17 Câu Nói Hay Của Đức Phật Mà Bạn Nên Đọc

--- Bài mới hơn ---

  • 1001 Bài Thơ Màu Tím Yêu Thương Hay, Màu Của Tình Thủy Chung
  • #100 Stt Về Ninh Thuận Hay, Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Tạo Động Lực Cho Người Đạp Xe
  • Tổng Hợp Tên Facebook Hay, Những Cái Tên Hay Trên Facebook Độc, Ý Nghĩa
  • Bộ Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trên Facebook Nên Đọc
  • 1. Cảm ơn đời với những gì tôi đã có, cảm ơn đời những gì tôi không có.

    2. Nếu có thể đứng ở góc độ của người khác để nghĩ cho họ thì đó mới là từ bi.

    3. Nói năng đừng có tánh châm chọc, đừng gây thương tổn, đừng khoe tài cán của mình, đừng phô điều xấu của người, tự nhiên sẽ hóa địch thành bạn.

    4. Thành thật đối diện với mâu thuẫn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình.

    5. Nhân quả không nợ chúng ta thứ gì, cho nên xin đừng oán trách nó.

    6. Đa số người cả đời chỉ làm được ba việc: Dối mình, dối người, và bị người dối.

    7. Tâm là tên lừa đảo lớn nhất, người khác có thể dối bạn nhất thời, nhưng nó lại gạt bạn suốt đời.

    8. Chỉ cần tự giác tâm an, thì đông tây nam bắc đều tốt. Nếu còn một người chưa độ thì đừng nên thoát một mình.

    9. Khi trong tay bạn nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì bạn chỉ có mỗi thứ này, nếu bạn chịu buông xuống, thì bạn mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.

    10. Nếu bạn có thể sống qua những ngày bình an, thì đó chính là một phúc phần rồi. Biết bao nhiêu người hôm nay đã không thấy được vầng thái dương của ngày mai, biết bao nhiêu người hôm nay đã trở thành tàn phế, biết bao nhiêu người hôm nay đã đánh mất tự do, biết bao nhiêu người hôm nay đã trở thành nước mất nhà tan.

    11. Bạn có nhân sinh quan của bạn, tôi có nhân sinh quan của tôi, tôi không dính dáng gì tới bạn. Chỉ cần tôi có thể, tôi sẽ cảm hóa được bạn. Nếu không thể thì tôi đành cam chịu.

    12. Bạn hy vọng nắm được sự vĩnh hằng thì bạn cần phải khống chế hiện tại.

    13. Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu. Bạn càng nguyền rủa họ, tâm bạn càng bị nhiễm ô, bạn hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của bạn.

    14. Người khác có thể làm trái nhân quả, người khác có thể tổn hại chúng ta, đánh chúng ta, hủy báng chúng ta. Nhưng chúng ta đừng vì thế mà oán hận họ, vì sao? Vì chúng ta nhất định phải giữ một bản tánh hoàn chỉnh và một tâm hồn thanh tịnh.

    15. Nếu một người chưa từng cảm nhận sự đau khổ khó khăn thì rất khó cảm thông cho người khác. Bạn muốn học tinh thần cứu khổ cứu nạn, thì trước hết phải chịu đựng được khổ nạn.

    16. Thế giới vốn không thuộc về bạn, vì thế bạn không cần vứt bỏ, cái cần vứt bỏ chính là những tánh cố chấp. Vạn vật đều cung ứng cho ta, nhưng không thuộc về ta.

    17. Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Nói Hay Về Bóng Đá
  • Những Câu Nói Hay Slogan Về An Toàn Giao Thông
  • Những Câu Nói, Cap, Stt Hay Về Bóng Đá Chất Phát Ngất
  • Những Bài Thơ Chế Hay Nhất, Buồn Cười Nhất
  • Những Câu Nói Chế Hài Hước
  • Lời Dạy Của Đức Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Đức Phật Dạy Về: Nhân Quả Đẹp, Xấu, Nghèo, Sang Hàn Của Phụ Nữ
  • 36 Lời Phật Dạy Về Tình Yêu Để Hạnh Phúc Tròn Đầy
  • Lời Khuyên Của Đức Phật Để Các Người Nữ Nên Tránh Về Tình Yêu Và Tình Dục
  • Con Người Sinh Ra Là Để Nhận Cái Chết
  • Tu Cái Miệng Để Không Gieo Khẩu Nghiệp
  • [Thaihabooks] Với quyết tâm đem lại lợi ích và hạnh phúc cho chúng sinh, Đức Phật đã vạch ra một xã hội có tổ chức chặt chẽ. Cộng đồng xã hội tân tiến của Đức Phật bao gồm hai thành phần, các đệ tử xuất gia và hàng đệ tử tại gia. Cả hai hạng đệ tử này, đối với Đức Phật, đều quan trọng như nhau. Trong khi Đức Phật tạo mọi nỗ lực để dẫn dắt hàng đệ tử xuất gia của Ngài đến những tiến bộ tâm linh cao cả nhất, Ngài cũng nỗ lực để hướng dẫn hàng đệ tử cư sĩ tiến đến sự thành công, trí tuệ và nội tâm an bình – tuy nhiên lịch sử hình như đã chôn vùi

    Giới thiệu sách: 

    Với quyết tâm đem lại lợi ích và hạnh phúc cho chúng sinh, Đức Phật đã vạch ra một xã hội có tổ chức chặt chẽ. Cộng đồng xã hội tân tiến của Đức Phật bao gồm hai thành phần, các đệ tử xuất gia và hàng đệ tử tại gia. Cả hai hạng đệ tử này, đối với Đức Phật, đều quan trọng như nhau.  Trong khi Đức Phật tạo mọi nỗ lực để dẫn dắt hàng đệ tử xuất gia của Ngài đến những tiến bộ tâm linh cao cả nhất, Ngài cũng nỗ lực để hướng dẫn hàng đệ tử cư sĩ tiến đến sự thành công, trí tuệ và nội tâm an bình – tuy nhiên lịch sử hình như đã chôn vùi phần lớn những lời dạy này của Ngài!

     Khoảng thời gian của hai mươi sáu thể kỷ đã che mờ những lời dạy của Đức Phật dành cho cộng đồng cư sĩ -mà dẫu có tìm được chứng cứ gì, chúng cũng dường như không quan trọng hay được diễn giải theo những cách khiến chúng dễ bị hiểu lầm. Quyển sách này nhằm phục hồi tầm quan trọng của chúng, bằng văn bản và bằng sự trong sáng, rõ ràng.  Vượt qua các rào cản lịch sử và văn hóa, chúng tôi cố gắng tìm ra những gì Đức Phật thực sự đã giảng dạy vì lợi ích của hàng đệ tử tại gia của Ngài, cũng như phân loại lại và làm sáng tỏ giáo lý của Đức Phật về đời sống tại gia.

    Cuốn sách này sẽ mang tới những lời hướng dẫn cho chúng ta cách thức:

    Nuôi dạy con cái và chăm sóc cha mẹ già

    Kiếm sống nuôi gia đình

    Hợp tác trong công việc với đồng nghiệp và đối tác

    Tìm kiếm và gìn giữ một mối quan hệ yêu thương và mối quan hệ vợ chồng …..

    Đây thực sự là những gì bạn cần phải làm trong đời, và cũng là những gì mà bạn hoàn toàn có thể làm được. Tất cả những gì bạn cần là ước nguyện làm giảm thiểu những khổ đau, và tăng trưởng những niềm vui trong bạn, để giúp thế giới này trở thành một nơi tốt hơn.

    Thông tin tác giả: 

    Tỳ kheo Basnagoda Rahula sinh quán tại Sri Lanka. Thuở nhỏ đã xuất gia tại chùa Hoàng Gia Attanagalla, Sri Lanka. Sau khi thọ đại giới và ra trường với bằng Cử nhân về Triết học Phật giáo, ngài sang định cư tại Mỹ năm 1990.

    Sau đó Tỳ kheo Rahula lấy băng Thạc sĩ Văn chương tại Đại học Houston-Clear Lake và bằng Tiến sĩ Anh văn tại Đại học Công nghệ Texas ở Lubbock, bang Texas. Hiện nay, Ngài là chủ tịch Trung tâm Thiền Vipassana ở Willis, Texas, đồng thời dạy Tiếng Anh tại Đại học Housston-Downtown.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tham Sân Si Là Gì? Làm Gì Khi Tham Sân Si Dấy Lên?
  • : Quay Đầu Là Bờ
  • Cần Làm Gì Để Vượt Qua Nỗi Đau Phản Bội
  • Những Câu Nói Hay, Lời Phật Dạy Giúp Ta Giác Ngộ Về Cuộc Sống
  • Sống Hạnh Phúc Theo Lời Phật Dạy (Nguyễn Kiều Phượng) – Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo
  • Những Lời Vàng Ngọc Của Đức Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiểu Lời Dạy Phật Dạy Trong Kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân
  • Tư Duy Lời Phật Dạy Nhân Mùa Dịch
  • Lời Phật Dạy Ý Nghĩa Cho Mọi Cặp Vợ Chồng
  • Lý Giải Nhân Duyên Vợ Chồng Cha Mẹ Con Cái
  • Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật Như Lai
  • Kinh Đại Thừa Nghĩa: “Quay về nương dựa nên gọi là quy y. Hành tướng quy y như con theo cha mẹ, nương dựa phục tùng; như dân nương nhờ vua, như người yếu nương nhờ kẻ mạnh. Nương Phật như thầy, nên gọi là quy y Phật. Nhờ pháp như thuốc, nên gọi là quy y Pháp. Nương Tăng là bạn, nên gọi là quy y Tăng.”

    Kinh Hoa Nghiêm: “Như người có tay, vào trong núi báu, tự do lấy ngọc; người có lòng tin cũng vậy, vào trong Phật pháp, tự do lấy của báu vô lậu.”

    Kinh Tâm Địa Quán: “Như người không tay tuy đến núi báu, không lấy được gì. Người không lòng tin, dầu gặp Tam bảo cũng không ích gì.”

    Luận Đại Trí Độ: “Phật pháp như biển cả, phải có lòng tin mới vào được.”

    Kinh Tiểu Địa Quán: “Vào biển Phật pháp, lấy lòng tin làm gốc; qua sông sanh tử, lấy giới pháp làm thuyền.”

    Kinh Trung A Hàm: “Ví như nhà vua, tạo lâu đài nơi bên thành, xây đắp chắc chắn, khiến không thể hư nát; bề trong quốc gia yên ổn, bề ngoài ngự phòng oán địch. Phật tử cũng vậy, phải kiên cố lòng tin tưởng đức Như Lai, khi lòng tin đã vững vàng thì quyết không theo những kẻ sa môn ngoại đạo phạm chí ác ma và ác thế gian. Ấy là đã xây dựng được lòng tin như lâu đài bền chắc. Là Phật tử phải bỏ điều ác, điều xấu mà tu các pháp lành.

    Kinh Đại Bát Niết Bàn: “Người có lòng tin mà không hiểu giáo lý thì dễ tăng trưởng vô minh mờ ám, người hiểu giáo lý mà không lòng tin thì dễ tăng trưởng tà kiến. Cho nên lòng tin và hiểu biết phải cùng đủ mới làm cội gốc tu hành.”

    Kinh Lăng Nghiêm: “Tin chơn lý thường trú gọi là lòng tin.”

    Kinh Tăng Nhứt A Hàm (văn Ba lị): “Vì muốn đến niết bàn, nên tin Phật pháp, cần phải nghe mới được trí huệ, chẳng phải buông lung mà thông suốt; được như vậy thì lo gì đời nầy không vào được cảnh giới cao tột.”

    Kinh Đại Bát Niết Bàn: “Lòng tin làm nhơn cho nghe pháp, nghe pháp làm nhơn cho lòng tin.”

    Kinh Vô Lượng Thọ Như Lai Hội: “Đến bạn lành, được nghe pháp mầu nhiệm là được pháp các bậc thánh tôn yêu quí. Đức Như Lai trí tuệ hơn hết, trùm khắp hư không, nói ra giáo pháp, duy có Phật mới có thể hiểu thấu được. Vậy nên các ngươi cần phải nghe nhiều hiểu rộng chánh pháp, mới tin nổi lý chơn thiệt chánh pháp của Ta. Được làm thân người trong cõi người rất khó, mà được gặp giáo pháp Như Lai lại càng khó hơn. Vậy nên nghe được giáo pháp phải tinh tấn tu trì.”

    Kinh Đại Bát Niết Bàn: “Nhơn duyên được nghe chánh pháp, là gần gũi bạn lành; nhơn duyên gần gũi bạn lành đó là lòng tin vậy. Phát được lòng tin có hai nhơn duyên là: nghe pháp và suy nghĩ nghĩa lý của pháp.”

    Luận Khởi Tín: “Nói lòng tin có 4 món: một là lòng tin cội gốc, nghĩa là ưa nghĩ pháp chơn như; hai là tin đức Phật có vô lượng công đức, thường nhớ gần gũi, cúng dường, cung kính phát khởi căn lành để cầu xin nhất thế trí; ba là tin Pháp có nhiều lợi ích, thường nhớ tu hành cho rốt ráo; bốn là tin Tăng hay tu hành hạnh lợi mình và người, thường ưa gần gũi các vị Bồ tát cầu học hạnh như thật.”

    Kinh Niết Bàn: “Lòng tin lại có 2 món: một là từ nghe mà sanh, hai là từ nghĩ mà sanh. Những người từ nghe sanh mà chẳng từ nghĩ sanh, thì gọi là lòng tin chẳng đầy đủ. Còn có 2 món nữa: một là tin có Đạo, hai là tin có chứng Đạo. Lòng tin người nào chỉ tin có Đạo mà chẳng tin có các người chứng Đạo, ấy gọi là lòng tin chẳng đầy đủ.”

    Kinh Vô Lượng Thọ: “Nếu có chúng sanh rõ tin Phật trí cho đến thắng trí, rồi tu các công đức để hồi hướng lòng tin. Những chúng sanh này ở trong hoa bảy báu, tự nhiên hóa sanh: xếp bằng mà ngồi trong chừng giây lát, thân thể sáng rực, trí tuệ công đức như các Bồ tát đầy đủ trọn vẹn.”

