Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Ca Dao Tục Ngữ Về Tài Và Đức Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Like | Altimofoundation.com

Ca Dao Tục Ngữ Về Đức Tính Trung Thực

Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Tính Trung Thực

Những Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Vợ Hay Và Ý Nghĩa Nhất

Top 20+ Những Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Vợ Hay Nhất

Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Khi Chồng Ngoại Tình

Tuyển Tập Stt Chia Tay Tuổi Học Trò Đọc Là Thấm!

Như các bạn đã biết thì ca dao tục ngữ là kho tàng quý báu của Việt Nam ta. Những câu ca dao tục ngữ hay luôn đọng lại trong mỗi người chúng ta một chút gì đó gọi là cảm nghĩ về nói. Xoay quanh bài viết này vforum sẽ đề cập đến những câuca dao tục ngữ hay nhất về đức tính trung thực. Sau đây hãy cùng vforum tìm hiểu nhé.

Trung thực là gì?

Trung thực là luôn tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải, thật thà dung cảm, sống ngay thẳng và luôn nhận lỗi khi mình mắc khuyết điểm.

Trung thực là đức tính rất cần thiết và quý báu của mỗi người. Sống trung thực giúp chúng ta nâng cao phẩm giá của bạn và sẽ giúp ích rất nhiều cho các mối quan hệ xã hội của bạn, đặc biệt là sẽ được mọi người tin yêu, quý mến và kính trọng

Những câu ca dao tục ngữ hay nhất về tính trung thực

TỤC NGỮ

1.

Cây ngay không sợ chết đứng

Câu tục ngữ trên là một câu tục ngữ rất nổi tiếng, nó có nghĩa là nếu như bạn không làm điều gì xấu xa thì cũng chẳng sợ điều gì cả, mặc cho ai muốn nghĩ sao thì nghĩ nhưng lương tâm của bạn tự biết đúng hay sai, sẽ không có gì có thể chi phối được lương tâm bạn.

2.

Của phi nghĩa có giàu đâu ,

Câu tục ngữ có ý nghĩa là đừng làm những việc xấu xa để kiếm tiền mà hãy làm những việc đúng với đạo lý, đúng với lương tâm của mình. Qua đó sẽ thể hiện được tính trung thực của bạn.

3.

Ở cho ngay thẳng giàu sau mới bền

Tức ý muốn nhắn nhủ các bạn nên sống ngay thẳng với lương tâm của mình, luôn làm điều tốt và giúp đỡ người xung quanh thì sau này chắc chắn bạn sẽ nhận được kết quả xứng đáng. Ngược lại nếu bạn làm những điều xấu xa thì chắc chắn rằng trước sau gì bạn cũng sẽ gặp quả báo.

4.

Thẳng mực thì đau lòng gỗ .

Câu này có ý nghĩa là nếu như bạn xử sự 1 cách quá thẳng thắn thì sẽ gây đụng chạm và mích lòng nhiều người, tuy nhiên qua đó cho thấy bạn là một người trung thực không che giấu những điều xấu xa.

5.

Câu này có ý nghĩa rất hay, tức muốn nói những người thẳng thắn có sao nói vậy, không bao che cho điều xấu. Là người tốt và luôn góp ý cho những người xung quanh để người khác hiểu và cải thiện.

6.

Thuốc đắng giã tật

Sự thật mất lòng

Câu tục ngữ trên khá nổi tiếng, nó có ý nghĩa rất hay khi so sánh giữa thuốc đắng và sự thật, thuốc đắng thì uống mới mau hết bệnh, và sự thật thì đôi khi lại làm người khác không hài lòng. Tuy nhiên nó thể hiện rõ quan điểm của cá nhân bạn và thể hiện tính trung thực trong con người bạn

7.

Rất đơn giản, câu tục ngữ này có nghĩa ám chỉ một con người có tính thẳng thắng, trung thực và không lươn lẹo

8.

Ăn ngay nói thật mọi tật mọi lành.

Đây là câu tục ngữ ca ngợi về tính thẳng thắng, trung thực. Sống ngay thẳng thì chẳng gì mà không vượt qua được.

9.

Ý muốn nhắc nhở chúng ta “của” tức là tiền bạc hay vật chất mà chúng ta đem cho tặng thì không đáng là bao nhiêu, nhưng tình cảm thì chân thành và nặng tình nghĩa.

10.

Một câu nói ngay bằng ăn chay cả tháng.

Câu tục ngữ cho chúng ta thấy được tính trung thực được đề cao như thế nào trong cuộc sống thường ngày, chúng ta chỉ cần sống trung thực thì chắc rằng mọi điều tốt đẹp sẽ đến với chúng ta.

11.

Mất lòng trước, được lòng sau.

Câu nói trên có ý nghĩa là bạn nói thẳng, nói thật dễ làm mất lòng người nghe, nhưng khi hiểu ra vấn đề, người ta mới quý trọng những lời nói thẳng, nói thật ấy.

CA DAO

1.

Người gian thì sợ người ngay.

Người ngay chẳng sợ đường cày cong queo.

Câu ca dao muốn ám chỉ những người làm điều xấu thì luôn sợ những người trung thực, và khuyên nhủ chúng ta nên sống trung thực để không phải gặp những hệ quả sau này.

2.

Chớ nghe lời phỉnh tiếng phờ

Thò tay vào lờ mắc kẹt cái hom.

Câu ca dao này khuyên nhủ chúng ta nên sống ngay thẳng, thẳng thắn, trung thực đừng nghe những lời xúi bậy từ những người xấu xa để sau này trở thành người thiếu trung thực sẽ bị mọi người khinh thường.

3.

Khôn ngoan chẳng lọ thật thà

Lường thưng tráo đấu chẳng qua đong đầy.

Hai câu ca dao trên có ý nghĩa muốn nhẳn nhủ chúng hãy luôn sống ngay thẳng và trung thực luôn bảo vệ lẽ phải và tôn trọng sự thật.

4.

Bề ngoài thơn thớt nói cười

Mà trong gian hiểm giết người không đao.

Câu ca dao muốn ám chỉ những người ở ngoài thì luôn tỏ vẻ ngay thẳng thật thà nhưng bên trong lại vô cùng nham hiểm và làm nhiều điều xấu xa

5.

Đời loạn mới biết tôi trung

Tuế hàn mới biết bá tùng kiên tâm.

Hai câu ca dao trên được sáng tác theo chữ Hán là nhiều, và 2 câu thơ trên cho ta thấy được là dù cho có như thế nào thì cũng nên trung thực, thẳng thắn không vì những tác động tiêu cực mà lại dối gian.

6.

Nhà nghèo yêu kẻ thật thà

Nhà quan yêu kẻ giàu ra nịnh thần.

Hai câu ca dao trên muốn lên án những người làm lớn lòng dạ không ngay thẳng. Còn những người dân nghèo thì luôn luôn trung thực và tôn trọng lẽ phải.

7.

Những người tính nết thật thà

Đi đâu cũng được người ta tin dùng.

Ý muốn nói những người tâm ngay thẳng, thật thà, trung thực thì sẽ được mọi người yêu quý, kính trọng và tin tưởng.

8.

Tu thân rồi mới tề gia

Lòng ngay nói thật gian tà mặc ai.

Hai câu thơ trên cho ta thấy được tính trung thực của một người và mặc cho người khác nghĩ như thế nào thì vẫn sống ngay thẳng với lương tâm của chính mình.

9.

