Tài Liệu Ca Dao Tục Ngữ Về Hát Ru

--- Bài mới hơn ---

  • 11 Câu Nói Nổi Tiếng Trong Bộ Tiểu Thuyết Kinh Điển Tam Quốc Diễn Nghĩa
  • Di Truyền Ảnh Hưởng Đến Nhân Cách
  • Những Stt Hay Về Thần Tượng Ngộ Nghĩnh, Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Cha Và Con Gái Lay Động Hàng Triệu Trái Tim
  • Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Cuộc Sống
  • Ngày đăng: 03/12/2013, 18:11

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp 25 Status Câu Nói Hay Về Cha Mẹ Ý Nghĩa Làm Lay Động Lòng Người
  • Câu Chúc Valentine Hay Và Ý Nghĩa
  • Những Câu Chúc Valentine Hay Nhất Ý Nghĩa Nhất Dành Tặng Người Yêu
  • Những Câu Nói Hay Về Buông Tay: 57+ Danh Ngôn Hay
  • Lời Chúc Buổi Sáng Hay Nhất Ý Nghĩa Nhất Để Ngày Mới Thêm Hạnh Phúc Và Vui Vẻ
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Thiên Nhiên Và Sản Xuất, Lao Động Hay

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Những Lời Chúc Sinh Nhật Hay Và Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Tan Vỡ Đau Khổ Nhất
  • 1000+ ❤️❤️❤️ Stt Hay Về Tình Yêu Và Cuộc Sống Được Yêu Thích
  • Những Câu Nói Hay Về Phụ Nữ Thông Minh, Hiện Đại Đúng Từng Chi Tiết!
  • Lời Chúc Năm Học Mới Cho Con
  • Ca dao, tục ngữ bao đời nay đã ăn sâu vào trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam. Đó là những kinh nghiệm thực tế được ông cha ta đúc kết và lưu truyền từ đời này qua đời khác. Trong bài viết này, ThuThuatPhanMem xin chia sẻ đến bạn những câu ca dao, tục ngữ về thiên nhiên và sản xuất, lao động hay.

    Ca dao, tục ngữ về thiên nhiên

    1. Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng

      Ngày tháng mười chưa cười đã tối.

    2. Kiến đen tha trứng lên cao,

      Thế nào cũng có, mưa rào rất to.

    3. Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

      Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm.

    4. Én bay thấp mưa ngập bờ ao

      Én bay cao mưa rào lại tạnh.

    5. Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa.
    6. Nước chảy đá mòn.
    7. Gió thổi đổi trời.
    8. Tháng ba mưa đám, tháng tám mưa cơn
    9. Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa.
    10. Trời nắng chóng mưa, trời mưa chóng tối.
    11. Gió heo may, chuồn chuồn bay thì bão.
    12. Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm.
    13. Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt.

    1. Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ.
    2. Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa.
    3. Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa.
    4. Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước.
    5. Mặt trời có quầng thì hạn, mặt trăng có tán thì mưa.
    6. Mưa chẳng qua ngọ, gió chẳng qua mùi.
    7. Mống đông vồng tây, chẳng mưa dây cũng bão cát.
    8. Rét tháng ba, bà già chết cóng.
    9. Vàng mây thì gió, đỏ mây thì mưa.
    10. Chớp thừng chớp bão, chẳng bão thì mưa.
    11. Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão.
    12. Tháng bảy ngâu ra, mồng ba ngâu vào.
    13. Tháng tám nắng rám trái bưởi.
    14. Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa.
    15. Trời đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa.
    16. Nắng chóng mưa, trưa chóng tối.
    17. Trăng mờ tốt lúa nỏ, trăng tỏ tốt lúa sâu.
    18. Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa.

    Ca dao tục ngữ về lao động, sản xuất hay

    1. Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.
    2. Nhất canh trì, nhì canh viên, tam canh điền.
    3. Nhất thì nhì thục.
    4. Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân.
    5. Gió heo may, mía bay lên ngọn.
    6. Chuồng gà hướng đông, cái lông chẳng còn.
    7. Năm trước được cau, năm sau được lúa.
    8. Tháng ba dâu trốn, tháng bốn dâu về.
    9. Tằm đói một bữa bằng người đói nửa năm.
    10. Ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa.

    1. Trồng khoai đất nạ, gieo mạ đất quen.
    2. Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa.
    3. Một tiền gà, ba tiền thóc.
    4. Ba tháng trông cây, không bằng một ngày trông quả.
    5. Làm ruộng ba năm không bằng chằm tăm một lứa.
    6. Làm ruộng ăn cơm nằm, chăm tằm ăn cơm đứng.
    7. Được mùa quéo, héo mùa chiêm.
    8. Tháng giêng trồng trúc, tháng lục trồng tiêu.
    9. Nắng đan đó, mưa gió đan gầu.
    10. Giàu đâu những kẻ ngủ trưa

      Sang đâu những kẻ say xưa tối ngày.

    11. Lúa chiêm lấp ló đầu bờ

      Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.

    12. Muốn cho lúa nảy bông to

      Cày sâu bừa kĩ phân tro cho nhiều.

      Tỏ trăng mười bốn được tằm

      Tỏ răng hôm rằm thì được lúa chiêm.

    1. Lợn ăn xong lợn nằm lợn béo

      Lợn ăn xong lợn réo lợn gầy.

    2. Gà đen chân trắng mẹ mắng cũng mua

      Gà trắng chân chì, mua chi giống ấy.

    3. Được mùa lúa, úa mùa cau

      Được mùa cau, đau mùa lúa.

    4. Bao giờ đom đóm bay ra

      Hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng.

    1. Lập thu mới cấy lúa mùa,

      Khác nào hương khói lên chùa cầu con.

    2. Mạ chiêm ba tháng không già

      Mạ mùa tháng rưỡi ắt là không non.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Stt Hay Về Cuộc Sống Bằng Tiếng Anh Trên Facebook 2022 Ý Nghĩa Nhất
  • Những Lời Chúc Ngủ Ngon Cho Người Yêu Lãng Mạn Nhất
  • Những Hình Ảnh Và Câu Nói Hay Về Gia Đình Hạnh Phúc Nên Đọc Nhất
  • Top 10 Câu Status Buồn Rơi Nước Mắt Trong Tình Yêu
  • Stt Hay Về Con Gái Độc Thân Dành Cho Các Chế Fa Chuẩn Men
  • Tài Liệu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Chị Em Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá
  • Triết Lý Biện Chứng Trong Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam Và Việc Vận Dụng Vào Dạy Học Triết Học
  • Sưu Tầm, Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ Vào Giảng Dạy Phần Triết Học Trong Môn Giáo Dục Công Dân
  • Những Câu Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội
  • 30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Mang Đậm Triết Lí Nhân Sinh Sâu Sắc Về Cuộc Sống
  • Ca dao tục ngữ về tình chị em

    Chồng con nó chẳng ra gì

    Tổ tôm sóc đĩa nó thì chơi hoang

    Nói ra, xấu thiếp hổ chàng

    Nó giận, nó phá tan hoang cửa nhà

    Nói đây, có chị em nhà

    Còn năm ba thúng thóc với một và cân bông

    Em bán đi trả nợ cho chồng

    Còn ăn hết nhịn cho hả lòng chồng con

    Đắng cay ngậm quả bồ hòn

    Cửa nhà gia thế, chồng con kém người

    Nói ra, sợ chị em cười

    Con nhà nho-giáo lấy phải người đần ngu

    Rồng vàng tắm nước ao tù

    Người khôn ở với người ngu nặng mình

    Chồng em nó chẳng ra gì

    Tổ tôm, xóc đĩa, nó thì chơi hoang

    Nói ra xấu thiếp hổ chàng

    Nó giận nó phá tang hoang cuẳ nhà

    Nói đây, có chị em này

    Còn năm thúng thóc, một vài cân bông

    Em bán đi, trả nợ cho chồng

    Còn ăn hết nhịn, hả lòng chồng con

    Đắng cay ngậm quả bồ hòn

    Cửa nhà gia thế, chồng con kém người

    Nói ra sợ chị em cười

    Con nhà gia giáo, gặp ngưởi đần ngu!