    Kinh Đại Bảo Tích: “Có lòng tin mới là Phật tử, vậy nên kẻ trí phải thường gần gũi người có lòng tin.”

    Kinh Xuất Sanh Bồ Đề Tâm: “Nếu cầu Bồ đề để làm lợi ích chúng sanh, ấy là những kẻ vì chúng sanh hơn hết vậy; hạng nầy còn không thể so sánh huống là bậc trên nữa. Vậy nên đã được nghe các pháp này, kẻ trí thường sanh tâm vui pháp sẽ được đại phước không lường và mau được chứng đạo vô thượng.”

    Kinh Đại Bát Niết Bàn: “Hoặc có người nói: Quả vô thượng chánh đẳng chánh giác, do lòng tin làm nhơn. Thật ra chánh nhơn của bồ đề (tức chánh đẳng giác) tuy còn nhiều vô lượng, nhưng nếu nói lòng tin, tức đã bao quát hết rồi vậy.”

    Kinh Hoa Nghiêm: “Bồ đề Tâm là con đường lớn, vì có thể đưa người được vào cõi Nhất thế trí. Bồ đề Tâm là con mắt sáng, vì có thể xem thấy hết thảy đường chánh nẻo tà. Bồ đề Tâm là mặt trăng sáng, vì soi rõ các tịnh pháp đều viên mãn. Bồ đề Tâm là nước sạch, vì rửa sạch tất cả dơ bẩn phiền não. Bồ đề Tâm là ruộng tốt, vì nuôi dưỡng chúng sanh trong sạch.Bồ đề Tâm là hạt giống tất cả đức Phật, vì có thể sanh tất cả pháp các đức Phật.”

    Kinh Đại Bát Niết Bàn: ” Đại tín tâm tức là Phật tánh, Phật tánh tức là Như Lai.”

    Kinh Hoa Nghiêm: “Trăng Bồ đề trong mát, soi rốt ráo hư không, chúng sanh tâm nước sạch, bóng Bồ đề hiện ngay.”

    Kinh Tăng Nhứt A Hàm (Văn Ba-lị): Đức Phật biết mở giây sanh tử cho tất cả chúng sanh: Ngài đích thân đối với thần nhơn, chỉ rõ pháp hiểu biết, khiến họ thấy hoặc nghe, đều được an tâm. Đức Phật thật là bậc Đạo nhơn, là Thiện nhơn, là Quyết định nhơn, là Vô lậu nhơn, vì Ngài thấu suốt thân mệnh, chính là bậc Đại nhơn trí tuệ cao cả vậy.

    (Cũng kinh này) Tỳ kheo nương Phật pháp mà sanh lòng tin: tin Đức Như Lai là: Thế Tôn, đẳng Chánh giác, Minh hạnh Túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng Phu, Thiên nhơn sư. Ngài chứng quả an lành không bệnh; tu nhẫn nại và tinh tấn mức trung đạo, chứng quả chẳng hư ngụy, chẳng mê hoặc. Đúng như thật đối trước các bậc sư chủ: Chỉ rõ đạo nghĩa, an trụ tinh tấn, bỏ pháp bất thiện, phát khởi thiện pháp, nương thiện pháp mà quyết định gắng gỗ bền chắc. Thế mới thành tựu bậc trí huệ chứng Vô thượng trí vậy.

    Kinh Tiểu A Hàm: “(Văn Ba lị) Ta, tuy trong một nháy mắt, cũng chẳng rời trí lực sâu sắc của Phật Đà mà tỏ rõ nói pháp; nói pháp không ái và không phiền não của Phật Đà; với kẻ khác không còn so sánh. Ta chẳng phân biệt ngày, đêm, lấy con mắt tâm xem thấy hết. Ta tự tin rằng thoạt qua là hết đêm, cho nên trong giây lát chẳng bỏ rời. Ta tin và thích, tâm và niệm, khiến ta quy y Phật giáo vậy. Những người trí huệ cao cả như thế chẳng luận là nơi chỗ nào ta cũng vẫn đến quy y. Dầu cho thân ta già, sức ta yếu, không thể đi đến chỗ ấy được, nhưng tâm ta quyết định thường đi đến chỗ ấy. Thế thì tâm ta và tâm kẻ ấy phù hợp vậy.”

    Kinh Pháp Hoa: “Hết lòng muốn thấy Phật, chẳng tiếc gì thân mạng, khi Ta và chúng Tăng, đồng đến núi Linh Thứu.”

    Kinh Đại Bửu Tích: “Phật dạy: Nếu có Bồ Tát đem vui thắng ý, đến chỗ Ta phát khởi ý nghĩ như gặp cha, người kia sẽ được vào trong hàng ngũ Như Lai, như Ta không khác gì.”

    Kinh Trung A Hàm: “(Văn Ba lị) Thưa Thế Tôn: Nếu pháp này chỉ có Thế Tôn thành tựu, mà Tỳ kheo chẳng đặng thành tựu, hay Tỳ kheo đặng thành tựu mà Tỳ kheo ni chẳng đặng thành tựu; hoặc Tỳ kheo ni đặng thành tựu mà các người tại gia Ưu bà tắc, Ưu bà di và các người còn dục lạc chẳng đặng thành tựu, thời pháp ấy chẳng được hoàn toàn. Nhưng pháp này đức Thế Tôn được thành tựu, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni đều được thành tựu. Hơn nữa, những người tại gia nam nữ và các kẻ còn dục lạc thảy đều được thành tựu, cho nên ta tin pháp này là hoàn toàn.”

    Kinh Tạp A Hàm: “(Văn Ba lị) Vì muốn đến Niết Bàn, tin, vâng các Thánh pháp, nghe, cầu được trí huệ, tinh tấn hay thông suốt.”

    Kinh Phạm Võng: “Đứng đầu tất cả hạnh là đức tin, vì cội gốc các đức vậy.”

    Kinh Đại Trang Nghiêm: “Tất cả các công đức, đức tin là sứ mạng; trong các của báu, của đức tin đứng đầu.”

    Kinh Hoa Nghiêm: “Tin là nguồn Đạo, mẹ công đức, nuôi lớn tất cả các pháp lành, dứt trừ lưới nghi, thoát dòng ái, mở chỉ Niết Bàn, đạo Vô thượng; tin lòng trong sạch không dơ bẩn, dứt trừ kiêu mạn gốc cung kính, là của thứ nhất trong kho Pháp, là tay trong sạch lãnh các hạnh; tin hay huệ thí tâm không tham; tin hay vui mừng vào Phật pháp; tin hay thêm lớn trí công đức; tin hay quyết đến cõi Như Lai; tin khiến các căn lành sáng suốt; tin sức bền chắc không thể hư; tin hay dứt hẳn gốc phiền não; tin hay hướng về Phật công đức; tin đối cảnh giới không tham lam, xa lìa các nạn, được không nạn; tin hay vượt khỏi các đường ma, thị hiện đạo Vô thượng giải thoát; tin chẳng phá hư giống công đức; tin hay nuôi lớn cây Bồ đề; tin hay thêm ích trí tối thượng; tin hay thị hiện tất cả Phật.”

    Kinh Hoa Nghiêm: “Nếu có chúng sanh nào, chưa phát tâm Bồ đề, một khi nghe tên Phật, quyết định thành Bồ đề.”

    Luận Thập Trụ Tỳ Bà Sa: “Nếu người trồng căn lành, nghi thời hoa chẳng nở; lòng tin được trong sạch, hoa nở liền thấy Phật.”

    Kinh Hoa Nghiêm: “Bồ tát đối sanh tử, khi đầu tiên phát tâm, một bề cầu Giác đạo, bền chắc chẳng khá lay. Kia một niệm công đức, sâu rộng không ngằn mé, Như Lai phân biệt nói, trọn kiếp không thể hết.

    Tất cả tâm chúng sanh đều phân biệt hết, tất cả cõi vi trần hãy còn tính được số; mười phương cõi hư không, mảy lông cũng lường được, Bồ Tát sơ phát tâm, rốt ráo chẳng lường được.

    Kinh Xuất Sanh Bồ Đề Tâm: “Như đấng Đại Phước rất cao kia, chẳng bằng phần mười sáu Đạo tâm; nếu muốn cầu phước như Tu Di, như cát sông Hằng ở cõi Phật, thảy đều tạo chúa, xây các tháp chẳng bằng Đạo tâm mười sáu phần.”

    Kinh Đại Bảo Tích: “Công đức Bồ Đề tâm, nếu có chất hẳn hỏi, khắp cả cõi hư không, không thể dung chứa hết.”

    Kinh Hoa Nghiêm: “Nếu được nghe một câu pháp chưa từng nghe, sanh lòng rất vui mừng, còn hơn được bao nhiêu ngọc báu đầy trong tam thiên đại thiên thế giới.”

    Kinh Vô Lượng Thọ: “Đức Phật bảo Ngài Di Lặc rằng: Nghe danh hiệu Đức Phật kia, vui mừng nhảy nhót, cho đến một niệm. Phải biết người ấy ắt được lợi lớn. Ấy là đủ công đức cao tột.”

    Đức Phật dạy: Nghe pháp hay chẳng quên, thấy kinh được rất mừng, ấy bạn lành ta vậy.

    Kinh Hoa Nghiêm: “Ví như vàng Diêm phù đàn, chỉ thua ngọc Như ý, hơn tất cả các ngọc. Bồ Đề tâm như vàng Diêm phù đàn, cũng như vậy, chỉ thua Nhất thế trí, hơn tất cả các công đức.”

    Ví như chim Ca lăng tần già, khi còn nằm trong trứng, đã có thế lực mạnh, các loài chim chẳng bằng. Vị Đại Bồ tát cũng như vậy. Còn ở trứng sanh tử, đã phát tâm bồ đề, công đức rất thế lực, hàng Thanh văn Duyên giác làm gì so sánh kịp.

    Ví như hoa cây Ba Lợi Chất Đa, xông áo một ngày, hoa Chiêm Bồ, hoa Bà Sư, tuy xông ngàn năm, chẳng hay sánh nổi. Hoa Bồ đề tâm cũng lại như vậy, đem công đức xông một ngày, mùi thơm thấu mười phương cõi Phật, hàng Thanh văn Duyên giác, dùng trí vô lậu xông các công đức đến trăm ngàn kiếp cũng chẳng làm sao kịp được.

    Nghe Pháp khởi lòng tin, vui mừng không nghi ngại, chóng thành Đạo vô thượng; ngang hàng các Như Lai. Tâm trong sạch như đồ đựng nước, hình bóng thường hiển hiện. Nhưng tâm chúng sanh nhơ bẩn như đồ bị nứt, thì chẳng thấy hình bóng Như Lai Pháp Thân. Nếu hay tin, biết trừ kiêu mạn, phát tâm liền được thấy Như Lai, nếu còn dua vậy tâm chẳng sạch, ức kiếp tìm cầu khó gặp thay.

    Kinh Vô Lượng Thọ: “Kiêu mạn, si tệ, biếng nhác, khó tin nổi pháp này, nhờ đời trước thấy Phật, như vậy ưa nghe Pháp.”

    Thanh Tâm (Sưu tầm)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lời Vàng Phật Dạy Cho Chúng Sanh !
  • 25 Điều Phật Dạy Làm Thay Đổi Cuộc Đời
  • 25 Điều Phật Dạy Chúng Sinh
  • 5 Vị Trí Nốt Ruồi Ở Chân Là Mỏ Vàng, Mang Tài Lộc, Phú Quý Đến Cho Chủ Nhân
  • Lời Phật Dạy Về Cách Quý Trọng Cuộc Sống
  • Tuyển Tập Các Bài Thơ Cúng Dường Phật Đản Của Đại Đức Thích Thiện Hữu

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngày Quốc Tế Thiếu Nhi 1/6 Là Ngày Nào
  • Stt 1/6, Ảnh Đẹp & Dòng Status Ngày Quốc Tế Thiếu Nhi 1/6 Hài Hước
  • Địa Điểm Đi Chơi Vào Dịp Noel Và Tết Dương Lịch Giá Rẻ Và Tuyệt Vời Nhất
  • Stt Thứ 5 Hay Nhất ❤️ Status Thứ Năm Vui Vẻ May Mắn
  • Những Câu Nói Hay Về Tết
  • Chứa chan nắng ngã màu nâu

    Chim hót líu lo vui tột

    Trần gian nối vạn nhịp cầu.

    Tâm ý hoà nhau như nhất

    Cỏ cây hoang dại bừng khai

    Đất trời như vầng vũ chuyển

    Dương chi phủi bụi đoạ đày.

    Ngàn hoa thơm dịu xông hương

    Tham-giận-si mê cùng cực

    Phút giây tuệ trí sáng loà.

    Chín rồng nhỏ giọt dương chi

    Thích Ca ban lời pháp nhủ

    Hoa sen bảy bước xưng tôn

    Huỹ diệt sanh-già-bệnh-chết

    Dựng xây tâm thể trường tồn!!!

    Tinh sương hớp cạn chén trà

    Đản sinh Ngài chốn bụi hồng

    Mà sao ấm áp giữa lòng thế nhân

    Trang kinh con tụng chưa lần sang trang

    Dung từ Ngài ngát sông hồ

    Câu kinh vô tự lần vô cõi Thiền

    Trần gian vang tiếng hát

    Nô nức đón chào, khắp thành-thị, non sông

    Chính mãnh đất này là địa linh tụ hội

    Và đẹp mãi những nụ hoa chưa nở.

    Cùng san xẻ những nhánh sông Hồng hà

    Dòng nước mát vẫn tuôn chảy không ngừng

    Tưới đất Việt để ngàn năm xanh tốt.

    Nước hồ sen, thắm mát cả tình người

    Trơ gang đứng giữa mãnh đời giải thoát!!!!

    Dẫu cho uống cạn phù trầm

    Con nguyền trọn cả đường tu

    Trao nhau, trao cả nụ cười

    Xin cho dân tộc nở hoa Phật thừa!!!

