Top 19 # Xem Nhiều Nhất Ca Dao Tuc Ngu Ve Yeu Lao Dong / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Altimofoundation.com

Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập Ca Dao Tuc Ngu Viet Nam Toan Tap Doc / 2023

Ca dao tục ngữ Việt Nam toàn tập

21. Cầm vàng mà lội qua sông Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

22. Cần Thơ là tỉnh Cao Lãnh là quê Anh đi lục tỉnh bốn bề Mảng lo buôn bán không về thăm em

23. Cậu cai nón dấu lông gà Cổ tay đeo nhẫn gọi là cậu cai Ba năm được một chuyến sai Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê Cậu cai buông áo em ra Ðể em đi bán kẻo mà chợ trưa

24. Cây cao bóng mát không ngồi Ra ngồi chỗ nắng trách trời không mây

25. Cây da Chợ Đũi nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàn Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân!

26. Cây khô không dễ mọc chồi Mẹ già không thể sống đời với con

27. Cây không trồng nên lòng không tiếc Con không đẻ nên mẹ ghẻ không thương

28. Cây trên rừng hoá kiểng Cá dưới biển hoá long Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong Anh đi lục tỉnh giáp vòng Đến đây trời khiến đem lòng thương em

29. Cây vông đồng không không trồng mà mọc Con gái xóm này chẳng chọc mà theo

30. Cây xanh lá đỏ hoa vàng Hạt đen rễ trắng đố chàng là chi (đố là gì? Cây rau sam)

31. Cây xanh thời lá cũng xanh Cha mẹ hiền lành để đức cho con Mừng cây rồi lại mừng cành Cây đức lắm chồi, người đức lắm con Ba vuông sánh với bảy tròn Đời cha vinh hiển đời con sang giàu

32. Cậu cai buông áo em ra Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa Chợ trưa dưa nó héo đi Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?

33. Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại Bắt anh ra treo tại nhành dương Biểu từ ai, anh từ đặng Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ

34. Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày

35. Chanh chua thì khế cũng chua Chanh bán có muà, khế bán quanh năm

36. Cháu ơi cháu ngủ cho ngon Của dì, dì giữ ai bòn mặc ai

37. Chàng ôi, giận thiếp mà chi Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng

38. Chàng về để áo lại đây Để khuya em đắp gió khuya lạnh lùng

39. Chàng về để áo lại đây Phòng khi em nhớ cầm tay đỡ buồn

40. Chặt không đứt, bứt không rời Phơi không khô, chụm không cháy (Đố là con gì? Con sam)

41. Chẳng tham ruộng cả, ao tiền Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ

42. Chân đi ba bước lại dừng Tuổi em còn bé chưa từng đi buôn Đi buôn cho đáng đi buôn Đi buôn cau héo có buồn hay không

43. Chén tình là chén say sưa Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

44. Chẻ tre bện sáo cho dầy Chận ngang sông Mỹ có ngày gặp em

45. Chê đắng chê hôi Đã chê xôi không dẻo Lại chê kẹo không ngọ

46. Chê đây, lấy đấy sao đành Em chê cam sành , lấy phải quít hôi Quít hôi bán một đồng mười Cam ba đồng một, quít ngồi trơ trơ

47. Chết trước được mồ, được mả Chết sau nằm ngả, nằm nghiêng

48. Chiếc khăn cô đội trên đầu Gió xuân đưa đẩy rơi vào tay tôi Bâng khuâng tôi chẳng muốn rời Trao cô thì tiếc, giữ thời không yên

49. Chiếu bông mà trải góc đền Muốn vô làm bé biết có bền hay không?

50. Chiều chiều, buồn miệng nhai trầu Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ

Đ

1. Đánh bạc quen tay Ngủ ngày quen mắt Ăn vặt quen mồm

2. Đánh chết, mà nết không chừa Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

3. Đàn bà nói có là không Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

4. Đàn bà tốt tóc thì sang Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

5. Đàn đâu mà gảy tai trâu Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

6. Đàn kêu tích tịch tình tang Ai đem công chúa lên thang mà về

7. Đàn ông đi biển có đôi Đàn bà đi biển mồ côi một mình

8. Đàn ông không râu vô nghì Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

9. Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu Anh về học lấy chữ nhu Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

10. Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu Rút gươm đâm họng máu trào Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

11. Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt Lửa nhà máy hết cháy thành than Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn Kể từ khi em biết được chàng Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

12. Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

13. Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

14. Đèn treo ngang quán Tỏ rạng bờ kinh Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

15. Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

16. Đêm khuya ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn trông sao sao mờ Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

17. Đêm khuya thắp chút dầu dư Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

18. Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

19. Đêm khuya trăng dọi lầu son Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng Bển qua đây đàng đã xa đàng Dầu tui có lâm nguy thất thế Hỏi con bạn vàng nó cứu không? Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

20. Đêm nằm tàu chuối có đôi Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

21. Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài Bây giờ chàng đã nghe ai Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung Bây giờ sự đã nhạt nhùn Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua Cá lên mặt nước, cá khô Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

22. Đêm qua nguyệt lặn về Tây Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài Trúc với mai, mai về trúc nhớ Trúc trở về, mai nhớ trúc không Bây giờ kẻ Bắc, người Đông Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

23. Đêm thanh cảnh vắng Thức trắng năm canh Một duyên, hai nợ, ba tình Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

24. Đến đây đất nước lạ lùng Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

25. Đến ta mới biết của ta Trăm nghìn năm trước biết là của ai

26. Đề huề chồng vợ Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

27. Đi chùa lạy Phật cầu chồng Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

28. Đi đâu cho thiếp theo cùng Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

29. Đi đâu mà vội mà vàng Mà vấp phải đá mà quàng phải dây Thủng thỉnh như chúng anh đây Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

30. Đi cho biết đó biết đây Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

31. Đi qua nhà nhỏ Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

32. Đó đây trước lạ sau quen Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

33. Đói lòng ăn đọt chà là Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

Đói lòng ăn nắm lá sung Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

34. Đói lòng ăn nửa trái sim Uống lưng bát nước đi tìm người thương

35. Đói lòng nuốt trái khổ qua Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

36. Đôi ta chẳng được sum vầy Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương Vì sương nên núi bạc đầu Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

37. Đôi ta đã trót lời thề Con dao lá trúc đã kề tóc mai Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

38. Đôi ta như loan với phượng Nỡ lòng nào để phượng lià cây Muốn cho có đó, có đây Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi Thà rằng chẳng biết thì thôi Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

39. Đôi ta như thể con tằm Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong Đôi ta như thể con ong Con quấn con quít, con trong con ngoài Đôi ta như thể con bài Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

40. Đố ai biết luá mấy cây Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng Đố ai quét sạch lá rừng Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây Rung cây, rung cỗi, rung cành Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

41. Đố ai lặn xuống vực sâu Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

42. Đố anh con rít mấy chưn Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người Mấy người bán áo con trai Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

43. Đốt than nướng cá cho vàng Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

44. Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm Muốn ăn bôn súng mắm kho Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

45. Đồng tiền Vạn lịch Thích bốn chữ vàng Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu Bây giờ cô lấy chồng đâủ Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

46. Đổ lửa than nên vàng lộn trấu Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

47. Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ Anh gặp em đây không cửa không nhà Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

48. Đời vua Thái Tổ, Thái Tông Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

49. Đờn cò lên trục kêu vang Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương Chiều nay qua phản bạn hồi hương Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào Ghe tui tới chỗ cắm sào Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

50. Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm Anh thấy em tốt mã anh lầm Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

51. Đưa nhau đổ chén rượu hồng Mai sau em có theo chồng đất xa Qua đò gõ nhịp chèo ca Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

52. Đường trơn trợt gượng đi kẻo té Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

53. Đứt tay một chút còn đau Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

Ca Dao Về Lao Động Sản Xuất / 2023

Nhân ngày Quốc tế lao động, xin chia sẻ về 3 bài ca dao trong chương trình Tập đọc lớp 5 (tuần 17) cùng những gợi ý khi dạy bài này.