    Rồng vàng tắm nước ao tù

    Người khôn ở với người ngu bực mình.

    Chồng lớn vợ bé thì xinh

    Chồng bé vợ lớn ra tình chị em

    Em ơi đừng khóc chị yêu

    Nín đi chị kể truyện Kiều em nghe

    Gái có chồng như gông đeo cổ

    Gái không chồng như phản gỗ long đanh

    Phản long đanh anh còn chửa được

    Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi

    Không chồng khốn lắm chị em ơi!

    Mọi người có cả, em ngồi em than

    Hoa bí đỏ ngầu hoa bầu trắng xóa

    Muốn được ăn quả, đừng có ngắt hoa

    Ai về nhắn chị em nhà

    Muốn cho hoa tốt liệu mà bón phân

    Lẳng lơ chẵng một mình tôi

    Thanh Lâm, Ðồng Sớm cũng đôi ba người

    Nói ra sợ chị em cười

    Lấy chồng tháng chín, tháng mười đẻ con

    Lúc đêm sương sương lạnh trăng mờ

    Canh tàn, rượu tỉnh, lúc bấy giờ em nghĩ thương thân

    Em tiếc thay trong giá trắng ngần

    Nỡ gieo mình vào đám phong trần mà chơi

    Chốn hang sâu lẩn khuất hương trời

    Non xanh nước biếc để ai người biết cho

    Con chim khôn đã mắc phải dò

    Vui gì cái kiếp giang hồ hỡi chị em ơi

    Tính đốt tay quá nửa xuân rồi

    Đầu xanh mấy nỗi da mồi tóc sương

    Kiếp hồng nhan nghĩ đến mà thương

    Tài tình chi lắm để mang nợ đời

    Trông non sông mà thẹn với Trời

    Khi vui vui gượng, khi cười em cười suông

    Ruột con tằm trăm mối tơ vương

    Bên trời góc bể biết gởi can trường vào đâu

    Ai về nhắn ả Mạc Sầu.

    Mày đẹp cho mẹ mày lo

    Đêm đêm lắm kẻ rình mò ước ao,

    Xấu xí như chị em tao,

    Đêm nằm ngỏ cửa, gió vào mát thay

    Muốn cho anh chị em nhà

    Trên dưới thuận hòa, nếp sống an vui

    Miệng mời tay lại mở nem

    Nem thời có ít, chị em thời nhiều

    Một lo đứng cửa trông ra

    Hai lo đi lấy chồng xa nước người

    Ba lo sợ chị em cười

    Bốn lo đi ngược, về xuôi sao đành

    Năm lo lúc tử, lúc sinh

    Sáu lo phận (con) gái một mình đường xa

    Bảy lo nhớ cửa nhớ nhà

    Tám lo còn chút mẹ già ai nuôi

    Chín lo em thiệt cả mười

    Mười lo (Để em) kiếm lối tìm nơi đi về

    Một năm là mấy mùa xuân

    Gái kia hồ dễ mấy lần đưa dâu

    Chị em dâu như bầu nước lã

    Chị em gái như cái nhân sâm

    Ngày xưa đại tướng cầm quân

    Ngày nay đại tướng cầm quần chị em

    Nhờ cô nhờ bác giúp lời

    Chị em giúp của, ông trời định đôi

    Người ta năm bảy chị em

    Tôi đây như thể chiếc nem lột trần

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Hỏi Của Nguyễn Thị Thu Nga
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Biển, Biển Đảo, Biển Vũng Tàu Nha Trang Hay Nhất
  • Người Việt Nam Thương Mẹ, Kính Cha Qua Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội
  • Văn Hóa Sản Xuất Nông Nghiệp Trong Tục Ngữ, Ca Dao

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Danh Ngôn Xin Lỗi Ý Nghĩa
  • 100 Câu Thành Ngữ Tiếng Nghệ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Đạo Đức Hay Và Ý Nghĩa
  • Chữ Hiếu Trong Tục Ngữ, Ca Dao Việt Nam
  • Những Câu Thơ Thư Pháp Hay Về Cha Mẹ
  • Trải qua nghìn năm giữ nước và dựng nước, nông nghiệp Việt Nam vẫn có vị trí then chốt, được Đảng và Nhà nước quan tâm thường xuyên tổ chức các hội nghị đối thoại, phấn đấu thi đua thay đổi theo định hướng mới để phát huy tối đa nguồn lực đẩy mạnh phát triển nông nghiệp nông thôn, khắc phục những khó khăn tồn đọng nhất là trong giai đoạn dịch bệnh Covid19 ảnh hưởng toàn cầu.

    Là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam có  đầy đủ những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và khí hậu tiêu biểu của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: nóng ẩm, mưa nhiều, có hai mùa rõ rệt. Tại đây mạng lưới sông ngòi dày đặc và những vùng đồng bằng màu mỡ, rộng lớn là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây lúa nước.

    Từ thời xưa đến nay, làm nông nghiệp đã trở thành một nét văn hóa của dân tộc Việt Nam, quanh năm người nông dân làm bạn với ruộng đồng. Bất kể khi nông nhàn hay bận rộn mùa vụ, cha ông với tinh thần yêu quê hương đất nước đã gửi vào câu ca, tiếng hát những kinh nghiệm sản xuất và làm ăn được đúc kết qua nhiều thế hệ về cây trồng, vật nuôi, về mùa vụ, thời tiết, về hoàn cảnh sản xuất và vị trí của nông nghiệp ở nước ta.

    Tuy chỉ truyền miệng từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ người này qua người khác nhưng những câu ca dao, tục ngữ về văn hóa sản xuất nông nghiệp đã có những đúc kết xác đáng và được khoa học ngày nay kiểm nghiệm tính đúng đắn.

    Về đất đai, cày bừa

    “Đất màu trồng đậu trồng ngô

    Đất lầy cấy lúa, đất khô làm vườn”;

    “Cày ải hơn rải phân”;

    “Cày gãi bừa chùi lúa thui bông lép, cày sâu bừa kép lúa đẹp bông sây”;

    “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang.

    Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu”;

    “Đất thiếu trồng dừa, đất thừa trồng cau”;

    “Hòn đất nỏ là một giỏ phân”;

    “Khoai đất lạ, mạ đất quen”;

    Về kỹ thuật canh tác

    “Chắc rễ bền cây”;

    “Cấy thưa hơn bừa kĩ”.

    “Phân tro không bằng no nước”;

    “Muốn no thì phải chăm làm.

    Một hạt thóc vàng, chín giọt mồ hôi”;

    “Đom đóm bay ra, trồng cà tra đỗ,

    Tua rua bằng mặt, cất bát cơm chăm”;

    “Bao giờ đom đóm bay ra

    Hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng”;

    “Dưa gang một, chạp thì trồng

    Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo”;

    “Ải thâm không bằng dầm ngấu”;

    “Tốt giống, tốt má, tốt mạ, tốt lúa”;

    “Được mùa lúa, úa mùa cau.