    Bình minh sáng muôn ngàn chim non hót

    Mạch sống đạo mầu, trang trãi vô thinh

    Năm sắc Phật nhuận thắm vạn cữa nhà

    Tô đậm nét đạo vàng son in dấu!!!

    Để kẻ điếc, người mù tâm nhuận thắm.

    Dâng lòng son hoà quyện với bùn non

    Bảy đoá sen ngày ấy vẫn vuông tròn

    Ngàn năm nữa chẳng mõi mòn gương-cánh.

    Nhìn hoa rơi thấy cả một đường về

    8. TIẾNG VỌNG NGÀN NĂM

    Nhà lầu cao tầng, đường nhanh siêu tốc

    Nụ cười trên môi héo úa xanh xao

    Mắt ứa lệ dạt dào niềm luyến tiếc.

    Cây xanh lá chết dần trong đêm đen nhãn hiệu.

    Trăng sao ẩn hiện dấu son

    Suối nguồn lai láng xói mòn huyễn tâm

    Còn đây tiếng vọng ngàn năm

    Đón ngày Khánh Đản, mừng Rằm tháng tư!!!!

    Gái, trai, trẻ, già chẳng niệm phân riêng

    Sắc hương bay, cờ năm sắc tung bay

    Mãnh đất này cần trăm vạn bàn tay

    Cùng vun xới cho cây xanh, trái chín.

    Trao nhau những nụ cười hiền thanh thoát!!!

    Tan theo gió, hoà trong làn sóng nước.

    Say hay tĩnh con thơ nào có biết.

    Cũng vì ai có mặt Bụt-Như lai

    Xin Ngài về mang lại ánh ban mai

    Vọng từ cõi thường nguyên!!!!

    Giữa trời xanh, xanh biếc

    Người mang đầy nhựa sống

    Trăng thiền soi bóng nước

    Bao giờ Người đến để mưa pháp mầu

    Hoa lòng nở chốn bạt ngàn

    Phật về sáng mãi vừng vang lối về!!!

    Lan toả khắp không trung.

    Chính tay Phật truyền trao!!!

    Phật về giữa bóng cô thôn

    Chín rồng phung nước cũng từ nơi đây

    Đạo nhiệm mầu trang trãi khắp muôn nơi

    Nắng lên đi để hương đời ngào ngạt

    Biển tham-si mau tát cạn cho rồi

    Ánh Từ hùng luôn giục giả liên hồi

    Khắp mặt đất, tâm tư luôn tỏ rạng

    Phật về đây cả Âu-Á-Trung Đông

    Đất chuyển động, trần đời đầy rúng động

    Đang tưới tẩm cho cỏ cây, lúa chín.

    Lắng nghe đây điệu hót đạo nhiệm mầu

    Bao triệu năm vỏn vẹn có một ngày

    Tuyết băng rơi, la chả ánh dương lên

    Gió muôn phương thổi tảng đá ghệp ghềnh

    Tiếng kêu róc rách, dòng suối cũng tự tình

    Nước biển mặn cả nguyên trinh đưa đẩy.

    Đạo nhiệm mầu từ đây thành thi kệ

    Bảy bông sen bao giọt lệ trào dâng

    Tiếng của em đã tàn tạ bao lần

    Khắp tình người, khắp tất cả đất trời

    Từng ngọn cõ trãi dài miền dương thế.

    Cho trái ngọt, cho hoa màu tươi thắm!!!!

    20. NGUYỆN CẦU PHẬT VỀ

    Khắp trong thành-thị làng quê láng giềng

    Phật về xông lại hương thiền

    Phật về xóa sạch oan khiên

    Xóa luôn đẳng cấp ngục tù cổ xưa

    Chín rồng phun nước thay mưa

    Phật về lần nửa năm châu thái hòa!!

    Chiến tranh, thù hận ngút cao ngàn trùng

    Phân ranh đôi ngã, bạt vôi tình đời

    Hương hồn chiến sĩ không lời

    Ra đi không tiếng, không nơi nương về

    Lạy Người, con lạy ngàn năm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hãy Dành Cho Nhau Lời Chúc Phật Đản An Vui…
  • Những Câu Nói Hay Về Đám Cưới Ý Nghĩa Nhất Dành Tặng Bạn Bè, Người Thân
  • Những Bài Thơ Về Cha Ngắn Đã Khuất Cảm Động Ý Nghĩa Nhất
  • Tổng Hợp Các Câu Nói Về Ngôn Tình Hay Nhất
  • Các Câu Nói Hay Về Tình Yêu
  • 25 Câu Trích Dẫn Giáo Lý Của Đức Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Trích Đoạn Hay Trong Tác Phẩm “Thương Nhau Để Đó”
  • Mình Sinh Ra Đâu Phải Để Buồn – Hamlet Trương, Iris Cao
  • Những Câu Trích Dẫn Hay Nhất Trong Hôm Nay Tôi Thất Tình Của Hạ Vũ
  • Hoa Thiên Cốt – Fresh Quả Quả
  • Thất Tịch Không Mưa – Lâu Vũ Tình
  • Các câu trích dẫn giáo lý của Đức Phật 

     

    Lời giới thiệu của người chuyển ngữ 

    Các lời trích dẫn giáo lý của Đức Phật cùng các danh nhân khác thường thấy trên mạng, báo chí và tạp chí đủ loại tại các nước Tây phương. Dường như trong cuộc sống dồn dập tại các nơi này, một số người đôi khi cũng thích đọc một vài câu ngắn gọn nhưng sâu sắc, giúp mình suy nghĩ về xã hội, con người và sự sống nói chung. 

     

    Các lời “trích dẫn” (quotation, citation) thường bị hiểu lầm với các câu “châm ngôn” (maxim), “tục ngữ” (proverb), “ngạn ngữ” (saying) hay “cách ngôn” (aphorism). “Châm ngôn” là các câu ngắn gọn nêu lên một quan điểm đạo đức nào đó; “tục ngữ” cũng khá gần với châm ngôn, nhưng thường mang tính cách phổ cập và đại chúng hơn; “ngạn ngữ” là các câu nói xưa, nêu lên một sự thật hiển nhiên trong cuộc sống hay một sự tin tưởng mang tính cách đại chúng; “cách ngôn” là những câu thật ngắn với mục đích khuyến dạy đạo lý thường tình. Tất cả các các thể loại này, từ châm ngôn, tục ngữ, ngạn ngữ đến cách ngôn, đều không có tác giả, cũng không được trích dẫn từ một tư liệu nào cả, mà chỉ là những câu được truyền tụng rộng rãi trong dân gian. 

     

     

     

    Sau 25 câu trong bài này người chuyển ngữ sẽ tiếp tục chọn thêm các câu khác cho các bài kế tiếp.  

    Nữ ký giả Sabrine Zarhan

     

    Câu 1

     

    Không sống với quá khứ, cũng không mơ tưởng tương lai. Hãy tập trung tâm thức 

    vào giây phút hiện tại.

    Câu 2

     

    Làm bùng lên sự giận dữ cũng chẳng khác gì nhặt một cục than hồng ném vào 

    kẻ khác. Người bị bỏng là chính mình.

    Câu 3

    Nước mắt rỏ xuống địa cầu nhiều hơn nước trong khắp đại dương.

     

    Câu 4

    Chẳng có gì là trường tồn cả, nếu không thì đấy chính là sự đổi thay (vô thường). 

     

    Câu 5

     

    Một người chủ động được chính mình sẽ vĩ đại hơn cả vị Thầy của thế giới.

     

    Câu 6

    Một ngọn nến có thể châm lửa cho hàng chục ngọn nến khác, thế nhưng không phải vì thế mà nó sẽ tàn lụi sớm hơn. 

    Cũng vậy, hạnh phúc không hề giảm bớt khi mang ra chia sẻ với kẻ khác.

    Câu 7

     

    Chúng ta chính là những gì mà chúng ta suy nghĩ. Tất cả những gì là chúng ta nhất thiết đều được tạo ra bởi tư duy của chính mình. Chúng ta tạo ra thế giới của mình

    xuyên qua tư duy của chính mình.

     

    Câu 8

     

    Thế giới quả mù quáng, những kẻ sáng mắt thật hiếm hoi.

     

    Câu 9

     

    Có bốn thứ tư duy không có một biên giới nào cả: đó là tình thương yêu, lòng từ bi, niềm hân hoan và sự thanh thản. 

    Câu 10

     

    Hạnh phúc quả hiếm hoi, thật hết sức khó tìm thấy nó bên trong chính mình, thế nhưng 

    chắc chắn là sẽ không bao giờ có thể tìm thấy nó bên ngoài chính mình.

     

    Câu 11

    Hãy phát động lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh, dù họ giàu sang hay nghèo hèn. 

    Có chúng sinh nào lại chẳng khổ đau? 

    Một số khổ đau rất nhiều, một số khác ít hơn.

     

    Câu 12

     

    Có ba thứ không thể nào giấu diếm lâu dài được: mặt trời, mặt trăng và sự thật.

    Câu 13

     

    Hãy đứng lên như những con người ý thức, dù hôm nay chúng ta không học được gì nhiều, nhưng ít ra cũng học được một tí xíu. 

    Thế nhưng nếu không rút tỉa được gì cả từ một tí xíu đó mà mình đã học được, thì ít nhất mình cũng là những kẻ bệnh hoạn. 

    Thế nhưng dù mình không phải là những kẻ bệnh hoạn đi nữa, thì ít nhất mình cũng chưa phải là những người đã chết. 

    Vậy tất cả chúng ta hãy đứng lên như những con người ý thức.

     

    Câu 14

     

    Không bao giờ nên nhìn vào những gì mà mình đã hoàn tất, mà hãy nhìn vào những gì 

    mà mình còn phải làm.

     

    Câu 15

     

    Hãy tự đặt mình vào vị trí của kẻ khác, đấy là cách giúp mình không làm điều gì sai trái 

    đối với những người chung quanh.

     

    Câu 16

    Hận thù không bao giờ dừng lại với hận thù, hận thù chỉ chấm dứt với tình thương. 

     

    Câu 17

    (Hãy sống tương tự như là mình sẽ chết vào ngày mai. Vậy hãy nên tập cách mà mình 

    sẽ phải sống mãi mãi. 

    (Nếu phải chết vào ngày mai thí mình mình cũng không có gì khiến mình phải hối tiếc hay ân hận, vì thế nếu phải sống lâu hơn thì cũng nên cố gắng không vi phạm một sự sai trái hay lỗi lầm nào)   

    Câu 18

     

    Sự sống không phải là một vấn đề để giải quyết, mà là một sự thật 

    để cảm nhận nó.

     

    Câu 19

    Không ai trừng phạt mình vì sự giận dữ của mình, chính sự giận dữ của mình 

    trừng phạt mình.

     

    Câu 20

    Bất cứ một sự chinh phạt nào cũng đều tạo ra hận thù, bởi vì kẻ chiến bại sẽ lâm vào cảnh khốn cùng. Những ai giữ được sự bình lặng, buông bỏ những ý nghĩ chiến thắng 

    và cả chiến bại, tất sẽ tạo được hạnh phúc cho mình.

     

    Câu 21

    Mây không tan biến mà sẽ hóa thành mưa.

     

    Câu 22

     

    Không nên quá tin vào những gì không thể xảy ra, bởi vì chính những gì không thể xảy ra sẽ đến với mình.

     

    Câu 23

    Một nghìn chiến thắng trước một nghìn kẻ thù không sánh bằng một chiến thắng duy nhất 

    là chiến thắng chính mình

     

    Câu 24

    Giữa trời cao và đất rộng, không có một nơi an trú nào vĩnh cữu cả.

     

    Câu 25

     

    Hãy nghi ngờ tất cả, nhất là những gì tôi sắp nói ra.

     

    ***

     

    Vài lời ghi chú của người chuyển ngữ 

     

    Sự nghi ngờ là một cách cửa mở ra cho chúng ta hai đường hướng suy nghĩ: tiêu cực và tích cực. Nghi ngờ tiêu cực là một sự khinh miệt, nghi ngờ tích cực là một cách bắt trí óc mình phải làm việc để truy lùng sự thật, giúp mình tiếp cận với một bầu không gian hiểu biết rộng lớn hơn. Trái ngược lại với sự nghi ngờ là đức tin, một điểm chấm hết, một cánh cửa khép lại. Đức tin là một hình thức xúc cảm, có thể mang lại cho chúng ta một sức mạnh rất lớn, thế nhưng đôi khi sức mạnh đó không được khai thông và hướng dẫn thích nghi và khéo léo bởi lý trí, khiến nó trở thành một sức mạnh mù quáng, có thể tạo ra nhiều đổ vỡ. 

     

     

    “Này các tỳ-kheo và các hiền giả, cũng tương tự như người thợ kim hoàn thử vàng bằng cách đốt, cắt, đập, phải xét đoán các lời của ta nói ra trước khi chấp nhận, không nên chỉ vì kính nể ta mà phải chấp nhận”.    

     

    Câu này cũng được viết cùng với một số câu trích dẫn nổi tiếng khác của các danh nhân khác trên trần nhà cao vút của gian phòng triển lãm rộng lớn của Thư viện François Mitterand và cũng là Thư viện Quốc gia Pháp tại Paris. Câu này cũng đã được thư viện in thành bưu thiếp bày bán ở quầy sách của thư viện. Người viết các câu này cũng đã lộng kính bưu thiết này và đặt lên bàn làm việc của mình từ gần hai mươi năm nay để luôn nhắc nhở mình phải cẩn thận trong việc viết lách, tra cứu và cả sự suy tư của mình.

     

    Doutez de tout et surtout ce que je vais vous dire

    (Hãy nghi ngờ tất cả, nhất là những gì tôi sắp nói ra)

    Đức Phật (556-480 trước JC)

    (xin lưu ý có nhiều giả thuyết với đôi chút khác biệt về năm sinh và năm tịch diệt của Đức Phật)

     

     

    Đến đây chúng ta lại tiếp tục tìm hiểu thêm vài câu trích dẫn khác, chẳng hạn như:

     

    Câu 7: “Chúng ta chính là những gì mà chúng ta suy nghĩ…”. Câu này là một câu rút gọn từ bốn câu đầu tiên trong Kinh Dhammapada (“Kinh Pháp Cú”).

