Những Miền Quê Xứ Nghệ Trong Ca Dao, Tục Ngữ

--- Bài mới hơn ---

  • Kho Tàng Thành Ngữ Ca Dao Việt Nam Dịch Sang Thành Ngữ Tiếng Anh !
  • Tục Ngữ Việt Nam Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tiết Kiêm
  • Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập
  • Hồng sơn cao ngất mấy trùng Lam Giang mấy trượng thì lòng mấy nhiêu

    Chỉ hai câu ca dao mà đại từ ai xuất hiện ba lần như đưa con người dọc theo chiều dài lịch sử và chiều sâu văn hoá để trở về quá khứ. Biết bao thế hệ tiền nhân đã hiến thân cho mảnh đất quê hương để tạo nên vùng văn hoá Hông Lam lung linh bao sắc màu huyền thoại. Trải qua bao cuộc dâu bể, dẫu thời gian và năm tháng có làm thay đổi nhiều thứ nhưng núi Hồng – sông Lam vẫn hiên ngang, gồng mình chống đỡ với giông gió, bão tố để cuộc sống con người vơi bớt những nhọc nhằn. Núi Hồng – sông Lam không chỉ là biểu tượng cho vẻ đẹp của thiên nhiên xứ Nghệ mà nó còn trở thành hình tượng của sự nhớ thương:

    Đức Thọ gạo trắng nước trong Ai về Đức Thọ thong dong con người

    Hai bên lưu vực sông Lam, sông La, Ngàn Sâu, Ngàn Phố là những xóm làng yên bình của Đức Thọ, Nghi Xuân, Nam Đàn, Hương Sơn, Hương Khê…

    Trèo lên chót vót Hai Vai Ra tay khoát gió khoác vai ông Đùng.

    Dọc theo chiều dài đất nước từ Bắc vào Nam, đứng sừng sững ngạo nghễ giữa đồng bằng Diễn châu là hình ảnh lèn Hai Vai. Lèn Hai Vai chính là hoá thân của ông Đùng, người anh hùng bị chém cụt đầu thời tiền sử:

    Mỗi tên làng, tên núi, tên sông trong ca dao xứ Nghệ đều gắn bó thân thiết với người lao động, nó cụ thể và sinh động chứ không xa xôi, bóng gió. Mỗi địa danh đều tồn tại với một lí do riêng. Nhiều làng quê đi vào ca dao gắn với những đặc sản riêng của vùng từng vùng đất. Thứ đặc sản rất quen thuộc với mỗi người dân xứ Nghệ đó là chè xanh:

    Mặc lục chợ Hạ, uống chè Hương Sơn.

    Ai về Hà Tĩnh thì về

    Đọi nước chè em múc ra Khặm đụa vô nỏ bổ

    Về Hương Sơn thưởng thức thứ chè xanh mới hái được nấu với nước sông Ngàn Phố vừa sánh đặc lại vừa chát đã làm say lòng người bao thế hệ. Ca dao còn có câu miêu tả độ sánh đặc của nước chè nơi đây:

    Ai về Hồng Lộc thì về Ăn cơm cá Bàu Nậy, Uống nước chè khe Yên

    Việt Nam được coi là xứ sở của chè xanh, nhưng có thưởng thức chè xanh Nghệ Tĩnh mới thấy hết cái hồn quê đậm đà của ấm nước chè nơi đây. Người xứ Nghệ có cách uống chè độc đáo. Chè được nấu cả lá lẫn cành mới thơm ngon và đặc sánh. Dù trời nắng chang chang thì bát nước chè phải uống lúc còn nóng hôi hổi mới ngon, mới mát. Uống chè xanh cũng có hội gọi là “hội nước chát”. Quanh ấm chè chát mọi người cùng trò chuyện để gắn chặt hơn tình làng, nghĩa xóm và thậm chí bàn bạc cả những chuyện quan trọng như dựng vợ gả chồngcho con cái. Tình người xứ Nghệ được ví như đọi nước đầy. Nhiều vùng quê Nghệ Tĩnh cũng nổi tiếng với chè xanh như chè Gay (Anh Sơn – Nghệ An), chè rú Mả, chè Khe Yên ..:

    Vùng ven biển thì nổi tiếng với những hải sản mang hơi thở của biển cả:

    Cá thu, cá nục, cá mòi thiếu chi.

    Ai về Cửa Hội quê tôi

    Ai về Thạch Hạ mà coi Bắc nồi lên bếp xách oi ra đồng.

    Nhưng không phải vùng đất ven biển nào cũng được thiên nhiên ưu đãi, thế nên có địa danh lại gắn liền với bao nỗi nhọc nhằn của người dân An -Tĩnh:

    Thạch Hạ là một xã ven biển thuộc huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh. Đất đai ở đây bạc màu, con người bao đời vất vả dãi nắng dầm sương nhưng cái đói, cái nghèo vẫn đeo bám họ. Hình ảnh “Bắc nồi lên bếp, xách oi ra đồng” thể hiện cuộc sống tạm bợ của người dân.

    Ai hay mít ngọt, trám bùi Có về Cát Ngạn với tui thì về.

    Ngược lên miền sơn cước chúng ta sẽ có dịp thưởng thức những loại hoa quả đặc trưng:

    Quê ta ngọt mía Nam Đàn Bùi khoai chợ Rộ, thơm cam Xã Đoài.

    Vùng đồi núi, trung du, đồng bằng lại có những sản vật nổi tiếng:

    Bưởi Phúc Trạch, cam bù Hương Sơn, hồng vuông Thạch Hà Thanh Chương ngon cá sông Giăng Ngon khoai La Mạ, ngon măng chợ Chùa

    Hay:

    Bánh đa chợ Cày, bánh tày chợ Voi Bánh đúc cháo kê là nghề làng Trại

    Những món ăn dân dã như bánh đa, bánh tày (bánh chưng), bánh đúc, cháo kê cũng đi vào ca dao như thứ đặc sản mà người lao động hết sức nâng niu:

    Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn

    Nói đến xứ Nghệ mà chưa nhắc đến nhút thì quả là còn thiếu sót:

    Nhút là món ăn được làm từ mít xanh, xơ mít. Đây là món ăn gắn liền với các miền quê ở xứ Nghệ, món ăn của người nghèo. Nhưng nhút ngon phải chấm với tương Nam Đàn mới đúng vị.

    Quê tôi vốn ở Nguyệt Đàm Tôi đi bán hến chợ Sa Nam gần kề Hến tôi ngon gớm ngon ghê Ai muốn ăn hến thì về quê tôi

    Một món ăn đạm bạc không thể thiếu trong mâm cơm của người dân xứ nghệ trong những ngày hè đó là hến:

    Cũng có những địa danh gắn liền với nghề nghiệp:

    Lắm nống Do Nha, lắm cà Lộc Châu, Lắm dâu Cẩm Mỹ, lắm bị Kẻ Giăng, Lắm măng Kẻ Cừa, lắm bừa Trung Sơn, Lắm cơn Yên Xứ.

    Lắm ló Xuân Viên, lắm tiền Hội Thống,

    Kẻ Dặm đục đá nấu vôi Miệng thì thổi lửa, tay lôi rành rành

    Các địa danh trên đều thuộc huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Dân Xuân Viên giàu vì lúa gạo (lắm ló: lắm lúa); Hội Thống giàu nhờ nghề biển và buôn bán. Do Nha nổi tiếng với nghề thủ công đan nống (nống là nong). Kẻ chính là tên nôm của làng.

    Kẻ Dặm (tức Diễn Minh) là một làng thuộc huyện Diễn Châu, dưới chân lèn Hai Vai người dân nơi đây sống bằng nghề đục đá, nấu vôi. Diễn Châu cũng là nơi nổi tiếng với nhiều làng nghề khác nhau như nghề rèn, nghề làm nước mắm, dệt võng, dệt vải, dệt chiếu…

    Trai Đông Thái gái Yên Hồ Gặp nhau ta nổi cơ đồ cũng nên

    Người Nghệ Tĩnh đôi khi còn lấy địa danh để nhắc đến tình yêu đôi lứa hay tự hào về con người của các vùng quê:

    Đông Thái thuộc xã Tùng Ảnh, Đức Thọ. Trai Đông Thái tài giỏi còn gái Yên Hồ (cũng thuộc Thọ, Hà Tĩnh) thì xinh đẹp, giỏi giang. Trai thanh – gái lịch nổi tiếng cả một vùng đất.

    Đặng Sơn người đẹp nước trong Dâu non xanh bại, tơ tằm vàng sân

    Trong ca dao còn có câu: Trai Đông Phái, gái Phượng Lịch cũng nghĩa như trên chỉ khác Đông Phái và Phượng Lịch thuộc huyện Diễn Châu, Nghệ An.

    Xôi nếp cái, gái Tràng Lưu

    Đặng Sơn là địa danh thuộc huyện Đô Lương, Nghệ An. Xã Đặng Sơn nằm ở ven sông có nghề truyền thống là trồng dâu, nuôi tằm. Con gái vùng này xinh đẹp, đảm đang.

    Tràng Lưu (nay là xã Trường Lộc, Can lộc, Hà Tĩnh) là một vùng đất văn vật. Gái Tràng Lưu thông minh, xinh đẹp, nết na nổi tiếng.

    Bao giờ Đại Huệ mang tơi Rú Đụn đội nón thì trời mới mưa

    Các địa danh trong ca dao, tục ngữ có khi còn gắn liền với kinh nghiệm sản xuất hoặc dự báo thời tiết. Mỗi địa phương có kinh nghiệm dự báo thời tiết riêng:

    Đại Huệ nằm ở phía bắc còn rú (núi) Đụn thì ở phía tây huyện Nam Đàn, Nghệ An. Người dân xung quanh đây hễ thấy mây bọc xung quanh núi Đại Huệ hoặc trùm đỉnh rú Đụn thì biết chắc trời sắp mưa.

    Bao giờ ngàn Hống mang tơi, rú Thành đội mạo thì trời mưa to Mưa Cẩm Nang kiếm đàng mà chạy, mưa Kẻ Nại đứng lại mà giòm.

    Hay:

    ……

    Bao giờ mống Mắt mống Mê Thuyền câu thuyền lái chèo về cho mau

    Ngư dân chài lưới luôn phải đối mặt với bao hiểm hoạ từ thời tiết nên họ có nhiều kinh nghiệm tránh mưa bão:

    Mống (tức là cầu vồng cụt), Mắt, Mê là hai hòn đảo nhỏ thuộc các huyện Diễn Châu, Nghi Lộc. Đây là kinh nghiệm xem thời tiết của người dân vùng biển, khi thấy mống dựng lên ở hòn Mắt, hòn Mê thì trời sắp nổi giông tố nên cần nhanh chóng tìm nơi trú ẩn an toàn.

    Kinh kỳ dệt gấm thêu hoa

    Xứ Nghệ được xem là mảnh đất địa linh nhân kiệt, nhiều làng quê nổi tiếng về học hành khoa cử như làng Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu, Nghệ An), Tiên Điền, Tiên Bào (Nghi Xuân, Hà Tĩnh)….

    Tiền Điền, Tiên Bào sinh anh hào thông thái

    Quỳnh Đôi tơ lụa thủ khoa ba đời

    Cũng nói về mảnh đất địa linh nhân kiệt, nhưng xét về khía cạnh khác, có câu phương ngôn nổi tiếng: “Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần“nghĩa là nếu Thanh Hoá được hưởng nhiều ân huệ của vua thì Nghệ Tĩnh là đất được thần linh bảo hộ. Ở Nghệ Tĩnh, hàng trăm vị thần được lập đền thờ ở các làng xã. Nhắc đến đền thờ, dân gian có câu: “Đền Cờn, đền Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng” nhằm nhấn mạnh vẻ đẹp, tính linh thiêng và sự bề thế của bốn ngôi đền nổi tiếng bậc nhất xứ Nghệ.

    Đền Cờn (hay đền Cần) thuộc xã Quỳnh Phương, Quỳnh Lưu, Nghệ An là một ngôi đền nguy nga, tráng lệ. Đền thờ tứ vị thánh nương gồm 3 mẹ con công chúa nước Nam Tống là Từ Hy Thái Hậu Dương Nguyệt Quả, các công chúa Triệu Nguyệt Khiêu, Triệu Nguyệt Hương và bà nhũ mẫu. Tương truyền, xưa có ba mẹ con công chúa Nam Tống bị chết chìm ở biển Đông, thi thể trôi dạt vào cửa Càn. Người dân thấy thi thể còn tươi tắn như khi còn sống, toàn thân toả mùi thơm như lan, như quế nên đã chôn cất và lập miếu thờ đàng hoàng. Đây là những nữ thần bảo vệ cho dân làng làm ăn thịnh vượng.

    Đền Quả (còn gọi là đền Quả Sơn) toạ lạc dưới chân núi Quả Sơn thuộc làng Miếu Đường, xã Bạch Ngọc (nay là xã Bồi Sơn), Đô Lương, Nghệ An. Đền thờ Uy Mnh Vương Lý Nhật Quang – hoàng tử thứ 8 của vua Lý Công Uẩn. Ông là tri châu đầu tiên của Nghệ An. Tại đây, Lý Nhật Quang đã cống hiến tuổi xuân của mình để bảo vệ và xây dựng nước nhà, ông đã thực hiện chính sách huệ dân, khai khẩn đất đai, khuyến thiện, trừng ác thu phục được lòng người. Khi ông mất, người dân địa phương tưởng nhớ và lập đền thờ ông. Hiện tại trên đất Nghệ có trên 30 điểm lập đền thờ Lý Nhật Quang và đều coi ông là thành hoàng.

    Đền Bạch Mã thờ vị tướng trẻ Phan Đà, một người nổi tiếng thao lược của nghĩa quân Lam Sơn. Ông là người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh.Trong một đi lần thám thính tình hình quân địch ông bị giặc phục kích rồi tử trận. Con bạch mã trung thành mang ông về, đến xã Võ Liệt (Thanh Chương, Nghệ An) thì dừng chân. Tại đây ông được dân làng lập miếu thờ. Sau khi cuộc kháng chiến thắng lợi, Lê Thái Tổ cho xây dựng toà đền bề thế.

    Chiêu Trưng không chỉ nổi tiếng bởi sự linh thiêng mà còn mê hoặc lòng người bởi vẻ đẹp của núi non, biển trời hùng vĩ. Ngôi đền được xây dựng phía tây chân núi Long Ngâm, ngọn núi như một con rồng quấy đầu xuống nước. Đền thờ võ tướng Lê Khôi, cháu ruột của Lê Lợi nằm ở xã Thạch Kim, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Ông từng lập nhiều chiến công hiển hách cho nghĩa quân Lam Sơn.

    Ca dao tục ngữ chính là tiếng lòng của người lao động, nó đẹp và sáng lung linh mà bụi thời gian không thể làm phai mờ. Nhờ nó mà cái hồn quê được mãi lưu truyền từ đời này sang đời khác để văn hoá Nghệ nói riêng, văn hoá Việt nói chung sẽ giữ mãi được bản sắc riêng./.

    Tác giả bài viết: Nguyễn Thúy Hằng

    Phan Nữ La Giang @ 14:52 23/12/2013

    Số lượt xem: 48140

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tướng Cách Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ca Dao, Tục Ngữ , Danh Ngôn Về Xây Dựng Tình Bạn Trong Sáng Lành Mạnh?
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín, Uy Tín, Lời Hứa Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn, Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao , Tục Ngữ Về Truyền Thống Tôn Sư Trọng Đạo
  • Biển Qua Góc Nhìn Của Tục Ngữ, Ca Dao Xứ Huế

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Stt Dễ Thương Vô Đối Của Các Cô Nàng Mũm Mĩm, Mập Chút Thôi Mà Đáng Yêu Lắm
  • Những Câu Nói Hay Về Nụ Cười Và Nước Mắt
  • Lê Thẩm Dương Là Ai? Tiểu Sử & Những Câu Nói Hay, “bựa” Mà “chất” Của Tiến Sỹ
  • Nslide Danh Ngôn Dành Cho Mẹ
  • Lời Nói Hay Về Cuộc Sống Tuyển Tập Ý Nghĩa Nhất Đáng Để Đọc Nhất
  • Biển tạo nên một thế mạnh về kinh tế, cùng với vùng đồi núi và đồng bằng. Đồng thời, biển cũng có một vị thế quan trọng trong tâm thức của người bản địa. Điều này được thể hiện qua nhiều lĩnh vực. Bài viết nhỏ này chỉ xem xét về biển qua góc nhìn của tục ngữ và ca dao địa phương.

    2.

    Qua góc nhìn của tục ngữ, ca dao xứ Huế, biển là một sự vật thuộc tự nhiên có quan hệ mật thiết đến đời sống vật chất của con người. Đồng thời, biển được dùng làm một hình ảnh nhằm mô tả, tạo ý khi đề cập về các vấn đề của cuộc sống.

    2.1. Biển là một sự vật thuộc tự nhiên có quan hệ mật thiết đến đời sống vật chất của con người

    Tục ngữ, ca dao nhìn nhận biển là một sự vật thuộc tự nhiên có quan hệ mật thiết đến đời sống vật chất của con người, qua ba lĩnh vực: 1) là một nguồn lợi kinh tế, nơi cung cấp nhiều sản vật (hải sản) cho con người; 2) là đối tượng lao động, nơi con người vật lộn để giành lấy sản vật; và 3) là một sự vật đầy bất trắc của tự nhiên, nơi con người cần nắm hiểu để vận dụng (sinh hoạt, đi lại,…).

    2.1.1. Biển là một nguồn lợi kinh tế, nơi cung cấp nhiều sản vật cho con người

    Người ta thường nói “chim, thu, nhụ, đé”, bốn loài cá ngon ở biển khi sánh với “lươn, lệch, chình, hôn(1)“, bốn thứ được yêu thích của vùng đồng bằng, và “hươu, nai, chồn, thỏ”, bốn con thú cho thịt béo của vùng đồi núi. Có thể xem đây là ba bộ tứ nói về đặc sản tiêu biểu cho ba vùng đất đồi núi, đồng bằng và biển của Thừa Thiên Huế.

    Tục ngữ, ca dao có một số câu/bài nêu sản vật biển trong thế so sánh với đất liền như vậy:

    – “Dưới nước cá cờ, trên bờ mỡ lợn“.

    – “Ai về nhắn với bạn nguồn:

    Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên”.

    – “Mẹ già ham ăn cá thu,

    Gả con về biển mù mù tăm tăm”.

    Bên cạnh đó, có nhiều bài đánh giá cao sản vật từ biển khơi và phản ánh nhu cầu không thể thiếu chúng của con người:

    – “Thương em vì cá trích ve,

    Vì rau muống luộc, vì mè trộn măng”.

    – ” Cá nục nấu với dưa hồng (2),

    Đánh nhau một trận, xem chồng về ai”.

    – “Ba đồng một khứa cá buôi (3),

    Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già”.

    Khi đề cập đến nguồn lợi kinh tế từ biển, tục ngữ ca dao chủ yếu nói đến một số sản vật cụ thể (một số loài cá), thu hoạch được từ điều kiện đánh bắt thủ công ngày trước, chúng được dẫn khi đối sánh với sản phẩm từ đất liền, hoặc trong bối cảnh được đặc biệt yêu thích. Tức tuy nói đến nguồn lợi nhưng chỉ có tính chất tượng trưng và chú ý yếu tố tinh thần của vấn đề.

    2.1.2. Biển là đối tượng lao động, nơi con người vật lộn để giành lấy sản vật

    Là đối tượng lao động, biển, nơi chứa tôm cá và nhiều hải sản khác, được tìm hiểu, nhận biết, hòng giúp ích cho quá trình đánh bắt. Việc nắm hiểu về biển, ở trường hợp này, đồng nghĩa với việc nắm bắt về tập tính, đặc điểm của các loài tôm cá:

    – “Khơi: thu, ngừ, nục; lộng: ve, đục, xòe” (4).

    – “Tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông”.

    – “Ruốc đỏ, cá đen, nhìn quen mới thấy”.

    – “Trời sương mù, nhiều cá thu, cá bẹ”.

    – “Leng lao, lẹp nhảy, chuồn bay,

    Ta mau nhanh lái, nhanh tay bắt về!”.

    Cũng như rừng, biển có thể cưu mang những người khốn khổ; đó là cơ sở để những đôi lứa yêu nhau nhưng gặp phải nghịch cảnh, có chốn nương thân:

    “Núi sơn lâm nuôi nhân đào tản,

    Biển tây hồ trợ kẻ lâm nguy;

    Thương nhau dắt lấy nhau đi,

    Công ơn thầy nghĩa mẹ lo chi trả đền!”.

    – “Ơi đò ngang qua, đò ngang lại,

    Có gặp chồng em qua lại biển này không?

    Đêm khuya, trời phất ngọn gió đông,

    Lạnh ơi hỡi lạnh, cám cảnh cho chồng nhiều đoạn khúc nôi!”.

    – “Chồng em đi kéo ngao ngoài biển,

    Đêm khuya, trời phất phưởng ngọn gió đông;

    Da thời lạnh ngắt như đồng,

    Tay bồng con dại, cám cảnh cho chồng lắm thay!”.

    Người phụ nữ có thể không trực tiếp ra khơi cùng chồng, nhưng vai trò “hậu cần” thì luôn luôn gánh vác, lo toan:

    Ba đồng một quả đậu xanh,

    Một cân đường cát (5), đưa anh ra vời.

    Khó mà xứ biển em theo,

    Giàu mà xứ ruộng, vằng (6) treo nợ đòi!

    Khó mà xứ ruộng em theo,

    Giàu mà xứ biển, hết chèo hết ăn!

    2.1.3. Biển là một sự vật đầy bất trắc của tự nhiên, nơi con người cần nắm hiểu để vận dụng (sinh hoạt, đi lại,…)

    Tục ngữ có một số câu nhìn nhận về sự bất trắc khó lường của biển:

    – “Biển cả sông giang muôn ngàn lắt léo”.

    – “Đi thủy sợ phá Tam Giang, đi bộ sợ truông nhà Hồ(7)“.

    – “Đi bộ thì khiếp Hải Vân,

    Đi thuyền thì khiếp sóng thần hang Dơi(8)“.

    Bên cạnh việc lao động đánh bắt trên biển cả vừa nói, một bộ phận ngư dân sinh sống trên thuyền, mọi sinh hoạt gắn với biển, với phá (9). Họ quen với từng hơi thở của biển. Một số hiện tượng được chú ý:

    – “Mây kéo lên nguồn, nước tuôn ta biển”.

    – “Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa”.

    – “To thuyền thì to sóng”(10).

    Và hình thành một sự ứng phó đáng chú ý:

    – “Biển rộng mặc biển, thuyền chèo có ngăn”.

    – “Chớ thấy sóng cả mà ngả tay chèo”.

    2.2. Biển được dùng làm một hình ảnh nhằm mô tả, tạo ý khi đề cập về các vấn đề của cuộc sống

    Dùng làm một hình ảnh để mô tả, tạo ý, biển hoặc biểu trưng về một sự rộng lớn khôn cùng, hoặc thành một biểu tượng chỉ xứ sở, môi trường sống, hoặc là một ẩn dụ chỉ người phụ nữ và một bộ phận cơ thể của họ. Khi biển được dùng làm một hình ảnh mô tả hay tạo ý, thường kết hợp với trời hay núi, rừng, tạo nên một cấu trúc kép: trời – biển, núi – biển,… Và việc sử dụng này chủ yếu được tìm thấy trong ca dao.