Đừng bảo rằng trời không tai

Nói đơm nói đặt cậy tài mà chi

Ý muốn lên án những người tung tin bịa đặt không đúng sự thật đối với người khác để làm việc gì đó có lợi cho bản thân mình.

Trên đây là những câuca dao tục ngữ hay về tính trung thực, mong rằng bài viết này giúp độc giả của vforum sẽ có thêm nhiều kiến thức về các câu ca dao tục ngữ hay của Việt Nam ta

Top 10 Câu Chúc Ngủ Ngon Bằng Tiếng Anh Hay Nhất

Những Lời Chúc Ngủ Ngon Hay Nhất Bằng Tiếng Anh

15 Câu Nói Hay Về Tình Yêu Bằng Tiếng Anh Hay Nhất Mọi Thời Đại

Những Câu Nói Về Tình Yêu Bằng Tiếng Anh Lãng Mạng

Lời Chúc Tết Cho Sư Thầy

Tài Liệu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Chị Em Doc

Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá

Triết Lý Biện Chứng Trong Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam Và Việc Vận Dụng Vào Dạy Học Triết Học

Sưu Tầm, Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ Vào Giảng Dạy Phần Triết Học Trong Môn Giáo Dục Công Dân

Những Câu Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội

30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Mang Đậm Triết Lí Nhân Sinh Sâu Sắc Về Cuộc Sống

Ca dao tục ngữ về tình chị em

Chồng con nó chẳng ra gì

Tổ tôm sóc đĩa nó thì chơi hoang

Nói ra, xấu thiếp hổ chàng

Nó giận, nó phá tan hoang cửa nhà

Nói đây, có chị em nhà

Còn năm ba thúng thóc với một và cân bông

Em bán đi trả nợ cho chồng

Còn ăn hết nhịn cho hả lòng chồng con

Đắng cay ngậm quả bồ hòn

Cửa nhà gia thế, chồng con kém người

Nói ra, sợ chị em cười

Con nhà nho-giáo lấy phải người đần ngu

Rồng vàng tắm nước ao tù

Người khôn ở với người ngu nặng mình

Chồng em nó chẳng ra gì

Tổ tôm, xóc đĩa, nó thì chơi hoang

Nói ra xấu thiếp hổ chàng

Nó giận nó phá tang hoang cuẳ nhà

Nói đây, có chị em này

Còn năm thúng thóc, một vài cân bông

Em bán đi, trả nợ cho chồng

Còn ăn hết nhịn, hả lòng chồng con

Đắng cay ngậm quả bồ hòn

Cửa nhà gia thế, chồng con kém người

Nói ra sợ chị em cười

Con nhà gia giáo, gặp ngưởi đần ngu!

Rồng vàng tắm nước ao tù

Người khôn ở với người ngu bực mình.

Chồng lớn vợ bé thì xinh

Chồng bé vợ lớn ra tình chị em

Em ơi đừng khóc chị yêu

Nín đi chị kể truyện Kiều em nghe

Gái có chồng như gông đeo cổ

Gái không chồng như phản gỗ long đanh

Phản long đanh anh còn chửa được

Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi

Không chồng khốn lắm chị em ơi!

Mọi người có cả, em ngồi em than

Hoa bí đỏ ngầu hoa bầu trắng xóa

Muốn được ăn quả, đừng có ngắt hoa

Ai về nhắn chị em nhà

Muốn cho hoa tốt liệu mà bón phân

Lẳng lơ chẵng một mình tôi

Thanh Lâm, Ðồng Sớm cũng đôi ba người

Nói ra sợ chị em cười

Lấy chồng tháng chín, tháng mười đẻ con

Lúc đêm sương sương lạnh trăng mờ

Canh tàn, rượu tỉnh, lúc bấy giờ em nghĩ thương thân

Em tiếc thay trong giá trắng ngần

Nỡ gieo mình vào đám phong trần mà chơi

Chốn hang sâu lẩn khuất hương trời

Non xanh nước biếc để ai người biết cho

Con chim khôn đã mắc phải dò

Vui gì cái kiếp giang hồ hỡi chị em ơi

Tính đốt tay quá nửa xuân rồi

Đầu xanh mấy nỗi da mồi tóc sương

Kiếp hồng nhan nghĩ đến mà thương

Tài tình chi lắm để mang nợ đời

Trông non sông mà thẹn với Trời

Khi vui vui gượng, khi cười em cười suông

Ruột con tằm trăm mối tơ vương

Bên trời góc bể biết gởi can trường vào đâu

Ai về nhắn ả Mạc Sầu.

Mày đẹp cho mẹ mày lo

Đêm đêm lắm kẻ rình mò ước ao,

Xấu xí như chị em tao,

Đêm nằm ngỏ cửa, gió vào mát thay

Muốn cho anh chị em nhà

Trên dưới thuận hòa, nếp sống an vui

Miệng mời tay lại mở nem

Nem thời có ít, chị em thời nhiều

Một lo đứng cửa trông ra

Hai lo đi lấy chồng xa nước người

Ba lo sợ chị em cười

Bốn lo đi ngược, về xuôi sao đành

Năm lo lúc tử, lúc sinh

Sáu lo phận (con) gái một mình đường xa

Bảy lo nhớ cửa nhớ nhà

Tám lo còn chút mẹ già ai nuôi

Chín lo em thiệt cả mười

Mười lo (Để em) kiếm lối tìm nơi đi về

Một năm là mấy mùa xuân

Gái kia hồ dễ mấy lần đưa dâu

Chị em dâu như bầu nước lã

Chị em gái như cái nhân sâm

Ngày xưa đại tướng cầm quân

Ngày nay đại tướng cầm quần chị em

Nhờ cô nhờ bác giúp lời

Chị em giúp của, ông trời định đôi

Người ta năm bảy chị em

Tôi đây như thể chiếc nem lột trần

Câu Hỏi Của Nguyễn Thị Thu Nga

Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam

Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Biển, Biển Đảo, Biển Vũng Tàu Nha Trang Hay Nhất

Người Việt Nam Thương Mẹ, Kính Cha Qua Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam

Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội

Giáo Dục Đức Tính Cần Cù, Tiết Kiệm Qua Tục Ngữ, Ca Dao

Ca Dao Tục Ngữ Về Đạo Lí Làm Người Hay Nhất

Bàn Về Thành Ngữ, Tục Ngữ Hiện Có Ở Cà Mau

Tổng Hợp Vài Điều Về Y Đức (Sưu Tầm)

Thuyết Minh Về Cây Lúa Việt Nam

Ca Dao Về Con Người Hay ❤️ Tục Ngữ Lòng Dạ Con Người

Tự ngàn xưa, dân tộc Việt Nam đã có những truyền thống tốt đẹp trong chặng đường dài đấu tranh dựng nước và giữ nước. Một trong những truyền thống đó là tinh thần cần cù lao động và ý thức tiết kiệm của cha ông ta xưa.

Trước hết cần khẳng định rằng con người Việt Nam rất rộng rãi, hiếu khách. Khi nhà có khách thì “không gà cũng vịt” và luôn tiếp đãi ân cần, luôn làm vui lòng bạn, lòng khách theo tinh thần “mình ăn thì mất, khách ăn thì còn”. “Còn” ở đây là còn tình còn nghĩa đọng lại, lưu lại trong lòng khách.

Nhưng người xưa qua những câu tục ngữ, ca dao đã bày tỏ ý kiến của mình về đức tính rất quý báu của người lao động. Đó là đức tính cần cù, chịu khó, chịu khổ trong lao động và ý thức tiết kiệm trong cuộc sống thường ngày.

