến đến giác ngộ, phải dám nghĩ, dám làm.

    – Bi – Trí – Dũng phải phối hợp, hỗ trợ, nương vào nhau. Bi thiếu Trí, Dũng cũng thành nhu nhược, sai lầm. Trí, Dũng không Bi sẽ luôn nguy hiểm và gây khổ cho nhau. Có Bi, Trí mà không Dũng thì Bi, Trí ấy vô dụng. Dũng không Bi, Trí sẽ hành động sai lầm, độc ác,…

    – Em thương yêu tất cả mọi người, mọi loài, luôn quan tâm, giúp đỡ người khác vượt khó, vượt khổ, tìm được sự an lạc.

    – Em cố gắng trao dồi kiến thức, học hỏi giáo pháp để thấy rõ chân lý.

    – Em cố gắng tu tập, không ngại khó, ngại khổ trên đường thực hiện lý tưởng giác ngộ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Sưu Tập Những Câu Nói Hay Về Bóng Đá Độc Nhất Vô Nhị
  • Danh Ngôn Tiếng Anh Ý Nghĩa Về Biển Học Tiếng Anh Văn Phòng Cùng Geo
  • Tuyển Chọn Những Bài Thơ 6 Chữ Hay Nhất,dạt Dào Cảm Xúc
  • Thải Tập Vạn Giới Chương 430: 6 Chữ Châm Ngôn
  • 15 Câu Châm Ngôn Xử Thế Kinh Điển Nhất Định Phải Biết
  • Châm Ngôn Gđpt Việt Nam : Bi – Trí – Dũng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bi – Trí – Dũng Trong Cuộc Sống
  • Những Câu Châm Ngôn Trong Tiếng Đức
  • 100 Câu Danh Ngôn Hay Trong Tiếng Đức
  • Học Tiếng Đức Giao Tiếp Với Một Số Câu Danh Ngôn
  • Sức Mạnh Của Mục Tiêu
  •  

    ( Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Cánh Mềm

    do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548 )

      

    I. Chuẩn bị :

    Một vài mẫu văn bản hành chánh của GĐPT như : thư mời dự chu niên, đơn xin gia nhập, chứng chỉ trúng cách,…

     

    II. Giờ học :

    1.  Giới thiệu :

    Cuộc đời con người có thể ví dụ như con thuyền ở giữa biển mênh mông, không biết nơi nào là bến, cần có la bàn định hướng. Với GĐPT, la bàn đó chính là châm ngôn Bi – Trí – Dũng. Em đã từng thấy các từ này ghi liền nhau trong văn bản nào ? ( Giới thiệu các mẩu văn bản hành chánh có ghi châm ngôn ).

    2.  Em suy nghĩ :

    –   Châm ngôn của GĐPT là gì ?

    –   Thế nào là Bi ? Trí ? Dũng ?

    –   Vì sao Bi, Trí , Dũng phải có mặt đầy đủ ở mỗi đoàn sinh GĐPT ?

    –   Em thực hành châm ngôn Bi – Trí – Dũng ra sao ?

    3.  Em cần nhớ :

    Châm ngôn của GĐPT là Bi – Trí – Dũng

    –   Bi : trong nghĩa từ bi ( cho vui cứu khổ ).

    Học theo hạnh của Phật và chư vị Bồ tát, người Phật tử không thể thản nhiên trước nỗi khổ của người khác kể cả loài vật. Cho dù với hành động nhỏ nhặt mà diệt trừ được khổ đau, đem an vui đến cho người và vật ta quyết không từ chối.

    –   Trí : Trong nghĩa trí tuệ ( hiểu biết sáng suốt không bị vô minh che lấp ). Người Phật tử không cam chịu dốt, sống trong u mê mà phải luôn tìm tòi học hỏi đúng chánh pháp, chân lý. Ngoài ra còn phải giúp mọi người được học hỏi và hiểu biết như mình.

    –  Dũng : Trong nghĩa tinh tấn, dũng mãnh ( không yếu đối, ương hèn, biếng nhát ). Là đoàn sinh GĐPT, em phải luôn cố gắng, kiên trì, vượt mọi thử thách, chướng ngại để tiến đến giác ngộ, phải dám nghĩ, dám làm.

    –   Bi – Trí – Dũng phải phối hợp, hỗ trợ, nương vào nhau. Bi thiếu Trí, Dũng cũng thành nhu nhược, sai lầm. Trí, Dũng không Bi sẽ luôn nguy hiểm và gây khổ cho nhau. Có Bi, Trí mà không Dũng thì Bi, Trí ấy vô dụng. Dũng không Bi, Trí sẽ hành động sai lầm, độc ác,…

    4.  Em thực hành :

    –   Em thương yêu tất cả mọi người, mọi loài, luôn quan tâm, giúp đỡ người khác vượt khó, vượt khổ, tìm được sự an lạc.

    –   Em cố gắng trao dồi kiến thức, học hỏi giáo pháp để thấy rõ chân lý.

    –   Em cố gắng tu tập, không ngại khó, ngại khổ trên đường thực hiện lý tưởng giác ngộ.

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Châm Ngôn : Bi – Trí – Dũng
  • Những Câu Nói Vui Về Tết ❤️ Mà Ít Ai Biết ❤️
  • Danh Tiếng Tốt (Châm Ngôn 22:1
  • Châm Ngôn 3:5, 6​—“Chớ Nương Cậy Nơi Sự Sáng Suốt Của Con”
  • Chú Giải Châm Ngôn 30:01
  • Những Câu Danh Ngôn 20/11 Ý Nghĩa Trong Ngày Nhà Giáo Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 20 Câu Nói Hay Muôn Đời Giá Trị Của Các Vĩ Nhân Thế Giới
  • 49+ Câu Danh Ngôn Cuộc Sống Hay Nhất Mọi Thời Đại
  • Danh Ngôn Tiếng Anh Về Thành Công
  • Danh Ngôn Tiếng Anh Hay Về Thương Mại Buôn Bán
  • Tuyển Tập Những Danh Ngôn Về Cái Chết Hay Nhất !!!
  • Hình ảnh người thầy cô thầm lặng đưa những chuyến đò theo năm tháng đến bến bờ tri thức là hình ảnh đẹp, không bao giờ quên. Nhân ngày 20/11 sắp đến gần, đây chính là dịp để các thế hệ học sinh, sinh viên bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến những người đã dạy dỗ, chỉ bảo mình.

    1. Thầy cô là ai? Đó không phải là những người sẽ dạy dỗ mà chính là người truyền cảm hứng để sinh viên có thể nỗ lực hết mình khám phá những điều chưa biết – Paulo Coelho, The Witch of Portobello.

    Những câu danh ngôn 20/11 ý nghĩa gửi tặng các thầy cô giáo. Ảnh: Phunutoday

    2. Một người thầy bình thường sẽ chỉ nói. Một người thầy giỏi sẽ giải thích. Một người thầy xuất sắc sẽ chứng minh điều mình nói còn người thầy vĩ đại sẽ là người truyền cảm hứng – William Arthur Ward.

