Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Cách Ăn Uống

--- Bài mới hơn ---

  • Stt Tâm Trạng Buồn Nhớ Người Yêu Cũ Hay & Xúc Động Nhất
  • Những Lời Chúc Mừng Đám Cưới Hay Và Ý Nghĩa Nhất Chọn Lọc
  • Quà Tặng Cuộc Sống, Số 0 Của Chiếc Cân, Những Câu Nói Hay Về Nghị Lực Trong Cuộc Sống
  • Những Lời Chúc Buổi Tối Vui Vẻ Bằng Tiếng Anh Cho Bạn Cho Tôi
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Tan Vỡ
  • Một số câu ca dao, tục ngữ về cách ăn uống ông bà ta để lại:

    Cơm tẻ mẹ ruột.

    Đói thì thèm thịt thèm xôi

    Hễ no cơm tẻ thì thôi mọi đường.

    Ăn chậm, nhai kỹ, no lâu

    Ăn nhanh, chóng đói, lại đau dạ dày.

    “Muốn cho ngũ tạng được yên

    Bớt ăn mấy miếng, nhịn thèm hơn đau”

    Tham thực, cực thân

    Ăn bớt bát, nói bớt nhời

    Bớt ăn mấy miếng nhịn thèm hơn đau…

    Hay ăn thì lú

    Hay ngủ thì ngu.

    Râu tôm nấu với ruột bầu,

    Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

    Ăn cơm không rau như đau không thuốc

    Ăn cơm có canh như tu hành có bạn

    Ăn đầy bụng ỉa đầy bồ

    Ăn được ngủ được là tiên

    Ăn ngủ không được là tiền vứt đi

    Ăn thịt bò không tỏi

    Như ăn gỏi không rau mơ

    Ăn tôm cấu đầu

    Ăn trầu nhả bã

    Trời mưa cho ướt lá dừa

    Cho tươi luống cải cho vừa lòng em.

    Cho em hái đọt rau dền,

    Nấu tô canh ngọt dâng lên mẹ già.

    Bồng em đi dạo vườn cà,

    Cà non chấm mắm, cà già làm dưa.

    Chồng chê thì mặc chồng chê,

    Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ.

    Nhà em có vại cà đầy

    Có ao rau muống, có đầy chĩnh tương.

    Dầu không mỹ vị cao lương

    Trên thờ cha mẹ, dưới nhường anh em.

    Một nhà vui vẻ êm đềm,

    Đói no tuỳ cảnh, không thèm luỵ ai.

    Tôm rằn lột bỏ đuôi

    Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già.

    Ba tiền một khứa cá buôi

    Cũng mua cho được để nuôi mẹ già.

    Thương chồng nấu cháo le le

    Nấu canh bông bí, nấu chè hột sen.

    Bậu câu cá bống, ngắt đầu kho tiêu

    Kho tiêu, kho mở, kho hành

    Kho ba lượng thịt để dành cho em ăn.

    Sống thì cua nướng, ốc lùi

    Chết cũng nên đời, ăn những miếng ngon.

    Sáng ngày bồ dục chấm chanh

    Trưa gỏi cá cháy, tối canh cá chầy.

    Chim, gà, cá, lợn, cành cau

    Mùa nào thức ấy, giữ mầu nhà quê.

    Mua thịt thì chọn miếng mông

    Lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi

    Trông mặt mà bắt hình dong

    Con lợn có béo thì lòng mới ngon.

    Mua bầu xem cuống

    Mua rau xem lá

    Mua cá xem mang

    Mua cua xem càng.

    Con gà tục tác lá chanh

    Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi,

    Con chó khóc đứng khóc ngồi

    Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng giềng.

    Cá không ăn muối cá ươn.

    Con cưỡng cha mẹ tram đường con hư

    Thịt đầy canh không hành không ngon.

    Cái cò, cái vạc, cái nông

    Ba con cùng béo, vặt lông con nào?

    Vặt lông con vạc cho tao

    Hành, răm, mắm muối bỏ vào mà thuôn.

    Rau cải nấu với cá rô

    Gừng thêm một lát, cho cô giữ chồng.

    Mâm cốm kẽo kẹt mâm hồng

    Bát bịt, mâm đồng kẽo kẹt một nơi

    Mâm thịt kẽo với mâm xôi

    Thịt bùi, xôi dẽo kẽo nơi bà già

    Cùi dừa kẽo kẹt bánh đa

    Cái dĩa thịt gà kẽo kẹt lá chanh.

    Nồi cơm kẽo với nồi canh

    Quả bí trên nhành kẽo với tôm he

    Bánh tráng kẽo với nước chè (trà)…

    Cơm nắm ăn với thịt dim

    Vừa bùi vừa dẻo lại thêm mặn mà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top Những Câu Nói Hay Trong Ngôn Tình Hiện Đại Ngọt Ngào Đến Rụng Tim
  • Vì Đời Là Những Chuyến Đi
  • “gạch Đầu Dòng” Những Lời Chúc Kỷ Niệm Ngày Cưới Hay Nhất!
  • Những Câu Stt Hay Nhất Về Tình Yêu Và Cuộc Sống
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Của Con Gái P2
  • Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Ăn Uống, Món Ăn, Ăn Nói, Ăn Mặc

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Tập 100+ Stt Yêu Xa Hay, Chất Nhất 2022 Khi Người Yêu Đi Lính, Đi Làm Xa..
  • Những Câu Hói Hay Về Tình Cảm Anh Em, Chị Em Ý Nghĩa, Cảm Động
  • Stt Hay Về Mối Tình Đầu, 101+ Câu Status Hay Về Mối Tình Đầu Đã Qua
  • 45+ ❤️ Những Câu Stt Trời Trở Lạnh Ai Đọc Cũng Phải Run
  • 20 Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Cho Người Yêu Hay Nhất 2022
  • Tổng hợp những câu ca dao, tục ngữ hay về ăn uống, món ăn, ăn nói, ăn mặc

    Câu ca dao, tục ngữ nào hay về ăn uống, món ăn, ăn nói, ăn mặc?

    Câu ca dao, tục ngữ hay về ăn uống, món ăn, ăn nói, ăn mặc

    1.

    Ăn chậm, nhai kỹ, no lâu

    Ăn nhanh, chóng đói, lại đau dạ dày

    Nghĩa đen về mặt sinh học của câu thành ngữ này là khi nhai càng kĩ thì hiệu suất tiêu hóa càng cao, cơ thể hấp thụ được nhiều chất dinh dưỡng hơn nên no lâu hơn.

    2..

    Muốn cho ngũ tạng được yên

    Bớt ăn mấy miếng, nhịn thèm hơn đau

    Câu ca dao cho biết ý nghĩa là không nên ăn nhiều những thứ không tốt cho sức khỏe, mặc dù nó có ngon nhưng bớt ăn mấy miếng để giữ sức khỏe, nhịn thèm hơn là ăn vào rồi đổ bệnh.

    3.

    Râu tôm nấu với ruột bầu,

    Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

    Hai câu ca dao trên nói về lòng chung thủy của những đôi vợ chồng lao động nghèo khó nhưng vẫn hạnh phúc, dù bữa ăn chỉ là với món Râu tôm ruột bầu. Râu tôm ruột bầu chỉ là những thứ bỏ đi, nhưng lại là một giá trị lớn cho những người lao động nghèo khó. Nghèo nhưng họ vẫn hạnh phúc với món cơm bình dân.

    4.

    Ăn cơm không rau như đau không thuốc

    Câu nói của các cụ ngày xưa đã cho thấy, rau quan trọng thế nào trong bữa cơm thường ngày. Tuy nhiên thực tế cho thấy, các bữa ăn trong gia đình hiện đại ngày nay đang thiếu cân bằng dinh dưỡng với rau xanh chỉ bởi một điều, ai cũng bận rộn, cứ nghĩ ăn uống qua loa cho no bụng, đáp ứng nhu cầu calo, tạo ra năng lượng để tập trung làm việc là sai hoàn toàn nhé

    5.

    Ăn cơm có canh như tu hành có bạn

    Câu tục ngữ này dùng để chỉ cho sự quan trọng của bạn cùng tu hành. Bạn đồng tu sẽ giúp mình tinh tấn hơn, nâng đỡ mình đứng dậy khi lầm lỗi, bảo hộ thân tâm mình trong sự tu tập và đời sống. Việc so sánh như “ăn cơm có canh” như vậy nhằm nhấn mạnh hơn về tình bạn

    6.

    Ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy

    Ăn cơm với cáy thì ngáy o o…

    Ăn cơm với cáy (một thứ cua nhỏ ở bể) là khi nhà còn nghèo; ăn cơm với thịt bò là lúc đã giầu có. Câu này ý nói nghèo chưa hẳn đã khổ, giầu có chưa hẳn đã là sung sướng, giàu nghèo đều có niềm vui và nỗi buồn.

    7.

    Ăn thịt bò không tỏi

    Như ăn gỏi không rau mơ

    Câu này dùng hình những hình ảnh thức ăn để phản ánh lên cách ăn uống không đúng cách, thiếu những gia vị sẽ làm món ăn không còn hấp dẫn nữa.

    8.

    Ăn tôm cấu đầu, ăn trầu nhả bã

    Câu tục ngự này có ý nghĩa là ăn tôm thì nhớ bỏ đầu đi cũng như ăn trầu thì nhớ nhả bã ra vì đó đều là những thứ chẳng béo bổ gì.

    9.

    Thương chồng nấu cháo le le

    Nấu canh hoa lý, nấu chè hột sen.

    Hoa thiên lý đã đi vào thơ ca, nhạc họa như một loài hoa mộc mạc, giản dị mà nồng nàn. Câu này có hàm ý là người phụ nữ khi về làm vợ, lại bày tỏ tình cảm một cách thực tế hơn, khi lấy hoa thiên chế biến món ngon để giữ lấy tình yêu của người đàn ông.

    10.

    Rau cải nấu với cá rô

    Gừng thêm một lát, cho cô giữ chồng.

    Câu ca dao có hàm ý là người phụ nữ nấu món cá rôi cùng với rau cải và thêm vào một vài lát gừng để chồng thưởng thức thấy thích và yêu thương.

    11.

    Học ăn, học nói, học gói, học mở

    Câu tục ngữ này nói về những điều cơ bản trong cuộc sống mà con người ta phải học để có được cách ăn ở, giao tiếp, cách đối nhân xử thế sao cho lịch sự, tế nhị, văn minh.

    12.

    Ăn lấy chắc, mặc lấy bền

    Câu tục ngữ thể hiện một tinh thần tiết kiệm, một sự bình dị trong ăn mặc. Từ đó có thể hiểu rằng xuất phát điểm của câu tục ngữ là tầng lớp người lao động nghèo trong xã hội xưa, đồng thời đây còn là một lời khuyên về cách sử dụng thành quả lao động sao cho hợp lí, sao cho giản dị.

    13.

    Cơm là gạo, áo là tiền

    Cơm áo gạo tiền là chỉ những lo toan cho cuộc sống hàng ngày của con người gồm có Cơm gạo là cái ăn, áo đại diện cho cái mặc và tiền dùng để chi tiêu hàng ngày.

    14.

    Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà, có duyên

    Quan niệm xưa cho rằng”tóc bỏ đuôi gà, má lúm đồng tiền” là vẻ đẹp hình thể, vẻ đẹp bề ngoài, còn”ăn nói mặn mà có duyên”là vẻ đẹp của tâm hồn bên trong, luôn bền vững với năm tháng, với thời gian…

    15.

    “Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng, dễ nghe”

    Ca dao còn nhắc nhở, khuyên nhau khi nói phải lựa lời, chọn lời, cân nhắc ý tứ. Lời nói luôn có sẵn, đối với từng trường hợp cụ thể mà chúng ta dành những”lời hay ý đẹp”cho nhau. Có niềm vui nào hơn khi trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta luôn được nghe những lời nói đẹp, những lời nói hay, sâu sắc, để cho con người sống thương nhau hơn, gần gũi nhau hơn:

    16.

    Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

    Câu ca dao là một bí quyết giúp ta thành công trong đời, là một lời giáo huấn về cách đối nhân xử thế. Đây cũng là 1 bài học cho con người để rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cho con người. Bản thân em lánh cần học tập cách ăn nói lịch sự, lễ pháp để xúng đáng là “con ngoan trò giỏi”

    17.

    Người thanh tiếng nói cũng thanh

    Chuông kêu chuông đánh bên thành cũng kêu

    Câu ca dao này là bình phẩm về nhân cách của cá nhân. Hàm ý khen ngợi, ca tụng con người có văn hoá, một bên trách cứ cái xã hội không chăm lo cho con người để nó tốt lên

    18.

    Người khôn ăn nói nửa chừng

    Để cho người dại nửa mừng nửa lo

    Câu nói này ý muốn nhắc nhở ta cần tránh lối nói lấp lửng, nửa úp nửa mở, khiến cho người nghe áy náy, phân vân, không rõ thực hư thế nào, gầy phiền muộn cho nhau

    19.

    Nói chín thì phải làm mười

    Nói mười làm chín kẻ cười người chê”

    Câu này người xưa khuyên răn ta nên “nói ít làm nhiều”, đừng “nói nhiều làm ít” kẻo mang tiếng cười, tiếng chê bai

    20.