Cày đồng đang buổi ban trưa Ơn trời mưa nắng phải thìSOẠN BÀI CA DAO VỀ LAO ĐỘNG SẢN XUẤT Người ta đi cấy lấy công,Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.Trông trời, trông đất, trông mây – Nỗi vất vả của người nông dân được thể hiện qua những hình ảnh: + Cày đồng đang buổi ban trưaMồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày + Có được bát cơm đầy dẻo thơm người dân phải trải qua bao nhiêu là đắng cay, gian khổ. Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần! – Nỗi lo lắng của người nông dân được thể hiện qua những hình ảnh: + Đi cấy mà còn phải trông nhiều bề: Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.Trông trời, trông đất, trông mâyCông lênh chẳng quản lâu đâu Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng. Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm Trông cho chân cứng đá mềmTrời yên, biển lặng mới yên tấm lòng. Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu. Trông cho chân cứng đá mềm Trời yên, biển lặng mới yên tấm lòng. Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm Ai ơi, bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần. Trông cho chân cứng đá mềmChân lấm tay bùn.Hai sương một nắng.Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời.

Muốn no thì phải hay làmMột hạt lúa vàng, chín giọt mồ hôi.Quanh năm, cấy hái cày bừaVụ chiêm tiết hạ, vụ mùa tiết đông.Ai về nhắn chị em cùngMuốn cho no ấm, nghề nông chuyên cần. Trời yên, biển lặng mới yên tấm lòng. Tổng hợp trên Internet Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu.Công lênh chẳng quản lâu đâu,Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.Ai ơi đừng bỏ ruộng hoangBao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu. Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần!

A. KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM

Ba bài ca dao đều được sáng tác theo thể thơ lục bát, một thể thơ truyền thống của dân tộc. Âm điệu chung của cả ba bài là âm điệu nhẹ nhàng, tha thiết, tình cảm. Nhịp điệu 2/2/2 – 4/4 là phổ biến.

(Có thể cho nhóm 3 em lần lượt đọc nội dung từng bài và nhận xét)

B. TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI

Câu 1: Tìm những hình ảnh nói lên nỗi vất vả, lo lắng của người nông dân trong sản xuất?

Trả lời:

Câu 2: Những câu nào thể hiện tinh thần lạc quan của người nông dân?

Trả lời: Đó là những câu:

a) Khuyên nông dân chăm chỉ cấy cày.

b) Thể hiện quyết tâm trong lao động sản xuất.

c) Nhắc người ta nhớ ơn người làm ra hạt gạo.

Trả lời: Những câu ứng với nội dung đã cho như sau:

a) Ứng với nội dung (a):

b) Ứng với nội dung (b):

c) Ứng với nội dung (c):

C. CỦNG CỐ:

Câu 4: Ngoài các bài ca dao vừa học, các em còn biết thêm những câu ca dao, tục ngữ, câu thơ nào nói về nỗi vất vả của người nông dân?

Trả lời: Có nhiều câu, chẳng hạn:

Với học sinh ở nông thôn, có thể hỏi thêm:– Chúng ta phải làm gì để giúp bố mẹ đỡ vất vả trong công việc?

* Ý nghĩa: Ca ngợi công việc vất vả, khó nhọc trên đồng ruộng của người nông dân và khuyên mọi người hãy trân trọng, nhớ ơn những người đã làm ra hạt gạo nuôi sống cả xã hội.Lao động vất vả trên ruộng đồng của người nông dân đã mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mọi người.

Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ, Ngạn Ngữ Làng Cao Lao Hạ / 2023

Bài viết về ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ của người làng Cao Lao Hạ xưa trong cuốn “Địa chí làng Cao Lao Hạ” của tác giả Lê Văn Sơn

Trong đời sống hàng ngày, nhân dân làng Cao Lao Hạ thường vận dụng ca dao, tục ngữ để mô tả và phản ảnh các hiện tượng thiên nhiên cũng như hiện tượng xã hội, hoặc đúc kết kinh nghiệm về thời tiết, về nông nghiệp, về buôn bán, về con người, sản vật, v.v…

Ca dao làng Cao Lao Hạ:

– Cao Lao, Hạ Trạch làng mình,

Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non,

– Xưa kia đưòng phố đất liền,

Quân chiêm đào hói cho thuyền vào ra

– Làng ta phong cảnh hữu tình,

Núi dài sông rộng, mái đình cây đa.

– Trước mặt đồng ruộng bao la,

Cơm côi cá đưới thật là ấm no.

– Đi mô cũng nhớ Cao Lao,

Ngó về quê mẹ biết bao nhiêu tình.

– Bắp non mà náng lả lò (náng là nướng, lả là lửa)

Đố ai ve được anh đồ Cao Lao.