    3. Thầy cô là người truyền cảm hứng, là người làm ta vui và dạy ta rất nhiều điều mà ta chưa biết – Nicholas Sparks, Dear John.

    4. Khi được làm học trò của một giáo viên tuyệt vời, ta sẽ học được nhiều điều nhờ sự quan tâm và chỉ bảo tận tình của thầy cô – William Glasser.

    5. Không thể trồng cây ở những nơi thiếu ánh sáng và cũng không thể nuôi dạy trẻ nếu thiếu sự nhiệt tình – Carl Jung.

    7. Với nghề dạy học không thể nhìn thấy kết quả của một ngày làm việc. Kết quả ấy vô hình và có lẽ vẫn còn đó đến 20 năm sau – Jacques Bazun.

    8. Bất cứ ai khi nhớ đến hồi đi học đều nhớ đến các thầy cô giáo chứ không phải là các phương pháp hãy kỹ thuật giảng dạy. Thầy cô chính là trái tim của hệ thống giáo dục – Sidney Hook.

    9. Một thầy giáo tuyệt vời cũng chính là một nghệ sĩ tuyệt vời và trên thế giới chỉ có số ít những người như vậy. Dạy học là nghệ thuật vĩ đại nhất vì đó là sự kết hợp giữa lý trí và tinh thần – John Steinbeck.

    10. Mỗi đứa trẻ đều cần có một người lớn dạy dỗ và kèm cặp. Đó không nhất thiết phải là cha mẹ hay anh chị em – những người có chung huyết thống mà đó có thể là một người bạn, một người hàng xóm, thường thì đó là thầy, cô giáo – Joe Manchin.

    11. Những người nuôi dạy trẻ thậm chí còn được tôn vinh hơn bậc cha mẹ bởi những hy sinh của họ cho thế hệ tương lai – Aristotle.

    12. Khi chúng ta lìa cõi đời này thì chỉ có 5, 6 người nhớ đến chúng ta. Nhưng các thầy, cô giáo thì có cả hàng ngàn người nhớ tới họ trong suốt phần còn lại của cuộc đời – Andy Rooney.

    13. Một giáo viên giỏi là người biết khơi gợi hy vọng, thổi bùng trí tưởng tượng và thấm nhuần niềm đam mê học hỏi – Brad Henry.

    Tôn vinh những nhà giáo Việt Nam bằng những câu danh ngôn 20/11 ý nghĩa. Ảnh: Phunutoday

    14. Những thầy cô giỏi nhất dạy bằng trái tim, chứ không từ sách vở – Không rõ tác giả.

    15. Nghệ thuật dạy học chính là nghệ thuật giúp ai đó khám phá – Mark van Doren.

    16. Một giáo viên bình thường giải thích các vấn đề phức tạp còn một giáo viên tài năng lại hé lộ những điều đơn giản – Robert Brault.

    17. Một người thầy giỏi giống như ngọn nến – nó đốt cháy chính mình để soi sáng đường cho những người khác – Không rõ tác giả.

    19. Giáo viên là những người truyền cảm hứng, họ biết rằng việc giảng dạy cũng giống như làm vườn, và sẽ không thể hái được những bông hoa nếu không chạm vào gai – Không rõ tác giả.

    20. Dạy học không phải là làm đầy một thùng nước mà là thắp sáng một ngọn lửa – William Butler Yeats.

    21. Nghề giáo là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý.

    22. Dưới ánh mặt trời không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học – Comenxki.

    23. Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác – Usinxki.

    24. Nếu người kỹ sư vui mừng nhìn thấy cây cầu mà mình vừa mới xây xong, người nông dân mỉm cười nhìn đồng lúa mình vừa mới trồng, thì người giáo viên vui sướng khi nhìn thấy học sinh đang trưởng thành, lớn lên – Gôlôbôlin.

    25. Thầy cô chính là người cầm tay, mở ra trí óc và chạm đến trái tim – Không rõ tác giả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Khi Chia Tay Người Yêu Xúc Động Nhất
  • Học Tiếng Anh Qua Các Câu Danh Ngôn Hay Về Tình Bạn Học Tiếng Anh Văn Phòng Cùng Geo
  • Những Câu Nói Hay Và Ý Nghĩa Về Tình Bạn Bằng Tiếng Anh
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Ghen Tị: 30+ Danh Ngôn Hay
  • Những Câu Status Hay Và Ý Nghĩa Cho Mùa Đông
  • Danh Ngôn Hán Việt Hay

    --- Bài mới hơn ---

  • Danh Ngôn Hay Về Hoa
  • Danh Ngôn Về Lòng Tự Trọng
  • Những Câu Nói Hay Về Lòng Biết Ơn Cha Mẹ, Thầy Cô Sâu Sắc
  • Danh Ngôn Lòng Vị Tha
  • Châm Ngôn Tiếng Anh Về Lòng Vị Tha
  • 2. Những Câu Nói Vừa Cay Vừa Thấm Về Cuộc Đời – Càng Nghe Càng Thấm

    4. Sự lên gân ra vẻ trước kia về cái gọi là giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt bằng cách hạn chế dùng từ Hán – Việt ….

    11. Sau khi nhận định: quãng trên dưới 70-80 % từ vựng tiếng Việt có thành tố Hán-Việt, ông cho rằng “nếu vì một lý do nào đó mà để ngôn ngữ nước mình bị một ngôn….

    12. Mục Lục:” Stt và những câu nói hay về nụ cười buồn” Stt và những câu nói hay về nụ cười con gái” Danh ngôn về nụ cười hay nhất bằng tiếng Anh” Stt và những câu nói hay về ý nghĩa của nụ cười” Status nụ cười, danh ngôn nụ cười & những câu […].

    14. Posts about Danh ngôn hán tự written by cohangruou.

    16. ‎Đọc đánh giá, so sánh xếp hạng khách hàng, xem ảnh chụp màn hình và tìm hiểu thêm về Phật Ngôn – Danh Ngôn Và Nhạc Phật Giáo Hay Nhất Cho Phật Tử.

    21. Tumblr “Nhị thập tứ sử” được xem là “chính sử,” là tên gọi chung của 24 bộ sử do nhiều triều đại của Trung Quốc cổ đại biên soạn, được xem là lịch sử chính.

    23. Cuộc sống là chuyến hành trình với đầy đủ các cung bậc cảm xúc: có thăng, có trầm, có hạnh phúc, có khổ đau.

    24. (Không ở vị trí thích hợp, không nên toan tính chuyện.

    25. Hán Việt tân từ điển, Nguyễn Quốc Hùng, NXB Khai Trí, Sài Gòn, 1975.

    27. Kho tàng danh ngôn hay nhất – Những câu nói hay về Cuộc sống, Tình yêu, Tình bạn, Gia đình, Học tập, Sự nghiệp – Lời hay ý đẹp mỗi ngày cho bạn.

