Ca Dao Tục Ngữ Bình Định

--- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Hay Nhất
  • ‘Bình Định nón Gò Găng

    Bún Song thần An Thái

    Lụa Đậu tư Nhơn Ngãi

    Xoài Tượng chín Hưng Long

    Mặc ai mơ táo ước hồng

    Tình quê em giữ một lòng trước sau.

    Bình Định có hòn Vọng Phu

    Có đầm Thị Nai có Cù Lao Xanh.

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa.

    1.Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.

    2.Bình Định có núi Vọng Phu Có Đầm Thị Nại có Cù Lao xanh.

    3.Công đau công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

    4.Mẹ ơi đừng đánh con đau Để con đánh trống hát tuồng mẹ nghe.

    5.Ai về Bịnh Định mà coi Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.

    6.Ai về Bình định thăm bà Ghé vô em gởi lạng trà Ô long. Trà Ô long nước trong vị ngọt Tình đôi mình như đọt mía lau chúng tôi đi bờ lở một mình Phất phơ chéo áo giống hình trò

    Ba Trò Ba đi học trường xa

    Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi

    8.Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cá nghiên anh đồ.

    Tiếng đồn Bình Định tốt nhà Phú Yên tốt lúa, Khánh Hoà tốt trâu

    .Công đâu công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    .Em về Đập Đá quê cha Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê chồng

    13.Anh về Đập Đá , Gò găng Bỏ em kéo vải sáng trăng một mình Tiếng ai than khóc nỉ non Vợ chàng lính thú trèo hòn Cù Mông

    14.Chiều chiều én liệng Truông Mây Cảm thương Chú Lía bị vây trong thành

    15.Non Tây áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

    16.Cây Me cũ, Bến Trầu xưa Dẫu không nên tình nghĩa cũng đón đưa cho trọn niềm

    17.Ngó vô Linh Đỗng mây mờ Nhớ Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây

    18.Hầm Hô cữ nước còn đầy Còn gương phấn dũng , còn ngày vinh quang

    19.Bình Định có đá Vọng Phu Có đầm Thị Nại có Cù lao Xanh Lụa Phú Phong nên duyên nên nợ Nón Gò găng khắp chợ mến thương

    20.Bên kia sông, quê anh An Thái Bên này sông, em gái An Vinh Thương nhau chung dạ chung tình Cầu cha mẹ ưng thuận cho hai đứa mình lấy nhau

    21.Cưới nàng đôi nón Gò Găng Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn Ai về Tuy Phước ăn nem Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm

    22.Rượu ngon Trường Thuế mê li Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi sao đành

    23.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Gi Sông xanh, núi cũng xanh rì Vào Nam, ra Bắc ai cũng đi con đường này Nghìn năm gương cũ còn đây Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu – Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi Dễ chi nhân ngãi mà rời được nhau

    24.Tháp kia còn đứng đủ đôi Cầu còn đủ cặp huống cho tôi với nường ( nàng) Suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Thiếp ngồi dệt vải chỉ mong bóng chàng Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu Ôm đàn gảy khúc Cầu hoàng Thiếp xin gõ nhịp để chàng lựa dây Bao giờ rừng quế hết cây Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình Dừa xanh sừng sững giữa trời Đem thân mà hiến cho đời thuỷ chung

    25.Muốn ăn bánh ít nhân mè Lấy chồng Hòa Đại đạp chè thâu đêm Muốn ăn bánh ít nhân tôm Lấy chồng Hòa Đại ăn cơm củ mì

    26.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di Sông xanh núi cũng xanh rì Vào Nam ra Bắc cũng đi đường này chúng tôi về Phù Mỹ nhắn nhe Nhắn chị bán chè sao vậy chẳng lên?

    Anh về dưới vạn thăm nhà

    Ghé vô em gởi lạng trà Ô Long

    chúng tôi về Bình Định thăm cha Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em

    29.Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông

    30.Khéo khen con tạo trớ trêu

    Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ

    32.Ai về thăm cảnh An Khê

    Sông Ba chồng nhớ vợ nhà Sông Côn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Hò Vè Bình Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Sử Khai Phá Bình Dương Qua Dân Ca, Thơ Ca Dân Gian Làng Tương Bình Hiệp
  • Thành Ngữ Và Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ A, Chữ Ă, Â ?
  • Cà Mau Xưa Qua Các Câu Thơ & Ca Dao
  • Kho Tàng Ca Dao Tục Ngữ
  • Tìm Hiểu Du Lịch Qua Ca Dao Ở Một Số Tỉnh Miền Tây Nam Bộ Theo Hướng Du Lịch Sinh Thái Hiện Đại
  •  

     

    1. Ca Dao Tục Ngữ, Hò Vè Bình Định: Con Người và Lịch Sử

    Văn học dân gian, một mảng không nhỏ trong nền văn học Việt Nam đã

    có từ lâu đời là dòng suối con ngọt lành đổ về dòng sông xanh mẹ văn học.

    Ca dao, tục ngữ, dân ca, hò vè lại là một mảng không nhỏ nữa trong văn

    học dân gian bao gồm: Thần thoại, Cổ tích, Truyện cười, Ngụ ngôn.

    Tục ngữ, ca dao, dân ca, hò vè là tiếng hát bình dị, mộc mạc, phong phú

    của cả ba miền Bắc, Trung, Nam.

    Trong phần tổng kết quá trình sưu tầm văn học dân gian ở Bình Định (miền

    Trung), người viết xin trình bày vắn tắt với trích dẫn một phần nhỏ sưu

    tầm được từ xã Nhơn Hậu, An Nhơn (với 360 câu ca dao, 120 câu tục ngữ,

    hò vè).

    Bình Định giáp ranh giới với Phú Khánh (bao gồm hai tỉnh Khánh Hòa và

    Phú Yên). Non sông với những lằn ranh thay đổi theo lịch sử. Con người

    nằm trong hoàn cảnh ly tán. Bởi vậy, dân gian hát ru:

    Ai về Bình Định thăm cha

    Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em.

    Dị bản:

    Ai về Bình Định quê ta

    Phú Yên quê chị, Khánh Hòa quê em.

    ”Mẹ”, ”Chị” và ”Em” được trùng phùng. Hai tỉnh Khánh Hòa và

    Phú Yên nhập lại thành Phú Khánh còn ”Cha” thì nhập vào với dì

    ghẻ ”Quảng Ngãi” thành ra Tỉnh Nghĩa Bình.

    Mỗi địa danh đều có một nét đặc sắc riêng biệt của nó về lịch sử, thắng

    cảnh và văn học khó mà lẫn lộn.

    I. Bình Định: Con người và lịch sử:

    Đất Bình Định xưa thuộc bộ Việt Thường – một trong mười lăm bộ Văn Lang.