    Được mùa cau, đau mùa lúa”;

    “Trâu ra, mạ vào”;

    “Lúa chiêm đào sâu chôn chặt.

     Lúa mùa vừa đặt vừa đi”;

    “Cấy thưa thừa thóc, cấy dày cóc ăn”;

    “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”;

    “Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn”.

    “Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc”.

    “Trâu ơi, ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

    Cấy cày vốn nghiệp nông gia

    Ta đây trâu đấy ai mà quản công

    Bao giờ cây lúa còn bông

    Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn’’;

    “Có thực mới vực được đạo”;

    “Nhất sĩ nhì nông. Hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”;

    “Làm ruộng thì ra.

    Làm nhà thì tốn”;

    “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm, xay, giần, sàng”;

    Về thời tiết

    “Nắng sớm trồng cà

    Mưa sớm ở nhà phơi thóc”;

    “Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa”;

    “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ,

    Hễ nghe tiếng sấm, phất cờ mà lên”;

    “Người ta đi cấy lấy công,

    Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.

    Trông trời, trông đất  trông mây,

    Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm.

    Trông cho chân cứng đá mềm

    Trời êm, bể lặng mới yên tấm lòng”;

    “Lạy trời mưa thuận gió hoà

    Để cho chiêm tốt, mùa tươi em mừng

    Ngô khoai chẳng được thì đừng

    Có nếp có tẻ trông chừng có ăn”;

    “Ơn trời mưa nắng phải thì

    Nơi thì bừa cạn nơi thì cày sâu…”

    “Trời mưa dông được đồng lúa trổ”;

    “Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”;

    “Trời đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa”;

    “Kiến đen tha trứng lên cao

    Thế nào cũng có mưa rào rất to”;

    “Mưa tháng ba hoa đất. Mưa tháng tư hư đất”;

    “Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm”;

    “Mặt trời có quầng thì hạn, mặt trăng có tán thì bão”;

    “Chóp chài đội mũ, mây phủ đá bia

    Ếch nhái kêu lia, trời mưa như trút”;

    “Mồng chín tháng chín có mưa,

    Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn.

    Mồng chín tháng chín không mưa,

    Thì con bán cả cày bừa đi buôn”;

    “Én bay thấp mưa ngập bờ ao.

    Én bay cao mưa rào lại tạnh”;

    “Sáng sủa được tằm. Tối tăm được lúa”;

    “Đông sao thì nắng. Vắng sao thì mưa”.

    Về mùa vụ

    “Cấy tháng chạp, đạp không đổ”;

    “Tháng giêng chân bước đi cày

    Tháng hai vãi lúa, ngày ngày siêng năng.

    Thuận mưa lúa tốt đằng đằng,

    Tháng mười gặt lúa, ta ăn đầy nhà”.

    “Tháng sáu mà cấy mạ già

    Thà rằng công cấy ở nhà ẵm con

    Tháng chạp mà cấy mạ non

    Thà rằng công cấy ẵm con ở nhà”;

    “Tháng sáu thì cấy cho sâu

    Tháng chạp cấy nhảy mau mau mà về”;

    “Tháng chạp là tháng trồng khoai

    Tháng giêng trồng đậu tháng hai trồng cà

    Tháng ba cày vỡ ruộng ra

    Tháng tư làm mạ mưa sa đầy đồng…”;

    “Bao giờ cho đến tháng hai.

    Con gái làm cỏ, con trai be bờ”;

    “Muốn ăn lúa chiêm xem trăng rằm tháng tám”;

    “Muốn ăn lúa dé, xem trăng rằm tháng giêng”;

    “Muốn ăn lúa tháng mười, trông trăng mồng tám tháng tư”;

    “Thiếu tháng hai mất cà,

    Thiếu tháng ba mất đỗ,

    Thiếu tháng tám mất hoa ngư,

    Thiếu tháng tư mất hoa cốc”;

    “Tháng giêng trồng trúc, tháng lục trồng tiêu”.

    “Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân”;

    “Tỏ trăng mười bốn được tằm

    Tỏ trăng hôm rằm thì được lúa chiêm”;

    “Tháng bảy mưa gãy cành tràm

    Tháng tám nắng rám trái bưởi”;

    “Trăng mờ tốt lúa nỏ. Trăng tỏ tốt lúa sâu;

    “Trăng quầng thì hạn. Trăng tán thì mưa”;

    “Được mùa chê cơm hẩm.

    Mất mùa lẫm cơm thiu”.

    Về các loại cây trồng

    “Trồng trầu đắp nấm cho cao

    Che cho sương nắng khỏi vào gốc cây;

    Nửa năm bén rễ bén dây

    Khôn dầu bã đậu bón tay cho liền”;

    “Chuối sau cau trước”;

    “Khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen”;

    “Khoai bén tay, sắn bay bụi”;

    “Được mùa chớ phụ ngô khoai.

    Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng”;

    “Làm ruộng ăn cơm nằm.

    Chăn tằm ăn cơm đứng”;

    “Làm ruộng ba năm.

    Chăn tằm ba lứa”;

    “Gió heo may, đường leo lên ngọn”;

    “Thứ nhất canh trì. Thứ nhì canh viên. Thứ ba canh điền”;

    “Lúa chiêm ăn nhánh. Lúa mùa ăn cây”;

    “Chiêm bóc vỏ, mùa xỏ tay”;

    “Đói thì ăn ráy, ăn khoai.

    Chớ thấy lúa trỗ tháng hai mà mừng”;

    “Chiêm cập cội, mùa đợi nhau’;

    Về tình yêu đôi lứa

    “Hỡi cô tát nước bên đàng.

    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”;

    “Nắng lên cho lúa chín vàng.

    Cho anh đi gặt, cho nàng đưa cơm”;

    “Hạt thóc vàng, cây lúa cũng vàng.

    Anh yêu em, bác mẹ họ hàng cũng yêu”;

    “Tay mang bó mạ xuống đồng.

    Miệng ca tay cấy mà lòng nhớ ai”;

    “Anh về cuốc đất trồng cau

    Cho em giâm ké dây trầu một bên

    Chừng nào trầu nọ bén lên

    Cau kia ra trái lập nên cửa nhà”.

    Hy vọng những câu ca dao, tục ngữ trên sẽ giúp các bạn có thêm nhiều kinh nghiệm quý báu trong đời sống sản xuất nông nghiệp. Mọi câu chuyện đều có một khởi đầu, với VN Organi Farm, chúng tôi bắt đầu câu chuyện của mình từ một khao khát vươn lên mang tên: ‘Vì Nông Nghiệp Việt Nam’’.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Giao Thoa Giữa Văn Hóa Xứ Đoài Và Văn Hóa Thăng Long
  • Lịch Sử Thanh Hóa Cổng Điện Tử Tỉnh Thanh Hóa
  • Cho Để Văn Chứng Minh Rằng Nhân Dân…
  • Tuyển Tập Các Câu Thành Ngữ Trong Tiếng Nhật
  • Danh Sách Những Câu Tục Ngữ Hay Và Ý Nghĩa Trong Tiếng Nhật
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Văn Hóa Sản Xuất Nông Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Tục Ngữ Về Đạo Đức, Lối Sống
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Sự Đoàn Kết, Dũng Cảm, Mưu Trí, Liêm Khiết
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Danh Lam Thắng Cảnh
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Giáo Hay Và Ý Nghĩa Nhất Mà Bạn Nên Đọc
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Sự Tiết Kiệm, Hoang Phí, Lãng Phí Thời Gian Của Cải Tiền Bạc Hay Nhất
  • Tuy không thành văn, mà chỉ truyền khẩu từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ người này qua người khác nhưng những câu ca dao, tục ngữ nông nghiệp đã có những nhận xét, đúc kết xác đáng và đã được khoa học ngày nay kiểm nghiệm tính đúng đắn.