    Kim vàng ai nỡ uốn câu

    Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời

    Đúng vậy, nói nhau làm chi nặng lời bởi trong tình huống nào cũng rất cần chữ”nhẫn”như người xưa khuyên nhủ”một câu nhịn, chín câu lành”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp 23 Câu Danh Ngôn Tiếng Anh Hay Về Tình Yêu Và Tình Bạn
  • Những Câu Chửi Hay Cho Người Nhiều Chuyện Thích Soi Mói
  • 14 Lời Chúc 8/3 Hay Và Ý Nghĩa Nhất Dành Tặng Quý Cô Giáo
  • 45 Câu Nói Hay Nhất Về Mưa Mang Theo Tâm Trạng Buồn, Vui Trong Tình Yêu Và Cuộc Sống
  • Những Câu Nói Hay Về Mùa Thu
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Món Ăn, Ăn Uống, Ẩm Thực

    --- Bài mới hơn ---

  • 38 Câu Thành Ngữ Trong Tiếng Anh Dễ Nhớ Nhất Với Người Việt
  • Có Ai Biết Ca Dao Tục Ngữ Về Bà Rịa Không?
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • Ẩm thực Việt Nam cũng khá có tiếng trên thế giới với rất nhiều món đặc trưng như Phở, nem rán, phở cuốn… và nhiều món khác ở khắp các vùng miền bắc trung nam nơi nào cũng có những món ăn đặc trưng rất riêng. PHong cách ẩm thực hiện tại cũng được giao thoa rất nhiều giữa các vùng đặc biệt là các món ngon và nổi tiếng. Ở các thành phố lớn các bạn có thể dễ dàng gặp rất nhiều các món ăn khác nhau với đầy đủ các thương hiệu nổi tiếng hoặc là món ăn nổi tiếng. TPHCM là 1 trong những thành phố có thể nói là giao thoa văn hóa ẩm thực ăn uống nhiều nhất vì nơi đây đủ văn hóa của các miền hơn so với các thành phố khác. Những câu ca dao tục ngữ về món ăn, ăn uống, ẩm thực hay và ý nghĩanhất

    Đối với con người thì việc ăn uống là một vấn đề hết sức quan trọng, một vấn đề mọi ai cũng quan tâm trong cuộc sống này. Ăn uống một phần là thưởng thức, là tận hưởng và bên cạnh đó ăn uống còn là vấn đề về sức khỏe. sức khỏe của chúng ta ảnh hưởng ít nhiều bởi những thức ăn, đồ uống mà chúng ta sử dụng hằng ngày. Văn hóa ẩm thực được hội tụ bởi nhiểu quốc gia, mỗi vùng khác nhau. Mỗi quốc gia, mỗi vùng sẽ có một đjăc trưng, đặc điểm và những món ăn riêng biệt nổi tiếng của vùng đó.

    Ẩm thực Việt Nam rất phong phú đa dạng với nhiều các mon ăn ngon trên khắp các vùng miền

    Những món ăn nổi tiếng mà khi nhắc đến địa danh đó ta sẽ biết đó là món ăn đặc sản nào. Nhắc đến bánh cốm ta sẽ nghĩ ngay đến Hà Nội, khi nhắc đến Quảng Nam ta sẽ nghĩ ngay đến mỳ Quảng, nói đến bánh ít lá gai thì ta không thể bỏ qua Bình Định,…. Nhưng một nơi không phải chỉ có một món đặc trưng mà có rất nhiều món đặc trưng, những món ăn ấy đánh dấu đặc trưng, đặc điểm của vùng. Chúng ta cùng đi tìm hiểu những câu ca dao tục ngữ về món ăn, ăn uống, ẩm thực để hiểu rõ hơn về món ăn, ăn uống, ẩm thực.

    Ca dao tụ ngữ về ăn uống:

    Câu 1:

    • Ăn chậm, nhai kỹ, no lâu
    • Ăn nhanh, chóng đói, lại đau dạ dày

    Đây là câu ca dao khuyên chúng ta về cách ăn uống, ăn uống như thế nào cho hợp lí, ăn uống như thế nào cho đúng cách. Câu ca dao trên khuyên chúng ta ăn chậm, nhai kĩ, no lâu để có được sức khỏe tốt cũng như là cách ăn uống đúng cách cho bản thân.

    Câu 2:

    • Muốn cho ngũ tạng được yên
    • Bớt ăn mấy miếng, nhịn thèm hơn đau

    Câu 3:

    • Râu tôm nấu với ruột bầu,
    • Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

    Đây là câu ca dao nói về một món ăn là râu tôm nấu với ruột bầu. tuy nhiên đây không phải là câu ca doa nói về món ăn mà còn nói lên tình cảm của những người nấu ăn danh cho món ăn ấy.

    Câu 4:

    • Ăn cơm không rau như đau không thuốc
    • Ăn cơm có canh như tu hành có bạn

    Đây là một câu nói về cách ăn uống, ăn uống mà không có rau, không có canh thì cũng như đau không thuốc, như tu không có bạn. chính vì thế khi ăn cơm nên có thuốc, có rau sẽ rất tốt cho sức khỏe.

      Ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy

    Ăn cơm với cáy thì ngáy o o…

    Như ăn gỏi không rau mơ

    • Ăn tôm cấu đầu, ăn trầu nhả bã
    • Thương chồng nấu cháo le le

    Nấu canh hoa lý, nấu chè hột sen.

      Rau cải nấu với cá rô

    Gừng thêm một lát, cho cô giữ chồng.

    • Học ăn, học nói, học gói, học mở
    • Ăn lấy chắc, mặc lấy bền
    • Cơm là gạo, áo là tiền
    • Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà, có duyên

      Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng, dễ nghe

      Người thanh tiếng nói cũng thanh

    Chuông kêu chuông đánh bên thành cũng kêu

      Người khôn ăn nói nửa chừng

    Để cho người dại nửa mừng nửa lo

      Nói chín thì phải làm mười

    Nói mười làm chín kẻ cười người chê”

      Kim vàng ai nỡ uốn câu

    Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời

    Ca dao tục ngữ về ăn món ăn, ẩm thực:

    Câu 1:

    • Chẳng ai nhớ cháo làng Ghề
    • Nhớ cơm phố Mía, nhớ chùa Đông Viên.

    Đây là một câu ca dao nói về ẩm thực đặc trưng của vùng miền. khi đến với làng Ghề chúng ta sẽ nhớ đến cháo, còn có cơm phố Mía và chùa Đông Yên, đây là những đặc điểm nổi tiếng của Hà Nội.

    Câu 2:

    • Dưa La, cà Láng , nem Báng, tương Bần
    • Nước mắm Van Vân, cá rô Đầm Sét.

    Đây là những món ăn đặc sắc của vùng Thanh Hóa, một tỉnh miền Trung đầy nắng gió. Đến với nơi đây chúng ta sẽ có nhiều món ngon để thưởng thức như

    Câu 3:

    • Yến xào Vĩnh Sơn
    • Nam sâm Bố Trạch
    • Cua gạch Quảng Khê
    • Sò nghêu Quan Hà
    • Rượu dâu Thuần Lý

    Đây là những câu ca dao nói về những món đặc sản của miền Trung. Mỗi địa danh có một đặc trưng, một đặc sản nổi tiếng. đó được xem như là đặc trưng riêng, cách nhận biết mỗi vùng.

    Bánh tổ Hội An

    Khoai lang Trà Kiệu

    Thơm rượu Tam kỳ

    Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi.

      Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng

    Về sông ăn cá ,về đồng ăn cua.

      Anh thương em chẳng nại sang giàu

    Mứt hồng đôi lượng , trà Tàu đôi cân.

      mâm trầu hủ ruợu đàng hoàng

    Cây mai đến nói, phụ mẫu nàng thì xong.

      Tay bưng quả nếp vô phòng

    đèn hương đôi ngọn , chữ bá tòng cầu hôn.

      Tiếng đồn con gái Phú Yên

    Con trai Bình Thuận đi cưới một thiên cá mòi.

      Mẹ tôi tham thúng xôi dền

    Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng

    Tôi đã bảo mẹ “đừng”.

    Mẹ hấm mẹ hứ mẹ bưng ngay vào

    Bây giờ chồng thấp vợ cao

    Như đôi đũa lệch so sao cho vừa.

    Đem về nấu quả mơ chua trên rừng

    Ai ơi, chua ngọt đã từng

    Non xanh, nước biếc ta đừng quên nhau.

    Câu con cá bống ,nấu canh tập tàng.

      Năm tiền một khúc cá buôi

    Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già.

    Để con bắt ốc hái rau má nhờ

    Má ơi đừng đánh con hoài

    Để con bắt ốc hái xoài mà ăn.

    Để cơm nuôi mẹ , mẹ già yếu răng.

      Rượu nằm trong nhạo chờ nem

    Anh nằm phòng vắng chờ em một mình .

    Anh chưa mát dạ bằng anh thấy nàng.

      Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn

    Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon.

    • Trời đánh còn tránh bữa ăn
    • Có thực mới vực được đạo
    • Dân dĩ thực vi tiên (người dân lấy ăn làm đầu)
    • Ăn được ngủ được là tiên
    • Ăn trông nồi, ngồi trông hướng
    • Miếng ăn là miếng nhục
    • Một miếng giữa đàng bằng một sàng xó bếp
    • Ăn cây nào rào cây nấy
    • Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
    • Con gà cục tác lá chanh

    Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi

    Con chó khóc đứng khóc ngồi

    Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

    Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi.

    Vịt lội Ninh Hòa

    Tôm hùm Bình Ba

    Sò huyết Cam Ranh

    Nai khô Diên Khánh

      Chi ngon bằng gỏi cá nhồng.

    Chi vui bằng được tin chồng vinh qui.

      Trên non túc một hồi còi,

    Thương con nhớ vợ, quan đòi phải đi.

    Không đi thì sợ quan đòi.

    Đi ra thì nhớ cá mòi nấu măng.

      Biên Hòa có bưởi Thanh Trà

    Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh.

    Bánh tráng Mỹ Long, bánh phồng Sơn Đốc.

      Ba phen quạ nói với diều.

    Cù lao Ông chưởng có nhiều cá tôm.

    Tháng tư cơm gói ra Hòn

    Muốn ăn trứng Nhạn phải lòn hang Mai.

      Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng.

    Về sông ăn cá về đồng ăn cua.

    Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm.

      Mẹ mong gả thiếp về vườn.

    Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.

      Khoan khoan mổ một con gà

    Bí đao xắt nhỏ, tiêu cà bỏ vô.

      Đốt than nướng cá cho vàng.

    Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi.

    Bậu câu cá bống chặt đầu kho tiêu

    Kho tiêu, kho ớt, kho hành

    Kho ba lượng thịt để dành mà ăn. . .

    Nhiều món ăn ẩm thực của Việt Nam đã thành thương hiệu nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài hấp dẫn khác du lịch trong và ngoài nước. Ngoài ra việc ăn uống ẩm thực cũng được người xưa rất chú trọng và mỗi kinh nghiệm ẩm thực hoặc các món ăn cũng được người xưa đúc kết thành những câu ca dao tục ngữ hay để truyền đạt lại cho con cháu. Những câu ca dao và tục ngữ về món ăn, ẩm thực hay ăn uống trên kia không chỉ giúp các bạn siêu tầm mà ban jcunxg có thể suy ra rất nhiều những kinh nghiệm thực tế trong ẩm thực ăn uống khi chế biến các món ăn hằng ngày.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Trong Ẩm Thực Việt Nam Pot
  • Ca Dao, Tục Ngữ 3 Miền Vn
  • Bài Văn Mẫu Nghị Luận Xã Hội: Thời Gian Là Vàng Bạc, Văn Mẫu Lớp 7, Tu
  • Giới Thiệu Sách Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
  • Top 5 Cuốn Sách Hay Nhất Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Về Chữ Ăn

    --- Bài mới hơn ---

  • Ẩm Thực Xa Xưa Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Ca Dao
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Hay Nhất
  • Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam + Nghề Buôn Bán
  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ về chữ ĂN

    Ăn Bắc nằm Nam

    Ăn bánh trả tiền

    Ăn bánh vẽ

    Ăn bát cháo chạy ba quãng đồng

    Ăn bát cơm đầy nhớ ngày gian khổ

    Ăn bát cơm dẻo nhớ nẻo đường đi

    Ăn bát cơm nhớ công ơn cha mẹ

    Ăn bát mẻ nằm chiếu manh

    Ăn bát Đại Thanh nằm chiếu miếng

    Ăn bất thùng chi thình

    Ăn bậy nói càn

    Ăn bền tiêu càn

    Ăn biếu ngồi chiếu cạp điều

    Ăn biếu ngồi chiếu hoa

    Ăn bơ làm biếng

    Ăn bốc ăn bải

    Ăn bòn dòn tay

    Ăn mày say miệng

    Ăn bóng nói gió

    Ăn bớt bát nói bớt lời

    Ăn bớt cơm chim

    Ăn bữa giỗ lỗ bữa cày

    Ăn bữa hôm lo bữa mai

    Ăn bừa mứa (bừa bứa)

    Ăn bữa sáng dành bữa tối (lo bữa tối)

    Ăn bữa trưa chừa bữa tối

    Ăn bún thang cả làng đòi cà cuống

    Ăn buổi giỗ, lỗ buổi cày

    Một ngày ăn giỗ, ba ngày hút nước.

    Ăn cá bỏ lờ

    Ăn cả cứt lẫn đái

    Ăn cà ngồi cạnh vại cà

    Lấy anh thì lấy đến già mới thôi

    Ăn cá nhả xương ăn đường nuốt chậm

    Ăn cái rau trả cái dưa

    Ăn cầm chừng

    Ăn cam nằm gốc cây cam

    Lấy anh thì lấy, về Nam không về

    Ăn cám xú

    Ăn cận ngồi kề

    Ăn càn nói bậy (nói bừa)

    Ăn canh cả mặn

    Ăn canh không chừa cặn

    Ăn cắp ăn nẩy

    Ăn cắp như ranh

    Ăn cắp quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn cắp vặt

    Ăn cáy bưng tay

    Ăn cây nào rào cây nấy

    Ăn cây sung ngồi gốc cây sung

    Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm

    Ăn cây táo rào cây sung (xoan) (táo) (nhãn)

    Ăn cay uống đắng

    Ăn chắc để dành

    Ăn chắc mặc bền (mặc dày)

    Ăn chẳng (Ăn chả) bõ nhả

    Ăn chẳng có khó đến mình (đến thân) (đến lần)

    Ăn chẳng đến no lo chẳng đến phận

    Ăn chẳng hết thết chẳng khắp

    Ăn chẳng nên đọi nói chẳng nên lời

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh

    Khuyên cội, khuyên cành, khuyên lá, khuyên bông

    Khuyên cho đó vợ đây chồng

    Đó bế con gái, đây bồng con trai

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (2)

    Bác mẹ gả ép (bán) cho anh học trò

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (3)

    Thầy mẹ gả bán cho anh thật thà.

    Bây giờ chê xấu chê xa,

    Chê cửa chê nhà, chê khó chê khăn.

    Ở đâu yểu điệu thanh tân,

    Sao anh chẳng chịu cầm cân đi lừả

    Vàng mười đắt mấy sao anh chẳng muả,

    Cầm cân đi lừa lại phải thau năm!

    Thau năm đánh lẫn vàng mười

    Rồng vàng cuộn khúc đứt đuôi thằn lằn.

