Văn Hóa Ẩm Thực Việt Nam Qua Ca Dao, Tục Ngữ

--- Bài mới hơn ---

  • 999 Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Hay Nhất Tận Đáy Lòng
  • Những Lời Chúc Cho Bà Bầu Sắp Vượt Cạn Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Status Cảm Động Cho Những Cặp Đôi Đang Yêu Xa
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Tự Lập, Tự Chủ
  • Những Câu Nói Hay Nhất Về Mùa Hè
  • Đề tài: Văn hóa ẩm thực Việt Nam qua ca dao, tục ngữ

    MỤC LỤC

    1

    KHÁI QUÁT VỀ ẨM THỰC VIỆT NAM.

    2

    NHỮNG CÂU CA DAO TỤC NGỮ GIỚI THIỆU VỀ VÙNG

    NGUYÊN LIỆU VÀ NGHỆ THUẬT GIAO TIẾP ỨNG XỬ CỦA CON

    NGƯỜI VIỆT NAM THÔNG QUA ĂN UỐNG

    II.1 Những câu ca dao, tục ngữ giới thiệu về vùng nguyên liệu.

    II.1.1 Ẩm thực miền Bắc

    II.1.2 Ẩm thực miền Trung

    II.1.3 Ẩm thực miền Nam

    II.2

    Những câu ca dao, tục ngữ thể hiện nghệ thuật ứng xử trong

    ăn uống của người Việt Nam

    2.2.1. Trong phạm vi cộng đồng

    2.2.2. Cách ứng xử trong gia đình

    Kết luận

    1

    MỞ ĐẦU

    Nói đến ca dao là nói đến niềm tự hào của dân tộc mình.Ca dao là văn

    chương dân gian đã trải qua nhiều thế hệ lịch sử, đã được sinh ra trong những

    giai đoạn xã hội lúc bấy giờ và lưu truyền cho đến ngày nay. Ít có người biết

    đến được chính xác các tác giả, dù vậy ca dao đã là vũ khí chống lại những xâm

    nhập văn hóa trải qua sự đô hộ của nhiều thời đại. Ca dao Việt Nam là thành trì

    bảo tồn nền văn hóa dân tộc. Những câu ca dao tục ngữ, lời hò, hát dặm, bài vè

    thường đề cặp đến nhiều khía cạnh khác nhau như xã hội, gia đình, tín ngưỡng,

    tình yêu, thiên nhiên …Ca dao Việt Nam là một kho tàng vô giá, làm giàu thêm

    tiếng Mẹ Đẻ, chúng ta nên cố gắng và trân trọng gìn giữ.

    1, KHÁI QUÁT VỀ ẨM THỰC VIỆT NAM.

    Ẩm thực Việt Nam là cách gọi của phương thức chế biến món ăn,

    nguyên lý pha trộn gia vị và những thói quen ăn uống nói chung của mọi người

    Việt trên đất nước Việt Nam. Tuy hầu như có ít nhiều có sự khác biệt, ẩm thực

    Việt Nam vẫn bao hàm ý nghĩa khái quát nhất để chỉ tất cả những món ăn phổ

    biến trong cộng đồng các dân tộc thiểu số nhưng đã tương đối phổ thông trong

    cộng đồng người Việt.

    Một đặc điểm ít nhiều cũng phân biệt ẩm thực Việt Nam với một số nước

    khác: ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon tuy đôi khi không đặt mục tiêu

    hàng đầu là ăn bổ. Bởi vậy trong hệ thống ẩm thực người Việt ít có những món

    hết sức cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, cũng không thiên về

    bày biện có tính thẩm mỹ cao độ như ẩm thực Nhật Bản, mà thiên về phối trộn

    gia vị một cách tinh tế để món ăn được ngon, hoặc sử dụng những nguyên liệu

    dai, giòn thưởng thức rất thú vị dù không thực sự bổ béo (ví dụ như các món

    măng, chân cánh gà, phủ tạng động vật …).

    *Nét đặc trưng trong văn hoá ẩm thực Việt Nam

    – Hòa đồng đa dạng

    2

    Người Việt dễ dàng tiếp thu văn hóa ẩm thực của các dân tộc khác, vùng miền

    khác để từ đó chế biến thành của mình. Đây là điểm nổi bật về ẩm thực của

    nước ta – Dùng ít mỡ

    Các món ăn Việt Nam chủ yếu làm từ rau, quả, củ nên ít mỡ, không dùng nhiều

    thịt như các nước phương Tây, cũng không dùng nhiều dầu mỡ như món của

    người Hoa.

    – Đậm đà hương vị

    Khi chế biến thức ăn, người Việt thường dùng nước mắm để nêm, lại kết

    hợp với rất nhiều gia vị khác… nên món ăn rất đậm đà. Mỗi món đều có nước

    chấm tương ứng phù hợp với hương vị riêng.

    – Tổng hoà nhiều chất, nhiều vị

    Các món ăn Việt Nam thường bao gồm nhiều lọai thực phẩm như thịt,

    tôm, cua cùng với các loại rau, đậu, gạo. Ngoài ra còn có sự tổng hợp của nhiều

    vị như chua, cay, mặn, ngọt, bùi béo…

    – Ngon và lành

    Ngon lành là cụm từ thể hiện tinh thần ăn uống của người Việt. Ẩm thực

    Việt Nam chính là sự kết hợp giữa các món, các vị lại để tạo nên nét đặc trưng

    riêng. Những thực phẩm mát như thịt vịt, ốc thường được chế biến kèm với các

    gia vị ấm nóng như gừng, rau răm… Đó là cách cân bằng âm dương rất thú vị,

    chỉ có người Việt Nam mới có…

    – Dùng đũa

    Gắp là một nghệ thuật, phải gắp sao cho khéo, cho chặt đừng để rơi thức

    ăn… Đôi đũa Việt có mặt trong mọi bữa cơm gia đình, ngay cả khi quay

    nướng, người Việt cũng ít dùng dĩa để xiên thức ăn như người phương Tây.

    – Cộng đồng

    Tính cộng đồng thể hiện rất rõ trong ẩm thực Việt Nam, bao giờ trong

    bữa cơm cũng có bát nước mắm chấm chung, hoặc múc riêng ra từng bát nhỏ

    từ bát chung ấy.

    3

    -Hiếu khách

    Người Việt có thói quen mời trước khi ăn. Lời mời thể hiện sự giao

    thiệp, tình cảm, hiếu khách, mối quan tâm trân trọng người khác…

    – Dọn thành mâm

    Người Việt có thói quen dọn sẵn thành mâm, dọn nhiều món ăn trong

    một bữa lên cùng một lúc chứ không như phương Tây ăn món nào mới mang

    món đó ra.

    2

    NHỮNG CÂU CA DAO TỤC NGỮ GIỚI THIỆU VỀ VÙNG

    NGUYÊN LIỆU VÀ NGHỆ THUẬT GIAO TIẾP ỨNG XỬ CỦA

    CON NGƯỜI VIỆT NAM THÔNG QUA ĂN UỐNG

    II.3 Những câu ca dao, tục ngữ giới thiệu về vùng nguyên liệu.

    Việt Nam là một nước nông nghiệp thuộc về xứ nóng, vùng nhiệt đới gió

    mùa.Ngoài ra lãnh thổ Việt Nam được chia ra ba miền rõ rệt là Bắc, Trung,

    Nam. Chính các đặc điểm về địa lý, văn hóa, dân tộc, khí hậu đã quy định

    những đặc điểm riêng của ẩm thực từng vùng – miền. Mỗi miền có một nét,

    khẩu vị đặc trưng. Điều đó góp phần làm ẩm thực Việt Nam phong phú, đa

    dạng. Đây là một văn hóa ăn uống sử dụng rất nhiều loại rau (luộc, xào, làm

    dưa, ăn sống); nhiều loại nước canh đặc biệt là canh chua, trong khi đó số

    lượng các món ăn có dinh dưỡng từ động vật thường ít hơn. Những loại thịt

    được dùng phổ biến nhất là thịt lợn, bò, gà, ngan, vịt, các loại tôm, cá, cua, ốc,

    hến, trai, sò v.v. Những món ăn chế biến từ những loại thịt ít thông dụng hơn

    như thịt chó, thịt dê, thịt rùa, thịt rắn, thịt ba ba… thường không phải là nguồn

    thịt chính, nhiều khi được coi là đặc sản và chỉ được sử dụng trong một dịp liên

    hoan nào đó với rượu uống kèm. Người Việt cũng có một số món ăn chay theo

    đạo Phật được chế biến từ các loại thực vật, không có nguồn thực phẩm từ động

    vật. Tuy nhiên, trong cộng đồng thì lại có rất ít người ăn chay trường, chỉ có

    các sư sãi trong các chùa hoặc người bị bệnh nặng buộc phải ăn kiêng.

    *) Có 3 vùng nguyên liệu.

    4

    II.3.1 Ẩm thực miền Bắc

    Là một khu vực nằm ở địa đầu Tổ quốc, miền Bắc có nguồn tài nguyên

    thiên nhiên độc đáo và đa dạng. Đất nông nghiệp là nguồn tài nguyên cơ bản

    của vùng, do phù sa của hệ thống Sông Hồng và Sông Thái Bình bồi đắp. Diện

    tích này dùng để trồng cây ngắn ngày như lúa, hoa màu lương thực, cây công

    nghiệp hàng năm. Diện tích này tiếp tục được mở rộng ra biển với các biện

    pháp quai đê, lấn biển, thực hiện phương thức ” lúa lấn cói, cói lấn sú, vẹt, sú

    lấn biển”.

    Đặc trưng khí hậu của vùng là có một mùa đông lạnh, từ tháng 11 đến

    tháng 4 năm sau, và có tiết mưa phùn trong mùa khô. Đó là điều kiện hết sức

    thuận lợi cho việc tăng vụ trong năm: vụ đông với các cây ưa lạnh, vụ xuân, vụ

    hè thu, vụ mùa.

    Mạng lưới sông ngòi trong vùng tương đối phát triển. Ở vị trí hạ lưu

    sông Hồng và sông Thái Bình với nhiều chi lưu nên vùng có một mạng lưới

    sông tương đối dày đặc.

    Trong nỗi nhớ thương sâu đậm quê hương, chứa đựng cái tình quyến

    luyến mặn nồng những món ăn địa phương, hợp với khẩu vị người từng vùng,

    người miền Nam thấy món canh chua cá lóc thích khẩu cũng như người miền

    Bắc tha thiết với món thịt nấu đông trong ba ngày Tết. Cho nên, đồng bào miền

    Bắc khi lìa làng mạc chẳng đã than thở

    Ra đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai giãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường đêm nao…

    Nào những món ăn cố hữu, nào cảnh, nào người đúc lại, rồi cô đọng

    thành hình ảnh lưu luyến nặng niềm nhớ quê hương.

    ” Ai chẳng nhớ cháo làng Ghề

    Nhớ cơm phố Mía, nhớ chè Đông Viên

    5

    Ở đất Bắc, ai lại không nhớ mãi hương vị đặc biệt :

    “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần

    nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét”

    Ca dao đã ca tụng những vùng đặc sản rau của Hà Nội. Đó là vùng Kẻ

    Láng, Kẻ chợ ngày xưa :

    “…Đi đâu mà chả biết ta

    Ta ở Kẻ Láng vốn nhà trồng rau

    Rau thơm, rau húng, rau mùi,

    Thì là, cải cúc, đủ mùi hành hoa

    Mồng tơi, mướp đắng, ớt, cà,

    Bí đao, đậu ván vốn nhà trồng nên.”

    ” Dưa la húng Láng, nem Báng, tương Bần

    Nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét”

    Rau được trồng ở vườn, song trong vườn lại còn có nhiều loại cây ăn quả

    như nhãn, hồng, bưởi, cau, sung…những loại cây này đều đã đi vào ca dao tục

    ngữ:

    “Ớt cay là ớt Định Công

    Nhãn ngon là loại nhãn lồng làng Quang

    Ai về ăn ổi Đinh Quang

    Ăn ớt Vĩnh Thạnh ăn măng Truông dài”

    II.3.2 Ẩm thực miền Trung

    Mảnh đất miền Trung vốn cằn cỗi là thế và cũng không được thiên nhiên

    ưu ái như các vùng đất khác, chính vì vậy, con người nơi đây luôn biết trân

    trọng và biến những sản vật tuyệt vời đó thành những món ăn mang những

    hương vị rất riêng, mà ai đã một lần thưởng thức nó sẽ không thể nào quên.

    Đồ ăn miền Trung với tất cả tính chất đặc sắc của nó thể hiện qua hương

    vị riêng biệt nhiều món ăn cay và mặn hơn đồ ăn miền Bắc và miền Nam, màu

    sắc được phối trộn phong phú, rực rỡ thiên về màu đỏ và nâu sậm.

    6

    Xứ Thanh : Những thực phẩm như cá mè sông Mực (Nông Cống) rất

    béo đến nỗi dân quê phải ao ước trầm trồ :

    ” Cá mè sông Mực chấm với nước măm Do Xuyên

    Chết xuống âm phủ còn muốn trở viền (về) mút xương”

    Ẩm thực Xứ Nghệ đậm đà, mộc mạc, như tính cách người Xứ Nghệ.

    Người Xứ Nghệ tuy mang vẻ ngoài thô kệch, quê mùa, nhưng tâm hồn lãng

    mạn, nên hương vị ẩm thực Xứ Nghệ cũng thi vị như tâm hồn người Xứ

    Nghệ.Thi vị của Ẩm thực Xứ Nghệ người đời không thể không công nhận, vì

    từ rất lâu, nó đã gắn liền với ca dao:

    ” Nhà Từa rau vác, Giao tác cà ngải, Phúc hải bền môn”.

    Đây là ba thứ rau cà nổi tiếng của ba thôn được nhắc đến một cách vần

    vè để nói về những bữa ăn kham khổ của dân lao động.