    – “Một con tép chết không thối biển”(11).

    – “Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng,

    Con nuôi cha mẹ kể tháng kể ngày”.

    – “Ơn sinh thành như biển,

    Nghĩa dưỡng dục tựa sông;

    Em nguyền ở vậy không chồng,

    Lo nuôi thầy mẹ, hết lòng làm con”.

    – “Ngó hoài ra tận biển Đông,

    Thấy mây thấy nước, sao không thấy chàng?”.

    Do biểu trưng cho cái rộng lớn khôn cùng, nên hình ảnh biển trở thành sự thử thách phải vượt qua về không gian, khi hai người yêu nhau ở hai đầu tít tắp:

    “Khi xưa em ở ngoài biển, anh ở chốn lâm trung,

    Đến nay đôi ta hội ngộ tương phùng,

    Trời kia đã định, mối tơ hồng phải xe”.

    Và về những giá trị tinh thần của con người, như sự thuận thảo, thủy chung:

    – “Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn”.

    – “Đêm năm canh dĩa đèn khô cạn,

    Trúc gầy mòn nhớ dạng cành mai;

    Em thương ai thì nhớ nghĩa ai,

    Chớ thấy non cao mà sấp mặt, thấy biển rộng sông dài mà xoay lưng!”.

    Tính chất biểu trưng của biển còn được nhận ra qua lối kết hợp với “tình” để tạo nên tổ hợp “biển tình” rất sáng tạo, trong bài ca dao sau:

    “Biển tình chìm nổi, bối rối tư lương,

    Thiếp với chàng như lửa với hương;

    Một mai tê(12) dù hương tàn lửa tắt, đạo nghĩa cương thường chớ quên”.

    “Biển tình” cũng như “khối tình”(13), nhưng hàm nghĩa sâu rộng hơn. Tổ hợp này cũng cho thấy yếu tố “biển”, mặt biểu trưng về sự rộng lớn, mang tính khái quát cao.

    2.2.2. Biển là một biểu tượng chỉ xứ sở, môi trường sống

    Ca dao xứ Huế có các bài sau:

    – “Ngó lên trên trời, trời cao trăm trượng,

    Ngó xuống dưới biển, sóng lượn ba đào;

    Mấy lâu ni lòng những ước ao,

    Viếng thăm không đặng, gởi thơ vào đã thấu chưa?”(14).

    – “Ngó lên trên rừng, non cao rú rậm,

    Ngó xuống dưới biển, sóng dội ba đào;

    Thiếp với chàng tình nghĩa kim giao,

    Dù một trăm năm náu nương cũng đợi, dù bóng xế trăng cao cũng chờ”.

    – “Ngó lên trên trời, sao băng tứ diện,

    Ngó xuống dưới biển, chim liệng, cá đua;

    Anh thề với em hết miếu, hết chùa,

    Ai cho anh uống thuốc đeo bùa mà mê?”.

    – “Ngó lên trên trời, cặp cu răng(15) đá,

    Ngó xuống dưới biển, cặp cá răng đua;

    Anh về lập miếu thờ vua,

    Xây lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha”.

    “Trời” (hay “rừng”) và “biển” được mô tả ở cặp thất trong điều kiện, trạng thái bình thường, nhưng tình cảnh, tâm tư con người được thể hiện ở cặp lục bát, lại không giống nhau: câu đầu, hai người yêu nhau mong được gặp nhau; câu thứ hai, quyết lòng chung thủy; câu thứ ba, sự bội bạc; câu thứ tư, làm tròn đạo hiếu. Có thể nói, “trời” – “biển” làm thành một biểu tượng kép, chỉ xứ sở, chỗ dựa cho con người sinh sống. Xứ sở ấy “khách quan”, “vô tư” đối với hành động, tâm lí của con người.

    Bên cạnh đó, cũng có hai bài này nữa:

    – “Ngó lên tam sơn, nguồn cơn cảm động,

    Ngó về tứ hải, biển rộng sông dài;

    Ơi người tảo tần nuôi mẹ hôm mai,

    Trong tâm ảo não, nhớ nhau hoài không quên”.

    – “Ngó lên tam sơn, lòng sầu bát ngát,

    Ngó xuống tứ hải, lệ ướt dầm khăn;

    Anh xa em ra nghĩa lí làm răng(16),

    Đêm năm canh nghe chuông rung phụng gáy, ngày sáu khắc

    luống những buồn chăng hỡi buồn!”.

    “Núi” – “biển” (“tam sơn” – “tứ hải”)(17) ở đây đã nhuốm màu tâm trạng của con người. Nói khác đi, có sự gắn bó giữa con người với xứ sở, môi trường mà họ sinh sống.

    Và:

    – “Ngó xuống biển Đông, con cá ngư ông thường ngày thường lội,

    Ngó lên trên rừng, con hổ thường nằm;

    Thiếp đó chàng đây đạo ngãi trăm năm,

    Ví dù không có câu duyên nợ, cũng viếng thăm kẻo buồn”.

    – “Con chim phượng hoàng bay ngang hòn núi bạc,

    Con cá ngư ông móng nước biển khơi;

    Gặp nhau đây nhắn gởi một đôi lời,

    Kẻo một mai tê con cá về sông vịnh, con chim nọ đổi dời non xanh”.

    “Rừng/núi” – “biển” có chủ, đó là con hổ, chúa của các loài thú, con chim phượng hoàng (rừng, núi), chúa của các loài chim, và con cá ngư ông (biển), chúa của các loài thủy tộc. Sự ứng xử của con người trong bài ca dao sau tương ứng với các vai chủ này: cần “nhắn gởi một đôi lời” ngay, không thì có thể không còn cơ hội. Xứ sở trong trường hợp này vẻ như đã định vị, mang ý nghĩa gần với non sông, đất nước(18).

    2.2.3. Biển là một ẩn dụ chỉ người phụ nữ và một bộ phận cơ thể của họ

    Biển được dùng làm ẩn dụ chỉ người vợ (trong quan hệ với người chồng) ở bài ca dao:

    “Động trời biển mới dậy theo,

    Biển đâu dám động, dám leo trước trời”.

    “Biển” dậy theo “trời”, chứ “biển” không dám dậy trước “trời”. Sở dĩ “biển” dậy là do “trời” động trước. Những điều vừa rút ra khiến người đọc không khỏi liên tưởng đến một đức ông chồng có hành động hồ đồ, khiến người vợ của ông ta đã có phản ứng thiếu nhã nhặn. Như vậy, “trời” là ẩn dụ chỉ người chồng, “biển” là ẩn dụ chỉ người vợ(19).

    Bên cạnh bài này, ca dao xứ Huế còn có bài:

    “Biển Tây Hồ thường ngày thường cạn,

    Núi lâm sơn thường tháng thường cao;

    Thuyền quyên ướm hỏi anh hào,

    Sự tình thâm nhiễm, chàng tính làm sao cho thiếp nhờ?”.

    – “Khi anh ra đi thì biển hồ lai láng,

    Chừ anh viếng lại, mần răng biển lại thành gò?

    Sự tình thâm nhiễm, để anh so tháng ngày”.

    “Biển” cạn đi từng ngày, còn “núi” lại cao thêm hàng tháng, thì “biển” và “núi” ở đây không phải là biển, là núi thường gặp trên mặt đất. Sự biến đổi “biển thành gò” này khiến “thuyền quyên” phải van “anh hào” tính liệu, còn “anh hào” thì tỏ vẻ nghi ngờ, bảo để “so tháng ngày” đã, càng cho thấy đây là chuyện “lỡ dĩ”, trót có mang khi chưa thành vợ chồng. “Biển”, “biển hồ”, “biển Tây Hồ” là ẩn dụ chỉ cái bụng (bình thường, bụng thấp lõm vào so với ngực, mông), “núi lâm sơn” là ẩn dụ chỉ cái vú: người đàn bà khi có thai thì vú căng ra, bụng cũng to dần lên(20).

    3.

    Xét trên đại thể, thì qua góc nhìn của tục ngữ, ca dao, biển xuất hiện hoặc với tư cách là đối tượng được đề cập chính yếu, ở đó, nó tỏ cho thấy tác dụng hết sức to lớn đối với con người, hoặc với vai trò là một hình ảnh để góp phần tạo dựng nên đối tượng được đề cập về những vấn đề của cuộc sống.

    Góc nhìn đầu cho thấy biển có quan hệ mật thiết đến đời sống vật chất của con người. Biển là đối tượng lao động, nơi cung cấp các sản vật cần thiết, đồng thời cũng là phương tiện và môi trường sống của con người. Góc nhìn sau cho thấy biển hằn sâu vào tâm thức, trở thành một yếu tố mạnh thuộc đời sống tinh thần của con người. Ở đây, hình ảnh biển được dùng để mô tả hay tạo ý, nó hoặc biểu trưng về một sự rộng lớn khôn cùng, hoặc thành một biểu tượng chỉ xứ sở, hoặc là một ẩn dụ chỉ người phụ nữ và một bộ phận cơ thể của họ. Trong trường hợp này, hình ảnh biển thường kết hợp với “trời”, “nguồn”, “núi”, “rừng”,… làm nên các cấu trúc kép “trời – biển”, “rừng – biển”,… làm tăng mức tạo hình, biểu cảm.

    Xem xét một đối tượng qua góc nhìn của tục ngữ, ca dao, văn học dân gian nói chung, tức nắm bắt sự nhìn nhận, đánh giá, và quan niệm của dân gian về đối tượng ấy. Việc làm này sẽ góp một tiếng nói có ý nghĩa, để có thể nắm bắt đầy đủ về nhiều khía cạnh của đối tượng cần tiếp cận.

    T.N

    (SH295/09-13)

    ——————

    (1) Hôn: ba ba (một loại rùa ở nước ngọt, có mai dẹp phủ da, không vẩy).

    (2) Cá nục tươi hấp chín, tách đầu và xương ra, lấy thịt đem tao (um sơ) rồi nấu với dưa hồng, ăn rất mát và ngon ngọt.

    (3) Cá buôi: cá đối to, cho thịt ngon.

    (4) Khơi: vùng biển xa bờ; lộng: vùng biển gần bờ. Vùng xa bờ thì có các loài cá thu, cá ngừ, cá nục; vùng gần bờ thì có các loài cá ve, cá đục, cá xòe.

    (5) Đường cát: đường kính.

    (6) Vằng: (cái) hái, dụng cụ để gặt lúa.

    (7) Truông nhà Hồ: thuộc làng Hồ Xá, tỉnh Quảng Trị. Ngày trước, có thời là nơi bọn bất lương dùng làm sào huyệt để cướp giật khách bộ hành.

    (8) Hang Dơi: ở phía bắc chân đèo Hải Vân, có nhiều dơi.

    (9) Ước tính vùng đầm phá Thừa Thiên Huế, thời điểm 1975 – 1980 đã từng có tới hơn 10 vạn người thủy cư (sống trên mặt nước, lấy thuyền làm nhà).

    (10) Nghĩa được thể hiện là nghĩa đen. Câu tục ngữ này còn có hai nghĩa khác: 1) Nghĩa khái quát: mỗi sự vật (khi phát huy tác dụng) đều tương xứng với những cái có quan hệ sở thuộc hay tất yếu với chúng; 2) Chức quyền, địa vị càng cao, thì những trở lực, gian nguy càng lớn (cần phải dàn xếp, vỗ yên mới dễ bề thăng tiến).

    (11) Câu này cùng mô hình cấu trúc với các câu sau: “Một cây làm chẳng nên non”; Một con én không làm nổi mùa xuân”; “Một chạch chẳng đầy đầm”. Chúng cùng có chung nghĩa khái quát: một cá thể không làm nên cái mà nếu tập hợp những thứ cùng loại với nó (theo một mức độ nhất định) sẽ làm được.

    (12) Một mai tê: một ngày kia.

    (13) “Khối tình” được Tản Đà dùng làm thành một bộ phận để đặt tên cho ba tập thơ của mình: đó là “Khối tình con” (công bố vào các năm 1916, 1918, 1932).

    (14) Mấy lâu ni: bấy lâu nay; gởi thơ: gửi thư; thấu: tới, đến.

    (15) Răng: đang.

    (16) Nghĩa lí làm răng: lí do vì sao; nguyên cớ như thế nào.

    (17) Tam sơn, tứ hải: người xưa cho mặt đất gồm tám phần: núi ba, biển bốn, ruộng đất một (tam sơn tứ hải nhất phần điền). Có câu đố về trái đất như sau:

    Một mẹ mà đẻ tám con:

    Bốn con bạc bụng, ba con xanh đầu,

    Dân gian chốn chốn đâu đâu,

    Còn một con nữa chia nhau ăn cùng.

    (18) Bài ca dao thứ hai “Con chim phượng hoàng bay ngang hòn núi bạc…”, người viết có dịp phân tích kĩ trong: 1) Triều Nguyên, Tiếp cận ca dao bằng phương thức xâu chuỗi theo mô hình cấu trúc, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1999; tr 37-43; 2) Triều Nguyên, Thử tìm hiểu một bài ca dao xứ Huế, Tạp chí Sông Hương, số 4, 1994; tr 84-87.

    (19) Một cơ sở để tạo (và suy) ẩn dụ này là câu cửa miệng “công ơn cha mẹ như trời biển” – theo cấu trúc câu nói và sự nhìn nhận thông thường, thì công cha được sánh với “trời”, công mẹ được sánh với “biển”; và hình thành một mối tương ứng: cha – trời, mẹ – biển. Mặt khác, cặp hình ảnh “trời – biển” có thể liên tưởng đến các đối tượng được ẩn dụ như “cha – con”, “thầy – trò”, “chủ – tớ”, “anh – em”,… nhưng xét theo quan niệm vừa nêu và khi thay vào bài ca dao thì không phù hợp bằng “chồng – vợ” (sự không phù hợp ấy được nhận rõ ở đối tượng thứ hai: “con”, “trò”, “tớ”,…).

    (20) Có hai bài ca dao cùng nghĩa với bài ca dao này, như sau:

    + “Ngó lên tam sơn, có ba hòn núi,

    Ngó xuống tứ hải, có bốn chiếc tròng ngao;

    Thuyền quyên ướm hỏi anh hào,

    Sự tình thâm nhiễm, chàng liệu làm sao cho thiếp nhờ?”.

    + “Sông Hương càng ngày càng rộng,

    Núi Ngự càng ngày càng cao;

    Thuyền quyên xin hỏi anh hào,

    Sự tình đã rứa, chàng liệu làm sao cho thiếp nhờ?”

    – “Em ơi, em chớ quá lo,

    Hãy nán lòng đợi, để anh suy đo tháng ngày”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Stt Say Dành Cho Những Tâm Trạng Đang Rối Bời Nhất
  • Những Trích Dẫn Sách Hay Về Tình Yêu Và Cuộc Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa
  • Top 50 Stt Chào Mừng Con Ra Đời Ý Nghĩa Nhất 2022
  • Hướng Dẫn Tự Làm Cây Treo Lời Chúc Đám Cưới Đơn Giản, Xinh Xắn
  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Về Chữ Ăn

    --- Bài mới hơn ---

  • Ẩm Thực Xa Xưa Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Ca Dao
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Hay Nhất
  • Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam + Nghề Buôn Bán
  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ về chữ ĂN

    Ăn Bắc nằm Nam

    Ăn bánh trả tiền

    Ăn bánh vẽ

    Ăn bát cháo chạy ba quãng đồng

    Ăn bát cơm đầy nhớ ngày gian khổ

    Ăn bát cơm dẻo nhớ nẻo đường đi

    Ăn bát cơm nhớ công ơn cha mẹ

    Ăn bát mẻ nằm chiếu manh

    Ăn bát Đại Thanh nằm chiếu miếng

    Ăn bất thùng chi thình

    Ăn bậy nói càn

    Ăn bền tiêu càn

    Ăn biếu ngồi chiếu cạp điều

    Ăn biếu ngồi chiếu hoa

    Ăn bơ làm biếng

    Ăn bốc ăn bải

    Ăn bòn dòn tay

    Ăn mày say miệng

    Ăn bóng nói gió

    Ăn bớt bát nói bớt lời

    Ăn bớt cơm chim

    Ăn bữa giỗ lỗ bữa cày

    Ăn bữa hôm lo bữa mai

    Ăn bừa mứa (bừa bứa)

    Ăn bữa sáng dành bữa tối (lo bữa tối)

    Ăn bữa trưa chừa bữa tối

    Ăn bún thang cả làng đòi cà cuống

    Ăn buổi giỗ, lỗ buổi cày

    Một ngày ăn giỗ, ba ngày hút nước.

    Ăn cá bỏ lờ

    Ăn cả cứt lẫn đái

    Ăn cà ngồi cạnh vại cà

    Lấy anh thì lấy đến già mới thôi

    Ăn cá nhả xương ăn đường nuốt chậm

    Ăn cái rau trả cái dưa

    Ăn cầm chừng

    Ăn cam nằm gốc cây cam

    Lấy anh thì lấy, về Nam không về

    Ăn cám xú

    Ăn cận ngồi kề

    Ăn càn nói bậy (nói bừa)

    Ăn canh cả mặn

    Ăn canh không chừa cặn

    Ăn cắp ăn nẩy

    Ăn cắp như ranh

    Ăn cắp quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn cắp vặt

    Ăn cáy bưng tay

    Ăn cây nào rào cây nấy

    Ăn cây sung ngồi gốc cây sung

    Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm

    Ăn cây táo rào cây sung (xoan) (táo) (nhãn)

    Ăn cay uống đắng

    Ăn chắc để dành

    Ăn chắc mặc bền (mặc dày)

    Ăn chẳng (Ăn chả) bõ nhả

    Ăn chẳng có khó đến mình (đến thân) (đến lần)

    Ăn chẳng đến no lo chẳng đến phận

    Ăn chẳng hết thết chẳng khắp

    Ăn chẳng nên đọi nói chẳng nên lời

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh

    Khuyên cội, khuyên cành, khuyên lá, khuyên bông

    Khuyên cho đó vợ đây chồng

    Đó bế con gái, đây bồng con trai

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (2)

    Bác mẹ gả ép (bán) cho anh học trò

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (3)

    Thầy mẹ gả bán cho anh thật thà.

    Bây giờ chê xấu chê xa,

    Chê cửa chê nhà, chê khó chê khăn.

    Ở đâu yểu điệu thanh tân,

    Sao anh chẳng chịu cầm cân đi lừả

    Vàng mười đắt mấy sao anh chẳng muả,

    Cầm cân đi lừa lại phải thau năm!

    Thau năm đánh lẫn vàng mười

    Rồng vàng cuộn khúc đứt đuôi thằn lằn.

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (4)

    Lấy anh thì lấy, về Thanh không về

    Ăn cháo báo hại cho con

    Ăn cháo đá bát (đái bát)

    Ăn cháo để gạo cho vay

    Ăn cháo lá đa

    Ăn cháo lú (cháo thí)

    Ăn chắt để dành

    Ăn châu chấu ỉa ông voi

    Ăn chay nằm đất

    Ăn chay niệm Phật

    Ăn cho buông so

    Ăn chó cả lông

    Ăn hồng cả hột

    Ăn cho đều tiêu cho sòng (cho khắp)

    Ăn cho no đo cho thẳng

    Ăn chơi cho đủ mọi mùi

    Khi buồn thuốc phiện, khi vui nhơn tình

    Ăn chơi cho hết tháng Hai

    Để làng vào đám cho trai dọn đình

    Trong thời trống đánh rập rình

    Ngoài thời trai gái tự tình cùng nhau

    Ăn chơi khắp bốn phương trời

    Cho trần biết mặt, cho đời biết tên

    Ăn chưa no lo chưa tới

    Ăn chưa sạch bạch chưa thông

    Ăn chưa tàn miếng trầu

    Ăn chực đòi bánh chưng

    Ăn chực nằm chờ

    Ăn chung mủng riêng

    Ăn chung ở chạ (ở lộn)

    Ăn chuối không biết lột vỏ

    Ăn có chỗ đỗ có nơi

    Ăn có chủ ngủ có công đường

    Ăn cỗ đi trước lội nước đi sau (theo sau)

    Ăn có giờ làm có buổi

    Ăn có mời làm có khiến

    Ăn cỗ muốn chòi mâm cao

    Ăn có nhai nói có nghĩ

    Ăn cỗ nói chuyện đào ao

    Ăn có nơi làm (ngồi) có chốn

    Ăn cỗ phải lại mâm

    Ăn có sở ở có nơi

    Ăn có thời chơi có giờ

    Ăn coi nồi ngồi coi hướng

    Ăn cơm ba chén lưng lưng (*)

    Uống nước cầm chừng để dạ thương em

    Ăn cơm chưa biết trở đầu đũa

    Ăn cơm chúa múa tối ngày

    Ăn cơm chùa ngọng miệng

    Ăn cơm có canh như tu hành có bạn

    Ăn cơm có canh tu hành có vãi

    Ăn cơm gà gáy, cất binh nửa ngày

    Ăn cơm hom ngủ giường hòm

    Ăn cơm hớt

    Ăn cơm hớt thiên hạ

    Ăn cơm không rau

    Như đánh nhau không người gỡ

    Ăn cơm không rau như đau không thuốc

    Ăn cơm làm cỏ chăng bỏ đi đâu

    Ăn cơm lừa thóc ăn cóc bỏ gan

    Ăn cơm mới nói chuyện cũ

    Ăn cơm nguội nằm nhà ngoài (nhà sau)

    Ăn cơm nhà làm chuyện thiên hạ

    Ăn cơm nhà nọ kháo cà nhà kia

    Ăn cơm nhà thổi tù và hàng tổng

    Ăn cơm nhà vác bài ngà cho quan

    Ăn cơm nhà vác ngà voi

    Ăn cơm Phật đốt râu thầy chùa

    Ăn cơm Phật lật đật cả ngày

    Ăn cơm nhà bay thẳng tay mà ngủ

    Ăn cơm sao đặng mà mời

    Nước mắt lênh láng rã rời hạt cơm

    Mình ơi đừng đặng cá quên nơm

    Đôi ta gá nghĩa danh thơm để đời

    Cóc nghiến răng còn động đến lòng trời

    Sao mình chẳng tưởng mấy lời em than

    Ăn cơm tấm ấm ổ rơm

    Ăn cơm Tàu ở nhà Tây lấy vợ Nhật

    Ăn cơm trên nói hớt

    Ăn cơm với cáy thì ngáy o o…

    Ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy

    Ăn cơm với mắm phải ngắm về sau

    Ăn cơm với rau phải ngắm sau ngắm trước

    Ăn cơm với thịt bò thì lo ngay ngáy

    Ăn của Bụt thắp hương cho Bụt (thờ Bụt)

    Mía sâu có đốt nhà dột có nơi

    Nghèo hèn giữa chợ ai chơi

    Giàu sang trong núi nhiều người tới thăm

    Ăn của chùa phải quét lá đa

    Ăn của ngon mặc của tốt

    Ăn của người phải làm việc cho người

    Ăn của người ta rồi ra phải trả

    Ăn của người vâng hộ người

    Ăn của rừng rưng rưng nước mắt

    Ăn cùng chó ló xó cùng ma

    Ăn cướp cơm chim

    Ăn cứt không biết thối

    Ăn đã vậy múa gậy làm sao (thì sao)