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (4)

    Lấy anh thì lấy, về Thanh không về

    Ăn cháo báo hại cho con

    Ăn cháo đá bát (đái bát)

    Ăn cháo để gạo cho vay

    Ăn cháo lá đa

    Ăn cháo lú (cháo thí)

    Ăn chắt để dành

    Ăn châu chấu ỉa ông voi

    Ăn chay nằm đất

    Ăn chay niệm Phật

    Ăn cho buông so

    Ăn chó cả lông

    Ăn hồng cả hột

    Ăn cho đều tiêu cho sòng (cho khắp)

    Ăn cho no đo cho thẳng

    Ăn chơi cho đủ mọi mùi

    Khi buồn thuốc phiện, khi vui nhơn tình

    Ăn chơi cho hết tháng Hai

    Để làng vào đám cho trai dọn đình

    Trong thời trống đánh rập rình

    Ngoài thời trai gái tự tình cùng nhau

    Ăn chơi khắp bốn phương trời

    Cho trần biết mặt, cho đời biết tên

    Ăn chưa no lo chưa tới

    Ăn chưa sạch bạch chưa thông

    Ăn chưa tàn miếng trầu

    Ăn chực đòi bánh chưng

    Ăn chực nằm chờ

    Ăn chung mủng riêng

    Ăn chung ở chạ (ở lộn)

    Ăn chuối không biết lột vỏ

    Ăn có chỗ đỗ có nơi

    Ăn có chủ ngủ có công đường

    Ăn cỗ đi trước lội nước đi sau (theo sau)

    Ăn có giờ làm có buổi

    Ăn có mời làm có khiến

    Ăn cỗ muốn chòi mâm cao

    Ăn có nhai nói có nghĩ

    Ăn cỗ nói chuyện đào ao

    Ăn có nơi làm (ngồi) có chốn

    Ăn cỗ phải lại mâm

    Ăn có sở ở có nơi

    Ăn có thời chơi có giờ

    Ăn coi nồi ngồi coi hướng

    Ăn cơm ba chén lưng lưng (*)

    Uống nước cầm chừng để dạ thương em

    Ăn cơm chưa biết trở đầu đũa

    Ăn cơm chúa múa tối ngày

    Ăn cơm chùa ngọng miệng

    Ăn cơm có canh như tu hành có bạn

    Ăn cơm có canh tu hành có vãi

    Ăn cơm gà gáy, cất binh nửa ngày

    Ăn cơm hom ngủ giường hòm

    Ăn cơm hớt

    Ăn cơm hớt thiên hạ

    Ăn cơm không rau

    Như đánh nhau không người gỡ

    Ăn cơm không rau như đau không thuốc

    Ăn cơm làm cỏ chăng bỏ đi đâu

    Ăn cơm lừa thóc ăn cóc bỏ gan

    Ăn cơm mới nói chuyện cũ

    Ăn cơm nguội nằm nhà ngoài (nhà sau)

    Ăn cơm nhà làm chuyện thiên hạ

    Ăn cơm nhà nọ kháo cà nhà kia

    Ăn cơm nhà thổi tù và hàng tổng

    Ăn cơm nhà vác bài ngà cho quan

    Ăn cơm nhà vác ngà voi

    Ăn cơm Phật đốt râu thầy chùa

    Ăn cơm Phật lật đật cả ngày

    Ăn cơm nhà bay thẳng tay mà ngủ

    Ăn cơm sao đặng mà mời

    Nước mắt lênh láng rã rời hạt cơm

    Mình ơi đừng đặng cá quên nơm

    Đôi ta gá nghĩa danh thơm để đời

    Cóc nghiến răng còn động đến lòng trời

    Sao mình chẳng tưởng mấy lời em than

    Ăn cơm tấm ấm ổ rơm

    Ăn cơm Tàu ở nhà Tây lấy vợ Nhật

    Ăn cơm trên nói hớt

    Ăn cơm với cáy thì ngáy o o…

    Ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy

    Ăn cơm với mắm phải ngắm về sau

    Ăn cơm với rau phải ngắm sau ngắm trước

    Ăn cơm với thịt bò thì lo ngay ngáy

    Ăn của Bụt thắp hương cho Bụt (thờ Bụt)

    Mía sâu có đốt nhà dột có nơi

    Nghèo hèn giữa chợ ai chơi

    Giàu sang trong núi nhiều người tới thăm

    Ăn của chùa phải quét lá đa

    Ăn của ngon mặc của tốt

    Ăn của người phải làm việc cho người

    Ăn của người ta rồi ra phải trả

    Ăn của người vâng hộ người

    Ăn của rừng rưng rưng nước mắt

    Ăn cùng chó ló xó cùng ma

    Ăn cướp cơm chim

    Ăn cứt không biết thối

    Ăn đã vậy múa gậy làm sao (thì sao)

    Ăn đã vậy múa gậy vườn hoang

    Ăn đã vậy nói làm sao

    Ăn dầm nằm dề

    Ăn đàn anh làm đàn em

    Ăn đằng sóng nói đằng gió

    Ăn đầu sóng nói đầu gió

    Ăn đấu trả bồ

    Ăn đầy bụng ỉa đầy bồ

    Ăn đây nói đó

    Ăn dè dặt

    Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn

    Ăn dè xẻng

    Ăn đến nơi làm đến chốn

    Ăn đều tiêu sòng

    Ăn đi trước lội nước theo sau

    Ăn đổ ăn vãi

    Ăn đỡ làm giúp

    Ăn đổ làm vỡ

    Ăn dơ ở bẩn

    Ăn dò sau cho dò trước

    Ăn độc chốc đít

    Ăn đói mặc rách

    Ăn đợi nằm chờ

    Ăn đói nằm co

    Ăn đời ở kiếp

    Ăn đồng chia đủ

    Ăn đong cho đáng ăn đong

    Lấy chồng cho đáng hình dong con mgười! (tấm chồng)

    Ăn đua cho đáng ăn đua

    Lấy chồng cho đáng (để gánh) việc vua việc làng

    Ăn dùa thua chịu (thua giựt)

    Ăn dưng ở nể

    Ăn được ngủ được là tiên

    Ăn ngủ không được là tiền vứt đi (mất tiền thêm lo)

    Ăn đứt thiên hạ

    Ăn gạo tám chực đình đám mới có

    Ăn già ăn non

    Ăn giả vạ thật

    Ăn gian nói dối

    Ăn gian nói dối đã quen

    Nhút nhát như thỏ, bao phen dối người

    Ăn gio bọ trấu

    Ăn giỗ đi trước lội nước đi sau (theo sau)

    Ăn gió nằm sương

    Ăn gỏi chẳng cần (không cần) lá mơ

    Ăn gởi nằm nhờ

    Ăn ha hả trả ngùi ngùi

    Ăn hại đái nát

    Ăn ham chắc mặc ham dày

    Ăn hàng con gái đái hàng bà già (bà lão)

    Ăn hết cả phần cơm chó

    Ăn hết cả phần con phần cháu

    Ăn hết đánh đòn ăn còn mất vợ

    Ăn hết mâm trong ra mâm ngoài

    Ăn hết nạc vạc đến xương (tới xương)

    Ăn hết nhiều ở hết bao nhiêu

    Ăn hết nước hết cái

    Ăn hết phần chồng phần con

    Ăn hiền ở lành

    Ăn hóc học nên

    Ăn hối lộ

    Ăn hơn hờn thiệt

    Đánh thiệt đuổi đi

    Làm chi thì làm

    Ăn hơn nói kém

    Ăn hương ăn hoa

    Ăn ít mau tiêu ăn nhiều tức bụng

    Ăn ít ngon nhiều

    Ăn đều tiêu sòng

    Ăn ít no dai, Ăn nhiều tức bụng

    Ăn ít no lâu ăn nhiều mau đói

    Ăn ít no lâu hơn ăn nhiều chóng đói

    Ăn khoan ăn thai vừa nhai vừa nghĩ

    Ăn không biết chùi mép (chùi miệng)

    Ăn không biết dở đầu đũa (trở đầu đũa)

    Ăn không biết lo của kho cũng hết

    Ăn không biết no lo chẳng tới

    Ăn không biết no vô lo vô nghĩ

    Ăn no ngủ kỹ chổng tỷ lên trời

    Cây cao bóng cả chẳng ngồi

    Ra đứng chỗ nắng trách trời không râm

    Ăn không biết trở đầu đũa

    Ăn không được đạp đổ

    Ăn không được phá cho hôi

    Ăn không được thì bảo rằng hôi

    Ăn không kịp nuốt

    Ăn không kịp thở

    Ăn không nên đọi nói không nên lời

    Ăn không ngồi rồi

    Ăn không ngồi rồi lở đồi lở núi

    Ăn không nói có

    Ăn không ra bữa

    Ăn không rau như đau không thuốc

    Ăn không thì hóc chẳng xay thóc cũng bồng em

    Ăn kiêng ăn khem

    Ăn kiêng cữ

    Ăn kiêng khem

    Ăn kiêng nằm cữ

    Ăn kỹ làm dối

    Ăn kỹ no lâu cày sâu tốt đất

    Ăn kỹ no lâu cày sâu tốt lúa (tốt ruộng)

    Ăn la ăn lết

    Ăn la ăn liếm

    Ăn lắm đau bụng

    Ăn lắm hay no cho lắm hay phiền

    Ăn lắm hết ngon nói lắm hết lời khôn

    Ăn lắm ỉa nhiều

    Ăn làm sao nói làm vậy

    Ăn lắm thì hết miếng ngon

    Nói lắm thì hết lời khôn, hóa rồ

    Ăn lắm trả nhiều

    Ăn lạt mới biết thương mèo

    Ăn lấy chắc mặc lấy bền

    Ăn lấy đặc mặc lấy dày

    Ăn lấy đời chơi lấy thì

    Ăn lấy được

    Ăn lấy hương lấy hoa

    Ăn lấy no mặc lấy ấm

    Ăn lấy thảo

    Ăn lấy thơm lấy tho chứ không lấy no lấy béo

    Ăn lấy vị chứ ai lấy bị mà mang

    Ăn lấy vị không phải ăn lấy bị mà đong

    Ăn lỗ miệng liệng lỗ trôn (tháo lỗ trôn)

    Ăn lời tùy vốn bán vốn tùy nơi

    Ăn lông ở lỗ

    Ăn lúa tháng năm xem (trông) trăng rằm tháng tám

    Ăn lúa tháng mười xem trăng mồng tám tháng tư

    Ăn lúc đói nói lúc say

    Ăn lường ăn quịt vỗ đít chạy làng

    Ăn mặc như đồ ba gà

    Ăn mặc như em quần áo lam lũ

    Thiên hạ cười chê anh vẫn cứ thương

    Ăn mắm lắm cơm

    Ăn mắm mút dòi

    Ăn mắm phải nhắm chén cơm

    Ăn mắm phải ngắm về sau

    Ăn mặn hay khát nước

    Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối

    Ăn mận trả đào

    Ăn mảnh

    Ăn mảnh khảnh

    Ăn mật trả gừng

    Ăn mày ăn xin

    Ăn mày cầm tinh bị gậy

    Ăn mày chẳng tày giữ bị

    Ăn mày chính thực là ta

    Đói cơm rách áo hóa ra ăn mày

    Ăn mày còn đòi sang,

    Ăn mày công đức

    Ăn mày cửa Phật

    Ăn mày đánh đổ cầu ao

    Ăn mày đòi xôi gấc

    Ăn mày hoàn bị gậy

    Ăn mày không tày giữ bị

    Ăn mày mà đòi xôi gấc

    Ăn mày nơi cả thể làm rể nơi nhiều con

    Ăn mày quen ngõ

    Ăn miếng chả trả miếng (giả miếng) nem (bùi)

    Ăn miếng ngon chồng con trả người

    Ăn miếng ngon nhớ chồng con ở nhà

    Ăn miếng ngọt trả miếng bùi

    Ăn miếng trả miếng

    Ăn mít bỏ xơ

    Ăn một bát cháo chạy ba quãng đồng

    Ăn một bát hát một câu

    Ăn một bữa một heo

    Không bằng ngọn gió ngoài đèo thổi vô.

    Ăn một đền mười

    Ăn một đời chơi mội thì

    Ăn một đọi nói một lời

    Ăn một lại muốn ăn hai

    Ăn một mâm nằm một chiếu (một giường)

    Ăn một miếng tiếng để đời

    Ăn một nơi nằm một chốn

    Ăn một nơi ngủ một nẻo

    Ăn một thời chơi một thì

    Ăn muối còn hơn ăn chuối chát

    Ăn mướp bỏ xơ

    Ăn nạc bỏ cùi

    Ăn năn thì sự đã rồi

    Ăn nay lo mai

    Ăn nên đọi nói nên lời

    Ăn nên làm ra

    Ăn nên nợ đỡ nên ơn

    Ăn ngang nói ngược

    Ăn ngập mặt ngập mũi

    Ăn ngấu ăn nghiến

    Ăn ngay nói thẳng chẳng sợ mất lòng

    Ăn ngay nói thật mọi tật mọi lành

    Ăn ngay ở thẳng

    Ăn ngon lành

    Ăn ngon ngủ kỹ

    Ăn ngọn nói hớt

    Ăn ngọt trả bùi

    Ăn ngủ bận như thợ nề

    Chỗ ăn chỗ ở như dê nó nằm

    Hẹn ngày hẹn tháng hẹn năm

    Bao giờ hết hẹn thì nằm mới yên

    Ăn ngủ đụ ỉa

    Ăn ngược nói ngạo

    Ăn nhà chú ngủ nhà cô

    Ăn nhai không kịp

    Ăn nhạt mới biết thương mèo

    Ăn nhiều ăn ít

    Ăn bằng quả quít cho nó cam

    Ăn nhiều ở chẳng bao nhiêu

    Ăn nhịn để dè

    Ăn nhỏ nhẻ

    Ăn nhỏ nhẻ như mèo

    Ăn nhờ ở đậu (ở trọ) (ở đợ)

    Ăn nhờ sống gởi

    Ăn nhồm nhoàm

    Ăn nhồm nhoàm như voi ngốn cỏ

    Ăn như bò ngốn cỏ

    Ăn như cũ ngủ như xưa

    Ăn như gấu ăn trăng

    Ăn như hộ pháp ăn nẻ

    Ăn như hủi ăn thịt mỡ

    Ăn như hùm như hổ

    Ăn như kễnh đổ đó

    Ăn như mèo

    Ăn như mõ khoét

    Ăn như Nam Hạ vác đất

    Ăn như quỷ phá nhà chay

    Ăn như rồng cuốn

    Làm như cà cuống lội ngược

    Ăn như tằm ăn dâu (ăn lẽn) (ăn rỗi)