    ” Cá rô bầu nón kho với nước tương Nam Đàn

    Gạo tháng mười đánh tràn không biết no”

    “Nhứt Thanh Chương tương Nam Đàn”

    Quả tình món nhứt mới là món thực phẩm của xứ Nghệ cũng chỉ là loại

    dưa muối chua mà thôi, nhưng nguyên liệu chủ yếu là mít non. Nhút này phải

    chấm với tương Nam Đàn mới thực là đúng vị.

    ” Quê ta mía ngọt Nam Đàn

    Bùi khoai chợ Rộ, thơm cam Xã Đoài

    Họ nói đến sản vật quê hương là để tỏ niềm tự hào với của cải tự nhiên,

    với vật phẩm dồi dào, với đời sống tất nập.Nhà cách mạng Hồ Chí Minh nửa

    đời buôn ba khắp thế giới, không bao giờ quên được không khí và cảnh sắc quê

    mình.

    “Sa Nam trên chợ dưới đò

    Bánh đúc hai dãy, thịt bò mê thiên”

    Xứ Quảng:

    7

    ” Đường về phố Hội còn xa

    Trên trăng, dưới nước, còn ta …với mỳ!”

    Khi mỳ Quảng gắn với sông nước lênh đênh thì còn được gọi ” mỳ ghe”,

    đơn giản là người bán trên ghe phục vụ cho khách đi thuyền trên bến sông nào

    đó. Các bến đò dọc sông Vu Gia, Thu Bồn … nơi nào cũng có “mỳ ghe” mãi

    mãi là nỗi nhớ của những người con xứ Quảng xa quê. Hình ảnh đó đã đi vào

    ca dao:

    ” Thương nhau cho bát chè xanh

    Làm tô mỳ Quảng mời anh xơi cùng”

    Ăn 1 tô mỳ Quảng xong, phải uống 1 bát chè xanh Tiên Phước thì sướng

    đến mê tơi.

    ” Ẳm em đi dạo vườn cà

    Trái non ăn mắm trái già làm dưa

    Làm dưa ba bữa dưa chua

    Gửi về cho mẹ làm dưa tốn tiền”.

    Ở miền Trung người ta hay muối cà, muối rau không chỉ làm dưa mà còn

    làm mắm.

    ” Lửa gần rơm như cơm gần mắm

    Ăn cơm mắm thấm về lâu

    Cá bống kho tiêu cá thiều kho nghệ”.

    Bước vào miền Trung cổ kính, ca dao Việt Nam sẽ giúp chúng ta thưởng

    thức những món ăn của xứ Cố Đô:

    Yến sào Vĩnh Sơn.

    Cua gạch Quảng Khê

    Sò nghêu Quan Hà

    Rượu dâu Thuần Ly.ù

    8

    Những ân tình hình như bị bỏ quên mỗi khi nhắc đến món rượu dâu rừng

    có vị chua chua, ngọt ngọt của miền Trung. Biết bao chàng trai đắm say men

    rượu thay men tình:

    “Mang

    bầu

    đến

    quán

    rượu

    dâu.

    Say sưa quên biết những câu ân tình.”

    Xứ Huế, đất Đế Đô, đất Thần Kinh không làm sao bỏ quên những câu ca dao

    bất hủ của các món như:

    “Ốc gạo Thanh Hà

    Thơm rượu Hà Trung.

    Mắm ruốc Cửa Tùng.

    Mắm nêm Chợ Sãi.”

    Các món ăn theo ca dao cùng nhau vượt núi, vượt đèo Hải Vân:

    “Nem chả Hòa Vang.

    Bánh tổ Hội An.

    Khoai lang Trà Kiêu.

    Thơm rượu Tam Kỳ.”

    Với đồi núi cao ngất, biển cả mênh mông, ca dao Việt Nam lại mang

    những món hải sản để trao đổi với những rau trái:

    “Ai về nhắn với họ nguồn.

    Mít non gửi xuống cá nguồn gửi lên.

    Măng giang nấu với ngạch nguồn.

    Đến đây nên phải bán buồn cho vui.

    Cá nục nấu với dưa hường.

    Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi.

    Thương em vì cá trích vè.

    Vì rau muống luộc, vì mè trộn măng.”

    Ca dao ngọt ngào hương vị khi về tới xứ Quảng, Qui Nhơn:

    9

    “Kẹo gương Thu Xà

    Mạch nha Thi Phổ.

    Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi.”

    Ca dao qua các món sơn hào, hải vị khi bước vào Khánh Hòa:

    “Yến sào Hòn Nôi.

    Vịt lội Ninh Hòa.

    Tôm hùm Bình Ba.

    Sò huyết Cam Ranh.

    Nai khô Diên Khánh.”

    Thêm vào những món ăn của miền Trung qua ca dao Việt Nam còn có

    các món gỏi:

    Chi ngon bằng gỏi cá nhồng.

    Chi vui bằng được tin chồng vinh qui.

    Trên non túc một hồi còi,

    Thương con nhớ vợ, quan đòi phải đi.

    Không đi thì sợ quan đòi.

    Đi ra thì nhớ cá mòi nấu măng.

    II.3.3 Ẩm thực miền Nam

    Nam Bộ là khu vực phía cực nam của Việt Nam Địa hình trên toàn vùng

    Nam Bộ khá bằng phẳng, phía tây giáp Vịnh Thái Lan, phía đông và Đông

    Nam giáp biển Đông, phía bắc và tây bắc giáp Campuchia và một phần phía tây

    bắc giáp Nam Trung Bộ.

    Nam Bộ nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa và

    cận xích đạo, nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài,

    nhiệt độ và tổng tích ôn cao.Biên độ nhiệt ngày đêm giữa các tháng trong năm

    thấp và ôn hòa. Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng từ 80 – 82%.Khí hậu hình

    thành trên hai mùa chủ yếu quanh năm là mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa từ

    10

    tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4. Về mùa vụ sản xuất có

    khác với khu vực Đồng bằng Bắc Bộ.

    ” Biên Hòa có bưởi Thanh Trà

    Thủ Đức nem nướng Điện Bà Tây Ninh

    Bánh tráng Mỹ Long, bánh phồng Sơn Đuốc”.

    “Ba phen quạ nói với diều.

    Cù lao Ông chưởng có nhiều cá tôm.

    Tháng tư cơm gói ra Hòn.

    Muốn ăn trứng Nhạn phải lòn hang Mai.”

    Ca dao không những qua thực đơn mà còn có những điệu hò ru con của

    các bà, các mẹ:

    “Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng.

    Về sông ăn cá về đồng ăn cua.

    Ví bằng con cá nấu canh.

    Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm”

    Ca dao còn giúp những món rau cải được tăng thêm sư thèm muốn cho

    người dùng:

    “Mẹ mong gả thiếp về vườn.

    Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.

    Khoan khoan mổ một con gà

    Bí đao xắt nhỏ, tiêu cà bỏ vô.”

    Cũng như các ông thường thèm chút rượu đi đôi với:

    “Đốt than nướng cá cho vàng.

    Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi.

    Bậu ra bậu lấy ông câu.

    Bậu câu cá bống chặt đầu kho tiêu.

    Kho tiêu, kho ớt, kho hành.

    11

    Kho ba lượng thịt để dành mà ăn…”

    Qua những lời ca dao ngọt ngào đậm chất trữ tình chúng ta có thể thấy

    được sự phong phú và đa dạng trong cách sử dụng nguyên liệu, cách ăn của ẩm

    thực 3 miền. Mỗi 1 vùng miền có 1 nét riêng thể hiện đậm chất con người và

    văn hóa Việt Nam.

    *) Phân loại theo gia vị.

    Ẩm thực Việt Nam đặc trưng với sự trung dung trong cách pha trộn

    nguyên liệu không quá cay, quá ngọt hay quá béo. Các nguyên liệu phụ (gia vị)

    để chế biến món ăn Việt Nam vô cùng phong phú, bao gồm:

    *

    Nhiều loại rau thơm như húng thơm, tía tô, kinh giới, hành, thìa

    là, mùi tàu v.v.;

    *

    Gia vị thực vật như ớt, hạt tiêu, sả, hẹ, tỏi, gừng, chanh quả hoặc lá

    *

    Gia vị lên men như mẻ, mắm tôm, bỗng rượu, dấm thanh hoặc kẹo

    non;

    đắng, nước cốt dừa…

    Khi thưởng thức các món ăn, tính chất phối trộn nguyên liệu một cách

    tổng hợp nói trên càng trở nên rõ nét hơn: người Việt ít khi ăn món nào riêng

    biệt, thưởng thức từng món, mà một bữa ăn thường là sự tổng hòa các món ăn

    từ đầu đến cuối bữa. Một nét đặc biệt khác của ẩm thực Việt Nam mà các nước

    khác, nhất là nước phương Tây không có chính là gia vị nước mắm. Nước mắm

    được sử dụng thường xuyên trong hầu hết các món ăn của người Việt. Ngoài ra

    còn có các loại nước chấm như tương bần, xì dầu (làm từ đậu nành). Bát nước

    mắm dùng chung trên mâm cơm, từ xưa đến nay làm khẩu vị đậm đà hơn, món

    ăn có hương vị đặc trưng hơn và biểu thị tính cộng đồng gắn bó của người Việt

    Mắm là một món ăn mang đầy tính… thách thức, ai có can đảm

    mới dám làm bạn với mắm để mà gắn bó với nó suốt đời. Vì vậy, không có gì

    lạ khi thứ thực phẩm “nặng mùi” này đi liền với… tình nghĩa vợ chồng, từ thuở

    tóc còn xanh, mới xây tổ uyên ương đã nghe sực nức cái mùi “độc chiêu”:

    12

    “Nước chanh giấy hòa vào mắm mực

    Rau mũi viết lộn trộn giấm son

    Bốn mùi hiệp lại càng ngon

    Như qua với bậu, chẳng còn cách xa”

    Hay là mùi mẫn hơn:

    “Mắm cua chấm với đọt vừng

    Họ xa mặc họ, ta đừng bỏ nhau.”

    Cho đến khi răng long đầu bạc chống gậy lụm cụm, mà bạn tôi gọi là

    “đôi bóng nhỏ đi vào… Thiên Thai” thì mắm là cái tình chung thủy có mùi vị

    rất đời và khó tả

    ” Con cá làm nên con mắm

    Vợ chồng nghèo thương lắm mình ơi”

    Các cô chưa chồng mà còn kén bị so sánh với hũ mắm để lâu trong nhà

    “Liệu cơm mà gắp mắm ra

    Liệu cửa liệu nhà, em lấy chồng đi.”

    “Trai ba mươi tuổi đang xinh

    Gái ba mươi tuổi như chình mắm nêm”

    Đừng sợ, mắm là mặt hàng dự trữ lâu, không sợ thiu. Nhiều chàng coi bộ

    cũng ưa mấy cái hũ mắm hơn mấy cô non tơ nheo nhẻo trên thị thành

    “Muốn làm kiểng lấy gái Sài Gòn

    Muốn ăn mắm cái, lấy gái đen giòn Bạc Liêu.”

    “Anh than cha mẹ anh nghèo

    Đũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum”

    Thì ra mắm cũng có thứ sang trọng, đắt tiền khiến cho mấy anh với

    không tới, chớ đừng làm bộ chê. Dầu mình có lớn tuổi hơn thì hũ mắm cũng

    vẫn có người mơ :

    “Mắm ruốc trộn lẫn mắm nêm

    Ban ngày kêu chị, ban đêm kêu mình.”

    13

    Vả lại, mấy ảnh cũng đi cưới vợ bằng mắm, chớ có chi lạ:

    “Tiếng đồn con gái Phú Yên

    Ghe anh đi cưới một thiên mắm mòi

    Không tin giở thử lên coi

    Rau răm ở dưới, mắm mòi ở trên.”

    Ai biểu đi cưới vợ bằng mắm, đến khi chung sống rồi thì hũ mắm cũng

    làm khổ đời trai

    “Em còn bánh đúc bẻ ba

    Mắm tôm quệt ngược, cửa nhà anh tan”

    Mắm tôm là thứ gia vị mặn mà của nhiều món ăn phía bắc, tại sao người

    ta lại thường ví nó với sự bất hòa, thô kệch:

    “Vợ chồng ta bánh đa bánh đúc

    Vợ chồng nó… một cục mắm tôm”

    Mắm là sự dầm ấm trong gia đình:

    “Giàu thì thịt cá bĩ bàng

    Nghèo thì cơm mắm lại càng thấm lâu”

    II.4

    Những câu ca dao, tục ngữ thể hiện nghệ thuật ứng xử trong

    ăn uống của người Việt Nam.

    2.2.1. Trong phạm vi cộng đồng

    Việc ứng xử khi ăn uống trong cộng đồng người Việt được đặt ra 1 cách

    nghiêm ngặt. Dân gian có câu: ” miếng ăn quá khẩu thành tàn” để chỉ rõ cái sự

    ăn nếu không được giáo dục cẩn thận sẽ bị người đời chê cười.

    Nếu trong ăn uống ở gia đình trọng thực tức là bảo đảm nhu cầu dinh

    dưỡng được đưa lên hang đầu thì mục đích ăn uống nơi đình đám không hoàn

    toàn như vậy. Tác giả Trần Từ cho rằng : mục đích của nó là bữa cơm cộng

    cảm. Dụng cụ trong đình đám , lễ hội cũng khác thứ dùng hàng ngày. Chẳng

    hạn, mâm phải là mâm thau hoặc mâm gỗ sơn, dùng đũa sơn, bát đĩa men,

    thùng đựng cơm bằng gỗ tiện sơn son.

    14

    ” Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”

    Ở đây không chỉ nói về chuyện ăn đủ mà quan trọng hơn là cái miếng ăn

    ấy biểu trưng cho địa vị của mỗi người.