     

    Câu 8: “Thế giới quả mù quáng, những người sáng mắt thật hiếm hoi”. Thật vậy thế giới luôn ở trong thể dạng chuyển động thường xuyên: xung đột, chiến tranh, thiên tai, bệnh tật, chết chóc, pha lẫn với các thú vui hời hợt, các sự thỏa mãn phù du, kể cả các ảo giác và hy vọng trong tâm thần của mỗi cá thể. Hầu hết chúng đều có thể nhận thấy dễ dàng và thật hiển nhiên sự chuyển động đó của thế giới. Thế nhưng sự trông thấy ấy chỉ là một sự trông thấy mù quáng. Những người giác ngộ nhận thấy được nguyên nhân tạo ra sự chuyển động đó của thế giới, bản chất khổ đau của sự chuyển động đó và con đường giúp mình thoát ra khỏi thế giới đó, thì quả thật hết sức hiếm hoi.

     

    Câu 9: “Bốn thứ vô biên”, kinh sách Hán ngữ gọi là “tứ vô lượng tâm”. Bốn phẩm tính này được nêu lên trong “Bài kinh về lòng Từ tâm” (Metta sutta, SN 46.54). Độc giả có thể xem bản Việt dịch của bài kinh này trên trang mạng Thư Viện Hoa Sen: https://thuvienhoasen.org/a33469/bai-kinh-ve-long-tu-tam

     

    Câu 12: “Không thể giấu diếm sự thật lâu dài được”. Thật vậy, sự thật là thành phần của hiện thực, nằm trong sự vận hành chung của thế giới. Chúng ta có thể vô tình không trông thấy nó, hoặc trông thấy nó nhưng cố tình che dấu nó, thế nhưng sự thật vẫn là sự thật, nó sẽ hiện ra với chúng ta một lúc nào đó. Phật giáo gọi các sự suy nghĩ của mình, ngôn từ của mình, cử chỉ và hành vi trên thân xác mình, bằng một thuật ngữ rất bao quát là karma. Karma là tiếng Phạn, tiếng Pali là kamma, nguyên nghĩa là “hành động”, có nghĩa là một cái gì đó chuyển động, tạo ra hay hình thành (act, action, deed), kinh sách Hán ngữ dịch là nghiệp/業, cách dịch này khá gượng ép nếu không muốn nói là sai, ít nhất là trên phương diện từ nguyên. 

     

     

    Câu 13: “… Dù hôm nay chúng ta không học được gì nhiều, nhưng cũng học được một tí xíu”.  Sống nhưng không trông thấy gì nhiều, chẳng học được gì cả từ những điều trước mắt, thì quả mình là một người bệnh hoạn, nếu không muốn nói là đã chết. Sống mà phải che mặt với tổ tiên, úp mặt với lịch sử, thì thật là đáng tiếc. “Hãy đứng lên như những con người ý thức”.

     

     

     

    Câu 17: “Hãy sống tương tự như là mình sẽ chết vào ngày mai. Vậy hãy nên tập cách mà mình sẽ phải sống mãi mãi”. Câu này có nghĩa là nếu phải chết vào ngày mai thí mình cũng chẳng có gì đê hối tiếc hay ân hận, vì thế nếu phải sống lâu hơn thì cũng nên giữ gìn như thế nào để không vi phạm một sự sai trái hay một lỗi lầm nào. 

     

    Câu 18: “Sự sống không phải là một vấn đề để giải quyết, mà là một sự thật để cảm nhận nó”. Tuy ngắn gọn thế nhưng câu này thật ra nêu lên một vấn đề vô cùng sâu sắc. Vậy sự sống là gì và con người là gì? Sự sống tự nó không hàm chứa một ý nghĩa “triết học siêu hình” nào cả, cũng không mang một “chủ đích” hay “mục đích” cụ thể nào cả. Sự sống qua sự hiện hữu của một con người chỉ là một hiện tượng, tương tự như tất cả mọi hiện tượng khác, một sự thật “trần trụi”. Tín ngưỡng – nói một cách khác thì cũng là chính chúng ta – là một sản phẩm phụ của sự sống, đã gán thêm cho sự sống một ý nghĩa nào đó. Trên thực tế, sự sống chỉ là một sự cảm nhận, một sự ý thức mơ hồ nào đó về sự hiện hữu của mình trong sự chuyển động chung của thế giới. 

     

    Vậy chúng ta cảm nhận cái gì trong sự sống khi mình đang sống, ý thức được điều gì khi mình đang hiện hữu? Thật hết sức đơn giản: chúng ta cảm thấy “khổ đau” trong sự sống khi mình đang sống (ít nhất là cái chết đang chờ đợi mình), chúng ta ý thức được sự “chuyển động” của thế giới khi mình đang hiện hữu trong thế giới (ít nhất là sự già nua của mình trong từng ngày).  Phật giáo gọi sự “khổ đau” mang tính cách hiện sinh và nội tại đó của sự sống là duhkha (suffering, sorrow) và gọi sự “chuyển động” của thế giới, trong đó kể cả sự sống, là karma (act, action, deed/ nghiệp). 

     

     

    Thế nhưng một khi đã trông thấy được sự vận hành đó tức là karma và cảm nhận được sự thật đó tức là dhukha, thì chúng ta phải làm gì, phải hành động như thế nào? Chúng ta nên tạo ra thêm cho sự “vận hành” đó một chút ý nghĩa, và cho “sự thật” đó một chút chủ đích, có nghĩa là chúng ta hãy thổi vào cho sự sống một chút từ bi và tình thương yêu, là một chút gì đó cao cả hơn, thay vì chỉ biết cảm nhận sự sống như là một sự thật “vô nghĩa” và “trần trụi”.  

     

    Câu 22: “Không nên quá tin vào những gì không thể xảy ra, bởi vì chính những gì không thể xảy ra sẽ đến với mình”. Ý nghĩa của câu này có vẻ vừa bao quát vừa mơ hồ, thế nhưng cũng có thể phản ảnh các bối cảnh các sự kiện rất cụ thể. Chẳng hạn mình nghĩ rằng tai nạn và thiên tai xảy là chỉ để đăng tải trên báo chí để mọi người xem, chẳng liên hệ gì đến mình. Hãy nêu lên một trường hợp khác, chẳng hạn như các vị lãnh tụ, các tướng lãnh gây ra chiến tranh và chết chóc cho hàng triệu người, đến khi chết được mọi người tôn vinh như những bậc anh hùng, xây lăng, đúc tượng, được những người tu hành làm lễ truy điệu long trọng, khiến chúng ta cứ nghĩ rằng và tin chắc rằng họ sẽ không thể nào rơi xuống địa ngục được.   

    *** 

    Phụ lục I 

    Bài kinh về một Trận chiến (I)

    (Sangama-Sutta – 1)

    (Samyutta Nikaya/ Tương ưng Bộ kinh / SN / 3:14)

     

    Lúc đó Đấng Thế tôn đang ngụ tại thành Savatthi/ Xá-vệ (kinh đô của vương quốc Magadha/ Ma-kiệt-đà). Vua Ajatasattu (từng nhốt cha là vua Bimbisara/ Tần-bà Sa-la vào ngục, bỏ đói cho đến chết để lên ngôi) con trai của hoàng hậu Videha (vua Bimbisasara có bốn người vợ chính thức, hoàng hậu Videha là người vợ thứ tư), động quân gồm bốn binh chủng (binh chủng voi trận, binh chủng kỵ binh, binh chủng dùng xe do ngựa kéo và binh chủng bộ binh) tiến đến Kasi/ Ca-di (tên ngày nay là Varanasi, còn gọi là Banares hay Benares/ Ba-la-nại, là một thánh địa của Ấn giáo và cả Phật giáo) để gây chiến với vua Pasenadi/ Ba-tư-nặc của xứ Kosala/ Kiều-tát-la. Vua Pasenadi nghe tin: “Vua Ajatasattu của xứ Magadha, con của hoàng hậu Videha, động binh, gồm bốn binh chủng, tiến đến thành Kasi để gây chiến với ta”. Vua Pasenadi tức thời cũng động binh, gồm bốn binh chủng, để chống lại vua Ajatasattu. Vua Ajatasattu và vua Pasenadi cùng xua quân xông vào trận chiến. Vua Ajatasattu thằng trận, vua Pasenadi phải kéo tàn quân lui về kinh đô Savatthi.  

     

    Cũng vào sáng sớm hôm đó, một đoàn ty-kheo mặc áo trong, ôm bình bát, khoác thêm áo ngoài, cùng nhau đi vào thành Savatthi để khất thực. Sau khi khất thực và ăn xong thì họ tìm gặp Đấng Thế tôn. Khi gặp được Đấng thế tôn thì họ vái chào và ngồi sang một bên. Sau khi an tọa họ cất lời với Đấng thế tôn: “Thưa Đấng Thế Tôn, vừa mới đây, vua Ajatasattu của xứ Magadha, con trai của hoàng hậu Videha, kéo quân gồm bốn binh chủng tiến đến Kasi để gây chiến với vua Pasenadi. Vua Pasenadi tức thời cũng động binh, gồm bốn binh chủng, để chống lại. Vua Ajatasattu và vua Pasenadi cả hai cùng xua quân xông vào trận chiến. Vua Ajatasattu thắng trận, vua Pasenadi phải kéo tàn quân lui về kinh đô Savatthi”.

     

    “Này các tỳ-kheo, vua Ajatasattu là một người bạn thiếu đạo hạnh, một người thân thiết thiếu đạo hạnh, một người đồng hành thiếu đạo hạnh, trong khi đó vua Pasenadi là một người bạn đạo hạnh, một người thân thiết đạo hạnh, một người đồng hành đạo hạnh. Thế nhưng đang trong lúc này thì vua Pasenadi bại trận, đêm nay sẽ nằm ngủ trong đau buồn”.

    Sau khi nói lên như thế, vị Thầy tiếp tục giảng thêm cho các tỳ-kheo:

     

    “Chiến thắng đưa đến hận thù.

    Bại trận ôm chặt những niềm đau. 

    Giữ sự trầm lặng sẽ mang lại an bình.

    Không nghĩ đến chiến thắng và cả chiến bại”   

    Ghi chú: Chiến thắng lớn nhất là chiến thắng chính mình – câu trích dẫn 23.

    Phụ lục II

     

    Bài kinh về một Trận chiến (2)

    (Sangama-Sutta – 2)

    (Samyutta Nikaya/ Tương ưng Bộ kinh / SN / 3:15)

     

     

    Lúc đó Đấng Thế tôn đang ngụ tại thành Savatthi. Vua Ajatasattu, con trai của Hoàng hậu Videha, động quân gồm bốn binh chủng kéo đến Kasi để gây chiến với vua Pasenadi của xứ Kosala. Vua Pasenadi nghe tin: “Vua Ajatasattu của xứ Magadha, con trai của hoàng hậu Videha, động quân gồm bốn binh chủng, tiến đến Kasi để gây chiến với ta”. Vua Pasenadi tức thời cũng động binh, gồm bốn binh chủng, để chống lại vua Ajatasattu. Vua Ajatasttu và vua Pasenadi cùng xua quân xông vào trận chiến, thế nhưng trong trận chiến này vua Pasenadi đã thắng và bắt sống được vua Ajatasattu.

     

    Vua Pasenadi suy nghĩ như thế này: “Dù vua Ajatasattu đối xử với ta thật tàn tệ, trong khi ta chẳng làm gì sai trái với hắn, thế nhưng dầu sao thì hắn cũng là cháu ta. Vậy, nếu ta đã tịch thu được tất cả đàn voi trận của hắn, toán quân kỵ mã của hắn, đoàn xe của hắn, toán bộ binh của hắn, thì phải chăng ta cũng nên tha mạng cho hắn? (Magadha và Kosala là hai vương quốc láng giềng. Hoàng triều của cả hai vương quốc có nhiều liên hệ họ hàng với nhau. Kasi nơi xảy ra hai cuộc chiến là một vùng tranh chấp thường xuyên giữa hai vương quốc này, và cũng tại nơi này, Đức Phật từng thuyết giảng lần đầu tiên, dành riêng cho năm vị đồng tu với mình trước đây. Kinh sách gọi lần thuyết giảng lịch sử này là sự “Khởi động bánh xe Dharma/ Đạo Pháp”, kinh sách Hán ngữ gọi là “Chuyển Pháp luân”). Nghĩ thế và sau khi đã tịch thu tất cả đàn voi trận của hắn, toán quân kỵ mã của hắn, đoàn xe của hắn, toán bộ binh của hắn, thì vua Pasenadi tha mạng và thả vua Ajatasattu.    

    Cũng vào sáng sớm hôm đó, một đoàn ty-kheo mặc áo trong, ôm bình bát, khoác thêm áo ngoài, cùng nhau đi vào thành Savatthi để khất thực. Sau khi khất thực và ăn xong thì họ tìm gặp Đấng Thế Tôn. Khi gặp được Đấng Thế Tôn thì họ vái chào và ngồi sang một bên. Sau khi an tọa thì họ thuật lại với Đấng Thế Tôn các chuyện vừa xảy ra. 

     

    Sau khi nghe xong Đấng Thế Tôn nói với họ như sau:

     

    Một người khi cướp bóc,

    Thì cứ tha hồ vơ vét.

    Thế nhưng sau khi kẻ khác đã bị vơ vét,

    Thì người vơ vét,

    Đến lượt mình, sẽ bị cướp bóc.

     

    Một người ngu xuẩn [trong khi vơ vét] nghĩ rằng:

    “Đây quả là dịp may của mình”

    Thế nhưng điều đó chỉ đúng,

    Khi nào hành động tồi tệ của mình chưa chín muồi.

    Khi nó chín muồi,

    Thì tên ngu xuẩn sẽ rơi vào khổ đau.

     

    Giết người,

    Tạo ra kẻ giết mình.  

    Chinh phạt,

    Tạo ra kẻ chinh phạt mình. 

      Lăng nhục,

    Sẽ bị lăng nhục.