Hình ảnh người nông dân cần mẫn lao động sản xuất được khắc hoạ rất nhiều trong ca dao, tục ngữ. Ảnh sưu tầm

Đối với mỗi người, lao động là điều phải làm vì có lao động mới có lúa, ngô, khoai và tất cả mọi thứ cần thiết cho cuộc sống. Không thể ở không bởi “Nhàn cư vi bất thiện”.

Vì thế, người xưa nhắc nhở “Có làm thì mới có ăn/Không dưng ai dễ đem phần đến cho” hoặc “Thế gian chuộng của, chuộng công/Nào ai có chuộng người không bao giờ”.

Nếu trong xóm làng có những kẻ biếng lười, người xưa cũng phê phán nhằm thức tỉnh họ: “Đàn bà không biết nuôi heo là đàn bà nhác/Đàn ông không biết buộc lạt là đàn ông hư”. Muốn lao động tốt thì cần có sức khoẻ và nếu có một sức khoẻ dồi dào thì việc làm giàu nằm trong tầm tay “Chẳng ốm chẳng đau làm giàu mấy chốc”.

Song song đó, điều kiện cần thiết là phải có nghề, tinh thông nghề mới có cơ sở làm ăn lâu dài “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề”, hoặc “Của rề rề không bằng nghề trong tay”. Đúng vậy, nếu có cả một núi của thì ăn hoài cũng hết, nhưng có được một nghề thì sống suốt đời.

Các làng nghề nổi tiếng ngày xưa như nghề đúc đồng, nghề làm đồ gỗ, nghề chạm khắc, nghề làm đồ gốm, nghề làm bánh… đã chứng minh điều đó.

Biết lo toan trong lao động, trong cuộc sống sẽ giúp con người chủ động trước hoàn cảnh đưa tới “Một người lo bằng kho người làm”. Sự lo lắng, tính toán không lúc nào ngơi nghỉ, bởi “Làm người ăn tối lo mai/Việc mình hồ dễ để ai lo lường?” hoặc “Năm canh thì ngủ lấy ba/Hai canh lo lắng việc nhà làm ăn”.

Đức tính cần cù được đúc kết bằng câu tục ngữ ngắn gọn, trải mấy ngàn năm vẫn còn giá trị với thời gian “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. 4 yếu tố này luôn đi liền với nhau thì mùa màng sẽ bội thu, no ấm… Vì có chữ “cần” nên dẫu thời tiết thay đổi nhưng người lao động vẫn tự tin “Tua rua thì mặc tua rua/ Mạ già, ruộng ngấu không thua bạn điền”.

Mặc dù ngày xưa người lao động đều tin “do trời, ơn trời” nhưng trước hết họ tin ở bản thân mình: cần cù, chịu khó sẽ có ngày no ấm “Ơn trời mưa nắng phải thì/Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu/Công lên chẳng quản bao lâu/Ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng/Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang/Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu”.

Bên cạnh đó là đức tính tiết kiệm của người lao động ngày xưa. Bởi làm ra hạt gạo không phải là một điều đơn giản, mà trong từng hạt gạo luôn thấm đẫm những giọt mồ hôi “Cày đồng đang buổi ban trưa/ Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày…”. Vì thế, người xưa quan niệm sống phải tiết kiệm, phòng khi mùa màng thất bát, bão lụt, thiên tai “Được mùa chớ phụ ngô khoai/Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng?”.

Trong cuộc sống hằng ngày, họ không bao giờ “ăn xổi ở thì” hoặc “vung tay quá trán” mà luôn tâm niệm phải cẩn thận “Liệu cơm gắp mắm”. Họ dè sẻn không có nghĩa là hà tiện mà là tiêu xài vừa đủ để được bền lâu “Buôn tàu buôn bè không bằng ăn dè hà tiện”.

Từ kinh nghiệm trải qua nhiều thế hệ, người lao động đã đúc kết những câu tục ngữ rất chí lý về tinh thần tiết kiệm mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đó là hình ảnh “Kiến tha lâu cũng đầy tổ”. Loài kiến bé xíu nhưng bù lại đó là loài côn trùng bậc thầy về sự cần cù, khéo léo nên kiến chẳng đói bao giờ.

Hoặc các câu như “Tích tiểu thành đa” và “Ăn ít no lâu, ăn nhiều chóng đói” cũng thể hiện sự khuyên nhủ về tinh thần tiết kiệm; không theo kiểu “nghèo mà chơi sang, chơi nổi”. Tiết kiệm từ việc nhỏ, tích trữ lâu ngày sẽ có món lớn hơn. Từ đó, con người cũng quý trọng hơn, cân nhắc kỹ hơn khi sử dụng tiền bạc, vật chất do mình tạo ra, do mình tiết kiệm được “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”

Mặt khác, người xưa cũng phê phán những kẻ chỉ biết hưởng thụ thành quả do người khác tạo ra “Của đời ông, ăn không cũng hết” hoặc “Miệng ăn núi lở”.

Học tập đức tính cần cù, tiết kiệm là học cách sống của cha ông ta xưa. Những phẩm chất đó đã tạo nên hình ảnh con người Việt Nam cần cù, yêu lao động và sống tiết kiệm trong khả năng, điều kiện của mình.

Lối sống thực dụng, sống xa hoa, lãng phí hoàn toàn xa lạ với cách sống giản dị của con người Việt Nam. Đọc những dòng tục ngữ, ca dao của người xưa, chúng ta càng trân trọng cha ông xưa đã để lại cho đời sau nhiều bài học quý giá. Sống giản dị, tiết kiệm; sống lao động cần cù; sống bằng sức lao động của chính bản thân là cách sống đẹp, sống có nhân cách cao cả./.

Chủ Tịch Hồ Chí Minh Nói Về “tài” Và “đức”

Danh Ngôn Về Sự Hy Sinh

Tổng Hợp Các Câu Ca Dao Về Mẹ, Tục Ngữ Về Tình Mẫu Tử Tình Cảm Nhất Năm 2022

Cảm Động Với Tiểu Phẩm Về “mẹ Ghẻ Con Chồng” Của Nhóm Kịch Nắng Trong Tiếu Lâm Nhạc Hội

Những Câu Ca Dao Về Tình Mẫu Tử Hay ❤️ Tình Mẹ Con

Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu

Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu

Ngày Xuân, Tản Mạn Về “Con Trâu” Trong Ca Dao Tục Ngữ

Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Về Con Cò

Cái Cò Và Con Cò

Báo Cao Bằng Điện Tử

 

Tuyển chọn những lời ca dao hay về TRÂU

Thuyduongnsx tuyển chọn

1. Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

2. Chẳng tham ruộng cả ao liền

Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

3. Trên đồng cạn dưới đồng sâu

Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

4. Đường về đêm tối canh thâu

Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười

5. Thiệt tình hỏng phải ba hoa

hôm qua tui thấy con gà đá trâu…..

6. Gà đá trâu bao lâu mới thắng

Trâu đá gà que cẳng con trâu

7. Ai nói chăn trâu là khổ??

Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

8. Dù ai buôn đâu bán đâu,

Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về.

Dù ai buôn bán trăm nghề,

Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu.

9. Đêm qua kẻ trộm vào nhà,

Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.

Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,

Thức mà giữ lấy con trâu con bò.