    ” Một miếng khi đói bằng một gói khi no”

    Không chỉ bao hàm nghĩa đùm bọc, đỡ đần nhau trong hoạn nạn mà còn

    phản ánh sự chia sẻ thức ăn.

    ” Ăn cá nhả xương

    Ăn đường nuốt chậm”

    Cá là loại động vật nhiều xương vì thế ăn quá vội sẽ dễ bị hóc, còn

    đường là loại gia vị chế biến từ thực vật dễ tan trong nước, nếu ăn từ từ thì mới

    cảm nhận được vị thơm ngọt của nó. Nghĩa đen của nó thật dễ hiểu nhưng

    nghĩa bóng của nó còn truyền tải hiệu quả hơn nhiều.Câu này khuyên người ra

    nên linh động trong mọi việc có cách ứng xử phù hợp với hoàn cảnh, có vứt bỏ

    những khó khăn, căng thẳng thì mới thưởng thức được những cái vui của cuộc

    sống.

    “Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối”.

    Có thể hiểu ăn mặn ăn chay chỉ là vẻ bề ngoài, hay cách ứng xử của con

    người, còn nói ngay nói dối là bên trong, tức là đạo đứa của con người cần phải

    giữ gìn. Câu tục ngữ này truyền tải ý nghĩa đả kích những người thích giả đạo

    đức ngoài mặt mà tâm địa đen tối, nham hiểm, làm những việc ngoài mặt trái

    với tâm địa của mình.

    ” Ăn một miếng tiếng một đời”

    Con người tất phải ăn nhưng là loại động vật thượng đẳng nên goài

    miếng ăn là vật chất ra còn phải lưu ý tới tinh thần tức danh dự, nhân phẩm.

    Tuy nhiên cũng không ít người sẵn sàng lao vào tranh đoạt miếng ăn mà bỏ qua

    tư cách của mình vì vậy thành ngữ có câu:

    ” Miếng ăn là miếng tồi tàn”

    15

    Sử dụng 2 từ “ăn” là vật chất, “miếng” là tinh thần. Câu ca chê trách

    những người chỉ biết ăn mà quên đi phẩm giá.

    ” Ăn ốc nói mò”

    Câu tục ngữ chê trách những người không biết được nguyên nhân sự việc

    nào đó mà sự dụng trí tưởng tượng của mình đoán già đoán non rồi đưa ra kết

    luận khiến sự việc sai lệch đi.

    ” Ăn tùy nơi tùy chốn”

    Đây là một triết lý nhân sinh sâu sắc của người xưa đúc kết thành tục

    ngữ, nhằm khuyên bảo người ta nên ứng xử phù hợp với hoàn cảnh, tùy nơi tùy

    lúc.

    ” Ăn không lo của kho cũng hết”

    Con người bắt buộc phải để ăn để sống, để bồi bổ cho sức lực đã mất đi

    do lao động nhưng nếu ăn mà không làm việc thì biết lấy đâu ra mà ăn? Vì vậy

    nếu chỉ biết ăn mà không biết làm, không biết lo lắng, cân bằng giữa làm và ăn

    thì của cải bao nhiêu cũng hết. Cũng với ý nghĩa này, kho tàng tục ngữ có câu:

    ” Miếng ăn mấy núi cũng lở”

    Tuy không thể nhắc nhở đến việc phải lo toan nhưng rất tự nhiên khiến

    người ta phải tính toán, sắp xếp.

    Ngoài ra, kho tàng ca dao tục ngữ của ta còn có nhiều câu khuyên răn,

    nhắc nhở con người ứng xử cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, đạo đức xã

    hội.

    ” Ăn bát cơm dẻo nhớ nẻo đường đi”

    ” Ăn miếng chả trả miếng nem”

    ” Ăn ngay nói thật mọi tật mọi lành”

    ” Ăn nên đọi nói lên lời”

    ” Ăn nhạt mới biết thương đến mèo”

    ” Ăn no tức bụng”

    ” Ăn ớt sụt suỵt ăn ớt ghê răng”

    16

    ” Ăn quả chín dành quả xanh”

    ” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

    ” Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay dần sàng”

    ” Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng”

    ” Ăn theo thưở ở theo thì”

    ” Ăn phải mùi chùi phải sạch”

    ” Ăn quả vả trả quả sung”

    ” Ăn ráy ngứa miệng”

    ” Ăn tám lạng trả nửa cân”

    ” Ăn thì mau chán, việc cần thì đủng đỉnh”

    ” Ăn lắm không biết miếng ngon

    Nói lắm sẽ hết lời khôn hóa rồ”

    ” Miếng ăn là miếng nhục”

    ” Cơm ăn chẳng hết thì treo

    Việc làm chẳng hết thì kêu láng giềng”

    ” Cơm ăn mỗi bữa một lung

    Hơi đâu mà giận người dưng thêm gầy”

    2.2.2 Cách ứng xử trong gia đình.

    Cung cách ứng xử trong gia đình của người Việt biểu hiện lõ nhất qua 2

    bữa cơm chính. Đây là 2 bữa mà mọi thành viên trong gia đình đều tề tựu đông

    đủ.

    ” Người ăn không bực bằng người trực nồi cơm”

    Câu nói này ở mức độ nào đó cũng phản ánh khía cạnh trên. Mọi người

    gắng chờ đủ nhau trước khi ăn. Nếu nhà ít người và cũng không phong kiến thì

    tất cả ngồi quay quanh 1 mâm cơm. Vị trí đặt mâm cũng tùy từng nhà hoặc tùy

    theo từng buổi hoặc từng mùa. Nếu bếp rộng rãi người ta đặt ngay mâm cơm ở

    1 gian. Vào mùa đông các gia đình thích ăn cơm trong bếp, đôi khi còn do điều

    kiện khác, có mâm cơm khách đặt trên nhà thì có mâm cơm của vợ con gia chủ

    17

    thường đặt dưới bếp. Có người khách đến thăm lúc đang dùng bữa, vợ con ý tứ

    bưng mâm xuống bếp. Khi trời hè vào bữa tối người ta thích ngồi ăn ở hiên hay

    ngoài sân cho mát.

    Trong bữa ăn ai ngồi đầu nồi thì đánh cơm, ai trẻ nhất trong mâm thì

    phải mời trước, mời lần lượt từ người nhiều tuổi hoặc người có vị trí.

    ” Ăn chậm nhai kĩ “

    Là 1 thói quen của người Việt nói chung đến mức được tổng kết trong 1

    câu tục ngữ ” Nhai kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa” là nhắc nhở đến cung cách ứng

    xử.

    ” Ăn trông nồi ngồi trông hướng”.

    Nồi cơm ở đây là biểu hiện cho văn hóa của người phương Đông. Thông

    thường tùy theo số miệng ăn mà nấu, vì vậy dù có đói đến đâu cũng phải tế nhị

    mà xem xét cơm còn hay không để biết dừng lại nhường cho những người

    khác. Lý luận xưa kia rất nghiêm khắc với tôn ti trật tự, thậm chí còn quy định

    cả chỗ ngồi cho từng người. Vì vậy là người có đầu óc thì phải biết quan sát

    trước khi ngồi xuống, không để phạm sai lầm . Câu tục ngữ này khuyên bảo

    con người ta phải biết quan sát, cân nhắc trước khi muốn thực hành bất cứ việc

    gì, chứ không riêng gì việc ăn uống hay ngồi đúng nơi đúng chỗ.

    *) Những câu ca dao tục ngữ nói về tình cảm của con cái với cha (mẹ).

    Sự phụng dưỡng không đòi hỏi phải cao sang. Cung cách phụng dưỡng

    mới nói lên được lòng hiếu thảo:

    “Anh đi vắng cửa vắng nhà,

    Giường loan gối quế, mẹ già ai nuôi!

    Cá rô anh chặt bỏ đuôi,

    Tôm càng bóc vỏ, anh nuôi mẹ già.”

    “Ba tiền một khứa cá buôi,

    Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già.”

    Người Huế có thêm một cách phụng dưỡng rất địa phương:

    18

    “Tôm rằn lột vỏ, bỏ đuôi,

    Gạo de An-cựu mà nuôi mẹ già.”

    Con cái ăn gì thì cha mẹ già ăn thứ đó, không đòi hỏi phải cao sang. Với

    gia đình bình dân thì cơm với cá là món ăn căn bản cho cha mẹ. Nếu có một

    chút hy sinh quyền lợi căn bản của chính mình, như nhịn phần cơm của mình

    để nuôi cha mẹ, thì lòng hiếu mới trọn vẹn.

    “Đói lòng ăn hột chà là,

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.

    Đói lòng ăn trái ổi non,

    Nhịn cơm nuôi mẹ, cho tròn nghĩa xưa”

    Ngày nay chúng ta vẫn còn tiết kiệm từng miếng ăn, từng mảnh áo, để

    có ít tiền gởi về cho cha mẹ ở nơi xa. Đáng kính thay lòng hiếu thảo của người

    con Việt Nam.

    Lòng hiếu của người bình dân thiết tha, đậm đà và thực tế hơn cảnh cắt

    thịt của mình cho cha mẹ ăn, hay ôm gốc măng mà khóc như trong Nhị thập tứ

    hiếu của Nho gia.

    Nếu phải xa nhà vì công việc làm ăn, người chồng dặn dò người vợ trẻ

    một vài phương cách phụng dưỡng mẹ già thay mình.

    “Liệu mà thờ kính mẹ già,

    Đừng tiếng nặng nhẹ, người ta chê cười.

    Dù no dù đói cho tươi,

    Khoan ăn bớt ngủ, liệu bài lo toan.’

    *) Những câu ca dao tục ngữ nói về tình cảm vợ chồng.

    ” Tay bưng chén muối đĩa gừng

    Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”

    Tình yêu đôi lứa không phải bao giờ cũng hòa thuận, suôn sẻ, có khi

    sóng gió bão bùng, có lúc ấm vui hạnh phúc nhưng cũng có khi thì đắng cay,

    19

    đau khổ. Lấy vị mặn của muối, vị cay của gừng để truyền tải 1 ý nghĩa. Một khi

    đôi trai gái chấp nhận chung sống với nhau thì cũng phải chấp nhận những

    xung đột tình cảm trong quá trình ấy. Dù đắng cay ngọt bùi như thế nào cũng là

    lẽ thường tình, không vì thế mà rời bỏ nhau được. Đây là câu ca dao thể hiện

    được đạo lý phải giữ được lòng chung thủy trong tình yêu vợ chồng bằng

    những món thực vật hàng ngày.

    ” Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”

    Câu nói này thể hiện một cách tinh tế tình cảm vợ chồng. Râu tôm và

    ruột bầu là những thứ người ta hay loại bỏ khi chế biến, nhưng ở câu nói này lại

    là thứ thức ăn “ngon”, bởi lẽ nó chứa đựng tình cảm yêu thương, đồng cam

    cộng khổ của đôi vợ chồng nghèo. Tuy khó khăn nhưng họ vẫn biết đùm bọc

    yêu thương nhau, thế nên những thứ tưởng chừng như không ăn nổi thì họ lại

    “gật đầu” tấm tắc khen ngon. Qua đây, người ta khuyên những đôi vợ chồng

    nên biết cùng nhau vượt qua khó khăn, có thế mới có ngày hạnh phúc, bên nhau

    trọn đời.

    *) Những câu ca dao tục ngữ nói về tình cảm nam nữ.

    ” Ăn cơm hồ sen, uống nước hồ sen

    Anh quen em những thưở đi men trên giường”

    ” Ăn trầu người như chim mắc nhạ

    Uống rượu người như cá mắc câu

    Thương em chẳng nói khi đầu

    Để cho bác mẹ ăn trầu khác nơi

    Đau lòng em lắm, anh ơi

    Riêng em chỉ quyết đợi người lấy thôi”

    20

    ” Ăn chi cho má em hồng

    Gọi chi cho tóc như đồng nước xanh

    Vì chưng ăn miếng trầu xanh

    Cho nên má đỏ tóc xanh đến giờ”

    ” Ăn cơm cũng thấy nghẹn

    Uống nước cũng thấy nghẹn

    Nghe lời em hẹn ra bãi đứng trông

    Biển xanh bát ngát nhìn không thấy người”

    ” Ăn cơm dừa ngồi gốc cây dừa

    Cho em ngồi với cho vừa một đôi”

    ” Ăn cơm ba chén lung lung

    Uống nước cầm chừng, để dạ thương em”

    ” Ăn cà ngồi cạnh vại cà

    Lấy anh thì lấy đến già mới thôi”

    ” Ăn trầu phải mở trầu ra

    Một là thuốc độc, hai là bùa yêu”

    ” Ăn bát cơm trắng nhớ bát cơm lang

    Đường kia nồi nọ dặn em khoan lấy chồng”

    Những câu ca dao tục ngữ này 1 phần thể hiện tình cảm sâu sắc của các

    đôi trai gái đang yêu nhau, 1 phần thể hiện sự tiếc nuối, kém duyên của những

    đôi không đến được với nhau tuy tình cảm đã mặn mà. Phần khác là chê trách,

    phê phán xã hội phong kiến lạc hậu đã không cho họ được kết duyên với nhau,

    khiến họ phải xa lìa nhau, khiến họ đau khổ mà chỉ biết gửi gắm tình cảm vào

    những câu ca ngắn ngủi.

    21

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Nhất Trong Tiểu Thuyết Ngôn Tình
  • Những Câu Nói Hay Và Ý Nghĩa Nhất Về Tình Yêu Bằng Tiếng Anh
  • Tập Hợp Những Câu Nói Hay, Stt Hay Về Sự Lừa Dối Trong Tình Yêu
  • Khám Phá Những Câu Nói Hay Về Mưa Ý Nghĩa Nhất Mọi Thời Đại
  • Top 200 Lời Chúc Đầy Tháng Và Thôi Nôi Bé Yêu Hay Nhất Tháng 9 2022
  • Truyền Thống Văn Hóa Dân Tộc Trong Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Việt Nam.