    Xúc phạm, 

    Sẽ bị xúc phạm.

     

    Sự xoay vần của hành động (nghiệp) là như vậy.

    Kẻ cướp bóc,

    Đến lượt mình, sẽ bị cướp bóc. 

     

     

    Bures-Sur-Yvette, 17.10.20

    Hoang Phong chuyển ngữ

    --- Bài cũ hơn ---

  • 50 Câu Nói Trong Quyển Sách “Nhà Giả Kim” – Paulo Coelho Có Thể Thay Đổi Cuộc Đời Bạn
  • Sự Kiện Các Trích Dẫn Hay Trong Phim Và Tiểu Thuyết
  • Những Câu Nói Hay Trong Hoa Tư Dẫn
  • Trích Dẫn Trong Những Truyện Của Diệp Lạc Vô Tâm
  • Những Câu Nói Hay Trong Dụ Tình – Lời Mời Của Boss Thần Bí
  • Những Lời Dạy Vàng Của Đức Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Kalama: Lời Phật Dạy Cho Người Kalama (Song Ngữ Anh
  • Kho Sách Nói 18. 100 Lời Khuyên Quý Báu Để Giữ Gìn Sức Khỏe
  • Sắc Đẹp Rồi Sẽ Tàn Phai Theo Năm Tháng
  • Những Lời Phật Dạy Thầy Thích Trí Huệ 2022 Chùa Pháp Bảo Hoa Kỳ
  • 14 Lời Phật Dạy Giúp Bạn Định Hướng Cuộc Đời Mình
  • Giới thiệu sách:

    Khó thay! Là kiếp sống không trường cửu Hy hữu thay! Được nghe lời chơn thật của Pháp Hy hữu thay! Một vị Phật ra đời

    Cuộc sống mặc dầu quý, nhưng quả thật là bấp bênh không phương hướng. Cái chết trái lại là một điều không thể cản ngăn và nó sẽ đến chắc chắn là như thế!

    Người âý hành theo lời dạy của Như Lai nhất ( Essential of Buddhism. Trang 7-Chương IV)

    Trong thế giới vạn vật hữu hình này, tất cả sự vật hiện tượng xảy ra trong cuộc sống xung quanh chúng ta đều phát sinh từ những nguyên nhân ban đầu của nó. Chỉ khác nhau là chúng bắt nguồn từ những nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp, gần hoặc xa mà thôi. Những điều xảy ra từ nguyên nhân trực tiếp (gần) thật dễ thấy. Ví dụ như sự lao động trong cuộc sống. Nếu ta lao động nhiều thì ta đạt được thành quả nhiều, nếu ta lao động ít thì ta đạt được thành quả ít.

    (Năng lực lao động ít hoặc nhiều).

    Nếu ta gieo giống là hạt chanh thì được quả chua. Nếu ta gieo giống từ hạt mít thì được quả ngọt. Nhân nào quả nấy âu cũng là một lẽ tự nhiên của tạo hóa vậy. Sự lao động chân tay hay trí óc cũng cho kết quả tương tự như thế.

    Mặt khác, bên cạnh từ Nhân gieo để hỗ trợ thành Quả mong muốn, Duyên (hay điều kiện): Đất, Nước, Phân, các kỹ thuật khoa học chăm sóc… cũng thật cần thiết và quan trọng. Như vậy, thành quả đạt được là do sự đầu tư từ:

    Hạt giống + Điều kiện → Thành phẩm (Nhân) + (Duyên) → (Quả)

    Do là sự giữa và trong những điều kiện khác nhau, dẫn đến sự tạo thành một chất mới là Theo nguyên lý đó vừa sanh cũng chính là Nhân (+ điều kiện…) để sanh ra và hãy còn tiếp diễn mãi mãi trong vòng luân hồi không dứt. Cũng vậy, trong các nguyên lý tạo nên nhiệt năng, cơ năng, động năng… đều mặc nhiên vận hành theo nguyên lý Nhân-Duyên-Quả này. Bởi cái này có, thì cái kia có… và cứ tiếp tục một chuỗi Nhân-Duyên-Quả vô cùng vô tận như vậy.

    Xét về yếu tố thời gian thì cái trước là Nhân, sinh ra cái sau là Quả.

    Nếu chúng ta có tâm tốt, lời nói tốt và hành động đối đãi tốt với người hoặc chúng sinh khác…- thì được người hoặc chúng sinh khác thương yêu quý mến lại. Đó cũng là lẽ thường trong cuộc sống.

    Bên cạnh những sự vật, hiện tượng xảy ra xung quanh chúng ta, xuất phát từ những nguyên nhân gần (trực tiếp) thật là dễ thấy, dễ biết, còn có những điều xảy ra mà chúng ta khó hiểu và khó thấy được nguyên nhân của nó xuất phát từ đâu? Chẳng hạn như, có lẽ trong tất cả chúng ta ai cũng có lần gặp những người lạ chưa từng quen biết. Mới lần đầu gặp nhau đã phát sinh thiện cảm và đem lòng thương yêu, quý mến nhau, hoặc sinh tâm không ưa thích, ác cảm với nhau, dầu chỉ mới lần đầu gặp nhau! Đây là những việc thật sự lạ lùng mà chúng ta thường không thể hiểu được tại vì sao! Điều này không hẳn là giữa chúng ta và những người lạ mới gặp đó chưa từng có nhân duyên với nhau từ trước!?

    Nói về lý Nhân-Duyên-Quả có khi cũng thật là đơn giản và cũng có nhiều trường hợp thật là vi tế, thậm thâm vi diệu. Lý ấy với trí tuệ thường nhân chúng ta không thể hiểu tới được.

    Thật vậy, có lần Ngài Anan (Thị giả – bậc Đa văn đệ nhất trong hàng môn đồ – Đại đệ tử của Đức Phật) cho rằng:”Mặc dù lý Nhân-Duyên-Quả có vẻ khó khăn, nhưng thật ra giáo lí này rất đơn giản”. Thế là Ngài Anan bị Đức Phật quở về nhận xét này. Đức Phật khẳng định rằng giáo lí về Nhân-Duyên-Quả rất là thâm sâu. Chỉ có trí tuệ siêu quần của một vị Phật mới thấu được. Ngài đã thấy vô lượng vô biên kiếp quá khứ lẫn tương lai của chúng sinh. Do hạnh nghiệp dị biệt của mỗi chúng sinh đã tạo ra từ trong kiếp quá khứ mà chúng sinh có loài sinh làm loài trời, có loài sinh làm người hoặc thọ sinh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.v.v… Có kẻ cao sang, người hạ liệt, có người minh tuệ, người vô trí, kẻ đẹp, người xấu…

    Vì thương muôn loài chúng sinh, nên Chư Phật ra đời chỉ dạy ba con đường an vui cho chúng sanh:

    – Một là con đường Phúc lạc an vui ở cõi người.

    – Hai là con đường an vui nơi cảnh trời.

    – Ba là con đường Niết Bàn an vui cao thượng trường cửu, giải thoát vĩnh viễn cảnh khổ sinh tử luân hồi trong 3 giới 4 loài.

    Tập sách nhỏ này, bần đạo đã phiên dịch, soạn thảo theo phương pháp hệ thống hóa từ nhiều kinh sách chánh truyền của quốc giáo Phật Giáo Nam Truyền Myanmar. Nội dung chủ yếu giới thiệu tóm tắt một số vấn đề cơ bản. Đây là những vấn đề cần thiết dành cho những người sơ cơ mới bắt đầu tìm hiểu đến lời dạy của Đấng Cha Lành về những điều hay lẽ phải, sự thật chân lý vốn hằng hiện hữu vận hành mọi nơi mọi lúc trong cuộc sống của chúng ta.

    Sách này cũng có thể dùng làm sổ tay cho quý bậc thức giả nghiên cứu học phật hoặc trong giảng dạy. Và đồng thời cũng dành cho hàng nam nữ cư sĩ tại gia những điều quan trọng cốt lõi để dễ dàng áp dụng trong cuộc sống giữa các mối quan hệ từ gia đình đến xã hội, đặng có được nhiều sự lợi ích và an vui lâu dài.

    Với sự cố gắng hết mình, nhưng khó tránh khỏi sơ sót. Kính mong chư Tôn hiền đức, các bậc thiện trí thức hoan hỉ bổ chính, từ bi chỉ giáo. Bần đạo kính cẩn xin thọ nhận những cao kiến đóng góp xây dựng để những lần tái bản được hoàn thiện hơn.

    Lần tái bản nầy nhờ sự đóng góp kỹ thuật trình bày bìa của Thiện nam Ngọc Duy, sự hết lòng đánh lại toàn bộ bản thảo, từ nhóm cộng tác viên của cô tín nữ Mai Lan Hương, Sư Cô Bi Nguyện và chư thiện tín xa gần trực tiếp hoặc gián tiếp đóng góp phần công đức cũng như được Nhà xuất bản Tôn Giáo cho phép tái bản. Bần đạo rất là hoan hỷ và biết ơn quý vị.

    Nguyện cầu Hồng Ân Tam Bảo thiêng liêng và Phước báu phát sinh do Pháp thí thanh cao này, hộ trì đến quý vị cùng bửu quyến sức khỏe, thịnh vượng, phú quý, thân tâm thường an lạc, hằng tấn hóa trong mọi phước thiện và nhất là sớm hội đủ duyên lành, chứng đắc đạo quả Niết Bàn an vui bất diệt, giải thoát sự buộc ràng sinh tử luân hồi trong ngày vị lai.

    Đồng thời, bần đạo xin hồi hướng Pháp thí này đến tất cả chúng sinh, mong cho tất cả chúng sinh hoan hỉ với phần phước thiện thanh cao này mà được an vui lâu dài.

    Soạn giả: Đại Đức Thích Thiện Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • 25 Lời Phật Dạy Làm Thay Đổi Cuộc Đời (Song Ngữ)
  • Sống Ở Đời Đừng Quá Đặt Nặng Mọi Thứ, Cho Được Cứ Cho
  • Đức Phật Dạy Về 35 Tác Hại Của Rượu
  • Lời Phật Dạy Về 2 Cách Buông Bỏ Phiền Não
  • Phật Giáo Nói Gì Về Phụ Nữ?
  • Lời Khuyên Của Đức Phật Để Các Người Nữ Nên Tránh Về Tình Yêu Và Tình Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Con Người Sinh Ra Là Để Nhận Cái Chết
  • Tu Cái Miệng Để Không Gieo Khẩu Nghiệp
  • Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam
  • Chuyện Ăn Chay, Mặn Trong Phật Giáo
  • Phật Dạy: Có 5 Nguyên Tắc Cần Nhớ Trong Đời Để Cuộc Sống An Lạc, Yên Ổn
  • “Biết thân như bọt nước,

    Ngộ thân là như huyễn,

    Bẻ tên hoa của ma,

    Vượt tầm mắt thần chết

    .” Kinh Pháp Cú, phẩm 4: Phẩm Hoa

    “Thân như bọt nước” là thân dễ bị biến mất như bọt nước ý nói là thân dễ bị hủy hoại theo luật vô thường của Phật giáo. Thân bao gồm tứ đại (là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa tượng trưng cho thịt, máu, hơi thở và hơi nóng trong cơ thể, nếu một trong bốn yếu tố đó bị thiếu thì hồn lìa khỏi xác) và ngũ uẩn nên dễ bị mất đi.

    “Ngộ thân là như huyễn” ý nói là nhận biết thân chỉ là giả chứ không có thật, sau khi qua đời ai cũng phải bỏ thân giả đó lại chỉ còn lại phần hồn chờ đầu thai sang kiếp khác hoặc có thể cảnh giới khác.

    “Bẻ tên hoa của ma” ý nói là Ma vương hay ma quân dùng người nữ làm ‘mồi ngon’, làm mũi tên bắn để hại người tu hành, bậc tu hành có Trí huệ biết là người nữ này bị ma dựa, bị ma xui khiến nên không bị mắc mưu, do đó bậc tu hành không bị ma hãm hại.

    “Người nhặt các loại hoa,

    Ý đắm say, tham nhiễm,

    Bị thần chết mang đi,

    Như lụt trôi làng ngủ.”

    Kinh Pháp Cú, phẩm 4: Phẩm Hoa

    “Các loại hoa” là hoa lớn, hoa nhỏ hay là thân thể của người nữ để thỏa mãn lòng dâm dục của người nam. “Như lụt trôi làng ngủ” ý nói là tánh mạng người nam tham dâm dục đã bị thần chết cướp đi bất ngờ theo luật vô thường. Như ngôi làng đang say ngủ không đề phòng nên nước lũ lụt bất ngờ ập đến cuốn trôi những ngôi nhà và dân làng đi.

    Người nhặt các loại hoa,

    Ý đắm say tham nhiễm,

    Các dục chưa thỏa mãn,

    Ðã bị chết chinh phục.”

    Kinh Pháp Cú, phẩm 4: Phẩm Hoa

    Lòng dâm dục cũng giống như thức ăn, khi no nê rồi thì thỏa mãn không muốn nữa, khi thiếu thốn thì lại muốn thỏa mãn tiếp. Nhưng có sự khác biệt lớn là nếu thiếu ăn thì chết còn lòng dâm dục không thỏa mãn thì không đến nỗi chết. Nếu có đủ Trí huệ và kỷ luật thì có thể dễ dàng vượt qua.

     “Hãy xem bong bóng đẹp,

    Chỗ chất chứa vết thương,

    Bệnh hoạn nhiều suy tư,

    Thật không gì trường cửu.”

    Kinh Pháp Cú, phẩm 11: Phẩm Già

    Thân thể như cái bong bóng thổi phồng to ra, có đến 70% của cơ thể là nước. Bên ngoài gồm có túi da bao bọc, bên trong toàn những thứ bất tịnh và có vi trùng. Nếu các vị soi kiếng hiển vi một miếng máu hay một miếng nước bọt thì các vị sẽ thấy đầy dẫy nhiều thứ vi trùng trong đó. Bên trong cơ thể người nữ là bộ xương, rồi sau đó đến thịt da, rồi sau đó mới đến quần áo bao bọc ngoài cùng. Cơ thể người nữ ngày đêm có chín lỗ bất tịnh đang thải những chất dơ: Hai lỗ mắt, lỗ miệng, lỗ mũi, hai lỗ tai, lỗ tiểu tiện, lỗ đại tiện và lỗ chân lông. Thân của người nam cũng đầy dẫy những bất tịnh như vậy.