    Ăn như thần trùng đổ đó

    Ăn như thúng lủng khu

    Ăn như thủy tề đánh vực

    Ăn như thuyền chở mã như ả chơi trăng

    Ăn như tráng làm như lão

    Ăn như xáng xúc làm như lục bình trôi

    Ăn no ấm cật rậm rật mọi nơi

    Ăn no bò cỡi

    Ăn no cho tiếc

    Ăn no đến cổ còn thèm

    Ăn no giậm chuồng

    Ăn no hôm trước lo được hôm sau

    Ăn no lại ngồi mười đời không khá

    Ăn no lo được

    Ăn no mặc ấm ngẫm kẻ cơ hàn

    Ăn no ngủ kỹ

    Ăn no ngủ kỹ chẳng nghĩ điều gì

    Ăn no ngủ kỹ chổng tĩ lên trời

    Ăn no phè phỡn

    Ăn no ra ngả

    Ăn no rồi lại nằm khèo

    Thấy giục trống chèo bề bụng đi xem

    Ăn no rồi lại nằm quèo

    Thấy giục trống chèo vội vã đi xem

    Ăn no rửng mỡ

    Ăn no tận cổ còn thèm

    Ăn no tức bụng

    Ăn no vác nặng

    Ăn nói ác khẩu

    Ăn nồi bảy quăng ra

    Ăn nồi ba đưa vào

    Ăn nồi bảy quăng ra nồi ba quăng vào

    Ăn nói bộp bộp tộp

    Ăn nói bộp chộp

    Ăn nói chanh chua

    Ăn nói chảnh lỏn

    Ăn nói chết cây gẫy cành

    Ăn nói chua ngoa

    Ăn nói chững chạc

    Ăn nói có duyên

    Ăn nói dịu dàng

    Ăn nói dóng đôi

    Ăn nói giọng một

    Ăn nói hồ đồ

    Ăn nói hớ hênh

    Ăn nói hỗn xược

    Ăn nói khiêm tốn

    Ăn nói khúc chiết

    Ăn nói lấp lững

    Ăn nói lễ độ

    Ăn nói luộm thuôm

    Ăn nơi nằm chốn

    Ăn nói ra vẻ

    Ăn nói rành mạch

    Ăn nói thô tục

    Ăn nói từ tốn

    Ăn nói vớ vẩn

    Ăn nói xấc láo

    Ăn nói xấc xược

    Ăn ở có giời

    Ăn ở có thủy có chung

    Ăn ở hai lòng

    Ăn ở thất đức

    Ăn ở thiện thì có thiện thần biết

    Ăn ở ác có ác thần hay

    Ăn ở thủy chung

    Ăn oản của chùa phải quét lá đa

    Ăn ốc nói mò

    Ăn ốc nói mò

    Ăn măng nói mọc

    Ăn cò nói bay

    Ăn ớt nói càn

    Ăn ớt rủi cay, hít hà chịu vậy

    Chớ nhăn mặt nhăn mày, họ thấy cười chê.

    Ăn phải đũa

    Ăn phải mùi chùi phải sạch

    Ăn phải nhai nói phải nghĩ

    Ăn phùng má trợn mắt

    Ăn quả cây táo rào cây thầu dầu

    Ăn quà cho biết mùi quà

    Bánh đúc thì dẻo bánh đa thì dòn

    Ăn quả nhả hạt (nhả hột)

    Ăn quả nhớ kẻ làm vườn

    Uống nước phải nhớ nước nguồn chảy ra

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (2)

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay giần sàng

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (3)

    Có bát cơm đầy, nhớ đến nhà nông

    Đường đi cách bến cách sông

    Muốn qua giòng nước, nhờ ông lái đò!

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (4)

    Uống nước sông nầy nhớ suối từ đâu

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (5)

    Nào ai vun xới (tưới) cho mầy ngồi (được) ăn

    Ta đừng phụ nghĩa vong ân

    Uống nơi nước lã nhớ chừng nguồn kia

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (6)

    Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa

    Ăn quà như mõ khoét

    Ăn quả trả vàng

    Ăn quả vả trả quả sung

    Ăn quẩn cối xay

    Ăn quán ngủ đình

    Ăn quen bén mùi

    Ăn quen chồn đèn mắc bẫy

    Ăn quen nhịn không quen

    Ăn rá cơm ỉa rá cơm

    Ăn ráy ngứa miệng

    Ăn rồi cắp đít đi chơi

    Hễ mó đến việc, mong trời đổ mưa

    Ăn rồi dắt vợ lên rừng

    Bẻ roi đánh vợ bảo đừng theo trai.

    Ăn rồi nằm ngửa nằm nghiêng

    Có ai lấy (muốn) tớ thì khiêng tớ về

    Ăn rồi quẹt môi

    Ăn rươi chịu bão cho cam

    Không ăn chịu bão thế gian cũng nhiều

    Ăn sạc nghiệp

    Ăn sạch bát sạch dĩa

    Ăn sao cho được mà mời

    Thương sao cho được vợ người mà thương

    Ăn sao đền vậy

    Ăn sạt nghiệp

    Ăn sau đầu quét dọn

    Ăn sâu ngập cánh

    Ăn se sẻ đẻ ông voi

    Ăn sổi ở thì

    Ăn sóng nói gió

    Ăn sống nuốt tươi

    Ăn sung mặc sướng

    Ăn sung ngồi gốc cây sung

    Ăn rồi lại ném tứ tung ngũ hoành

    Ăn sung ngồi gốc cây sung (2)

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng!

    Ăn sung ngồi gốc cây sung (3)

    Thân gái lạ lùng trông cậy vào ai?

    Ăn sung ngồi gốc cây sung (4)

    Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm.

    Ăn sung trả ngáy

    Ăn tái ăn tam

    Ăn tại phủ ngủ tại công đường

    Ăn tàn ăn mạt ăn nát cửa nhà

    Con gà nuốt trộng, cá bống nuốt tươi

    Ăn tàn phá hại

    Ăn táo trả hột

    Ăn tay ăn túi

    Ăn tham chắc mặc tham dày

    Ăn tham lam làm trốc mép

    Ăn thanh cảnh

    Ăn thanh nói lịch

    Ăn thật làm dối

    Ăn thật làm giả

    Ăn thất nghiệp trả quan viên

    Ăn theo thuở ở theo thì (theo thời)

    Ăn thì ăn (lựa) những món ngon

    Làm thì chọn việc cỏn con mà làm

    Ăn thì ăn trước ngồi trên

    Đến chừng đánh giặc thì rên hừ hừ.

    Ăn thì có mó thì không

    Ăn thì có ó thì không

    Ăn thì cúi trốc đẩy nốc thì van làng

    Ăn thì em chả kém ai

    “Hễ cất gánh nặng vai em “”số thờ”””

    Ăn thì ha hả trả thì hu hu

    Ăn thì mau chân việc cần thì đủng đỉnh

    Ăn thì nhanh chân khó đến thân thì chạy

    Ăn thì nhiều chứ ở có bao nhiêu

    Ăn thì no cho thì tiếc

    Ăn thì nồi bẩy nồi ba

    Làm thì nống một, nống ba kéo dài

    Có làm cũng chẳng bằng ai

    Nói thì ra vẻ, lai rai suốt ngày!

    Ăn thì vùa thua thì chạy (thì chịu)

    Ăn thiệt làm dối

    Ăn thịt người không tanh

    Ăn thịt thì thối ăn đầu gối thì trơ

    Ăn thịt trâu không có tỏi

    Như ăn gỏi không có lá mơ

    Ăn thịt trâu không tỏi

    Như ăn gỏi không rau mơ

    Ăn thô nói tục

    Ăn thô tục nói thô lỗ

    Ăn thóc tìm giống

    Ăn thừa mứa

    Ăn thừa nói thiếu

    Ăn thủng nồi trôi rế (trôi trã)

    Ăn thúng trả đấu

    Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    Ăn tiêu nhớ tỏi bùi ngùi

    Ngồi bên đám hẹ nhớ mùi rau răm.

    Hỡi người quân từ trăm năm

    Quay tơ có nhớ mối tằm hay không ?

    Ăn tìm đến đánh tìm đi

    Ăn to như đầu beo

    Làm việc như đuôi chuột.

    Ăn to nói lớn

    Ăn to uống đậm

    Ăn tối lo mai

    Ăn tôm cấu đầu

    Ăn trầu nhả bã

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm, xay, giần, sàng

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây (2)

    Uống nước nhớ người đào giếng

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây (3)

    Ăn cơm nhớ Thần Nông cày ruộng

    Ăn trắng mặc trơn

    Ăn trầu chọn lấy cau khô

    Trèo lên Ba Dội (Rọi) có cô bán hàng

    Cô bán hàng lòng cô buồn bã

    Bóng xế chiều bóng ngả về tây

    Đợi cô ba bẩy hai mốt năm nay

    Ăn trầu không có vỏ sao cho đỏ môi

    Ăn trầu mà có vỏ chay

    Vôi kia có lạt (nhạt) cũng cay được mồm

    Ăn trầu nhà trai

    Ăn trầu phải mở trầu ra

    Phòng có thuốc độc hay là mặn vôi

    Ăn trầu thì bỏ quên vôi

    Ăn cau, bỏ hạt, nàng ơi hỡi nàng!

    Ăn trầu thì phải có vôi

    Cúng rằm thì phải có xôi có chè

    Ăn trên ngồi trốc

    Ăn trên ngồi trốc hưởng lộc dài dài

    Ăn trên ngồi trước (nói trước)

    Ăn tro bọ trấu

    Ăn trộm ái tình

    Ăn trộm ăn cướp thành Phật thành Tiên

    Đi chùa đi chiền, bán thân bất toại.

    Ăn trộm chê vải hẹp khổ

    Ăn trộm có tang chơi ngang có tích

    Ăn trộm của trời

    Ăn trông nồi ngồi trông hướng

    Ăn trông xuống uống trông lên

    Ăn trứng thì đừng ăn con

    Ăn trước bước không nổi

    Ăn trước trả sau

    Ăn từ dần chí dậu

    Ăn từ đầu bữa tới cuối bữa

    Ăn từ đầu dần tới cuối dậu

    Ăn từ giờ Dần đến giờ Tỵ

    Ăn tục nói phét

    Ăn tươi nuốt sống

    Ăn tùy chốn bán vốn tùy nơi

    Ăn tùy chủ ngủ tùy nơi

    Ăn tùy nơi chơi tùy chốn

    Ăn tuyết nằm sương (uống sương)

    Ăn uống thì tìm đến đánh đầm thì tìm đi

    Ăn uống tìm đến đánh nhau tìm đi

    Ăn uống vô độ

    Ăn vãi đầu vãi đuôi

    Ăn văng đổ vãi

    Ăn vặt quen miệng làm biếng quen thân

    Ăn vặt quen mồm

    Ăn vay từng bữa không cửa không nhà

    Ăn vi chủ ngủ vi tiên

    Ăn vô điều độ

    Ăn vô độ (vô hậu)

    Ăn vóc học hay

    Ăn vóc học nên

    Ăn vừa ở phải

    Ăn vung bỏ vãi

    Ăn vụng chóng no

    Ăn vụng không biết chùi mép

    Ăn vụng ngon miệng

    Ăn vụng xó bếp

    Ăn xì xà xì xụp

    Ăn xin cho đáng ăn xin

    Lấy chồng phải chọn dễ nhìn dễ ưa

    Ăn xó bếp chết gầm chạn (ngủ gầm chạn)

    Ăn xó bếp uống nước ao

    Đái bờ rào, ỉa chuồng lợn

    Ăn xô bồ

    Ăn xó mó niêu

    Ăn xôi chùa ngậm họng

    Ăn xôi chùa quét lá đa

    Ăn xôi không bằng đôi đĩa

    Ăn xôi nghe kèn

    Ăn xổi ở thì

    Ăn xong hạch sách vỗ đách ra đi

    Ăn xong không biết chùi mép

    Ăn xong quẹt mỏ

    Ăn xưa chừa nay (sau)

    Ăn xuôi nói ngược

    Ngoài ra trong kho tàng văn chương có bài sau đây của Hàn Lệ Nhân cũng khá thú vị:

    Chữ Ăn: Cái thú đoạn trường

    Hàn Lệ Nhân

    (Sưu tầm, lược soạn)

    Ăn mới thực văn nhân tài tử,

    Ăn nguyên là văn tự quốc gia.

    “Trăm năm trong cõi người ta”,

    Không ăn thiên hạ cho là dở hơi.

    (Đào Trọng Đủ)

    Trong loạt bài Miệng lưỡi đa sự ký, tôi đã tản mạn qua-loa-rơ-măng về chữ Ăn. Trong bài Tiếng Việt tình tôi, khi trích lại bản sơ kết về chữ Cả trong tiếng nước ta, tôi đã đã nhưng chợt nghĩ lại chữ Ăn, so với chữ Cả, sự kỳ diệu của nó thật thụ gấp vài trăm lần, nên có bài này. Tôi e chữ Ăn trong tiếng Việt là thêm một quái chiêu đáng khoe ra với thiên hạ – ngoài hào quang trong chiến tranh, phở Hà Nội, bún bò Huế, nước mắm Phú Quốc và hai chữ triệu phú dĩ nhiên.

    Mở đầu :

    Ai mở cuộc thi

    [ Vào khoảng tháng 5 tháng 6 năm 1951, một tuần báo xuất bản tại Sài-Gòn tổ chức một cuộc thi Trau giồi tiếng Việt. Bài thi có bốn câu hỏi:

    1. Tìm một chữ Việt Nam rất thông thường, dùng được rất rộng và có hàng chục nghĩa và giảng hết nghĩa của chữ ấy.

    Cắt nghĩa tường tận hai bài thơ của Hồ Xuân Hương mà ban tổ chức gọi là Bà Chúa thơ nôm: bài Chùa Quán sứ và bài Hờn duyên (Tự tình 2)

    2. Tiếng Việt Nam có tính cách tượng thanh nên có nhiều trạng từ rất hay, đọc lên đủ làm cho người ta tưởng tượng được nghĩa của nó. Tỉ dụ: say chuếnh choáng, treo tòn ten, cúi lom khom, trắng phau phau…

    3. Xin các bạn tìm những trạng từ tiếng gấp đôi (như các tỉ dụ trên) có thể dùng sau các hình dung từ hay động từ sau đây: Nhai, nỗi, gõ, vỗ, rộng, tròn, sâu, cười, dài, treo, lo, quạt, gầy, mừng, vừa, kêu, khấn, rét, im, chối, tươi, say, chạy, đứng, cao, nhiều, gọi, đi, yêu, thơm.

    Nếu tìm được nhiều trạng từ khác 30 tiếng trên, các bạn có thể ghi thêm vào càng hay.