    --- Bài mới hơn ---

  • Stt Đểu Về Con Gái Độc Và Hay Nhất Trên Facebook
  • Stt Tâm Trạng Tại Sao Cứ Phải Cố Gắng Gượng Cười Và Giả Vờ Mạnh Mẽ Hả Cô Gái ?
  • Những Câu Nói Hay Cảm Động Nhất Về Hạnh Phúc Gia Đình
  • 27 Câu Nói Giúp Bạn Đánh Bật Sự Chần Chừ Và Làm Việc Hiệu Quả Hơn
  • Đôi Dòng Stt Bày Tỏ Cảm Xúc Khi Người Yêu Cũ Có Người Yêu Mới
  • Sau cùng là Tài liệu tham khảo.

    B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.

    CHƯƠNG 1: CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN.

    1.1 Định nghĩa về văn hóa của UNESCO

    Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất trí tuệ và cảm xúc,

    quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội.

    Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương , những lối sống, những quyền cơ

    bản của con người và hệ thống những giá trị những phong tục, tín ngưỡng. Văn hóa đem

    3

    lại cho con người khả năng suy xét về bản thân, chính văn hóa giúp cho chúng ta trở

    thành sinh vật đặc biệt, nhân bản, có lý tính có phê phán và dấn thân một cách có đạo

    lý.Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là

    một phương án chưa hoàn thành, đặt ra để xem xét thành tựu của bản thân, tìm tòi không

    mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo những công trình mới mẻ, vượt trội bản

    thân.

    1.2 Định nghĩa về ngôn ngữ

    Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người,

    phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội. Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và

    ngôn ngữ viết, trong thời đại hiện nay, nó là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn

    hoá giữa các dân tộc. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội, và

    là công cụ tư duy của con người.

    1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa.

    Người ta đã nói rằng ngôn ngữ và văn tự là kết tinh của văn hóa dân tộc, nhờ

    ngôn ngữ và văn tự để được lưu truyền và trong tương lai, nền văn hóa cũng nhờ vào

    ngôn ngữ để phát triển. Sự biến đổi và phát triển ngôn ngữ lại luôn luôn đi song song với

    biến đổi và phát triển văn hóa. Vậy muốn nghiên cứu sâu về văn hóa phải nghiên cứu

    ngôn ngữ, và tất nhiên muốn đi sâu vào ngôn ngữ phải chú tâm đến văn hóa.

    1.4 Khái niệm về thành ngữ, tục ngữ.

    -Thành ngữ là một cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa, nghĩa của

    chúng có tính hình tượng, gợi cảm.

    – Tục ngữ là những câu nói được đúc kết từ kinh nghiệm, luân lí, là những câu nói

    hoàn chỉnh, tục ngữ được coi như một tác phẩm văn học trọn vẹn bởi nó luôn mang ba

    chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ.

    4

    CHƯƠNG 2 . TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG CA DAO,

    TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ.

    1. Truyền thống nhân hậu, đoàn kết.

    Có thể nói nhân hậu, đoàn kết là một trong những truyền thống quý báu nhất của dân tộc

    ta. Khó có một dân tộc nào trên thế giới có ý thức dân tộc mạnh mẽ cùng truyền thống

    đoàn kết như dân tộc ta.Trải qua 4000 năm lịch sử, dân tộc ta từ khi dựng nước đã phải

    giữ nước do đó ý thức dân tộc luôn được đặt lên trên hết, điều này được thể hiện rõ nét

    trong văn hóa nước ta, mà biểu hiện của nó được thể hiện một cách rõ nét trong kho tang

    thành ngữ tục ngữ.

    Thành ngữ tục ngữ ca dao về tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái được thể

    hiện một cách rõ nét qua những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao như:

    – Lá lành đùm lá rách : người có lòng giúp người khác trong cơn khó khăn. Hoạn nạn

    – Chết cả đống còn hơn sống một mình : tinh thần đoàn kết, sống chết có nhau.

    – Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ : tinh thần đoàn kết, đòng cam cộng khổ.

    – Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết : đề cao sức mạnh đoàn kết trong tập thể.

    – Đồng tâm hiệp lực ( đồng sức đồng lòng): cùng một lòng, cùng hợp sức để đạt mục

    tiêu chung

    – Thương người như thể thương thân: tinh thần nhân đạo cao cả, coi trọng giá trị

    con người.

    – Một cây làm chẳng nên non,

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    – Bầu ơi thương lấy bí cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

    – Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước thì thương nhau cùng.

    Chúng ta có lẽ không xa lạ gì với những câu tục ngữ, thành ngữ trên, ông cha ta

    đã sử dụng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ để thể hiện thông điệp của mình. Đây được

    xem như những lời răn dạy, những bài học mà ông cha ta đã đúc kết từ ngàn đời. Những

    “bầu”, những “bí” hay “lá lành”, “lá rách” đều mang ý nghĩa biểu tượng cho con người

    5

    Việt Nam, những đồng bào cùng chung sống trong mái nhà chung. Đất nước Việt Nam

    là một đất nước nhỏ, dân tộc Việt Nam là tổng hòa mối quan hệ của 54 dân tộc anh

    em .Nếu không có sự đoàn kết, tương thân tương ái, đùm bọc lẫn nhau thì dân tộc này,

    đất nước này làm sao có thể có được hòa bình êm ấm, tự do tự chủ.

    Thành ngữ, tục ngữ còn nói lên bài học về lòng nhân hậu vị tha.

    – Có trước có sau: ( Có thủy có chung): Khen người trước sao sau vậy, giữ vẹn tình

    nghĩa với người cũ.

    – Hiền như Bụt: Khen người nào rất hiền lành.

    – Lành như đất: Khen người nào rất hiền lành.

    – Ở hiền gặp lành: Ăn ở tốt với người khác thì lại có người đối xử tốt với mình.

    Khuyên sống hiền lành, nhân hậu thì sẽ gặp điều tốt đẹp may mắn.

    – Uống nước nhớ nguồn: Biết ơn người đã đem lại những điều tốt đẹp cho mình, sống

    có nghĩa có tình, thủy chung.

    – Gan vàng dạ sắt: Khen người chung thủy, không thay lòng đổi dạ.

    – Có trước có sau: ( Có thủy có chung): Khen người trước sao sau vậy, giữ vẹn tình

    nghĩa với người cũ.

    – Một miếng khi đói bằng một gói khi no: Khi người ta cần mà mình giúp thì việc ấy

    có giá trị hơn rất nhiều những gì khi mình cho mà mình cho người ta không cần.

    – Muôn người như một: Mọi người đều đồng ý như nhau, đoàn kết một lòng.

    – Nhường cơm sẻ áo: Nói lên tình cảm thân thiết giữa con người với nhau. Gúp đỡ, san

    sẻ cho nhau lúc gặp khó khăn hoạn nạn.

    Bên cạnh những thành ngữ mang ý nghĩa tốt cũng có không ít thành ngữ phê phán

    những thói xấu của một số người trong xã hội như :

    6

    – Con sâu bỏ rầu nồi canh: Một người làm bậy ảnh hưởng xấu đến cả tập thể.

    – Trâu buộc ghét trâu ăn: Nói những kẻ ghen ghét gièm pha người có quyền lợi hơn

    mình.

    2. Truyền thống trung thực , tự trọng.

    – Cây ngay không sợ chết đứng: Người ngay thẳng chẳng sợ sự gièm pha, bày đặt để

    nói xấu hay chèn ép của kẻ ghen ghét.

    – Chết trong còn hơn sống đục: phương châm cao thượng của người biết tự trọng.

    – Chết vinh còn hơn sống nhục: đồng nghĩa với chết trong còn hơn sống đục.

    – Chết đứng còn hơn sống quỳ: đồng nghĩa với chết trong còn hơn sống đục.

    – Đói cho sạch, rách cho thơm: Dù đói khổ vẫn phải sống trong sạch, lương thiện.

    – Giấy rách phải giữ lấy lề: Dù nghèo đói, khó khăn vẫn phải giữ nền nếp.

    – Thẳng như ruột ngựa: Có lòng dạ ngay thẳng.

    – Tốt danh hơn lành áo: Danh dự thanh danh còn hơn cái vỏ bề ngoài.

    – Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng: Chê người vì một mối lợi nhỏ mà phẩm chất sa

    sút.

    – Đục nước béo cò: phê phán kẻ cơ hội.

    3. Truyền thống biết ơn ,uống nước nhớ nguồn.

    Dân tộc Việt Nam luôn tự hào về truyền thống biết ơn, uống nước nhớ nguồn.

    Truyền thống ấy được thể hiện qua việc biết ơn, kính trọng đấng sinh thành, tôn trọng

    7

    người có lòng giúp đỡ, dìu dắt, dạy bảo ta nên người. Truyền thống ấy được cha mẹ, ông

    bà răn dạy ngay từ thuở còn trong nôi, theo thời gian, truyền thống ấy được bồi đắp, giữ

    gìn rồi trở thành quan niệm sống, lối suy nghĩ, trở thành văn hóa của cả một dân tộc. Từ

    xưa đến nay, tryền thống uống nước nhớ nguồn luôn là niềm tự hào của dân tộc Việt

    Nam, được hun đúc qua nhiều đời, nhiều thế hệ và vẫn luôn vẹn nguyên giá trị cho tới

    ngày nay.

    Tục ngữ, thành ngữ về biết ơn gia đình, tổ tiên và những người có lòng giúp đỡ mình:

    – Ăn quả nhớ người trồng cây: nhớ ơn tổ tiên, ông bà.

    – Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy: nhớ ơn ông bà cha mẹ và người thầy.

    – Uống nước nhớ nguồn: luôn ghi nhớ công ơn, tổ tiên, gốc rễ.

    – Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.

    – Chim có tổ, người có tông:

    – Lá rụng về cội.

    – Ơn trả nghĩa đền : phải biết ơn, ghi nhớ công ơn, đền đáp những người đã giúp đỡ

    mình.

    – Ơn sâu nghĩa nặng : ghi nhớ công ơn những người đã giúp đỡ mình

    – Tiên học lễ, hậu học văn : trước hết phải biết đạo lí, học cách đối nhân xử thế rồi

    sau đó mới học kiến thức.

    – Kính lão, đắc thọ : Tôn trọng, yêu quý người già thì được sống lâu.

    – Kính già, già để tuổi cho.

    – Tối lửa tắt đèn : mối quan hệ thân thuộc giữa hàng xóm, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn.

    Ca dao tục ngữ thể hiện lòng kính trọng người thầy.

    – Không thầy đố mày làm nên.

    – Tôn sư trọng đạo: kính trọng thầy và coi trọng những kiến thức, cái đạo của thầy

    truyền lại, theo nho giáo.

    – Nhất tự vi sư, bán tự vi sư : một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.

    – Một chữ nên thầy: đồng nghĩa với nhất tự vi sư bán tự vi sư.

    – Trọng thầy mới được làm thầy: phải kính trọng thầy thì mới có thể nhận được sự

    8

    kính trọng từ người khác.

    – Tầm sư học đạo: tìm thầy, tìm người giỏi để theo học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 101+ Hình Ảnh Kèm Câu Nói Hay Về Đứa Bạn Thân Sâu Sắc & Ý Nghĩa
  • 30 Lời Chúc Ngủ Ngon Cho Bạn Gái Lãng Mạn Nhất
  • Chùm Stt Thất Vọng Về Đàn Ông, Buồn Não Nề Hay, Sâu Sắc Nhất
  • Tổng Hợp Những Stt Đểu Và Chất Về Tình Yêu
  • 60 Lời Chúc Ngày Của Mẹ Hay, Ý Nghĩa Nhất
  • Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Những Câu Danh Ngôn Bất Hủ
  • {Đọc} Stt Hay Về Sự Thay Đổi Bản Thân Giúp Mình Cố Gắng Nhiều Hơn
  • Stt Hay Về Tình Yêu Buồn Bằng Tiếng Anh Trên Facebook
  • Những Câu Stt Hay Bằng Tiếng Trung Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Từ Ngữ Địa Phương
  • 10:36:14 AM, Sep 07, 2022 * Số lần xem: 854101

    * Cập nhật

    * đăng lúc 11:22:41 AM, Jan 26, 2009 Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam Ca dao là gì?

    Trước hết là Ca dao, là những câu thơ ca dân gian Việt Nam. Được truyền miệng dưới dạng những câu hát không thể một điệu nhất định. Và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc.

    Và đặc biệt hơn đó chính là ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao được hiểu ý nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ ông cha ta để lại.

    Tục ngữ là gì?

    Khác với ca dao, thì tục ngữ lại thể hiện những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian. Về mọi mặt trong cuộc sống như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn…

    Với ý nghĩa ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh thường gieo vần lưng. Và đây cũng là một thể loại văn học dân gian Việt Nam. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn của con người. Trong đó gữa hình thức và nội dung, tục ngữ có một sự gắn bó chặt chẽ. Thông thường trong một câu tục ngữ có 2 nghĩa: nghĩa đen nghĩa bóng.

    Khác với ca dao, tục ngữ thường có vần, gồm 2 loại chính là: vần liềnvần cách.