    Ăn đã vậy múa gậy vườn hoang

    Ăn đã vậy nói làm sao

    Ăn dầm nằm dề

    Ăn đàn anh làm đàn em

    Ăn đằng sóng nói đằng gió

    Ăn đầu sóng nói đầu gió

    Ăn đấu trả bồ

    Ăn đầy bụng ỉa đầy bồ

    Ăn đây nói đó

    Ăn dè dặt

    Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn

    Ăn dè xẻng

    Ăn đến nơi làm đến chốn

    Ăn đều tiêu sòng

    Ăn đi trước lội nước theo sau

    Ăn đổ ăn vãi

    Ăn đỡ làm giúp

    Ăn đổ làm vỡ

    Ăn dơ ở bẩn

    Ăn dò sau cho dò trước

    Ăn độc chốc đít

    Ăn đói mặc rách

    Ăn đợi nằm chờ

    Ăn đói nằm co

    Ăn đời ở kiếp

    Ăn đồng chia đủ

    Ăn đong cho đáng ăn đong

    Lấy chồng cho đáng hình dong con mgười! (tấm chồng)

    Ăn đua cho đáng ăn đua

    Lấy chồng cho đáng (để gánh) việc vua việc làng

    Ăn dùa thua chịu (thua giựt)

    Ăn dưng ở nể

    Ăn được ngủ được là tiên

    Ăn ngủ không được là tiền vứt đi (mất tiền thêm lo)

    Ăn đứt thiên hạ

    Ăn gạo tám chực đình đám mới có

    Ăn già ăn non

    Ăn giả vạ thật

    Ăn gian nói dối

    Ăn gian nói dối đã quen

    Nhút nhát như thỏ, bao phen dối người

    Ăn gio bọ trấu

    Ăn giỗ đi trước lội nước đi sau (theo sau)

    Ăn gió nằm sương

    Ăn gỏi chẳng cần (không cần) lá mơ

    Ăn gởi nằm nhờ

    Ăn ha hả trả ngùi ngùi

    Ăn hại đái nát

    Ăn ham chắc mặc ham dày

    Ăn hàng con gái đái hàng bà già (bà lão)

    Ăn hết cả phần cơm chó

    Ăn hết cả phần con phần cháu

    Ăn hết đánh đòn ăn còn mất vợ

    Ăn hết mâm trong ra mâm ngoài

    Ăn hết nạc vạc đến xương (tới xương)

    Ăn hết nhiều ở hết bao nhiêu

    Ăn hết nước hết cái

    Ăn hết phần chồng phần con

    Ăn hiền ở lành

    Ăn hóc học nên

    Ăn hối lộ

    Ăn hơn hờn thiệt

    Đánh thiệt đuổi đi

    Làm chi thì làm

    Ăn hơn nói kém

    Ăn hương ăn hoa

    Ăn ít mau tiêu ăn nhiều tức bụng

    Ăn ít ngon nhiều

    Ăn đều tiêu sòng

    Ăn ít no dai, Ăn nhiều tức bụng

    Ăn ít no lâu ăn nhiều mau đói

    Ăn ít no lâu hơn ăn nhiều chóng đói

    Ăn khoan ăn thai vừa nhai vừa nghĩ

    Ăn không biết chùi mép (chùi miệng)

    Ăn không biết dở đầu đũa (trở đầu đũa)

    Ăn không biết lo của kho cũng hết

    Ăn không biết no lo chẳng tới

    Ăn không biết no vô lo vô nghĩ

    Ăn no ngủ kỹ chổng tỷ lên trời

    Cây cao bóng cả chẳng ngồi

    Ra đứng chỗ nắng trách trời không râm

    Ăn không biết trở đầu đũa

    Ăn không được đạp đổ

    Ăn không được phá cho hôi

    Ăn không được thì bảo rằng hôi

    Ăn không kịp nuốt

    Ăn không kịp thở

    Ăn không nên đọi nói không nên lời

    Ăn không ngồi rồi

    Ăn không ngồi rồi lở đồi lở núi

    Ăn không nói có

    Ăn không ra bữa

    Ăn không rau như đau không thuốc

    Ăn không thì hóc chẳng xay thóc cũng bồng em

    Ăn kiêng ăn khem

    Ăn kiêng cữ

    Ăn kiêng khem

    Ăn kiêng nằm cữ

    Ăn kỹ làm dối

    Ăn kỹ no lâu cày sâu tốt đất

    Ăn kỹ no lâu cày sâu tốt lúa (tốt ruộng)

    Ăn la ăn lết

    Ăn la ăn liếm

    Ăn lắm đau bụng

    Ăn lắm hay no cho lắm hay phiền

    Ăn lắm hết ngon nói lắm hết lời khôn

    Ăn lắm ỉa nhiều

    Ăn làm sao nói làm vậy

    Ăn lắm thì hết miếng ngon

    Nói lắm thì hết lời khôn, hóa rồ

    Ăn lắm trả nhiều

    Ăn lạt mới biết thương mèo

    Ăn lấy chắc mặc lấy bền

    Ăn lấy đặc mặc lấy dày

    Ăn lấy đời chơi lấy thì

    Ăn lấy được

    Ăn lấy hương lấy hoa

    Ăn lấy no mặc lấy ấm

    Ăn lấy thảo

    Ăn lấy thơm lấy tho chứ không lấy no lấy béo

    Ăn lấy vị chứ ai lấy bị mà mang

    Ăn lấy vị không phải ăn lấy bị mà đong

    Ăn lỗ miệng liệng lỗ trôn (tháo lỗ trôn)

    Ăn lời tùy vốn bán vốn tùy nơi

    Ăn lông ở lỗ

    Ăn lúa tháng năm xem (trông) trăng rằm tháng tám

    Ăn lúa tháng mười xem trăng mồng tám tháng tư

    Ăn lúc đói nói lúc say

    Ăn lường ăn quịt vỗ đít chạy làng

    Ăn mặc như đồ ba gà

    Ăn mặc như em quần áo lam lũ

    Thiên hạ cười chê anh vẫn cứ thương

    Ăn mắm lắm cơm

    Ăn mắm mút dòi

    Ăn mắm phải nhắm chén cơm

    Ăn mắm phải ngắm về sau

    Ăn mặn hay khát nước

    Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối

    Ăn mận trả đào

    Ăn mảnh

    Ăn mảnh khảnh

    Ăn mật trả gừng

    Ăn mày ăn xin

    Ăn mày cầm tinh bị gậy

    Ăn mày chẳng tày giữ bị

    Ăn mày chính thực là ta

    Đói cơm rách áo hóa ra ăn mày

    Ăn mày còn đòi sang,

    Ăn mày công đức

    Ăn mày cửa Phật

    Ăn mày đánh đổ cầu ao

    Ăn mày đòi xôi gấc

    Ăn mày hoàn bị gậy

    Ăn mày không tày giữ bị

    Ăn mày mà đòi xôi gấc

    Ăn mày nơi cả thể làm rể nơi nhiều con

    Ăn mày quen ngõ

    Ăn miếng chả trả miếng (giả miếng) nem (bùi)

    Ăn miếng ngon chồng con trả người

    Ăn miếng ngon nhớ chồng con ở nhà

    Ăn miếng ngọt trả miếng bùi

    Ăn miếng trả miếng

    Ăn mít bỏ xơ

    Ăn một bát cháo chạy ba quãng đồng

    Ăn một bát hát một câu

    Ăn một bữa một heo

    Không bằng ngọn gió ngoài đèo thổi vô.

    Ăn một đền mười

    Ăn một đời chơi mội thì

    Ăn một đọi nói một lời

    Ăn một lại muốn ăn hai

    Ăn một mâm nằm một chiếu (một giường)

    Ăn một miếng tiếng để đời

    Ăn một nơi nằm một chốn

    Ăn một nơi ngủ một nẻo

    Ăn một thời chơi một thì

    Ăn muối còn hơn ăn chuối chát

    Ăn mướp bỏ xơ

    Ăn nạc bỏ cùi

    Ăn năn thì sự đã rồi

    Ăn nay lo mai

    Ăn nên đọi nói nên lời

    Ăn nên làm ra

    Ăn nên nợ đỡ nên ơn

    Ăn ngang nói ngược

    Ăn ngập mặt ngập mũi

    Ăn ngấu ăn nghiến

    Ăn ngay nói thẳng chẳng sợ mất lòng

    Ăn ngay nói thật mọi tật mọi lành

    Ăn ngay ở thẳng

    Ăn ngon lành

    Ăn ngon ngủ kỹ

    Ăn ngọn nói hớt

    Ăn ngọt trả bùi

    Ăn ngủ bận như thợ nề

    Chỗ ăn chỗ ở như dê nó nằm

    Hẹn ngày hẹn tháng hẹn năm

    Bao giờ hết hẹn thì nằm mới yên

    Ăn ngủ đụ ỉa

    Ăn ngược nói ngạo

    Ăn nhà chú ngủ nhà cô

    Ăn nhai không kịp

    Ăn nhạt mới biết thương mèo

    Ăn nhiều ăn ít

    Ăn bằng quả quít cho nó cam

    Ăn nhiều ở chẳng bao nhiêu

    Ăn nhịn để dè

    Ăn nhỏ nhẻ

    Ăn nhỏ nhẻ như mèo

    Ăn nhờ ở đậu (ở trọ) (ở đợ)

    Ăn nhờ sống gởi

    Ăn nhồm nhoàm

    Ăn nhồm nhoàm như voi ngốn cỏ

    Ăn như bò ngốn cỏ

    Ăn như cũ ngủ như xưa

    Ăn như gấu ăn trăng

    Ăn như hộ pháp ăn nẻ

    Ăn như hủi ăn thịt mỡ

    Ăn như hùm như hổ

    Ăn như kễnh đổ đó

    Ăn như mèo

    Ăn như mõ khoét

    Ăn như Nam Hạ vác đất

    Ăn như quỷ phá nhà chay

    Ăn như rồng cuốn

    Làm như cà cuống lội ngược

    Ăn như tằm ăn dâu (ăn lẽn) (ăn rỗi)

    Ăn như thần trùng đổ đó

    Ăn như thúng lủng khu

    Ăn như thủy tề đánh vực

    Ăn như thuyền chở mã như ả chơi trăng

    Ăn như tráng làm như lão

    Ăn như xáng xúc làm như lục bình trôi

    Ăn no ấm cật rậm rật mọi nơi

    Ăn no bò cỡi

    Ăn no cho tiếc

    Ăn no đến cổ còn thèm

    Ăn no giậm chuồng

    Ăn no hôm trước lo được hôm sau

    Ăn no lại ngồi mười đời không khá

    Ăn no lo được

    Ăn no mặc ấm ngẫm kẻ cơ hàn

    Ăn no ngủ kỹ

    Ăn no ngủ kỹ chẳng nghĩ điều gì

    Ăn no ngủ kỹ chổng tĩ lên trời

    Ăn no phè phỡn

    Ăn no ra ngả

    Ăn no rồi lại nằm khèo

    Thấy giục trống chèo bề bụng đi xem

    Ăn no rồi lại nằm quèo

    Thấy giục trống chèo vội vã đi xem

    Ăn no rửng mỡ

    Ăn no tận cổ còn thèm

    Ăn no tức bụng

    Ăn no vác nặng

    Ăn nói ác khẩu

    Ăn nồi bảy quăng ra

    Ăn nồi ba đưa vào

    Ăn nồi bảy quăng ra nồi ba quăng vào

    Ăn nói bộp bộp tộp

    Ăn nói bộp chộp

    Ăn nói chanh chua

    Ăn nói chảnh lỏn

    Ăn nói chết cây gẫy cành

    Ăn nói chua ngoa

    Ăn nói chững chạc

    Ăn nói có duyên

    Ăn nói dịu dàng

    Ăn nói dóng đôi

    Ăn nói giọng một

    Ăn nói hồ đồ

    Ăn nói hớ hênh

    Ăn nói hỗn xược

    Ăn nói khiêm tốn

    Ăn nói khúc chiết

    Ăn nói lấp lững

    Ăn nói lễ độ

    Ăn nói luộm thuôm

    Ăn nơi nằm chốn

    Ăn nói ra vẻ

    Ăn nói rành mạch

    Ăn nói thô tục

    Ăn nói từ tốn

    Ăn nói vớ vẩn

    Ăn nói xấc láo

    Ăn nói xấc xược

    Ăn ở có giời

    Ăn ở có thủy có chung

    Ăn ở hai lòng

    Ăn ở thất đức

    Ăn ở thiện thì có thiện thần biết

    Ăn ở ác có ác thần hay

    Ăn ở thủy chung

    Ăn oản của chùa phải quét lá đa

    Ăn ốc nói mò

    Ăn ốc nói mò

    Ăn măng nói mọc

    Ăn cò nói bay

    Ăn ớt nói càn

    Ăn ớt rủi cay, hít hà chịu vậy

    Chớ nhăn mặt nhăn mày, họ thấy cười chê.

    Ăn phải đũa

    Ăn phải mùi chùi phải sạch

    Ăn phải nhai nói phải nghĩ

    Ăn phùng má trợn mắt

    Ăn quả cây táo rào cây thầu dầu

    Ăn quà cho biết mùi quà

    Bánh đúc thì dẻo bánh đa thì dòn

    Ăn quả nhả hạt (nhả hột)

    Ăn quả nhớ kẻ làm vườn

    Uống nước phải nhớ nước nguồn chảy ra

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (2)

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay giần sàng

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (3)

    Có bát cơm đầy, nhớ đến nhà nông

    Đường đi cách bến cách sông

    Muốn qua giòng nước, nhờ ông lái đò!

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (4)

    Uống nước sông nầy nhớ suối từ đâu

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (5)

    Nào ai vun xới (tưới) cho mầy ngồi (được) ăn

    Ta đừng phụ nghĩa vong ân

    Uống nơi nước lã nhớ chừng nguồn kia

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (6)

    Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa

    Ăn quà như mõ khoét

    Ăn quả trả vàng

    Ăn quả vả trả quả sung

    Ăn quẩn cối xay

    Ăn quán ngủ đình

    Ăn quen bén mùi

    Ăn quen chồn đèn mắc bẫy

    Ăn quen nhịn không quen

    Ăn rá cơm ỉa rá cơm

    Ăn ráy ngứa miệng

    Ăn rồi cắp đít đi chơi

    Hễ mó đến việc, mong trời đổ mưa

    Ăn rồi dắt vợ lên rừng

    Bẻ roi đánh vợ bảo đừng theo trai.

    Ăn rồi nằm ngửa nằm nghiêng

    Có ai lấy (muốn) tớ thì khiêng tớ về

    Ăn rồi quẹt môi

    Ăn rươi chịu bão cho cam

    Không ăn chịu bão thế gian cũng nhiều

    Ăn sạc nghiệp

    Ăn sạch bát sạch dĩa

    Ăn sao cho được mà mời

    Thương sao cho được vợ người mà thương

    Ăn sao đền vậy

    Ăn sạt nghiệp

    Ăn sau đầu quét dọn

    Ăn sâu ngập cánh

    Ăn se sẻ đẻ ông voi

    Ăn sổi ở thì

    Ăn sóng nói gió

    Ăn sống nuốt tươi

    Ăn sung mặc sướng

    Ăn sung ngồi gốc cây sung

    Ăn rồi lại ném tứ tung ngũ hoành

    Ăn sung ngồi gốc cây sung (2)

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng!

    Ăn sung ngồi gốc cây sung (3)

    Thân gái lạ lùng trông cậy vào ai?

    Ăn sung ngồi gốc cây sung (4)

    Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm.

    Ăn sung trả ngáy

    Ăn tái ăn tam

    Ăn tại phủ ngủ tại công đường

    Ăn tàn ăn mạt ăn nát cửa nhà

    Con gà nuốt trộng, cá bống nuốt tươi

    Ăn tàn phá hại

    Ăn táo trả hột

    Ăn tay ăn túi

    Ăn tham chắc mặc tham dày

    Ăn tham lam làm trốc mép

    Ăn thanh cảnh

    Ăn thanh nói lịch

    Ăn thật làm dối

    Ăn thật làm giả

    Ăn thất nghiệp trả quan viên

    Ăn theo thuở ở theo thì (theo thời)

    Ăn thì ăn (lựa) những món ngon

    Làm thì chọn việc cỏn con mà làm

    Ăn thì ăn trước ngồi trên

    Đến chừng đánh giặc thì rên hừ hừ.

    Ăn thì có mó thì không

    Ăn thì có ó thì không

    Ăn thì cúi trốc đẩy nốc thì van làng

    Ăn thì em chả kém ai

    “Hễ cất gánh nặng vai em “”số thờ”””

    Ăn thì ha hả trả thì hu hu

    Ăn thì mau chân việc cần thì đủng đỉnh

    Ăn thì nhanh chân khó đến thân thì chạy

    Ăn thì nhiều chứ ở có bao nhiêu

    Ăn thì no cho thì tiếc

    Ăn thì nồi bẩy nồi ba

    Làm thì nống một, nống ba kéo dài

    Có làm cũng chẳng bằng ai

    Nói thì ra vẻ, lai rai suốt ngày!

    Ăn thì vùa thua thì chạy (thì chịu)

    Ăn thiệt làm dối

    Ăn thịt người không tanh

    Ăn thịt thì thối ăn đầu gối thì trơ

    Ăn thịt trâu không có tỏi

    Như ăn gỏi không có lá mơ

    Ăn thịt trâu không tỏi

    Như ăn gỏi không rau mơ

    Ăn thô nói tục

    Ăn thô tục nói thô lỗ

    Ăn thóc tìm giống

    Ăn thừa mứa

    Ăn thừa nói thiếu

    Ăn thủng nồi trôi rế (trôi trã)

    Ăn thúng trả đấu

    Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    Ăn tiêu nhớ tỏi bùi ngùi

    Ngồi bên đám hẹ nhớ mùi rau răm.

    Hỡi người quân từ trăm năm

    Quay tơ có nhớ mối tằm hay không ?

    Ăn tìm đến đánh tìm đi

    Ăn to như đầu beo

    Làm việc như đuôi chuột.

    Ăn to nói lớn

    Ăn to uống đậm

    Ăn tối lo mai

    Ăn tôm cấu đầu

    Ăn trầu nhả bã

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm, xay, giần, sàng

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây (2)

    Uống nước nhớ người đào giếng

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây (3)

    Ăn cơm nhớ Thần Nông cày ruộng

    Ăn trắng mặc trơn

    Ăn trầu chọn lấy cau khô

    Trèo lên Ba Dội (Rọi) có cô bán hàng

    Cô bán hàng lòng cô buồn bã

    Bóng xế chiều bóng ngả về tây

    Đợi cô ba bẩy hai mốt năm nay

    Ăn trầu không có vỏ sao cho đỏ môi

    Ăn trầu mà có vỏ chay

    Vôi kia có lạt (nhạt) cũng cay được mồm

    Ăn trầu nhà trai

    Ăn trầu phải mở trầu ra

    Phòng có thuốc độc hay là mặn vôi

    Ăn trầu thì bỏ quên vôi

    Ăn cau, bỏ hạt, nàng ơi hỡi nàng!

    Ăn trầu thì phải có vôi

    Cúng rằm thì phải có xôi có chè

    Ăn trên ngồi trốc

    Ăn trên ngồi trốc hưởng lộc dài dài

    Ăn trên ngồi trước (nói trước)

    Ăn tro bọ trấu

    Ăn trộm ái tình

    Ăn trộm ăn cướp thành Phật thành Tiên

    Đi chùa đi chiền, bán thân bất toại.

    Ăn trộm chê vải hẹp khổ

    Ăn trộm có tang chơi ngang có tích

    Ăn trộm của trời

    Ăn trông nồi ngồi trông hướng

    Ăn trông xuống uống trông lên

    Ăn trứng thì đừng ăn con

    Ăn trước bước không nổi

    Ăn trước trả sau

    Ăn từ dần chí dậu

    Ăn từ đầu bữa tới cuối bữa

    Ăn từ đầu dần tới cuối dậu

    Ăn từ giờ Dần đến giờ Tỵ

    Ăn tục nói phét

    Ăn tươi nuốt sống

    Ăn tùy chốn bán vốn tùy nơi

    Ăn tùy chủ ngủ tùy nơi

    Ăn tùy nơi chơi tùy chốn

    Ăn tuyết nằm sương (uống sương)

    Ăn uống thì tìm đến đánh đầm thì tìm đi

    Ăn uống tìm đến đánh nhau tìm đi

    Ăn uống vô độ

    Ăn vãi đầu vãi đuôi

    Ăn văng đổ vãi

    Ăn vặt quen miệng làm biếng quen thân

    Ăn vặt quen mồm

    Ăn vay từng bữa không cửa không nhà

    Ăn vi chủ ngủ vi tiên

    Ăn vô điều độ

    Ăn vô độ (vô hậu)

    Ăn vóc học hay

    Ăn vóc học nên

    Ăn vừa ở phải

    Ăn vung bỏ vãi

    Ăn vụng chóng no

    Ăn vụng không biết chùi mép

    Ăn vụng ngon miệng

    Ăn vụng xó bếp

    Ăn xì xà xì xụp

    Ăn xin cho đáng ăn xin

    Lấy chồng phải chọn dễ nhìn dễ ưa

    Ăn xó bếp chết gầm chạn (ngủ gầm chạn)

    Ăn xó bếp uống nước ao

    Đái bờ rào, ỉa chuồng lợn

    Ăn xô bồ

    Ăn xó mó niêu

    Ăn xôi chùa ngậm họng

    Ăn xôi chùa quét lá đa

    Ăn xôi không bằng đôi đĩa

    Ăn xôi nghe kèn

    Ăn xổi ở thì

    Ăn xong hạch sách vỗ đách ra đi

    Ăn xong không biết chùi mép

    Ăn xong quẹt mỏ

    Ăn xưa chừa nay (sau)

    Ăn xuôi nói ngược

    Ngoài ra trong kho tàng văn chương có bài sau đây của Hàn Lệ Nhân cũng khá thú vị:

    Chữ Ăn: Cái thú đoạn trường

    Hàn Lệ Nhân

    (Sưu tầm, lược soạn)

    Ăn mới thực văn nhân tài tử,

    Ăn nguyên là văn tự quốc gia.

    “Trăm năm trong cõi người ta”,

    Không ăn thiên hạ cho là dở hơi.

    (Đào Trọng Đủ)

    Trong loạt bài Miệng lưỡi đa sự ký, tôi đã tản mạn qua-loa-rơ-măng về chữ Ăn. Trong bài Tiếng Việt tình tôi, khi trích lại bản sơ kết về chữ Cả trong tiếng nước ta, tôi đã đã nhưng chợt nghĩ lại chữ Ăn, so với chữ Cả, sự kỳ diệu của nó thật thụ gấp vài trăm lần, nên có bài này. Tôi e chữ Ăn trong tiếng Việt là thêm một quái chiêu đáng khoe ra với thiên hạ – ngoài hào quang trong chiến tranh, phở Hà Nội, bún bò Huế, nước mắm Phú Quốc và hai chữ triệu phú dĩ nhiên.