    1. Ca dao, tục ngữ về đất đai và lao động

    “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang.

    Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu”;

    “Canh một chưa nằm

    Canh năm đã dậy”;

    “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm, xay, giầm, sàng”;

    ” Đất thiếu trồng dừa, đất thừa trồng cau”;

    “Muốn no thì phải chăm làm.

    Một hạt thóc vàng, chín giọt mồ hôi”;

    “Đất màu trồng đậu trồng ngô

    Đất lầy cấy lúa, đất khô làm vườn”;

    “Người ta đi cấy lấy công,

    Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.

    Trông trời, trông đất trông mây,

    Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm.

    Trông cho chân cứng đá mềm

    Trời êm, bể lặng mới yên tấm lòng”;

    “Tháng giêng chân bước đi cày

    Tháng hai vãi lúa, ngày ngày siêng năng.

    Thuận mưa lúa tốt đằng đằng,

    Tháng mười gặt lúa, ta ăn đầy nhà”.

    “Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”;

    “Trời đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa”;

    “Kiến đen tha trứng lên cao

    Thế nào cũng có mưa rào rất to”;

    “Mưa tháng ba hoa đất. Mưa tháng tư hư đất”;

    “Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm”;

    “Mặt trời có quầng thì hạn, mặt trăng có tán thì bão”;

    “Chóp chài đội mũ, mây phủ đá bia

    Ếch nhái kêu lia, trời mưa như trút”;

    “Mồng chín tháng chín có mưa,

    Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn.

    Mồng chín tháng chín không mưa,

    Thì con bán cả cày bừa đi buôn”;

    “Thiếu tháng hai mất cà,

    Thiếu tháng ba mất đỗ,

    Thiếu tháng tám mất hoa ngư,

    Thiếu tháng tư mất hoa cốc”;

    “Tháng giêng trồng trúc, tháng lục trồng tiêu”.

    “Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân”;

    “Tỏ trăng mười bốn được tằm

    Tỏ trăng hôm rằm thì được lúa chiêm”;

    “Tháng bảy mưa gãy cành tràm

    Tháng tám nắng rám trái bưởi”;

    “Trăng mờ tốt lúa nỏ. Trăng tỏ tốt lúa sâu;

    “Trăng quầng thì hạn. Trăng tán thì mưa”;

    “Én bay thấp mưa ngập bờ ao.

    Én bay cao mưa rào lại tạnh”;

    “Sáng sủa được tằm. Tối tăm được lúa”;

    “Đông sao thì nắng. Vắng sao thì mưa”.

    3. Về vai trò của nông nghiệp

    “Có thực mới vực được đạo”;

    “Nhất sỹ nhì nông. Hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sỹ”;

    “Làm ruộng thì ra.

    Làm nhà thì tốn”;

    “Sợ mẹ cha, không bằng sợ tháng ba ngày tám”;

    “Được mùa chê cơm hẩm.

    Mất mùa lẫm cơm thiu”.

    4. Ca dao, tục ngữ về các loại cây trồng, vật nuôi

    “Được mùa chớ phụ ngô khoai.

    Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng”;

    “Làm ruộng ăn cơm nằm.

    Chăn tằm ăn cơm đứng”;

    “Làm ruộng ba năm.

    Chăn tằm ba lứa”;

    “Gió heo may, đường leo lên ngọn”;

    “Thứ nhất canh trì. Thứ nhì canh viên. Thứ ba canh điền”;

    “Lúa chiêm ăn nhánh. Lúa mùa ăn cây”;

    “Chiêm bóc vỏ, mùa xỏ tay”;

    “Đói thì ăn ráy, ăn khoai.

    Chớ thấy lúa trỗ tháng hai mà mừng”;

    “Chiêm cập cội, mùa đợi nhau’;

    “Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc”.

    “Trâu ơi, ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

    Cấy cày vốn nghiệp nông gia

    Ta đây trâu đấy ai mà quản công

    Bao giờ cây lúa còn bông

    Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”;

    5. Về các biện pháp kỹ thuật canh tác

    “Chắc rễ bền cây”;

    “Chuối sau cau trước”;

    “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ,

    Hễ nghe tiếng sấm, phất cờ mà lên”;

    “Phân tro không bằng no nước”;

    “Tháng sáu thì cấy cho sâu

    Tháng chạp cấy nhảy mau mau mà về”;

    “Trồng trầu đắp nấm cho cao

    Che cho sương nắng khỏi vào gốc cây;

    Nửa năm bén rể bén dây

    Khôn dầu bã đậu bón tay cho liền”;

    “Nắng sớm trồng cà

    Mưa sớm ở nhà phơi thóc”;

    “Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa”;

    ” Đom đóm bay ra, trồng cà tra đỗ,

    Tua rua bằng mặt, cất bát cơm chăm”;

    “Bao giờ đom đóm bay ra

    Hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng”;

    “Dưa gang một, chạp thì trồng

    Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo”;

    “Hòn đất nỏ là một giỏ phân”;

    “Cấy tháng chạp, đạp không đổ”;

    “Ải thâm không bằng dầm ngấu”;

    “Tốt giống, tốt má, tốt mạ, tốt lúa”;

    “Được mùa lúa, úa mùa cau.

    Được mùa cau, đau mùa lúa”;

    “Khoai đất lạ, mạ đất quen”;

    “Trâu ra, mạ vào”;

    “Lúa chiêm đào sâu chôn chặt.

    Lúa mùa vừa đặt vừa đi”;

    “Cấy thưa thừa thóc, cấy dày cóc ăn”;

    “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”;

    “Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn”.

    6. Về vẻ đẹp nông thôn và tình yêu đôi lứa

    “Hỡi cô tát nước bên đàng.

    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”;

    “Nắng lên cho lúa chín vàng.

    Cho anh đi gặt, cho nàng đưa cơm”;

    “Bao giờ cho đến tháng hai.

    Con gái làm cỏ, con trai be bờ”;

    “Hạt thóc vàng, cây lúa cũng vàng.

    Anh yêu em, bác mẹ họ hàng cũng yêu”;

    “Tay mang bó mạ xuống đồng.

    Miệng ca tay cấy mà lòng nhớ ai”;

    “Anh về cuốc đất trồng cau

    Cho em giâm ké dây trầu một bên

    Chừng nào trầu nọ bén lên

    Cau kia ra trái lập nên cửa nhà”.

    Người biên tập: Vân Hồng

    Tags: Ca dao, tục ngữ, Kỹ thuật canh tác, Văn hóa nông nghiệp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Tục Ngữ, Ca Dao Về Rắn
  • Phong Tục Tập Quán Việt Nam Qua Ca Dao Và Tục Ngữ
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Pháp Luật Và Kỉ Luật
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Ông Bà, Tình Cảm Bà Cháu, Ông Cháu
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mẹ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Đặc Sản Quảng Nam, Đà Nẵng

    --- Bài mới hơn ---

  • Thành Ngữ Về Quê Hương Đất Nước Hay ❤️ Đẹp Nhất
  • Sắc Thái Văn Hóa Quảng Bình Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh
  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Hỏi nơi mô ơn trượng nghĩa dày bằng ta?