    Ca Dao Tục Ngữ Phần II từ H tới L Ca Dao Tục Ngữ Phần III từ M tới Y :: ::

    Xin bấm vào các links sau đây để đọc tiếp :

    1. Ai ai cũng tưởng bậu hiền

    A

    Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai

    2. Ai đem con sáo sang song

    Để cho con sáo sổ lồng bay cao

    3. Ai đi bờ đắp một mình

    Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân

    4. Ai đi đâu đấy hỡi ai

    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

    Ai đi muôn dặm non song

    Để ai chứa chất sầu đong vời đầy

    5. Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa

    Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào

    Ai đi sục sịch ngoài hàng rào

    Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa

    6. Ai kêu là rạch, em gọi là song

    Phù sa theo nước chảy mênh mông

    Sông ơi, thấm mát đời con gái

    Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng

    7. Ai làm cho bướm lìa hoa

    Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng

    8. Ai làm Nam Bắc phân kỳ

    Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương

    9. Ai mà nói dối cùng ai

    Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng

    Ai mà nói dối cùng chồng

    Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao

    10. Ai nhứt thì tôi đứng nhì

    Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba

    11. Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

    12. Ai ơi chơi lấy kẻo già

    Măng mọc có lứa người ta có thì

    Chơi xuân kẻo hết xuân đi

    Cái già sòng sọc nó thì theo sau

    Phần I từ A tới G

    100. Áo anh đứt chỉ đường tà

    Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

    B

    Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừBuồn về một nỗi tháng tưCon mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ănBuồn về một nỗi tháng nămChửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêuLựu xa đào, lựu xéo đào xiênVàng cầm trên tay rớt xuống không phiềnChỉ phiền một nỗi nợ với duyên không trònChờ con bạn ngọc thở than đôi lờianh hai vật đổi sao dờiTính sao nàng tính trọn đời thủy chungCanh ba cờ phất trống rungMặc ai ai thẳng ai dùn mặc aiCanh tư hạc đậu cành maiSương sa lác đác khói bay mịt mờCanh chầy tơ tưởng tưởng tơChiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu khôngAi làm lỡ chuyến đò ngangCho loan với phượng đôi hàng biệt ly

    C

    78. Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm

    Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu

    80. Bực mình chẳng muốn nói ra

    Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời

    79. Bước xuống ruộng sâu, em mảng sầu tấc dạ

    75. Bươm bướm mà đậu cành bong

    Đã dê con chị, lại bồng con em

    76. Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng

    Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai

    77. Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng

    73. Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt

    Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon

    74. Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo

    Tay em ôm bó mạ, luỵ ứa hai hàng

    C

    Đi buôn cau héo có buồn hay không

    43. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    VẦN D VẦN Đ

    Đánh bạc quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn vặt quen mồm

    Đánh chết, mà nết không chừa

    Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

    Đàn bà nói có là không

    Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

    Đàn bà tốt tóc thì sang

    Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Đàn kêu tích tịch tình tang

    Ai đem công chúa lên thang mà về

    Đàn ông đi biển có đôi

    Đàn bà đi biển mồ côi một mình

    Đàn ông không râu vô nghì

    Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

    Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ

    Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu

    Rút gươm đâm họng máu trào

    Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

    Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt

    Lửa nhà máy hết cháy thành than

    Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn

    Kể từ khi em biết được chàng

    Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

    Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

    Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang

    Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc

    Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

    Đèn treo ngang quán

    Tỏ rạng bờ kinh

    Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình

    Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

    Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn

    Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

    Đêm khuya ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Đêm khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

    Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng

    Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

    Đêm khuya trăng dọi lầu son

    Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng

    Bển qua đây đàng đã xa đàng

    Dầu tui có lâm nguy thất thế

    Hỏi con bạn vàng nó cứu không?

    Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông

    Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

    Đêm nằm tàu chuối có đôi

    Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

    Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng

    Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài

    Bây giờ chàng đã nghe ai

    Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung

    Bây giờ sự đã nhạt nhùn

    Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua

    Cá lên mặt nước, cá khô

    Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

    Đêm qua nguyệt lặn về Tây

    Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài

    Trúc với mai, mai về trúc nhớ

    Trúc trở về, mai nhớ trúc không

    Bây giờ kẻ Bắc, người Đông

    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

    Đêm thanh cảnh vắng

    Thức trắng năm canh

    Một duyên, hai nợ, ba tình

    Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

    Đến đây đất nước lạ lùng

    Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

    Đến ta mới biết của ta

    Trăm nghìn năm trước biết là của ai

    Đề huề chồng vợ

    Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang

    Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

    Đi chùa lạy Phật cầu chồng

    Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

    Đi đâu cho thiếp theo cùng

    Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

    Đi đâu mà vội mà vàng

    Mà vấp phải đá mà quàng phải dây

    Thủng thỉnh như chúng anh đây

    Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

    Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Đi qua nhà nhỏ

    Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng

    Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

    Đó đây trước lạ sau quen

    Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

    Đói lòng ăn đọt chà là

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

    Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    Đói lòng ăn nửa trái sim

    Uống lưng bát nước đi tìm người thương

    Đói lòng nuốt trái khổ qua

    Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

    Đôi ta chẳng được sum vầy

    Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương

    Vì sương nên núi bạc đầu

    Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

    Đôi ta đã trót lời thề

    Con dao lá trúc đã kề tóc mai

    Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

    Đôi ta như loan với phượng

    Nỡ lòng nào để phượng lià cây

    Muốn cho có đó, có đây

    Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi

    Thà rằng chẳng biết thì thôi

    Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

    Đôi ta như thể con tằm

    Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong

    Đôi ta như thể con ong

    Con quấn con quít, con trong con ngoài

    Đôi ta như thể con bài

    Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

    Đố ai biết luá mấy cây

    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

    Đố ai quét sạch lá rừng

    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

    Rung cây, rung cỗi, rung cành

    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

    Đố ai lặn xuống vực sâu

    Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

    Đố anh con rít mấy chưn

    Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người

    Mấy người bán áo con trai

    Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

    Đốt than nướng cá cho vàng

    Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

    Muốn ăn bôn súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đồng tiền Vạn lịch

    Thích bốn chữ vàng

    Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu

    Bây giờ cô lấy chồng đâủ

    Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

    Đổ lửa than nên vàng lộn trấu

    Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

    Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ

    Anh gặp em đây không cửa không nhà

    Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

    Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

    Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    Đờn cò lên trục kêu vang

    Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng

    Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng

    Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương

    Chiều nay qua phản bạn hồi hương

    Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào

    Ghe tui tới chỗ cắm sào

    Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

    Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá

    Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm

    Anh thấy em tốt mã anh lầm

    Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

    Đưa nhau đổ chén rượu hồng

    Mai sau em có theo chồng đất xa

    Qua đò gõ nhịp chèo ca

    Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

    Đường trơn trợt gượng đi kẻo té

    Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng

    Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi

    Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

    Đứt tay một chút còn đau

    Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

    Đ Đất lành chim đậu.

    E

    VẦN E

    Em có chồng sao em không nói?

    Để anh theo anh chọc em hoài

    Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay!

    Em đeo chiếc kim hườn

    Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến

    Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!

    Em liều một cái bánh bò

    Còn nào chót chét, cặp giò em chặt hai

    Em liều một chén dầu chanh

    Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền

    Em liều một trái sầu giêng

    Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro

    Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi

    Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?

    Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác

    Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?

    Em ơi, anh bảo em này

    Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi

    Em ơi, em có thương anh

    Em ra canh lính cho anh leo tường!

    Em ơi em ở lại nhà

    Vườn dâu em hái mẹ già em thương

    Mẹ già một nắng hai sương

    Chị đi một bước trăm đường xót xa

    Cậy em em ở lại nhà

    Em thấy anh em cũng muốn chào

    Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông

    Em chấy anh em cũng muốn chào

    Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình

    Dao trong mình, gươm anh cặp nách

    Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi

    Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu

    Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi

    Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi

    Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra

    Em về hỏi mẹ cùng cha

    Có cho em lấy chồng xa hay đừng

    Én bay thấp, mưa ngập bờ ao

    Én bay cao, mưa rào lại tạnh

    Em nghe tiếng hát đâu xa

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ê

    Êm như ru

    Ếch ngồi đáy giếng

    VẦN G

    Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng

    Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua

    Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng

    Trai bạc tình một cẳng về quê

    Gái lấy trai đứng là gái dại

    Trai lấy rồi trai lại bán rao

    Gái đâu có thứ hỗn hào

    Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu

    Gà đẻ, gà cục tác

    Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

    Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

    Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi

    Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi

    Saigon vui lắm em ơi

    Lấy chồng về đó một đời sướng thân

    Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất

    Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ

    Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông

    Gẫm xem sự thế nực cười

    Một con cá lội mấy người buông câu

    Gần mực thì đen gần đèn thì sáng

    Gập ghềnh nước chảy qua đèo

    Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng

    Ghe anh đỏ mũi xanh lườn

    Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em

    Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo

    Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em

    Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ

    Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn

    Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời

    Mật đường dù chẳng đi đôi

    Chút hương rớt lại, một đời chưa quên

    Ghe lên ghe xuống dầm dề

    Sao anh không gởi thơ về thăm em?

    Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ

    Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi

    Già thì đặc bí bì bì

    Con gái đương thì rỗng toác toàng toang

    Ngoài xanh trong trắng như ngà

    Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu

    (Đố là gì? – cau dầy)

    Giàu cha giàu mẹ thì ham

    Giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn

    Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa

    Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

    Giàu từ trong trứng giàu ra

    Giàu út ăn, khó út chịu

    Giả đò mua khế bán chanh

    Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn

    Giặc Tây đánh tới Cần Giờ

    Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công

    Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh

    Giấy hồng đơn bán mấy

    Cho anh mua lấy một tờ

    Viết thơ quốc ngữ

    Dán trên trái bưởi

    Thả xuống giang hà

    Bớ cô gánh nước bên bờ

    Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ

    Giận chồng xách gói ra đi

    Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về

    Gieo gió gặp bão

    **************************************

    Toàn bộ từ vần A đến Y

    -B-

    -C-

    Ca Li đi dễ khó về

    Câu nguyên gốc là..nói về những người đi trồng cao su

    Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng, khi về bủng beo

    ================================================== =======

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    ================================================== ========

    Chân cứng đá mềm

    ================================================== ========

    Có chí thì nên

    ================================================== ========

    Cô kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi kéo lại hỏi nhà ở đâu ?

    Nhà tôi ở trước đám dâu

    Ở sau đám cải đầu cầu ngó qua

    Cái câu này còn có khác hơn một tí đó là..

    Đ-

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ếch ngồi đáy giếng

    ================================================== ========

    -G-

    -H-

    -I-

    ================================================== ========

    -K-

    -L-

    -M-

    -N-

    Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ

    ================================================== ========

    Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

    ================================================== ========

    Nhất quỷ nhì ma

    Thứ ba học trò …. )

    ================================================== ========

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    ================================================== ========

    No bụng đói con mắt

    ================================================== ========

    -O-

    Ở đâu cũng có anh hùng

    Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên

    ================================================== ========

    Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

    ================================================== ========

    Ớt nào là ớt chẳng cay,

    Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

    Vôi nào là vôi chẳng nồng

    Gái nào là gái có chồng chẳng ghen !

    ================================================== ========

    Ở hiền gặp lành

    ================================================== ========

    -Q-

    Quả cau nho nhỏ

    Cái vỏ vân vân

    Nay anh học gần

    Mai anh học xa

    Tiền, gạo là của mẹ cha

    Bút nghiên, kinh sách thì là của anh

    Lấy chàng từ thuở mười ba

    Đến năm mười tám thiếp đà năm con

    Ra đường thiếp hãy còn son

    Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng

    ================================================== ========

    -R-

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    ================================================== ========

    -S-

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người

    ================================================== ========

    Sá gì một nải chuối xanh

    Năm bảy người giành cho mủ dính tay

    ================================================== ========

    -T-

    -U-

    ================================================== ========

    -V-

    Vì sông nên phải lụy thuyền

    Chứ như đường liền ai phải lụy ai

    ================================================== ========

    Vải thưa che mắt thánh

    ================================================== ========

    -X-

    ========

    -Y-

    Yêu nhau cởi áo cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

    ========

    Yêu nhau thì ném miếng trầu

    Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra

    Yêu nhau cau bổ làm ba

    Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười

    Xem Thêm Cập nhật 2022:

      Mèo khen mèo dài đuôi.

      N Năm nắng mười mưa

    --- Bài cũ hơn ---

  • 500 Stt Buồn: Hay, Cảm Xúc, Tâm Trạng, Chất Và Độc Đáo Nhất 2022
  • Chia Sẻ Những Stt Hay Về Tình Bạn Trên Facebook Độc Đáo Nhất
  • Tổng Hợp Những Lời Chúc Buổi Tối Ngọt Ngào Nhất
  • Những Lời Chúc Buổi Sáng Ngọt Ngào, Ý Nghĩa Nhất
  • Con Gái Ế Thì Đã Sao?
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Phật Dạy Về 4 Người Bạn Tốt, Không Phải Dễ Tìm
  • Tuyển Tập 40 Dòng Stt Ý Nghĩa & Danh Ngôn Nói Về Con Người Hay
  • Tuyển Tập Danh Ngôn, Những Câu Nói Hay Về Rượu Vang
  • Stt Nhớ Người Yêu, 60+ Status Nhớ Người Yêu Ở Xa Lãng Mạn, Cute
  • 11 Câu Nói Hay Về Tình Yêu Của Người Nổi Tiếng
    • Viết đoạn văn về việc xây dựng gia đình văn hóa

      Giúp mình với !!!

    • Tiêu chuẩn gia đình văn hóa

    • Hô mình với

    • Theo các bạn, thế nào là gia đình văn hóa.

    • Thanh là học sinh trong làng đi học trường huyện. Ngày nào cũng phải đạp xe hàng chục cây số đến trường, nhưng Thanh học rất khá. Bố mẹ rất tự hào về Thanh, cả làng khen ngợi Thanh. Lớp Thanh học toàn con nhà khá giả ở thị trấn, chỉ mỗi mình nó có chiếc xe đạp cà khổ mà các bạn cùng lớp gọi là “lão xe” vì nó đã tróc sơn từng mảng, trông nham nhở. Thanh thấy xấu hổ mỗi lần nhìn chiếc xe tróc sơn, nan hoa vừa to vừa thô đặt cạnh những chiếc mini Nhật, những chiếc xe địa hình đẹp đẽ. Thanh xin bố mẹ mua cho nó xe mới nhưng mẹ bảo nhà mình chưa có tiền, bao giờ tích cóp đủ mẹ sẽ mua cho. Thanh cho rằng bố mẹ không thương mình và giận bố mẹ làm bố mẹ rất buồn phiền, không khí trong gia đình căng thẳng.