    34. Đa tình tự cổ nan di hận Dĩ hận miên miên bất tuyệt kỳ Mỹ nhân tự cổ như danh tướng Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu Người đẹp từ xưa như tướng giỏi.

    35. 16/02/2020 · Quý bạn muốn mọi tin tức, video clips, live stream của mình được phổ biến rộng rãi để đấu tranh cho một Việt Nam tự do, dân chủ, không cộng sản, trên.

    37. 09/02/2019 · 8 Phim Ngôn Tình Hoa Ngữ Ấn Tượng Của Chung Hán Lương- Phim Hoa Ngữ Hay Chung Hán Lương được mệnh danh là Ông Hoàng phim ngôn tình chuyển thể Trung Quốc với.

    38. 000 chữ, quán xuyến tư tưởng và phương pháp của duy vật luận đơn thuần và biện chính pháp nguyên thuỷ, nêu lên được mối quan hệ phức tạp của chiến tranh với chính trị, ngoại giao, kinh tế, ….

    44. Tổng hợp danh ngôn cuộc sống hay nhất, những quan điểm của những người nổi tiếng về cuộc sống, những câu nói về cuộc sống hay nhất.

    48. Học giản thể, để tiện tra cứu các tài liệu chữ hán trên mạng, phần lớn viết bằng giản thể.

    49. TTO – LTS: Khảo sát tần suất sử dụng tiếng Hán Việt cũng như những bất cập trong việc dùng từ Hán Việt trên truyền thông hiện nay, TS Lê Thị Bích Hồng (giảng viên cao cấp Trường đại học Sân khấu – điện ảnh Hà Nội) gửi đến Tuổi Trẻ bài viết này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Danh Ngôn Tình Yêu Tiếng Anh
  • Tuyển Tập Những Danh Ngôn Về Tình Yêu Hay Nhất !!!
  • Ăn Kiêng Trước Khi Mang Thai: Những Điều Cần Phải Lưu Ý
  • Lời Phật Dạy Về Cuộc Sống Con Người, Lời Phật Dạy Về Đạo Làm Người, Lời Phật Dạy Về Chữ Nhẫn, Châm Ngôn Phật Dạy
  • Tổng Hợp 22 Câu Châm Ngôn Hay Của Khổng Tử Lưu Truyền Từ Ngàn Xưa Tới Nay !
  • 4 Danh Nhân Kiệt Xuất Của Việt Nam Được Unesco Vinh Danh

    --- Bài mới hơn ---

  • 30 Danh Ngôn Về Trí Tuệ Cảm Xúc
  • Những Câu Nói Hay Bất Hủ Của Đại Văn Hào Victor Hugo
  • Những Châm Ngôn Để Đời
  • Cùng Suy Ngẫm Về 10 Câu Danh Ngôn Của Gia Cát Lượng
  • Danh Ngôn Hay Về Lòng Vị Tha
  • UNESCO đã từng vinh danh các danh nhân kiệt xuất của Việt Nam trước đây nhân các dịp kỷ niệm: 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi (1980), 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1990) và 250 năm ngày sinh Nguyễn Du (2015).

    Chủ tịch Hồ Chí Minh Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất

    Đối với nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi nguồn cho niềm tin vào sự tất thắng của cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và phồn vinh của nhân dân. Cuộc đời Người, tên Người đã trở thành biểu tượng toàn vẹn của một chiến sĩ cách mạng kiên trung, hết lòng tận tụy vì nước, vì dân. Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho mục đích cao cả nhất: Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Và thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam, là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Với bạn bè quốc tế, Người là biểu tượng của khát vọng hoà bình, đấu tranh chống áp bức, bất công. Trái tim và khối óc của Người luôn đồng lòng với nhân dân thế giới. Với khát vọng “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, bằng những cống hiến về tư tưởng cũng như về thực tiễn chiến đấu giành độc lập cho dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần giải phóng các dân tộc bị áp bức, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Người đã góp phần đặt nền tảng quan trọng cho sự hình thành tư tưởng về sự bình đẳng giữa các dân tộc và đồng thời là hiện thân sinh động về sự bình đẳng ấy.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà văn hóa kiệt xuất, nhà giáo dục lớn của nhân dân Việt Nam với những cống hiến lớn lao trong sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng và giáo dục các thế hệ con người Việt Nam mới, giúp cho mọi người Việt Nam ai cũng được học hành, từng bước nâng cao trình độ văn hóa của cả dân tộc. Sự nghiệp đó gắn liền với sự nghiệp vĩ đại giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh, luôn hướng về con người, hướng về dân tộc, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

    Tầm vóc của danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sự coi trọng, gìn giữ, phát huy truyền thống văn hoá lâu dài của mỗi dân tộc, mỗi gia đình, mỗi con người. Đó là sự dung hoà giữa việc khẳng định bản sắc mỗi dân tộc cũng như thúc đẩy hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau trong những sự khác biệt, đa dạng, là lòng nhân ái, vị tha, bao dung. Đó là sự đề cao việc rèn giũa, tôi luyện những đức tính trong cuộc sống hàng ngày của mỗi cá nhân, từ những điều giản dị nhất cho tới những tri thức văn hoá tinh tế.

    Vì đó, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh người ta thấy “toát ra một nền văn hoá của tương lai, toát ra sự kết tinh những giá trị văn hoá cao đẹp của cả phương Đông và phương Tây”.

    Nguyễn Trãi Anh hùng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất

    Nguyễn Trãi (1380-1442), hiệu là Ức Trai sinh, quê ở Hải Dương. Ông là con cháu của một dòng tộc nhiều đời là võ quan cao cấp dưới nhiều triều đại. Trong đó, ông ngoại ông là Tư Đồ Trần Nguyên Đán – tôn thất nhà Trần, cha ông là danh sĩ Nguyễn Ứng Long tức Nguyễn Phi Khanh.

     

    Những đóng góp của Nguyễn Trãi vô cùng lớn lao trong lịch sử của dân tộc. Ông là vị anh hùng, một nhà quân sự, chính trị và nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc. Tài năng của ông trải đều trên các lĩnh vực, được hậu thế kính phục.

    Trước hết là ở sự nghiệp đánh giặc cứu nước vô cùng vẻ vang. Tư tưởng chính trị quân sự ưu tú và tài ngoại giao kiệt xuất của ông đã góp phần quan trọng giúp cho phong trào khởi nghĩa Lam Sơn đi tới thắng lợi. Đồng thời, Nguyễn Trãi cũng được coi là một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam. Nét nổi bật trong tư tưởng Nguyễn Trãi là sự hòa quyện, chắt lọc giữa tư tưởng Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo (trong đó Nho giáo đóng vai trò chủ yếu), có sự kết hợp chặt chẽ với hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam, nhưng nổi bật hơn cả là tư tưởng anh hùng, yêu nước, thương dân.

    Nguyễn Trãi là một trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.