    Bình Định gắn liền với thành Quy Nhơn (Hoài Nhơn năm 1602, thời Nguyễn

    Hoàng) và gắn liền cái tên với lịch sử lừng lẫy một thời: Thành Đồ Bàn (còn

    gọi là Vijara-Chà Bàn – Kinh đô của Chiêm Thành). Trải qua bao cuộc

    huyết chiến đẫm máu tàn khốc giữa Việt Nam và Chiêm Thành, giữa anh em

    Bắc – Nam, Trịnh – Nguyễn, giữa hai họ Nguyễn Ánh và Nguyễn Tây Sơn;

    thành Quy Nhơn bị phá bởi Nguyễn Ánh và được đổi tên là thành Bình Định

    vào năm 1799.

    Lịch sử Quy Nhơn – Bình Định được ghi thêm vào một thành ngữ ”Một

    Vương, hai Đế” để ám chỉ nhà Tây Sơn gồm Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ,

    Nguyễn Lữ với các danh tướng Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Bùi Thị Xuân…

    Bên cạnh đó, Bình Định lại có thêm Mai Xuân Thưởng và phong trào Cần

    Vương với Bùi Điền, Nguyễn Cang, Nguyễn Hoá… cùng Trần Quý Cáp, Trịnh

    Phong của Khánh Hòa ghi vào lịch sử hai tỉnh những trang sách vẻ vang.

    Bao nhiêu vết tích (đổ rồi xây), bao nhiêu sự nghiệp (lên và xuống), bao

    nhiêu máu xương, nước mắt (thù và mình) đã tạo cho mảnh đất Bình Định

    một nét hào hùng riêng biệt ít nơi nào có.

    Văn học đi cùng lịch sử. Văn học Bình Định với mảng văn học dân gian

    (phần ca dao, tục ngữ, hò vè, đối đáp) vẫn sinh sôi, nẩy nở từ bối cảnh

    hào hùng nhưng cũng nhuộm màu thê lương, đậm đà sự duyên dáng vốn có của

    ca dao, dân ca; ý nhị của hò vè và không mất cái thâm thúy, sâu sắc của

    tục ngữ. Mảng này gồm ba phần: Thắng cảnh, Hương vị đặc biệt

    Lịch sử:

    Người đẹp phải moi óc để

    biết do chính là vua Bảo Đại xây. Ăn bánh xèo xong, đố lịch sử cũng đã,

    người ta quay về với thi nhân:

    Em về Ghềnh Ráng, em có nhớ dáng thi nhân

    Tuổi đời lận đận, mạt vận là ai kia drậy cà?

    (Nguyên lời kể ”Tuổi đời lận đận, mạt vần là ai kia drậy cà

    ?” Người chép xin được đổi một từ ”mạt vần” thành ”mạt

    vận” cho hợp nghĩa với cuộc đời tàn phế thương đau của Hàn Mặc Tử).

    Mộ Hàn Mặc Tử từ Quy Hoà dời ra Ghềnh Ráng là một nơi người để người hâm

    mộ đi về chia xẻ, thương xót kiếp phế nhân của một tài hoa có số phận

    hẩm hiu.

    Quy Nhơn có thành quách lịch sử. Quy Nhơn có mộ địa thi nhân. Quy Nhơn

    còn là nơi của ”Bàn thành tứ kiệt” trong tục ngữ: ”Nhất

    Yến, nhì Hàn, tam Lan, tứ Quách” (na ná như ”Nhất dáng, nhì da,

    thứ ba là mốt”) để ám chỉ bốn thi nhân: Yến Lan, Hàn Mặc Tử, Chế

    Lan Viên, Quách Tấn.

    Quy Nhơn từ dạo ấy đã nổi tiếng là thành phố của thi ca. Những con số

    thứ tự, người viết nghĩ không phải để xếp hạng mà chỉ là cho suông câu,

    suông miệng. Nếu có thể, người viết xin thêm: ”Nhất Yến, nhì Hàn,

    tam Lam, tứ Quách, ngũ Thanh” (đó là nhà thơ Thanh Thảo).

    Quy Nhơn, thành phố của thi ca, của nét đẹp thiên nhiên với những tấm

    lòng chân chất, quật cường. Quy Nhơn là chứng nhân lịch sử đưa vào Bình

    Định những trang lịch sử kinh hoàng, thảm khốc.

     

    1. Thắng cảnh:

    Vì đây là bài viết sưu tầm nên toàn hầu hết, người viết chỉ ghi lại

    những gì ”mắt thấy, tai nghe” những lời kể, những câu ca dao.

    Những câu ca này, phần lớn có nhiều dị bản (theo tính đặc thù riêng của

    mảng tục ngữ, ca dao, dân ca).

    Quy Nhơn có rất nhiều thắng cảnh mà ca dao ghi lại:

    Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi

    Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông.

    Hay ướt át hơn:

    Đứng trên Quy Nhơn nhìn lại bán đảo Phương Mai

    Cạnh đầm Thị Nại nhớ ai hôm nào?

    Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?” như một điệp khúc không

    dành riêng cho Bình Định nhưng bán đảo Phương Mai hay đầm Thị Nại với

    nguồn thủy sản hấp dẫn thì lại là của riêng Bình Định mà chẳng nơi nào

    có. Đầm Thị Nại ”nhớ ai” không ai biết nhưng nỗi nhớ đó chính

    là nỗi nhớ của lịch sử. Nhớ ai? Là nhớ những người đã đổ máu giữa hai

    cuộc chiến do hai dòng họ Nguyễn với Nguyễn Vương từ Gia Định ra Diên

    Khánh, tiến quân ra Quy Nhơn qua cửa Thị Nại chăng? Người kể không chắc

    chắn còn người viết chỉ ”đoán già, đoán non”. Nhưng hai câu ca

    dao này thì rõ ràng hơn:

    Khéo khen con tạo trớ trêu

    Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ.

    ”Bãi Trứng” đưa chúng ta về ”Sự tích trăm trứng” – cổ

    tích mà cũng như thần thoại về những người Việt Nam cùng cha, cùng mẹ ”con

    Rồng, cháu Tiên” trên đất Việt Nam nói riêng và đất Bình Định nói

    chung. Nhìn cảnh nhớ người, nhìn vật nhớ lịch sử, câu ca dao này có giá

    trị như một chứng nhân nguồn gốc tổ tiên.

    Quy Nhơn quả có địa điểm du lịch là ”Bãi Trứng”. gồm

    hàng ngàn hòn đá xanh, tròn nhẵn được xếp đặt rất công phu và khéo léo

    bởi bàn tay thiên nhiên làm du khách có thể liên tưởng đến một ”Hòn

    chồng” ở Đồng Đế – Nha Trang. Nếu Bình Định có ”Bãi Trứng”

    là ”Hòn vợ” thì ở Khánh Hòa có ”Hòn chồng” ứng với cái câu:

    Bình Định nghĩa vợ. Phú Khánh tình chồng

    Quy Nhơn triền sóng vỗ lòng núi sông.