    * Trái bòn bon trong tròn ngoài méo

    Trái sầu đâu trong héo ngoài tươi

    Em thương anh ít nói ít cười

    Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng…

    * “Tiếng đồn mì Quảng Phú Chiêm

    Cao lầu Phố Hội, mắm nêm Cẩm Hà

    Nam Ô nước mắm đậm đà thơm ngon

    Đại Lộc nhiều trái bòn bon

    Khoai lang Trà Đóa, Quế Sơn nếp mường

    Gạo ngon thơm phức, trăng tròn mùa thu

    Cá trôi mùa lũ, sông Thu chảy về

    Vĩnh Điện chả lụa khỏi chê

    Xu xoa Khúc Lũy, thịt bê Chợ Cầu

    Quán Rườn, Chợ Đước Câu Lâu

    Bánh tráng cá hấp ở đâu ngon bằng?

    Kho rim nước mắm đâu bằng Hội An

    Tằm dâu là xứ Trường Giang

    Đông Yên bủa kén, nhộng non mít xào

    Mía mưng, nón lá quai thao tóc thề

    Duy Trinh đắp đập khai đê

    Cho cây thêm trái sum suê đầy vườn

    Quảng Nam, Đà Nẵng tình thương quê nhà

    Khế non, chuối chát, ớt pha mắm gừng.”

    Em thương anh ít nói ít cười

    Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng…

    Hỏi quân Hường Hiệu có còn đánh Tây?

    Sớm mai đi chợ, tối đan mành mành;

    Tiếng mai cửi dệt, tiếng chiều xa quay;

    Chiều chiều mây phủ Hải Vân

    Chim kêu ghềnh đá gẫm thân lại buồn;

    Đêm nằm nghe trống Mỹ Sơn

    Nghe chuông Trà Kiệu, nghe đờn Phú Bông;

    Gió nam thổi xuống Lò Vôi

    Ai đồn với bạn ta có đôi bạn buồn?

    Dời chưn bước xuống ghe buôn

    Sóng bao nhiêu dợn dạ ta buồn bấy nhiêu!

    Đường mô xa bằng đường Gia Cốc

    Dốc mô ngược bằng dốc Phú Cang

    Lời em than hai hàng lụy nhỏ

    Em còn mẹ già biết bỏ cho ai?

    Phần thời chị gái chẳng có em trai

    Anh có thương thì thủng thỉnh rài rài chờ nhau…

    Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng .

    Mồ côi có kẽ trâu đôi, nhà rường

    Nhờ tay thợ rừng mới lọt tay anh,

    Phân du, bạch chỉ rành rành ,

    Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân.

    Trà My là huyện chuyên sản xuất quế rừng, được các tay thợ rừng lột vỏ, cắt đoạn, và sắp xếp theo các hạng để định giá xuất khẩu.

    Share and Enjoy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hình Bóng Con Trâu Qua Ca Dao
  • Top Câu Tục Ngữ Mê Tín Dị Đoan Hay Nhất 2022
  • Tiếng Cười Phê Phán Mê Tín Dị Đoan Trong Ca Dao Việt Nam
  • Ý Nghĩa Của Địa Danh Qua Tục Ngữ Ca Dao Phú Yên
  • Ứng Xử Của Người Phật Tử Đi Chùa Trong Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Văn Hóa Sản Xuất Nông Nghiệp Phần 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Đôi Câu Ca Dao, Tục Ngữ Trên Quê Biển Bình Thuận…
  • Sóc Trăng Bên Bờ Biển Lớn
  • Thổ Âm Thổ Ngữ Của Người Thanh Hóa
  • Bô Sưu Tập Ca Dao Đồng Dao Cho Bé
  • Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Thiếu Nhi (Phần 1)
  • Là một nước thuần nông nghiệp, quanh năm làm bạn với ruộng đồng, nên từ xa xưa cha ông đã gửi vào câu ca, tiếng hát những kinh nghiệm sản xuất và làm ăn đã được đúc kết qua nhiều thế hệ về cây trồng, vật nuôi, về mùa vụ, thời tiết, về hoàn cảnh sản xuất và vị trí của nông nghiệp ở nước ta qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.

    Tuy không thành văn, mà chỉ truyền khẩu từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ người này qua người khác nhưng những câu ca dao, tục ngữ nông nghiệp đã có những nhận xét, đúc kết xác đáng và đã được khoa học ngày nay kiểm nghiệm tính đúng đắn.

    1. Ca dao, tục ngữ về đất đai và lao động

    “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang.

    Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu”;

    “Canh một chưa nằm

     Canh năm đã dậy”;

    “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm, xay, giầm, sàng”;

    “Đất thiếu trồng dừa, đất thừa trồng cau”;

    “Muốn no thì phải chăm làm.

    Một hạt thóc vàng, chín giọt mồ hôi”;

    “Đất màu trồng đậu trồng ngô

    Đất lầy cấy lúa, đất khô làm vườn”;

    “Người ta đi cấy lấy công,

    Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.

    Trông trời, trông đất  trông mây,

    Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm.

    Trông cho chân cứng đá mềm

    Trời êm, bể lặng mới yên tấm lòng”;

    “Tháng giêng chân bước đi cày

    Tháng hai vãi lúa, ngày ngày siêng năng.

    Thuận mưa lúa tốt đằng đằng,

    Tháng mười gặt lúa, ta ăn đầy nhà”.

    “Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”;

    “Trời đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa”;

    “Kiến đen tha trứng lên cao

    Thế nào cũng có mưa rào rất to”;

    “Mưa tháng ba hoa đất. Mưa tháng tư hư đất”;

    “Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm”;

    “Mặt trời có quầng thì hạn, mặt trăng có tán thì bão”;

    “Chóp chài đội mũ, mây phủ đá bia

    Ếch nhái kêu lia, trời mưa như trút”;

    “Thiếu tháng hai mất cà,

    Thiếu tháng ba mất đỗ,

    Thiếu tháng tám mất hoa ngư,

    Thiếu tháng tư mất hoa cốc”;

    “Tháng giêng trồng trúc, tháng lục trồng tiêu”.

    “Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân”;

    “Tỏ trăng mười bốn được tằm

    Tỏ trăng hôm rằm thì được lúa chiêm”;

    “Tháng bảy mưa gãy cành tràm

    Tháng tám nắng rám trái bưởi”;

    “Trăng mờ tốt lúa nỏ. Trăng tỏ tốt lúa sâu;

    “Trăng quầng thì hạn. Trăng tán thì mưa”;

    “Én bay thấp mưa ngập bờ ao.

    Én bay cao mưa rào lại tạnh”;

    “Sáng sủa được tằm. Tối tăm được lúa”;

    “Đông sao thì nắng. Vắng sao thì mưa”.

    3. Về vai trò của nông nghiệp

    “Có thực mới vực được đạo”;

    “Nhất sỹ nhì nông. Hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sỹ”;

    “Làm ruộng thì ra.

    Làm nhà thì tốn”;

    “Sợ mẹ cha, không bằng sợ tháng ba ngày tám”;

    “Được mùa chê cơm hẩm.

    Mất mùa lẫm cơm thiu”.