Nằm đây nào đã ngủ cho,

Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

10. Nghé ơi ta bảo nghé này

Nghé ăn cho béo nghé cày cho sâu.

Ở đời khôn khéo chi đâu,

Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

11. Chăn trâu chả biết mặt trâu

Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

12. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu

Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

13. Tháng giêng là tháng ăn chơi,

Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

Tháng ba thì đậu đã già

Ta đi ta hái về nhà phơi khô

Tháng tư đi tậu trâu bò

Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…

14. Trâu ơi ta bảo trâu này,

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

Cấy cày giữ nghiệp nông gia.

Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!

Bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.

“Con trâu là đầu cơ nghiệp

15. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,

Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!

16. Trên trời có đám mây xanh (4)

Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng

Ước gì ta lấy được nàng

Hà Nội, Nam Ðịnh sửa đàng rước dâu

Thanh Hóa cung đốn trầu cau

Nghệ An thì phải thui trâu mổ bò

Phú Thọ quạt nước hỏa lò

Hải Dương rọc lá giã giò gói nem

Tuyên Quang nấu bạc đúc tiền

Ninh Bình dao thớt Quảng Yên đúc nồi

An Giang gánh đá nung vôi

Thừ Thiên Đà nẵng thổi xôi nấu chè

Quảng Bình Hà Tĩnh thuyề ghe

Đồng Nai Gia Dịnh chẻ tre bắc cầu

Anh mời khắp nước chư hầu

Nước Tây nước Tàu anh gởi thư sang

Nam Tào Bắc đẩu dọn đàng

Thiên Lôi La Sát hai hàng hai bên

17. Trời mưa trời gió đùng đùng

Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu

Gánh về trồng bí trồng bàu

Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

18. Nam mô Bồ Tát

Chẻ lạt đứt tay

Đi cày trâu húc

Đi súc phải cọc

Đi học thày đánh

Đi gánh đau vai

Nằm dài nhịn đói

19. Nước giữa dòng chê trong, chê đục

Vũng trâu đầm hì hục khen ngon

20. Đời vua Thái Tổ – Thái Tông

Lúa mọc đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.

21. Thất là mất

Tồn là còn

Tử là con

Tôn là cháu

Lục là sáu

Tam là ba

Gia là nhà

Quốc là nước

Tiền là trước

Hậu là sau

Ngưu là trâu

Mã là ngựa

22. Trai thì cày ruộng khiển trâu

Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

23. Trăm năm còn có gì đâu

Miếng trầu liền với con trâu một vần

24. Trâu bò được ngày phá đỗ

Con cháu được ngày giỗ ông

25. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết

26. Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta

Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

27. Trâu kia kén cỏ bờ ao

Anh kia không vợ đời nào có con

Người ta con trước, con sau

Thân anh không vợ như cau không buồng

Cau không buồng như tuồng cau đực

Trai không vợ cực lắm anh ơi

Người ta đi đón, về đôi

Thân anh đi lẻ, về loi một mình

28. Của chua ai nấy cũng thèm

Em cho chị mượn chồng em vài ngày

Chồng em đâu phải trâu cày

Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

29. Dầu bông bưởi, dầu bông lài

Xức vô tới Tết còn hoài mùi cứt trâu

30. Dù ai buôn bán nơi đâu

Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

31. Ðàn đâu mà gảy tai trâu

Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

32. Thương nhau vì nợ vì duyên

Trâu đôi chi đó, thổ điền chi đây

33. Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần

Làm thân con nhện mấy lần vương tơ

Về đâu trong đục mà chờ

Hoa thơm mất tuyết , nương nhờ vào đâu

Số em giàu, lấy khó cũng giàu

Số em nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo

Phải duyên phải kiếp thì theo

Giàu ăn khó chịu, lo gì mà lo

34. Chẳng qua số phận long đong

Cột trâu, trâu đứt, cột tròng, tròng trôi.

35. Lao xao gà gáy rạng ngày

Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

Bước chân xuống cánh đồng sâu

Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày.

Ai ơi! bưng bát cơm đầy

Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng

Câu đố:

– Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân. = con trâu

– Vừa bằng cái bát, san sát giữa đồng = vết chân Trâu

36. Ru Con

Bao giờ cho đến tháng ba,

Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.

Hùm nằm cho lợn liếm lông,

Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.

Nắm xôi nuốt trẻ lên mười;

Con gà, be rượu nuốt người lao đao.

Lươn nằm cho trúm (1) bò vào;

Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

Lúa mạ nhảy lên ăn bò;

Cỏ năn (2), cỏ lác (3) rình mò bắt trâu.

Gà con đuổi bắt diều hâu;

Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.

Chú thích:

(1) Trúm : một thứ đó để bắt lươn

(2) Cỏ năn : một loài cỏ mọc dưới nước

(3) cỏ lác : thứ cỏ xấu

37. Thứ nhất vợ dại trong nhà,

Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn.

Vợ dại thì đẻ con khôn,

Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm.

38. Trâu chậm thời anh bán đi,

Dao cùn đánh lại vợ thì làm sao.

39. Trâu anh con cưỡi con dòng,

Có con đi trước lòng thòng theo sau.

40. Trâu anh con cưỡi con dòng,

Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn.

41. Trâu buộc thì ghét trâu ăn,

Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

42.Trâu kia kén cỏ bờ ao,

Anh kia không vợ đời nào có con.

43.Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa,

Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

44. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già.

Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

Mùa đông tháng giá bò dò làm sao?

45. Em như ngọn cỏ phất phơ

Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng

46. Mình rằng mình quyết lấy ta

Ðể ta hẹn cưới hăm ba tháng này

Hăm ba nay đã đến ngày

Ta hẹn mình rày cho đến tháng giêng

Tháng giêng năm mới chưa nên

Ta hẹn mình liền cho đến tháng hai

Tháng hai có đỗ có khoai

Ta lại vật nài cho đến tháng tư

Tháng tư ngày chẳn tháng dư

Ta lại chần chừ cho đến tháng năm

Tháng năm là tháng trâu đầm

Ta hẹn mình rằng tháng sáu mình lên

Tháng sáu lo chửa kịp tiền

Bước sang tháng bảy lại liền mưa ngâu

Tháng bảy là tháng mưa ngâu

Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu

Tháng tám là tháng trăng thu

Bước sang tháng chín mù mù mưa rươi

Tháng chín là tháng mưa rươi

Bước sang tháng mười đã đãi mưa đông

Quanh đi quẩn lại em đã có chồng

Như chim trong lồng, như cá cắn câu

47. Ông Giăng mà lấy bà Sao,

Đến mai có cưới cho tao miếng giầu.

Có cưới thì cưới con trâu,

Chớ cưới con nghé nàng dâu không về.

48. Ông giẳng ông giăng,

Xuống chơi với tôi,

Có bầu có bạn,

Có ván cơm xôi,

Có nồi cơm nếp,

Có nệp bánh chưng,

Có lưng hũ rượu,

Có chiếu bám đu,

Thằng cu xí-xóa,

Bắt trai bỏ giỏ,

Cái đỏ ẵm em,

Đi xem đánh cá,

Có rá vo gạo,

Có gáo múc nước,

Có lược chải đầu,

Có trâu cày ruộng,

Có muống thả ao,

Ông sao trên trời.

(Cái này thấy gọi là Ca dao nhi đồng, hihi)

49.Bước sang tháng sáu giá chân,

Tháng một nằm trần bức đổ mồ hôi.

Con chuột kéo cầy lồi lồi,

Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong.

Vườn rộng thì thả rau rong.