    ”Bãi Trứng” nằm trong khu du lịch Ghềnh Ráng và lọt trong ”Bãi

    tắm Hoàng hậu”. Con tạo thật khéo trớ trêu nhưng nếu tạo hóa đã nắn

    ra một ”Hòn vọng phu” trong nắng, trong mưa làm nhũng lòng bao

    nhiêu người nhớ về cổ tích, đã tạo ra một ”Hòn chồng” ngàn năm

    sóng xô thì tại sao không thể cho ra một hòn vợ là bãi trứng của bà Âu

    Cơ? Nào Bãi Tiên, nào Tháp Cánh Tiên, nào khu Quy Hòa… với từng con

    sóng vỗ miên man…

    …Vào Ghềnh Ráng nhớ lại nàng

    Nam Phương hoàng hậu giăng màn… tắm ở đây.

    Ý ca dao như bổ sung cho ”Bãi Trứng” nhưng nghe sao có chút

    gì đó mai mỉa. Té ra, người ta đang ”trách nhẹ” vị vua cuối cùng của

    Nguyễn triều là Bảo Đại đã học cách Đường Minh Hoàng phung phí của cải

    mà cúc cung cho ”người đẹp” trong lúc nước nhà loạn lạc ”một cổ

    hai tròng” là Nhật – Pháp trước năm 1945. Rồi sau đó, người bản xứ

    cũng quay về tâm tình mặn mà của quê hương:

    Ai về thăm cảnh An Khê

    Sông Ba chồng nhớ vợ nhà Sông Côn.

    Nét đặc trưng của ca dao viết về quê hương thường mở đầu: ”Ai”

    đầu câu rồi ghép: Ai đi? Ai về? để biểu đạt tình cảm dạt dào

    mong muốn có người chia xẻ. Tại sao gọi hai con sông trên là vợ, là

    chồng; những người bản xứ suy đoán: Có lẽ vì mối quan hệ thân thiết giữa

    hai con sông này thông vào nhau như duyên chồng vợ:

    Cù lao xanh thương anh ở đảo

    Sông Hà Giao dạo khúc tâm tình.

    Mong sao hai đứa tụi mình

    Như mây với nắng bóng hình có nhau.

    Sông Hà Giao cũng là tên của sông Côn nhưng vì sao có hai tên như

    vậy thì người Quy Nhơn cũng chịu. Thế nhưng có một điều, người ta chắc

    chắn rằng: Con sông Côn vợ này dịu dàng lắm. Cô ta không tác yêu, tác

    quái mới dạo được “khúc tâm tình” với những người ở đảo. Những

    Hầm Hô, Sa Khổng Lồ, Hòn Ngang, Hòn Trống, Hòn Chiên, Hố Rùa… đã tạo

    nên vẻ đẹp thiên nhiên mà người đến thăm một lần qua, nhớ mãi!

    Đất trời nơi đâu thế nào, con người ở đấy thế ấy. Nếu thiên nhiên đã hậu

    đãi người Quy Nhơn, đất Bình Định thì người Bình Định, dân Quy Nhơn

    chẳng thể bạc bẽo ở tình người. Tình người ngọt lịm trong hương vị Quy

    Nhơn.

     2. Hương vị đặc biệt của xứ Rùa:

    Những đặc sản ở vùng quê biển, người ta không lạ nhưng có một vài món lạ

    ở xứ Rùa mà nhiều người chưa có diễm phúc nếm qua. Đó là những món bánh

    dún, bánh gõ bột mì, bánh tráng sữa… có ở nông thôn Bình Định. Những

    bánh ít, bánh rế, bánh tai vạc, kẹo đỗ, chanh ngào đường… cũng đi vào

    ca dao:

    Thương em vất vả với cái bánh mõ bột mì

    Nhưng em đừng nghĩ anh chỉ vì này nọ kia.

    Anh ”drìa” đến huyện Hoài Ân

    Kiếm trà ”Cam Khổ” chia ngọt bùi cùng em.

    (Người viết đổi ”về” thành ”drìa” cho đúng với âm

    tiếng nẫu).

    Kẹo đỗ, bánh mõ Bình Định, người viết bài được thử qua nhưng ”Trà

    Cam Khổ” với cam lai thì… cam đoan chả ai mời người sưu tầm văn

    học này uống một hớp để thử xem hương vị đắng, ngọt tới mức nào! Nhưng

    câu thành ngữ này là chìa khóa ”vừng mè ơi, mở cửa“: ”Trái

    đắng khổ qua, bạn trà Cam Khổ”. Đọc lên là biết ngay hương vị loại

    trà này: Đắng nghét. Cây trà này mọc từ Núi Chúa ở Hoài Ân. Người Bình

    Định đã uống trà đắng này mà ”cam khổ” để ”chia ngọt, bùi

    cùng em” là khẳng định một tấm chân tình hiếm có.

    Đàn ông, con trai Bình Định chịu đắng. Đàn bà, con gái Bình Định chịu

    roi:

    Trai Quảng Ngãi. Gái Bình Định

    Roi Thuận Truyền. Quyền An Thái.

    Hay:

    Ma Bình Thuận. Cọp Khánh Hòa

    Gió Tu Hoa. Góa Bình Định.

    Đọc lên, người ta ngấm ngầm hiểu đàn bà con gái Bình Định là ”dữ

    dằn” không thể chọc ghẹo. Nét dữ dằn ấy lại có tính chất lịch sử:

    Ai về Bình Định mà coi

    Con gái Bình Định cũng biết đi roi, đi quyền.

    Dị bản:

    Ai về Bình Định mà coi

    Con gái Bình Định bỏ roi, đi quyền.

    Hoặc:

    Ai về Bình Định mà coi

    Con gái Bình Định cưỡi voi diệt thù.

    Một nét căn bản khác nổi bật vẫn là sự cần cù với một mái gia đình

    chăm chỉ, đầm ấm:

    Chồng chài, vợ lưới, con câu

    Bà ngoại đi xúc, cháu dâu đi mò.

    Dừa xanh Tuy Phước, Gò Bồi

    Chài, lưới, câu, xúc, mò con cá Bống mủn ăn cùng nồi cơm niêu.

    Món đặc sản này có lẽ không ai nỡ lòng mà ăn! Hơn nữa, món bánh xèo

    từ Nha Trang đã vượt mấy cái đèo: Rù Rì, Ruột Tượng, Cổ Mã, Đèo Cả, Cù

    Mông để ra món bánh xèo Quy Nhơn vàng rực, dòn khấy chưa ăn mà nghe

    tiếng ”xèo” đã chảy nước miếng, ngon não nùng:

    Thương em thân phận bánh xèo

    Tìm em, anh vượt cái đèo Cù Mông.

    Từ Nha Trang qua mấy cái đèo ngoằn nghèo đến đèo Cù Mông là tới Quy

    Nhơn. Chữ ”xèo” âm nghe sao mà ”èo uột” gán cho thân phận phụ

    nữ từ cái ”Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương đến cái bánh xèo

    Quy Nhơn cũng ”ba chìm, bảy nổi”, xèo tới, xèo lui, cháy lên,

    cháy xuống. Chúng đúng với thân phận thấp hèn, xót xa trong ca dao:

    Thương em thân phận con rùa. Trên đình đội hạc, dưới đình đội hia”

    hay ”Thương em thân phận con chim. Chim bay biển Bắc, anh lại đi tìm

    biển Nam”. Những ví von, ẩn dụ này nghe quen tai hơn ”Thương em

    thân phận bánh xèo”. Nét độc đáo của cao dao Bình Định là chỗ khác

    người như thế! Người viết thích cái câu này hơn:

    Anh về dưới Giã hồi hôm

    Gánh phân bỏ ruộng, gió nồm bay lên.