    Vân Hồng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cây Lúa Trong Ngôn Ngữ Người Việt
  • Con Gà Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Tiếp Cận Kiến Thức Địa Lý Qua Thơ
  • Tìm Hiểu Du Lịch Qua Ca Dao Ở Một Số Tỉnh Miền Tây Nam Bộ Theo Hướng Du Lịch Sinh Thái Hiện Đại
  • Kho Tàng Ca Dao Tục Ngữ
  • Văn Hoá Nông Nghiệp Trong Tục Ngữ Ca Dao Về Lao Động Sản Xuất

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Khánh Hòa, Kiên Giang, Kon Tum, Lai Châu, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Lào Cai, Long An
  • Tục Ngữ Về Tiết Kiệm
  • Bộ Sách Tiếng Việt Lớp 1: ‘các Thành Ngữ Đều Nặng Nề, Bài Đọc Thì Xỉa Xói Nhiều Hơn Là Giáo Dục’
  • Ca Dao Về Lao Động Sản Xuất
  • Hệ Thống Từ Ngữ , Thành Ngữ Mrvt Theo Chủ Đề Lớp 4
  • HÀ THỊ QUẾ HƯƠNG

    ( Thạc sĩ, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam)

    1.

    Tục ngữ, ca dao Việt Nam về lao động sản xuất là những câu nói, những lời ca của người Việt được lưu truyền trong dân gian, phản ánh và đúc kết những kinh nghiệm, nhận thức, đánh giá của cha ông ta trong quá trình lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất.

    Việt Nam là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và khí hậu tiêu biểu của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: nóng ẩm, mưa nhiều, có hai mùa rõ rệt, mạng lưới sông ngòi dày đặc và những vùng đồng bằng màu mỡ, rộng lớn. Đây là điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây lúa nước. “Điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều và có gió mùa là hằng số tự nhiên của văn hoá Đông Nam Á và chính nó đã góp phần tạo nên đặc trưng của văn hoá Đông Nam Á – nền văn minh thực vật hay nền văn minh lúa nước.”

    Ơn trời mưa nắng phải thì

    Nơi thì bừa cạn nơi thì cày sâu...

    Từ những kinh nghiệm về thời tiết, người nông dân đã biết tận dụng thiên nhiên để gieo cấy cho hợp thời vụ, sao cho gieo trồng đạt năng suất cao:

    – Tháng chạp là tháng trồng khoai

    Tháng giêng trồng đậu tháng hai trồng cà

    Tháng ba cày vỡ ruộng ra

    Tháng tư làm mạ mưa sa đầy đồng…

    – Đói thì ăn ráy ăn khoai, chớ thấy lúa giỗ tháng hai mà mừng.

    Muốn ăn lúa dé, xem trăng rằm tháng giêng.

    Tỏ trăng mười bốn được tằm

    Tỏ trăng hôm rằm thì được lúa chiêm.

    Trăng sáng được ruộng su, trăng lu được ruộng cạn.

    (Khi mặt trăng tròn và trong thì sau đó trời thường hạn hán, ít mưa, ruộng xấu, mất mùa, dân sẽ đói, thiên hạ lệch. Nếu mặt trăng chếch nghĩa là trăng méo thì trời sẽ có mưa nhiều, ruộng đủ nước, lúa tốt, dân chúng sẽ no đủ, thiên hạ bình yên.)

    – v.v.

    Công việc đồng áng không chỉ phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên, thời tiết, mà nó còn chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố khác nữa như đất đai, giống, kĩ thuật cày cấy, chăm bón, làm cỏ, gieo trồng, gặt hái,… Đặc biệt là trong quá trình trồng cây lúa nước, là cây trồng đặc trưng ở Việt Nam, thì việc đòi hỏi các kĩ thuật trong các khâu chăm bón càng phải kĩ lưỡng.

    a) Làm đất, cày bừa

    Người nông dân Việt Nam luôn nhận thức, đánh giá được vai trò của đất trong trồng trọt có ý nghĩa vô cùng quan trọng ” Ai ơi, đừng bỏ ruộng hoang, bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu

    Cày gãi bừa chùi lúa thui bông lép, cày sâu bừa kép lúa đẹp bông sây.

    (Cầy cho đất tơi (ải bở) thì trồng lúa mới tốt, nếu đất chưa khô kĩ, vẫn còn nước (ải sượng) thì lúa xấu).

    Ải thâm không bằng dầm ngấu.

    Đất trồng lên, nèn vạc phẳng, ải trắng băng, cấy sáng giăng, không phải thằng nào đấm.

    (Đất cấy lúa chiêm phải có nước ngâm cho thối cỏ, đất cấy lúa mùa phải phơi khô.)

    Khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen.

    (Đất để trồng khoai phải dính, đất trồng sắn thì không cần).

    Đất đen, đất nạc, cát pha, ta trồng sắn, chuối thì ra củ nhiều. ; Tốt giống tốt má, tốt mạ tốt lúa” . Do đó các kĩ thuật về chọn giống mạ, gieo mạ, chăm sóc được người nông dân thực hiện kĩ càng, cẩn thận:

    Chiêm cút mùa di, sống để dạ chết mang đi.

    – Mạ mùa sướng cao, mạ chiêm ao thấp. và kĩ thuật cấy cũng phải tuỳ vào từng loại mạ:

    – Cấy lúa ruộng lạ, gieo mạ ruộng quen. (Lúa chiêm phải cấy sâu, lúa mùa cấy nông).

    Cấy thưa hơn bừa kĩ.

    Cho nhặt hàng sông, cho đông hàng con, cho tròn bụi lúa.

    – v.v.

    Trong khâu cấy lúa, không chỉ đòi hỏi kĩ thuật mà thời điểm cấy cũng rất quan trọng:

    Sài đường, lúa tép vụ năm, hin, dâu, tám, dự thì chăm vụ mười. (Cấy lúa mùa tháng sáu, cấy lúa chiêm tháng chạp là hợp thời vụ.)

    Bao giờ mang hiện đến ngày, cày bừa cho chín mạ này đem gieo.

    (Lúa mùa phải cấy đúng ngày, đúng thời vụ; lúa chiêm có thể sớm muộn một chút cũng được.)

    Cấy bằng mặt, gặt bằng đầu.

    Tua rua đi rắc mạ mùa

    Tiểu thử đi bừa, cấy ruộng đất sâu

    Hàn lộ lúa trổ bằng đầu

    Lập đông ta quyết về mau gặt mùa.

    Tháng sáu gọi cấy rào rào

    Tháng mười lúa chín, mõ rao cấm đồng.

    – v.v.

    Việc gieo trồng, cấy lúa đúng thời vụ được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định đến năng suất lúa khi thu hoạch ” Nhất thì, nhì thục”

    Lập thu mới cấy lúa mùa

    Khác nào hương khói lên chùa cầu con. . Chẳng những thế mà cha ông ta đã đánh giá nước và phân là hai yếu tố quan trọng nhất nhì trong công việc làm ruộng: ” Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.”

    – Công cấy công bỏ, công làm cỏ công ăn.

    Nước đủ phân nhiều, chăm sóc sớm chiều lúa sẽ đầy bông.

    Nà nào mạ nấy, tốt rạ đổ phân.

    Không phân không vôi thì thôi làm ruộng.

    Người đẹp về lụa, lúa tốt về phân.