Ao sâu giữa đồng, vãi cải làm dưa.

Đàn bò đi tắm đến trưa,

Một đàn con vịt đi bừa ruộng nương.

Voi kia nằm ở gặm giường,

Cóc đi đánh giặc bốn phương nhọc nhằn.

Chuồn kia thấy cám liền ăn,

Lợn kia thấy cám nhọc nhằn bay qua.

Trời mưa cho mối bắt gà,

Thòng-đong cân-cấn đuổi cò lao xao.

Lươn nằm cho trúm bò vào,

Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

Thóc giống cắn chuột trong bồ,

Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu.

Chim chích cắn cổ diều hâu,

Gà con tha quạ biết đâu mà tìm.

Bong bóng thì chìm, gỗ lim thì nổi.

Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai.

Hòn đá giẻo dai, hòn xôi rắn chắc.

Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi.

Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú.

Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu.

Hay cắn thì trâu, hay cày thì chó.

50. Nam mô bồ tát,

Chẻ lạt đứt tay,

Đi cày trâu húc,

Đi xúc phải cọc,

Đi học thầy đánh,

Đi gánh đau vai,

Nằm dài nhịn đói.

51. Con kiến mày kiện củ khoai,

Mày chê tao khó lấy ai cho giầu.

Nhà tao chín đụn mười trâu,

Lại thêm ao cá bắt cầu rửa chân.

52. Công anh chăn nghé đã lâu

Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày?

 

53. Cưới em có cánh con gà,

Có dăm sợi bún, có và hạt xôi.

Cưới em còn nữa anh ơi!

Có một đĩa đậu hai môi rau cần.

Có xa dịch lại cho gần,

Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi.

Hay là nặng lắm anh ơi!

Để em bớt lại một môi rau cần.

Cưới nàng anh toan dẫn voi,

Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

Dẫn trâu sợ họ máu hàn,

Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

Miễn là có thú bốn chân,

Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

– Chàng dẫn thế em lấy làm sang

Nỡ nào em lại phá ngang như là…

Người ta thách lợn thách gà,

Nhà em thách cưới một nhà khoai lang

Củ to thì để mời làng,

Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.

Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi!

Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà.

Bao nhiêu củ rím củ hà,

Để cho con lợn con gà nó ăn.

54. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu

ví dâu

Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

55. Anh về bán ruộng cây da

Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em

56. 17. Hò ơ.. (chớ) Bớ này anh nó ơi

Số phận em giao phó cho trời xanh

Lấy anh em không lấy,

Nhưng dạ cũng không đành làm ngơ

Vốn em cũng chẳng bơ thờ

Em đã hằng chọn trong lóng đục,

Nhưng vẫn còn chờ nợ duyên

Vốn em muốn lấy ông thầy thuốc cho giàu sang,

Nhưng lại sợ ổng hay gia hay giảm

Em muốn lấy ông thầy pháp cho đảm,

Nhưng lại sợ ổng hét la ghê gốc

Em muốn lấy chú thợ mộc,

Nhưng lại sợ chú hay đục khoét rầy rà

Em muốn lấy anh thợ cưa cho thật thà,

Nhưng lại sợ trên tàn dưới mạt

Em muốn lấy người hạ bạc,

Nhưng lại sợ mang lưới mang chài

Em muốn lấy anh cuốc đất trồng khoai,

Nhưng lại sợ ảnh hay đào hay bới

Em cũng muốn chọn anh thợ rèn kết ngỡi,

Nhưng lại sợ ảnh nói tức nói êm

Bằng lấy anh đặt rượu làm men,

Thì lại sợ ảnh hay cà riềng cà tỏi

Em muốn lấy ông nhạc công cho giỏi,

Nhưng lại sợ giọng quyển giọng kèn

Em muốn lấy thằng chăn trâu cho hèn,

Nhưng lại sợ nhiều điều thá ví

Em muốn lấy anh lái buôn thành thị,

Nhưng lại sợ ảnh kêu mắc rẻ khó lòng

Em muốn lấy anh thợ đóng thùng,

Nhưng lại sợ ảnh kêu trật niền trật ngổng

Em muốn lấy ông Hương ông Tổng,

Nhưng lại sợ việc trống việc gông

Em muốn lấy anh hàng gánh tay không,

Nhưng lại sợ đầu treo đầu quảy

Em muốn lấy chú hàng heo khi nãy,

Nhưng lại sợ chú làm lộn ruột lộn gan

Em muốn lấy anh thợ đát thợ đan,

Nhưng lại sợ ảnh hay bắt phải bắt lỗi

Em muốn lấy anh hát bè hát bội,

Nhưng lại sợ giọng rỗi giọng tuồng

Em muốn lấy anh thợ đóng xuồng,

Nhưng lại sợ ảnh hay dằn hay thúc…

Hò ơ.. (chớ) Mấy lời trong đục chẳng dám nói ra

Có thầy giáo tập dạy trong làng xa, hay dạy hay răn

So đức hạnh chẳng ai bằng, lại con nhà nho học

Sử kinh thầy thường đọc, nên biết việc thánh hiền

Gặp nhau em kết liền, không chờ chẳng đợi… (ờ)

Hò ơ.. (chớ) Không chẳng chờ chẳng đợi phỉ nguyền phụng loan

57. Hút sách là chuyện chẳng lành

Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây

 

58. Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà

Cả ba việc ấy đều là khó thay.

59. Mười năm cắp sách theo thày

Năm thứ mười một vác cày theo trâu.

60. Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân.

61.Ai cũng gặt lúa đỏ đuôi

Chàng về mà đập, mà phơi kịp ngày

Ai mà giã gạo ba chày

Giã sao cho trắng, gửi ngay cho chàng

Sẵn tiền mua bạc mua vàng

Sẵn tiền sắm áo cho chàng trẩy kinh

Sáng trời chàng mới tập binh

Em ngồi vò võ, một mình em lo

Ruộng nương không ai cày cho

Trâu bò, gà, lợn em lo dường nào!

Ruộng người cày cấy xôn xao

Ruộng nhà cỏ mọc lên cao lồng ngồng

Người ta có vợ có chồng

Cỏ cao, mạ úa nhưng lòng vẫn vui

Nhà ta chỉ có em thôi

Ruộng cạn mạ úa em ngồi em lo

62.Ai ơi uống rượu thì say

Bỏ ruộng trâu cày bỏ giống ai gieo.

63.Anh đánh thì tôi chịu đòn

Tánh tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa

Anh đánh thì tôi xin thưa

Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu

Ăn quen chừa được chẳng lâu

Lệ làng làng bắt mất trâu mặc làng

64.Ba vợ bảy tám nàng hầu

Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi.

65.Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

66.Anh em bất nghĩa chi khèo

Anh dữ như mèo tôi lại như trâu

67.Bé ăn trộm gà

Già ăn trộm trâu

Lâu nữa làm giặc

68.Cầm trâu cầm áo cầm khăn

Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

69.Cái bống mặc xống ngang chân

Lấy chồng Kẻ Chợ cho gần, xem voi

Trèo lên trái núi mà coi

Thấy ông quản tượng cõi voi đánh cồng

Túi vóc mà thêu chỉ hồng

Têm trầu cánh phượng cho chồng đi thi

Một mai chồng đỗ, vinh quy

Võng anh đi trước, em thì võng sau

Tàn quạt, hương án theo hầu

Vinh quy bái tổ, giết trâu ăn mừng!