– Con gái họ Lưu như bông hoa lý,

Trai trong làng đẹp ý chạy theo.

– Sông Gianh bên lở bên bồi,

Bên tình bên hiếu em ngồi bên mô.

Có những câu tục ngữ, thành ngữ nhiều vùng lan đến Cao Lao:

Cày ải hơn vãi phân.

Công làm là công bỏ, công làm cỏ là công ăn.

Gần ruộng ba hơn xa ruộng nhất.

Một sào ló, không bằng một xó vườn.

Ruộng có dường nương có nạp.

Làm ruộng theo làng bán hàng theo chợ

Xem thời tiết vốn là yêu cầu chung của con người, nhất là đối với người nông dân lại vô cùng thiết yếu, không những  theo thời vụ từng mùa mà còn theo dõi từng ngày, từng giờ. Do đó việc quan sát hiện tượng mưa gió của người dân cũng rất tinh tế:

Ông tha mà bà chẳng tha, mồng 5 tháng 9 mồng 3 tháng 10

Mồng 9 tháng 9 có mưa, cha con soạn sửa cày bừa mần ăn.

Mồng 9 tháng 9 không mưa, cha con soạn sửa vác cưa lên rừng.

Tháng 7 nác nhảy ngọn con, (nác là nước)

Tháng giêng rét dài, tháng 2 rét lộc, tháng 3 rét cộôc rau mưng.

Rét tháng giêng, nằmn nghiêng mà chịu

Làm ruộng tháng 5 coi trăng rằm tháng tám.

Làm ruộng tháng 8 coi rạm tháng tư.

Trăng sáng được mùa rọng su, trăng lu được mùa rọng cạn.

Mống dài trời lụt, mống (giằng) cụt trời mưa.

Rạm đi trồi thị lụt, rạm đi trụt thì mưa.

Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì năng, bay vừa thì nhâm.

Nam nắng hôm, nồm nắng mai

Lúa chiêm nép ở đầu bờ, nghe ba tiếng sấm phất cờ mà lên

Mù được cá, giá được tôm

Tháng 8 nhìn ra, tháng 3 nhìn vào

Con theo mạ, cá theo nước

Có cá có nước, có mạ có đam (cua đồng)

Vì cây dây mới leo, có cột có kèo mới có đòn tay.

Cóc chết để da, người ta chết để tiếng.

Được mùa chớ phụ môn khoai, đến khi thất bát lấy ai bạn cùng

Miệng ăn núi lở

Ăn có mời mần có mạn

Phía rào có lỗ tai

Muối mè rang với ruốc khô, có chết xuốgn mồ cũng dậy mà ăn

Ăn ít no lâu, ăn nhiều mau đói

Đất cá hơn rẻ thịt

Khôn nhà dại chợ

Tham vàng bỏ ngãi

Hồng nhan bạc phận

Sông có khúc, người có lúc

Cách gieo vần của tục ngữ thường lấy từ vần lưng gắn liền với vế trên và vế dưới, đủ cả nhịp điệu gọn gàng dễ nhớ:

Giêng hai khoai bù

Cá bồng kho tiêu cá thiều kho ớt

Đầu cá má heo

Ăn ham chắc, mặc ham bền

Chặt to kho mặn

Mắm lép kẹp rau mưng, ông ăn to méng (miếng) mụ trừng mắt lên.

Khế rành ruốc lạt đánh bạt thịt heo

Mắm không ngon đông con cũng hết

Ngon cá khá cơm

Đong đầy hơn nậy đọi

Vảy cá hơn rá rau.

Ăn chín nhịn ăn xeng (xanh)

Cơm với cá như mạ với con

Người ăn thì còn con ăn thì hết

Muốn ăn cá phải thả câu

Ăn nóng phỏng mồm

Ăn đi trước lội nước đi sau

Không thầy đố mày làm nên

Đánh chó ngó chủ nhà

Mía sâu có đốt, nhà dột có nơi

Của biếu là của lo, của cho là của nợ

Đũa một chiếc vếc không lên

Nắng được dưa, mưa được ló

Mặt sao ngao vậy

Dốt nát cậy thầy bôống bây cậy thợ

Một người lo bằng một kho kẻ mần

Có bụng chi nghi bụng nấy

Bù tháng 9, bín tháng 10

Kiếp mần thân chịu.