    148. “Sắc này bị suy già,

    Ổ tật bệnh, mỏng manh,

    Nhóm bất tịnh, đỗ vỡ,

    Chết chấm dứt mạng sống.”

    Kinh Pháp Cú, phẩm 11: Phẩm Già

     

    149. “Như trái bầu mùa thu,

    Bị vất bỏ quăng đi,

    Nhóm xương trắng bồ câu,

    Thấy chúng còn vui gì?”

    Kinh Pháp Cú, phẩm 11: Phẩm Già

    “Nhóm xương trắng bồ câu” Có ý nói là những cái xương trắng như lông bồ câu. Sau một thời gian ngắn sẽ bị hủy hoại dần dần, rồi sau đó sẽ bị biến mất trên mặt đất.

     

    150. “Thành này làm bằng xương,

    Quét tô bằng thịt máu,

    Ở đây già và chết,

    Mạn, lừa đảo chất chứa.”

    Kinh Pháp Cú, phẩm 11: Phẩm Già

    Mạn là kiêu mạn, tự cao. Lừa đảo là những dối gian về thân, khẩu, ý. Với ví dụ ở trên thì xương như kèo, cột của nhà, da như mái tranh và tường nhà.

    151. “Xe vua đẹp cũng già.

    Thân này rồi sẽ già,

    Pháp bậc thiện, không già.

    Như vậy bậc chí thiện

    Nói lên cho bậc thiện.”

    Kinh Pháp Cú, phẩm 11: Phẩm Già

    Thân người nữ rồi cũng sẽ già và bệnh. Pháp của Đức PHẬT đã thuyết cách đây khoảng 2,500 vẫn đúng đắn nhiều thế hệ và nhiều thế kỷ. Do đó Pháp của Đức PHẬT sẽ không già.

    152. “Người ít nghe kém học,

    Lớn già như trâu đực.

    Thịt nó tuy lớn lên,

    Nhưng tuệ không tăng trưởng.”

    Kinh Pháp Cú, phẩm 11: Phẩm Già

    Các vị còn trẻ, còn minh mẫn nên có thể dễ dàng học Phật pháp để tiếp thu và sửa chữa. Nếu các vị cố chấp, nghe Đức PHẬT thuyết đúng quá mà không chịu sửa thì sẽ bị những vần thơ ở trên hay nơi nào khác chế giễu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 36 Lời Phật Dạy Về Tình Yêu Để Hạnh Phúc Tròn Đầy
  • Đức Phật Dạy Về: Nhân Quả Đẹp, Xấu, Nghèo, Sang Hàn Của Phụ Nữ
  • Lời Dạy Của Đức Phật
  • Tham Sân Si Là Gì? Làm Gì Khi Tham Sân Si Dấy Lên?
  • : Quay Đầu Là Bờ
  • Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật Như Lai

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật
  • Những Lời Phật Dạy Về Chữ Hiếu.
  • Lời Phật Dạy Về Giá Trị Con Người Đáng Để Chúng Ta Phải Suy Ngẫm
  • 5 Điều Phật Dạy Người Chồng Để Có Một Gia Đình Hạnh Phúc
  • Những Lời Phật Dạy Về Cuộc Sống Vợ Chồng
  • Này các đệ tử, nếu có ai xúc phạm, thương tổn thân thể các vị, các vị nên kiềm chế tâm mình, đừng để lửa sân hận thiêu đốt. Lại phải giữ lời ăn, tiếng nói, đừng buông lời ác độc để trả đũa ai.

    1- Này các đệ tử, sau khi Như Lai qua đời, các vị phải trân trọng, cung kính giới luật như kẻ nghèo hèn được giàu có, như kẻ đui mù được sáng mắt. Phải biết rằng giới luật là bậc Thầy tối thượng. Dẫu có sống thêm ở đời bao nhiêu năm nữa, Như Lai cũng không ngoài mục đích răn dạy các vị về giới luật ấy thôi.Người giữ giới thì không được kinh doanh, thương mại, xây dựng nhà cửa, cày cấy ruộng vườn, đầu tư nông nghiệp, thuê người giúp việc, theo kiểu thế tục. Không được chặt đốn cây cối, đào đất, móc hang, điều chế dược liệu, đoán quẻ tốt xấu, xem sao đoán mạng, nghiên cứu địa lý, tìm tòi hưng suy, hay coi lịch đoán số.

    Các vị nên sống tiết chế thân mạng, ăn uống điều độ, duy trì nếp sống thanh cao, giải thoát. Không tham dự chính trị, lãnh sứ mạng liên lạc, thông tin. Không được luyện bùa chú, chế linh dược, giao hảo người quyền quý, kết thân kẻ ngạo mạn. Cần phải giữ tâm chân thật, sống chánh niệm và tỉnh thức trong từng phút giây, mong cầu đạo quả giải thoát. Không được che dấu lỗi lầm, bày điều mê hoặc để thu hút quần chúng. Phải sống ít muốn, biết đủ đối với bốn phẩm vật cúng dường. Sống vừa đủ để hành đạo, không cất chứa tài sản và tiền bạc.Như Lai vừa nói tóm tắt về sự giữ giới. Giới luật đó là căn bản, là gốc rễ của giải thoát. Nhờ giữ giới trang nghiêm, thiền định và trí tuệ phát sanh, có thể tiêu diệt sự đau khổ. Thế nên các vị hãy giữ gìn giới luật một cách trọn vẹn. Người giữ giới thanh tịnh sẽ nuôi lớn pháp lành. Người thiếu mất giới thì không thể phát sinh công đức.

    2. Này các đệ tử, các vị phải chế ngự năm giác quan không để chúng dong ruổi theo trần cảnh, dục lạc. Người tu phải như chú mục đồng cầm roi chăn, không để trâu dẫm đạp lúa mạ của người. Một khi các vị buông lung năm giác quan, không những các vị không chế ngự được năm thứ dục lạc, mà các vị cũng không thể dừng được vòng cương toả của phóng túng, như con ngựa chứng nếu không dây cương, nó sẽ lao xuống hầm hố. Nạn khổ của giặc cướp chỉ có một đời, trong khi nạn giặc giác quan làm chúng sanh đau khổ nhiều kiếp. Tai họa của nó vô cùng nguy hiểm. Các vị phải cẩn thận.

    Thế nên, người có trí cần phải chế ngự các giác quan chứ không phục tùng nó; giữ gìn chúng như là canh chừng giặc cướp, không để chúng hoành hành, thao túng.Này các đệ tử, trong các giác quan của con người, ý là quan trọng nhất. Các vị phải thận trọng chế ngự tâm ý mình. Tâm ý rất đáng sợ, nguy hiểm còn hơn thú dữ, rắn độc, thậm chí nguy hại hơn cả nạn hỏa hoạn. Cũng như có người mải mê cầm giữ chén mật trên tay và quên đi hầm hố trên đường, sẽ bị vấp ngã. Cũng như voi say mà không có móc sắt; như khỉ vượn gặp được cây rừng tha hồ mà chuyền nhảy, muốn chế ngự chúng thì thật là khó. Vì vậy các vị siêng năng chế ngự tâm mình, để giữ gìn tất cả các pháp thiện. Khi tâm được chế ngự một chỗ thì không việc gì không thành.

    3. Này các đệ tử, khi thọ dụng phẩm vật cúng dường, các vị nên quan niệm như uống thuốc. Ngon không ham, dở không chê. Ăn uống chỉ để cho khỏi đói khát. Như ong hút mật trong hoa, chỉ lấy mùi vị, không làm tổn thương hương sắc.

    Người xuất gia cũng vậy: thọ dụng sự cúng dường để đủ sức khoẻ tu tập, không được ham cầu quá nhiều, làm tổn thất tín tâm của tín thí. Hãy như người trí biết lượng sức kéo và chịu đựng của trâu, không nên dùng trâu quá sức, đến nỗi kiệt lực.4. Này các đệ tử, ban ngày thì nỗ lực tu tập pháp lành, không để thời gian trôi qua uổng phí. Đầu hôm, cuối đêm cũng không luống bỏ. Giữa đêm tụng niệm, tu trì. Đừng vì chuyện ngủ nghỉ mà để cuộc đời trôi qua vô ích. Hãy tâm niệm rằng ngọn lửa vô thường đang đốt cháy thế gian, để tự tinh tấn độ mình, khắc phục sự lười biếng, ngủ nghỉ. Giặc phiền não luôn rình rập giết các vị, còn nguy hiểm hơn kẻ thù, làm sao các vị có thể mặc tình ngủ nghỉ mà không cảnh giác ! Phiền não ngủ trong tâm người cũng như rắn độc nằm trong nhà, phải dùng móc sắt giới hạnh mà lôi kéo nó ra gấp. Rắn độc ra rồi ta mới an tâm ngủ nghỉ.

    Rắn độc chưa ra mà mải mê ngủ nghỉ thì thật là người không biết hổ thẹn.Này các đệ tử, sự hổ thẹn là trang sức đẹp nhất trong mọi trang sức. Sự hổ thẹn có khả năng chế ngự mọi thứ bất thiện và phi pháp của con người. Thế nên hãy sống với tâm niệm hổ thẹn, đừng bao giờ lãng quên đức tính ấy. Mất tâm hổ thẹn là mất tất cả công đức. Có hổ thẹn là có tất cả thiện pháp. Không hổ thẹn thì có khác chi loài cầm thú.

    4. Này các đệ tử, nếu có ai xúc phạm, thương tổn thân thể các vị, các vị nên kiềm chế tâm mình, đừng để lửa sân hận thiêu đốt. Lại phải giữ lời ăn, tiếng nói, đừng buông lời ác độc để trả đũa ai. Tâm sân hận trỗi dạy sẽ làm băng hoại đạo nghiệp, cháy hết công đức tu tập. Đức tánh của kham nhẫn thì giữ giới và khổ hạnh cũng không thể sánh bằng. Thực hành đức nhẫn mới xứng danh là bậc Thượng Nhân có sức mạnh. Người nào chưa có thể chịu đựng sự nhục mạ một cách hoan hỷ, như uống cam lộ, thì chưa thể xứng danh là người vào đạo có trí. Sự sân hận sẽ thiêu hủy tất cả pháp lành, nó nguy hiểm hơn lửa dữ. Các vị phải canh phòng cẩn mật, đừng cho sân hận xâm nhập. Trong các loại giặc cướp công đức thì sân hận là nguy hiểm bậc nhất. Người thế gian sống thọ hưởng dục lạc, thiếu phương pháp chế ngự, nếu có sân hận còn có thể tha thứ được. Người xuất gia hành đạo loại bỏ mọi thứ vui của đời mà không loại bỏ được sân hận thì thật đáng trách, cũng giống như bầu trời quang đãng mà có sấm sét nổi lên là điều không thích hợp.6. Này các đệ tử, các vị hãy tự xoa đầu mình và ghi nhớ rằng: các vị đã bỏ tất cả các mỹ phẩm và trang sức của thế gian, khoác trên mình chiếc áo cà-sa hoại sắc, sống bằng cách khất thực. Khi nào tâm lý kiêu mạn, cao ngạo nổi lên thì lập tức chế ngự nó. Kiêu ngạo là tánh xấu mà thế nhân còn không nên có, huống chi là người xuất gia vì đạo giải thoát, sống bằng khất thực hay sao!7. Này các đệ tử, tâm lý dua nịnh trái ngược hoàn toàn với đạo giải thoát. Thế nên, các vị hãy huấn luyện tâm cho thật chất trực. Nên biết rằng: Dua nịnh là điều dối trá mà người xuất gia không nên có. Phải làm cho tâm ý đoan chánh, phát huy đức tánh trung trực. Đó là con đường vào đạo.

    5. Này các đệ tử, các vị nên biết rằng người nào tham muốn nhiều thì nhu cầu lợi dưỡng cũng nhiều, do vậy mà đau khổ càng tăng. Người ít muốn thì không ham cầu, không đắm nhiễm nên không có tệ hại ấy. Chỉ với lợi ích ấy thôi cũng đủ để các vị phải trau dồi, thực tập, huống là khi hạnh này còn có công năng phát triển các công đức ! Người ít muốn thì không lấy lòng người bằng cách dua nịnh, lòn cúi và cũng không bị các giác quan sai sử, thao túng. Hành giả ít muốn, tâm ý được thanh thản, không còn những ưu tư, phiền muộn, gặp việc thì đủ nghị lực để ứng phó, không việc gì không làm được. Nói chung, sống hạnh ít muốn tất gần Niết-bàn.9. Này các đệ tử, nếu các vị muốn giải thoát mọi đau khổ thì nên thường xuyên tu tập quán biết đủ. Pháp biết đủ là cơ sở của sự an lạc, hạnh phúc và sung mãn. Người biết đủ dẫu nằm trên đất vẫn thấy an lạc. Người không biết đủ dẫu sống ở thiên đường vẫn chưa thấy toại nguyện. Không biết đủ tuy giàu mà rất nghèo. Biết đủ thì tuy nghèo nhưng rất giàu có. Người không biết đủ là kẻ nô lệ của năm thứ dục lạc thấp kém và còn là tấm bia đời đáng thương xót đối với hành giả biết đủ.

    6. Này các đệ tử, muốn đạt đạo tịch tịnh, vô vi, an lạc, các vị phải xa lìa những chốn huyên náo, sống một mình ở những nơi an nhàn, thanh vắng. Người ở chỗ yên tĩnh thì trời Đế-thích và chư Thiên đều kính trọng. Vì thế, các vị nên xa lìa hội chúng, sống đơn độc thư thái và cắt đứt gốc rễ đau khổ bằng tư duy trí tuệ. Người thích hội chúng thì bị hội chúng nhiễu loạn, như cây cổ thụ mà có nhiều chim tụ tập thì có thể bị hư cành. Thế gian trói buộc con người trong đau khổ cũng giống như con voi già bị sa lầy, khó mong thoát khỏi. Đó là hạnh siêu thoát, các vị cần ghi tâm.