    Nguyễn Trãi còn là một nhà văn hóa kiệt xuất. Ông để lại rất nhiều trước tác văn chương, cả bằng chữ Hán, chữ Nôm và phong phú về thể loại, bao gồm nhiều lĩnh vực như: văn học, lịch sử, địa lý, luật pháp, lễ nghi… Những tác phẩm của ông được đánh giá là có cách lập luận sắc sảo, khúc triết, thấu tình đạt lý, có nhu có cương của một nghệ thuật viết chính luận bậc thầy. Ông cũng là người đặt nền móng cho văn học chữ Nôm của Việt Nam.

    Các tác phẩm tiêu biểu của ông bao gồm: Chính luận: Quân trung từ mệnh tập, Bình ngô đại cáo (được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam sau “Nam quốc sơn hà”), Bài phú Chí Linh sơn…; Thơ: Ức trai thi tập (tiếng Hán), Quốc âm thi tập (tiếng Nôm)…; Lịch sử: Vĩnh lăng thần đạo bi…; Về địa lý: Dư địa chí – bộ sách về địa lý học cổ nhất còn lại của Việt Nam trong đó ghi chép lại những sản vật và con người nước ta thế kỷ XV…

    Với những công lao và đóng góp vô cùng to lớn của ông trong lịch sử nước nhà, Nguyễn Trãi được xem như nguồn tư liệu quý cho các công trình nghiên cứu, các tác phẩm hội họa, văn học và nghệ thuật…

    Danh nhân Nguyễn Du  Đại thi hào dân tộc

    Nguyễn Du (1765-1820), tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sinh tại Kinh thành Thăng Long (nay là thủ đô Hà Nội). Cha ông là Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm, quê ở xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, đã từng làm đến chức Tham Tụng (Tể tướng) dưới triều Lê.

    Danh nhân Nguyễn Du.

    Năm 1783, ông thi đỗ Tam trường. Ông từng giữ chức vụ như: Đông Các đại học sĩ, Cần Chánh Đại học sĩ (trong thời gian này ông được cử đi sứ Trung Quốc), Hữu Tam Tri Bộ Lễ…

    Không chỉ là một “ngôi sao sáng” trên bầu trời văn học cổ Việt Nam, Đại thi hào Nguyễn Du còn được cả thế giới biết đến và công nhận. Tác phẩm “Truyện Kiều” của ông đã trở thành một tài sản văn học chung của thế giới.

    Theo nhà Kiều học Trần Đình Tuấn trong hồ sơ đề nghị UNESCO vinh danh Nguyễn Du, có nhắc lại sự kiện Tổng thống Mỹ Bill Clinton khi sang Việt Nam đã bắt đầu buổi nói chuyện với sinh viên bằng hai câu Kiều: Sen tàn cúc lại nở hoa/Sầu dài ngày ngắn Đông đà sang Xuân. Theo ông Tuấn, điều đó gắn với một thực tế là vài trăm năm qua, “Truyện Kiều” đi vào đời sống người dân Việt Nam mãnh liệt tới mức người ta có thể trích dẫn bất cứ câu Kiều nào để thay lời muốn nói, trong những văn cảnh điển hình.

    “Truyện Kiều” của Nguyễn Du cũng góp phần đưa văn học Việt Nam vượt ra khỏi quốc gia, trở thành một phần tinh hoa của văn hóa nhân loại, ghi dấu văn học Việt Nam trên thi đàn quốc tế. “Truyện Kiều” đã được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ (Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, Mông Cổ, Ả Rập, Nga…) với trên 60 bản dịch khác nhau. Tại mỗi quốc gia, tác phẩm để đời này đều được đón tiếp nồng nhiệt và đều có một đời sống riêng.

    Bên cạnh tư cách một nhà thơ, Nguyễn Du còn là danh nhân có tinh thần tự hào dân tộc và tình yêu mãnh liệt với tiếng mẹ đẻ. Dũng cảm vượt qua rào cản nặng nề hàng ngàn năm của Hán văn để sáng tác bằng Việt văn. Nguyễn Du lần đầu tiên đưa tiếng Việt và ngôn ngữ Việt trở thành ngôn ngữ văn học chính thống của quốc gia.

    Danh nhân Chu Văn An Người thầy của mọi thời đại, nhà giáo lỗi lạc

    Chu Văn An (1292-1370) tên thật là Chu An, tự là Linh Triệt, quê ở thôn Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

    Được đánh giá là người thầy của mọi thời đại, nhà giáo lỗi lạc của Việt Nam, đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp dạy học, với triết lý giáo dục nhân văn, không phân biệt giàu nghèo, học đi đôi với thực hành, học suốt đời để biết, để làm việc và cống hiến cho xã hội. Tư tưởng đó của ông không những có ảnh hưởng tới nhiều thế hệ người VN mà còn góp phần phát triển các giá trị nhân văn trong khu vực. Quan điểm giáo dục của ông có những giá trị tiến bộ vượt thời đại, gần gũi với mục đích giáo dục của thế giới hiện nay.

    Danh nhân Chu Văn An.

    Là người chính trực, không màng danh lợi, nên khi thi đỗ Thái học sinh (tức Tiến sĩ) vào đời Trần Minh Tông (1314-1329), nhưng ông không ra làm quan mà trở về quê nhà mở trường dạy học – trường Huỳnh Cung. Trong số môn đệ của ông, có nhiều người thành đạt, làm quan lớn như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát – cả hai đều đỗ Thái học sinh và làm đến chức Hành khiển trong triều Trần. Họ không chỉ được ông dạy chữ thánh hiền mà còn được dạy về đạo đức của bậc trí nhân quân tử.

    Tiếng tăm uy tín của trường Huỳnh Cung cũng như tư cách của thầy Chu Văn An ngày càng lớn và vua Trần Minh Tông đã cho mời ông đến Thăng Long giữ chức Tư nghiệp (tức Hiệu trưởng) tại Quốc Tử Giám và dạy học cho các Hoàng tử, trong đó có hoàng tử Trần Hiến Tông, sau này là vua Hiến Tông (trị vì từ năm 1329 đến năm 1341).

    Chọn nghề giáo, nhưng Chu Văn An không sống lẩn tránh, quay lưng lại thời cuộc như đa số các văn sĩ thời bấy giờ. Ông nhập thế với ý thức của một trí thức Nho giáo rất rõ ràng, chỉ có điều bằng con đường riêng của mình – con đường dạy học, đào tạo nhân tài cho đất nước.

    Nhân cách nhà giáo Chu Văn An đã được lưu truyền trong sử sách Việt Nam từ đời này qua đời khác. Ngày nay, tưởng nhớ tới đạo đức và sự nghiệp của ông, nhiều nơi trong nước có di tích thờ phụng ông như: đền Thanh Liệt; đền Huynh Cung; đền Văn Điển; đền Phượng Sơn ở Chí Linh, Hải Dương, nơi ông về sống ẩn và dạy học, ở nơi đây có dựng cột đá khắc 8 chữ: “Chu Văn Trình tiên sinh ẩn cư xứ”. Nhân dân Thủ đô Hà Nội cũng đã lấy tên ông để đặt tên cho một đường phố và một trường trung học lớn của Hà Nội. Đó là phố Chu Văn An và Trường phổ thông Trung học Chu Văn An.