Cơm sôi lửa đỏ, ló (lúa) chín trời mưa

Kẻ Hạ đi nhọc, Kẻ Hạ nghỉ

Thổ Ngoạ ăn no, Thổ Ngoạ nằm

Ăn Cao Lao, lội rào Văn Phú.

Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Thiên Nhiên Và Sản Xuất, Lao Động Hay Nhất / 2023

Tổng hợp những câu ca dao, tục ngữ về thiên nhiên? Tổng hợp những câu ca dao, tục ngữ về sản xuất, lao động hay nhất

Ca dao, tục ngữ nào về thiên nhiên và sản xuất, lao động hay?

Tục ngữ ca dao là một trong những thể loại của văn học dân gian. Tục ngữ, ca dao được xem là những khúc hát tâm tình, thiên về khía cạnh tinh thần, tình cảm. Ngoài ra thể loại văn học này có chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm sống trên rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống hằng ngày. Vì thế tục ngữ, ca dao được xem là kho kinh nghiệm và tri thức thực tiễn vô cùng phong phú. Và trong bài viết này vforum sẽ đề cập đến vấn đề liên quan đến ca dao, tục ngữ đó là Những câu ca dao, tục ngữ vềthiên nhiên và sản xuất, lao động hay nhất? Sau đây hãy cùng vforum tìm hiểu nhé.

Những câu ca dao, tục ngữ về thiên nhiên và sản xuất, lao động hay nhất 1.

Con trâu là đầu cơ nghiệp

Câu tục ngữ này được hiểu là con trâu gần gũi và quan trọng hàng đầu đối với cuộc sống của người nông dân. Câu tục ngữ nói về tầm quan trọng của việc tạo duyên và giữ duyên trong định hướng nghề nghiệp và xây dựng cơ nghiệp

2.

Chuồng gà hướng đông cái lông chẳng còn

Câu tục ngữ này là hoàn toàn chính xác. Tự cổ chí kim không ai làm chuồng gà, chuồng gia cầm, gia súc theo hướng Đông là vì nguyên nhân hướng gió. Một việc làm đầy tính khoa học và đúng đắn.

3.

Chuồn chuồn bay thấp thì mưa Bay cao thì nắng bay vừa thì râm.

Kinh nghiệm này phản ánh khá đúng thực tiễn. Chuồn chuồn bay thấy hay bay cao phụ thuộc vào áp suốt của khí quyển. Ông cha ta nhận thấy khi sắp mưa những hạt hơi nước nhỏ bé sẽ đọng lại trên các cánh mỏng của chuồn chuồn, làm tăng tải trọng và khiến chúng phải bay thấp là đà sát mặt đất. Do vậy mà đã nghĩ ra câu tục ngữ này để có thể dễ dàng dự báo thời tiết.

4.

Đầu năm gió to, cuối năm gió bấc

Câu tục ngữ này cho thấy kinh nghiệm quan sát hiện tượng tự nhiên của ông cha ta, qua đó mà có thể dự báo được trước thời tiết để sản xuất.

5.

Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng Ngày tháng mười chưa cười đã tối

Đây là câu ca dao mà ông cha đã truyền lại cho chúng ta rất chính xác nhờ vào những gì mà mình đã đúc kết được trong cuộc sống mà ngày nay nó vẫn rất khả thi. Ý nghĩa là tháng năm thì thời gian ban ngày dài hơn thời gian ban đêm, còn vào tháng mười thì thời gian ban ngày ngắn hơn thới gian ban đêm.

6.

Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt

Ngày xưa , ông cha ta thấy kiến bò là đoán lụt và hay đề phòng lũ lụt sau tháng 7 âm. Do kiến là loại bò sát nên có thể biết được những thiên tai trước con người 1 cách nhanh nhạy , nó bò để chuẩn bị thức ăn , nơi trú ẩn để tránh nạn ( các bạn quan sát sẽ thấy trước khi mưa kiến thường bò đoàn dài trên tường )

7.

Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước.