70.Cái kiến mà kiện củ khoai

Mày chê tao khó, lấy ai cho giầu

Nhà tao chín đụn mười trâu

Lại thêm ao cá, bắc cầu rửa chân

Cầu nầy là cầu ái ân

Một trăm con gái rửa chân cầu nầy

Có rửa thì rửa chân tay

Chớ rửa lông mày chết cá ao anh

Nhà anh có một cây chanh

Nó chửa ra nhành nó đã ra hoa

Nhà anh có một mụ già

Thổi cơm không chín, quét nhà chẳng nên

Ăn cỗ khì đòi ngồi trên

Mâm son bát sứ đem lên hầu bà.

71.Bong bóng thì chìm gỗ lim thì nổi

Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai

Hòn đá dẻo dai, hòn xôi rắn chắc

Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi

Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú

Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu

Hay sủa thì trâu, hay cày thì chó…

(hình như vẫn còn tiếp thì phải)

72.Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

Chẳng tham ruộng cả ao liền

Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

Chẳng tham nhà ngói ba tòa

Tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành.

73.Chồng dữ thì em mới rầu

Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng

74.Chùn đùi, thắt quản, ngắn đuôi

Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

75.Cao đầu thấp hậu thì tậu liền tay

76.Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

77.Chết lỗ chân trâu

78.Có ăn có chọi mới gọi là trâu

79.Có xa dịch lại cho gần

Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi

Hay là nặng lắm anh ơi!

Để em bớt lại một môi rau cần.

Cưới nàng anh toan dẫn voi

Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

Dẫn trâu sợ họ máu hàn

Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

Miễn là có thú bốn chân

Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

80.Con cá rô thia ẩn bóng chân trâu

Một trăm quân tử tới câu cũng chẳng màng.

81.Con gái mười bảy bẻ gãy sừng

trâu

82.Con tằm nó ăn lá dâu

Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò

83.Con vợ khôn lấy thằng chồng dại

Như bông hoa lài cặm bãi cứt trâu

84.Công anh chăn nghé đã lâu

Bây giờ nghé lớn thành trâu ai cày

85.Đàn đâu mà gảy tai trâu

Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

86.Em thì canh cửi việc nhà

Nuôi anh ăn học đăng khoa bảng vàng

Trước là vinh hiển tổ đường

Bõ công đèn sách lưu hương con nhà

Rước vinh quy về nhà bái tổ

Ngả trâu bò làm lễ tế vua

Họ hàng ăn uống say sưa

Hàng Tổng hàng Huyện mừng cho ông Nghè

87.Dưa gang một chạp thì trồng

Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo

Tháng hai đi tậu trâu bò

cày đất cho ải mạ mùa ta gieo

88.Được voi to trâu bò chẳng kể

Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

Một lời đã trót nói ra

Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo

89.Em là con gái nhà giàu

Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao

Cưới em trăm tấm gấm đào

Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời

Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi

Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng

Sắm xe tứ mã đem sang

Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu

Ba trăm nón Nghệ đội đầu

Một người một cái quạt Tàu thật xinh

Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình

May chăn cho rộng ta mình đắp chung

Cưới em chín chĩnh mật ong

Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò

Cưới em tám vạn trâu bò

Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm

Lá đa mặt nguyệt hôm rằm

Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi

Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi

Xin chàng chín chục con dơi góa chồng

Thách thế mới thỏa trong lòng

Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân

90.Gió nam ào ạt gốc cây nằm mát

Chẻ lạt đứt tay, đi cày trâu húc

Đi xúc phải cọc, đi học thầy đánh

Đi gánh đau vai, nằm dài nhịn đói

91. Vợ bé nghé con

Sẩy đàn tan nghé

Hòn đá cheo leo,

Con trâu trèo, con trâu trợn

Con ngựa trèo, con ngựa đổ.

Anh thương em lao khổ

Tận cổ chí kim,

Anh thương em khó kiếm khôn tìm.

Cây kim luồn qua sợi chỉ,

Sự bất đắc dĩ phu mới lìa thê,

Nên hay không nên, anh ở em về,

Đừng giao, đừng kết, đừng thề mà vương.

92.Lạc đường nắm đuôi chó

Lạc ngõ nắm đuôi trâu

93.Lao xao gà gáy rạng ngày

Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

Bước chân xuống cánh đồng sâu

Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày

Ai ơi! bưng bát cơm đầy

Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?

94.Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

Một huyền hai lái chẳng xong

Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

95.Lộn con toán bán con trâu

96.Mật ngọt rớt xuống thau đồng

Những lời anh nói cho lòng em say

Một trâu anh sắm đôi cày

Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia!

Chàng ơi! chàng cho em ra

Nhẽ đâu một ổ đôi gà ấp chung.

97.Một rằng mình quyết lấy ta

Ta về bán cửa bán nhà mà đi

Ta về bán núi Ba Vì

Bán chùa Hương Tích, Phật đi làu làu

Ta về bán hết ngựa trâu

Bán hột thầu dầu, bán trứng gà ung

Bán ba mươi sáu Thổ công

Bán ông Hành Khiển, vợ chồng Táo Quân

Bán từ giờ Ngọ giờ Dần

Giờ Tí giờ Sửu giờ Thân giờ Mùi

Ta về bán cả que cời

Bán tro đun bếp bán trăm khêu đèn

Ta về bán trống bán kèn

Có gì bán hết, lấy tiền cưới em

98.Nghé hành nghé hẹ

Có khôn theo mẹ

Có khéo theo đàn

Chớ có chạy quàng

Có ngày lạc mẹ

Việc nhẹ phần con

Kéo nỉ kéo non

Kéo đến quanh tròn

Mẹ con ta nghỉ

99.Trăm năm cơ hội tình cờ,

Đàn cầm anh gãy, câu thơ anh đề.

Muốn cho thuận nẻo đi về,

Anh sang làm rể, em về làm dâu.

Số giàu lấy khổ cũng giàu,

Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.

Phải duyên phải kiếp thì theo,

Khuyên em chớ nghĩ giàu nghèo làm chi.

Em ơi! chữ vị là vì,

Chữ dục là muốn, chữ tùy là theo,

Ta đã yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,

Thất bát giang cũng lội, tam thập đèo cũng qua.