    4. Vấn đề thống nhất Việt ngữ: Thí sinh phải đọc bài : Vài đề nghị thống nhất Việt ngữ (*) của Phan Hữu và giả nhời ba câu hỏi sau:

    a/ Có nên thống nhất triệt để ?

    b/ Nên đặt nguyên tắc theo đề nghị của ban tổ chức hay không ?

    c/ Nếu không nên thì cần thay đổi nguyên tắc thế nào cho tiếng Việt thống nhất hoàn toàn ?]

    ********************

    Tôi (tác giả Cô Đào Đào Trọng Đủ) yêu tiếng Việt, lẽ tất nhiên là phải dự thi. Bài tôi làm cũng chia làm 4 đoạn, nhan đề của mỗi đoạn có 4 chữ, ghép 4 câu thành ra bài Tứ ngôn như sau:

    Ai mở cuộc thi

    để tôi kiêu ngạo,

    tôi trêu giám khảo,

    tôi nhạo chàng Phan.

    Cuộc thi không thành, vì được ít lâu tờ Điện Báo phải đình bản. Thế là bài thi hài hước của tôi cứ việc nghỉ ngơi trong tủ sách.

    Rồi đến một Tết nào đó, lâu ngày tôi quên, tôi trích ra 2 đoạn nói về chữ Ăn và chữ Đánh, được một tờ báo Xuân xuất bản ở Nam vang đăng, nhưng lại bị kiểm duyệt… Mãi về sau, Cam-pu-chia cho tự do thêm, một báo tiếng Việt mới được phép đăng cả bài. Rồi tuần tự nhi tiến, bài thơ Ăn của tôi đi đến đài Pháp-Á, rồi ra tới Hà Nội, lại được Bộ Quốc Gia Giáo Dục cho đăng vào tạp chí Văn Hoá… Sau cùng, vào năm 1964-1965, khi báo Trung Lập ra đời tại Nam Vang, bài thơ Ăn lại được đăng một lần nữa và do đó, được theo một bạn yêu thơ đem sang tận Pháp cho nhiều đồng bào thưởng thức… Tôi cũng phấn khởi và trẻ lại được phần nào, rồi đem bản sao ra chép lại cho khỏi thất lạc. Mà cũng may có chép lại, tôi mới nhận thấy 28 năm về trước, tôi ngây thơ…không đoán ra chữ nhà báo đã in nhầm là Nỗi (dấu Ngã) cho nên dạo ấy tôi đã viết :

    Còn chữ Nỗi văn chương quá Nỗi

    Khuya rồi mà nghĩ mãi không ra !

    Thì ra, tôi đợi 28 năm giời mới nhận thấy chính là chữ Nổi (dấu Hỏi) mà thợ xếp chữ đã xếp lầm ra chữ Nỗi (dấu Ngã). Vậy câu thơ ngày trước xin đổi lại như sau :

    Còn chữ Nổi lênh đênh quá nỗi

    Khuya rồi mà nghĩ mãi mới ra !

    Sửa lại có thế thôi, còn cả bài thơ 28 năm trước thế nào, bây giờ vẫn thế ấy, mặc dầu bản thân tôi có đổi, cũng như quan niệm tôi đối với đời cũng có khác trước một phần nào… Tôi chắc mười mươi các bạn cũng thừa hiểu rằng 55 {tuổi} phê bình thế nào chả khác 83 {tuổi}.

    Antony ngày 28-6-1979

    Cô Đào

    Để tôi kiêu ngạo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Cuộc Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương Đất Nước ❤️ Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Kháng Chiến Hào Hùng Của Dân Tộc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em Hay Nhất ❤️ 1001 Câu
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Tục Ngữ Ca Dao

    --- Bài mới hơn ---

  • Kho Tàng Lục Bát Dân Gian
  • Ca Dao Tục Ngữ Và Thành Ngữ Thể Hiện Lòng Biết Ơn?
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái, Yêu Thương Con Người
  • Ca Dao Tục Ngữ Qua 2 Miền Nam Bắc Pptx
  • Cách Nói Của Người Miền Tây Nam Bộ Qua Ca Dao Trần Minh Thương
  • TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ VÂN TỪ

    nhiệt liệt chào mừng các thầy cô giáo

    và các em học sinh về dự chuyên đề

    Môn ngữ văn

    Giáo viên thực hiện: Lê Thị Như Hoa

    Lời ăn tiếng nói

    trong tục ngữ – ca dao

    A. Lời ăn tiếng nói là vẻ đẹp của con người, là phương tiện thể hiện nội tâm.

    ” Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.

    Bảy thương nết ở khôn ngoan

    Tám thương ăn nói lại càng thêm thương”

    Gió đưa mười tám lá me

    Mặt rỗ hoa mè, ăn nói có duyên

    Thương chàng lắm lắm chàng ơi

    Nhớ miệng chàng nói, nhớ lời chàng than

    ” Nói gần nói xa chẳng qua nói thật”.

    * Lời nói đẹp là lời nói thanh ( không tục )

    * Lời nói đẹp là lời nói đúng sự thật , không ba hoa tô vẽ, không vòng vo , rắc rối.

    ” Người thanh tiếng nói cũng thanh

    Chuông kêu sẽ đánh bên thành cũng kêu”

    * Lời nói đẹp là lời nói dịu dàng.

    * Lời nói đẹp là lời nói có duyên.

    ” Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe “.

    ” Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên “.

    ii. Những ảnh hưởng của lời nói trong cuộc sống

    * Lời nói làm cho người ta si mê:

    Chim khôn chết mệt vì mồi

    Người khôn chết mệt vì lời nhỏ to.

    * Lời nói đem lại niềm phấn khởi: ” Được lời như cởi tấm lòng” hoặc gây ra nỗi xót xa:

    ” Dao vàng cắt ruột máu rơi

    Ruột đau chẳng mấy bằng lời em than.”

    * Lời nói có thể đem lại lợi ích vật chất, hoặc cũng có thể gây xích mích bất hòa:

    – Một lời nói quan tiền thúng thóc.

    – Một lời nói dùi đục cẳng tay.

    * Ghê gớm hơn, nó có thể gây thù chuốc oán, có khi gây bùng nổ can qua:

    – Một lời nói một đọi máu.

    – Khẩu thiệt đại can qua.

    * Trong đời sống tình cảm,lời nói tác động sâu sắc dai dẳng suốt chiều dài thăm thẳm của đời người:

    ” Dế kêu cho giải cơn sầu

    Mấy lời em nói bạc đầu chưa quên”

    III. Lời nói – phương tiện giáo dục hiệu quả.

    ” Người khôn không nỡ roi đòn

    Một lời nhè nhẹ hãy còn đắng cay”

    ” Sẩy chân còn hơn sẩy miệng”.

    ” Sẩy chân gượng lại cho vừa

    Sẩy miệng còn biết đá đưa đường nào”

    * Thay cho roi vọt và những lời thét mắng thô lỗ cục cằn

    – ” Học ăn, học nói, học gói, học mở”

    – ” Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”

    ” Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

    – ” Ăn nhai nói nghĩ “

    iv. Phương châm nói năng trong tục ngữ – ca dao.

    * Trong nói năng cần chú ý tính chất ngắn gọn, cô đọng, súc tích. Kiệm lời là phương châm hết sức quan trọng.

    Ăn bớt bát, nói bớt lời.

    Chim khôn tiếc lông, người khôn tiếc lời

    Miếng ngon ăn ít ngon nhiều

    Người khôn dẫu nói nửa điều cũng khôn.

    * Nói thừa – một điều tối kị trong giao tiếp

    – Nói dài, nói dai, nói dại

    Ăn lắm thì hết miếng ngon

    Nói lắm thì hết lời khôn hóa rồ.

    Rượu nhạt uống lắm cũng say

    Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm.

    Cái răng cái tóc là góc con người. Lời ăn tiếng nói cũng là góc con người, một góc rất quan trọng nữa. Do vai trò to lớn của nó cho nên từ bao đời nay nó đã được quan tâm, được đúc kết và gìn giữ trong những câu ca dao tục ngữ. Với chúng ta ngày nay, biết ăn nói lịch sự văn minh là yêu cầu quan trọng của con người có văn hóa. Dù làm nghề nghiệp gì, dù ở cương vị nào của xã hội mỗi người không thể không chú ý nói ý đẹp lời hay. Lời ăn tiếng nói là của mỗi cá nhân, nhưng nó lại góp vào trình độ văn hóa nói chung của dân tộc. Muốn nâng cao văn hóa của lời nói phải học ăn học nói.

    ” Nói cũng phải học, mà phải chịu khó học mới được”

    Hồ Chí Minh

    Kính chúc các thầy cô giáo và các em mạnh khoẻ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Em Hãy Tìm Một Số Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Sự Kính Trọng Và Lòng Biết Ơn Thầy Cô Giáo
  • Giải Bài 9: Kính Trọng, Biết Ơn Người Lao Động
  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Cái Đẹp, Kinh Nghiệm Sống, Nụ Cười
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Kinh Nghiệm Sống
  • Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Địa Danh

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hạnh Phúc, Bất Hạnh, Hiếu Thảo, Có Hiếu
  • 35 Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Quê Hương Đất Nước Bình Định Câu Hỏi 194294
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mưa Nắng Bão Lụt, Thời Tiết, Dự Báo Thời Tiết
  • Chứng Minh Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ngày đăng: 29/10/2013, 21:11

    1. Tổng hợp thơ về những địa danh quê hương Việt Nam Kiên Giang KIÊN trung mãnh đất anh hùng. GIANG cuồn cuồn chảy về nguồn quê hương. * “Hoả hồng Nhật Tảo oanh thiên địa Kiếm bạc KIÊN GIANG khắp quỹ thần.” *Hai câu thơ của nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt viết về người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Cần Giờ Quê tôi tên gọi Cần Giờ Trời xanh vời vợi xa mờ chân mây. Bốn bề nước mặn vơi đầy Mặn mà con sóng ngất ngây lòng người Quê tôi nhớ lắm ai ơi! Mờ xa khuất nữa bầu trời yêu thương Ra đi lòng vẫn vấn vương Từng bờ cát .từng con đường dấu yêu Hà Thành Ngày mùa thu, chiều sương mù Hơi heo may lạnh, sương thu giăng đầy. Ngập ngừng dạo gót quanh đây. Hà thành phố cũ vẫn đầy rêu phong. Quê mẹ ở phố Hàng Bông. Quê cha Hải Phòng, chẳng ngại đường xa. Bồi hồi về chốn quê nhà. Chợt hồn tỉnh giấc, ngỡ là chiêm bao Hai hàng phượng đỏ cao cao. Nhớ đến thuở nào cha kể tôi nghe. Bên đời giòng chảy u mê. Xuôi theo ghềnh thác ta về chốn xưa. Dù lòng quạnh quẽ chiều mưa. Vẳng nghe câu hát xa đưa chân tình Sài Gòn hoa nắng lung linh Nuôi tôi khôn lớn hành trình thóat thai Cuộc đời là những chuỗi dài Thương thương, nhớ nhớ, u hòai trăm năm Buôn Mê Thuột Biết mấy thuở Bạn mới tới Ban mê tôi Banmê tôi bốn mùa thơ bóng mây trời buông mái tóc Banmê tôi bao mến thương buồn muôn thuở bụi mù trời bạn mà tới bạn mới thấy banmê tôi bao món tuyệt bò mồng tơi búm mắm tôm bánh mỳ thịt bê mềm thui bạn mà tới bạn mới thích bụi mới thú buồn mới thơ Banmê tôi . “Thở vào, tâm tĩnh lặng Thở ra, miệng mỉm cười An trú trong hiện tại Giờ phút thật tuyệt vời” 1. Quê em, hàng dừa xanh, cát trắng. Làng quê nghèo đạm bạc đơn sơ Hoa Lê ki ma nở vài đóa hững hờ Chiều chiều ngắm hòang hôn trên biển vắng Ôi chiều biển cả một vùng xanh thẳm Gío ngút ngàn, nhớ tuổi trẻ dần trôi Nhưng quê hương vẫn còn mãi trong đời. Là rạng rỡ cánh hoa thơm: chị Sáu. Dân thôn dã, cần cù hai mùa mưa nắng. Biển ngọt ngào nhưng bàng bạc lòng ai Dù ra đi, nhưng lòng chẳng nhạt phai. Em còn vọng ngày xưa lòng biển cả 2. Đà Lạt Đêm Sương QUÁCH TẤN Bóng trăng lóng lánh mặt hồ im, Thời khắc theo nhau lải rải chìm. Đứng dựa non sao bờ suối ngọc, Hồn say dịu dịu, mộng êm êm. Một luồng sương bạc bỗng từ mô, Lẻn cuốn vầng trăng cuốn mặt hồ, Cuốn cả non sao bờ suối ngọc: Người lơ lửng đứng giữa hư vô. Trời đất tan ra thành thuỷ tinh, Một bàn tay ngọc đẫm hương trinh, Âm thầm mơn trớn bên đôi má, Hơi mát đê mê chạy khắp mình. “Đà Lạt Trăng Mờ” của Hàn Mặc Tử: Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu, Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ, Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt, Như đón từ xa một ý thơ. Ai hãy làm thinh, chớ nói nhiều! Để nghe dưới đáy nước hồ reo, Để nghe tơ liễu run trong gió, Và để xem trời giải nghĩa yêu. Hàng thông lấp loáng đứng trong im, Cành lá in như đã lặng chìm, Hư, thực làm sao phân biệt được? Sông Ngân Hà nổi giữa màn đêm. Cả trời say nhuộm một màu trăng, Và cả lòng tôi cũng nói rằng: Không một tiếng gì nghe động chạm, Dẫu là tiếng vỡ của sao băng! Đây là một bài thơ nổi tiếng trong làng Thiền, tương truyền là của Tô Đông Pha: 盧盧盧盧盧盧盧 盧盧盧盧盧盧盧 盧盧盧盧盧盧盧 盧盧盧盧盧盧盧 Lô Sơn yên tỏa Chiết Giang triều, Vị đáo sinh bình hận bất tiêu, Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự, Lô Sơn yên tỏa Chiết Giang triều. Mù toả Lô Sơn sóng Chiết Giang, Khi chưa đến đó hận muôn vàn, Đến rồi về lại không gì lạ, Mù toả Lô Sơn sóng Chiết Giang. Chợ Cái Răng xứ hào hoa Phố lầu hai dãy xinh đà quá xinh Có trường hát cất rộng thinh Để khi hứng cảnh thích tình xướng ca Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No Có thương em, anh mua cho một chiếc đò Để em lên xuống thăm dò ý anh! Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền Anh có thương em thì cho bạc cho tiền, đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê Ai về Hà Nội ngược nước Hồng Hà, Buồm dong ba ngọn vui đà nên vui, Đường về xứ Lạng mù xa, Có về Hà Nội với ta thì về. Đường thuỷ thì tiện thuyền bè, Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang. . 1. Tổng hợp thơ về những địa danh quê hương Việt Nam Kiên Giang KIÊN trung mãnh đất anh hùng. GIANG cuồn cuồn chảy về nguồn quê hương. * “Hoả. xóm giềng cười chê Ai về Hà Nội ngược nước Hồng Hà, Buồm dong ba ngọn vui đà nên vui, Đường về xứ Lạng mù xa, Có về Hà Nội với ta thì về. Đường thuỷ thì tiện