    7- Này các đệ tử, nỗ lực tinh tấn thì không việc gì khó khăn. Thế nên các vị phải siêng năng, tinh tấn như giọt nước thường nhỏ có thể xuyên thủng đá. Người tu hành mà biếng nhác thì khác nào như người cọ cây lấy lửa, cây chưa kịp nóng đã nghỉ, dầu tha thiết được lửa, lửa cũng không vì thế mà có được. Hãy siêng năng tinh tấn không dừng.

    8- Này các đệ tử, thực ra cầu cạnh thiện tri thức hay người trợ lực không bằng tự mình đề cao chánh niệm, tỉnh thức. Có chánh niệm thì giặc phiền não không thể xâm nhập được.

    Thế nên các vị phải sống trong sự nhiếp niệm. Mất chánh niệm là đồng nghĩa với mất công đức. Có được chánh niệm bền vững thì dù sống trong môi trường ngũ dục cũng chẳng hề gì, như người chiến sĩ vào trận có mặc áo giáp thì không còn sợ gì nữa.

    9- Này các đệ tử, nhiếp phục được tâm ý là làm cho tâm an trụ vào định. Tâm trụ thiền định thì sẽ thấu triệt được trạng thái sinh diệt, chuyển biến của thế giới. Các vị phải tinh tấn tu tập thiền định. Tâm định thì trạng thái chao động, tán loạn sẽ tiêu mất cũng như người biết cách giữ nước thì phải bảo vệ tốt đê điều. Cũng vậy, muốn có nước trí tuệ, các vị phải khéo tu tập thiền định, không để cho rỉ chảy.

    10- Này các đệ tử, có trí tuệ thì không có tham trước, luôn luôn tự tỉnh thức và tự dò xét, nhờ đó người ấy có khả năng giải thoát trong giáo pháp của Như Lai. Nếu không có trí tuệ thì không xứng danh là bậc xuất gia. Trí tuệ là chiếc thuyền vững chắc vượt qua biển sanh tử, là ngọn đèn sáng chói trong hắc ám vô minh, là dược liệu thần y của mọi bịnh tật và là lưỡi búa bén chặt đứt cây phiền não. Vì thế, các vị cần trau dồi tuệ giác “văn, tư, tu” để tăng trưởng lợi ích. Người có trí tuệ soi chiếu thì dẫu là mắt thịt vẫn là người chánh kiến, thấy rõ bản chất mọi vật.

    11. Này các đệ tử, hý luận chỉ làm cho tâm trí rối loạn. Người xuất gia mà sống hý luận thì không thể đạt được tuệ giác giải thoát. Vì thế các vị phải nhanh chóng từ bỏ vĩnh viễn tâm lý hý luận, vô ích. Diệt trừ các hý luận tạp loạn mới có thể đạt được an lạc tịch diệt.

    12. Này các đệ tử, hãy thường xuyên nhớ đến các công đức để từ bỏ tất cả mọi phóng dật, như là tránh xa bọn giặc cướp tài sản thánh. Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã tuyên nói chánh pháp lợi ích rốt ráo. Về phần mình, các vị hãy nỗ lực tinh tấn thường xuyên, đừng để cuộc đời trôi qua vô ích, sau này ăn năn, hối hận đã muộn. Như Lai như là vị lương y, rõ biết bịnh lý, cho toa thuốc hợp bịnh trạng từng người. Uống hay không uống không phải là lỗi của lương y. Như Lai lại cũng như người chỉ đường, chỉ rõ đâu là con đường nên đi và hướng đến giải thoát. Biết rõ đường lành mà không chịu cất bước lên đường không phải là lỗi của vị đạo sư!

    13. “Này các đệ tử, đối với bốn chân lý thánh, nếu có chỗ nào chưa thấu đáo, thì nên thưa hỏi, Như Lai sẽ chỉ bày cho các con.” Thế Tôn khuyên nhắc ba lần như vậy, bốn chúng đều im lặng, không ai còn thắc mắc.

    Lúc ấy, tôn giả A-nậu-lâu-đà bạch Phật rằng:- Bạch Thế Tôn, dù cho mặt trăng có thể trở nên nóng, mặt trời có trở nên lạnh, nhưng Bốn Chân Lý Thánh mà Như Lai đã dạy không thể nào thay đổi được. Khổ đế là thực trạng đau khổ của cuộc đời: sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thù ghét mà phải gặp mặt là khổ, thương yêu mà phải chia lìa là khổ, chấp vào năm nhóm nhân thể là khổ. Diệt đế là trạng thái hết sạch mọi đau khổ và nguyên nhân đau khổ, là an lạc, Niết-bàn. Đạo đế là con đường dẫn đến an lạc, là tám chánh đạo, là trung đạo, không có con đường nào khác. Bạch Thế Tôn, cả bốn chúng đều không còn thắc mắc gì về bốn chân lý cao thượng nầy nữa.

    14. Lúc bấy giờ trong chúng, hàng đệ tử hữu học phải đối diện sự kiện Đức Phật sẽ vô dư Niết-bàn, đều thấy cảm thương, đau xót. Hàng đệ tử mới vào đạo nghe những lời dạy cuối cùng đều được hóa độ, như trong đêm tối nhờ có ánh sáng, nên thấy đường đi. Các hàng đệ tử vô học đã dứt sạch các phiền não, vượt ra khỏi sanh tử, vẫn không ngăn được sự ngậm ngùi: “Tại sao Đức Thế Tôn vô dư Niết-bàn quá sớm! Lúc đó, Đức Phật vì thương bốn chúng nên dạy thêm rằng: “Này các đệ tử, chớ có thảm sầu, đau xót. Dẫu Như Lai có sống thêm ở đời một kiếp nữa, rồi cũng phải đến ngày Niết-bàn. Hội ngộ mà không chia tay; kết hợp mà không tan rã là điều không thể có được”.

    Đối với Như Lai, kinh nghiệm và pháp thức lợi mình, lợi người, Như Lai đều đã tuyên bố. Thật chẳng có lợi ích gì, nếu Như Lai sống lâu nơi đời mà các vị không thực hành chánh pháp. Những chúng sanh đáng độ, Như Lai đã độ hết. Những chúng sanh chưa được độ, Như Lai cũng đã tạo nhân duyên để họ được hóa độ. Từ nay trở đi, đệ tử của Như Lai hãy noi theo truyền thống chánh pháp mà thực hành. Đó là cách làm cho pháp thân Như Lai thường còn, và mãi mãi bất diệt ở thế gian. Như Lai vô dư Niết-bàn hay không, việc đó không quan trọng.

    Này các đệ tử, các vị nên nhận thức rằng mọi vật thể, hiện tượng trên thế gian này đều chuyển biến, vô thường, có kết hợp thì phải có tan rã, chẳng có gì để quyến luyến, thương tâm. Cuộc đời là như thế, các vị phải nỗ lực tinh tấn để tự giải thoát. Dùng ánh sáng trí tuệ để tiêu diệt bóng tối si mê. Đời là một sự vận hành không kiên định. Như Lai vô dư Niết-bàn như bỏ đi một căn bệnh dữ. Đó là năm nhóm nhân tính, mang tính tội lỗi, tạm gọi là thân, vì thế, nó phải chịu sự chi phối không thương tiếc của già, bệnh và chết. Bậc tuệ trí khi thoát khỏi nó có cảm tưởng như là dẹp xong được bọn cướp. Như vậy, chết không đáng để hoan hỷ, an lạc hay sao? Này các đệ tử, các vị phải tha thiết tìm kiếm con đường giải thoát. Toàn thể thế giới từ những vật thể đang vận động cho đến các vật thể không vận động cũng đều không thường còn, và không có thực thể, rồi phải đến lúc hoại diệt.

    Thôi, các vị hãy yên lặng, đừng nói thêm lời nào nữa ! Đã đến lúc Như Lai vô dư Niết-bàn. Đó là những lời dạy cuối cùng của Như Lai.

    Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật. (3 lần, xá 3 xá)

    Anh Nhy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Giải Nhân Duyên Vợ Chồng Cha Mẹ Con Cái
  • Lời Phật Dạy Ý Nghĩa Cho Mọi Cặp Vợ Chồng
  • Tư Duy Lời Phật Dạy Nhân Mùa Dịch
  • Hiểu Lời Dạy Phật Dạy Trong Kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân
  • Những Lời Vàng Ngọc Của Đức Phật
  • 3 Bài Học Nuôi Dạy Con Của Đức Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Bao Dung Cho Người Khác Để Cuộc Sống Nhẹ Nhàng An Lạc
  • Danh Ngôn Lời Vàng Phật Dạy Về Trí Tuệ
  • Duyên Và Nợ Trong Tình Yêu Qua Những Lời Dạy Của Đức Phật
  • Duyên Nợ Và Tình Yêu Theo Lời Phật Dạy
  • Phật Dạy Về Nhân Duyên Kiếp Trước Của 10 Loại Người
  • Sau khi chứng đạt giác ngộ tối thượng, Đức Phật trở thành người thầy dạy dỗ chính cho con trai của mình – La Hầu La trong hầu hết quãng đời niên thiếu của La Hầu La. Vậy Đức Phật là một người cha như thế nào? Phương pháp dạy con của Ngài ra sao? Làm thế nào một Bậc giác ngộ trao truyền những giá trị tâm linh của mình cho con cái?

    Kinh điển không đề cập nhiều đến mối quan hệ cha-con giữa Đức Phật và La Hầu La, nhưng đâu đó có để lại những điển tích thú vị đáng lưu ý về việc Đức Phật đã dẫn dắt con mình như thế nào trên con đường tu tập giác ngộ. Phần lớn những chi tiết về các bài học Đức Phật dạy con nằm trong ba bài pháp mà nếu ta gom cả lại với nhau, thì đó chính là một tiến trình liên tục của con đường dẫn tới giác ngộ: Khi La Hầu La 7 tuổi, Đức Phật dạy con về đạo đức; lúc La Hầu La 10 tuổi, Đức Phật dạy cho con thiền định; và lúc 20 tuổi, Ngài dạy về tuệ giác giải thoát. Quá trình trưởng thành của La Hầu La, vì vậy, đi đôi với tiến trình giác ngộ của Đức Phật.

    Khi còn nhỏ, nếu con trẻ có cơ duyên thực hành Phật pháp thì sau này lớn lên chúng có thể trở về với những tiềm năng đó nếu chúng thích hay cần đến. Nếu trẻ nhỏ có thể nương tựa vào Phật pháp, thì sau này, dù đang ở bất cứ nơi đâu, con cũng có thể quay về với mái ấm vững chắc đó. Nhất là, đối với nhiều bậc cha mẹ, gia tài lớn nhất mà họ có thể để lại cho con mình lại là sự an lạc, thảnh thơi và lòng từ bi chứ không phải tiền của vật chất.

    Kinh điển kể lại rằng, sáu năm sau khi Đức Phật rời bỏ gia đình và một năm sau khi đạt được giác ngộ, Đức Phật trở về quê hương của mình.

    Khi Đức Phật đến thăm hoàng cung, công chúa Da Du Đà La đưa La Hầu La đến gặp Ngài và dạy: “Này La Hầu La, Ngài chính là cha của con. Con hãy đến xin Ngài ban cho con phần tài sản của mình”.

    Cậu bé La Hầu La làm theo lời mẹ, đến đỉnh lễ ra mắt Đức Phật. Nhưng khi đến gần Đức Phật, chiêm ngưỡng thân tướng trang nghiêm và dung mạo uy nghi của Ngài, La Hầu La quên bẵng lời mẹ dặn. Cậu chắp tay cung kính và bạch với Đức Phật rằng: “Bạch Sa-môn, chỉ cái bóng của Ngài thôi cũng làm cho con mát mẻ an vui”. Thế rồi cậu bé cứ quấn quýt bên chân Đức Phật cho đến khi Ngài thọ trai xong và rời khỏi hoàng cung trở về nơi lưu trú trong ngự uyển.

    La Hầu La cũng đi theo Đức Phật về ngự uyển. Trên đường về, bất chợt La Hầu La nhớ lạy lời mẹ dặn, cậu bèn bạch với Đức Phật: “Bạch Sa-môn, xin cho con phần tài sản của con”. Về đến nơi, Đức Phật thầm nghĩ: “Tài sản trong thế gian chất chứa đầy phiền não. Như Lai sẽ ban cho con gia tài cao thượng gồm bảy phần mà Như Lai đã đạt được dưới cội Bồ-đề. Con sẽ trở thành chủ sở hữu của một gia tài siêu thế”. Ngài gọi Tôn giả Xá Lợi Phất làm lễ xuất gia cho La Hầu La và lãnh trách nhiệm làm thầy giáo thọ dạy dỗ cậu. Thay vì được ngôi vua, La Hầu La đã được thừa hưởng con đường đi của cha mình – con đường dẫn đến giải thoát giác ngộ.

    Nếu suy ngẫm thật kỹ lưỡng, chúng ta sẽ thấy những lời Đức Phật dạy La Hầu La hoàn toàn phù hợp với việc dạy con trong xã hội hiện đại này, thậm chí nhiều bậc học giả tại những quốc gia phương Tây phát triển đã công nhận điều này.

    Trung thực và từ bi

    Câu chuyện đầu tiên kể về việc Đức Phật dạy La Hầu La về lòng chính trực (integrity). Lúc lên tám tuổi, La Hầu La đã có lần nói dối. Bài Kinh Giáo Giới La Hầu La (Trung Bộ Kinh, 61) kể rằng sau khi tọa thiền xong, Đức Phật đến tìm con. La Hầu La lấy ghế mời cha ngồi, rồi mang đến một thau nước cho cha rửa chân, theo phong tục thời ấy. Sau khi rửa chân xong, Đức Phật hỏi:

    “Này, La Hầu La, con có thấy chút nước còn lại trong cái thau này không?”

    “Dạ, con có thấy” – La Hầu La thưa.

    “Đời của một người tu cũng chỉ đáng bằng một chút nước này thôi, nếu như người đó cố tình nói dối.”