100.Trời mưa lâm râm

Cây trâm có trái

Con gái có duyên

Đồng tiền có lỗ

Bánh tổ thì ngon

Bánh dòn thì béo

Cái kéo thợ may

Cái cày làm ruộng

Cái xuổng đắp bờ

Cái lờ đơm cá

Cái ná bắn chim

Cái kim may áo

Cái giáo đi săn

Cái khăn bịt đầu

Cái cầu đi chợ

Có vợ đàn ông

Có chồng con gái

Cái trái mù u

Ông cu đi câu

Để trâu ăn lúa

Bắt được chặt đầu, chặt đầu đuôi

Còn hai con mắt đem nuôi mẹ già

Tướng Trâu

Cầm trâu cầm áo cầm khăn

Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

Đàn đâu mà gảy tai trâu

Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

Chồng em đâu phải trâu cày

Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

Trâu gầy cũng tầy bò giống

Ghi Chú: * Trâu gầy vẫn mạnh hơn bò

Mắt bánh rán,

Trán bánh chưng

Lưng tôm càng

Ghi Chú: * Trâu có mắt lớn, cái trán vuông vức như cái bánh chưng và

lưng không oằn là trâu khỏe mạnh

Đã có sừng thì đừng hàm trên

Ghi Chú: * Trâu không có răng hàm trên

Tai lá mít đít lồng bàn

Ghi Chú: * Trâu có tai lớn và mông bự là trâu tốt

Vành mồm trắng, mắt tai to

Hễ thưa lông bụng, móng hài cũng mua

Ghi Chú: * Trâu thưa lông bụng và vành mồm trắng mới là trâu có tướng

tốt

Sà sừng mắt lại nhỏ con

Vụng giàn chậm chạp ai còn nuôi chi

Ghi Chú: * Trâu có cặp sừng sệ xuống và mắt nhỏ thì chậm chạp

Vai nồi đồng, mông cối lỗ

Ghi Chú: * Vai to tròn, mông lớn là trâu tốt

Sừng to móng hến thì nuôi phải rồi

Ghi Chú: * Trâu có sừng to, mở Rộng là trâu đắc dụng

Tam tinh khoáy sọ thì chừa

Đốm đuôi nát chủ thì đưa vào nồi

Ghi Chú: * Trâu có khoáy sọ và đuôi có đốm là trâu độc dễ gây tai họa

nên giết thịt

Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

Một huyền hai lái chẳng xong

Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

Lúa Đồng Ngâu, trâu Yên Mỹ

Mất trâu mất ruộng không màng

Mất cây cuốc mục ra làng kiện thưa

Mất trâu thì lại tậu trâu

Những quân cướp nợ có (chẳng) giầu hơn ai ?

Một trâu anh sắm đôi cày

Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia

Chàng ôi! chàng cho em ra

Nhẽ đâu một ổ hai gà ấp chung ?

Một trâu anh sắm hai cày

Một chàng hai thiếp có ngày oan giạ

Chả yêu thì bỏ nhau ra

Làm chi một ổ hai gà ấp chung.

Yếu trâu cũng bằng bò khỏe

Con trâu ăn cỏ đất bằng

Uống nước bờ ao

Hồi nào mầy ở với tao

Đến khi mầy chết

Tao cầm dao xẻo thịt mầy

Thịt mầy nấu cháo linh binh

Da mầy bịt trống tụng kinh trong chùa

Sừng mầy tao tiện con cờ

Cán dao, cán mác, lược dầy lược thưa

Mua trâu cưới vợ làm nhà

Cả ba việc ấy đều là khó thay

Muốn giầu nuôi trâu nái

Muốn lụi bại nuôi chim bồ câu.

Ngày xưa Ninh Thích chăn trâu

Mà rồi công ấn công hầu trâu ơi !

Ngày nay mình nghé ta ngồi

Mai sau ta có một thời hiển vinh ?

Trâu he cũng bằng bò khỏe

Ghi Chú: * Trâu he là trâu nghé hay trâu còn non

Lang đuôi thì bán, lang trán thì cày

Ghi Chú: * Trâu có hoa trên trán thì giữ để cày ngược lại đuôi có hoa

thì đem bán

Phù thủy, thầy bói, lái trâu

Nghe ba anh ấy đầu lâu không còn

Trâu ác vạc sừng

Ghi Chú: * Trâu ác hay mài sừng để chiến đấu

Tậu trâu lấy vợ làm nhà

Trong ba việc ấy lọ là khó thay

Ruồi lằn chọi với bò trâu

Đàn gà quật với diều hâu mấy lần

Thật thà cũng thể lái trâu

Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng

Trâu tóc chóp, bò mũ mấn

Ghi Chú: * Trâu có tóc chóp thì tốt, ngược lại bò có tóc chóp thì xui

xẻo

Trâu ra, mạ vào

Ghi Chú: * Cần cấy ngay sau khi cày ruộng xong

Trâu kia (già) kén (cắn) (ăn) cỏ bờ ao

Anh kia không vợ đời nào có con

Người ta con trước, con sau

Thân anh không vợ như cau không buồng

Cau không buồng như tuồng cau đực

Trai (Anh) không vợ cực lắm anh ơi

Người ta đi đón, về đôi

Thân anh đi lẻ, về loi một mình

Trâu năm sáu tuổi còn nhanh

Bò năm sáu tuổi đã tranh về già

Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

Cấy cày vốn nghiệp nông gia

Hai sương một nang)Tắ đây trâu đấy ai mà quản công

Bao giờ cây lúa còn bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

Trâu ai buộc ngõ ông Cai

Hoãn ai mà lại đeo tai bà Nghè

Ngựa ai buộc ngõ ông Nghè

Gà ai gáy ở đầu hè ông Cai

Ghi Chú: * Nghè là người đỗ tiến sĩ thời xưa; Hoãn là đôi bông tai

Trâu bò ở với nhau lâu quen chuồng quen chỏi

Người ở với nhau lâu, inh ỏi đủ điều

Trâu buộc thì ghét trâu ăn

Quan võ thì ghét quan văn dài quần

Trai thì cày ruộng khiển trâu

Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

Ghi Chú: * Tục ăn trầu có ở hầu hết các nước Đông Nam Á; Xem: Trầu Cau

Trong Ca Dao

Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta (*)

Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

Ghi Chú: * Hoặc: Trâu ta ăn cỏ đồng ta

Trâu khoẻ chẳng lo cày trưa

Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

Trâu kia chết để bộ da

Người chết để tiếng xấu xa muôn đời

Cao vây, dậy tiền, sâu vai, khai hậu

Ghi Chú: * Hai chân sau mở rộng gọi là khai hậu

Sừng cánh cắt, mắt ông voi

Ghi Chú: * Cặp sừng to lớn như cánh chim cắt là trâu tốt

Ăn thịt trâu không tỏi

Như ăn gỏi không rau mơ

Trâu quá sá, mạ quá thì

Ghi Chú: * Quá sá là quá già, không còn khả năng để cày cấy

Trâu dê chết để tế ruồi

Sao bằng khi sống cơi suồi kính dâng

Lại thêm tiền thấp hậu cao

Ghi Chú: * Hai vai trước thấp mà mông cao, con trâu đi chúi là khôphải

trâu tốt

Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

Ghi Chú: * Sống lưng phải vừa phải nhưng nổi cao thì trâu cày khỏe

Đầu thanh cao, rào thấp hậu

Chẳng tậu thì sao

Được voi to trâu bò chẳng kể

Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

Một lời đã trót nói ra

Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo (*)

Ghi Chú: * Nguyên thủy: Nhất ký ngôn xuất tứ mãi nan truy

Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

Trăm trâu trăm bó cỏ

Trâu đứng ăn năm

Trâu nằm ăn ba

Nghé hoa ba con ăn một (*)

Ghi Chú: * Câu đố toán học – Có bản khác: Con ở đàng xa một bó ba con

Chưa được thì khấn một trâu

Được rồi thì có trâu đâu cho bà

Anh có sừng trâu bạc

Tôi có gạc (có giác) trâu đen

Bụng trâu làm sao bụng bò làm vậy

Buộc trâu trưa nát chuồng

Ăn thịt trâu không có tỏi

Như ăn gỏi không có lá mơ

Béo như trâu chương

Đầu trâu mặt ngựa

Chăn trâu chả biết mặt trâu

Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

Chị bị cứt trâu

Chị em dâu nấu đầu trâu thủng nồi

Chết đuối vũng trâu đằm

Anh Ngữ Tương đương: * To cut one’s throat with feather OR An

unfortunate man would be drowned in a tea cup)

Chết lỗ chân trâu

Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

unfortunate man would be drowned in a tea cup

Đàn gảy tai trâu (Đàn khảy tai trâu)

Đầu nheo còn hơn phèo trâu

Đến đâu chết trâu đến đấy

Đi sông đi biển không chết chết ở lỗ chân trâu

Làm cực như trâu

Tương Đương với Anh Ngữ : To work as hard as a horse

Chín đụn mười trâu chết cũng hai tay buông xuôi (cắp đít)

Tương Đương với Anh Ngữ : A handfull of ashes is all than remains of the

greatest. OR: It will all be the same a hundred years hence

Có ăn có chọi mới gọi là trâu

Gái mười bảy bẻ găy sừng trâu

Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu

Con trâu là đầu cơ nghiệp

Cống làng Tô trâu bò làng Hệ

Dắt trâu chui qua ống

Đi cày trâu hút đi xúc phải cọc

Trâu thì kho bò thì tái

Muống thì vừa cải thì nhừ

Đuôi chùng quá gối thì nào được đâu!