    Giã cũng là Quy Nhơn. Hình ảnh chàng trai đồng quê ”tranh thủ” bón

    phân cho lúa vào ban đêm nói lên sự cần cù đáng quý. Nó toát lên hết nếp

    sống chăm chỉ làm ăn, siêng năng cày cấy với công việc đồng áng được

    phân chia đồng đều: ”Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”. Đây

    chính là hình ảnh đẹp nhất của người nông dân Việt Nam một thời tay lấm

    chân bùn, đầu tắt, mặt tối.

    Cái chơn chất của người Bình Định cũng rất lý trí qua những câu hò vè mà

    các cụ già ngồi hát:

    Hò ơ… Nếu giỏi giang thì cho thiếp hỏi chàng

    Ba năm ông Hậu hờ…,

    Ba năm ông Hậu chớ đố chàng là ai?

    Dĩ nhiên, người đáp phải nắm chút

    ít kiến thức lịch sử. Nếu không, chàng bị cho là ”dốt bỏ xừ”.

    Trả lời xong, chàng đố lại:

    Hò ơ… Em về Ghềnh Ráng có rảnh, có rang

    Ghé ngang bãi tắm Hoàng hậu hờ…, ghé ngang bãi tắm Hoàng hậu, anh đố

    nàng ai xây?

    3. Những dòng hò vè

    nhuộm sắc màu lịch sử:

    Bình Định có câu: ”Nguyễn Nhạc vi vương. Nguyễn Huệ vi tướng”.

    Câu này cũng giống như tương truyền, Nguyễn Trãi thông minh đã dùng mỡ

    bôi vào lá cho kiến đục ăn mà thành mấy chữ: ”Lê Lợi vi quân. Nguyễn

    Trãi vi thần” để tập hợp lực lượng thống nhất chống nhà Minh xâm

    lược. Câu ”Nguyễn Huệ vi tướng” là chưa chính xác vì Nguyễn Huệ

    có tướng làm vua: Quang Trung hoàng đế là vị vua tài giỏi về cầm binh

    thần tốc nhất trong lịch sử Việt Nam chứ không phải có số làm tướng.

    Hầu hết, những người ở Quy Nhơn nói chung và Nhơn Hậu – An Nhơn nói

    riêng đều tự hào là quê hương của Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ. Họ

    đều ca ngợi, khâm phục Nguyễn Huệ tài giỏi và ”trí, nhân” hơn người

    anh cả Nguyễn Nhạc. Họ ghét Nguyễn Ánh với sự trả thù man rợ đối với nhà

    Tây Sơn nhưng không ghét tướng Nguyễn Ánh là Võ Tánh và Ngô Tùng Châu.

    Võ Tánh – em rễ phò mã, là đại tướng của Nguyễn Ánh vì giữ thành Quy

    Nhơn không nổi nên tự thiêu trên lầu Bát Giác, còn Ngô Tòng Châu phải

    uống thuốc độc tử tiết để cứu lấy hơn tám ngàn binh sĩ bị vây trong

    thành bởi kiện tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu. Người dân Bình Định cao cả

    với nghĩa cử cũng rất độc đáo là: Thông cảm và thương tiếc vô hạn cho

    những người trung liệt:

    Trung trinh thật đáng tướng hiền

    Cảm thương ông Hậu thủ thiền ba năm.

    Dị bản:

    Ngó lên ngọn tháp Cánh Tiên

    Hỏi thăm ông Hậu thủ thiền vì ai?

    Hay:

    Ngó lên hòn tháp Cánh Tiên

    Cảm thương ông Hậu thủ thiền ba năm.

    Câu hò ông Hậu là ai chính là Hậu tướng quân Tả tiền dinh chưởng cơ:

    Võ Tánh phò mã.

    Người viết còn được nghe một loạt bài vè về nữ tướng Tây Sơn Bùi Thị

    Xuân và vè chàng Lía nhưng có vẻ không hợp với sử sách nên không chép.

    Người viết còn nhớ một chàng Lía ngày xưa:

    Chiều chiều én liệng Truông Mây

    Cảm thương chú Liá bị vây trong thành.

    Dị bản:

    Chiều chiều én liệng Truông Mây

    Cảm thương chú lính bị vây trong thành.

    Ám chỉ quận He Nguyễn Hữu Cầu với bài vè:

    Nghe vẻ, nghè ve, nghe vè chàng Liá

    Miệng mồm lia lịa, chân đá tiá lia…

    Bài vè này như để chỉ sự lanh lợi của một kẻ ngang tàng, nổi dậy

    nhưng nó chưa đúng với Nguyễn Hữu Cầu. Trong lịch sử, nhân vật này hoạt

    động ở Nghệ An trở ra nên không dính dấp gì đến chàng Lía Truông Mây ở

    Bình Định cả.

    Một cuộc chiến tranh thảm khốc xảy ra ở Tây Sơn đã xoá sổ một triều đại

    Chiêm Thành thời Lê Thánh Tôn tại thành Đồ Bàn, để lại những câu ngậm

    ngùi như tiễn đưa một dân tộc ra đi vĩnh viễn:

    Đồ Bàn trống đã sang canh

    Nhất Vương, nhị Đế lừng danh một thời.

    như tiếc nuối cho thời vàng son rực rỡ mà ngắn ngủi của dân tộc Chàm

    và triều Tây Sơn Nguyễn Huệ! Tập thơ ”Điêu tàn” của Chế Lan

    Viên với những hồn ma phiêu bạt và khúc nhạc ”Hận Đồ Bàn” bất

    hủ của nhạc sĩ Xuân Tiên qua tiếng hát Tú Nhi (Chế Linh) đã ra đời trong

    sự xúc động tột đĩnh của thi nhân và nhạc sĩ khi tìm lại bóng ”Người

    xưa đâu mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu… Triền sóng xô, muôn

    tiếng vang trong lúc đêm trường về”!

    Đồ Bàn của Chàm. Phan Rang cũng của Chàm nên có chung đặc sản là món

    ”Bánh rế”:

    Bánh Rế kể lể chuyện đời

    Mời anh xơi để nhớ thời Bồng Nga.