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mái Đình Làng Trong Văn Hóa Việt
  • Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Rượu
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa Việt Nam
  • Tục Ngữ, Ca Dao Địa Danh Ninh Bình (Lv Thạc Sĩ)
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nhất Về Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Quan Niệm Về Miếng Ăn Qua Ca Dao, Tục Ngữ Vn

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Cờ Bạc
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Răng, Tóc, Các Bộ Phận Cơ Thể Người
  • 15 Thành Ngữ Tiếng Anh Về Sức Khỏe Bạn Nên Biết
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh3 Miền.
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh 3 Miền
  • 1. Dĩ thực vi tiên Ngày xưa, có người đã nhận thấy cái tánh cách tối quan trọng của miếng ăn trong đời sống con người nên đã chủ trương “Dĩ thực vi tiên”. Phải ăn đã, rồi muốn gì hãy hay. Văn nghệ, triết lý, tôn giáo, v.v… đều phải đứng sau cái ăn. Chẳng thế mà có người nhất định đòi hỏi ngay sự thỏa mãn cái bao tử trước khi bắt tay vào một việc đã cả gan hô hào: “Có thực mới vực được đạo”. Câu triết lý vị nhân sinh trên kéo người về thực tại, đặt trước những vấn đề cần phải giải quyết hàng ngày. Dù cho kẻ sĩ đã khuyên “Thực bất cầu bão”, nghĩa là ăn chẳng cần no, nhưng trước sự dày vò mãnh liệt của cái nhu cầu số một thì con người đạo lý cũng không thể làm gì khác hơn như thầy đồ sau đây :

    Cái cười vừa trào lộng, vừa thiết thực trên đã hé cho ta thấy được một phần cái nhân sinh quan của người bình dân. Tuy nhiên, ăn thì cũng có năm bảy đường ăn. Và nghệ thuật ăn cũng đòi hỏi lắm công phu. Ăn phải thế nào? Trong một xã hội xô bồ, giữa những ý nghĩ phiền toái về nhân sinh thì miếng ăn phải được đánh giá thế nào cho hợp lý? Ta hãy thử tìm hiểu quan niệm về miếng ăn trên lãnh vực ca dao, tục ngữ.

    2. Miếng ăn mang tính dân tộc

    Mỗi lần nghĩ đến một địa phương nói hẹp hay một dân tộc nói rộng ra là người ta nghĩ ngay đến những món ăn của địa phương hay của dân tộc ấy. Ai lại không hay nhắc nhở đến món gỏi cá sống của người Nhật, món ca-ry cay của người Ấn, món mỳ sợi của người Ý, các thứ phô-mách của người Pháp và các món mắm đặc biệt của người Việt Nam. Trong ca dao, tục ngữ, ta thấy nhiều địa danh được nhắc nhở đến bên cạnh tên những món ăn được nêu ra. Trong nỗi nhớ thương sâu đậm quê hương, chứa đựng cái tình quyến luyến mặn nồng những món ăn địa phương, hạp với khẩu vị người từng vùng, người miền Nam thấy món canh chua cá lóc thích khẩu cũng như người miền Bắc tha thiết với món thịt nấu đông trong ba ngày Tết. Cho nên, đồng bào miền Bắc khi lìa làng mạc chẳng đã than thở :

    Nào những món ăn cố hữu, nào cảnh, nào người đúc lại, rồi cô đọng thành hình ảnh lưu luyến nặng niềm nhớ quê hương. Nếu có lìa làng xa xứ, thì lòng người dân cũng ngập ngừng, xót xa : Ở đất Bắc, ai lại không nhớ mãi hương vị đặc biệt : Còn những người sành ăn thì bao giờ cũng thích :

    Nhất béo, nhì bùi là cá rô câu. Trăm đám cưới chẳng bằng hàm dưới con cá trê. Đầu chép, mép trôi, môi mè, lườn trắm.

    Chắc hẳn, những món ăn đặc biệt nấu với những bộ phận của mỗi thứ cá trên đã làm khoái khẩu thực khách. Lẽ dĩ nhiên, thực khách cũng khó mà quên địa phương đã cung cấp “đồ nhắm” ấy cho mình. Rồi khách du rời miền Bắc, vào đến xứ Trung thì làm sao quên được :

    Cái chất giải khát ủ bằng dâu rừng chua chua, ngọt ngọt của miền này đã hơn một lần đắm say lòng người trai: Rượu ở đây thật đã lấn át cả ảnh hưởng của tình ái, đã làm khách rượu quên hẳn hình ảnh yểu điệu của người thục nữ. Vô tới Huế, đất Đế đô, ta thưởng thức :

    Tất cả các món ăn trên đã làm cho khách khó quên được hình ảnh duyên dáng của các tỉnh đã vượt qua. Nhưng kìa, những tỉnh bên kia đèo Hải Vân như ân cần mời mọc khách. Dù lòng khách đã bâng khuâng khi trèo núi vượt đèo, nhưng cùng khuây khỏa phần nào nếu được nếm các món ăn xứ Quảng :

    Ở đây, trên eo đất hẹp lách mình giữa dãy Hoành Sơn cao ngất và biển cả mênh mông, người dân cần thấy sự phối hợp chặt chẽ giữa hai miền sơn cước và đồng bằng hơn đâu hết để chống lại thiên nhiên khắc nghiệt. Tình đoàn kết cần thiết cho sự sống còn của người miền Trung được biểu hiện trong câu ca dao :

    Đất hẹp người đông, nếu bành trướng ra phía Đông thì gặp trở ngại của biển cả, nên đành quay lên rừng vỡ đất, làm quen với vùng sơn cước : Măng giang nấu cá ngạch nguồn Đến đây nên phải bán buồn mua vui.

    Thật ra, món ăn của núi rừng có làm khuây được nỗi sầu muộn không? Coi chừng đấy, người ta không phải chỉ dùng những nét quyến rũ của một nhan sắc để nhen một

    mối tình, mà còn dùng hương vị của một món ăn mộc mạc để cám dỗ người trai xa xứ : Hay là : Vào đến Quảng Ngãi, ta thưởng thức : Đến Quy Nhơn, ta nếm được hương vị đậm đà của món bánh ít lá gai : Vào tới Khánh Hòa, ta được dịp thưởng thức các món sơn hào hải vị :

    Lòng khách cảm thấy thoải mái, thơ thới khi đặt chân đến miền Nam phì nhiêu, dân cư yên vui và ai lại không biết tiếng:

    Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc.

    Ngoài ra, đất ở đây thì rộng, dân thì thưa thớt, cái xứ ruộng cò bay thẳng cánh, có tiếng là nơi hưởng được đời sống tương đối sung túc vì thực phẩm dồi dào :

    Ở các đảo ven bờ biển trong vịnh Thái Lan có những khu rừng sác trù mật mà các loại chim biển thường về trú ngụ, làm tổ : Mỗi miền lại sản xuất một món ăn mang hương vị đặc biệt :

    Cá, tôm, cua, còng dồi dào đã nuôi sống người dân, nhưng vật thực cần phải thêm các loại rau cải để các món ăn đưỡc cải thiện cho thích với khẩu vị : Cho đến gia vị thêm thắt vào nồi canh cá để cho món ăn đậm đà, quyến rũ hơn cũng được ca tụng : Miền Nam cũng có nhiều món ăn đặc biệt như món hầm gà sau đây : Và các tay rượu thì không thích gì bằng:

    Thứ nhất phao câu, thứ nhì đầu cánh.

    ♦♦♦

    1. Tập quán, lễ nghi qua mỗi món ăn

    Các món ăn được nhắc nhở đến như thế vì đã liên hệ đến tính chất của mỗi địa phương. Cho nên, trong lễ nghi cưới xin, miếng ăn biến thành lễ vật, thay đổi tùy theo từng vùng. Sau mối tình khắn khít thì người con trai phải nhờ đến lễ nghi để hợp thức hóa cuộc sống chung tương lai.

    Hay là lễ vật đơn sơ:

    Mâm trầu hũ rượu đàng hoàng

    Cậy mai đến nói phụ mẫu nàng thì xong.

    Hay là : Cũng có vùng lấy sản phẩm địa phương làm lễ vật : Cũng đôi khi cuộc tình duyên ép uổng đã làm khổ sở người con gái phải ngậm ngùi phục tùng lễ giáo, vâng lời tuyệt đối người trên, cha mẹ “đặt đâu thì ngồi đó”. Cái tập quán “ép uổng duyên con” ấy thường đi theo với sự ham muốn “môn đăng hộ đối”, sự tham lam lễ vật quá ư linh đình của nhà trai :

    Mẹ tôi tham thúng xôi rền

    Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng

    Tôi đã bảo mẹ rằng: “Đừng!”

    Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào

    Bây giờ kẻ thấp người cao

    Như đôi đũa lệch so sao cho bằng.

    Lời than thân trách phận của người đàn bà bị ép duyên với người chồng không cân xứng nghe thật xót xa, não nùng. Và đây, cũng ở trong vòng tập quán, khi nghe tiếng cu kêu báo hiệu mùa hoa nở đến, ta lại liên tưởng đến Tết, đến những ngày đầu xuân rảnh rang đầy những bữa ăn ngon, bao giờ cũng có nồi chè dân tộc : Cu kêu ba tiếng, cu kêu

    Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè.

    Hồi trước, ở nhà quê, lúc chế độ xôi thịt còn đang thịnh hành thì được làng chia cho một phần thịt thật là cả một vinh dự : “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”.

    Bồng em đi dạo vườn cà

    Cà non chấm mắm, cà già làm dưa

    Làm dưa ba bữa dưa chua…

    Có phải hình ảnh nhàn hạ ở đồng quê yên vui đã giữ chặt con người với nơi chôn nhau cắt rốn :

    ♦♦♦

    PHẦN 03: MIẾNG ĂN THỂ HIỆN TÌNH CẢM CON NGƯỜI

    Thu hẹp lại trong phạm vi cá nhân, mỗi món ăn tiêu biểu cho sở thích của con người thì thế nào cũng tố giác được tình cảm, tánh tình của người ấy. Ta thử tìm hiểu tình cảm con người phát lộ trong miếng ăn như thế nào.

    1. Lòng hiếu thảo

    Đầu tiên, ta đề cập đến lòng hiếu thảo. Người con phải tận tâm săn sóc cha mẹ già, cố gắng tìm món ngon vật lạ để dâng cho song thân :

    Hay là : Dù cho bà mẹ có nghiêm khắc đến đâu, phận con cũng phải cố phụng dưỡng cho chu đáo : Hay là : Gặp những năm đói kém thì lòng hiếu thảo càng được tỏ rõ. Người con chịu sống kham khổ, ăn quơ quào để đánh lừa cái đói, miễn là mẹ già được no ấm :

    2. Tình yêu trai gái

    Giữa trai và gái, món ăn là một mối dây nối kết. Để thể hiện một mối tình chớm nở, để nói lên được niềm nhớ nhung người yêu, không gì bằng câu ca dao sau đây :

    Tình ái như một vị hương ngào ngạt làm đắm say lòng người, kẻ được yêu cảm thấy ngây ngất như được thưởng thức món ăn ngon vật lạ :

    Lòng nhớ thương của người con trai được thể hiện trong câu : Ví von như thế thật là vừa thực tế và cũng vừa ngộ nghĩnh… Tuy nhiên, người con gái dùng hình ảnh cụ thể qua những lời thâm thúy và thanh nhã để nói lên được một cách kín đáo lòng trong trắng của mình : Hay là : Hay là :

    3. Tình vợ chồng

    Khi trai gái đã thành gia thất thì mối tình kia lắng xuống đậm đà hơn để đương đầu với bao thử thách đắng cay :

    Vì đã lấy nhau vì tình thì đâu có ngại cảnh sống nghèo khó, đâu có sờn lòng trước gian khổ : Lên non thiếp cũng lên theo Tay vịn chân trèo, hái trái nuôi nhau.

    Yêu thương như thế thật là gắn bó keo sơn, thật là một bài học thiết thực cảnh tỉnh những người hèn hạ đã từng “Giàu đổi bạn, sang đổi vợ”. Và đây là một hình ảnh ấm cúng, cảnh vợ chồng hòa thuận, tâm đầu ý hợp trong bữa ăn đạm bạc : Tình thương chồng được phát lộ trong cách thức săn sóc chồng từng bữa ăn, lúc bình thường cũng như khi đau yếu : Hay là :

    Tuy nhiên, đôi khi gặp cảnh tình lạt, nghĩa phai, người vợ hiền đau khổ và thở than :

    4. Tình bác ái trong miếng ăn

    Khi quyền lợt cá nhân đã được thỏa đáng, khi bản thân đã ấm no thì thói thường con người hay nghĩ đến những người bất hạnh khác, những người sống đời đói rét, đương đau khổ hay đương kéo dài đời sống cô đơn :

    Tình bác ái được nêu rõ với một lập luận vừa cụ thể, vừa hợp lý. Hình ảnh người giàu thóc đối xứng với kẻ chạy ăn hằng bữa, hình ảnh đầm ấm của đời sống lứa đôi làm nổi bật cảnh lạnh lùng của kẻ cô đơn. Nhưng tình thương người không phải chỉ nằm trong vòng lý thuyết, nghĩa là chỉ là tình thương hại suông thôi. Lòng nhân từ phải cần được thi hành đúng đắn, nghĩa là phải thiết thực cứu giúp người, trong lúc người còn đương hoạn nạn, đau khổ :

    Một miếng khi đói bằng một gói khi no.