      Câu hỏi:

      1/ Vì sao Thanh lại giận bố mẹ?

      2/ Em có đồng tình với việc làm của Thanh không? Vì sao?

      3/ Theo em, Thanh phải làm gì để lấy lại không khí hoà thuận trong gia đình và niềm tin yêu, tự hào của bố mẹ?

    • Mẹ của Linh là một công nhân môi trường đô thị, chuyên cắt tỉa cây cảnh đường phố. Mặc dù rất yêu quý và kính trọng mẹ, nhưng không hiểu sao Linh cứ cảm thấy xấu hổ thế nào ấy, không muốn cho bạn bè biết nghề nghiệp của mẹ. Linh cứ ao ước giá mà mẹ mình có một nghề nghiệp đáng tự hào như bố mẹ các bạn khác. Linh luôn lẩn tránh không gặp mẹ ở ngoài đường, sợ bạn bè tình cờ bắt gặp. Ngay cả khi vô tình nhìn thấy mẹ đang lúi húi tỉa cây, Linh cũng cố tình quay xe tìm đường khác.

      Câu hỏi:

      Em hãy nêu những suy nghĩ của mình về Linh và tự đặt mình vào vị trí của Linh để có cách ứng xử đúng đắn?

    • Thuỷ là con út trong một gia đình công nhân, có cuộc sống tương đối ổn định. Tuy nhiên Thuỷ không bằng lòng với cuộc sống hiện tại của gia đình, thèm khát cuộc sống giàu có, nhà cao cửa rộng, đồ đạc sang trọng, quần áo đúng mốt và chê bố mẹ là nghèo khổ, cổ lỗ. Thuỷ hay so sánh nhà mình với nhà các bạn giàu có trong lớp và ca tụng sự giàu sang của gia đình các bạn đó ngay trước mặt cha mẹ làm cha mẹ Thuỷ rất buồn.

      Câu hỏi:

      1/ Em có tán thành suy nghĩ và hành vi của Thuỷ không? Vì sao?

      2/ Nếu là bạn của Thuỷ, em sẽ góp ý cho Thuỷ như thế nào?

    • Nhiều lần sang nhà Tú chơi, Hồng thấy Tú đang làm việc nhà, khi thì băm bèo, cho lợn ăn, khi thì cọ rửa nồi soong, quét sân… Hồng nói với Tú: “Chúng mình là học sinh, nhiệm vụ của chúng mình là học cho giỏi; học xong, chúng mình phải vui chơi cho khoẻ chứ, việc gì phải làm nhiều như cậu !”.

      Câu hỏi:

      1/ Em có tán thành ý kiến của Hồng không? Vì sao?

      2/ Em sẽ góp ý cho Hồng như thế nào?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Nói Bất Hủ Của 15 Vị Anh Hùng Dân Tộc Qua Các Thời Đại
  • Những Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Cô Giáo, Thầy Giáo Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Có Ai Có Câu Ca Dao+Tục Ngữ Nào Về Lòng Yêu Nước Không ?
  • Những Câu Cap Hay Về Tình Bạn Hài Hước 2022 Đáng Để Bạn Sưu Tầm
  • Những Câu Nói Hay Bằng Tiếng Anh Về Tình Yêu Đẹp & Ý Nghĩa
  • Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập Ca Dao Tuc Ngu Viet Nam Toan Tap Doc
  • 28 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái Dạy Chúng Ta Sống Ở Đời Phải Biết ‘nhường Cơm Sẻ Áo’
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Tự Trọng
  • Xem Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao
  • Ca dao (歌謠) là một từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.
    Nội dung
    Ca dao phản ánh lịch sử: Ca dao lịch sử không phản ánh hiện tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm nhân dân.
    Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống; phản ánh đời sống tình cảm nhân dân; phản ánh đời sống xã hội cũ. Ngoài ra, ca dao còn:
    Chứa đựng tiếng cười trào phúng

    Phân loại

    Đồng dao: là thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em. Đồng dao được chia thành hai loại: loại gắn với công việc của trẻ em, loại gắn với trò chơi của trẻ em.

    Chi chi chành chành

    Cái đanh thổi lửa

    Con ngựa đứt cương

    Ba vương ngũ đế

    Ca dao lao động: là phần lời cốt lõi của dân ca lao động. Những bài ca lao động tồn tại như là một bộ phận của quá trình lao động.

    Trời mưa trời gió đùng đùng

    Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu

    Đem về trồng bí trồng bầu

    Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

    Ca dao ru con: Hát ru có từ lâu đời và rất phổ biến, lời hát ru phần nhiều là những câu ca dao có sẵn.

    Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Ca dao nghi lễ, phong tục: Trong nhiều bài ca tế thần, các yếu tố trữ tình cũng có mặt, cùng với yếu tố hiện thực, chúng biểu hiện sức mạnh của đời sống hiện thực trong các hình thức sinh hoạt tôn giáo trong nhân dân.

    Dập dìu cánh hạc chơi vơi

    Tiễn thuyền Vua Lý đang dời kinh đô

    Khi đi nhớ cậu cùng cô

    Khi về lại nhớ cá rô Tổng Trường

    Ca dao trào phúng, bông đùa

    Lỗ mũi mười tám gánh lông

    Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho

    Đêm nằm thì ngáy o o

    Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà

    Đi chợ thì hay ăn quà

    Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm

    Trên đầu những rác cùng rơm

    Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.

    Ca dao trữ tình.

    Hỡi cô tát nước bên đàng

    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

    Tục ngữ Việt Nam

    Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội. Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là “trí khôn dân gian”. Trí khôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Có thể coi tục ngữ là văn học nói dân gian nên thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội hay hẹp hơn như lời ăn tiếng nói và khuyên răn.

    Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài.

    Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…

    Đa số tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca… Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán.

    Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả.

    Đầu tiên là các bản ghi chép tục ngữ bằng chữ Nôm vào thế kỷ 19 như Nam phong ngữ ngạn thi của Đình Thái, Đại Nam Quốc Túy của Ngô Giáp Đậu…

    Bản ghi tục ngữ bằng chữ quốc ngữ có Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn của Huỳnh Tịnh Của (1897), Tục ngữ cách ngôn của Hàn Thái Dương (1920)…

    Một số bản sưu tập, chú thích nghĩa và dịch tục ngữ Việt Nam sang tiếng Pháp như Tục ngữ An Nam dịch sang tiếng Tây của V. Barbier (Triệu Hoàng Hòa), Đông Tây ngạn ngữ cách ngôn của H. Délétie và Nguyễn Xán (1931)…

    Một số bản khác như Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc (1942), [Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa]] của Minh Hiệu sưu tầm (1970), Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội do Triều Dương sưu tầm và biên soạn (1971), Tục ngữ Thái (1978), Tục ngữ ca dao dân ca của Vũ Ngọc Phan (1956), Tục ngữ Việt Nam của Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Chi (1975)…

    (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tiết Kiêm
  • Tục Ngữ Việt Nam Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Kho Tàng Thành Ngữ Ca Dao Việt Nam Dịch Sang Thành Ngữ Tiếng Anh !
  • Những Miền Quê Xứ Nghệ Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Tướng Cách Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Duyên Nợ Và Lời Phật Dạy Trong Tình Yêu Đáng Suy Ngẫm
  • Duyên Nợ Và Lời Phật Dạy Trong Tình Yêu
  • Cùng Lắng Nghe Lời Phật Dạy Về Duyên Nợ Và Tình Yêu Đáng Suy Ngẫm
  • Những Stt Hay Khi Đăng Ảnh Câu Like Được Yêu Thích 2022
  • Khái Quát Chung Về Định Danh Ngôn Ngữ
  • LTS: Chỉ ra các sai sót chủ yếu trong phần Tục ngữ của cuốn sách Ca dao tục ngữ Việt Nam do Phương Thu sưu tầm và biên soạn được Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2004, tác giả Trần Sơn đã có bài viết chia sẻ.

    Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả bài viết.

    Ở bài viết này, người viết xin được chỉ ra các sai sót chủ yếu trong phần Tục ngữ của cuốn sách.

    Trong phần này, do sơ suất từ khâu biên soạn, biên tập và in ấn đã có hàng chục câu tục ngữ sai với các kiểu sai khác nhau đã làm cho các câu tục ngữ này bị biến dạng, nhiều khi rất vô nghĩa và hài hước.

    Nhầm thơ trong Truyện Kiều thành tục ngữ

    Có một số câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du mà soạn giả Phương Thu lại nhầm thành tục ngữ.

    Đó là câu “Chữ trinh đáng giá ngàn vàng” (trang 40), đây vốn là câu thứ 3095 trong Truyện Kiều; còn câu “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê” (trang 86) là câu thứ 1306 của Truyện Kiều.

    Chữ tác đánh chữ tộ

    Tất nhiên mỗi câu tục ngữ cũng như các thể loại văn học dân gian khác có thể có nhiều dị bản, nhưng trong cuốn sách này rất nhiều câu tục ngữ bị viết sai chứ đó không phải là các dị bản của câu tục ngữ đó.

    Đây là kiểu sai sót phổ biến trong cuốn sách này, không biết là do khâu biên soạn, biên tập hay lỗi đánh máy mà rất nhiều câu trong đó chữ “tác” đánh chữ “tộ” làm cho nhiều câu tục ngữ bị sai nghĩa, thậm chí vô nghĩa.

    Câu “Ăn lấy chắc, mặc lấy bền” bị biến thành câu “Ăn lấy chắc, mặc lấy tiền” (trang 4).

    “Mặc lấy bền” mới có ý nghĩa và tương thích với vế trước của nó là “Ăn lấy chắc”, chứ “mặc lấy tiền” thì có ý nghĩa gì?

    Câu “Xấu mặt xin tương, cả phường cùng húp” được những người làm sách chép thành “Xấu mặt xin tương, cả phường cùng úp” (trang 6). Xin tương là để cùng húp chứ xin tương để cùng úp thì có nghĩa gì?

    Câu “Giàu thủ kho, no nhà bếp” bị biến thành “Giàu chủ kho, no nhà bếp” (trang 7).

    “Chủ kho” thì giàu là tất nhiên rồi, sao cần phải nói nữa; thực ra, từ đúng trong câu tục ngữ này phải là “thủ kho” (người giữ kho). Đây chắc nhìn chữ nọ sọ chữ kia nên hóa sai.

    Câu “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ” được cuốn sách viết thành “Tay làm hàm nhai, tay quay miệng trễ” (trang 15) đã làm cho câu tục ngũ bị sai nghĩa hoàn toàn vì “tay quay” cũng có nghĩa là “tay làm” (quay có nghĩa là hoạt động).

    Vậy “tay làm” mà “miệng trễ” thì mâu thuẫn quá, không hợp với lôgíc trong câu tục ngữ này.

    Câu “Ăn cơm lừa thóc, ăn cóc bỏ gan” bị biến thành câu “Ăn cơm lừa thóc, ăn cỏ bỏ gan” (trang 20).

    Cỏ làm sao có ganmà bỏ? Làm sách tục ngữ kiểu này đúng là quá xem thường độc giả.

    Câu “Ghen vợ, ghen chồng chẳng nồng bằng ghen ăn” được soạn giả chép thành “Ghen vợ, ghen tuồng không nồng bằng miếng ăn” (trang 20).

    Đang nói về “ghen vợ” sao không ghép với “ghen chồng” lại ghép “ghen tuồng”? Đây cũng là kiểu chép nhầm “tác” thành “tộ”.

    Câu “Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống” được cuốn sách viết thành “Tiền vào nhà khó như gió từ nhà trống”.

    “Từ” với “vào” nghĩa khác nhau, vế trước dùng từ “vào” thì vế sau cũng phải dùng từ “vào” mới hợp lôgíc và cấu trúc của câu tục ngữ này.

    Câu “Của chẳng ngon, nhà đông con cũng hết” bị viết sai thành câu “Của chẳng ngon, nhà nhiều con chẳng hết” (trang 42).

    Nghĩa của câu tục ngữ sai này rất không ổn vì nó phi lôgic. Câu tục ngữ này nghĩa hai vế là đối lập nhau, “của chẳng ngon” nhưng “nhà đông con cũng hết” mới hợp lý chứ “của chẳng ngon” nhưng “nhà nhiều con chẳng hết” thì chẳng có ý nghĩa gì.

    Câu “Hùm dữ chẳng nỡ ăn thịt con” bị viết sai thành “Hùm chẳng ăn thịt con” (trang 43).

    Đọc câu tục ngữ sai này nghe như là đang nói về một loài thực vật nào đó chứ không phải nói về con vật.

    Trang 46 có câu “Áo năng may năng nói, người năng tới năng thân”. Áo mà lại biết nói ư? Hay là tác giả đã nhân hóa?

    Hóa ra là lỗi nhầm từ do trông gà hóa cuốc, từ “mới” lại đánh thành từ “nói”, vì câu tục ngữ đó đúng phải là “Áo năng may năng mới, người năng tới năng thân”.

    Vẫn ở trang này, lại có câu “Thua trời một bạn, không bằng thua bạn một ly”. Đọc lên thấy rất lạ, từ xưa nay lấy “bạn” làm đơn vị số lượng để so sánh bao giờ và “bạn” thì làm sao đối được với “ly”.

    Hóa ra, cụm từ “một vạn” được những người làm sách đánh nhầm thành “một bạn”.

    Thực ra câu tục ngữ này còn có một dị bản nữa là “Thua thầy một vạn, không bằng thua bạn một ly”.

    Trang 48 có 2 câu tục ngữ được viết sai: “Tháng giêng rét dài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng ” và “Mồng bảy ngâu ra, mồng ba ngâu”. Thì ra, chữ “tác” đánh chữ “tộ” nên “Bân” viết thành “Bần” , “vào” viết thành “vàng”.

    Trang 49 của cuốn sách lại có câu tục ngữ rất lạ “Sao thì , sao thì ” mặc dù ngay dưới câu này là câu “Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”.