    Thời Chế Bồng Nga huy hoàng đã qua. Một triều sáng chói Tây Sơn

    Nguyễn Huệ cũng lùi vào dĩ vãng. Nhất vương Nguyễn Lữ tam đệ –

    một tướng không được coi là dũng cảm. Nhị Đế kia là một Trung

    ương Hoàng Đế Nguyễn Nhạc, hoàng huynh và một Đế nữa là Quang Trung

    Hoàng Đế Nguyễn Huệ tài ba yểu mệnh, nhị đệ. Hai dòng họ Nguyễn tranh

    nhau chữ “Đế” ròng rã nối tiếp thời vua Lê, chúa Trịnh. Một nước không

    thể hai vua, một nhà làm sao hai chủ? Thế là trận chém giết giữa anh em,

    chú cháu, con dì mãi mấy thế kỷ. Tây Sơn ghi lại tiếng thở dài chung cho

    ”Nhất vương, nhị Đế”:

    Nhâm Tý, Quý Sửu, Mậu Thân

    Nhất vương, nhị Đế lần lần quy tiên.

    Dị bản:

    Nhâm Tý, Quý Sửu, Mậu Thân

    Nhất vương, nhị Đế mãn phần quy tiên.

    (Người viết đổi ”mãn phần” thành ”lần lần” hoặc “dần

    dần” vì từ ”mãn phần” với từ ”quy tiên” là từ đồng

    nghĩa, khác âm).

    Tây Sơn chấm hết, Quy Nhơn – Bình Định mở ra một huyền thoại lịch sử

    khác về người anh hùng chống Pháp dưới hịch ”Cần Vương” của vua

    Hàm Nghi (một nhà không phải “Nhị Đế” mà là “Tam Đế”:

    Kiến Phước – Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh):

    Nước mắt Phú Phong chảy qua Phú lạc

    Đầu rơi còn tạc tiếng ông Mai.

    Người anh hùng ấy là Mai Xuân Thưởng và tên ông đã để lại tên đường.

    Quy Nhơn, quê hương anh hùng vì đã sinh ra những người anh hùng, hào

    kiệt sống mãi với nghìn năm.

    II. Tình người gởi lại xứ Quy Nhơn:

    Đất An Nhơn có truyền thống đánh giặc từ lâu

    đời. Con người An Nhơn nói riêng và Bình Định nó chung đã gắn bó với

    ruộng đồng với biển xanh làm nên lịch sử cho một ”xứ nẫu” có tâm tình

    dạt dào đến não ruột:

    Ai về nhắn với nẫu nguồn

    Măng tre trên anh gởi xuống, dưới cá chuồn em mang lên.

    Ca dao, hò vè, tục ngữ Bình Định chắc chắn sẽ còn nhiều khám phá mới

    mẻ hơn, đặc sắc hơn về con người và lịch sử ở đây. Mảng văn học này đã

    và sẽ bổ sung vào nền văn học dân gian Việt Nam ít nhiều giá trị trên

    hai mặt: Nội dung và Hình thức với tình người ấm áp đầy thương mến. 

    Quy Nhơn, tháng 3/1983

    Ngọc Thiên Hoa

     

    (Viết tiếp những dòng hai mươi ba năm

    trước)

    Tôi đã trở về nơi đây sau hai mươi năm trời xa cách. Quy Nhơn thành phố

    biển vẫn đêm ngày đưa đón người đi xa. Thành phố đã đổi thịt thay da sầm

    uất hơn ngày nào nhưng tiếng sóng vỗ vào bờ vẫn dội vào lòng tôi những

    ngày xưa thân ái. Những con còng hai mươi năm trước ”chắc nay đã về

    già. Cuối trường cây hoa sứ một mình rụng từng hoa”. Già trong nỗi

    nhớ thương từng con đường Nguyễn Huệ, Lê Hồng Phong, Phan Bội Châu, Trần

    Phú… dài theo từng kỷ niệm. Mái trường phố biển ngày xưa hiền hòa,

    khiêm tốn nay tráng lệ, huy hoàng… trở thành nỗi khắc khoải trong tôi.

    Những hòn đá trứng nơi ”Bãi Trứng” trong tay tôi hình như cựa

    quậy… Mùa hè chia tay thoáng chốc hai mươi năm!

    Khu Ghềnh Ráng vẫn thân ái chào đón người xưa mà lòng người nghe như

    tiếng mưa rơi rụng trong lòng. Khu Quy Hòa vẫn lặng lẽ đón nhận những

    cuộc đời bạc phước như đã từng mở rọng vòng tay đón nhận một thi nhân

    Hàn. Ngôi mộ Hàn đơn sơ nhìn xuống Ghềnh nghe sóng hát mãi khúc Kinh Cầu!

    Tháp Cánh Tiên! Những ngọn tháp Chàm sừng sững, hiên ngang trong sương

    gió. Tôi chạm tay vào đó cầu xin được làm kẻ tiễn sau cùng! Dân tộc nào

    mất nước chẳng thương đau!

    Tôi cũng đã bước trên bờ thành một Kinh Đô tàn phế và lòng lâng lâng khi

    đi vào nhà Bảo tàng di tích Tây Sơn. Tôi đã quắc mắt nhìn vào quá khứ

    dụng hình tàn bạo của kẻ chiến thắng và cuối đầu lặng lẽ rơi nước mắt

    dưới chân vợ chồng người nữ tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu – Bùi Thị Xuân

    anh hùng.

    Bao la vẫn là biển. “Biển Quy Nhơn bọt sóng trắng Quy Hòa!”. Lịch

    sử đi qua… vô tình ném trả những kỷ niệm xa xăm còn in dấu vô hình!

    Quy Nhơn!

    Quê hương – tình yêu tuổi học trò và một thời tuổi trẻ. Những ai còn, ai

    mất vẫn là nỗi ngậm ngùi cho kẻ đi xa.

    Ai về Bình Định quê cha

    Phú Yên quê mẹ. Khánh Hòa quê em.

    Phú Khánh đã trả lại tên cho em. Nghĩa Bình cũng quay vể những ngày

    chưa tách tỉnh. Ai sẽ trả lại cho ta cái Hồn người đã mất từ những tháng

    ngày không êm ả để hồn ta chịu nhập về thân xác của mình!

    Quy Nhơn!

    ”Nơi đó không là nơi ta sinh ra. Nhưng nơi đó là nơi ta từng

    nghe thành phố thở. Đã rời xa nhưng sao ta vẫn thấy nhớ một đời. Quy

    Nhơn hỡi Người! Ta gởi lại tháng năm yêu”./.

     

    Quy Nhơn, tháng 3/1983

    Lisle, tháng 3//06

    Ngọc Thiên Hoa

    Chân thành cám ơn tới:

    – Các bác xã Nhơn Hậu – An Nhơn, Bình Định đã cung cấp phần ca dao, tục

    ngữ, hò vè, đối đáp.

    – Nhà truyền thống Tây Sơn, Quy Nhơn.

    – Kính cám ơn sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Xuân Nhân, thầy Huỳnh Văn Tới

    (Khoa Ngữ Văn ĐHSPQN) phụ trách phần Văn học dân gian VN năm

    1983.

    Tư liệu tham khảo có sử dụng:

    Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim, Nxb VHTT – 1999).

    Việt Nam quê hương Bình Định mến yêu (vietshare.com,

    quehuong.org).

     Xin trân trọng cám ơn.