    Sau đó, Đức Phật hất đổ hết nước trong thau ra và nói: “Đời của một người tu cũng đáng vất bỏ đi như vầy nếu như người đó cố tình nói dối.”

    Xong, Đức Phật lật cái thau úp xuống và nói: “Đời của một người tu sẽ trở nên đảo lộn như vầy nếu như người đó cố tình nói dối.”

    Và, để nhấn mạnh thêm nữa, Đức Phật lật ngửa cái thau trở lại và nói: “Đời của một người tu cũng trở nên trống rỗng như cái thau này nếu như người đó cố tình nói dối.”

    Sau đó Ngài dạy con: “Đối với một người cố tình nói dối, không có một tội lỗi xấu xa nào mà người đó không thể làm. Vì vậy, La Hầu La, con hãy tập đừng bao giờ nói dối, cho dù đó là một lời nói đùa.”

    Đức Phật lại hỏi tiếp: “Cái gương dùng để làm gì?”

    “Bạch Đức Thế Tôn, gương dùng để soi” – La Hầu La đáp. Đức Phật lại dạy:

    “Trong khi chuẩn bị làm điều gì bằng thân, khẩu, ý, con phải quán chiếu: hành động này có gây tổn hại cho mình hoặc cho kẻ khác không. Nếu, sau khi suy xét, con thấy rằng hành động đó sẽ có hại, thì con hãy đừng làm. Còn nếu con thấy rằng hành động đó có ích lợi cho con và cho kẻ khác, thì con hãy làm.”

    Thay vì dạy cho con mình nhận biết sự khác biệt tuyệt đối giữa đúng và sai, Đức Phật đã dạy cho con suy ngẫm về điều có lợi và có hại cho mình và cho người khác. Điều này đòi hỏi cả khả năng tự nhận thức (self-awareness) lẫn lòng bi mẫn. Đặt nền tảng của đạo đức dựa trên “có lợi” hay “có hại” giúp giải thoát đời sống đạo đức của chúng ta khỏi những khái niệm trừu tượng và những ý niệm chẳng ăn nhập gì tới hậu quả của việc ta làm. “Có lợi” và “có hại” cũng giúp cho con người nhận biết mục tiêu trong mỗi hành động của mình. Những điều ta làm sẽ trở thành hoặc là nghịch duyên, hoặc là thuận duyên trên con đường ta đi.

    Phương pháp giáo hoá của Đức Phật khiến các bậc cha mẹ tin tưởng thêm rằng chúng ta cần gieo vào nơi tâm hồn con trẻ những hạt giống của lòng bi mẫn, những hạt giống của ý thức về việc mỗi hành động của nó sẽ ảnh hưởng đến người khác như thế nào. Sức mạnh của sự quán chiếu về lòng từ bi sẽ không có được nếu đứa trẻ chỉ biết vâng theo lời của người lớn: “Con hãy biết quán chiếu, và hãy có lòng từ bi!” Những giá trị này chỉ có thể có được qua gương của người khác, nhất là của cha mẹ đứa trẻ.

    Đức Phật cũng dạy cho La Hầu La hãy xem xét sau khi làm một việc gì đó, nó có gây tổn hại gì không. Nếu có, thì phải đến gặp một người có tuệ giác và sám hối để tránh lặp lại lỗi lầm trong tương lai. Bạn hãy hướng dẫn con trẻ phát triển lòng chính trực bằng cách nhận ra lỗi lầm của mình. Và lòng chính trực đó tuỳ thuộc rất nhiều vào cách cha mẹ soi xét lỗi lầm của con mình ra sao. Cách hành xử của cha mẹ ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển đạo đức của con trẻ: nếu cha mẹ cho con trẻ thấy được là nó có thể tin tưởng mình được, là mình chỉ muốn giúp cho con mình trưởng thành hơn là muốn trừng phạt con, thì con trẻ sẽ trở nên thành thật với cha mẹ của chúng hơn.

    Thiền Định

    Câu chuyện thứ hai nói về việc Đức Phật đã dạy thiền cho La Hầu La ra sao, nhằm phát triển nền tảng của nội tâm (Trung Bộ Kinh, 62). Lúc đó La Hầu La được 10 tuổi. Câu chuyện bắt đầu lúc hai cha con đang đi thiền hành. Trong lúc đi, La Hầu Ha chợt thấy hãnh diện về vẻ đẹp của mình, và Đức Phật đã đọc được tư tưởng đó. Ngài nói với con: “Nhìn bằng con mắt của tuệ giác, cái thân này không phải là tôi (me), không phải là của tôi (mine), không phải là tự ngã của tôi (myself).” Rồi Đức Phật giảng tiếp: ta phải loại bỏ hết tất cả tưởng, hành, thức cũng như bất cứ ý niệm nào về tôi, của tôi, và tự ngã của tôi. Nghe những lời dạy này xong, La Hầu La cảm thấy hổ thẹn, lui về thiền viện, và không thiết gì đến việc ăn uống suốt ngày hôm đó.

    Nhiều chương trình kỹ năng sống hiện đại luôn dạy trẻ tự tôn cái tôi, tự tôn sự khác biệt của chính mình. Họ lập luận rằng điều này rất quan trọng cho tiến trình phát triển của các em về “cái tôi” và quá trình đi tìm kiếm bản thân mình. Vậy có phải Đức Phật đã xen vào tiến trình phát triển bình thường của con trẻ, thay vì để chúng tự khám phá? Nếu không có hiểu biết về “cái tôi”, làm sao một thiếu niên có thể phát triển thành một người lớn với một tâm lý thăng bằng? Câu trả lời nằm ở những gì Đức Phật dạy con Ngài ở đoạn sau đây.

    Tối hôm đó, sau khi bị Đức Phật quở trách, La Hầu La đến xin cha dạy cho mình phương pháp thiền quán hơi thở. Trước hết, Đức Phật dùng thí dụ để minh hoạ làm sao để buông xả trong lúc thiền định. Ngài dạy:

    “Con phải thiền làm sao giống như đất vậy: đất không cảm thấy phiền vì bất cứ một thứ gì đổ lên đó. Vì vậy, nếu con tập thiền giống như đất, con sẽ không có cảm giác vui thích hay không vui thích về bất cứ một điều gì. Hãy tập thiền như nước, như lửa, như gió, và như không gian: tất cả đều không cảm thấy phiền bởi những cảm giác vui thích hay không vui thích. Thực tập được như nước, như lửa, như gió, như không gian, tâm của con sẽ không còn vướng bận gì cả.”

    Rồi, trước khi dạy cho La Hầu La phép quán niệm hơi thở, Đức Phật dạy cho con về quán tâm từ như là một phương thuốc giải độc trừ khử ác tâm, về tâm bi để vượt thắng sự tàn ác, về tâm hỷ để thuần phục những sự bất toại nguyện, và về tâm xả để ngăn chặn những bất an, thương ghét.

    Sau đó, Ngài mới bắt đầu dạy cho con phép quán niệm hơi thở qua 16 giai đoạn. Những giai đoạn này chia làm 3 phần: a) tịnh hóa tâm và thân; b) định tâm để nhận biết thân tâm và phát triển tuệ giác; và c) buông xả. Cuối cùng, Đức Phật lưu lại một dấu ấn đậm nét về giáo lý của Ngài với La Hầu La bằng cách nhấn mạnh rằng qua sự thực tập ý thức từng hơi thở của mình, ta sẽ có khả năng nhận biết hơi thở cuối cùng của mình vào giây phút cận tử một cách hoàn toàn bình thản.

    Khi giảng dạy thiền cho thiếu niên, Tiến sĩ Gil Fronsdal nhận thấy khả năng thiền của các em nhảy vượt bậc vào khoảng 13-14 tuổi. Có nhiều em có thể nhập thiền rất sâu, tuy rằng các em không duy trì được trạng thái này lâu lắm. Cũng có nhiều người trẻ dùng phương pháp thiền định để ổn định tinh thần và tìm về sự thảnh thơi an lạc giữa những thử thách của tuổi mới lớn.

    Tuy nhiên, thiền quán hơi thở không chỉ ích lợi cho các em thiếu niên, mà nó còn là cuộc hành trình suốt đời. Đức Phật đã kết thúc bài giảng của mình bằng cách chỉ cho La Hầu La thấy giá trị của việc tập quán niệm hơi thở như thế nào đối với giây phút cuối cùng của cuộc đời mình.

    Tuệ Giác

    Trong bài pháp thứ ba và cuối cùng, Đức Phật đã hướng dẫn La Hầu La trả lời một loạt những câu hỏi về tuệ giác giải thoát (Trung Bộ Kinh, 147). La Hầu La đã dâng trọn thời niên thiếu của mình cho con đường đạt đến giác ngộ; trong một đoạn kinh, Ngài được xem là một nhà tu gương mẫu và tinh chuyên. Khi La Hầu La tròn 20 tuổi, Đức Phật biết rằng con trai của mình đã gần đến bờ giải thoát. Ngài đã làm một việc hết sức cảm động: Ngài đi bộ cùng với con vào sâu trong rừng. Ngồi dưới gốc một cây đại thụ già cỗi, Ngài đã hướng dẫn La Hầu La khai mở trí tuệ bằng một cuộc pháp đàm rất kỹ về thuyết vô ngã. Đối với một người đã đạt đến trình độ tu tập cao như La Hầu La, thì những tư tưởng nằm sâu trong tiềm thức về cái ngã là chướng ngại cuối cùng của sự giải thoát. Ngồi nghe Đức Phật giảng, La Hầu La đã chứng đắc được tự tính vô ngã của vạn pháp, và đó chính là nấc thang cuối cùng giúp La Hầu La đạt đến sự giải thoát trọn vẹn. Thuyết vô ngã của Đức Phật có thể khó hiểu. Người ta rất dễ ngộ nhận nó là một triết thuyết trừu tượng, mà không thấy được thực ra đó chính là những lời dạy rất thực tế về việc làm thế nào để tìm thấy hạnh phúc bằng cách buông bỏ hết tất cả.

    Trong Phật giáo, giác ngộ là hạnh phúc lớn lao nhất và là mục tiêu rốt ráo. Mong ước rằng con cái của chúng ta sẽ tìm thấy sự an lạc, thảnh thơi, và an lành trên con đường đi tới giải thoát giác ngộ. Và có lẽ, trên con đường trở thành người lớn, chúng cũng sẽ được dạy về đạo đức, thiền định, và tuệ giác như tấm gương của Ngài La Hầu La vậy.

    (Nhóm ĐBT sưu tầm và biên soạn

    Nguồn: Tiến sĩ Gil Fronsdal

    Insight Meditation Center)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lời Đức Phật Dạy Cho Con Trai La Hầu La
  • Giữ Lòng Thanh Thản Để Nhẹ Bước Trên Con Đường Tươi Đẹp
  • Phật Giáo: Nghiệp Chướng Là Gì? Giải Trừ Nghiệp Chướng Theo Lời Phật Dạy Để Lòng Thanh Thản, Đời An Vui Mãi Về Sau
  • Lời Phật Dạy Giúp Con Người Sống Với Nhau Tốt Hơn ⋆ Sống Đẹp
  • Chữ Nhẫn Trong Đạo Phật
  • Lời Hay Ý Đẹp Và Những Câu Nói Hay Về 14 Điều Dạy Của Đức Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về 7 Điều Suy Ngẫm Của Dalai Lama (Phật Giáo Tây Tạng)
  • Những Câu Nói Hay Chúc Mừng Giáng Sinh Noel Hay Nhất (Merry Christmas)
  • Những Câu Nói Hay Chúc Mừng Ngày 8/3 Tặng Người Yêu Và Bạn Bè
  • Những Câu Nói Hay Chúc Mừng Sinh Nhật Người Yêu Lãng Mạn Nhất
  • Những Câu Nói Hài Hước Về Vợ Chồng, Hôn Nhân Hay Nhất
  • Lời nói Phật dạy luôn ẩn chứa ý nghĩa cao thượng nào đó, và mỗi chúng ta cần suy gẫm những câu nói hay mà đức Phật để lại, từ đó rút được bài học quý giá của cuộc sống, hướng đến cuộc sống hạnh phúc viên mãn.

    Và để có thể hiểu hết những lời hay ý đẹp của Phật dạy, điều duy nhất ta cần làm đó là đọc đi đọc lại nhiều lần những câu nói hay về cuộc sống, những câu nói hay về Phật, và áp dụng vào cuộc sống khi gặp trường hợp cần thiết phù hợp.

    14 câu nói hay nhất về điều Phật dạy mà ta cần ngẫm nghĩ

    1. Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình
    2. Ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá
    3. Thất bại lớn nhất của đời người là tự đại
    4. Bi ai lớn nhất của đời người là ghen tị
    5. Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình
    6. Tội lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu
    7. Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ti
    8. Đáng khâm phục lớn nhất của đời người là vươn lên sau khi ngã
    9. Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng
    10. Tài sản lớn nhất của đời người là sức khoẻ, trí tuệ
    11. Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm
    12. Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung
    13. Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là kém hiểu biết
    14. An ủi lớn nhất của đời người là bố thí.

    Điều duy nhất để chúng ta sống trọn vẹn hơn, có nghĩa là áp dụng những câu nói hay về Phật dạy vào cuộc sống cá nhân mỗi người chúng ta. Cụ thể hóa là chúng ta cần sống yêu thương hơn, thấu hiểu và cảm thông với nhiều người khác giữa cuộc sống này.

    Huyền Bùi chúc bạn rút được những ý nghĩ hay nào đó, và rồi áp dụng vào đời sống, học tập cũng như công việc thật thành công !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Tin Nhắn Làm Quen Bạn Gái Lần Đầu Ấn Tượng Và Chất Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Thầy Cô Và Ngôi Trường Yêu Tuổi Học Trò
  • Những Câu Nói Hay Về Đố Vui Cực Kỳ Hại Não Và Thú Vị
  • Những Câu Nói Hay Về Stt Tình Yêu Hài Hước Bá Đạo Hot Trên Facebook
  • Top 10 Câu Nói Hay Về Son Môi Thú Vị Dành Cho Phái Nữ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100