    Công việc chăm sóc không chỉ đòi hỏi sự chuyên cần, mà còn phải có kinh nghiệm, kĩ thuật tốt:

    Một bụi cỏ một nắm phân.

    – Phân đổ tran không bằng bèo dán cánh.

    (Để vun bón cho lúa, dùng phân đã nát mềm là tốt nhất, nếu không thì dùng trấu tươi để bón vì nó có thể làm cho đất xốp và sau đó mục nát thành phân.)

    Chiêm yên gốc, mùa trốc rễ.

    (Xới cỏ cho lúa ba lần thì lúa cứng cây, tháo nước để ải vài ba ngày cho đất bở rồi mới bừa thì đất sẽ tơi xốp.)

    Phân tro không bằng no nước.

    Không thẳng tay gầu, nước đâu lên ruộng.

    Đón đòng thứ hai như gái có thai được trai bồi dưỡng.

    (Lúa chiêm có đặc tính cấy trước thì lúa trỗ trước, cấy sau thì trỗ sau, trong khi đó với lúa mùa thì dù cấy sớm hay cấy muộn thì lúa vẫn trỗ vào cùng một thời gian.)

    Chiêm gon ngâu bỏ đi đâu không gặt.

    (Lúa chiêm gon thì tốt và cũng là lúc gặt, lúa mùa gon thì hỏng.)

    Chiêm khô mo, mùa co chân diều.

    (Lúa chiêm thu hoạch sớm, lúa mùa để chín kĩ).

    Chiêm lên vai thóc dài xuống đất. (Thóc chiêm phải phơi kĩ, thóc mùa phơi qua.)

    Chiêm liền giũ, mùa ủ vào.

    (Lúa chiêm khi trục chỉ cần trở hai lần là sạch thóc, lúa mùa thì phải làm nhiều lần.)

    Chiêm đi đơn, mùa đi kép.

    (Thời gian gặt lúa chiêm khoảng tháng 5, tháng 6, khi thời tiết nóng ẩm mưa nhiều nên phơi lúa phải bóc vỏ trấu ra kiểm tra xem hạt gạo bên trong đã khô chưa, lúa chưa khô mà cất đi sẽ bị ẩm mốc, mối mọt. Trong khi đó, thời gian gặt lúa mùa vào khoảng tháng 10, thường có gió bấc, khí hậu hanh khô nên phơi nhanh khô, đống thóc để qua đêm, khi luồn sâu cánh tay vào kiểm tra mà không còn hơi ẩm là được).

    Có thể thấy, công việc trồng lúa nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố và trải qua nhiều quy trình. Từ thực tế lao động, cha ông ta đã đúc rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu và lưu truyền lại cho đời sau và cho đến ngày nay nhiều bài học, nhiều kinh nghiệm chúng ta thấy vẫn còn nguyên giá trị.

    3.

    Nằm trong khu vực Đông Nam Á, là cái nôi của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, văn hoá Việt Nam cũng xuất hiện những dấu ấn văn hoá đặc trưng chung, đó là văn hoá nông nghiệp. Đặc trưng văn hoá nông nghiệp được thể hiện đậm nét trong tục ngữ ca dao về lao động sản xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực trồng trọt, thể hiện kinh nghiệm của cha ông ta trong hoạt động trồng lúa và các cây hoa màu. Những kinh nghiệm này chủ yếu được đúc kết từ thực tiễn, trong quá trình lao động. Điều này thể hiện mối quan hệ và ứng xử rất gần gũi và hòa đồng của con người với thiên nhiên, rất coi trọng sức lao động và đề cao sản phẩm lao động.

    THƯ MỤC THAM KHẢO

    1. Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999.

    2. Mai Ngọc Chừ, Văn hoá Đông Nam Á, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1999.

    3. Chu Xuân Diên, Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002.

    4. Phạm Đức Dương, Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000.

    5. Trịnh Đức Hiển, Tri thức người Việt về tự nhiên và xã hội qua thành ngữ, tục ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009.

    6. Kinh nghiệm sản xuất qua ca dao tục ngữ, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 2006.

    7. Nguyễn Xuân Kính (chủ biên), Kho tàng tục ngữ người Việt (2 tập), NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2002.

    8. Nguyễn Xuân Kính, Con người, môi trường và văn hoá, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003.

    9. Nguyễn Xuân Kính – Phan Đăng Nhật (chủ biên), Kho tàng ca dao người Việt (2 tập), NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2001.

    10. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB TP Hồ Chí Minh, 1996.

    11. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999.

    12. Nguyễn Đức Tồn, Đặc trưng văn hoá của ngôn ngữ và tư duy, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2008.

    13. Trần Quốc Vượng (chủ biên), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999.

    14. Trần Quốc Vượng, Môi trường con người và văn hoá, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2005.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Nghề Nghiệp, Công Việc, Kinh Nghiệm, Kỹ Năng Sống, Kinh Nghiệm Sống
  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Thành Ngữ Và Tục Ngữ
  • Đoàn Kết, Thương Yêu Nhau Vốn Là Một Truyền Thống Quý Báu Của Con Người Việt Nam, Dân Tộc Việt Nam. Em Hiểu Về Điều Này Như Thế Nào Qua Tục Ngữ, Ca Dao?
  • Phân Biệt Tục Ngữ, Thành Ngữ Và Ca Dao
  • Những Câu Nói Hay Về Khiêm Tốn: 50+ Danh Ngôn Hay
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Tục Ngữ Ca Dao
  • Kho Tàng Lục Bát Dân Gian
  • Ca Dao Tục Ngữ Và Thành Ngữ Thể Hiện Lòng Biết Ơn?
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái, Yêu Thương Con Người
  • Ca Dao Tục Ngữ Qua 2 Miền Nam Bắc Pptx
  • Những câu tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất

    1. Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa

    2. Chuối sau cau trước

    3. Chắc rễ bền cây

    4. Cây chạm lá cá chạm vây

    5. Con trâu là đầu cơ nghiệp

    6. Chuồng gà hướng đông cái lông chẳng còn

    7. Đừng giống buồm trong bão giông.

    8. Đào nương không sợ uổng công, đắp phai chớ sợ phí sức.

    9. Nhất canh trì,nhì canh viên,tam canh điền

    10. Nhất nước,nhì phân,tam cần,tứ giống

    11. Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ

    12. Rét tháng ba, bà già chết cóng

    13. Mau sao thì nắng ,vắng sao thì mưa

    14. Mặt trời có quầng thì hạn, mặt trăng có tán thì bão.

    15. Mùa đông mưa dầm gió bấc, mùa hè mưa to gió lớn, mùa thu sương sa nắng gắt.

    16. Mưa chẳng qua ngọ, gió chẳng qua mùi.

    17. Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    18. Vàng mây thì gió, đỏ mây thì mưa.

    19. Tấc đất tấc Vàng

    20. Tức nước vỡ bờ Tháng bảy kiến bò,chỉ lo lại lụt

    21. Gió thổi đổi trời.

    22. Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước.

    23. Êm như dòng nước, dữ như chằn tinh.

    24. Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt

    25. Mống đông vồng tây, chẳng mưa dây cũng bão giật

    26. Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa

    27. Nước chảy đá mòn.

    28. Chớp thừng chớp bão, chẳng bão thì mưa.

    29. Sấm động, gió tan

    30. Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão

    31. Gió thổi là chổi trời.

    32. Qua giêng hết năm, qua rằm hết tháng.

    33. Đông chết se, hè chết lụt.

    34. Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm

    35. Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân.