     

    Thơ thằng Lía

    (Tục gọi Dương Doan Văn Lía – Cử

    Hoành Sơn soạn)

    Ngàn năm dưới bóng thái dương,

    Biết bao là sự lạ thường đáng ghi,

    Noi nghề hàng mặc bấy nay,

    Một pho dị sự vắn dài chép ra.

    Trước là giải muộn ngâm nga,

    Sau nêu gương nọ đặng mà soi chung.

    Xưa kia có một phú ông,

    Vợ chồng chuyên một nghề nông nuôi mình,

    Bấy lâu loan phụng hòa minh,

    Xóm làng kiêng nể tánh tình thiện lương.

    Tuy là sành sỏi ruộng nương,

    Ông bà xấu số gặp đường chẳng may,

    Thuở trước cũng chẳng thua ai,

    Tiền dư bạc sẵn tháng ngày thung dung,

    Ruộng vườn khai khẩn khắp cùng,

    Thôn lân đều thảy có lòng bợ nâng.

    Đến nay nhằm buổi lao lung,

    Ruộng nương thất phát vô cùng thảm thương,

    Tháng ngày khổ hại trăm đường,

    Bảy năm chịu sự tai ương nguy nàn,

    Bấm gan cam chịu gian nan,

    Vợ chồng đau đớn đoạn tràng thiết tha.

    Lần hồi ngày lụn tháng qua,

    Nghèo nàn túng tíu gẫm đà thói quen,

    Thét rồi cũng chẳng than phiền,

    Cắn răng mà chịu đảo điên qua hồi.

    Lão mụ tuổi đã lớn rồi,

    Vợ bốn mươi chẵn chồng thời bốn ba,

    Đêm ngày lo tính gần xa,

    Chẳng con kế tự thật là đáng lo,

    Choanh ngoảnh chồng vợ đơn cô,

    Tuổi già sức yếu biết nhờ cậy ai?

    Muộn màng tuổi lớn trễ chầy,

    Còn chi mong việc nghén thai nữa rồi!

    Lão rằng: “Đáng trách hận trời,

    Chẳng hay ổng ghét chi tôi chăng là ?

    Có đâu khiến việc xót xa,

    Thình lình chịu nỗi cửa nhà suy vi

    Đang cơn giàu có ai bì,

    Bỗng đâu sanh việc gian nguy lần lần.

    Bạc tiền thôi cũng chẳng cần,

    Chỉ không con cái muôn phần xót đau.

    Hiềm nay đầu bạc tuổi cao,

    Gần sa miệng lỗ ai đâu cậy nhờ?

    Xiết bao ảo não lòng tơ,

    Xiết bao thảm đạm âu lo ưu phiền.”

    Mụ rằng: Ông ráng dằn yên,

    Hết lòng cầu khẩn hoàng thiên xem nào!

    Tấc thành viễn thấu trời cao,

    Phúc hồng nhỏ xuống may đâu biết chừng.”

    Vợ chồng bàn luận đục trong,

    Cả hai lão mụ thành lòng vái van:

    “Nếu may nhờ phước Thiên Hoàng,

    Cho sanh con trẻ mới an sở nguyền,

    Chúng ta đều thảy đức hiền,

    Bấy lâu giữ dạ rất nên nhơn từ.

    Thành tâm phải động lòng trời,

    Khẩn may xem thử đây rồi ra sao?”

    Mụ rằng: “Non nưóc ca dao,

    Bấy lâu đồn đãi miễu nào trên non,

    Bất kì ai đến cầu con,

    Thảy đều đắc nguyện tiếng đồn không sai,

    Để tôi dò đến miễu này,

    Khẩn cầu van vái sau này xem sao?”

    Lão rằng: “Mụ khá lo âu,

    Nhang đèn sắm sửa ngõ hầu dời chơn,

    Đường đây lên tới đầu non,

    Gian nguy hiểm trở có hơn dặm tràng

    Bền lòng chớ quản gian nan,

    Ráng lên miễu thánh vái van khẩn cầu”

    Mụ vâng sửa soạn trước sau,

    Nhưng thiếu tiền bạc khó âu vô cùng,

    Lão rằng: “Còn cái nồi đồng,

    Đem lại anh cả ngõ phòng bán đi.

    Cũng không nên tiếc làm gì,

    Để chẳng dùng tới để chi trong nhà!”

    Lão ông đốc hối mụ bà,

    Cực bằng chẳng đã mới là nghe theo,

    Lòng mụ buồn biết bao nhiêu,

    Nhưng chồng đã định phải chiều ý ông.

    Mụ vào xách cái nồi đồng,

    Đến nhà ông cả đục trong giãi bày:

    “Nay tôi thưa thật anh hay,

    Chúng tôi nghèo khó tháng ngày khổ nguy,

    Túng bần chẳng nói làm chi,

    Hiềm không con cái sau đây tuyệt dòng.

    Tôi vì lo lắng họ chồng,

    Cho nên buồn bã trong lòng nào an,

    Sợ khi già yếu gian nan,

    Không con hiu quạnh gia đàng hôm mai

    Cho nên thảm đạm bi ai,

    Vái van cầu khẩn cao dày xin con.

    Nghe người đồn ở trên non,

    Có miễu linh hiển lòng son rất đành.

    Nay tôi toan đến miễu linh,

    Đặng dưng hết tấm dạ thành vái van

    Hiềm không tiền sắm đèn nhang,

    Thật là trong dạ xốn xang vô cùng.

    Của xưa còn cái nồi đồng,

    Nên đem theo đó chỉ mong đồng tiền.

    Xin anh mở dạ đức hiền,

    Làm ơn mua giúp rất nên ơn dày.”

    Ông cả nghe mấy lời này,

    Cười rằng: “Quả thật chằng ai lạ lùng,

    Nghe qua cảm động bấy lòng,

    Giúp tiền cho đó chớ không mua nồi.”

    Nói năng hòa nhã tươi cười,

    Lấy trao một lượng khúc nôi phân liền:

    “Lòng tôi thương kẻ đức hiền,

    Giúp cho đó thỏa lòng nguyền đấy thôi,

    Chớ không chi sá cái nồi,

    Thôi khá lấy bạc phản hồi cho xong”

    Mụ nghe tỏ rõ đục trong,

    Cám tình cám nghĩa ròng ròng lụy rơi,

    Cúi chào trỗi bước chơn lui,

    Trong lòng luống những ngậm ngùi nào an.

    Bươn bả về tới gia trang,

    Cùng chồng thuật rõ mọi đàng trước sau

    Lão nghe cảm bấy nghĩa sâu,

    Khen lòng anh cả xiết bao hữu tình

    Vợ chồng bàn bạc hắc minh,

    Mụ bèn quảy gói thượng trình bôn ba.

    Nhang đèn một gói kia là,

    Miễu linh đến đó đặng mà cầu con.

    Thiên hạ lên xuống trên non,

    Thật là tập nập tiếng đồn không sai.

    Lòng mụ mừng rỡ nỗi may,

    Nhìn xem phong cảnh chốn này rất ưng.