    Tương trợ như vậy mới tránh được tình cảm thiên vị, khỏi phải mang tiếng là vì quyền lợi cá nhân hay vì hiếu danh, hiếu thắng

    ♦♦♦

    PHẦN 04: MIẾNG ĂN HAY LÀ TRIẾT LÝ CỦA CUỘC ĐỜI

    1. Thói đời qua miếng ăn

    Có người quần quật suốt ngày cũng vì miếng ăn. Có người ty tiện, bán cả danh cả tiếng, cầu cạnh cho được bả vinh hoa, mồi phú quý. Hạng người này có biết đâu “Miếng thịt là miếng nhục”. Suốt đời chạy theo miếng ăn, sống chết vì miếng ăn, coi miếng ăn là tuyệt đích:

    Trái lại cũng có người trước danh lợi vẫn giữ được nếp sống trắng trong. Họ quan niệm đời một cách khác, vì họ cho đời lẫn lộn đắng cay, ngọt bùi. Sở dĩ người ta giành giật, xâu xé nhau vì đời là trường tranh đấu : Trong thiên hạ, nhiều người tranh nhau từng miếng ăn, nói xấu, hãm hại nhau, tìm cách dìm người khác xuống : Hơn nữa, ngoài chợ đời thì thiếu chi người gian trá, bịp đời, sống trên lưng người, thuộc vào phường “treo đầu dê, bán thịt chó”. Họ còn lắm mồm lắm miệng, nói ngược nói xuôi, chê khen vô lối : Tuy nhiên, có khi tranh giành nhau đến trầy vi tróc vảy mà chung quy vẫn hoài công, vì kết quả thu được chẳng là bao : Thật là một chuỗi cười trào lộng pha vị chua chát, như chửi vào mặt bọn buôn danh bán tiếng, suốt đời chạy theo cái bóng hư danh? Ý tưởng này nhắc ta nhớ đến quan niệm về cuộc đời của nhà thơ Lý Bạch cho rằng, đời chỉ là một giấc mộng lớn, cần gì phải lao đao, lận đận (Xử thế nhược đại mông/ Hồ vi lao kỳ sinh?). Câu ca dao sau đây cũng giúp ta suy nghĩ nhiều về thái độ giả dối của những người chỉ tha thiết nghĩ đến quyền lợi của bản thân mình thôi : Cuối cùng, qua miếng ăn, ta thấy ca dao tục ngữ cũng bày ra hạng người vong bổn, chỉ biết mới chuộng cũ vong, chẳng khác chi :

    Ăn cháo đá bát. 2. Thái độ đối phó

    Cuộc đời quả thật phiền toái và đắng cay. Cho nên, dựa trên kinh nghiệm, chúng ta phải có thái độ đối phó như thế nào, phải khôn ngoan xử thế làm sao cho hợp lý. Ca dao tục ngữ dạy ta sống là phải đấu tranh, phải chịu đựng gian khổ mới có thể mưu sinh dễ dàng.

    Muốn ăn phải lăn vào bếp.

    Làm sao mà ăn không, ở vì được trong khi mọi người đếu lấy “bát mồ hôi đổi bát cơm”? Thành thử, khi ra đời, phải tập luyện cho cơ thể quen thuộc với nắng mưa, chịu đựng gian khổ : Nếu có gặp được cảnh sống thư thả, sung túc thì phải nghĩ đến những lúc thiếu thốn và một ngày mai có thể bị sa cơ thất thế : Thái độ có hậu, chung thủy như trên rất hợp với tinh thần nhân nghĩa của người Á Đông. Còn muốn đảm bảo thành công ở đời thì ta phải khôn ngoan xử sự, có óc thiết thực, không bao giờ chuộng những cái gì hão huyền : Cái lối sống thiết thực ấy phải là lối sống có điều độ, hợp với lẽ phải : Tuy rằng phải tùy cơ ứng biến, phải “Ăn theo thuở, ở theo thì”, nhưng con người trung nghĩa thì bao giờ cũng phải chuộng sự thật, tránh thái độ gian tham, giả dối :

    Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối.

    Những câu phương ngôn trên diễn tả những món ăn, vật uống đã là những lý luận mẫu mực, xác đáng dạy ta phép xử thế thực tiễn.

    3. Bổn phận trong miếng ăn

    Tuy là phải “vắt đầu cá, vá đầu tôm”, một nắng hai sương để chạy từng bữa ăn, nhưng con người còn có cái gì quý hóa, thiêng liêng hơn, đó là bổn phận :

    Người con trai ra đi, vẫy vùng bốn phương cho phỉ chí nam nhi, cũng yên tâm vì có được người vợ hiền ở nhà chăm sóc gia thất, phụng dưỡng cha mẹ già, nuôi dạy con thơ. Món ăn thanh đạm muối dưa nói lên được cái tình nghĩa sắt son của người đàn bà. Hơn nữa, người con gái còn mang nặng bổn phận hiếu thảo đối với cha mẹ, kính nhường anh em, giữ hòa khí trong gia đình :

    Nhà em có vại cà đồng

    Có ao rau muống, có đầy chĩnh tương

    Dẫu không mỹ vị cao lương

    Trên thờ cha mẹ, dưới nhường anh em

    Một nhà vui vẻ êm đềm

    Đói no trong cảnh không thèm lụy ai.

    Đối với người thân ta phải có bổn phận đã đành rồi, còn đối với vô số người vô danh trong xã hội đã góp phần vào đời sống công cộng, thì hết lòng tri ân :

    Thái độ biết ơn trên cũng là thái độ cố hữu của người Việt, là bổn phận của người dân được hưởng thụ, vẫn ghi nhớ công đức đối với các bậc tiền bối đã khai sáng đất nước.

    4. Khí tiết của miếng ăn

    Như vậy, con người lấy nhân nghĩa mà xử sự ở đời, sống phải có trước có sau mặc dầu gặp cảnh nghèo khó, gian khổ phải luôn luôn thủy chung như nhất :

    Cao hơn nữa, cái khí tiết trung nghĩa được phát lộ trong mấy câu ca dao thời thế sau đây. Trước cám dỗ vật chất, trước những miếng ăn thịnh soạn của tân trào mang lại, con người trung nghĩa quyết cam phận thanh bần :

    Văn minh gặp buổi Lang Sa

    Tri âm thì ít, trăng hoa thì nhiều

    Khuyên ai giữ chí về sau

    Đừng còn tập tễnh Tây, Tàu mà no

    Thà rằng chịu đói no rau cháo

    Lấy chồng nghèo giã gạo nấu cơm

    Chẳng hơn thịt cá đầy mâm

    Mà đem thân thế ra thân thế này…

    Những người tiết nghĩa như vậy bao giờ cũng chọn cái gì trong trắng, cao quý và ghét đời ô trọc gian tham :

    Khế rụng bờ ao thanh tao anh lượm

    Ngọt như cam sành héo cuống anh chê.

    Ai lại không thích ăn sung mặc sướng, sống đời vương giả, đầy đủ và tiện nghi? Tuy nhiên, nếu sống được như vậy mà phải nô lệ tân trào thì trở về với đời sống đạm bạc còn hơn : Cũng như người con gái, chống lại chế độ đa thê, thà chịu cảnh nghèo nàn chứ nhất định không chịu lấy chồng chung :

    ♦♦♦

    Để kết luận, ta thấy miếng ăn diễn tả trong câu ca dao tục ngữ thật là quan trọng, có thể chế ngự được tình cảm và lý trí, chi phối cả đời sống con người, có thể hạ phẩm giá con người cũng như gây xô xát ngoài xã hội. Tuy nhiên, miếng ăn không có giá trị tuyệt đối, chưa phải là cứu cánh cao quý nhất của con người, vì ở đời còn có điều nhân nghĩa, còn có niềm thủy chung là giá trị tinh thần cố hữa quý hóa của người dân Việt : Con người phải có hậu, không bắt chước những kẻ “có mới thì nới cũ”, biết trọng nghĩa khinh tài và nhất định không bao giờ :

    Xưa nay ăn đâu ở đâu Bây giờ có bí, chê bầu rằng hôi.

    Lưu Văn – Tạp chí Tiến thủ Ảnh: TL-KV sưu tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Ớt Ngâm Giấm Ngon
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Top Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Rượu Bia
  • Kiến Thức Hay Và Bổ Ích Từ Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Rượu Bia
  • Top Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Rượu Bia
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thay Đổi, Cố Gắng, Nỗ Lực, Quyết Tâm, Rèn Luyện Thân Thể
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn, Uống Nước Nhớ Nguồn Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Và Ý Nghĩa Nhất Về Cha Mẹ Cảm Động Đi Vào Lòng Người
  • Tổng Hợp Những Câu Nói Hay Và Hài Hước Về Thời Học Sinh
  • Những Câu Nói Hay Về Ngành Xây Dựng Và Danh Ngôn Về Xây Dựng
  • Những Câu Nói Bất Hủ ‘chất Đến Từng Li’ Của Sherlock Holmes
  • Những Câu Nói Hay Nhất Mọi Thời Đại Bạn Khắc Ghi
  • Con người Việt Nam từ bao đời nay đã được biết đến với bao tấm lòng tốt đẹp và tươi sáng của con người. Dù xã hội có thế nào, cuộc sống có thay đổi ra sao thì con người Việt Nam vẫn trung thực, kiên trung và yêu nước đến lạ. một trong những điều tốt mà con người Việt Nam vẫn lưu giữ muôn đời này là những lời dạy bảo, khuyên nhủ của ông bà ta xưa về cuộc sống về kinh nghiệm cuộc đời đó là kho tàng ca dao tục ngữ quý báu. Tổng hợp Những câu ca dao tục ngữ về lòng biết ơn, uống nước nhớ nguồn hay nhất

    Ca dao tục ngữ là một kho tàng văn học vô cùng quý giá, là tài sản quý báu đối với dân tộc Việt Nam. Ca dao tục ngữ được xếp vào là một những giá trị truyền thống văn học của dân tộc. những câu ca dao tục ngữ thường nói về cuộc sống con người, nói về thiên nhiên,nói về con người, nói về cây cối thiên nhiên,…. Bên cạnh những yếu tố đó thì ca dao tục ngữ còn nói về những đức tính quý giá của con người, đức tính được thể hiện rõ qua nhiều câu ca dao tục ngữ nhất là lòng biết ơn, uống nước nhớ nguồn.

    Những câu ca dao tục ngữ về lòng biết ơn, uống nước nhớ nguồn được chia ra làm nhiều khía cạnh như lòng biết ơn đối với ông bà, cha mẹ, đối với thầy cô giáo, đối với bạn bè hoặc đối với những người chúng ta không quen biết. chúng ta cùng đi tìm hiểu từng khía cạnh về lĩnh vực này.

    Những câu ca dao tục ngữ về lòng biết ơn, uống nước nhớ nguồn đối với ông bà, cha mẹ:

    Câu 1:

    • Con ơi ghi nhớ lời này
    • Công cha, nghĩa mẹ, công thầy chớ quên

    Cha mẹ là người đã sinh ta ra, tạo nên hình hài cơ thể của chúng ta, chính vì thế mà cha mẹ luôn là nguồn, là cội của mỗi chúng ta. Câu ca dao này nói về công ơn to lớn của cha mẹ, của người đã sinh ra ta và cho ta cuộc sống này. Người mà chúng ta phải báo đáp, phải ghi nhớ công ơn lớn nhất đó là cha mẹ của chúng ta.

    Câu 2:

    • Ơn cha núi chất trời Tây
    • Láng lai nghĩa mẹ nước đầy biển Đông

    Câu thơ này đã so sánh ơn cha giống như trời Tây, nơi mà mặt trời lặn, nơi mà chúng ta không biết mặt trời sẽ đi về đâu. Vế sau so sánh nghĩa mẹ như nước biển Đông, biển Đông là nơi nước không thể cạn, nơi bao la bát ngát. Cả hai vế đều so sánh côn ơn cha mẹ như trời đất, không thể so sánh với nơi nào, ơn nghĩa rộng lớn đến thế là vậy đã làm chúng ta thêm yêu cha mẹ hơn.

    Câu 3:

    • Ơn cha trọng lắm ai ơi
    • Nghĩa mẹ bằng trời mang nặng đẻ đau

    Câu thơ trên nói về công ơn cha mẹ, những người đaz sinh ra chúng ta,tạo nên cơ thể và cho chúng ta cuộc sống ngày hôm nay. Ơn nghĩa của cha mẹ là những ơn nghĩa vô cùng to lớn, những ơn nghĩa ấy không thể đong đầy và không thể kế hết. chúng ta nên nhớ công ơn cha mẹ và có những hành động thể hiện sự báo đáp tình yêu thương của cha mẹ.

    Câu 4:

    • Công cha như núi Thái Sơn
    • Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
    • Một lòng thờ mẹ kính cha
    • Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

    Đây là câu thơ mà chúng ta thường nghe trong cuộc sống nhất, mỗi chúng ta ai cũng biết câu ca dao về tình nghĩa cha mẹ với con cái này. Công cha được so sánh với núi Thái Sơn, nghĩa mẹ được sánh với nước trong nguồn. để báo đáp lại ơn nghĩa của cha mẹ thì chúng ta nên yêu thương, kính trọng và hiếu thảo với cha mẹ, những người đã sinh ra chúng ta.

    Những câu ca dao tục ngữ về lòng biết ơn, uốc nước nhớ nguồn đối với thầy cô giáo:

      Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy

    Bên cạnh công ơn to lớn và rộng lớn như Thái Sơn của cha mẹ thì công ơn của thầy cũng là một công ơn to lớn đối với mỗi người chúng ta. Thầy cho chúng ta những hiểu biết, những kiến thức cuộc sống, những điều lẻ phải trong cuộc sống. ơn thầy được xếp sau công cha, nghĩa mẹ, điều đó cho thấy công ơn của thầy cũng vô cùng to lớn.

      Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa

    Câu thơ nói lên công ơn to lớn của người thầy, dù có học được một chữ hay học một ngày thầy đó cũng là người thầy, người truyền cho chúng ta những kiến thức, những điều hay lẻ phải trong cuộc sống để chúng ta nên người và có những kinh nghiệm trong cuộc sống.

    • Mấy ai là kẻ không thầy
    • Thế gian thường nói: đố mày làm nên !

    Câu thơ đề cao nên công ơn to lớn của người thầy, người đã cho ta chữ nghĩa. Câu thơ cũng khẳng định vai trò to lớn của người thầy trong quá trình học tập và cuộc sống của mỗi người. Chính vì thế mà công ơn của thầy cô vô cùng to lớn.