    Theo TTXVN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Danh Ngôn Người Xưa Về Kinh Nghiệm Sống
  • Top 99 Câu Chúc Mừng Năm Mới 2022 – Những Câu Chúc Tết Hay Nhất
  • Những Câu Danh Ngôn Hay Về Cờ
  • Những Câu Nói Hay Về Đàn Bà Ngoại Tình ✅ Cực Thấm✅
  • Những Câu Danh Ngôn Vui Về Cuộc Sống Khiến Bạn Phải Bật Cười
  • Người Việt Nam Thương Mẹ, Kính Cha Qua Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Biển, Biển Đảo, Biển Vũng Tàu Nha Trang Hay Nhất
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Câu Hỏi Của Nguyễn Thị Thu Nga
  • Tài Liệu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Chị Em Doc
  • Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá
  • Mùa

    Vu-lan đối với người Việt Nam, nhất là người Phật tử,

    là một mùa báo Hiếu, một mùa mà các người con nhớ đến

    công ơn sanh thành của mẹ cha và muốn làm một cái gì tết

    đẹp để đền đáp công ơn dưỡng dục của mẹ cha.

    Nhớ

    ơn cha mẹ và báo hiếu là những cảm giác, những suy tư,

    những việc làm đã in sâu đậm trong lòng người Việt Nam,

    đã được thể hiện linh động và triền miên, ngang qua các

    câu ca dao tục ngữ mà chúng ta tìm thấy tràn ngập trong các

    thôn quê vườn xóm.

    Đâu

    đâu cũng đề cao công cha như núi cao, nghĩa mẹ như biển

    cả .

    “Công

    cha như núi Thái Sơn,

    Nghĩa

    mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    Một

    lòng thờ mẹ kính cha,

    Cho

    tròn chữ hiếu, mới là đạo con”.

    Hay:

    “Công

    cha nghĩa mẹ cao vời,

    Nhọc

    nhằn chẳng quản suốt đời vì ta.

    Nên

    người con phải xót xa,

    Đáp

    đền nghĩa nặng như là trời cao.

    Đội

    ơn chín chữ cù lao,

    Sanh

    thành kể mấy non cao cho vừa”.

    Hay

    là:

    “Tu

    đâu cho bằng tu nhà,

    Thờ

    cha kính mẹ mới chân tu”.

    “Công

    cha đức mẹ cao dày,

    Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.

    Nuôi

    con khó nhọc đến giờ,

    Trưởng

    thành con phải biết thờ song thân”.

    “Mẹ

    già ở tấm lều tranh,

    Sớm

    thăm tối viếng mới đành dạ con” .

    Lòng

    thương cha mến mẹ của người Việt Nam thường hay gắn liền

    với hiện tượng thiên nhiên, nên chúng ta không thấy làm

    lạ nhiều câu ca dao đã dùng mặt trời để nói lên lòng

    thương mến cha mẹ:

    “Đêm

    khuya trăng rụng xuống cầu,

    Cảm

    thương cha mẹ dãi dầu ruột đau”.

    Hay

    là:

    “Biển

    Đông còn lúc đầy vơi,

    Chớ

    lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng”.

    Cũng

    vì thương cha mẹ, nên người con không bao giờ quên cầu khẩn

    Phật Trời cho cha mẹ luôn được sống gần mình:

    “Đêm

    đêm khấn nguyện Phật Trời,

    Cầu

    cho cha mẹ sống đời với con”.

    “Ngó

    lên trời thấy cặp cu đang đá,

    Ngó

    ra ngoài biển, thấy cặp cá đang đua.

    Đi

    về lập miếu thờ vua,

    Lập

    trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha”.

    Cha

    mẹ săn sóc con cho từng miếng cơm manh áo, thời những người

    con khi cha mẹ về già cũng phải sáng viếng tối thăm, tìm

    của ngon vật lạ phụng dưỡng cha mẹ:

    “Muốn

    cho gần mẹ gần cha,

    Khi

    vào thúng thóc, khi ra quan tiền”.

    “Ai

    về tôi gởi buồng cau,

    Buồng

    trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.

    Ai

    về tôi gởi đôi giày,

    Phòng

    khi mưa gió để thầy mẹ đi”.

    Thỉnh

    thoảng, chúng ta chứng kiến cảnh những người con gái không

    chịu đi lấy chồng, vì không muốn xa cha mẹ:

    “Ơn

    hoài thai, to như bể!

    Công

    dưỡng dục, lớn tựa sông!

    Em

    nguyện ở vậy không chồng,

    Lo

    nuôi cha mẹ, hết lòng làm con”.

    Người

    con gái đi lấy chồng xa cũng bị quở trách:

    “Chim

    đa đa đậu nhánh đa đa,

    Chồng

    gần không lấy, để lấy chồng xa.

    Mai

    sau cha yếu mẹ già,

    Bát

    cơm đôi đũa, chén trà ai dâng?”.

    Mình

    có hiếu với mẹ cha, thời con cháu mình sẽ có hiếu với

    mình. Đây là luật đáp ứng thường tình và không vì vậy

    làm giảm bớt lòng thương mẹ kính cha của người Việt Nam:

    “Nếu

    mình hiếu với mẹ cha,

    Chắc

    con cũng hiếu với ta khác gì?

    Nếu

    mình ăn ở vô nghì,

    Đừng

    mong con hiếu làm gì uổng công?”.

    Hay

    là:

    “Hiếu

    thuận sinh ra con hiếu thuận,

    Ngỗ

    nghịch nào con có khác chi!

    Xem

    thử trước thềm mưa xối nước,

    Giọt

    sau, giọt trước chẳng sai gì”.

    “Ở

    đời ai cũng có lần,

    Làm

    cha mẹ mới biết ơn sinh thành.

    Người

    xưa khó nhọc nuôi mình,

    Khác

    gì mình đã hết tình nuôi con”.

    Người

    con cũng biết cha mẹ thương con không phải giống nhau, cha

    có lòng thương của cha, mẹ có lòng thương của người mẹ,

    nên người con cũng có thể phân biệt:

    “Mẹ

    dạy thì con khéo,

    Bố

    dạy thì con khôn”.

    “Mồ

    côi cha, ăn cơm với cá

    Mồ

    côi mẹ lót lá mà nằm”.

    Trong

    cao dao này, chúng ta đã nhận thấy sự phân biệt của người

    con về cảm tình đối với cha khác, đối với mẹ khác. Nếu

    như cha mất thì đã có mẹ săn sóc cho con, cho ăn cơm ăn cá

    đầy đủ, nhưng chẳng may mẹ mất đi người con mới thật

    khốn khổ, phảị đi lót lá mà nằm. Và vì vậy nên chúng

    ta không có lạ gì, khi người con gần mẹ hơn cha, thương

    mẹ hơn thương cha. Chúng ta cũng đọc rất nhiều câu ca dao

    và bài thơ tán dương lòng mẹ thương con, lòng con nhớ mẹ

    :

    “Lên

    non mới biết non cao

    Nuôi

    con mới biết công lao mẫu từ”.