    Nếu không linh hiển vô cùng,

    Lẽ đâu thiên hạ đến đông thế này?

    Chắc là hiển hách chẳng sai,

    Cho nên người mới lên đây khẩn nguyền.

    Mụ lão lắc ống được liền,

    Lạy thần lạy thánh cầu nguyền đã xong,

    Cầm xăm vào thẳng liêu trong,

    Cậy thầy đoán thử cho thông đuôi đầu.

    Thầy xem xăm nọ giây lâu,

    Chậm rãi giải rõ âm hao chánh tà:

    “Xăm này ta đoán sâu xa,

    Ấy thật là bà có ý cầu con.

    Khá nên tích đức tu nhơn,

    Thiên tùng nhơn nguyện chẳng còn lo chi,

    Làm đoan làm phước từ đây,

    Sau bà sẽ đặng con trai nối dòng.”

    Lão bà rõ thấu đục trong,

    Rất nên hớn hở toại lòng biết bao

    Công đức vội vã tay trao,

    Lật đật từ giã cúi chào trở ra,

    Phăng phăng trỗi bước về nhà,

    Vì mừng quên lửng đàng xa nhọc nhằn.

    Trọn ngày lao nhọc khó khăn,

    Về đến gia nội hân hoan vô cùng,

    Đuôi đầu thuật lại cùng ông,

    Mấy lời thần dạy vợ chồng bàn nhau,

    Tương lai tuy chửa biết sao,

    Nhưng nay nghe vậy dễ nào chẳng vui.

    Lão rằng: “Mong ở Phật Trời,

    Cho sanh một trẻ nối đời về sau,

    Kẻo mà đầu bạc tuổi cao,

    Mà không con cái lòng nào lại an.”

    Trót đêm vui vẻ luận bàn,

    Từ đây chờ đợi lo toan làm lành.

    Thu sang hè đến chóng lanh,

    Ba năm chẳng thấy trong mình nghén thai,

    Lão mụ buồn bã bi ai,

    Lời thần vô hiệu ngày nay mới tường.

    Bà rằng: “Vô phước lạ thường,

    Nay đà tuyệt vọng dạ buồn xiết bao,

    Ai nấy am tự khẩn cầu,

    Thảy đều thỏa dạ có đâu như mình.”

    Lão rằng: Thôi hãy cam đành,

    Số trời định vậy thảm tình ích chi!”

    Mụ lão chẳng ngớt sầu bi,

    Hằng đêm van vái chẳng này nhọc tâm,

    Lần hồi cho đến bốn năm,

    Tưởng đâu tuyệt tự đành cam với phần,

    Chẳng ngờ thọ kết nhâm thần,

    Thình lình có nghén thỏa tâm vô cùng.

    Mụ bèn thuật lại cùng chồng,

    Nỗi mình có nghén toại lòng xiết bao.

    Nghe qua lão dễ tin nào,

    Cho đến bốn tháng về sau mới tàng.

    Thật mụ có nghén rõ ràng,

    Bây giờ chi xiết hân hoan thỏa tình.

    Rằng: “Trời phật cũng thương mình,

    Cho nên mới nhỏ phước lành cho ta,

    Chờ khi nở nhụy khai hoa,

    Dầu nam hay nữ cũng là mừng vui.”

    Ngày qua tháng lại lần hồi,

    Đã đúng mười tháng khác đời hơn ai,

    Mười tháng thêm đúng mười ngày,

    Mới là sanh đặng một trai thỏa lòng.

    Bà rằng: “Thỏa nguyện lòng son,

    Nay tôi với lão chẳng còn thở than,

    Tuy là con kẻ bần hàn,

    Nhưng xem chẳng khác bạc vàng báu châu,

    Đặt tên phải chọn tiếng nào,

    Cho không tổn đức ta hầu đặt con.”

    Lão ngồi ngẫm nghĩ nguồn cơn,

    Vui cười bày tỏ thiệt hơn sạ tình:

    “Văn Lía đặt tên con mình,

    Chẳng hay mụ nó có đành cùng chăng?”

    Mụ vui mừng rỡ đáp rằng:

    “Tự ông chọn lựa há ngăn mà phòng!”

    Đặt tên Văn Lía vừa lòng,

    Lão mụ nuôi dưỡng vô cùng tưng tiêu,

    Từ mai cho đến ban chiều,

    Thay phiên bồng ẵm chắt chiu thỏa lòng.

    Thằng Lía chẳng đẹp chẳng không,

    Mặt mày đề đạm giống ông hơn bà,

    Lại thêm săn chặt thịt da,

    Càng ngày càng lớn nay đà bốn xuân.

    Vợ chồng tuy chịu khổ bần,

    Nhưng có thằng Lía trăm phần đặng vui.

    Lão già cực nhọc vô hồi,

    Làm thuê làm mướn cho người nuôi thân.

    Mụ thì hôm sớm gian truân,

    Hái rau bắt ốc ngày lần tháng qua.

    Mấy thu lão cũng đã già,

    Văn Lía mười tuổi lão đà quy tiên,

    Mụ già chi xiết thảm phiền,

    Khi chồng tạ thế bạc tiền vốn không,

    Thật là nhiều nỗi cực lòng,

    Đưa ma tuần tự vô cùng lo âu

    Cút côi trong lúc thảm sầu,

    Xóm làng thương xót lẽ nào bỏ qua.

    Thảy đều giúp đỡ lão bà,

    Mãn khi tang chế cực ba năm tràng,

    Mẹ con rõ thiệt gian nan,

    Chòi tranh vách hé trăm đàng khổ nguy.

    Nhìn con chi xiết ai bi,

    Vì chưng thằng Lía lạ kì hơn ai,

    Tánh tình rắn mắt quả tay,

    Con nít khắp hết xóm nầy đều kiêng.

    Tánh nó quả thật chẳng hiền,

    Thường hay sanh sự rất nên cộc cằn

    Nhưng nó lòng hiếu vô ngần,

    Nhờ mẹ rầy mắng mới ngăn bớt chàng.

    Văn Lía đánh hết bạn trang,

    Đứa nào cũng sợ chẳng thằng nào không,

    Thằng Lía đã nổi tiếng hung,

    Xóm làng biết mặt nên không mến chàng.

    Thường ngày du hí ngoài đàng,

    Chơi đình phá miễu hung hoang vô cùng

    Mẹ già răn dạy hết lòng,

    Song tánh Văn Lía dữ hung chẳng chừa.

    Mụ lão chi xiết xót chua,

    Tấc lòng lo lắng sớm trưa ưu phiền:

    Trong nhà chẳng trự bạc tiền,

    Bình bồng thằng Lía rất nên hoang đàng.

    Cùng con hết nỗi thở than,

    Hăm he răn dạy mọi đàng phải chăng

    Văn Lía ngỗ nghịch vô ngần,

    Có mặt còn sợ nhược bằng không thôi.

    Lão bà hiền đức vô hồi,

    Xóm làng lớn nhỏ mọi người nể kiêng

    Nhưng bị thằng Lía chẳng hiền,

    Thành ra thiên hạ cũng phiền bà luôn.