Cũng là một kinh nghiệm về việc dự đoán trời mưa. Ếch là một loài động vật rất mẫn cảm với việc đổi thay thời tiết, nhất là khi trời trở trời mưa. Khi trời chuẩn bị kéo cơn mưa, ếch thường cất tiếng kêu lên bờ ao, hồ, đồng ruộng. Chính vì thế mà dựa vào tiếng kêu của ếch, dân gian ta có thể biết trước trời sắp có mưa, mà hệ quả của trời mưa chính là “ao chuôm đầy nước”.

8.

Gió thổi là đổi trời.

Câu tục ngữ này phản ánh thực tiễn về hiện tượng tự nhiên, gió thổi là đổi trời dễ dàng nhận biết để giữ gìn cơ thể.

9.

Giàu đâu những kẻ ngủ trưa Sang đâu những kẻ say sưa tối ngày.

Câu tục ngữ này có lẽ muôn đời đúng. Ám chỉ những thanh niên lười biếng. Điều đáng buồn là những thành phần như vậy trong xã hội ngày càng nhiều, đặc biệt là giới trẻ, lớp người tưởng như “tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu”.

10.

Kiến đen tha trứng lên cao Thế nào cũng có mưa rào rất to

Loài kiến đen hoặc kiến lửa có tập tính sống dưới đất. Khi trời sắp mưa. độ ẩm môi trường lớn, nên độ ẩm dưới đất sẽ rất cao. Vì thế, loài kiến phải đi tránh những không khí ẩm đấy bằng cách di chuyển lên vùng cao hơn, cũng là để bảo vệ trứng. Do kinh nghiệm quan sát, ông cha ta kết luận và tạo thành câu ca dao này

11.

Lúa chiêm lấp ló đầu bờ Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.

Lúa Chiêm là giống lúa có xuất xứ từ khu vực Nam Trung Bộ, gieo vào tháng giêng và thu hoạch khoảng tháng năm âm lịch. Khoảng tháng 2 tháng 3 khi mùa mưa bắt đầu, có nhiều sấm sét là điều kiện quan trọng giúp cố định một lượng lớn nitơ bổ sung dinh dưỡng cho đất, đặc biệt nó là là nguồn dinh dưỡng khoáng quan trọng cho cây lúa

12.

Lợn ăn xong lợn nằm lợn béo Lợn ăn xong lợn réo lợn gầy.

Đây là 2 câu thơ cho thấy kinh nghiệm nuôi lợn của ông cha ta, 2 câu thơ lột tả thực sự cách nuôi heo làm sao để béo tốt.

13.

Mau sao thì nắng ,vắng sao thì mưa

Câu tục ngữ này là một kinh nghiệm hay và đúng đắn về dự báo thời tiết khi trời đang ở vào lúc mùa hè.

14.

Mặt trời có quầng thì hạn, mặt trăng có tán thì mưa.

Ông bà ta thường dựa vào Trăng quầng, trăng tán để đự báo thời tiết. Tuy nhiên, hiện tượng tán và quần có thể xảy ra cùng một lúc chứ không phải là không đội trời chung.

15

Mưa chẳng qua ngọ, gió chẳng qua mùi.

Giờ Ngọ từ 11 giờ đến 13 giờ. Giờ Mùi từ 13 giờ dến 15 giờ. Một kinh nghiệm về thời tiết.

16.

Muốn cho lúa nảy bông to Cày sâu bừa kĩ phân tro cho nhiều

Ý muốn nhắn nhủ người trồng lúa cần phải cày sâu và bón phân nhiều và đầy đủ thì cây lúa mới tươi tốt.

17.

Mống đông vồng tây, chẳng mưa dây cũng bão giật

Cầu vồng, mống cụt xuất hiện là một dự báo thời tiết đáng sợ. Nhân dân đã đúc kết thành kinh nghiệm quý báu lâu đời để phòng tránh, để lo liệu làm ăn:

18.

Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa

Các biến đổi bất thường về cây cỏ, sâu bọ, chim chóc, loài vật… là những hiện tượng, qua đó nhân dân lao động đã đúc rút được nhiều câu tục ngữ có giá trị thực tiễn to lớn. Dự báo thời tiết của dân gian rất phong phú

19.

Rét tháng ba, bà già chết cóng

Câu tục ngữ này được truyền lại với quan niệm là tháng 3 âm lịch (thường tương đương với tháng 4 dương lịch), trong lịch sử đã xảy ra những đợt rét vào thời kỳ này.

20.