    Mở đầu :

    Ai mở cuộc thi

    [ Vào khoảng tháng 5 tháng 6 năm 1951, một tuần báo xuất bản tại Sài-Gòn tổ chức một cuộc thi Trau giồi tiếng Việt. Bài thi có bốn câu hỏi:

    1. Tìm một chữ Việt Nam rất thông thường, dùng được rất rộng và có hàng chục nghĩa và giảng hết nghĩa của chữ ấy.

    Cắt nghĩa tường tận hai bài thơ của Hồ Xuân Hương mà ban tổ chức gọi là Bà Chúa thơ nôm: bài Chùa Quán sứ và bài Hờn duyên (Tự tình 2)

    2. Tiếng Việt Nam có tính cách tượng thanh nên có nhiều trạng từ rất hay, đọc lên đủ làm cho người ta tưởng tượng được nghĩa của nó. Tỉ dụ: say chuếnh choáng, treo tòn ten, cúi lom khom, trắng phau phau…

    3. Xin các bạn tìm những trạng từ tiếng gấp đôi (như các tỉ dụ trên) có thể dùng sau các hình dung từ hay động từ sau đây: Nhai, nỗi, gõ, vỗ, rộng, tròn, sâu, cười, dài, treo, lo, quạt, gầy, mừng, vừa, kêu, khấn, rét, im, chối, tươi, say, chạy, đứng, cao, nhiều, gọi, đi, yêu, thơm.

    Nếu tìm được nhiều trạng từ khác 30 tiếng trên, các bạn có thể ghi thêm vào càng hay.

    4. Vấn đề thống nhất Việt ngữ: Thí sinh phải đọc bài : Vài đề nghị thống nhất Việt ngữ (*) của Phan Hữu và giả nhời ba câu hỏi sau:

    a/ Có nên thống nhất triệt để ?

    b/ Nên đặt nguyên tắc theo đề nghị của ban tổ chức hay không ?

    c/ Nếu không nên thì cần thay đổi nguyên tắc thế nào cho tiếng Việt thống nhất hoàn toàn ?]

    ********************

    Tôi (tác giả Cô Đào Đào Trọng Đủ) yêu tiếng Việt, lẽ tất nhiên là phải dự thi. Bài tôi làm cũng chia làm 4 đoạn, nhan đề của mỗi đoạn có 4 chữ, ghép 4 câu thành ra bài Tứ ngôn như sau:

    Ai mở cuộc thi

    để tôi kiêu ngạo,

    tôi trêu giám khảo,

    tôi nhạo chàng Phan.

    Cuộc thi không thành, vì được ít lâu tờ Điện Báo phải đình bản. Thế là bài thi hài hước của tôi cứ việc nghỉ ngơi trong tủ sách.

    Rồi đến một Tết nào đó, lâu ngày tôi quên, tôi trích ra 2 đoạn nói về chữ Ăn và chữ Đánh, được một tờ báo Xuân xuất bản ở Nam vang đăng, nhưng lại bị kiểm duyệt… Mãi về sau, Cam-pu-chia cho tự do thêm, một báo tiếng Việt mới được phép đăng cả bài. Rồi tuần tự nhi tiến, bài thơ Ăn của tôi đi đến đài Pháp-Á, rồi ra tới Hà Nội, lại được Bộ Quốc Gia Giáo Dục cho đăng vào tạp chí Văn Hoá… Sau cùng, vào năm 1964-1965, khi báo Trung Lập ra đời tại Nam Vang, bài thơ Ăn lại được đăng một lần nữa và do đó, được theo một bạn yêu thơ đem sang tận Pháp cho nhiều đồng bào thưởng thức… Tôi cũng phấn khởi và trẻ lại được phần nào, rồi đem bản sao ra chép lại cho khỏi thất lạc. Mà cũng may có chép lại, tôi mới nhận thấy 28 năm về trước, tôi ngây thơ…không đoán ra chữ nhà báo đã in nhầm là Nỗi (dấu Ngã) cho nên dạo ấy tôi đã viết :

    Còn chữ Nỗi văn chương quá Nỗi

    Khuya rồi mà nghĩ mãi không ra !

    Thì ra, tôi đợi 28 năm giời mới nhận thấy chính là chữ Nổi (dấu Hỏi) mà thợ xếp chữ đã xếp lầm ra chữ Nỗi (dấu Ngã). Vậy câu thơ ngày trước xin đổi lại như sau :

    Còn chữ Nổi lênh đênh quá nỗi

    Khuya rồi mà nghĩ mãi mới ra !

    Sửa lại có thế thôi, còn cả bài thơ 28 năm trước thế nào, bây giờ vẫn thế ấy, mặc dầu bản thân tôi có đổi, cũng như quan niệm tôi đối với đời cũng có khác trước một phần nào… Tôi chắc mười mươi các bạn cũng thừa hiểu rằng 55 {tuổi} phê bình thế nào chả khác 83 {tuổi}.

    Antony ngày 28-6-1979

    Cô Đào

    Để tôi kiêu ngạo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Cuộc Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương Đất Nước ❤️ Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Kháng Chiến Hào Hùng Của Dân Tộc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em Hay Nhất ❤️ 1001 Câu
  • Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Địa Danh

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hạnh Phúc, Bất Hạnh, Hiếu Thảo, Có Hiếu
  • 35 Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Quê Hương Đất Nước Bình Định Câu Hỏi 194294
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mưa Nắng Bão Lụt, Thời Tiết, Dự Báo Thời Tiết
  • Chứng Minh Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ngày đăng: 29/10/2013, 21:11

    1. Tổng hợp thơ về những địa danh quê hương Việt Nam Kiên Giang KIÊN trung mãnh đất anh hùng. GIANG cuồn cuồn chảy về nguồn quê hương. * “Hoả hồng Nhật Tảo oanh thiên địa Kiếm bạc KIÊN GIANG khắp quỹ thần.” *Hai câu thơ của nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt viết về người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Cần Giờ Quê tôi tên gọi Cần Giờ Trời xanh vời vợi xa mờ chân mây. Bốn bề nước mặn vơi đầy Mặn mà con sóng ngất ngây lòng người Quê tôi nhớ lắm ai ơi! Mờ xa khuất nữa bầu trời yêu thương Ra đi lòng vẫn vấn vương Từng bờ cát .từng con đường dấu yêu Hà Thành Ngày mùa thu, chiều sương mù Hơi heo may lạnh, sương thu giăng đầy. Ngập ngừng dạo gót quanh đây. Hà thành phố cũ vẫn đầy rêu phong. Quê mẹ ở phố Hàng Bông. Quê cha Hải Phòng, chẳng ngại đường xa. Bồi hồi về chốn quê nhà. Chợt hồn tỉnh giấc, ngỡ là chiêm bao Hai hàng phượng đỏ cao cao. Nhớ đến thuở nào cha kể tôi nghe. Bên đời giòng chảy u mê. Xuôi theo ghềnh thác ta về chốn xưa. Dù lòng quạnh quẽ chiều mưa. Vẳng nghe câu hát xa đưa chân tình Sài Gòn hoa nắng lung linh Nuôi tôi khôn lớn hành trình thóat thai Cuộc đời là những chuỗi dài Thương thương, nhớ nhớ, u hòai trăm năm Buôn Mê Thuột Biết mấy thuở Bạn mới tới Ban mê tôi Banmê tôi bốn mùa thơ bóng mây trời buông mái tóc Banmê tôi bao mến thương buồn muôn thuở bụi mù trời bạn mà tới bạn mới thấy banmê tôi bao món tuyệt bò mồng tơi búm mắm tôm bánh mỳ thịt bê mềm thui bạn mà tới bạn mới thích bụi mới thú buồn mới thơ Banmê tôi . “Thở vào, tâm tĩnh lặng Thở ra, miệng mỉm cười An trú trong hiện tại Giờ phút thật tuyệt vời” 1. Quê em, hàng dừa xanh, cát trắng. Làng quê nghèo đạm bạc đơn sơ Hoa Lê ki ma nở vài đóa hững hờ Chiều chiều ngắm hòang hôn trên biển vắng Ôi chiều biển cả một vùng xanh thẳm Gío ngút ngàn, nhớ tuổi trẻ dần trôi Nhưng quê hương vẫn còn mãi trong đời. Là rạng rỡ cánh hoa thơm: chị Sáu. Dân thôn dã, cần cù hai mùa mưa nắng. Biển ngọt ngào nhưng bàng bạc lòng ai Dù ra đi, nhưng lòng chẳng nhạt phai. Em còn vọng ngày xưa lòng biển cả 2. Đà Lạt Đêm Sương QUÁCH TẤN Bóng trăng lóng lánh mặt hồ im, Thời khắc theo nhau lải rải chìm. Đứng dựa non sao bờ suối ngọc, Hồn say dịu dịu, mộng êm êm. Một luồng sương bạc bỗng từ mô, Lẻn cuốn vầng trăng cuốn mặt hồ, Cuốn cả non sao bờ suối ngọc: Người lơ lửng đứng giữa hư vô. Trời đất tan ra thành thuỷ tinh, Một bàn tay ngọc đẫm hương trinh, Âm thầm mơn trớn bên đôi má, Hơi mát đê mê chạy khắp mình. “Đà Lạt Trăng Mờ” của Hàn Mặc Tử: Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu, Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ, Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt, Như đón từ xa một ý thơ. Ai hãy làm thinh, chớ nói nhiều! Để nghe dưới đáy nước hồ reo, Để nghe tơ liễu run trong gió, Và để xem trời giải nghĩa yêu. Hàng thông lấp loáng đứng trong im, Cành lá in như đã lặng chìm, Hư, thực làm sao phân biệt được? Sông Ngân Hà nổi giữa màn đêm. Cả trời say nhuộm một màu trăng, Và cả lòng tôi cũng nói rằng: Không một tiếng gì nghe động chạm, Dẫu là tiếng vỡ của sao băng! Đây là một bài thơ nổi tiếng trong làng Thiền, tương truyền là của Tô Đông Pha: 盧盧盧盧盧盧盧 盧盧盧盧盧盧盧 盧盧盧盧盧盧盧 盧盧盧盧盧盧盧 Lô Sơn yên tỏa Chiết Giang triều, Vị đáo sinh bình hận bất tiêu, Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự, Lô Sơn yên tỏa Chiết Giang triều. Mù toả Lô Sơn sóng Chiết Giang, Khi chưa đến đó hận muôn vàn, Đến rồi về lại không gì lạ, Mù toả Lô Sơn sóng Chiết Giang. Chợ Cái Răng xứ hào hoa Phố lầu hai dãy xinh đà quá xinh Có trường hát cất rộng thinh Để khi hứng cảnh thích tình xướng ca Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No Có thương em, anh mua cho một chiếc đò Để em lên xuống thăm dò ý anh! Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền Anh có thương em thì cho bạc cho tiền, đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê Ai về Hà Nội ngược nước Hồng Hà, Buồm dong ba ngọn vui đà nên vui, Đường về xứ Lạng mù xa, Có về Hà Nội với ta thì về. Đường thuỷ thì tiện thuyền bè, Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang. . 1. Tổng hợp thơ về những địa danh quê hương Việt Nam Kiên Giang KIÊN trung mãnh đất anh hùng. GIANG cuồn cuồn chảy về nguồn quê hương. * “Hoả. xóm giềng cười chê Ai về Hà Nội ngược nước Hồng Hà, Buồm dong ba ngọn vui đà nên vui, Đường về xứ Lạng mù xa, Có về Hà Nội với ta thì về. Đường thuỷ thì tiện

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mái Đình Làng Trong Văn Hóa Việt
  • Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Rượu
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa Việt Nam
  • Tục Ngữ, Ca Dao Địa Danh Ninh Bình (Lv Thạc Sĩ)
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nhất Về Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Hay Và Ý Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Danh Ngôn Về Âm Nhạc
  • Danh Ngôn Về Lòng Vị Tha
  • Những Câu Nói Hay Trong Tiếng Anh Về Tình Bạn
  • 38 Câu Nói Tiếng Anh Hay Về Tình Yêu Bằng Tiếng Anh Cực Kì Lãng Mạng Và Ý Nghĩa
  • 999++ Câu Nói Bá Đạo Của Giới Trẻ Nghe Đến Đâu “bủn Rủn” Đến Đó
  • Những câu ca dao về học tập hay nhất:

    Học là học biết giữ giàng

    Biết điều nhân nghĩa biết đàng hiếu trung.

    Học là học để làm người

    Biết điều hơn thiệt biết lời thị phi.

    Học trò học hiếu học trung

    Học cho đến mực anh hùng mới thôi.

    Học là học để mà hành

    Vừa hành vừa học mới thành người khôn.

    Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài

    Cũng thành vô dụng cũng hoài ngọc đi.

    Những câu tục ngữ về học tập ý nghĩa

    – Luyện mãi thành tài, miệt mài tất giỏi.

    – Học ăn học nói, học gói học mở.

    – Học hay cày biết.

    – Học một biết mười.

    – Học thầy chẳng tầy học bạn.

    – Học thầy học bạn, vô vạn phong lưu.

    – Ăn vóc học hay.

    – Bảy mươi còn học bảy mươi mốt.

    – Có cày có thóc, có học có chữ.

    – Có học, có khôn.

    – Dao có mài mới sắc, người có học mới nên.

    – Dẫu rằng thông hoạt, chẳng học cũng hư đời, tài chí bằng trời, chẳng học cũng là phải khổ.

    – Dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng.

    – Dốt đến đâu học lâu cũng biết.

    – Đi một ngày đàng học một sàng khôn.

    – Hay học thì sang, hay làm thì có.

    – Học để làm người.

    – Học hành vất vả kết quả ngọt bùi.

    – Học khôn đến chết, học nết đến già.

    Ca dao, tục ngữ về thiên nhiên và sản xuất, lao động trong đời sống con người Việt Nam xưa và nay.

    Con trâu là đầu cơ nghiệp.

    Câu tục ngữ này được hiểu là con trâu gần gũi và quan trọng hàng đầu đối với cuộc sống của người nông dân. Câu tục ngữ nói về tầm quan trọng của việc tạo duyên và giữ duyên trong định hướng nghề nghiệp và xây dựng cơ nghiệp

    Chuồng gà hướng đông cái lông chẳng còn.

    Câu tục ngữ này là hoàn toàn chính xác. Tự cổ chí kim không ai làm chuồng gà, chuồng gia cầm, gia súc theo hướng Đông là vì nguyên nhân hướng gió. Một việc làm đầy tính khoa học và đúng đắn.

    Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

    Bay cao thì nắng bay vừa thì râm.

    Kinh nghiệm này phản ánh khá đúng thực tiễn. Chuồn chuồn bay thấy hay bay cao phụ thuộc vào áp suốt của khí quyển. Ông cha ta nhận thấy khi sắp mưa những hạt hơi nước nhỏ bé sẽ đọng lại trên các cánh mỏng của chuồn chuồn, làm tăng tải trọng và khiến chúng phải bay thấp là đà sát mặt đất. Do vậy mà đã nghĩ ra câu tục ngữ này để có thể dễ dàng dự báo thời tiết.

    Đầu năm gió to, cuối năm gió bấc.

    Câu tục ngữ này cho thấy kinh nghiệm quan sát hiện tượng tự nhiên của ông cha ta, qua đó mà có thể dự báo được trước thời tiết để sản xuất.

    Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng

    Ngày tháng mười chưa cười đã tối.

    Đây là câu ca dao mà ông cha đã truyền lại cho chúng ta rất chính xác nhờ vào những gì mà mình đã đúc kết được trong cuộc sống mà ngày nay nó vẫn rất khả thi. Ý nghĩa là tháng năm thì thời gian ban ngày dài hơn thời gian ban đêm, còn vào tháng mười thì thời gian ban ngày ngắn hơn thời gian ban đêm.

    Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt.

    Ngày xưa , ông cha ta thấy kiến bò là đoán lụt và hay đề phòng lũ lụt sau tháng 7 âm. Do kiến là loại bò sát nên có thể biết được những thiên tai trước con người 1 cách nhanh nhạy , nó bò để chuẩn bị thức ăn , nơi trú ẩn để tránh nạn (các bạn quan sát sẽ thấy trước khi mưa kiến thường bò đoàn dài trên tường).

    Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước.

    Cũng là một kinh nghiệm về việc dự đoán trời mưa. Ếch là một loài động vật rất mẫn cảm với việc đổi thay thời tiết, nhất là khi trời trở trời mưa. Khi trời chuẩn bị kéo cơn mưa, ếch thường cất tiếng kêu lên bờ ao, hồ, đồng ruộng. Chính vì thế mà dựa vào tiếng kêu của ếch, dân gian ta có thể biết trước trời sắp có mưa, mà hệ quả của trời mưa chính là “ao chuôm đầy nước”.

    Gió thổi là đổi trời.

    Câu tục ngữ này phản ánh thực tiễn về hiện tượng tự nhiên, gió thổi là đổi trời dễ dàng nhận biết để giữ gìn cơ thể.

    Giàu đâu những kẻ ngủ trưa

    Sang đâu những kẻ say sưa tối ngày.

    Câu tục ngữ này có lẽ muôn đời đúng. Ám chỉ những thanh niên lười biếng. Điều đáng buồn là những thành phần như vậy trong xã hội ngày càng nhiều, đặc biệt là giới trẻ, lớp người tưởng như “tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu”.

    Kiến đen tha trứng lên cao

    Thế nào cũng có mưa rào rất to.

    Loài kiến đen hoặc kiến lửa có tập tính sống dưới đất. Khi trời sắp mưa. độ ẩm môi trường lớn, nên độ ẩm dưới đất sẽ rất cao. Vì thế, loài kiến phải đi tránh những không khí ẩm đấy bằng cách di chuyển lên vùng cao hơn, cũng là để bảo vệ trứng. Do kinh nghiệm quan sát, ông cha ta kết luận và tạo thành câu ca dao này

    Lúa chiêm lấp ló đầu bờ

    Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.

    Lúa Chiêm là giống lúa có xuất xứ từ khu vực Nam Trung Bộ, gieo vào tháng giêng và thu hoạch khoảng tháng năm âm lịch. Khoảng tháng 2 tháng 3 khi mùa mưa bắt đầu, có nhiều sấm sét là điều kiện quan trọng giúp cố định một lượng lớn nitơ bổ sung dinh dưỡng cho đất, đặc biệt nó là là nguồn dinh dưỡng khoáng quan trọng cho cây lúa.

    Lợn ăn xong lợn nằm lợn béo

    Lợn ăn xong lợn réo lợn gầy.

    Đây là 2 câu thơ cho thấy kinh nghiệm nuôi lợn của ông cha ta, 2 câu thơ lột tả thực sự cách nuôi heo làm sao để béo tốt.

    Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa.

    Câu tục ngữ này là một kinh nghiệm hay và đúng đắn về dự báo thời tiết khi trời đang ở vào lúc mùa hè.

    Mặt trời có quầng thì hạn, mặt trăng có tán thì mưa.

    Ông bà ta thường dựa vào Trăng quầng, trăng tán để dự báo thời tiết. Tuy nhiên, hiện tượng tán và quần có thể xảy ra cùng một lúc chứ không phải là không đội trời chung.

    Mưa chẳng qua ngọ, gió chẳng qua mùi.

    Giờ Ngọ từ 11 giờ đến 13 giờ. Giờ Mùi từ 13 giờ dến 15 giờ. Một kinh nghiệm về thời tiết.

    Muốn cho lúa nảy bông to

    Cày sâu bừa kĩ phân tro cho nhiều.

    Ý muốn nhắn nhủ người trồng lúa cần phải cày sâu và bón phân nhiều và đầy đủ thì cây lúa mới tươi tốt.

    Mống đông vồng tây, chẳng mưa dây cũng bão giật.

    Cầu vồng, mống cụt xuất hiện là một dự báo thời tiết đáng sợ. Nhân dân đã đúc kết thành kinh nghiệm quý báu lâu đời để phòng tránh, để lo liệu làm ăn:

    Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa.

    Các biến đổi bất thường về cây cỏ, sâu bọ, chim chóc, loài vật… là những hiện tượng, qua đó nhân dân lao động đã đúc rút được nhiều câu tục ngữ có giá trị thực tiễn to lớn. Dự báo thời tiết của dân gian rất phong phú

    Rét tháng ba, bà già chết cóng.

    Câu tục ngữ này được truyền lại với quan niệm là tháng 3 âm lịch (thường tương đương với tháng 4 dương lịch), trong lịch sử đã xảy ra những đợt rét vào thời kỳ này.

    Vàng mây thì gió, đỏ mây thì mưa.

    “Ráng” là đám mây phản chiếu ánh mặt trời về buổi sáng hay buổi chiều, thường có màu sắc rất thắm, đẹp và nên thơ. Nhìn ráng mây người ta có thể đoán ra thời tiết theo câu tục ngữ.

    Những câu ca dao, tục ngữ hay về gia đình, tình cảm gia đình.

    Bài ca dao như một lời khuyên, lời răn dạy của cha ông cho những người làm anh em trên cuộc đời này, cần phải biết yêu thương lẫn nhau, đùm bọc nhau những lúc dở hay bất thường. Quan hệ anh em còn được ví với hình ảnh chân – tay, đó là những bộ phận gắn bó khăng khít trên một cơ thể thống nhất, cùng được nuôi chung bởi một dòng máu huyết thống của gia đình. Hình ảnh đó nói lên tình nghĩa và sự gắn bó thiêng liêng của anh em.

    Lời ca dao tuy giản dị mà ý nghĩa thật lớn lao, nó ca ngợi công lao trời biển của cha mẹ và nhắc nhở đạo làm con phải lấy chữ hiếu làm đầu. Công cha đi liền với nghĩa mẹ. Không phải ngẫu nhiên mà cha ông ta mượn hình ảnh núi Thái Sơn và nước trong nguồn vô tận để so sánh với công lao nghĩa mẹ

    Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

    Ca dao nói ít mà gợi nhiều. Chỉ hai từ quê mẹ mà gợi ra cho người đọc một trường liên tưởng vô cùng lớn. Người con xa quê trông về quê mẹ mà lòng day dứt khôn nguôi. Bốn chữ “ruột đau chín chiều” diễn tả nỗi nhớ da diết đó.

    Cái hay của bài ca dao này là cách nói so sánh cụ thể, nên thơ. Cái đẹp của bài ca dao là thể hiện sự ca ngợi, nói lên lòng biết ơn công cha nghĩa mẹ vô cùng to lớn. Ý nghĩa bài ca dao vô cùng sâu sắc nó dạy chúng ta bài học về lòng hiếu thảo của đạo làm con.

    Bài thơ muốn nói lên công lao và tình yêu của bậc làm cha mẹ dành cho con cái là rất to lớn không gì có thể so sánh được, không thể nào liệt kê hết được.

    Đi khắp thế gian, không ai tốt bằng mẹ

    Gánh nặng cuộc đời, không ai khổ bằng cha.

    Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ

    Mây trời lồng lộng không phủ kín lòng cha

    Tần tảo sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn

    Mang cả tấm thân gầy cha che chở đời con

    Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc

    Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe con.

    Đây là một bài thơ cực kỳ nổi tiếng, có ý nghĩa là cha mẹ cho chúng ta một cuộc đời, cho chúng ta những bệ phóng để vươn đến trời cao… Cha mẹ cũng luôn là bờ vai yên bình nhất để chúng ta dựa vào những khi thất bại, những khi mệt mỏi trong dòng đời đua chen. Do vậy mà chúng ta cần phải yêu hiếu thảo, yêu thương và kính trọng cha mẹ

    Đêm nay con ngủ giấc tròn

    Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

    Hai câu thơ cho ta thấy mẹ còn đem đến ngọn gió mát trong đêm hè, giúp cho con ngủ say, có thể nói mẹ là người luôn đem đến cho con những điều tót đẹp trong suốt cuộc đời

    Bài thơ ý muốn nhắn nhủ đến những cặp vợ chồng rằng hãy luôn thương yêu và vui vẻ với nhau mặc dù trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn gian khổ nào đi nữa.