    36. Tháng ba bà già chết rét.

    37. Tháng bảy mưa gãy cành tràm.

    38. Tháng tám nắng rám trái bưởi.

    39. Tháng bảy ngâu ra, mồng ba ngâu vào.

    40. Sáng mưa, trưa tạnh.

    41. Sáng bể chớ mừng, tối rừng chớ lo.

    42. Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa.

    43. Gió bấc hiu hiu sếu kêu thì rét.

    44. Trời đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa.

    45. Nắng chóng trưa, mưa chóng tối.

    46. Tấc đất, tấc vàng.

    47. Năm trước được cau, năm sau được lúa.

    48. Trăng mờ tốt lúa nỏ, trăng tỏ tốt lúa sâu.

    49. Thiếu tháng hai mất cà, thiếu tháng ba mất đỗ.

    50. Tháng chín mưa rươi, tháng mười mưa mạ.

    51. Chiêm xấp tới, mùa đợi nhau.

    52. Ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa.

    53. Một lượt cỏ thêm giỏ thóc.

    54. Nhất nước, nhì phân, tam cần tứ giống.

    55. Ruộng cao trồng mầu, ruộng sâu cấy chiêm.

    56. Trồng khoai đất lạ, gieo mạ đất quen.

    57. Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa.

    58. Gió heo may mía bay lên ngọn.

    59. Ba tháng trông cây không bằng một ngày trông quả.

    60. Cây chạm lá, cá chạm vây.

    61. Tháng chín ăn rươi, tháng mười ăn ruốc

    62. Một tiền gà, ba tiền thóc.

    63. Làm ruộng ba năm không bằng chăm tằm một lứa.

    64. Làm ruộng ăn cơm nằm, chăm tằm ăn cơm đứng.

    65. Tằm đói một bữa bằng người đói nửa năm.

    66. Tháng ba dâu trốn, tháng bốn dâu về.

    67. Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền

    68. Nhất thì nhì thục

    69. Được mùa quéo, héo mùa chiêm.

    70. Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa.

    Những câu ca dao về thiên nhiên và lao động sản xuất

    1. Én bay thấp mưa ngập cầu ao

    Én bay cao mưa rào lại tạnh.

    2. Cơn đằng Đông, vừa trông vừa chạy

    Cơn đằng Nam, vừa làm vừa chơi

    Cơn đằng Bắc, đổ thóc ra phơi

    Cơn đằng Tây, mưa ngu bão ngáo.

    3. Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

    Bay cao thì nắng bay vừa thì râm.

    4. Đầu năm gió to,

    Cuối năm gió bấc.

    5. Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng

    Ngày tháng mười chưa cười đã tối.

    6. Gà đen chân trắng mẹ mắng cũng mua

    Gà trắng chân chì mua chi giống ấy.

    7. Giàu đâu những kẻ ngủ trưa

    Sang đâu những kẻ say sưa tối ngày.

    8. Lúa chiêm lấp ló đầu bờ

    Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.

    9. Lợn ăn xong lợn nằm lợn béo

    Lợn ăn xong lợn réo lợn gầy.

    10. Muốn cho lúa nảy bông to

    Cày sâu bừa kĩ phân tro cho nhiều.

    11. Kiến đen tha trứng lên cao

    Thế nào cũng có mưa rào rất to.

    12. Mưa tháng ba hoa đất

    Mưa tháng tư hư đất.

    13. Được mùa lúa, úa mùa cau

    Được mùa cau, đau mùa lúa.

    14. Tỏ trăng mười bốn được tằm

    Tỏ trăng hôm rằm thì được lúa chiêm.

    15. Bao giờ đom đóm bay ra

    Hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng.

    16. Lúa chiêm nép ở đầu bờ

    Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.

    17. Tua rua thì mặc tua rua

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    18. Trồng trầu đắp nấm cho cao

    Che cho sương nắng khỏi vào gốc cây

    Nửa năm bén rể bén dây

    Khôn dầu bã đậu bón tay cho liền.

    19. Ai ơi nhớ lấy lời này

    Nuôi tằm ba lứa, ruộng cày ba năm

    Nhờ trời hoà cốc phong đăng

    Cấy lúa lúa tốt, nuôi tằm tằm tươi

    Được mùa dù có tại trời

    Chớ thấy sóng cả mà rời tay co.

    20. Cơm ăn một bát sao no

    Ruộng cày một vụ sao cho đành lòng

    Sâu cấy lúa, cạn gieo bông

    Chẳng ươm được đỗ thì trồng ngô khoai.

    21. Dưa gang một, chạp thì trồng

    Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo

    Tháng hai đi tậu trâu bò

    Cày đất cho ải mạ mùa ta gieo.

    22. Lạy ông nắng lên

    Cho trẻ nó chơi,

    Cho già bắt rận,

    Cho tôi đi cày.

    23. Mồng chín tháng chín có mưa,

    Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn.

    Mồng chín tháng chín không mưa,

    Thì con bán cả cày bừa đi buôn.

    24. Lập thu mới cấy lúa mùa,

    Khác nào hương khói lên chùa cầu con.

    25. Mồng bốn cá đi ăn thề,

    Mồng tám cá về cá vượt vũ môn.

    26. Được mùa lúa, úa mùa cau

    Được mùa cau, đau mùa lúa.

    27. Thiếu tháng tám mất hoa ngư

    Thiếu tháng tư mất hoa cốc.

    28. Mồng tám tháng tám không mưa

    Bỏ cả cầy bừa mà nhổ lúa đi.

    29. Gió đông là chồng lúa chiêm

    Gió bấc là duyên lúa mùa.

    30. Lúa chiêm đứng nép đầu bờ

    Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.

    31. Đói thì ăn ráy, ăn khoai

    Chớ thấy lúa trỗ tháng hai mà mừng.

    32. Mạ chiêm ba tháng không già

    Mạ mùa tháng rưỡi ắt là không non.

    33. Lúa mùa thì cấy cho sâu

    Lúa chiêm thì gẩy cành dâu mới vừa.

    34. Nắng sớm thì đi trồng cà

    Mưa sớm ở nhà phơi thóc.

    35. Đom đóm bay ra, trồng cà tra đỗ

    Tua rua bằng mặt cất bát cơm chăm.

    36. Tháng giêng trồng trúc, tháng lục trồng tiêu.

    Nắng đan đó, mưa gió đan gầu.

    37. Ao sâu tốt cá

    Nước cả cá to.

    38. Một nong tằm là năm nong kén

    Một nong kén là chín nén tơ.

    39. Đêm tháng năm chư nằm đã sáng

    Ngày tháng mười chưa cười đã tối.

    40. Gỗ kiền anh để đóng cày

    Gỗ lim gỗ sến anh nay đóng bừa

    Răng bừa tám cái còn thưa

    Lưỡi cày tám tấc đã vừa luống tơ

    Muốn cho lúa nảy bông to

    Cày sâu bừa kĩ phân tro cho nhiều

    Lập thu mới cấy lúa mùa,

    Khác nào hương khói lên chùa cầu con.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Em Hãy Tìm Một Số Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Sự Kính Trọng Và Lòng Biết Ơn Thầy Cô Giáo
  • Giải Bài 9: Kính Trọng, Biết Ơn Người Lao Động
  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Cái Đẹp, Kinh Nghiệm Sống, Nụ Cười
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Kinh Nghiệm Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Sự Chăm Chỉ, Siêng Năng, Cần Cù, Cố Gắng, Kiên Trì
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100