    Vậy là hai câu tục ngữ này “cãi nhau”: một câu nói xuôi, một câu nói ngược. Thực ra, chỉ có câu sau là đúng, câu trước là sai. Đây là lỗi của soạn giả và cả người biên tập.

    Trang 55 có câu “Làm tùy phủ, ngủ tùy chồng”. Đang nói về nơi chốn sao lại nói người, “phủ” thì phải đi với “nhà” chứ, sao lại đi với “chồng”.

    Thực ra, câu tục ngữ đúng là “Ăn tùy chủ, ngủ tùy chồng”. Hóa ra, do nghe từ được, từ mất mà những người làm sách đã nhầm “chủ” thành “phủ”.

    Thực ra, chỉ có câu tục ngữ “Giỏ nhà ai, quai nhà ấy”, vì chỉ có “quai” đi với “giỏ” mới hợp.

    Và, có như vậy mới đảm bảo ý nghĩa và vần của câu tục ngữ chứ không có câu tục ngữ sai như sách đã viết.

    Trang 60 có câu “Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò chạy đi”.

    Trẻ mới có chín tháng thì làm sao mà “chạy đi” được, mà mới “lò dò” thì làm sao mà “chạy đi” được?

    Đây là lỗi kiến thức của soạn giả. Thực ra, phải thay “chạy đi” bằng “biết đi” mới đúng.

    Trang 63 có câu “Để đau chạy thuốc, chẳng tành giải trước thì hơn”. Đọc câu này, độc giả chẳng hiểu “chẳng tành” có nghĩa là gì.

    Hóa ra, những người làm sách nhầm chữ nọ sang chữ kia, “chẳng thà” hóa “chẳng tành”. Đúng là một kiểu làm sách quá ẩu!

    Trang 56 cũng có lỗi tương tự khi sách viết nhầm “hỏng” thành “lỏng” trong câu “Kén quá hóa lỏng“. Đọc câu tục ngữ sai này độc giả không hiểu vì sao “kén quá” lại “hóa lỏng”.

    Câu tục ngữ “Gieo gió gặt bão” bị viết sai thành “gieo gió gặp bão” (trang 113). Đây là câu tục ngữ chỉ quan hệ nhân quả nên “gieo” phải đi với “gặt” mới phù hợp, chứ không thể đi với “gặp”.

    Trang 115 có cuốn sách có câu tục ngữ rất buồn cười ” ăn thì no, co thì ấm”.

    Phải chăng những người làm sách này hiểu câu tục ngữ trên là “kéo nhau đi ăn thì sẽ no và mùa rét năng kéo co thì sẽ ấm”?

    Thực ra, đây là câu tục ngữ rất quen thuộc “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”.

    Làm sách tục ngữ kiểu này đúng là làm hỏng ngôn ngữ, tục ngữ thành “ngữ tục”!

    Câu “Con bò cạp có nọc đằng đuôi” bị chép sai thành “Con bò cọp có nọc ở đuôi” (trang 25).

    Bò là bò, cọp là cọp làm gì có con bò cọp. Hóa ra là lỗi biên tập, lỗi đánh máy ẩu nên “con bò cạp” thành “con bò cọp”.

    Tương tự như trên câu “Trưởng giả còn thiếu trã nấu ăn” bị viết sai thành ” giả còn thiếu nấu ăn”.

    Vì lỗi đánh máy, lỗi chính tả mà câu tục ngữ này thật tối nghĩa, không hiểu nổi.

    Trong phần Tục ngữ, lỗi đánh máy chữ nọ sọ chữ kia, sai chính tả trong cuốn sách còn xuất hiện ở rất nhiều câu tục ngữ nữa như:

    Câu “Vắng trăng có sao, vắng đào có lý” thành “Vầng trăng có sao, vắng đào có lý” (trang 39);

    Câu “Ở góa ba năm lấy chồng buồn ngủ” thành “Ở hóa ba năm lấy chồng buồn ngủ” (trang 37);

    “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” thành “Một tiếng giữa làng, bằng một sàng xó bếp” (trang 34);

    “Lẽ” thành “lẻ” trong câu “Gái phải làm lẻ thà rằng chết trẻ còn hơn” (trang 35);

    “Nhỡ” thành “nhở” trong câu “Đừng tham da trắng tóc dài, đến khi nhở bữa chẳng mài mà ăn” (trang 35);

    “Mặt” thành “mặc” trong câu “Đánh chuông ra mặc, đánh giặc ra tay” (trang 33);

    “Lắt léo” thành “lắc léo” trong câu “Lưỡi không xương nhiều đường lắc léo” (trang 32);

    “Đau” thành “đâu” trong câu “Miếng ngon nhớ lâu, lời đâu nhớ đời”;

    “Phường” thành “phương” trong câu “Buôn có bạn, bán có phương” (trang 18);

    “Trỏ: thành “trò” trong câu “Cho nhau vàng, không bằng trò đàng đi buôn” (trang 18);

    “Xơ” thành “sơ” trong câu “Ăn mít bỏ , ăn cá bỏ lờ” (trang 10).

    Ngoài ra, còn rất nhiều câu khác trong phần Tục ngữ cũng bị in sai như:

    “Hết cơn cực, đến hồi thái lai” (trang 116); “Tắt đèn, ngói cũng như nhà tranh” (trang 116); “Non cao ai đắp mà ” (trang 113); “Con giun lắm cũng ” (trang 109); “Văn , vợ người” (trang 109); “Đi một ngày đàng, học một khôn” (trang 106);

    “Những người mắt nhọ nhem, bởi chưng kiếp trước đĩa đèn không lau” (trang 94); “Đất cứng trồng cây ngả ” (trang 74); “Nhất chơi tiền, nhì tiền” (trang 64); “Ba năm ở với người /Chẳng bằng một lúc đứng gần người khôn” (trang 105).

    Phải chăng vì cuốn sách này không có người sửa bản in (không thấy đề ở cuối sách) nên sách này có rất nhiều lỗi đánh máy và người đánh máy lại là một người nghiệp dư và làm ẩu?

    Râu ông nọ cắm cằm bà kia

    Đây là kiểu sai sót mà soạn giả lấy nửa câu tục ngữ nọ ghép mới nửa câu tục ngữ kia để làm ra câu mới một cách khiên cưỡng, không hợp cả về vần và về nghĩa.

    Câu ” Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại biết đâu mà dò ” (trang 71) lấy phần đầu của câu “Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo” (trang 72) và phần cuối của câu “Người khôn rào trước đón sau, để cho người dại nửa mừng nửa lo” (trang 71) rồi ghép một cách cơ học lại với nhau.

    Câu “Mực mài tròn, mài son đánh giặc” (trang 24) cũng được lắp ghép theo cách tương tự như trên.

    Phần đầu “Mực mài tròn” lấy ở câu “Mực mài tròn, son mài dài”; phần sau “mài son đánh giặc” lấy ở câu “Mài mực ru con, mài son đánh giặc”.

    Đây đúng là cách sáng tác tục ngữ theo kiểu “Râu ông nọ cắm cằm bà kia” điển hình của soạn giả.

    Chẻ một câu tục ngữ làm hai

    Đây có lẽ là lỗi trình bày. Một câu tục ngữ dạng thơ lục bát được trình bày thành 2 dòng nhưng đầu mỗi dòng đều có dấu gạch ngang nên người đọc nhầm tưởng là 2 câu tục ngữ.

    Có hàng chục câu tục ngữ mắc lỗi như vậy kéo dài suốt từ trang 105 đến trang 115.

    – Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

    – Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người (trang 105).

    – Muốn sang thì bắc cầu kiều,

    – Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy (trang 106).

    – Một cây làm chẳng nên non,

    – Ba cây chụm lại nên hòn núi cao (trang 107).

    – Người khôn con mắt đen sì,

    – Người dại con mắt nửa chì nửa thau (trang 108).

    – Nói lời thì giữ lấy lời,

    – Đừng như con bướm đầu rồi lại bay (trang 109).

    – Vàng thì thử lửa thử than,

    – Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời (trang 110).

    – Thứ nhất thì tu tại gia,

    – Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa (trang 112).

    – Khúc sông bên lở bên bồi,

    – Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm (trang 113).

    – Sự đời nghĩ cũng nực cười,

    – Ai ơi đã quyết thì hành.

    – Đã đan thì lận tròn vành mới thôi (trang 115).

    Nhầm thành ngữ, tục ngữ thành ca dao

    Trong phần cuối của cuốn sách (phần Ca dao), trong mục 14. Ca dao đối với giai cấp phong kiến, soạn giả đã đưa hàng trăm câu tục ngữ, thành ngữ vào mục này.

    Vậy là soạn giả không phân biệt rõ được đâu là ca dao, đâu là tục ngữ, thành ngữ.

    Đầu tắt, mặt tối; Thắt lưng, buộc bụng; Cái khó bó cái khôn; Tham buổi giỗ, lỗ buổi cày; Một năm làm nhà, ba năm hết gạo; Ruộng sâu, trâu nái; Hết nạc vạc đến xương;

    Giàu bán chó, khó bán con; Bút sa, gà chết; Miệng quan, trôn trẻ; Được làm vua, thua làm giặc; Nén bạc đâm toạc tờ giấy; Khó giữ đầu, giàu giữ của ;…

    Cuốn sách ca dao tục ngữ Việt Nam có nhiều sai sót này, năm 2010, lại được Nhà xuất bản Thời Đại liên kết với Nhà sách Minh Thắng xuất bản vẫn giữ nguyên mẫu bìa cả trước, cả sau.

    Tuy nhiên, trong cuốn sách mới này vẫn còn hàng câu tục ngữ sai vẫn chưa được sửa chữa như:

    Ăn cơm lừa thóc, ăn bỏ gan; Ở ba năm, lấy chồng buồn ngủ; Giàu kho, no nhà bếp; Mực mài tròn, mài son đánh giặc; Làm tùy , ngủ tùy chồng;

    Áo năng may năng , người năng tới năng thân; Ghen vợ, ghen không nồng bằng miếng ăn; Đánh chuông ra , đánh giặc ra tay; Kén quá hóa ; Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò đi; Để đau chạy thuốc, chẳng giải trước thì hơn…

    Hiện nay trên mạng, một số nhà sách và Facebook vẫn đang rao bán cuốn sách này.

    Để góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, đề nghị các cơ quan chức năng cho kiểm tra và có biện pháp xử lí thích hợp với các đơn vị xuất bản và phát hành.

    Đặc biệt là độc giả cần lựa chọn những cuốn sách được làm một cách nghiêm túc, được ấn hành bởi các nhà xuất bản uy tín.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Quyển Sách Hay Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Đầy Phong Phú Và Sinh Động
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống, Cách Ứng Xử, Giao Tiếp, Kinh Nghiệp Số
  • Những Dòng Stt Tâm Trạng Buồn Chán, Cô Đơn
  • 99 + Stt Hay Về Tình Bạn Thân Đầy Up Những Ý Nghĩa Về Tình Bạn Đẹp
  • Tải Bài Hát Dòng Status Buồn
  • Nguồn Gốc Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc Của Tục Ngữ Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Viết Báo Tường Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • 317. Ca Dao, Tục Ngữ Và Lịch Sử Việt
  • Nét Đẹp Văn Hóa Từ Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Ở Phú Xuyên
  • Tìm Hiểu Về Tết Việt Nam Qua Ca Dao,tục Ngữ
  • Trong cuộc sống, bất cứ điều gì cũng mang thông điệp muốn truyền tải cả. Đối với sinh vật bậc cao như con người, ngôn ngữ được sinh ra bởi nhu cầu trao đổi thông tin và giao tiếp. Một số cảm xúc như yêu, ghét, giận, hờn có thể được hoa mỹ thông qua một số cách thức sử dụng từ ngữ rất đặc biệt. Trong tiếng Việt, hình ảnh những câu ca dao, tục ngữ đã trở nên quá quen thuộc. Chúng chứa đựng dòng chảy của lịch sử qua từng câu từng chữ. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết được ca dao, tục ngữ xuất phát từ đâu trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam.

    Ca dao, tục ngữ là ra đời để người xưa lưu giữ những bài học kinh nghiệm sống của mình cho con cháu. Ca dao, tục ngữ là những câu nói truyền miệng ngắn gọn, có vần điệu và rất dễ nhớ. Ngoài những bài học răn dạy, đôi lúc, ca dao, tục ngữ còn là nơi gửi gắm tình cảm, bày tỏ quan điểm của tầng lớp nhân dân, sĩ phu trước hiện thực xã hội. Đó là lý do lí giải cho việc ca dao, tục ngữ mang dòng chảy lịch sử.

    Thời điểm mà truyền thông chưa phát triển trong xã hội như bây giờ thì ca dao, tục ngữ là một trong những hình thức để truyền thông tin được áp dụng rất rộng rãi. Không phải tất cả các câu tục ngữ, ca dao đều do tầng lớp nhân dân sáng tác mà trong đó có thể do tầng lớn tri thức, cụ thể là những người học Nho nhưng thi cử không đậu đạt để được làm quan. Họ trở thành thầy đồ, thầy thuốc, thầy bói… sống hoà vào cuộc sống của giới bình dân. Vì vậy, một số câu ca dao, tục ngữ cũng mang nét Nho giáo khá đậm đặc như:

    – Thương người như thể thương thân (Gia Huấn Ca của cụ Nguyễn Trãi).

    – Đồ sở khanh (nhân vật trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du).

    – Máu Hoạn Thư (Truyện Kiều).

    – Cô kia tát nước bên đàng, / Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi ? (Từ bài thơ Tiếng Hát Trong Trăng trong tập thơ “Tiếng thông reo” của thi sĩ Bàng bá Lân xuất bản năm 1935).

    Một số câu nói truyền lại kinh nghiệm sống, để răn dạy như:

    – Ở chọn nơi, chơi chọn bạn .