    Dì ruột thương cháu như con

    Rủi mà không mẹ cháu còn cậy trông.

    Có một câu tương tự với câu này đó là “sảy cha còn chú, sảy mẹ bú dì “. Ý muốn nói tình máu mủ ruột thịt luôn yêu thương lẫn nhau dù có phải là con ruột hay không thì chú và dì vẫn luôn quan tâm và lo lắng cho con cháu.

    Gió mùa thu mẹ ru con ngủ

    Năm canh chày mẹ thức đủ năm canh.

    Hai câu thơ này nằm trong một bài hát ru của người dân Nam bộ, ý nghĩa muốn nói người mẹ luôn biết hy sinh vì con cái và nhắn nhủ con cái phải luôn biết yêu thương mẹ

    Mẹ già đầu tóc bạc phơ

    Lưng đau con đỡ,mắt mờ con nuôi.

    Hai câu thơ thể hiện lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ khi về già, cha

    mẹ nuôi chúng ta khôn lớn ra sao thì sau này cha mẹ lớn tuổi chúng ta phải phụng dưỡng lại hơn vậy.

    Một mẹ nuôi được mười con

    Nhưng mười con không nuôi được một mẹ.

    Đây là hai câu thơ rất hay lột tả được hình ảnh người mẹ dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng có thể che chở cho con cái. Ngoài ra còn muốn nhắn nhủ con cái phải luôn hiếu thảo với cha mẹ

    Má ơi! Đừng gả con xa,

    Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu.

    Hai câu này có nghĩa đen là lời của một người con gái năn nỉ người mẹ của mình. Nhưng nếu phân tích theo nghĩa bóng thì đó là một lời than vãn người con gái nếu lấy chồng xa xứ thì khó có thể về thăm ba má của mình được vì một khi xuất giá là phải tòng phu, lấy chồng về nơi xứ lạ sẽ tạo nỗi nhớ thương da diết đối với người con khi nghĩ về quê nhà không biết cách nào về thăm gia đình.

    Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng

    Con nuôi cha mẹ tính tháng kể ngày.

    Câu này rất hay, và nó cũng giống như một câu đối có hai vế vậy. Câu này rất đúng nếu dành cho những người bất hiếu. Nhưng trong thực tế có rất nhiều người con hiếu thảo với cha mẹ ông bà đấy chứ.

    Đêm đêm con thắp đèn trời

    Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

    Câu ca dao vang vọng mãi trong lòng ta một tình cảm thân thương, đi vào lòng ta bằng một tình cảm chân thật, trìu mến và sẽ mãi sống trong trái tim ta. Thể hiện lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ.

    Cơm cha, áo mẹ, công thầy

    Nghĩ sao cho bỏ những ngày ước ao.

    “Cơm, áo, chữ” là ba hình ảnh cụ thể mang tính chất điển hình ca ngợi công ơn trời biển của cha mẹ và thầy cô giáo. Đây là một lối nói ít mà gợi nhiều.công ơn của cha mẹ, thầy

    Ơn cha nặng lắm ai ơi!

    Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang.

    Bài ca dao thể hiện một cách cảm động về tình cảm gia đình. Ngôn từ giản dị, dễ hiểu. Bài học, về đạo hiếu, đạo làm con được nêu lên sâu sắc. Tình cảm gia đình là một trong những tình cảm đẹp nhất đối với mỗi chúng ta.

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan vợ húp gật gù khen ngon.

    Hai câu ca dao trên nói về lòng chung thủy của những đôi vợ chồng lao động nghèo khó nhưng vẫn hạnh phúc, dù bữa ăn chỉ là với món Râu tôm ruột bầu. Râu tôm ruột bầu chỉ là những thứ bỏ đi, nhưng lại là một giá trị lớn cho những người lao động nghèo khó. Nghèo nhưng họ vẫn hạnh phúc với món cơm bình dân.

    Tưởng rằng chị ngã em nâng

    Ai ngờ chị ngã, em bưng miệng cười.

    Câu thơ này đang phê phán những người chị em trong gia đình không hòa thuận với nhau.

    Trăm năm giữ vẹn chữ tòng

    Sông sao thác vậy một chồng mà thôi.

    Những câu ca dao, tục ngữ về kinh nghiệm sản xuất của ông cha ta từ bao đời nay.

    Tấc đất tấc vàng.

    Qua câu tục ngữ, ông cha ta muốn khẵng định giá trị của đất. có đất có thể làm ra tất cả nhưng vàng thì không thể. Vì vậy khi có phải biết tôn trọng những gì mình có, đừng bỏ lãng phí nó một cách vô nghĩa.

    Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền.

    Câu tục ngữ này đề cập đến giá trị kinh tế của các mô hình lao động của nhà nông. Theo đó, làm ao mang lại giá trị kinh tế lớn nhất, tiếp đến là làm vườn rồi mới đến làm ruộng.

    Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.

    Câu tục ngữ này được đúc kết từ kinh nghiệm trồng trọt bao nhiêu năm của ông cha ta. Bốn yếu tố qua trọng nhất trong việc để cho thu hoạch cao là: nước, phân bón, sự cần cù, cuối cùng là giống có tốt hay không.

    Nhất thì, nhì thục.

    Câu tục ngữ này khẳng định tầm quan trọng của thời vụ, đất đai đã được khai phá, chăm bón đối với cây trồng. Nhất thì là ám chỉ phải đúng thời vụ, nhì tục là nói đến đất đai.

    Thứ nhất cày nỏ, thứ nhì bỏ phân.

    Tốt giếng tốt má, tốt mạ tốt lúa.

    Trồng tre đất sỏi, trồng tỏi đất bồi.

    Câu tục ngữ có nghĩa là khi trồng tre thì bạn nên trồng ở đất sỏi, còn trồng tỏi thì trồng ở đất bồi. Đây là kinh nghiệm mà ông cha ta quan sát và truyền lại cho con cháu.

    Một cục đất ải bằng một bãi phân.

    Câu tục ngữ này đối với bà con nông dân miền Bắc hay miền Trung thì khá tinh thông, ai ai cũng biết. Vì vậy, đã từ lâu kỹ thuật làm đất này đã được đúc kết thành câu nói này.

    Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng

    Ngày tháng mười chưa cười đã tối.

    Đây là câu ca dao mà ông cha đã truyền lại cho chúng ta rất chính xác nhờ vào những gì mà mình đã đúc kết được trong cuộc sống mà ngày nay nó vẫn rất khả thi.Ý nghĩa là tháng năm thì thời gian ban ngày dài hơn thời gian ban đêm, còn vào tháng mười thì thời gian ban ngày ngắn hơn thới gian ban đêm.

    Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa.

    Câu tục ngữ này là một kinh nghiệm hay và đúng đắn về dự báo thời tiết khi trời đang ở vào lúc mùa hè.

    Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ.

    Câu tục ngữ là một kinh nghiệm quý báu về dự báo thời tiết. Ráng mỡ gà là ráng vàng tươi óng ánh. Có ráng mỡ gà xuất hiện ở trên bầu trời, nhân dân ta biết trời sắp nói gió to, sắp bão, cần phải chuẩn bị giữ gìn, chằng buộc, chống đỡ, nhất là nhà tranh vách đá.

    Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt.

    Ngày xưa, ông cha ta thấy kiến bò là đoán lụt và hay đề phòng lũ lụt sau tháng 7 âm. Do kiến là loại bò sát nên có thể biết được những thiên tai trước con người một cách nhanh nhạy , nó bò để chuẩn bị thức ăn, nơi trú ẩn để tránh nạn (các bạn quan sát sẽ thấy trước khi mưa kiến thường bò đoàn dài trên tường)

    Mây xanh thì nắng mây trắng thì mưa.

    Đây là kinh nghiệm dân gian về dự báo thời tiết: khi nhìn lên bầu trời thấy trời cao , mây trong xanh thì không có mưa , người lại thấy mây trắng bay đầy, bầu trời thấp thì sẽ có mưa.

    Tháng bảy heo may chuồn chuồn bay thì bão.

    Tháng bảy (âm lịch) có gió bấc thổi và chuồn chuồn bay ra nhiều là trời sắp có bão. Đây là kinh nghiệm mà ông cha ta đã đúc kết được để nhắc nhở con cháu trong sản xuất

    Gió nam đưa xuân sang hè

    Khi thấy gió nam thì chúng ta sẽ biết được trời xuân đã chuyển sang hè, câu tục ngữ này giúp ta biết được thời tiết để có thể chuẩn bị cho việc sản xuất đạt kết quả tốt.

    Nhai kĩ no lâu cày sâu tốt lúa.

    Đây là câu tục ngữ về kinh nghiệm sản xuất, cụ thể hơn là sản xuất nông nghiệp, mà trong canh tác nông nghiệp thì cây lúa là cây lương thực số một của người Việt nam ta. Muốn lúa sinh trưởng và phát triển tốt, một trong những điều quan trọng là cần chuẩn bị đất thật kĩ, điều này thể hiện qua vế câu: cày sâu tốt lúa.

    Giàu nuôi lợn nái lụi bại nuôi bồ câu.

    Ông cha ta muốn nói là nuôi lợn thì sẽ giàu có và thành công hơn bồ câu, tuy nhiên đây là quan niệm đã quá xư cũ.

    Với người Việt, cho dù làm nghề gì, cũng đều nhất thiết phải có thời gian nghỉ ngơi tích cực, dài ngắn khác nhau tùy mùa vụ cụ thể từng ngành nghề để bù lại thời gian lao động cực nhọc. Và bài thơ này đã nêu lên cụ thể về vấn đề ấy.

    Đất thiếu trồng dừa đất thừa trồng cau.

    Đây là kinh nghiệm mà ông cha ta đã để lại cho con cháu, một sự quan sát rất tinh tế của người xưa.

    Qua giêng hết năm qua rằm hết tháng.

    Ý muốn nói qua giêng là qua những ngày lễ nghỉ tết của dân tộc ta thì con người lại phải đi làm vất vả, còn qua rằm là ngày 15 đã nữa tháng phóng đại thành hết tháng ám chỉ sự nhanh chóng.

    Những câu ca dao, tục ngữ hay về anh em, chị em và tình cảm anh chị em trong gia đình.

    Bài ca dao là lời khuyên lời nhắn nhủ tới thế hệ chúng ta, đã là anh em một nhà, cùng do cha mẹ sinh ra chúng ta phải hòa thuận, phải biết nương tựa lẫn nhau thì gia đình mới ấm êm, cha mẹ mới vui lòng. Có như vậy chúng ta mới báo hiếu được cha mẹ, xã hội mới yên bình và phát triển được.

    Anh em bát máu sẻ đôi.

    Câu này cho thấy tình anh em tình thân thiết trong cách ăn ở, nhẫn nhịn, nhường nhịn lẫn nhau

    Cắt day bầu dây bí, ai cắt dây chị dây em.

    Câu này muốn nói tình chị em không ai nỡ cắt đứt, so sánh dây tình chị em với dây bầu dây bí làm tăng thêm hình ảnh đẹp về tình chị em.

    Chị ngã em nâng.

    Đây là một câu tục ngủ nói về tình cảm chị em với nhau, với hình ảnh đẹp đó con người đã trở nên găn bó gắn kết với nhau hơn. Là sự chia sẽ cùng nhau khi gặp bất cứ khó khăn hoạn nạn nào.

    Em thuận anh hoà là nhà có phúc.

    Câu tục ngữ muốn nhắn nhủ chúng ta phải hòa thuận cùng với những người anh người em trong gia đình, chỉ cần anh em hòa thuận thì gia đình đó sẽ có phúc chúng tôi em trong nhà đóng cửa bảo nhau.

    Câu này ý muốn nói là dù cho có xảy ra việc gì đi nữa thì anh em trong nhà nên đóng cửa lại và giải thích giải quyết nhẹ nhàng cụ thể với nhau, đừng làm lớn chuyện sẽ ảnh hưởng đến hàng xóm và người khác chê cười

    Bài thơ này không nói về tình anh em ruột thịt, mà ý muốn nói đến tình anh em cùng một màu da, cùng sống chung một đất nước phải luôn đoàn kết và thương yêu nhau như anh em ruột.

    Anh em như thể tay chân

    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.

    Bài ca dao này là bài học về tình nghĩa anh em trong gia đình, thân thiết thuỷ chung. Tình cảm ấy phải được coi là máu thịt, có như vậy mới mong gìn giữ những đạo lý truyền thống của ông cha răn dạy chúng ta.

    Anh em như thể chân tay

    Cùng cha cùng mẹ hăng say việc nhà.

    Hai câu ca dao này ý muốn nói anh em cần phải hòa thuận và phải biết yêu thương cha mẹ, phụ giúp cha mẹ làm công việc nhà

    Anh em thật thậm là hiền

    Chỉ một đồng tiền làm mất lòng nhau.

    Hai câu thơ đang phê phán những cặp anh em chỉ vì đồng tiền mà làm mất lòng nhau, qua đó khuyển nhủ chúng ta cần phải coi trọ ng tình anh em là trên hết.

    Anh em bốn bể là nhà

    Người dưng khác họ vẫn là anh em.

    Hai câu ca dao đang nói đến tình anh em, tình đồng bào với tình thần đoàn kết của dân tộc ta.

    Anh em chín họ mười đời

    Hai đằng cùng có, chẳng rời nhau ra.

    Câu ca dao với cụm từ “chẳng rời xa nhau”, ý muốn nói ta hãy luôn coi trọng tình anh em, tình cảm máu mủ ruột thịt , luôn đoàn kết và gắn bó với nhau

    Cũng giống hết với câu ca dao trên, thì bài thơ này cũng có ý nghĩa tình anh chị em trong nhà luôn đoàn kết và không rời xa nhau.

    Bài thơ chứa đựng tình anh em thiêng liêng cao cả, ae hòa thuận thì cha mẹ sẽ vui lòng, mà gia đình cũng đầm ấm, đầy tiếng cười và sự yêu thương

    Anh em bất nghĩa chi khèo (khoèo)

    Anh dữ như mèo tôi lại như trâu.

    Câu thơ này ý muốn châm biếm những tình anh em hay cãi cọ qua lại, không nhường nhịn lẫn nhau mà ai cũng để cái tôi của mình lên

    Anh em chồng vợ sum vầy

    Vui này đã bỏ những ngày chia ly.

    Ý muốn ám chỉ tình anh em khi mỗi người đã có vợ hoặc chồng, gia đình riêng thì lại quên mất tình nghĩa ae khi xưa, 2 câu thơ này nhằm mục đích phê phán

    Có tình thì đãi người dưng

    Anh em bất nghĩa thì đừng anh em.

    Câu ca dao này đề cao tình nghĩa giữa con người, thậm chí là những người xa lạ với nhau, phê phán những con người sống không có tình nghĩa.

    Bà con xa không bằng láng giềng gần.

    Câu tục ngữ muốn nói về tình anh em hàng xóm láng giềng, tối lửa tắt đèn có nhau. Dù là ae ruột nhưng ở xa cũng không thể giúp đỡ được như những người hàng xóm gần nhà.

    Anh em trên kính dưới nhường

    Là nhà có phúc mọi đường yên vui.

    Ý nghĩa của câu này là anh em trong nhà mà yêu thương nhường nhịn lẫn nhau thì trong nhà sẽ luôn yên vui và êm ấm.

    Anh em ăn ở thuận hoà

    Chớ điều chếch lệch người ta chê cười.

    Anh em là máu mủ, là ruột thịt, là bạn bè, là những người cùng ta vượt qua tuổi thơ, tuổi trẻ và những năm tháng khó khăn trong cuộc đời. Dù bạn có muốn phủ nhận đến thế nào đi chăng nưa thì tình anh em vẫn mãi trường tồn mà không điều gì có thể chia cắt được.

    Những câu ca dao tục ngữ hay về giao thông, tuân thủ luật lệ an toàn giao thông.

    Đi xe không mũ, lãnh đủ tang thương.

    Câu tục ngữ này có ý nghĩa là nếu bạn đi xe không đội mũ bảo hiểm thì khi gặp tai nạn bạn chính là người phải lãnh đủ hậu quả. Qua đó muốn nhắn nhủ đến chúng ta phải tuân thủ luật lệ giao thông mà nhà nước quy định đó là đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy.

    Giành khách lấn đường, Diêm Vương mừng đón.

    Câu tục ngữ này đang ám chỉ những người chạy xe bắt khách, vì mưu sinh nên phải giành lấy khách mà phải lấn đường. Tuy nhiên khi lấn đường thì sẽ rất nguy hiểm có thể xảy ra tai nạn. cụm từ “Diêm Vương mừng đón” nhấn mạnh nhằm nhắc nhở mọi người phải tuân thủ luật lệ giao thông để tránh xảy ra hậu quả nghiệm trọng.

    Xe không có thắng, chạy thẳng vào hòm.

    Thắng xe là một công cụ rất quan trọng với mục đích là để làm dừng xe lại, tuy nhiên nếu xe không có thắng thì chắc chắn rằng bạn sẽ không thể dừng lại và qua đó lại trực tiếp gây tai nạn dễ “chạy thẳng vào hòm”

    Lấn chiếm vỉa hè, áp phe với… xà bần, rác thải.

    Câu này có ý nghĩa châm biếm những người buôn bán lấn lòng lề đường, vỉ a hè gây cản trở giao thông.

    Phóng càn phóng đại, ắt phải đến… toà!

    Phòng càn phóng đại có nghĩa là chạy xe với tốc độ cao và không nhìn trước ngó sau, qua đó rất dễ gây tai nạn và sẽ dễ đến “tòa” tức lên phường giải thích.

    Chở ẩu chở bừa, người ưa bị phạt.

    Mỗi xe máy chỉ quy định được đi 2 người và kèm them một em bé với độ tuổi pháp luật quy định, do vậy mà chúng ta không nên “chở ẩu, chở bừa” như đi 3 sẽ vi phạm luật giao thông và bị phạt nặng

    Chạy xe trái luật, địa ngục chực chờ.

    Luật lệ giao thông ở nước ta rất cụ thể, nhưng vẫn có nhiều người cố tình chạy xe trái luật, mà trái luật thì sao? “địa ngục chực chờ” là bốn từ mô tả cụ thể nhất.

    Chiếm dụng lòng đường, khôn lường tai hoạ.

    Lấn chiếm lòng lề đường dường như là phong tục của dân ta thì phải, nếu cứ tiếp tục như vậy thì đất nước ta biết khi nào mới văn minh và hiện đại phát triển được

    Đua xe đường phố là bố tử thần.

    Đua xe là hiện trạng xảy ra rất nhiều hiện nay của các thanh niên “quái xế”, hiện tượng này khiến cho rất nhiều người đi đường lo sợ. Đua xe có thể gây ra tai nạn cực kỳ nghiêm trọng, có thể dẫn đến tử vong do vậy mà đây là một trong những tội nặng nhất khi tham gia giao thông

    Coi thường luật lệ là mẹ của tai nạn giao thông.

    Luật giao thông là do nhà nước ban hành, mỗi người dân đều phải tuân thủ theo để có được xã hội văn minh và phát triển.

    Vượt ẩu phóng nhanh là anh của thương đau, tang tóc.

    Phóng nhanh vượt ẩu rất dễ gây ra tai nạn trực tiếp và cũng có thể gián tiếp, nếu bị nặng thì có thể dẫn đến tử vong, thương đau, tang tóc làm khổ cha mẹ, làm khổ gia đình.

    Vòng vèo lạng lách là khách của âm cung.

    Lạng lách đánh võng là trường hợp thường gặp ở những thanh niên độ tuổi mới lớn còn háo thắng và thích thể hiện. Trường hợp này rất dễ gây ra tai nạn, “khách của âm cung” là 4 từ dùng để răn đe.

    Chạy xe nghênh ngông là ông của quan tài, nạng gỗ.

    Ngông cuồng, háo thắng là tính tình riêng của mỗi người, tuy nhiên thì độ nặng nhẹ khác nhau, và thể hiện qua việc tham gia giao thông. Nếu chạy xe mà ngông cuồng, thì sẽ có thể dẫn đến tại nạn, nặng hơn là tử vong, một kết thúc cuộc đời không ai muốn.

    Đi hàng ba hàng bảy là bạn tri kỷ của thảm hoạ, đoạn trường.

    Trường hợp đi xe dàn hàng là trường hợp xảy ra rất nhiều bởi những đám bạn

    bè chơi chung với nhau. Một khi đi dàn hàng như vậy thì sẽ chiếm chỗ khiến người khác di chuyển khó khăn, đây là một trong những luật lệ cấm của điều luật khi tham gia giao thông.

    Lái xe thể hiện bản chất con người!

    Vâng ! Nhìn qua phong cách lái xe, người ta có thể đánh giá bản chất con người của bạn. Bạn đi xe đàng hoàng tử tế, tham gia đúng luật giao thông thì ai dám phán bạn hư đốn?

    Thay đổi văn hóa giao thông – bắt đầu từ chính bạn.

    Đây là câu tục ngữ ý muốn nhấn mạnh văn hóa giao thông, và muốn mỗi người chúng ta nhìn nhận cụ thể hơn khi tham gia giao thông cần phải chấp hành nghiêm chỉnh

    Lái xe bất cẩn ân hận cả đời.

    Là câu tục ngữ răn đe mỗi người chúng ta. Ý muốn nhắn nhủ chúng ta cần phải lái xe đàng hoàng, tử tế, chấp hành đúng mọi luật lệ giao thông.

    Uống thêm một ly dễ đi Chợ Rẫy.

    Chợ Rẫy là một bệnh viện nổi tiếng ở Tp. Hồ Chí Minh và câu tục ngữ này ý muốn nói về vấn đề sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông sẽ rất dễ gây ra tai nạn và vào bệnh viện.

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

    Chạy xe nhường nhịn, là thương chính mình.

    Câu ca dao muốn nhắn nhủ chúng ta khi tham gia giao thông thì cần phải nhường nhịn trước sau, không nên chen lấn, luồng lách khi tham gia giao thông sẽ dễ gây tại nạn và hậu quả là chính bản thân mình phải chịu.

    Nhường nhau không phải là hèn

    Nhường nhau để khỏi lách, lèn, kẹt xe.

    Hai câu ca dao rất hay này ý muốn nói nhường không phải là chúng ta hèn hạ không dám vượt mặt, mà nhường để khỏi phải lạng lách, lèn lõi dễ gây tai nạn và gây ra tình trạng kẹt xe.

    Những câu ca dao tục ngữ về thầy cô hay nhất.

    Tục ngữ về thầy cô

    Tiên học lễ, hậu học văn.

    Câu tục ngữ này rất nổi tiếng, có nghĩa là trước tiên phải học lễ nghĩa sau đó mới học văn hóa. Hoặc có một cách hiểu khác là trước tiên phải học lễ nghĩa cách đối nhân xử thế trong cuộc sống, sau đó mới học chữ.

    Nhất tự vi sư, bán tự vi sư.

    Câu tục ngữ này rất nổi tiếng, dịch ra là “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”, có ý nghĩa là chúng ta phải tôn kính, biết ơn người dạy bảo (dù chỉ là nửa chữ).