    • Muốn sang thì bắc cầu Kiều
    • Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy

    Câu nói nói lên vai trò của người thầy,người dạy chúng ta chữ nghĩa, dạy chúng ta điều hay lẻ phải trong cuộc sống. Chính vì thế mà muốn cho con minh hay chữ thì trước tiên chúng ta cần phải yêu thương thầy,yêu cái chữ để con mới có một kiến thức vững chắc và nền tảng vững chắc.

    • Ngày nào em bé cỏn con
    • Bây giờ em đã lớn khôn thế này
    • Cơm cha, áo mẹ, công thầy
    • Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao

    Câu thơ nói về ơn nghĩa tơ lớn của cha mẹ và ơn thầy cũng là một ân tình to lớn. ơn của thầy cũng giống như ơn nghĩa của cha mẹ, của những người sinh ra ta và yêu thương ta. Người thầy có vai trò rất quan trọng, tạo nên kiến thức cho con người chúng ta.

    Những câu ca dao tục ngữ về lòng biết ơn, uống nước nhớ nguồn đối với những người xung quanh:

      Muốn ăn quả chín, nhớ ơn người trồng.

    Câu tục ngữ này cũng nhắc đến người trồng cây, người đã tạo ra những thành quả để chúng ta có những quả tươi ngon và sạch sẽ. câu thơ cũng nhắc chúng ta nhớ ơn đến những người giúp đỡ chúng ta trong cuộc sống này.

      Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng.

    Ăn quả thì chúng ta cần phải nhớ đến người trồng cây, ăn khoai thì chúng ta cũng nên nhớ đến người cho dây, nhờ những người ấy chúng ta mới có được quả ngon, khoai to để ăn, nhắc nhở chúng ta phải biết lễ nghĩa trong cuộc sống này.

    Ngoài những câu ca dao nói về lòng biết ơn, uống nước nhớ nguồn ở trên, chúng ta còn có những câu ca dao hay về lòng biết ơn, uống nước nhớ nguồn như :

    – Ăn nắm xôi dẻo, nhớ nẻo nhà hàng.

    – Ăn bát cơm dẻo, nhớ nẻo đường đi.

    – Uống nước nhớ nguồn.

    – Uống nước, nhớ kẻ đào giếng.

    – Ơn cha nghĩa mẹ trìu trìu

    Mưa mai lòng sở, nắng chiều dạ lo

    – Biển Đông còn lúc đầy vơi,

    Chớ lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng

    – Con người có tổ có tông

    Như cây có cội như sông có nguồn

    – Chim có tổ người có tông

    Cây có cội, nước có nguồn.

    – Nước có nguồn, cây có gốc.

    – Mạch trong nước chay ra trong, thế nào đi nữa còn dòng cũng hơn.

    – Ai về Phú Thọ cùng ta

    Vui ngày giỗ tổ tháng ba mùng mười.

    Dù ai đi ngược về xuôi

    Nhớ ngày gỗ tổ mùng mười tháng ba.

    – Tháng ba nô nức hội đền

    Nhớ ngày giổ tổ bốn nghìn năm nay.

    Khôn ngoan nhờ đức cha ông

    Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ

    Đạo làm con chớ hững hờ

    Phải đem hiếu kính mà thờ tổ tiên

    – Sống tết, chết giỗ.

    – Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen.

    – Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa.

    – Uống nước chớ quên người đào mạch.

    – Tiền là gạch, ngãi là vàng.

    – Đường mòn ân nghĩa không mòn.

    – Bền người hơn bền của.

    – Ăn tám lạng trả nửa cân.

    – Ăn quả phải vun cây.

    – Ăn ở như bát nước đầy.

    – Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen.

    – Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa.

    – Uống nước chớ quên người đào mạch.

    – Tiền là gạch, ngãi là vàng.

    – Chanh chua chớ phụ, ngọt bòng chớ ham.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 1000+ Stt Dễ Thương Để Thả Thính Trai Xinh Gái Đẹp Bá Đạo
  • Những Lời Chúc Sinh Nhật Tháng 4 Hay Và Ý Nghĩa Tặng Người Thân Yêu
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Bất Hủ
  • Lời Chúc Tốt Nghiệp Ra Trường, Lấy Bằng Hay Và Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Hay Nhất Về Tình Yêu Buồn Thê Lương Nỗi Nhớ Tha Thiết Khi Chia Tay Ý Nghĩa Đi Vào Lòng Người
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn, Uống Nước Nhớ Nguồn

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín, Uy Tín, Lời Hứa Hay Nhất
  • Ca Dao, Tục Ngữ , Danh Ngôn Về Xây Dựng Tình Bạn Trong Sáng Lành Mạnh?
  • Tướng Cách Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Những Miền Quê Xứ Nghệ Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Kho Tàng Thành Ngữ Ca Dao Việt Nam Dịch Sang Thành Ngữ Tiếng Anh !
  • Con người Việt Nam từ bao đời nay đã được biết đến với bao tấm lòng tốt đẹp và tươi sáng của con người. Dù xã hội có thế nào, cuộc sống có thay đổi ra sao thì con người Việt Nam vẫn trung thực, kiên trung và yêu nước đến lạ. một trong những điều tốt mà con người Việt Nam vẫn lưu giữ muôn đời này là những lời dạy bảo, khuyên nhủ của ông bà ta xưa về cuộc sống về kinh nghiệm cuộc đời đó là kho tàng ca ao tục ngữ quý báu.

    Ca dao tục ngữ là một kho tàng văn học vô cùng quý giá, là tài sản quý báu đối với dân tộc Việt Nam. Ca dao tục ngữ được xếp vào là một những giá trị truyền thống văn học của dân tộc. những câu ca dao tục ngữ thường nói về cuộc sống con người, nói về thiên nhiên,nói về con người, nói về cây cối thiên nhiên,…. Bên cạnh những yếu tố đó thì ca dao tục ngữ còn nói về những đức tính quý giá của con người, đức tính được thể hiện rõ qua nhiều câu ca dao tục ngữ nhất là lòng biết ơn, uốc nước nhớ nguồn.

    Những câu ca dao tục ngữ về lòng biết ơn, uốc nước nhớ nguồn được chia ra làm nhiều khía cạnh như lòng biết ơn đối với ông bà, cha mẹ, đối với thầy cô giáo, đối với bạn bè hoặc đối với những người chúng ta không quen biết. chúng ta cùng đi tìm hiểu từng khía cạnh về lĩnh vực này.

    Những câu ca dao tục ngữ về lòng biết ơn, uốc nước nhớ nguồn đối với ông bà, cha mẹ:

    Câu 1:

    • Con ơi ghi nhớ lời này
    • Công cha, nghĩa mẹ, công thầy chớ quên

    Cha mẹ là người đã sinh ta ra, tạo nên hình hài cơ thể của chúng ta, chính vì thế mà cha mẹ luôn là nguồn, là cội của mỗi chúng ta. Câu ca dao này nói về công ơn to lớn của cha mẹ, của người đã sinh ra ta và cho ta cuộc sống này. Người mà chúng ta phải báo đáp, phải ghi nhớ công ơn lớn nhất đó là cha mẹ của chúng ta.

    Câu 2:

    • Ơn cha núi chất trời Tây
    • Láng lai nghĩa mẹ nước đầy biển Đông

    Câu thơ này đã so sánh ơn cha giống như trời Tây, nơi mà mặt trời lặn, nơi mà chúng ta không biết mặt trời sẽ đi về đâu. Vế sau so sánh nghĩa mẹ như nước biển Đông, biển Đông là nơi nước không thể cạn, nơi bao la bát ngát. Cả hai vế đều so sánh côn ơn cha mẹ như trời đất, không thể so sánh với nơi nào, ơn nghĩa rộng lớn đến thế là vậy đã làm chúng ta thêm yêu cha mẹ hơn.

    Câu 3:

    • Ơn cha trọng lắm ai ơi
    • Nghĩa mẹ bằng trời mang nặng đẻ đau

    Câu thơ trên nói về công ơn cha mẹ, những người đaz sinh ra chúng ta,tạo nên cơ thể và cho chúng ta cuộc sống ngày hôm nay. Ơn nghĩa của cha mẹ là những ơn nghĩa vô cùng to lớn, những ơn nghĩa ấy không thể đong đầy và không thể kế hết. chúng ta nên nhớ công ơn cha mẹ và có những hành động thể hiện sự báo đáp tình yêu thương của cha mẹ.

    Câu 4:

    • Công cha như núi Thái Sơn
    • Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
    • Một lòng thờ mẹ kính cha
    • Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

    Đây là câu thơ mà chúng ta thường nghe trong cuộc sống nhất, mỗi chúng ta ai cũng biết câu ca dao về tình nghĩa cha mẹ với con cái này. Công cha được so sánh với núi Thái Sơn, nghĩa mẹ được sánh với nước trong nguồn. để báo đáp lại ơn nghĩa của cha mẹ thì chúng ta nên yêu thương, kính trọng và hiếu thảo với cha mẹ, những người đã sinh ra chúng ta.

    Những câu ca dao tục ngữ về lòng biết ơn, uốc nước nhớ nguồn đối với thầy cô giáo:

    Câu 1:

      Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy

    Bên cạnh công ơn to lớn và rộng lớn như Thái Sơn của cha mẹ thì công ơn của thầy cũng là một công ơn to lớn đối với mỗi người chúng ta. Thầy cho chúng ta những hiểu biết, những kiến thức cuộc sống, những điều lẻ phải trong cuộc sống. ơn thầy được xếp sau công cha, nghĩa mẹ, điều đó cho thấy công ơn của thầy cũng vô cùng to lớn.

    Câu 2:

      Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa

    Câu thơ nói lên công ơn to lớn của người thầy, dù có học được một chữ hay học một ngày thầy đó cũng là người thầy, người truyền cho chúng ta những kiến thức, những điều hay lẻ phải trong cuộc sống để chúng ta nên người và có những kinh nghiệm trong cuộc sống.

    Câu 3:

    • Mấy ai là kẻ không thầy
    • Thế gian thường nói: đố mày làm nên !

    Câu thơ đề cao nên công ơn to lớn của người thầy, người đã cho ta chữ nghĩa. Câu thơ cũng khẳng định vai trò to lớn của người thầy trong quá trình học tập và cuộc sống của mỗi người. Chính vì thế mà công ơn của thầy cô vô cùng to lớn.

    Câu 4:

    • Muốn sang thì bắc cầu Kiều
    • Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy

    Câu nói nói lên vai trò của người thầy,người dạy chúng ta chữ nghĩa, dạy chúng ta điều hay lẻ phải trong cuộc sống. Chính vì thế mà muốn cho con minh hay chữ thì trước tiên chúng ta cần phải yêu thương thầy,yêu cái chữ để con mới có một kiến thức vững chắc và nền tảng vững chắc.

    • Ngày nào em bé cỏn con
    • Bây giờ em đã lớn khôn thế này
    • Cơm cha, áo mẹ, công thầy
    • Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao

    Câu thơ nói về ơn nghĩa tơ lớn của cha mẹ và ơn thầy cũng là một ân tình to lớn. ơn của thầy cũng giống như ơn nghĩa của cha mẹ, của những người sinh ra ta và yêu thương ta. Người thầy có vai trò rất quan trọng, tạo nên kiến thức cho con người chúng ta.

    Những câu ca dao tục ngữ về lòng biết ơn, uốc nước nhớ nguồn đối với những người xung quanh:

    Câu 2:

      Muốn ăn quả chín, nhớ ơn người trồng.

    Câu tục ngữ này cũng nhắc đến người trồng cây, người đã tạo ra những thành quả để chúng ta có những quả tươi ngon và sạch sẽ. câu thơ cũng nhắc chúng ta nhớ ơn đến những người giúp đỡ chúng ta trong cuộc sống này.

    Câu 3:

      Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng.

    Ăn quả thì chúng ta cần phải nhớ đến người trồng cây, ăn khoai thì chúng ta cũng nên nhớ đến người cho dây, nhờ những người ấy chúng ta mới có được quả ngon, khoai to để ăn, nhắc nhở chúng ta phải biết lễ nghĩa trong cuộc sống này.

    Ngoài những câu ca dao nói về lòng biết ơn, uống nước nhớ nguồn ở trên, chúng ta còn có những câu ca dao hay về lòng biết ơn, uống nước nhớ nguồn như :

    Câu 1:

      Ăn nắm xôi dẻo, nhớ nẻo nhà hàng.

    Câu 2:

      Ăn bát cơm dẻo, nhớ nẻo đường đi.

    Câu 3:Câu 4:

      Uống nước, nhớ kẻ đào giếng.

    Câu 5:

    • Ơn cha nghĩa mẹ trìu trìu
    • Mưa mai lòng sở, nắng chiều dạ lo

    Câu 6:

    • Biển Đông còn lúc đầy vơi,
    • Chớ lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng

    Câu 7:

    • Con người có tổ có tông
    • Như cây có cội như sông có nguồn

    Câu 8:

    • Chim có tổ người có tông
    • Cây có cội, nước có nguồn.

    Câu 9:

      Nước có nguồn, cây có gốc.

    Câu 10:

    • Mạch trong nước chay ra trong
    • thế nào đi nữa còn dòng cũng hơn.

    Câu 11:

    • Ai về Phú Thọ cùng ta
    • Vui ngày giỗ tổ tháng ba mùng mười.
    • Dù ai đi ngược về xuôi
    • Nhớ ngày gỗ tổ mùng mười tháng ba.

    Câu 12:

    • Tháng ba nô nức hội đền
    • Nhớ ngày giổ tổ bốn nghìn năm nay.
    • Khôn ngoan nhờ đức cha ông
    • Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ
    • Đạo làm con chớ hững hờ
    • Phải đem hiếu kính mà thờ tổ tiên

    Câu 13:Câu 14:

      Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen.

    Câu 15:

      Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa.

    Câu 16:

      Uống nước chớ quên người đào mạch.

    Câu 17:

      Tiền là gạch, ngãi là vàng.

    Câu 18:

      Đường mòn ân nghĩa không mòn.

    Câu 19:Câu 20:Câu 21:Câu 22:Câu 23:

      Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen.

    Câu 24:

      Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa.

    Câu 25:

      Uống nước chớ quên người đào mạch.

    Câu 26:

      Tiền là gạch, ngãi là vàng.

    Câu 27:

      Chanh chua chớ phụ, ngọt bòng chớ ham.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao , Tục Ngữ Về Truyền Thống Tôn Sư Trọng Đạo
  • Sưu Tầm Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tôn Trọng Lẽ Phải
  • Những Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Vợ Chồng
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Tinh Yêu Trai Gái Trọn Nghĩa Vẹn Tình.
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Yêu Chung Thủy Trong Dân Gian
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100