    “Ai

    rằng công mẹ như non,

    Thật

    ra công mẹ lại càng lớn hơn”.

    “Lòng

    mẹ như bát nước đầy,

    Mai

    này khôn lớn, ơn này tính sao “.

    “Nhớ

    ơn chín chữ cù lao,

    Ba

    năm nhũ bộ biết bao thân tình”.

    “Con

    ho lòng mẹ tan tành,

    Con

    sốt lòng mẹ như bình nước sôi”.

    “Nuôi

    con chẳng quản chi thân,

    Chỗ

    ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn”.

    “Mẹ

    ngoảnh đi, con dại,

    Mẹ

    ngoảnh lại, con khôn”.

    “Mẹ

    giàu con có, mẹ khó con không”.

    “Mẹ

    già như chuối ba hương,

    Như

    xôi nếp một, như đường mía lau” .

    “Bồng

    cho con bú một hồi,

    Mẹ

    đã hết sữa, con vòi con la”.

    “Nuôi

    con buôn tảo bán tần,

    Chỉ

    mong con lớn nên thân với đời.

    Những

    khi trái nắng trở trời,

    Con

    đau là mẹ đứng ngồi không yên.

    Trọn

    đời vất vả triền miên,

    Chăm

    lo bát gạo đồng tiền nuôi con”.

    lòng thương mẹ dạt dào, vì nhớ đến công ơn bú mớm sinh

    thành, nuôi nấng, nên người con luôn luôn tưởng nhớ đến

    mẹ :

    “Chiều

    chiều ra đứng ngõ sau,

    Ngó

    về quê mẹ ruột đau chín chiều”.

    “Giữa

    đêm ra đứng giữa trời,

    Cầm

    tờ giấy bạch chờ lời mẹ răn”.

    “Trải

    bao gian khổ không sờn,

    Muôn

    đời con vẫn nhớ ơn mẹ hiền”.

    Đối

    với công ơn trời biển của cha mẹ, các người con luôn tìm

    cách báo đáp ơn nghĩa nặng và làm tất cả những gì có

    thể làm được để đền ơn mẹ:

    “Mẹ

    già ở túp lều tranh,

    Sớm

    thăm tối viếng mới đành dạ con”.

    “Tôm

    càng lột vỏ bỏ đuôi,

    Giã

    gạo cho trắng mà nuôi mẹ già”.

    “Đói

    lòng ăn đọt chà là,

    Nhịn

    cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”.

    “Đói

    lòng ăn trái ổi non,

    Nhịn

    cơm cho mẹ, cho tròn nghĩa xưa”.

    “Dấn

    mình gánh nước làm thuê,

    Miễn

    nuôi được mẹ quản gì là thân”.

    “Vô

    Chùa thấy Phật muốn tu,

    Về

    nhà thấy mẹ, công phu chưa đành”.

    “Nuôi

    con chẳng quản chi thân,

    Bên

    ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,

    Lấý

    gì đền nghĩa khó khăn,

    Lên

    non xắn đá, xây lăng phụng thờ”.

    “Đây

    bát cơm đầy nặng ước mong,

    Mẹ

    ôi, đây ngọc với dây lòng.

    Đây

    tình con nặng trong tha thiết,

    Ơn

    nghĩa sanh thành, chưa trả xong”.

    Ai

    không làm tròn bổn phận người con đối với mẹ, thời bị

    nghe lời trách móc:

    “Đi

    đâu bỏ mẹ ở nhà,

    Gối

    nghiêng ai sửa, chén trà ai dâng”.

    Người

    con hiểu được tình thương của mẹ đối với con, nhưng

    công lao mẹ đã trải qua để nuôi con khôn lớn nhất là những

    hy sinh lo lắng của mẹ chiều chuộng con, săn sóc con, chịu

    cực chịu khổ vì con, chẳng may người mẹ đã qua đời thì

    người con đau khổ xót thương là chừng nào.

    người con thương cha không bằng mẹ, nhưng không phải vậy

    mà người con quên công ơn của người cha, vì vai trò của

    người cha rất đặc biệt trong gia đình:

    “Con

    có cha như nhà có nóc,

    Con

    không cha như nòng nọc đứt đuôi”.

    “Khôn

    ngoan nhờ ấm ông cha,

    Làm

    nên phải đoát tổ tông phụng thờ”.

    “Đạo

    làm con chớ hững hờ,

    Phải

    đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm”.

    “Còn

    cha gót đỏ như son,

    Một

    mai cha chết gót con đen sì”.

    Hình

    ảnh người cha đã già nhưng vẫn làm lụng nuôi con, cũng

    để lại trong tâm trí người con một nỗi biết ơn vô hạn:

    “Cha

    tôi tuy đã già rồi,

    Nhưng

    còn làm lụng để nuôi cả nhà.

    Sớm

    hôm vừa dấy tiếng gà,

    Cha

    tôi đã dậy để ra đi làm”.

    Đó

    là hình ảnh cảm động, khi mẹ mất rồi, người cha đóng

    vai gà trống nuôi con lo cho con uống sữa:

    “Nghiêng

    bình mở hộp nút ra,

    Con

    ơi con bú cho cha yên lòng”.

    Tuy

    vậy, vai trò giáo dục trong gia đình, người cha đặt nặng

    hơn, và giáo dục thường hay nghiêm khắc hơn như vậy ảnh

    hưởng tốt đẹp cho người con, khi được một người cha

    nghiêm minh dạy bảo, có tác dụng hơn người mẹ nhiều :

    “Mẹ

    đánh một trăm, không bằng cha ngăm một tiếng” .

    Ngang

    các câu ca dao, các câu cách ngôn, các mẩu chuyện, chúng ta

    đã thấy lòng người Việt Nam đối với cha mẹ như thế

    nào. Lòng thương cha mến mẹ của người Việt Nam đã được

    truyền thống dân tộc Việt Nam hun đúc, tác thành, ăn sâu

    vào tâm khảm của người Việt Nam. Ngoài ra, người Phật

    tử Việt Nam lại được đạo Phật dạy thêm nhiều về chữ

    Hiếu, soi sáng thêm nghĩa vụ làm cho mẹ, nghĩa vụ làm con,

    và nhờ vậy chữ Hiếu lại càng ảnh hưởng sâu đậm vào

    người Phật tử Việt Nam, vào tâm tư hành động của người

    Việt Nam.

    “Tâm

    Hiếu là tâm Phật,

    Hạnh

    Hiếu là hạnh Phật”.