    Không thầy đố mày làm nên.

    Có nghĩa là không có thầy dạy thì chúng ta không thể nên người, không biết từng con chữ mặt giấy nó như thế nào, dặn dò chúng ta phải luôn tôn sư trọng đạo.

    Một kho vàng không bằng một nang chữ.

    “Vàng” dù nhiều đến đâu thì dùng mãi rồi cũng hết, còn “chữ” thì ở trong đầu, không bao giờ mất được. có “vàng” mà không có chữ thì cũng không được người khác nể trọng, còn có “chữ” thì việc làm giàu chỉ là một sớm một chiều. Câu nói có ý nghĩa coi trọng học thức hơn vàng, do vậy mà phải luôn tôn trọng biết ơn những người thầy cô đã dạy dỗ chúng ta.

    Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học.

    Câu tục ngữ trên có ý nghĩa là chẳng có ai sinh ra đã giỏi giang, mà phải trải qua trường lớp, qua công ơn dạy bảo của thầy cô thì chúng ta mới giỏi được. Qua đó dặn dò chúng ta phải biết ơn thầy cô.

    Người không học như ngọc không mài.

    Về câu này thì con người mình cũng như 1 hòn đá bình thường thôi. Nếu như không học thì sẽ mãi chỉ dậm chân tại chỗ chẳng có kiến thức, thiếu hiểu biết và sẽ lạc hậu. Câu nói này nhắn nhủ chúng ta nên trau dồi học hỏi thêm kiến thức sẽ thông minh và sáng suốt hơn.

    Trọng thầy mới được làm thầy.

    Muốn nhắn nhủ những ai đó đang có ý nghĩ hoặc ước mơ muốn làm thầy cô giáo, làm “người lái đò” thì ngay bây giờ hay tôn trọng những thầy cô giáo hiện tại của mình để sau này học sinh của mình cũng sẽ tôn trọng mình như vậy.

    Một gánh sách không bằng một giáo viên giỏi.

    Câu tục ngữ trên cho ta thấy được tầm quan trọng của thầy cô giáo, cho dù bạn có đọc một gánh sách đi chăng nữa thì vẫn không bằng những kiến thức mà thầy cô đã truyền đạt lại cho mình.

    Thầy giáo là đường tinh, học sinh là đường đã lọc.

    Câu thơ trên có ý nghĩa là thầy giáo chỉ là người giúp chúng ta học tập, chỉ là người lái đò, còn thành công sau này s ẽ là của chúng ta và phụ thuộc vào chúng ta.

    Mồng một tết cha, mồng ba tết thầy.

    Câu tục ngữ này nói đến phong tục rất là đẹp của dân tộc ta, đó là sự kính trọng, quan tâm, chăm sóc đối với cha và thầy trong dịp Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Thầy cũng giống như là người cha thứ 2 của chúng ta vậy.

    Ca dao về thầy cô

    Muốn sang thì bắc cầu Kiều

    Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy.

    Hai câu ca dao này rất nổi tiếng, có nghĩa như sau: từ xưa, quan niệm học tốt gắng liền với hình ảnh người thầy. Cha mẹ ai muốn con mình học giỏi đều mang biếu ông giáo gói xôi, con gà để mong thầy dạy cho con của mình chữ để trở thành tài.

    Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy

    Nghĩ sao cho bõ những ngày ước mong.

    Hai câu thơ trên có nghĩa là “cơm cha áo mẹ chữ thầy” mọi thứ luôn bày sẵn ra cho chúng ta con đường chúng ta đi bao giờ cũng dễ dàng rất nhiều, do vậy mà sau này có thành tài thành công thì đừng quên ơn nghĩa những người đã dạy dỗ ta.

    Ơn thầy soi lối mở đường

    Cho con vững bước dặm trường tương lai.

    Muốn nhắn nhủ chúng ta là những người thầy cô đã soi lối mở đường cho tương lai của chúng ta, qua đó khuyên nhủ chúng ta hãy luôn nhớ về công ơn cảu thầy cô.

    Gươm vàng rớt xuống Hồ Tây

    Ơn cha nghĩa trọng công thầy cũng sâu.

    So sánh hình ảnh gươm vàng với ơn nghĩa cha thầy, và dù cho hồ Tây có sâu cỡ nào đi nữa thì công ơn của cha thầy cũng chẳng thua kém .

    Mười năm rèn luyện sách đèn

    Công danh gặp bước, chớ quên ơn thầy.

    Hai câu ca dao có hàm ý là thầy cô đã dạy dỗ ta “mười năm đèn sách” vì thế sau này “công thành danh toại” thì chúng ta đừng quên những năm tháng thầy cô đã dưỡng dục chúng ta.

    Ơn Thầy không bằng gốc bễ,

    Nghĩa Thầy gánh vác cuộc đời học sinh.

    Hai câu thơ ý muốn nói cho chúng ta biết rằng công ơn dạy dỗ của thầy cô đối với chúng ta rất lớn vì vậy phải cố gắng học hành để không phụ lòng thầy cô.

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa.

    Hai câu ca dao này có hàm ý muốn nhắn nhủ chúng ta đừng bao giờ quên công ơn của thầy cô, sau khi “công thành danh toại” thì hãy nhớ đến những người đã dạy dỗ chúng ta có được như ngày hôm nay.

    Ở đây gần bạn gần thầy

    Có công mài sắt có ngày nên kim.

    Câu thơ rất ý nghĩa nhắn nhủ ta phải luôn cố gắng học hành thật tốt, “gần bạn gần thầy” hàm ý muốn nói luôn phải học hỏi từ bạn bè và thầy cô.

    Con hơn cha là nhà có phúc

    Trò hơn thầy là đất nước yên vui.

    Hàm ý muốn nói con cái giỏi hơn cha thì nhà đó có phúc, còn thầy dạy mà sau này trò giỏi hơn cả thầy thì sẽ đóng góp rất nhiều cho đất nước thông qua hình ảnh “đất nước yên vui”

    Con ơi ghi nhớ lời này

    Công cha, nghĩa mẹ, công thầy chớ quên.

    Nhắn nhủ chúng ta phải luôn ghi nhớ công lao nuôi nấng, dạy dỗ ta khôn lớn từ những bậc làm cha, làm mẹ, làm thầy.

    Tục ngữ về con trâu

    Con trâu là đầu cơ nghiệp.

    Câu tục ngữ gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước Việt Nam đã có từ xa xưa nhưng bây giờ hình ảnh con trâu đi trước cái cày theo sau được xem là hình ảnh biểu hiện của một nền nông nghiệp lạc hậu của Việt Nam.

    Chín gang trâu cười, mười gang trâu khóc.

    Tha cày cuốc góc, nghỉ nhọc chăn trâu.

    Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà.

    Câu nói trên có ý nghĩa là đủ 3 điều ấy mới là “đàn ông”, đầu tiên là phải tậu trâu vì con trâu nó làm ra tiền ra bạc, còn vợ thì hay mua sắm tốn kém cho nên phải sắm trâu để làm lụng trước.

    Trâu thịt thì gầy, trâu cày thì béo.

    Muốn giàu nuôi trâu lái, muốn lụn bại nuôi bồ câu.

    Câu tục ngữ muốn nhắn nhủ chúng ta muốn làm giàu thì nuôi trâu, “trâu lái” là trâu nái do dân địa phương người ta phát âm chữ “L” thành “N”

    Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi.

    Muốn nói rằng chúng ta nếu muốn mua trâu thì nên mua trâu nái tức “xem vó”, còn lấy vợ thì chọn con nhà có dòng dõi, có sức khỏe tốt, có khả năng sinh sản và không có di truyền bệnh tật, …

    Trâu có đàn, bò có lũ.

    Hai câu thơ tỏ vẻ biết ơn đến 2 con vật có công rất lớn trong sản xuất nông nghiệp.

    Mua trâu xem sừng, mua chó xem chân.

    Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc.

    Ý muốn nói không có trâu thì người dân sẽ gặp muôn vàng khó khăn trong sản xuất, qua đó phải biết quý trọng con trâu và xem nó như là bạn.

    Ca dao về con trâu

    Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

    Hai câu ca dao trên ví von sự chăm chỉ của đôi vợ chồng nhà nông, nếu phân tích rỏ hành động thì từ chồng cày thì phải có trâu, trâu đi bừa thì phải có người. suy luận cách đó thì phải thêm 1 con trâu và 1 người nữa

    Ai nói chăn trâu là khổ??

    Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

    Ý muốn châm biếm những cô gái có lối sống xa hoa vật chất, và so sánh với hình ảnh con trâu chỉ ăn cỏ để sống qua ngày.

    Muốn nói là giấc ngủ chẳng quan trọng bằng con trâu, nhỡ khi chợp mắt mất trâu rồi lấy gì đi cày mà kiếm sống.

    Bốn câu ca dao trên muốn diễn đạt hình ảnh chăm sóc cho trâu khỏe mạnh để có thể cày sâu giúp ta kiếm sống.

    “Tháng tư đi tậu trâu bò” lột tả hình ảnh con trâu quan trọng như thế nào trong ngành sản xuất, tậu trâu để tháng 5 bắt đầu cày bừa.

    Ý ở đây nói là nông nghiệp còn phụ thuộc vào cây lúa nước thì vẫn còn cần đến trâu nên mới cho trâu ăn cỏ để có sức khỏe giúp nhà nông.

    Bài thơ cho thấy được sức khỏe của con trâu tốt hơn bò rất nhiều, do vậy mà từ bao đời nay chỉ có hình ảnh con trâu đi cày chứ không có con bò nào đi cày cả.

    Trâu buộc thì ghét trâu ăn,

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

    Hai câu ca dao trên có hàm ý là lấy hai con trâu ở hai tình thế khác nhau để so sánh, để phê phán thói hư, tật xấu của con người: hậm hực, ghen ghét những người hơn mình.

    Dù ai buôn bán nơi đâu

    Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về.

    Nhắn nhủ những người xa quê hương nên nhớ “mồng mười tháng tám” hãy về quê để tham gia lễ hội chọi trâu. Thật sự thì để mồng mười nghe cho nó vần chứ thật sự thì lễ chọi trâu Đồ Sơn diễn ra vào ngày 9 tháng 8 hàng năm.

    4 câu thơ cho ta thấy được hình ảnh con trâu không chỉ có sức khỏe mà “phân trâu” còn giúp ích rất nhiều trong việc trồng trọt.

    Ca dao về tình bạn

    Những câu ca dao tục ngữ về tình bạn hay nhất:

    Đã là bạn thì mãi mãi là bạn

    Đừng như sông lúc cạn lúc đầy.

    Ý muốn nói hãy luôn là bạn của nhau, mặc dù sau này có những người bạn mới cũng đừng quên bạn năm xưa.

    Bạn bè là nghĩa tương tri

    Sao cho sau trước một bờ mới nên.

    Đã là bạn bè thì trước sau như một, luôn bên cạnh nhau lúc cần.

    Ai ơi nhớ lấy câu này

    Tình bạn là mối duyên thừa trời cho.

    Ý muốn nhắc nhở tình bạn là duyên trời cho, cho nên đừng đánh mất tình bạn.

    Bắt con cá lóc nướng trui

    Làm mâm rượu tắng đãi người phương xa.

    Tức là 2 người bạn sau khi gặp lại thì người kia đón tiếp bạn 1 cách nồng hậu, thể hiện tình bạn cao đẹp.

    Cho tôi tôi chọn hoa hồng

    Cho tôi chọn bạn tấm lòng thủy chung.

    Luôn đề cao tình bạn, không quên tình nghĩa khi xưa.

    Mực xanh giấy trắng viết ngắn còn dài

    Mong rằng tình bạn nhớ hoài ngàn năm.

    Một so sánh rất hay giữa “mực xanh giấy trắng” và tình bạn. ý muốn nói hãy luôn tôn trọng và giữ gìn tình bạn.

    Sống trong bể ngọc kim cương

    Không bằng sống giữa tình thương bạn bè.

    Câu này khá thâm thúy, cho dù có giàu sang mấy đi nữa, thì không có tình bạn cuộc đời thật nhàm chán.

    Tình bạn tươi thắm như hoa

    Tình bạn là bản tình ca tuyệt vời.

    Tình bạn luôn tươi đẹp như hoa thể hiện 1 tình bạn luôn vui vẻ, tình bạn như bản tình ca thể hiện sau này vẫn mãi mãi bên nhau.

    Bạn bè là nghĩa tương thân

    Khó khăn thuận lợi ân cần bên nhau.

    Ý muốn nói bạn bè thì bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào hãy luôn giúp đỡ nhau.

    Bạn bè là nghĩa trước sau

    Tuổi thơ cho đến bạc đầu không phai.

    Ý muốn nhắc nhở hãy luôn giữ tình bạn trường tồn theo thời gian cho dù sau này có già nua đi chăng nữa.

    Khi nào trái đất còn quay

    Trái tim còn đập vẫn là bạn nhau.

    Khuyên chúng ta nên chọn bạn mà chơi, hãy chọn những bạn tốt đẹp, chứ đừng chọn những bạn không tốt, sau này ta cũng sẽ học hỏi theo thói xấu của bạn.

    Anh em bốn bể là nhà

    Người dưng khác họ vẫn là anh em.

    Có ý nghĩa muốn nhắn nhủ với chúng ta luôn đoàn kết, cho dù không phải là dòng họ nhưng sống cùng chung 1 nước thì nên đùm bọc nhau.

    Tục ngữ về tình bạn

    Ăn chọn nơi, chơi chọn bạn.

    Khuyên chúng ta nên chọn bạn để chơi, đừng nên chơi với những bạn có thói xấu.

    Ăn cùng mâm, nằm cùng chiếu.

    Muốn nhắn nhủ những người đang là bạn của nhau thì hãy luôn sát cánh bên nhau dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

    Thêm bạn bớt thù.

    Hãy luôn tìm kiếm những người bạn mới để tránh những thù hận đáng tiếc trong cuộc sống.

    Chọn bạn mà chơi, chọn nơi mà ở.

    Nên chọn bạn tốt mà chơi, đừng theo những bạn xấu, sau đó bạn sẽ học theo những thói xấu ảnh hưởng tới bạn và nặng hơn là gia đình bạn.

    Trong hoạn nạn mới biết ai là người bạn tốt.

    Tức là trong hoàn cảnh khó khăn nhất thì mới biết được ai là bạn ai là thù, ai là người giúp ta và ai là người bỏ rơi.

    Học thầy không tày học bạn.

    Hãy luôn học hỏi những điều tốt đẹp từ bạn.

    Giàu đổi bạn sang đổi vợ.

    Đã là bạn bè tốt thì phải quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, giúp nhau cùng phát triển, như thế sẽ mang lại cuộc sống giàu có, sung túc cho cả bản thân và bạn bè.

    Tứ hải giai huynh đệ.

    Có ý nghĩa là nghĩ lạc quan rộng rãi, bốn bể là nhà và tất cả đều là anh em bạn bè.

    Tục ngữ về giữ chữ tín

    Một lần bất tín, vạn lần bất tin.

    Nghĩa là nếu một lần bạn đã thất hứa, thì sau này người ta sẽ không tin bạn nữa.

    Quân tử nhất ngôn.

    Người quân tử chỉ nói một lời, tức đàn ông đã hứa là phải làm

    Giấy rách còn giữ lấy lề.

    Mặc dù khó khăn, gian khổ nhưng vẫn giữ được lòng tin, đức hạnh và sự tín nhiệm đối với những người khác.

    Chữ tín còn quý hơn vàng.

    Tức nói vàng không mua được chữ tín.

    Hứa hươu, hứa vượn.

    Hứa này, hứa kia, hứa các kiểu mà chẳng bao giờ làm

    Treo đầu dê, bán thịt chó.

    Ám chỉ những người thất hứa, không có chữ tín

    Rao mật gấu, bán mật heo.

    Ám chỉ những người thất hứa, không có chữ tín

    Rao ngọc, bán đá.

    Ám chỉ những người thất hứa, không có chữ tín

    Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy.

    Ý muốn nói người quân tử đã làm mất lòng tin thì 4 ngưa sẽ xé xác (câu này thường gặp trong phim cổ trang Trung Quốc)

    Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng.

    Để có được lòng tin từ người khác thì bạn trải qua biết bao điều, tuy nhiên chỉ 1 lần thất hứa bạn sẽ không còn lòng tin từ người khác.

    Nhất ngôn cửu đỉnh.

    Ý nói rằng một lời nói đã lọt qua 9 cái đầu của hàm rang rồi thì khó lòng mà rút lại được.

    Lời nói như đinh đóng cột.

    Đã nói ra thì chắc chắn phải thực hiện

    Bảy lần từ chối còn hơn một lần thất hứa.

    Thà bạn từ chối không làm, còn hơn là nhận lời mà không làm chắc chắn sẽ mất lòng tin với người khác.

    Ca dao về giữ chữ tín

    Người sao một hẹn thì nên

    Người sao chín hẹn thì quên cả mười.

    Có người thì hẹn một lần nhưng đều thực hiện được, giữ đúng lời hứa, Có người thì hẹn chín lần nhưng quên tới cả mười lần, tức là không thực hiện

    Nói lời phải giữ lấy lời

    Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.

    Đã nói ra thì phải đảm bảo lời nói, đã hứa thì phải làm.

    Nói chín thì phải làm mười

    Nói mười làm chín, kẻ cười người chê.

    Ý nghĩa của câu nói trên là nói ít, hứa hẹn ít mà chăm chỉ làm sẽ được mọi người yêu quý; còn nói nhiều, hứa hẹn nhiều mà lại làm ít thì chỉ là kẻ ba hoa, lười biếng, luôn bị người đời cười chê.

    Kiếm củi ba năm, thiêu một giờ

    Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng.

    Ý muốn nói làm ra, gây dựng lên thì khó, nhưng hủy hoại, phá đi thì lại quá dễ, nên cần phải biết trân trọng những thành quả đã làm ra, và làm gì cho xứng đáng với điều đó.

    Hay gì lừa đảo kiếm lời

    Cả nhà ăn uống, tội trời riêng mang.

    Nói rằng làm người phải sống ngay thẳng và có chữ tín, đừng đi lừa đảo người khác sau đó những tội lỗi đều riêng bản thân mình phải nhận lấy.

    Ca dao tục ngữ thể hiện sự tôn trọng

    Những câu ca dao tục ngữ tôn trọng người khác.

    Tục ngữ:

    Kính lão đắc thọ.

    Ý muốn nói chúng ta phải kính trọng người lớn tuổi.

    Kính trên, nhường dưới.

    Phải biết tôn trọng lễ phép với người lớn tuổi và nhường nhịn đối với người nhỏ tuổi.

    Trọng thầy mới được làm thầy.

    Muốn nhắc nhở chúng ta muốn sau này làm thầy cô giáo thì trước tiên phải tôn trọng thầy cô.

    Tôn sư trọng đạo.

    Tôn trọng những người đã dạy dỗ mình (thầy, cô giáo)

    Không thầy đố mày làm nên.

    Muốn nhắc nhở chúng ta phải tôn trọng những người đã có công dưỡng dục dạy dỗ, nếu không có thầy cô dạy dỗ thì chắc rằng bạn sẽ không làm được gì

    Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.

    Dù dạy có nhiều hay ít vẫn là thầy chúng ta, cho nên phải luôn luôn tôn trọng thầy cô giáo.

    Trọng nghĩa khinh tài.

    Tức là tôn trọng những người có nghĩa, người có tài mà không có nghĩa cũng vô dụng. Sống tình nghĩa là mục tiêu đặt ra đầu tiên.

    Nhập gia tùy tục.

    Khi đến nhà ai đó thì phải tôn trọng những gì mà nhà người đó thực hiện. 9.Tiếng chào, cao hơn mâm cỗ. Khi gặp ai đó phải chào hỏi, để thể hiện sự tôn trọng người khác.

    Yêu trẻ, trẻ đến nhà; kính già, già để tuổi cho.

    Ý muốn nói yêu quý trẻ con thì sau này chắc chắn nó sẽ đến tiếp.

    Ca dao:

    Nói lời, thì giữ lấy lời

    Đừng như con bướm đậu rồi lại bay

    Ở đây muốn nói, khi đã hứa với ai một điều gì đó thì bắt buộc phải thực hiện nhằm mục đích tôn trọng người khác.

    Kim vàng, ai nỡ uốn câu

    Người không ai nỡ nói nhau nặng lời.

    Tức là nên tôn trọng lẫn nhau, không nên nói những lời lẽ không hay dành cho nhau.

    Nói chín thì nên làm mười

    Nói mười làm chín, kẻ cười người chê

    Tức là đã nói thì phải làm, nói ít làm nhiều, nói mà không làm tức là bạn không giữ lời hứa và không tôn trọng người khác.

    Biết thì thưa thốt,

    Không biết, dựa cột mà nghe.

    Nếu không biết thì thôi đừng nói, đừng có kiểu khi người ta đang nói mà tỏ ra nguy hiểm nhảy vào mồm người khác.

    Ai ơi chớ vội cười nhau

    Cười người hôm trước hôm sau người cười.

    1 nụ cười bằng 10 thang thuốc bổ, cười không đúng chỗ lấy rỗ hứng răng. Tức là đừng vội cười người ta sau này bạn cũng sẽ gặp quả báo sau đó người ta cười lại bạn. Vì vậy nên tôn trọng người khác.

    Tự trọng người lại trọng thân

    Khinh đi khinh lại, như lần trôn quang.

    Muốn được người khác tôn trọng thì bạn phải tôn trọng người khác trước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Dân Ca Việt Nam (Vần B)
  • ‘sốc’ Với Ca Dao, Tục Ngữ Tự Chế Của Giới Trẻ
  • Ca Dao Xuân, Tục Ngữ Tết
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Và Thâ
  • Xem Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Ca Dao Tục Ngữ Bình Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Hay Nhất
  • ‘Bình Định nón Gò Găng

    Bún Song thần An Thái

    Lụa Đậu tư Nhơn Ngãi

    Xoài Tượng chín Hưng Long

    Mặc ai mơ táo ước hồng

    Tình quê em giữ một lòng trước sau.

    Bình Định có hòn Vọng Phu

    Có đầm Thị Nai có Cù Lao Xanh.

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa.

    1.Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.

    2.Bình Định có núi Vọng Phu Có Đầm Thị Nại có Cù Lao xanh.

    3.Công đau công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

    4.Mẹ ơi đừng đánh con đau Để con đánh trống hát tuồng mẹ nghe.

    5.Ai về Bịnh Định mà coi Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.

    6.Ai về Bình định thăm bà Ghé vô em gởi lạng trà Ô long. Trà Ô long nước trong vị ngọt Tình đôi mình như đọt mía lau chúng tôi đi bờ lở một mình Phất phơ chéo áo giống hình trò

    Ba Trò Ba đi học trường xa

    Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi

    8.Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cá nghiên anh đồ.