Vàng mây thì gió, đỏ mây thì mưa.

“Ráng” là đám mây phản chiếu ánh mặt trời về buổi sáng hay buổi chiều, thường có màu sắc rất thắm, đẹp và nên thơ. Nhìn ráng mây người ta có thể đoán ra thời tiết theo câu tục ngữ

Trên đây là bài viết về Những câu ca dao, tục ngữ về thiên nhiên và sản xuất, lao động hay nhất, mong rằng qua bài viết này độc giả của vforum sẽ có thêm nhiều kiến thức về ca dao, tục ngữ hay và bổ ích của Việt Nam ta.

Xem thêm:Những câu ca dao, tục ngữ hay về gia đình, tình cảm gia đình

Thêm danh sách một số câu ca dao tục ngư về nhiều chủ đề khác nhau

Ngọt ngào cho lắm cũng là người dưng.

Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò,

Chín tháng lò dò chạy đi.

Trẻ lên ba cả nhà học nói.

Biết sao được bụng lái buôn mà dò.

Đi buôn nói ngay bằng đi cày nói dối.

Bà chúa đứt tay bằng ăn mày sổ ruột.

Muốn nói oan làm quan mà nói.

Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ.

Lễ vào quan như than vào lò.

Quan thời xa, bản nha thời gần.

Tuần hà là cha kẻ cướp.

Hay làm thì đói, hay nói thì no.

Nó lú có chú nó khôn.

Đắng cay cũng thể ruột rà,

Cốc mò cò xơi.

Cá lớn nuốt cá bé.

Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng.

Tức nước vỡ bờ.

Người làm nên của, của không làm nên người.

Người sống đống vàng.

Thế gian chuộng của, chuộng công

Nào ai có chuộng người không bao giờ.

Nhiều tiền thì thắm, ít tiền thì phai.

Tiền bạc đi trước mực thước đi sau.

Nén bạc đâm toạc tờ giấy.

Của bụt mất một đền mười.

Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, đồng tiền đi sau là đồng tiền dại.

Mạnh về gạo bạo về tiền.

Của bền tại người.

Nhất tội, nhì nợ.

Công nợ trả dần, cháo nóng húp quanh.

Làm nghề gì ăn nghề ấy.

Ruộng bề bề không bằng nghề trong tay.

Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ.

Bầu dục chẳng đến bàn thứ tám, cám nhỏ chẳng đến miệng lợn sề.

Thằng mõ có bỏ đám nào.

Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò.

Làm hàng săng, chết bó chiếu.

Dò sông, dò bể, dò nguồn

Con giun xéo lắm cũng quằn.

Được làm vua, thua làm giặc.

Nòi nào giống ấy.

Cây có cội, nước có nguồn.

Giấy rách giữ lề.

Cha già con cọc.

Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh.

Giỏ nhà ai, quai nhà ấy.

Khôn từ trong trứng khôn ra.

Một giọt máu đào hơn ao nước lã.

Máu chảy ruột mềm.

Khác máu tanh lòng.

Một người làm quan cả họ được nhờ.

Chim có tổ, người có tông.

Chú như cha, già như mẹ *

Sảy cha còn chú, sảy mẹ ấp vú dì

Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng.

Cháu bà nội, tội bà ngoại.

Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng.

Chị em dâu như bầu nước lã.

Áo năng may năng mới, người năng nói năng thân.

Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.

Lời chào cao hơn mâm cỗ.

Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.

Thua thầy một vạn không bằng thua bạn một ly.

Tin bợm mất bò, tin bạn mất vợ nằm co một mình.

Bán anh em xa mua láng giềng gần.

Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.

Cha mẹ sinh con trời sinh tính

Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn.

Dễ người dễ ta.

Sẩy đàn tan nghé.

Con sâu bỏ rầu nồi canh.

Cả vốn lớn lãi.

Bán hàng nói thách, làm khách trả rẻ.

Quen mặt đắt hàng.

Tiền trao cháo múc.

Chớ bán gà ngày gió, chớ bán chó ngày mưa.

Nhà gần chợ để nợ cho con.

Tiền không chân xa gần đi khắp.

Đồng tiền liền khúc ruột.

Của thiên trả địa.

Của thế gian đãi người thiên hạ.

Của một đồng, công một nén.

Có tiền mua tiên cũng được.