Ghi Chú: * Trâu có đuôi dài quá cũng không đắc dụng

Thứ nhất bó rễ, thứ nhì trễ cành

Trâu cổ cò, bò cổ vại

Ghi Chú: * Trâu phải có cổ dài, cổ bò lớn và ngắn thì tốt

Giờ trâu về chuồng

Hùng hục như trâu hút mả

Hùng hục như trâu lăn

Kẻ trâu trắng người trâu đen

Khấn trâu trả lễ bò

Khỏe như trâu

Không có trâu bắt bò đi đẩm

Làm kiếp trâu ăn cỏ làm kiếp chó ăn dơ

Làm kiếp trâu kéo cày trả nợ

Lấm như trâu đầm

Lắm rận thì giàu lắm trâu thì nghèo

Làm rể chớ xào thịt trâu làm dâu chớ đồ xôi lại

Làm ruộng không trâu làm giàu không thóc

Lắm ruộng thì thâu lắm trâu thì bán

Làm thân trâu kéo cày trả nợ

Làm thân trâu ngựa

Lâu ngày cứt trâu hóa bùn

Lộn con toán bán con trâu (cả nhà)

Lộn thừng lộn chão quá hơn lộn trâu cày

Lòng trâu dạ chó

Máu đâu trâu đó

Máu trâu cũng như máu bò

Nằm trâu thổi sáo

Một con tằm cũng phải hái dâu một con trâu cũng phải đi chăn

Mua trâu bán chả

Mua trâu lựa nái cưới gái lựa dòng

Mua trâu vẽ bóng

Muốn giàu nuôi trâu cái

Nai lưng trâu

Nhịn thuốc mua trâu nhịn trầu mua ruộng

Tương Đương với Anh Ngữ : Take care of the pence and the pounces will

take care of themselves

Phản chủ đầu trâu

Ăn cơm nhà Phật, Ðốt trâu nhà chùa

Phản chủ đầu trâu Ăn cơm nhà Phật

Đốt trâu nhà chùa

Ruộng sâu trâu nái

Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng

Thui trâu nửa mùa hết rơm

Tham bong bóng bỏ bọng trâu

Thật thà lái buôn (trâu)

Vễnh sừng, tóc chớp cả nhà mang tai

Ghi Chú: * Trâu loại nầy dữ, hay nổi khùng như trâu điên dễ gây tai vạ

Sông Sâu (hoắm) không chết, chết vũng trâu đầm

Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

unfortunate man would be drowned in a tea cup

Thà chết vũng trâu hơn chết khu đĩa đèn

Trật con toán bán cái nhà (con trâu)

Trâu béo kéo trâu gầy

Trâu bò được ngày phá đỗ

Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết

Trâu buộc ghét trâu ăn

Trâu cày ngựa cỡi (ngựa cưỡi)

Trâu chậm uống nước đục (nước dơ)

Trâu ngơ ăn cỏ héo

Tương Đương với Anh Ngữ: He that comes first to the hill may sit where

he will. OR: Delays are dangerous

Trâu chết bò cũng lột da

Trâu chết chẳng khỏi rơm

Trâu chết để da người ta chết để tiếng

Trâu chết mặc trâu bò chết mặc bò

Củ tỏi giắt lưng

Trâu cho ra trâu cho

Bò bán ra bò bán

Trâu cột ghét trâu ăn

Trâu đạp cũng chết voi đạp cũng chết

Trâu dong bò dắt

Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy

Trâu già đâu (không) nệ dao phay

Trâu hay ác thì trâu vạt sừng

Trâu ho cũng bằng bò khỏe

Trâu lấm vẫy quàng

Trâu lành (Trâu sống) không ai mà cả

Trâu ngã nhiều gã cầm dao

Trâu leo cày muỗm

Trâu ngã lắm kẻ cầm dao

Trâu nghiến hàm bò bạch thiệt

Trâu ta ăn cỏ đồng ta

Trâu teo heo nở

Trâu thịt thì gầy trâu cày thì béo

Trâu tìm cọc cọc chẳng tìm trâu

Trâu tìm cột cột không tìm trâu

Trâu toi thì bò ngã

Trâu trắng đi đâu mất mùa tới đấy

Trâu trắng trâu đen

Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt

Thân trâu trâu lo thân bò bò liệu

Tiếc thịt trâu toi

Trai mười bảy bẻ gãy sừng trâu

Trăm trâu cũng một công chăm

Vác bổi thui trâu

Ghi Chú: Ý nói không liệu sức mình; Tương đương với câu: Liệu cơm gắp

mắm

Vô một gà ra phải ba trâu

Voi địt hơn trâu rống

Khoáy sừng, khoáy sọ, khoáy tai

Tam tinh, chằng ách làm tai chúa nhà

Đầu gà còn hơn đuôi phượng (đuôi trâu)

Tương Đương với Anh Ngữ : Better be the head of a dog than a tail of a

lion Làm chủ một nơi còn hơn làm tôi tớ kẻ khác.

Dùng dao mổ trâu (mổ bò) cắt tiết gà

Tương Đương với Anh Ngữ : To use a steam hammer to crack nuts Xử dụng

không đúng chỗ

Chung nốt làm cầu, chung trâu làm trống

Chỉ đường cho Mọi trộm trâu

Trâu hoa tai, bò gai sừng

Ghi Chú: Trâu có hoa tai cũng như bò có gai sừng là hai con vật không

nên nuôi

Thưa lông, mọng da, mõm giỏ

Ghi Chú: * Trâu lông thưa, miệng rộng mõm dài, miệng như cái giỏ mới tốt

Trâu nghiến hàm, bò bạch thiệt

Ghi Chú: * Trâu nghiến hàm chặt lại là trâu xấu

Hàm nghiến, lưỡi đốm hoa cà

Vểnh sừng tóc chóp, cửa nhà mang tai

Ghi Chú: * Lưỡi trâu có đốm hoa cà là trâu tốt

Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi

Mua trâu xem vó, mua chó xem chân

Chùng đùi, thắt quản, ngắn đuôi

Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà

Ghi Chú: * Châm biếm người lái máy cày phải được ăn sang, nông dân phải

chịu tốn kém

Trâu ác là trâu vạc sừng

Bò ác là bò còng lưng méo sườn

Lọ đầu thì bán

Lọ trán thì nuôi

Lọ đuôi thì thịt

 

Post ngày:

10/05/17  

Con Trâu Trong Văn Học Dân Gian

Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của

Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá

Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”

36 Cụm Thành Ngữ Tiếng Hàn Dễ Thuộc Nhất

🌟 Home
🌟 Top