    Chúng

    ta được biết đức Phật là một vị đã đạt được Pháp

    nhãn, đã chứng ngộ trí tuệ, nên cái nhìn của Ngài rất

    khác lạ đối với hành động con người và sự liên hệ

    giữa người và người. Khi thấy Singàla (thi-ca-la-việt) mỗi

    buổi sáng, dậy sớm đảnh lễ sáu phương (Kinh Giáo Thọ

    Thi-ca-la-việt), (Trường Bộ IV, 188 B), đúng theo lời dặn

    của người cha để lại, đức Phật thấy rõ sự vô ích

    của lễ nghi và Ngài đã giải thích theo hướng chuyển thành

    hành động đúng bổn phận của mình. Phương Đông chỉ cho

    cha mẹ và con cái, phương Nam chỉ cho sư đệ; phương Tây

    chỉ cho vợ chồng; phương Bắc chỉ cho bạn bè; phương Dưới

    chỉ cho kẻ phục vụ và phương Trên chỉ cho Sa-môn, Bà-la-môn.

    Và hành động ở đây có nghĩa là bổn phận của người

    con đối với cha mẹ, cha mẹ đối với con, chỉ cho phương

    Đông; bổn phận thầy đối với trò, trò đối với thầy,

    chỉ phương Nam v.v. . . Như vậy, người con có năm bổn phận

    đối với cha mẹ: “Nuôi dưỡng cha mẹ (khi cha mẹ già yếu);

    giữ gìn gia đình với truyền thống, bảo vệ tài sản thừa

    tự; và làm tang lễ khi cha mẹ qua đời”. Cha mẹ cũng có

    năm trách nhiệm đối với con cái: “Ngăn chận con làm điều

    ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con nghề nghiệp;

    cưới vợ xứng đáng cho con; đúng thời trao của thừa tự

    cho con”. Đây rõ ràng là một thông điệp trách nhiệm, một

    trách nhiệm hỗ tương không phải một chiều. Con có năm bổn

    phận đối với cha mẹ. Cha mẹ cũng có năm bổn phận đối

    với con cái. Khi cha mẹ và con cái làm trọn bổn phận mình,

    thời phương Đông được an lành hạnh phúc. Nói cho rõ hơn,

    vận may chỉ đến với gia đình nào, khi trong gia đình ấy

    cha mẹ trọn tình đối với con cái và con cái trọn đạo

    với mẹ cha. Trong kinh Mangalasutta (Hạnh Phúc Kinh), khi được

    một Thiên nhân hỏi làm sao được vận may (Mangala), với hy

    vọng đức Phật sẽ dạy cho một hình thức lễ nghi lễ cầu

    may cầu phước, đức Phật lại dạy cho ba mươi tám hành

    động phải làm để được may mắn và một trong những hành

    động ấy là phụng dưỡng mẹ cha:

    “Màtàpitu

    upatthànan …

    Etam

    mangalamuttamam ”

    “Phụng

    dưỡng cha và mẹ …

    vận may tối thượng”

    Hiếu

    không phải là những gì nói suông bằng miệng, bằng những

    nghi lễ cầu may cầu phước. Hiếu phải được cô đọng

    bằng những việc làm cụ thể và ở đây là phải hầu hạ

    và phụng dưỡng mẹ cha.

    Trong

    kinh Tăng Chi tập I, trang 74, cha mẹ được ví như ngọn lửa

    đáng cung kính, vì chính người cha người mẹ đã đem lại

    sự sống cho các người con, như ngọn lửa đem lại nguồn

    nóng, sức sống cho loài Người.

    “Thế

    nào là lửa đáng cung kính? Ở đây, này Bà-la-môn, những

    người mẹ những người cha của người ấy. Này Bà-la-môn,

    đây gọi là lửa đáng cung kính. Vì cớ sao?”.

    “Từ

    đấy, này Bà-la-môn, khiến cho mang lại, khiến cho sanh ra (Ato

    yam àhùto sambhùto). Do vậy, lửa đáng cung kính, được tôn

    trọng, được cúng dường, phải đem lại chánh lạc”.

    “Và

    này Mahànamà, với một thiện nam tử được cha mẹ thương

    tưởng, chờ đợi là sự tăng trưởng không phải là sự

    giảm thiểu. Và này thật sự là vậy, người con hiếu dưỡng

    cha mẹ được hưởng rất nhiều hạnh phúc”.

    Trong

    kinh Tương ưng tập I, trang 225, Bà-la-môn Màtaposaka đến hỏi

    đức Phật:

    “Thưa

    Tôn giả Gotama, tôi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp.

    Sau khi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp, tôi nuôi dưỡng

    mẹ cha. Thưa Tôn giả Gotama, tôi làm như vậy, tôi có làm

    đúng trách nhiệm không?”

    “-

    Này Bà-la-môn, người như vậy là có làm đúng trách nhiệm.

    Này Bà-la-môn, ai tìm đồ ăn thiết thực theo thường pháp,

    lại nuôi dưỡng mẹ cha, người ấy được nhiều công đức”.

    “Người

    nào theo thường pháp,

    Nuôi

    dưỡng mẹ và cha,

    Chính

    do công hạnh này,

    Đối

    với cha và mẹ,

    Nhờ

    vậy bậc Hiền Thánh,

    Trọn

    đời này tán thán,

    Sau

    khi chết, được sanh

    Hưởng

    an lạc chư Thiên”.

    Khi

    Bà-la-môn Manatthaddba hỏi đức Phật nên cung kính cúng dường

    ai là tốt lành, đức Phật khuyên (Tương ưng tập I, trang

    221):

    “Với

    mẹ và với cha,

    Với

    anh tuổi nhiều hơn,

    Với

    thầy là thứ tư

    Không

    nên sanh kiêu mạn,

    Nên

    kính trọng vị ấy,

    Nên

    tôn kính vị ấy,

    Cúng

    duớng chúng tốt lành”.

    Phụng

    dưỡng cha mẹ đúng pháp, được hưởng quả tốt lành như

    kệ số 404 sau đây trong kinh Sut-tanipàta (Kinh Tập) đã nêu

    rõ:

    “Dhammena

    màtàpitaro Bhareyya,

    Payojage

    dhammikam so vàmjìam

    Etam

    gihì vattayam appamatto

    Sayam

    pabhe nàma upetit pe”.

    “Thờ

    mẹ cha đúngpháp,

    Buôn

    bán đúng, thật thà,

    Gia

    chủ không phóng dật,

    Được

    sanh Tự Quang thiên”.

    Bước

    thêm một bước nữa, đức Phật trong kinh Tăng Chi tập I,

    trang 147, dùng một hình ảnh táo bạo hơn, nhưng rất linh động

    và chính xác để tán dương các gia đình có những người

    con có hiếu. Những gia đình ấy được xem ngang bằng với

    Phạm thiên, ngang bằng với các bậc Đạo sư thời xưa, gia

    đình ấy đáng được cúng dường, tôn trọng. Nói một cách

    rõ rệt hơn, là gia đình nào có con cháu biết hiếu dưỡng

    cha mẹ, những gia dình ấy là những gia đình đáng được

    cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được chắp tay, ngang

    bằng với Phạm thiên, là những vị Thiên cao nhất ở Dục

    giới và Sắc giới, ngang bằng với các bậc Đạo sư thời

    xưa, là những vị đáng được tôn trọng nhất từ xưa đến

    nay.