    Tiếng đồn Bình Định tốt nhà Phú Yên tốt lúa, Khánh Hoà tốt trâu

    .Công đâu công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    .Em về Đập Đá quê cha Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê chồng

    13.Anh về Đập Đá , Gò găng Bỏ em kéo vải sáng trăng một mình Tiếng ai than khóc nỉ non Vợ chàng lính thú trèo hòn Cù Mông

    14.Chiều chiều én liệng Truông Mây Cảm thương Chú Lía bị vây trong thành

    15.Non Tây áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

    16.Cây Me cũ, Bến Trầu xưa Dẫu không nên tình nghĩa cũng đón đưa cho trọn niềm

    17.Ngó vô Linh Đỗng mây mờ Nhớ Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây

    18.Hầm Hô cữ nước còn đầy Còn gương phấn dũng , còn ngày vinh quang

    19.Bình Định có đá Vọng Phu Có đầm Thị Nại có Cù lao Xanh Lụa Phú Phong nên duyên nên nợ Nón Gò găng khắp chợ mến thương

    20.Bên kia sông, quê anh An Thái Bên này sông, em gái An Vinh Thương nhau chung dạ chung tình Cầu cha mẹ ưng thuận cho hai đứa mình lấy nhau

    21.Cưới nàng đôi nón Gò Găng Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn Ai về Tuy Phước ăn nem Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm

    22.Rượu ngon Trường Thuế mê li Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi sao đành

    23.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Gi Sông xanh, núi cũng xanh rì Vào Nam, ra Bắc ai cũng đi con đường này Nghìn năm gương cũ còn đây Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu – Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi Dễ chi nhân ngãi mà rời được nhau

    24.Tháp kia còn đứng đủ đôi Cầu còn đủ cặp huống cho tôi với nường ( nàng) Suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Thiếp ngồi dệt vải chỉ mong bóng chàng Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu Ôm đàn gảy khúc Cầu hoàng Thiếp xin gõ nhịp để chàng lựa dây Bao giờ rừng quế hết cây Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình Dừa xanh sừng sững giữa trời Đem thân mà hiến cho đời thuỷ chung

    25.Muốn ăn bánh ít nhân mè Lấy chồng Hòa Đại đạp chè thâu đêm Muốn ăn bánh ít nhân tôm Lấy chồng Hòa Đại ăn cơm củ mì

    26.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di Sông xanh núi cũng xanh rì Vào Nam ra Bắc cũng đi đường này chúng tôi về Phù Mỹ nhắn nhe Nhắn chị bán chè sao vậy chẳng lên?

    Anh về dưới vạn thăm nhà

    Ghé vô em gởi lạng trà Ô Long

    chúng tôi về Bình Định thăm cha Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em

    29.Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông

    30.Khéo khen con tạo trớ trêu

    Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ

    32.Ai về thăm cảnh An Khê

    Sông Ba chồng nhớ vợ nhà Sông Côn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Kho Tàng Ca Dao Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Du Lịch Qua Ca Dao Ở Một Số Tỉnh Miền Tây Nam Bộ Theo Hướng Du Lịch Sinh Thái Hiện Đại
  • Tiếp Cận Kiến Thức Địa Lý Qua Thơ
  • Con Gà Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Cây Lúa Trong Ngôn Ngữ Người Việt
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Văn Hóa Sản Xuất Nông Nghiệp Phần 1
  • 1.Cá bống còn ở trong hang

    Lá rau tập tàng còn ở ruộng dâu

    Ta về, ta sắm cần câu

    Câu lấy cá bống, nấu rau tập tàng

    2. Cá buồn cá lội tung tăng

    Em buồn em biết đãi đằng cùng ai?

    3. Cá kèo mà gặp mắm tươi

    Như nơi đất khách gặp người cố tri

    4. Cá không ăn muối cá ươn

    Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư

    5. Cá nục nấu với dưa hồng

    Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi

    6. Cá tươi xem lấy đôi mang,

    Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai

    Tóc mai sợi vắn sợi dài

    Có đâu mặt rỗ đá mài không trơn

    7. Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Ðỉa lội lềnh như bánh canh

    8. Cả vú lấp miệng em

    9. Cách sông mới phải luỵ thuyền

    Còn như đường liền ai phải luỵ ai

    10. Cái ách giữa đàng, mang vào cổ

    11. Cái cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    12. Cái cò lặn lội bờ sông

    Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền

    13. Cái cò mày đi ăn đêm

    Ðậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

    Ông ơi, ông vớt tôi nao

    Tôi có lòng nào, ông hãy sáo măng

    Có sáo, thì sáo nước trong

    Ðừng sáo nước đục, đau lòng cò con

    14. Cái kiến mày kiện củ khoai

    Chê em tao khó, lấy ai cho giàu

    Nhà tao chín đụn, mười trâu

    Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân

    Cầu này là cầu ái ân

    Một trăm con gái rửa chân cầu này

    Có rửa thì rửa chân tay

    Chớ rửa chân mày, chết cá ao anh

    15. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Ðiền

    Anh thương em cho bạc cho tiền

    Ðừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay!

    16. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

    Anh có thương em, xin sắm một con đò

    Ðể em qua lại mua cò gởi thơ

    17. Cái khó bó cái khôn

    18. Cái nết đánh chết cái đẹp

    19. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Cái ngủ mày ngủ cho say

    Mẹ mày vất vả chân tay suốt ngày

    20. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Bắt được con trắm, con trê

    Xách cổ mang về cho cái ngủ ăn

    Cái ngủ ăn chẳng hết

    Ðể dành đến Tết mồng Ba

    Mèo già ăn vụng

    Mèo ốm phải đòn

    Mèo con phải vạ

    Con quạ có lông

    Nồi đồng có nắp

    21. Cái răng cái tóc là gốc con người

    22. Câm hay ngóng, ngọng hay nói

    23. Câm như hến

    24. Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn

    Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon

    25. Cần tái, cải nhừ

    26. Cầm vàng mà lội qua sông

    Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

    27. Cần Thơ là tỉnh

    Cao Lãnh là quê

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mảng lo buôn bán không về thăm em

    28. Canh khuya gà gáy ó o

    Quân tử thức dậy còn mò đi đâu?

    29. Canh khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, trầm tư một mình

    30. Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng khi về bủng beo

    31. Cao su đi dễ khó về

    Trai đi mất vợ gái về thêm con

    32. Cáo chết ba năm quay đầu về núi

    33. Cát bay, vàng lại ra vàng

    Những người quân tử dạ càng đinh ninh

    Ðinh ninh ta để dạ này

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    34. Cau già, dao bén thì ngon

    Người già trang điểm phấn son cũng già

    35. Cây cao bóng mát không ngồi

    Ra ngồi chỗ nắng, trách trời không mây

    36. Cây đa Chợ Ðũi

    Nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàng

    Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân!

    37. Cây khô không có lộc

    Người độc không có con

    38. Cây khô không thể mọc chồi

    Mẹ già không dễ sống đời với con

    39. Cây khô không trái, gái độc không con

    40. Cây không trồng nên lòng không tiếc

    Con không đẻ nên mẹ ghẻ không thương

    41. Cây muốn lặng, gió chẳng muốn ngừng

    42. Cây trên rừng hoá kiểng

    Cá dưới biển hoá long

    Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong

    Anh đi lục tỉnh giáp vòng

    Ðến đây trời khiến đem lòng thương em

    43. Cây vông đồng không không trồng mà mọc

    Con gái xóm này chẳng chọc mà theo

    44. Cây xanh thời lá cũng xanh

    Cha mẹ hiền lành để đức cho con

    Mừng cây rồi lại mừng cành

    Cây tốt lắm chồi, người đức lắm con

    Ba vuông sánh với bảy tròn

    Ðời cha vinh hiển, đời con sang giàu

    45. Cậu cai buông áo em ra

    Ðể em đi chợ kẻo mà chợ trưa

    Chợ trưa dưa nó héo đi

    Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?

    46. Cha chung chẳng ai khóc

    47. Cha đời cái áo rách này

    Mất chúng, mất bạn vì mày áo ơi!

    48. Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại

    Bắt anh ra treo tại nhành dương

    Biểu từ ai, anh từ đặng

    Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ

    49. Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển

    Con nuôi chạ mẹ, con tính từng ngày

    50. Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng

    Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày

    51. Cha nào con nấy, rau nào sâu nấy

    52. Chanh chua thì khế cũng chua

    Chanh bán có muà, khế bán quanh năm

    53. Cháo nóng, liếm quanh

    54. Cháu ơi, cháu ngủ cho ngon

    Của dì, dì giữ ai bò mặc ai

    55. Chàng về cho thiếp theo cùng

    Ðói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam

    56. Chàng ôi, giận thiếp mà chi

    Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng

    57. Chàng về để áo lại đây

    Ðể khuya em đắp gió khuya lạnh lùng

    58. Chàng về để áo lại đây

    Phòng khi em nhớ cầm tay đỡ buồn

    59. Cháy nhà ra mặt chuột

    60. Chặt không đứt, bứt không rời

    Phơi không khô, chụm không cháy

    (Ðố là con gì? Con sam)

    61. Chẳng ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời

    62. Chẳng ốm, chẳng đau làm giàu mấy chốc

    63. Chẳng tham ruộng cả, ao tiền

    Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ

    64. Chân cứng, đá mềm

    65. Chân đi ba bước lại dừng

    Tuổi em còn bé chưa từng đi buôn

    Ði buôn cho đáng đi buôn

    Ði buôn cau héo có buồn hay không

    66. Chân trời, góc biển

    67. Chập chập rồi lại cheng cheng

    Con gà sống thiến để riêng cho thầy

    Ðơm sôi thì đơm cho đầy

    Ðơm mà vơi đĩa thì thầy không ưng

    68. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    69. Chẻ tre bện sáo cho dầy

    Chận ngang sông Mỹ có ngày gặp em

    70. Chê đắng chê hôi

    Ðã chê xôi không dẻo

    Lại chê kẹo không ngọt

    71. Chê đây, lấy đấy sao đành

    Em chê cam sành, lấy phải quít hôi

    Quít hôi bán một đồng mười

    Cam ba đồng một, quít ngồi trơ trơ

    72. Chết trước được mồ, được mả

    Chết sau nằm ngả, nằm nghiêng

    73. Chì khoe chì nặng hơn đồng

    Sao chì chẳng đúc nên cồng, nên chuông

    74. Chị em dâu như bầu nước lã

    75. Chị kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu?

    Nhà tui ở dưới đám dâu

    Ở trên đám đậu đầu cầu ngó qua

    76. Chị lấy chồng, em gặm giò heo

    Giò heo chị để chị treo

    Em lấy giò mèo, em gặm em chơi

    77. Chị ngã, em nâng

    78. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Thuốc đâu mà chữa con người lẳng lơ

    79. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Tay đâu mà bụm miệng người thế gian

    80. Chiếc khăn cô đội trên đầu

    Gió xuân đưa đẩy rơi vào tay tôi

    Bâng khuâng tôi chẳng muốn rời

    Trao cô thì tiếc, giữ thời không yên

    81. Chiếc tàu lặn chạy mau đường gió

    Cái xe hơi chạy lẹ như dông

    82. Chiếu bông mà trải góc đền

    Muốn vô làm bé biết có bền hay không?

    83. Chiều chiều, buồn miệng nhai trầu

    Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ

    84. Chiều chiều chim vịt kêu chiều

    Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau

    85. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Nhớ người aó trắng khăn điều vắt vai

    86. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Trông về quê mẹ chín chiều ruột đau

    87. Chiều chiều, ông chánh về Tây

    Cô Ba ở lại lấy thầy Thông Ngôn

    Thông ngôn, ký lục, bạc chục không màng

    Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay

    88. Chiều chiều ông Lã Ðông Tân

    Vai mang bầu rượu, tay cầm chiếc nem

    89. Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

    90. Chiều chiều tui buồn tui ra sông cái, tự ải cho rồi

    Sống làm chi mà chia ly thục nữ

    Thác cho rồi đặng chữ thủy chung

    91. Chiều chiều trước bến Văn Lâu

    Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm

    Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông

    Thuyền ai thấp thoáng bên sông

    Ðưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non

    92. Chiều chiều vịt lội, cò bay

    Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng

    Vô rừng bứt một sợi mây

    Ðem về thắt gióng cho nàng đi buôn

    93. Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc

    Cá bãi trầu lội tuốt mương cau

    94. Chim đa đa đậu nhánh đa đa

    Chồng gần không lấy, đi lấy chồng xa

    Một mai cha yếu mẹ già

    Chén cơm, đôi đũa, tách trà ai dâng

    95. Chim khỏi lồng không mong trở lại

    96. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

    97. Chim khôn lựa cành mà đậu

    98. Chim khôn mắc phải lưới hồng

    Hễ ai gỡ được, đền công bạc vàng

    Anh rằng anh chẳng lấy vàng

    Hễ anh gỡ được, thì nàng lấy anh

    99. Chim quyên ăn trái nhãn lồng

    Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi

    100. Chim quyên xuống đất ăn trùn

    Anh hùng lỡ vận, lên rừng đốt than

    101. Chim trời ai dễ đếm lông

    Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày

    102. Chim trời cá nước, ai bắt được nấy ăn

    103. Chim lìa cành còn thương nhớ cội

    Người xa người tội lắm người ơi!

    Chẳng thà không gặp thì thôi

    Gặp rồi mỗi đứa một nơi sao đành

    104. Chính chuyên chết cũng ra ma

    Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng

    105. Cho em trở lại đường xưa

    Ðể em tìm lại gốc dừa cạnh ao

    Lời anh âu yếm chiều nào

    Thoảng vang trong gió rì rào chớm thu

    106. Chó ăn đá, gà ăn muối

    107. Chó cậy gần nhà, gà cậy cần chuồng

    108. Chó treo, mèo đậy

    109. Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ

    Ðóa hải đường thức ngủ xuân tiêu

    110. Chồng chài, vợ lưới, con câu

    Thằng rể đóng đáy, con dâu đi nò

    111. Chồng chung chồng chạ

    Ai khéo hầu hạ thì được chồng riêng

    112. Chồng chung, vợ chạ

    113. Chồng em áo rách em thương

    Chồng người áo gấm, xông hương mặc người

    114. Chồng em vốn kẻ đa tình

    Già không bỏ, nhỏ không tha

    Xấu như ma hắn cũng hú hí

    Xấu như quỉ hắn cũng ăn nằm

    115. Chồng già vợ trẻ là duyên

    Vợ già, chồng trẻ là tiên ba đời

    116. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già, chồng trẻ là duyên trên đời

    117. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già chồng trẻ là duyên nợ trần

    118. Chồng giận thì vợ làm lành

    Miệng cười chúm chím: Thưa anh giận gì?

    Thưa anh, anh giận em chi

    Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho

    119. Chồng nóng thì vợ bớt lời

    Cơm sôi bớt lửa chẳng rơi hột nào

    120. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa

    121. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Như đôi đũa lệch so sao cho bằng

    122. Chơi hoa cho biết mùi hoa

    Cầm cân cho biết cân già, cân non

    123. Chuối non giú ép, chát ngầm

    Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm

    124. Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

    Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm

    125. Chuồn chuồn có cánh thì bay

    Có thằng bé tí thò tay bắt mày

    126. Chuột kêu chút chít trong rương

    Em đi cho kheó đụng giường mẹ hay

    127. Chuột sa chĩnh gạo

    128. Chuyện đời chẳng ít thì nhiều

    Không dưng, ai dễ đặt điều cho ai

    129. Chuyện đời, vợ vợ chồng chồng

    Thương nhau cũng vội, dứt lòng cũng mau

    130. Chuyện người mặc kệ người lo

    Hơi đâu đáy nước, mình mò bóng trăng

    131. Chữ trinh đáng giá ngàn vàng

    Từ anh chồng cũ đến chàng là năm

    Còn như yêu vụng nhớ thầm

    Họp chợ trên bụng hàng trăm sá gì

    132. Chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng

    133. Chưa học bò, đã lo học chạy

    134. Chưa làm giàu, đã lo ăn cướp

    135. Chừng nào đá nổi rong chìm

    Muối chua, chanh mặn anh tìm được em

    136. Chửa đui, chửa què, đừng khoe rằng tốt

    137. Có bột mới gột nên hồ

    138. Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo

    Có đứa nào xạo bằng thằng út Gò Công

    139. Có cây mới có dây leo

    Có cột có kèo, mới có đòn tay

    140. Có công mài sắt, có ngày nên kim

    141. Có cha, có mẹ thì hơn

    Không cha, không mẹ như đờn đứt dây

    142. Có chí làm quan, có gan làm giàu

    143. Có chí thì nên

    144. Có chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ

    Ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh

    Có chồng say như trong chay ngoài hội

    Ngó vô nhà như hội tầm vu

    145. Có chồng nghiền như ông tiên nho nhỏ

    Thắp ngọn đèn sáng tỏ như sao

    Tay cầm tiêm như phò mã múa đao

    Chân vắt chéo như Khổng Minh xem sách

    146. Có chồng mà chẳng có con

    Khác gì hoa nở trên non một mình

    147. Có chum cá mới ở đìa

    Có em anh mới sớm khuya chốn này

    148. Có con mà gả chồng gần

    Nửa đêm đốt đuốc đem phần cho cha

    Có con mà gả chồng xa

    Ba phần ruộng rẻo chẳng ma nào cày

    149. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng

    150. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay

    151. Có công mài sắt có ngày nên kim

    152. Có của thì có mẹ nàng

    Có bạc có vàng thì có kẻ ưa

    Chị là con gái nhà giầu

    Ăn mặc tốt đẹp vào chầu tòa sen

    Em là con gái nhà hèn

    Ăn mặc rách rưới mon men ngoài hè

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cà Mau Xưa Qua Các Câu Thơ & Ca Dao
  • Thành Ngữ Và Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ A, Chữ Ă, Â ?
  • Lịch Sử Khai Phá Bình Dương Qua Dân Ca, Thơ Ca Dân Gian Làng Tương Bình Hiệp
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Hò Vè Bình Định
  • Tiếng Trung Nghiêm Thùy Trang
  • Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Những Câu Danh Ngôn Bất Hủ
  • {Đọc} Stt Hay Về Sự Thay Đổi Bản Thân Giúp Mình Cố Gắng Nhiều Hơn
  • Stt Hay Về Tình Yêu Buồn Bằng Tiếng Anh Trên Facebook
  • Những Câu Stt Hay Bằng Tiếng Trung Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Từ Ngữ Địa Phương
  • 10:36:14 AM, Sep 07, 2022 * Số lần xem: 854101

    * Cập nhật

    * đăng lúc 11:22:41 AM, Jan 26, 2009 Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam Ca dao là gì?

    Trước hết là Ca dao, là những câu thơ ca dân gian Việt Nam. Được truyền miệng dưới dạng những câu hát không thể một điệu nhất định. Và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc.

    Và đặc biệt hơn đó chính là ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao được hiểu ý nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ ông cha ta để lại.

    Tục ngữ là gì?

    Khác với ca dao, thì tục ngữ lại thể hiện những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian. Về mọi mặt trong cuộc sống như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn…

    Với ý nghĩa ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh thường gieo vần lưng. Và đây cũng là một thể loại văn học dân gian Việt Nam. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn của con người. Trong đó gữa hình thức và nội dung, tục ngữ có một sự gắn bó chặt chẽ. Thông thường trong một câu tục ngữ có 2 nghĩa: nghĩa đen nghĩa bóng.

    Khác với ca dao, tục ngữ thường có vần, gồm 2 loại chính là: vần liềnvần cách.

    Ca Dao Tục Ngữ Phần II từ H tới L Ca Dao Tục Ngữ Phần III từ M tới Y :: ::

    Xin bấm vào các links sau đây để đọc tiếp :

    1. Ai ai cũng tưởng bậu hiền

    A

    Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai

    2. Ai đem con sáo sang song

    Để cho con sáo sổ lồng bay cao

    3. Ai đi bờ đắp một mình

    Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân

    4. Ai đi đâu đấy hỡi ai

    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

    Ai đi muôn dặm non song

    Để ai chứa chất sầu đong vời đầy

    5. Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa

    Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào

    Ai đi sục sịch ngoài hàng rào

    Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa

    6. Ai kêu là rạch, em gọi là song

    Phù sa theo nước chảy mênh mông

    Sông ơi, thấm mát đời con gái

    Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng

    7. Ai làm cho bướm lìa hoa

    Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng

    8. Ai làm Nam Bắc phân kỳ

    Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương

    9. Ai mà nói dối cùng ai

    Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng

    Ai mà nói dối cùng chồng

    Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao

    10. Ai nhứt thì tôi đứng nhì

    Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba

    11. Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

    12. Ai ơi chơi lấy kẻo già

    Măng mọc có lứa người ta có thì

    Chơi xuân kẻo hết xuân đi

    Cái già sòng sọc nó thì theo sau

    Phần I từ A tới G

    100. Áo anh đứt chỉ đường tà

    Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

    B

    Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừBuồn về một nỗi tháng tưCon mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ănBuồn về một nỗi tháng nămChửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêuLựu xa đào, lựu xéo đào xiênVàng cầm trên tay rớt xuống không phiềnChỉ phiền một nỗi nợ với duyên không trònChờ con bạn ngọc thở than đôi lờianh hai vật đổi sao dờiTính sao nàng tính trọn đời thủy chungCanh ba cờ phất trống rungMặc ai ai thẳng ai dùn mặc aiCanh tư hạc đậu cành maiSương sa lác đác khói bay mịt mờCanh chầy tơ tưởng tưởng tơChiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu khôngAi làm lỡ chuyến đò ngangCho loan với phượng đôi hàng biệt ly

    C

    78. Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm

    Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu

    80. Bực mình chẳng muốn nói ra

    Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời

    79. Bước xuống ruộng sâu, em mảng sầu tấc dạ

    75. Bươm bướm mà đậu cành bong

    Đã dê con chị, lại bồng con em

    76. Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng

    Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai

    77. Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng

    73. Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt

    Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon

    74. Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo

    Tay em ôm bó mạ, luỵ ứa hai hàng

    C

    Đi buôn cau héo có buồn hay không

    43. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    VẦN D VẦN Đ

    Đánh bạc quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn vặt quen mồm

    Đánh chết, mà nết không chừa

    Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

    Đàn bà nói có là không

    Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

    Đàn bà tốt tóc thì sang

    Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Đàn kêu tích tịch tình tang

    Ai đem công chúa lên thang mà về

    Đàn ông đi biển có đôi

    Đàn bà đi biển mồ côi một mình

    Đàn ông không râu vô nghì

    Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

    Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ

    Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu

    Rút gươm đâm họng máu trào

    Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

    Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt

    Lửa nhà máy hết cháy thành than

    Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn

    Kể từ khi em biết được chàng

    Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

    Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

    Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang

    Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc

    Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

    Đèn treo ngang quán

    Tỏ rạng bờ kinh

    Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình

    Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

    Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn

    Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

    Đêm khuya ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Đêm khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

    Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng

    Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

    Đêm khuya trăng dọi lầu son

    Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng

    Bển qua đây đàng đã xa đàng

    Dầu tui có lâm nguy thất thế

    Hỏi con bạn vàng nó cứu không?

    Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông

    Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

    Đêm nằm tàu chuối có đôi

    Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

    Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng

    Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài

    Bây giờ chàng đã nghe ai

    Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung

    Bây giờ sự đã nhạt nhùn

    Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua

    Cá lên mặt nước, cá khô

    Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

    Đêm qua nguyệt lặn về Tây

    Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài

    Trúc với mai, mai về trúc nhớ

    Trúc trở về, mai nhớ trúc không

    Bây giờ kẻ Bắc, người Đông

    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

    Đêm thanh cảnh vắng

    Thức trắng năm canh

    Một duyên, hai nợ, ba tình

    Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

    Đến đây đất nước lạ lùng

    Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

    Đến ta mới biết của ta

    Trăm nghìn năm trước biết là của ai

    Đề huề chồng vợ

    Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang

    Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

    Đi chùa lạy Phật cầu chồng

    Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

    Đi đâu cho thiếp theo cùng

    Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

    Đi đâu mà vội mà vàng

    Mà vấp phải đá mà quàng phải dây

    Thủng thỉnh như chúng anh đây

    Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

    Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Đi qua nhà nhỏ

    Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng

    Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

    Đó đây trước lạ sau quen

    Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

    Đói lòng ăn đọt chà là

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

    Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    Đói lòng ăn nửa trái sim

    Uống lưng bát nước đi tìm người thương

    Đói lòng nuốt trái khổ qua

    Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

    Đôi ta chẳng được sum vầy

    Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương

    Vì sương nên núi bạc đầu

    Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

    Đôi ta đã trót lời thề

    Con dao lá trúc đã kề tóc mai

    Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

    Đôi ta như loan với phượng

    Nỡ lòng nào để phượng lià cây

    Muốn cho có đó, có đây

    Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi

    Thà rằng chẳng biết thì thôi

    Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

    Đôi ta như thể con tằm

    Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong

    Đôi ta như thể con ong

    Con quấn con quít, con trong con ngoài

    Đôi ta như thể con bài

    Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

    Đố ai biết luá mấy cây

    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

    Đố ai quét sạch lá rừng

    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

    Rung cây, rung cỗi, rung cành

    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

    Đố ai lặn xuống vực sâu

    Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

    Đố anh con rít mấy chưn

    Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người

    Mấy người bán áo con trai

    Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

    Đốt than nướng cá cho vàng

    Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

    Muốn ăn bôn súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đồng tiền Vạn lịch

    Thích bốn chữ vàng

    Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu

    Bây giờ cô lấy chồng đâủ

    Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

    Đổ lửa than nên vàng lộn trấu

    Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

    Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ

    Anh gặp em đây không cửa không nhà

    Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

    Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

    Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    Đờn cò lên trục kêu vang

    Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng

    Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng

    Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương

    Chiều nay qua phản bạn hồi hương

    Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào

    Ghe tui tới chỗ cắm sào

    Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

    Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá

    Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm

    Anh thấy em tốt mã anh lầm

    Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

    Đưa nhau đổ chén rượu hồng

    Mai sau em có theo chồng đất xa

    Qua đò gõ nhịp chèo ca

    Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

    Đường trơn trợt gượng đi kẻo té

    Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng

    Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi

    Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

    Đứt tay một chút còn đau

    Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

    Đ Đất lành chim đậu.

    E

    VẦN E

    Em có chồng sao em không nói?

    Để anh theo anh chọc em hoài

    Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay!

    Em đeo chiếc kim hườn

    Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến

    Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!

    Em liều một cái bánh bò

    Còn nào chót chét, cặp giò em chặt hai

    Em liều một chén dầu chanh

    Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền

    Em liều một trái sầu giêng

    Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro

    Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi

    Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?

    Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác

    Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?

    Em ơi, anh bảo em này

    Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi

    Em ơi, em có thương anh

    Em ra canh lính cho anh leo tường!

    Em ơi em ở lại nhà

    Vườn dâu em hái mẹ già em thương

    Mẹ già một nắng hai sương

    Chị đi một bước trăm đường xót xa

    Cậy em em ở lại nhà

    Em thấy anh em cũng muốn chào

    Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông

    Em chấy anh em cũng muốn chào

    Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình

    Dao trong mình, gươm anh cặp nách

    Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi

    Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu

    Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi

    Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi

    Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra

    Em về hỏi mẹ cùng cha

    Có cho em lấy chồng xa hay đừng

    Én bay thấp, mưa ngập bờ ao

    Én bay cao, mưa rào lại tạnh

    Em nghe tiếng hát đâu xa

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ê

    Êm như ru

    Ếch ngồi đáy giếng

    VẦN G

    Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng

    Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua

    Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng

    Trai bạc tình một cẳng về quê

    Gái lấy trai đứng là gái dại

    Trai lấy rồi trai lại bán rao

    Gái đâu có thứ hỗn hào

    Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu

    Gà đẻ, gà cục tác

    Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

    Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

    Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi

    Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi

    Saigon vui lắm em ơi

    Lấy chồng về đó một đời sướng thân

    Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất

    Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ

    Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông

    Gẫm xem sự thế nực cười

    Một con cá lội mấy người buông câu

    Gần mực thì đen gần đèn thì sáng

    Gập ghềnh nước chảy qua đèo

    Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng

    Ghe anh đỏ mũi xanh lườn

    Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em

    Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo

    Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em

    Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ

    Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn

    Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời

    Mật đường dù chẳng đi đôi

    Chút hương rớt lại, một đời chưa quên

    Ghe lên ghe xuống dầm dề

    Sao anh không gởi thơ về thăm em?

    Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ

    Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi

    Già thì đặc bí bì bì

    Con gái đương thì rỗng toác toàng toang

    Ngoài xanh trong trắng như ngà

    Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu

    (Đố là gì? – cau dầy)

    Giàu cha giàu mẹ thì ham

    Giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn

    Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa

    Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

    Giàu từ trong trứng giàu ra

    Giàu út ăn, khó út chịu

    Giả đò mua khế bán chanh

    Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn

    Giặc Tây đánh tới Cần Giờ

    Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công

    Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh

    Giấy hồng đơn bán mấy

    Cho anh mua lấy một tờ

    Viết thơ quốc ngữ

    Dán trên trái bưởi

    Thả xuống giang hà

    Bớ cô gánh nước bên bờ

    Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ

    Giận chồng xách gói ra đi

    Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về

    Gieo gió gặp bão

    **************************************

    Toàn bộ từ vần A đến Y

    -B-

    -C-

    Ca Li đi dễ khó về

    Câu nguyên gốc là..nói về những người đi trồng cao su

    Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng, khi về bủng beo

    ================================================== =======

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    ================================================== ========

    Chân cứng đá mềm

    ================================================== ========

    Có chí thì nên

    ================================================== ========

    Cô kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi kéo lại hỏi nhà ở đâu ?

    Nhà tôi ở trước đám dâu

    Ở sau đám cải đầu cầu ngó qua

    Cái câu này còn có khác hơn một tí đó là..

    Đ-

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ếch ngồi đáy giếng

    ================================================== ========

    -G-

    -H-

    -I-

    ================================================== ========

    -K-

    -L-

    -M-

    -N-

    Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ

    ================================================== ========

    Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

    ================================================== ========

    Nhất quỷ nhì ma

    Thứ ba học trò …. )

    ================================================== ========

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    ================================================== ========

    No bụng đói con mắt

    ================================================== ========

    -O-

    Ở đâu cũng có anh hùng

    Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên

    ================================================== ========

    Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

    ================================================== ========

    Ớt nào là ớt chẳng cay,

    Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

    Vôi nào là vôi chẳng nồng

    Gái nào là gái có chồng chẳng ghen !

    ================================================== ========

    Ở hiền gặp lành

    ================================================== ========

    -Q-

    Quả cau nho nhỏ

    Cái vỏ vân vân

    Nay anh học gần

    Mai anh học xa

    Tiền, gạo là của mẹ cha

    Bút nghiên, kinh sách thì là của anh

    Lấy chàng từ thuở mười ba

    Đến năm mười tám thiếp đà năm con

    Ra đường thiếp hãy còn son

    Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng

    ================================================== ========

    -R-

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    ================================================== ========

    -S-

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người

    ================================================== ========

    Sá gì một nải chuối xanh

    Năm bảy người giành cho mủ dính tay

    ================================================== ========

    -T-

    -U-

    ================================================== ========

    -V-

    Vì sông nên phải lụy thuyền

    Chứ như đường liền ai phải lụy ai

    ================================================== ========

    Vải thưa che mắt thánh

    ================================================== ========

    -X-

    ========

    -Y-

    Yêu nhau cởi áo cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

    ========

    Yêu nhau thì ném miếng trầu

    Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra

    Yêu nhau cau bổ làm ba

    Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười

    Xem Thêm Cập nhật 2022:

      Mèo khen mèo dài đuôi.

      N Năm nắng mười mưa

    --- Bài cũ hơn ---

  • 500 Stt Buồn: Hay, Cảm Xúc, Tâm Trạng, Chất Và Độc Đáo Nhất 2022
  • Chia Sẻ Những Stt Hay Về Tình Bạn Trên Facebook Độc Đáo Nhất
  • Tổng Hợp Những Lời Chúc Buổi Tối Ngọt Ngào Nhất
  • Những Lời Chúc Buổi Sáng Ngọt Ngào, Ý Nghĩa Nhất
  • Con Gái Ế Thì Đã Sao?
  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Về Chữ Ăn
  • Ẩm Thực Xa Xưa Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Ca Dao
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Hay Nhất
  • 2. Ca dao và dân ca:

    Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta

    tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta

    thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Có thể nói, ranh giới giữ ca dao và

    dân ca không rõ.

    Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu. Còn dùng một bài ca dao để hát, thì bài

    ca dao sẽ biến thành dân ca. Vì hát yêu cầu phải có khúc điệu, và như vậy phải có thêm tiếng đệm.

    Vậy có thể nói, ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác

    và có thể xây dựng thành các điệu ca dao.

    Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định,

    nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nó là nhạc do tiếng của con người đưa ra từ cổ họng.

    Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn

    cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương,

    còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể nào,

    thì nó vẫn đươc phổ biến rộng rãi

    “Đồng đăng có phố Kỳ Lừa

    Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

    Hay:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga.

    Còn dân ca thì nhiều khi chỉ có dân địa phương mới biết, và mới hát được..

    Nội dung của dân ca cũng nhue nội dung của ca dao, chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện

    cái nội tâm của tác giả trước ngoại cảnh.

    Cũng như tục ngữ, ca dao – dân ca là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể,

    được lưu truyền bằng miệng và / được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Trong tất cả

    những tính chất chung của văn học dân gian (trong đó có tục ngữ – ca dao – dân ca) :

    tính nhân dân, tính hiện thực, tính lãng mãn, tính phổ biến, tính khuyết danh,

    tính truyền miệng, tính tập thể ….thì tính tập thể là tính chất cơ bản nhất

    B. Thời kỳ xuất hiện:

    So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ tưởng như mới hơn. Nhưng theo kết quả nghiên cứu, tục ngữ, ca dao cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Trong quá trình lao động, xuất hiện những câu hò, kiểu như “Dô ta”, như vậy ca hát đã có từ rất sớm, nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ, và được sửa đổi qua các thế hệ của loài người.

    Xét nội dung những câu ” Năm cha, ba mẹ“, hay ” Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông“, ” Con dại, cái mang”, “con mống, sống mang“.. ta có thể biết được thời điểm xuất hiện câu đó, đólà thời kỳ tạp giao, hay tình trạng chồng chung vợ chạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ, rồi đến Phụ hệ…

    Ca dao, tục ngữ cũng mang ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền và phản ánh đời sống kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ.

    C. Nội dung và hình thức của tục ngữ – ca dao – dân ca:

    1. Nội dung của tục ngữ:

    Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý trí nhiều hơn là do xúc cảm. tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bén, rút ở cuộc đời. Ở tục ngữ, tính chất phản phong là mạnh hơn cả.

    Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người.

    VD:

    Quá mù ra mưa

    Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa

    Vỏ quýt dày có móng tay nhọn

    Cái sảy nảy cái ung

    Cõng rắn cắn gà nhà

    2. Hình thức của tục ngữ:

    Tục ngữ ban đầu chỉ là những câu nói xuôi ta, hợp lý, sau dần mới trở thành những câu đối có vần vè, gọn gàng hơn

    Làm phúc phải tội

    Gà què ăn quẩn cối xay

    Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận

    Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm

    Tục ngữ không nhất thiết, nhưng phần lớn đều có vần vè, hay có đối

    No nên bụt, đói nên ma

    Bút sa, gà chết

    Có tật giật mình

    Còn có những câu vần cách, cách hai chữ, ba chữ

    May tay hơn hay thuốc

    Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão

    Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm

    Hoặc thể lục bát

    Cá tươi thì xem lấy mang

    Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai

    Tóm lại xét về sự phong phú cả về mặt nội dung cũng như hình thức, ta có thể thấy tục ngữ đã phát triển trước ca da rất nhiều. Còn nữa, ca dao thiên về tình cảm, biểu lộ tính tình của con người…nên chỉ có thể phát triển khi mà đời sống xã hội đã phức tạp.

    3. Nội dung của ca dao:

    Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắ m thiết và sâu sắc đến cỡ nào…thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được.

    Ca dao Việt nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta.

    Ca dao thể hiện tình yêu: tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên, hoà bình…

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    Gió đưa cành trúc la đà

    Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương

    Tuyệt mù khói toả ngàn sương

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…

    Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên, với xã hội.

    Có thể nói nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình. Tìm hiểu được cái tình trong ca dao chúng ta sẽ thấy được tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa chứa đựng trong ca dao.

    4. Hình thức nghệ thuật của ca dao:

    Ca dao thường là những bài ngắn, hai, bốn, sáu, hoặc tám câu., âm điệu lưu loát và phong phú.

    Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị, và tươi tắn. Nghe có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Có thể nói về mặt tả cảnh , tả tình không có một hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao.

    Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt, nhưng cũng có khi để nói về những cái xấu, nhưng không nói thẳng. Nhờ phương pháp hình tượng hoá, nên lời của ca dao tuy giản dị, mà rất hàm súc.

    Người con gái không được chủ động trong việc hôn nhân, đã ví mình như hạt mưa:

    Thân em như hạt mưa rào

    Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

    Hay để tả một tình yêu trong trắng mới chớm nở của đôi lứa, ca dao noi:

    Đôi ta như lửa mới nhen

    Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

    Đến như tả hạng người ngu đần, ca dao cũng đã đưa ra những hình ảnh táo bạo:

    Mặt nạc đóm dày

    Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn Cơm trắng ăn với chả chim

    Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no

    Trên trời có đám mây vàng

    Bên sông nước chảy có nàng quay tơ

    Nàng buồn nàng bỏ quay tơ

    Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành

    MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA NGHỆ TĨNH

    Tiếng giặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào một chỗ thiếu….xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba , bốn trăm năm.

    Về nội dung, có nhiều bài hát giặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến.

    Về hình thức, phần nhiều các bài hát dặm đều gồm những câu năm chữ và cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lại lấy một ý, điệp cả về ý, lẫn lời:

    vd:

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    hay:

    Thấy những lời kêu trách

    Nghe những lời kêu trách

    Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát, nólàm nổi ý của câu hát, của cả bài.

    Hát giặm cũng có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung, và hình thức đều được trau chuốt.

    Hát giặm Nghệ Tĩnh không hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được nhân dân ưa thích và phổ biến rộng rãi

    VD:

    Trai:

    Tiết thanh nhàn thong thả

    Muốn thăm hỏi vài câu

    Cuốc thánh thót kêu sầu

    Gió phảng phất mùa sâu

    Nhớ trong sách đã lâu:

    Chuyện “Tư mã phượng cầu”

    Thương thì mũi tìm trâu

    Trâu đâu tìm chạc mũi

    Gái:

    Trời mở rộng phong quang

    Giã ơn trời mở rộng phong quang

    Em đánh tiếng đua sang

    Đêm tàn canh vò võ

    Tay em cầm con bấc đỏ

    Mong bỏ đĩa dầu đầy

    Mời bạn ở lại đây

    Đôi ta giở lời rày

    Tình đó với nghĩa đây

    Trai:

    Giống như đọi nác đầy

    Bưng nhẩn nhẩn trên tay

    Không khuy sơ một hột

    Gió nỏ triềng một hột

    Công đôi ta thề thốt

    Kể đã mấy niên rồi

    Lòng đã quyết lứa đôi

    Ngãi đã quyết thề bồi

    Nhất ngôn nói hẳn lời

    Đừng bốn chốn ba nơi

    Đừng trăn gió chào mời

    Trăng nhiều trăng rạng rỡ

    Trăn nhiều đèn rạng rỡ

    Gái:

    Em đã có chồng rồi

    Em đã có lứa rồi

    Vung úp đã vừa nồi

    Đũa ghép đã thành đôi

    Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    Trai:

    Têm một quả trầu không

    Bỏ vô hộp con rồng

    Đi băng nội băng đồng

    Qua năm bảy khúc sông

    Qua chín mười đỗi đồng

    Nghe tin em đã có chồng

    Anh quăng lắc vô bụi

    Bạn gạt tùa vô bụi.

    Anh thương em một tháng hai kỳ

    Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày

    Năm rộn mà chầy

    Có hai mươi bốn miện (Miện = kỳ)

    Xuân qua rồi hè /đến

    Thu đã muộn, đông rồi

    Nhớ bạn cũ chưa nguôi,

    Sang lập xuân vũ thuỷ

    Đêm em nằm em nghĩ

    Nghĩ kinh trập, xuân phân,

    Lòng tưởng sự ái ân

    Sang thanh minh, cốc vũ

    Đêm dêm nằm nỏ ngủ

    Nhớ bạn mãi thường thường

    Tiết lập hạ nhớ thương

    Bước sang tuần tiểu mãn

    Trông ra ngoài chán chán

    Tiết mang hiện lại gần

    Người đập đất, gánh phân

    Để mùa màng gặt hái

    Anh thương em mãi mãi

    Sang hạ chí tiết hè

    Em nghe tiếng sầu ve

    Em buồn trong gia sự

    Bạn buồn trong gia sự

    ***

    Tiết tiểu thử, đại thử

    Trời nắng sốt lắm thay!

    Ra ngồi tựa cột cây

    Anh với em than thở

    Bạn với mình than thở

    ***

    Tiết lập thu, xử thử

    Ai diều sáo mặc ai

    Vàng lác đác giếng tây

    Ta thương người bạn cộ (Cộ = cũ)

    Nhớ mãi người bạn cộ

    ***

    Vừa đến tiết bạch lộ

    Bầy chim trắng bay sang

    Cây heo hắt lá vàng

    Sang thu phân hàn lộ.

    ***

    Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy)

    Tiết sương giáng lại kề

    Trông bạn cũ ta về

    Sang lập đông giá rét

    Tiết tiểu tuyết, đại tuyết

    Trời giá rét lắm thay

    Sang đông chí cấy cày

    Dạ bồi hồi nhớ bạn

    Tiết tiểu hàn chưa dạn

    Đã bước sang đại hàn

    Dạ tưởng nhớ người ngoan

    Vừa năm cùng tháng tận

    Vừa cuối mùa cuối tận.

    ***

    Phận lại ngồi trách phận

    Phận nỏ giám trách phận

    Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp

    6. Hát ví Nghệ Tĩnh:

    Hát Ví Nghệ Tĩnh là những loại dân ca xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Có nhiều điệu hát ví như: hát phường vải, hát phường cấy, hát đò đưa, hát phường buôn…. Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả.

    1. Hát phường vải:Giai đoạn 1:

    Những câu hát phường vải là những câu biểu lộ tâm tình của hai bên trai gái, hoặc là những ước mơ về yêu đương, hoặc là những lời oán trách kẻ chia rẽ tình duyên, và bao giờ cũng lạc quan, tin tưởng.

    Hat phường vải gồm có bốn giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: hát dạo, hát mừng, hát chào và hát hỏi. Giai đoạn thứ hai: hát đố và hát đối. Giai đoạn thứ ba: hát mời và hát xe kết. Giai đoạn thứ tư: hát tiễn.

    Hát dạo

    Bấy lâu thức nhắp mơ màng

    Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng

    *

    Bấy lâu nghe hết tiếng nàng

    Bên anh nức tiếng đồn vang đã lừng

    Nghe tin anh cũng vội mừng

    Vậy nên chẳng quản suối rừng anh sang

    *

    Bấy lâu anh mức chi nhà

    Để em dệt gấm thêu hoa thêm sầu

    *

    Đồn rằng cá uốn thân vây

    Đồn em hay hát, hát hay anh tìm

    *

    Chốn này vui vẻ, tưng bừng

    Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới nơi

    *

    Đêm khuya trời tạnh sương im

    Tai nghe tiếng nhạc, chàng Kim tới gần.

    *

    Dừng xa, khoan kéo, ơi phường!

    Hình như có khách viễn phương tới nhà

    *

    Đi qua nghe tiếng em reo,

    Nghe xa em kéo, muốn đeo em về.

    *

    Đi ngang trước cửa nàng Kiều,

    Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu

    *

    Đi ngang thấy búp hoa đa`o

    Muốn vào mà bẻ, sợ bờ rào lắm gai

    *

    Đồn đây là chốn Đao` Nguyên

    Trăng thanh gió mát, cắm thuyền dạo chơi

    *

    Lạ lùng anh mới tới đây,

    Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng

    *

    Đến đây vàng cũng như son

    Ai ai thời cũng như con một nhà

    Khi nháy mắt, khi nhện sa

    Khi chuột rích trong nhà

    Khi khách kêu ngoài ngõ

    Tay em đưa go đủng đỉnh

    Tay em chìa khoá động đào

    Bước năm lần cửa, ra chào bạn quen

    *

    Mừng rằng bạn đến chơi nhà

    Cam lòng thục nữ gọi là trao tay

    Hát hỏi

    Em có chồng rồi, em nói rằng chưa

    Tội riêng em đó, nỏ lừa được anh

    *

    Em chưa có chồng, em mới đến đây

    Chồng rồi chiếu trải, màn vây ở nhà Anh về chẻ lạt bó tro

    Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.

    Em về đục núi lòn qua,

    Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng

    *

    Trai thanh xuân ngồi hàng thuốc bắc,

    Gái đông sàng cảm bệnh lầu tây

    Hai ta tình nặng nghĩa dày,

    Đối ra đáp được, lúc này tính sao?

    *

    – Đến đây hỏi khác tương phùng

    Chim chi một cánh bay cùng nước non?

    -Tương phùng nhắn với tương tri,

    Lá buồm một cánh bay đi khắp trời

    *

    – Lá gì không nhánh, không ngành?

    Lá gì chỉ có tay mình trao tay?

    – Lá thư không nhánh, không ngành,

    Lá thư chỉ có tay mình trao tay.

    *

    – Nghe tin anh hoc có tài

    Cha thầy Mạnh Tử là ai rứa chàng?

    – Thầy Mạnh, cụ Mạnh sinh ra

    Đù mẹ con hát, tổ cha thằng bày!

    *

    – Người Kim Mã cưỡi co ngựa vàng

    Đất Phù Long rồng nổi, thì chàng đối chi?

    – Người Thanh Thuỷ gặp khách nước trong

    Hoành sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa?

    *

    Nghe anh bôn tẩu bấy lâu

    Nghệ An có mấy chiếc cầu hỡi anh?

    – Nghệ An có ba mươi sáu chiếc cầu

    Phồn hoa đi lại bốn cầu mà thôi

    Cầu danh, cầu lợi, cầu tài

    Cầu cho đây đó làm hai giao hoà

    *

    Nhớ em nhất nhật một ngày

    Đêm tơ tưởng dạ, làng rày nhớ trông

    – Chờ em nửa tháng ni rồi

    Ôm đờn bán nguyệt, dựa ngồi cung trăng

    *

    – Nghe tin anh giỏi, anh tài

    Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?

    – Thiên thai là của nàng Kiều

    Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra

    Lê Thị Thu Hoài @ 12:57 03/03/2012

    Số lượt xem: 21143

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Cuộc Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương Đất Nước ❤️ Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Kháng Chiến Hào Hùng Của Dân Tộc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em Hay Nhất ❤️ 1001 Câu
  • Ca Dao, Tục Ngữ Chế Về Tình Yêu ( Vào Đọc Ngay Nào)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100