    – Ăn đi trước, lội nước đi sau .

    – Cày sâu tốt lúa.

    – Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.

    – Có công mài sắt, có ngày nên kim .

    – Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Chọn Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca Việt Nam
  • Thơ Ca Về Biển Đảo: Sẵn Sàng Khi Tổ Quốc Gọi Tên!
  • Biển Đảo Trong Tục Ngữ, Ca Dao Ở Hội An
  • Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Về Ngày 20/11 Đầy Đủ Và Ý Nghĩa
  • Danh Sách Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Stt Tổng Hợp Những Câu Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương, Đất Nước
  • Ca Dao Việt Nam Về Chủ Đề Than Thân
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Thơ Chế
  • T rải suốt hơn 2000 năm từ khi du nhập, Phật giáo đã bắt rễ sâu rộng trên mảnh đất Việt Nam, cùng với dân tộc trải qua những thăng trầm lịch sử. Ảnh hưởng của Phật Giáo đối với dân tộc thật sâu đậm. Từ trong tư duy, tình cảm, thể hiện ra trong ngôn ngữ và trong mọi sinh hoạt của cuộc sống.Ở đây chúng tôi muốn nói riêng đến ca dao, tục ngữ, một mảng văn học rất phong phú vô cùng quan trọng, định hình cho văn hóa Việt Nam.

    Mạng hạ, PL 2545, Tân Tỵ 2001

    Lệ Như Thích Trung Hậu

    ĐỌC SÁCH CỦA THẦY TRUNG HẬU

    Ca dao, tục ngữ là gia tài văn hóa của dân tộc. Chúng ta thừa hưởng gia tài đó từ quần chúng, vì quần chúng vừa là người sáng tạo vừa là người lưu giữ bằng cách truyền miệng từ đời này qua đời khác. Một lời thốt ra đây đấy, rồi đồng thanh tương ứng, như thử đó là sự thực của chính lòng mình, như chính mình thốt ra.

    Nói sáng tạo tức là nói cảm hứng. Quần chúng rút cảm hứng tư đâu để sáng tạo? Từ trong sâu thẳm của vốn liếng văn hóa un đúc từ ngàn xưa. Cũng từ trong sâu thẳm đó, sáng tạo bắt gặp hưởng ứng của tập thể, được truy nhận, trút bỏ tính cánh riêng tư cá nhân và biến thành gia tài của tập thể. Từ ngàn xưa, Phật giáo đã tô bồi văn hóa cho đất nước này, đã trở thành văn hóa của dân tộc. Như vậy, tất nhiên Phật giáo đã cung cấp cảm hứng, đã là nguồn cội chính của sáng tạo và truy nhận tập thể trong việc hình thành ca dao tục ngữ. Nhận định có tính cách hiển nhiên này tạo ra hai phản ứng đối nghịch nhau nơi người nghiên cứu về ca dao tục ngữ, vừa hứng khởi vừa nhụt bước. Hứng khởi vì mưa gió thuận hòa như thế giữa Phật giáo và nhân gian, mùa gặt ca dao tục ngữ chắc chắn phải đầy ắp Nhụt bước, vì chính mưa thuận gió hòa đó trong tâm hồn quần chúng khiến cho sự quan sát ảnh hưởng của Phật giáo trong tục ngữ ca dao thành ra phức tạp. Trái cây đang chín trên cành, làm sao phân biệt đâu là cống hiến của đất, đâu là góp phần của phân bón? Tác giả cuốn sách này đã nhụt bước như vậy không phải một lần, ngay từ câu hỏi đầu tiên. Làm sao chọn lựa? Đứng trên tiêu chuẩn nào? Không tiêu chuẩn nào hoàn toàn khách quan cả. Lấy một ví dụ: nhân duyên. Tư tưởng rất bác học này của Phật giáo được dân gian tiếp nhận như một chuyện hiển nhiên trong đời sống thường ngày, như chim hót bướm bay. Trai gái gắn bó với nhau? Nhân duyên. Phụ bạc nhau? Cũng nhân duyên. Hàng trăm câu tục ngữ ca dao như vậy, biết lấy câu nào bỏ câu nào? Lấy ít thì bất công, lấy nhiều thì lạm phát, lấy nửa chừng thì vừa lạm phát vừa bất công. Tình cha nghĩa mẹ là một ví dụ khác. Ở đây vừa có chữ hiếu của Nho giáo vừa có chữ hiếu của Vu Lan. Hai tình cảm trộn lẫn với nhau, tùy lúc phần này đậm hơn phần kia. Làm sao phán đoán khách quan để chọn lựa: đây đậm màu Phật giáo hơn đó? Đã trích câu này sao lại bỏ câu kia? Giống như một tiếng chuông ngân, ai dám quả quyết đâu là lúc ngân nga tan biến hẳn trong không trung? Cũng vậy, những khái niệm ngôn ngữ như phước, đức, tội, nghiệp, phận, số, kiếp … hoặc những hình ảnh, âm thanh như chùa, tượng, hương đèn, hoa sen, chuông mõ … nằm trong rất nhiều thề thốt, ví von, hẹn hò, trách móc giữa trai gái, vợ chồng. Chẳng lẽ nghe tiếng chuông này mà bỏ tiếng chuông kia? Chọn lựa của tác giả quả là ray rứt, bỏ thì thương vương thì tội. Tác giả đành mang tội, đành gánh tội nghiệp trên vai, gánh mọi phê bình chỉ trích mà tác giả biết trước. Bù lại, người đọc tha hồ thướng thức hoa thơm quả lạ mà tác giả đã hái trong nhiều chục năm qua với lòng thương trải rộng trên cả những trái đắng chát, độc. Ở đâu, trong bất kỳ văn hóa nào, quần chúng cũng thích hóm hỉnh, trào lộng, tiếu lâm. Đặc tính đó phát biểu tràn đầy trong tục ngữ. Ở Pháp, hồi thế kỷ XVII, César Oudin, trong Les Curiosités Francaises (1640), đã phân loại tục ngữ theo thứ lớp như sau: familières, vulgaires, basses, triviales (trêu chọc, tầm phào, hạ tiện, thô bỉ). Trong sách này, bốn loại đó không thiếu. Cùng với những chấp tay cung kính, những tiến cười bốn loại này vẽ ra hình ảnh của Phật giáo trong dân gian sung kính từ bi, nhân quả, nghiệp báo, nhân duyên, hiếu hạnh trong đạo Phật. Và nhân gian đòi tôn trọng chữ giới. Không đặt chữ giới lên hàng đầu, hãy cúi đầu gánh chịu tiếng cười, kể cả tiếng cười độc, của nhân gian. Hãy quán tiếng cười đó, biết ơn những người đã cười độc, và trải lòng từ bi đến với họ. Tôi rất hân hạnh được Thượng Tọa Trung Hậu cho cái phước viết mấy dòng này ở đầu sách. Sự kính trọng và tình cảm thân mật lâu đời của tôi đối với Thượng Tọa cho phép tôi cũng cười một tiếng với tác giả qua hai câu chuyện thiền. Câu chuyện thứ nhất, tôi nghĩ là chuyện thiền nhưng quá phổ thông trong quần chúng đến nỗi đã thành ra chuyện ngụ ngôn mà thế hệ của tôi đã học từ lớp ba trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Một chú bé thọc tay vào hũ kẹo, bốc cả một nắm kẹo, rút tay không ra. Nhưng nếu Thượng Tọa cho một chiếc kẹo để có thể rút tay ra dễ dàng thì lại thương mấy chiếc kẹp kia quá trong nắm tay. Chuyện thứ hai là chuyện gió thổi. Mùa hè nóng bức, sư phụ ngồi quạt phe phẩy. Chú tiểu lại gần, thưa: “Bach Thầy, bản chất của không khí là hiện diện cùng khắp, còn gió thì chỗ nào cũng thổi cả. Bach Thầy, tại sao Thầy phải dùng quạt? Tại sao Thầy phải tạo ra gió? Chú tiểu thông thái quá, nhưng những bậc thông thái. Sư phụ đáp: “Chú chỉ biết rằng bản chất của không khí là hiện diện cùng khắp, nhưng chú không biết tại sao chỗ nào cũng có gió thổi.” Chú tiểu hỏi lại: “Bach Thầy, Thầy nói “không có chỗ nào mà không có gió thổi”, như vậy là nghĩa làm sao?” Sư phụ không nói gì nữa, im lặng tiếp tục phe phẩy. Chú tiểu cúi đầu, chấp tai vái rồi bước ra. Thượng Tọa Trung Hậu ngồi phạt phe phẩy. Chỗ nào mà không có làn gió Phật giáo?

    Phật lịch 2545

    Tân Tỵ 2001

    Gs. Cao Huy Thuần.

    (Paris)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam 10 Pdf
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Chứng Minh Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mưa Nắng Bão Lụt, Thời Tiết, Dự Báo Thời Tiết
  • 35 Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Quê Hương Đất Nước Bình Định Câu Hỏi 194294
  • Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam Chọn Lọc

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lời Chúc Hay Và Ngọt Ngào Nhất Trong Ngày Lễ Tình Nhân 14/2
  • Những Câu Nói Về Bản Thân Mình Hay Nhất
  • 16 Danh Ngôn Hay Về Nghệ Thuật
  • Lời Chúc Sinh Em Bé Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Những Lời Trích Dẫn Từ Các Cuốn Sách Hay Nhất Mọi Thời Đại (Phần 1)
  • Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc nét văn hóa đặc sắc của dân tộc

    Ca dao, tục ngữ là sự kết tinh, lắng đọng vốn sống và những kinh nghiệm quý báu trong dân gian. Đây là loại hình văn nghệ truyền miệng từ đời này qua đời khác. Trải qua bao biến thiên cuộc sống, trong thời đại ngày nay, ca dao, tục ngữ vẫn còn vẹn nguyên giá trị răn dạy con người về cách đối nhân xử thế trong cuộc sống.

    Cuốn sách “Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc” là công trình sưu tầm, nghiên cứu công phu, khoa học, tập hợp khá nhiều tinh hoa của tục ngữ, ca dao trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam nhằm cung cấp một nguồn “sử liệu” về văn học dân gian cho độc giả.

    Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc cuốn sách tập hợp những câu ca dao tục ngữ muôn đời của dân tộc ta được đúc kết lại.

    Cuốn sách văn học- tiểu thuyết có các phần như:

    Phần I. Tình cảm, tình yêu đôi lứa

    -Hôn nhân và tình cảm gia đình

    – Tục ngữ, ca dao về lao động nghề nghiệp

    – Tục ngữ ca dao ca ngợi Bác Hồ…

    Nó không dừng lại ở những trang giấy thông thường mà đó là nguồn tư liệu quý giá giúp cho người đọc với nhiều đối tượng khác nhau có được cái nhìn sâu rộng hơn về loại hình văn hóa dân gian của Việt Nam bao đời nay.

    Ca dao, tục ngữ có những lối giáo dục chân thực, hóm hỉnh tạo nên đời sống vật chất và tinh thần phong phú. Trong đời sống hàng ngày, câu ca dao, tục ngữ vẫn được ông bà, cha mẹ truyền tụng khuyên răn con cháu. Loại hình văn hóa truyền miệng này như một nguồn nhựa sống để nuôi dưỡng tâm hồn cho thế hệ hôm nay và mai sau.

    Đấy là một cuốn sách có giá trị về luân lý và đạo đức học, vì đấy là cái nền để rồi đến khi hấp thu được tư tưởng đạo đức mới của thời đại mới, mới có thể trở thành được những con người Việt Nam vừa dân tộc vừa hiện đại. Đó là một mẫu người Việt Nam đẹp nhất, những con Rồng cháu Tiên xuất hiện dưới thời đại Bác Hồ, sẽ là những người Việt Nam có tâm hồn đạo đức đẹp nhất từ xưa đến nay. Cái đẹp của người Việt Nam mới là sự hợp thành bởi hai sắc thái đạo đức Truyền thống và Hiện đại. Hai yếu tố ấy như là hai phần trong một cơ thể Người – Thiếu đi một phần sẽ trở nên “bất thành nhân dạng”, không thể nào trở thành được một Con người mới, của Thời đại mới.

    Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc cần thiết và hữu ích, nhất là cho lớp người trẻ tuổi, những người sẽ quyết định vận mệnh tương lai của đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Ngày 8/3 Ý Nghĩa, Hài Hước Nhất
  • Danh Ngôn Chủ Nghĩa Cộng Sản
  • 115 Dòng Danh Ngôn & Stt Ý Nghĩa Về Sự Thay Đổi Trong Cuộc Sống
  • Đập Vào Mặt Bạn Đểu, Bọn Khốn Nạn Những Câu Nói Khinh Bỉ Hay Nhất
  • Top 100 Stt Bựa Về Cuộc Sống Đăng Facebook Câu Được “ngàn Like”
  • Tìm Hiểu Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 12 Lời Chúc Giáng Sinh Cho Khách Hàng Bằng Tiếng Anh
  • Tuyển Tập Stt Hay Xứng Đáng Trở Thành Châm Ngôn Sống Của Phụ Nữ
  • 18 Bài Thơ Thay Lời Chúc Giáng Sinh Noel Hay, Ý Nghĩa Và Hài Hước Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tôn Trọng Người Khác
  • Châm Ngôn Về Kẻ Tiểu Nhân
  • --- Bài cũ hơn ---

  • 100+ Danh Ngôn Cuộc Sống Cực Ý Nghĩa Mà Bạn Nên Đọc
  • Những Câu Thơ Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Hùng Dân Tộc, Anh Bộ Đội
  • Những Stt Hay Ngắn Gọn Hài Hước Và Độc Đáo Nhất Trên Mạng Xã Hội Facebook
  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Lòng Hiểu Thảo, Trung Hậu, Nhân Ái
  • Stt Con Gái, 69+ Status Hay Về Cô Gái Mạnh Mẽ! Cố Lên Nào Cô Gái Ơi
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100