    “Những

    gia đình nào, này các Tỳ kheo, trong ấy các con cái kính lễ

    (Pùjittà) mẹ cha ở nhà, những gia đình ấy được chấp

    nhận ngang bằng với Phạm thiên. Những gia đình nào, này

    các Tỳ kheo, trong ấy các con cái kính lễ cha mẹ ở trong

    nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các Đạo sư

    thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỳ kheo, trong ấy các

    con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được

    chấp nhận là đáng được cúng dường (Sàhuneyykàni)”.

    “Phạm

    thiên, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Các Đạo

    sư ngày xưa, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha.

    Đáng được cúng dường, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa

    với mẹ cha. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỳ

    kheo, là mẹ cha đối vớì con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng

    dục chúng, giới thiệu cho chúng vào đời”.

    “Cha

    mẹ là Phạm thiên,

    Bậc

    Đạo sư thời trước,

    Xứng

    đáng được cúng dường,

    thương đến con cháu.

    Do

    vậy bậc Hiền trí,

    Đảnh

    lễ và tôn trọng,

    Dâng

    đồ ăn và uống,

    Vải

    mặc và giường nằm,

    Thoa

    bóp (cả thân mình),

    Tắm

    rửa cả chân tay,

    Với

    sở hành như vậy,

    Đối

    với mẹ và cha,

    Đời

    này người hiền khen,

    Đời

    sau hưởng Thiên lạc”.

    (Tăng Chi II A, trang 94)

    Trong

    mùa Vu-lan báo hiếu chúng ta đã được nghe những câu ca dao

    tục ngữ nói lên công lao trời biển của mẹ cha và tấm

    lòng hiếu thảo thương mẹ kính cha của người Phật tử

    Việt Nam; chúng ta cũng được nghe những lời Phật dạy về

    trách nhiệm báo hiếu đối với các người con Phật. Như

    vậy có thể nói Phật tử Việt Nam luôn được các câu ca

    dao tục ngữ ăn sâu vào tâm trí của người dân Việt từ

    nhiều thế hệ nối tiếp. Do chịu ảnh hưởng của các truyền

    thống một cách tự nhiên và tất nhiên ấy, nên người Phật

    tử Việt Nam không những tham dự các buổi lễ Báo Hiếu đông

    đủ và tích cực mà còn áp dụng hạnh hiếu thảo của mình

    đối với cha mẹ hiện tiền cũng như quá khứ trong bảy đời

    một cách trọn vẹn nữa.

    (Bài

    giảng Đại lễ Vu-Lan PL. 2539 – 1995 tại Thiền Viện Vạn

    Hạnh)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Danh Nhân, Anh Hùng Dân Tộc
  • Những Câu Nói Hay Về Atgt, Ca Dao Tục Ngữ Câu Nói Về An Toàn Giao Thông Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Giao Thông, An Toàn Giao Thông
  • Thành Ngữ Tiếng Trung Hay Và Thâm Thuý ( P 1 )
  • Những Câu Danh Ngôn Hay Về Ngành Y Thích Hợp Để Đăng Facebook Ngày Thầy Thuốc Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Thả Thính Ngành Y Dược ❤️1001 Câu Thơ Cap Gái Ngành Y
  • 1000+ Stt Tán Gái Đầy Cảm Xúc Khiến Crush Đổ Gục
  • Stt Hay Về Nắng: 30+ Những Câu Nói Hay
  • 50 Stt Hay Về Ánh Nắng, Những Status Về Nắng Ấm Áp Hay
  • Tuyển Tập Những Caption Hay Về Nắng Cho Cuộc Sống Tươi Mới
  • Những câu danh ngôn hay, ý nghĩa về ngành y.

    – “Lương y như từ mẫu” – chủ tịch Hồ Chí Minh.

    – Cuộc đời thì ngắn, mà nghề thì miên man; cơn bệnh phập phù; kinh nghiệm hiểm nguy, còn quyết định thì thật khó. Người thầy thuốc không phải chỉ chuẩn bị để tự mình làm những gì là đúng, mà còn làm cho bệnh nhân, người đi theo và các yếu tố xung quanh hợp tác hài hòa – Hippocrates.

    – Nếu y học phổ cập cho con người sự sáng suốt cũng như tri thức, đó sẽ là sự bảo vệ tốt nhất đối với những bác sĩ có kỹ thuật và được đào tạo tốt – Rudolf Virchow.

    – Nghệ thuật y khoa là việc làm bệnh nhân vui vẻ trong khi tự nhiên chữa bệnh. – Voltaire.

    – Vị bác sĩ tốt nhất là người anh chạy tới nhờ và không thể tìm thấy – Denis Diderot.

    – Người ta trả tiền cho công sức của bác sĩ; còn sự tử tế của bác sĩ vẫn mãi là món nợ ân tình – Seneca.

    – Hướng ý chí của bệnh nhân vào chống lại bệnh tật của mình là nghệ thuật y khoa tối thượng – Henry Ward Beecher.

    – Cuộc đời quá ngắn, mà nghề thì quá dài để học – Hippocrates.

    – Trong phòng bệnh, sự cảm thông đáng giá mười xu bằng với y học đáng giá mười đô la – Hippocrates.

    – Bất kể là trong các bệnh mạn tính hay trong các bệnh cấp tính, một chế độ ăn tiết chế kham khổ luôn luôn nguy hiểm, nó không phải là thứ tiên quyết. Và một lần nữa, một chế độ ăn cắt giảm cùng cực là nguy hiểm và sự no đủ, ở mức cực đoan, cũng rất nguy hiểm – Hippocrates.

    Phía trên là những câu danh ngôn hay về ngành y.

    Gợi ý quà tặng ngày thầy thuốc Việt Nam 27/2 độc đáo, ý nghĩa

    Ngoài những lời chúc hay thì những món quà có ý nghĩa thiết thực sẽ là lựa chọn tuyệt vời trong ngày thầy thuốc Việt …

    Ngày Thầy thuốc Việt Nam, nghe những ‘bác sĩ tương lai’ chia sẻ về nghề Y

    Sinh viên học Y có riêng cho mình những trải nghiệm, môi trường khác biệt như thế nào so với sinh viên các ngành khác? …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Stt Về Mùa Hè Nắng Nóng ❤️ Top Stt Ngày Nắng Hay Nhất
  • 100 Stt Hay Về Học Sinh Cuối Cấp 3 Đăng Kèm Ảnh Chia Tay Tuổi Học Trò 2022
  • Tuyển Tập 742 Stt Thả Thính Hài Ngắn, 1001+ Status Thả Thính Ngày Valentine Trắng 14/3 Độc Đáo, Bá Đạo F.a
  • Những Status Ngày 14/3 Hay, Cảm Động Dùng Để Nhắn Gửi Yêu Thương
  • Kho Tàng Thả Thính Với 500 Stt Mùa Đông Chất Nhất Tháng 2 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100