    Văn Lía ngày tối đứng đường,

    Đánh người hiếp chúng lề thường dữ thay.

    Mụ lão kêu Lía giãi bày:

    “Sao con chẳng đổi chẳng thay tánh tình,

    Mẹ đây tánh rất hiền lành,

    Sao con hung dữ bất bình dại ngây?

    Khuyên con tự hối từ rày,

    Nếu mà cứ vậy sau này khổ thân.

    Mẹ nay già yếu trăm phần,

    Còn đây nào biết lánh trần nay mai!

    Nếu con hung tợn vầy hoài,

    Xóm làng người ghét sau này nhờ ai?

    Con ơi, mẹ nói con hay,

    Con tua khá sớm đổi ngay tánh tình.”

    Thằng Lía thưa lại hắc minh:

    “Mẹ chớ có nhọc lòng thành lo toan,

    Tuy con còn nhỏ cơ hàn,

    Ngày sau khôn lớn tầm đàng nuôi thân.

    Xóm làng thương ghét há cần,

    Chí con toan tính mọi phần đã xong:

    Một mai con trẻ lớn khôn,

    Con sẽ có thế vô cùng hiển vinh.”

    Nghe qua khẩu khiếu con mình,

    Mụ bà có ý giựt mình phân qua:

    “Con đừng tính việc cao xa,

    Sự đời trước mắt kia mà không hay

    Tài ba chi cái thằng mày,

    Tấm thân dốt nát sau này khó khăn

    Sợ làm chẳng đủ mà ăn,

    Tính chi vinh hiển oai vang thêm buồn.”

    Thưa rằng: “Vốn mẹ chưa tường,

    Thiếu chi kẻ dốt toại đường hiển vinh

    Ở đời phải biết sức mình,

    Họ có ăn học thông minh họ nhờ,

    Con tuy dốt nát không lo,

    Con làm theo dốt đặng cho họ tường!”

    Thấy con văn nói khác thường,

    Mụ lão trong dạ lo buồn nào an,

    Nghĩ mình xấu phước rõ ràng,

    Sanh ra con trẻ ngang tàng ương thay!

    Văn Lía tánh lạ ai tày,

    Tuy là hung dữ lâu nay tiếng đồn,

    Nhưng mà hiếu thảo ai hơn,

    Nhiều gương trông thấy vẫn còn nhớ ghi.

    Hành hung đang lúc ra oai,

    Hoặc đánh, hoặc chửi, hoặc rầy cùng ai.

    Dầu trời nó chẳng sợ thay,

    Nói chi làng xóm làm oai nó vì

    Chết sống nó chẳng kể gì,

    Hễ là nói đánh tức thì ra tay.

    Dầu ai thịnh nộ la rầy,

    Nó chẳng kiêng sợ một ai đâu là,

    Ai biết chạy đến mụ bà,

    Hễ Lía thấy mặt mẹ già thì kiêng.

    Dầu cho đang dữ cũng hiền,

    Trong lòng khiếp sợ rất nên kinh hoàng.

    Thằng Lía tâm tánh dọc ngang,

    Mẹ già buồn bã lo toan vô cùng.

    Ngày nọ thằng Lía buồn lòng,

    Đi khắp làng xóm ngỏ phòng giải khuây.

    Nó vì dang nắng tối ngày,

    Cho nên mày mặt chơn tay đen hù,

    Thật là ham việc vui chơi,

    Lía mười lăm tuổi vô hồi dại ngây.

    Lía ra cho tới làng ngoài,

    Gặp con chú Xã cả hai vui vầy.

    Thằng Lía tánh sẵn hay gây,

    Giành chơi sao đó ra tay đánh người,

    Đánh con chú Xã thằng Tư,

    Lỗ đầu phun máu vô hồi gớm ghê.

    Thằng Tư khóc lóc thảm thê,

    Bon bon chạy về phòng méc với cha.

    Chú Xã tức giận thay là,

    Thấy con bị bịnh xót xa tấm lòng.

    Vội vàng trỗi bước thẳng xông,

    Đến nhà thằng Lía hành hung vang dầy.

    Mụ già nào rõ vụ này,

    Mềm mỏng hỏi lại cho hay sự tình:

    “Chuyện chi Xã phải bất bình?

    Xin Xã phân lại đành rành thấp cao.

    Tôi đây có lỗi chi sao,

    Cho nên Xã giận đuôi đầu khá phân?”

    Xã nghe êm thuận phân trần:

    “Mụ thiệt không lỗi trăm phần hiền lương.

    Việc đó tôi cũng hãn tường,

    Thuở nay khen mụ vẹn đường đức nhân.

    Con mụ hung dữ nhiều lần,

    Thằng Lía ngang dọc chẳng cần kể ai

    Con tôi nó đánh thế này,

    Lỗ đầu phun máu mặt trầy thấy không?

    Thật mụ xấu phước vô cùng,

    Sanh con dường ấy mang gông có ngày!

    Sao mụ không đánh dạy rầy,

    Để cho thằng Lía quá tay dữ dằn?

    Nó thật ngang dọc vô ngần,

    Sao mụ không đánh dạy răn cho chừa?”

    Não nề nào dám hơn thua,

    Mụ bà trong dạ xót chua vô cùng,

    Hai hàng nước mắt ròng ròng,

    Thưa lại cùng Xã đục trong sạ tình :

    “Thân già thiểu phước gia đình,

    Sanh con hung tợn thất tình bi ai,

    Nó đâu đếm kể la rầy,

    Phải nào thả lỏng thường ngày dạy răn,

    Nhưng nó quen tánh dữ dằn,

    Hoang đàng khó nổi đón ngăn được nào.

    Xin Xã thương tưởng tình nhau,

    Bỏ qua vụ nọ biết sao bây giờ!

    Đêm ngày thảm đạm âu lo,

    Sanh con cũng tưởng cậy nhờ về sau

    Chẳng dè bạc mạng làm sao,

    Thằng Lía thật chẳng khác nào quỷ yêu.

    Đau lòng kể biết bao nhiêu,

    Xin Xã lượng thứ mọi điều bỏ qua.

    Thân này tuổi tác đã già,

    Nay mai xuống lỗ thật là chẳng hay,

    Sanh con ngỗ nghịch nước này,

    Lòng già đau đớn đắng cay vô cùng.”

    Dứt lời nước mắt ròng ròng,

    Làm cho chú Xã động lòng thương tâm,

    Ngẩn ngơ giây lát rồi phân:

    “Thôi mụ mựa chớ buồn thầm sầu riêng,

    Bớt điều thảm đạm ưu phiền,

    Hơi đâu chua xót chớ nên âu sầu,

    Hư nên do ở trời cao,

    Thật bà xấu phước biết sao bây giờ

    Thấy bà tóc bạc phơ phơ,

    Khiến tôi thương tưởng xót xa phận bà

    Nghiệt oan kiếp trước của bà,

    Mới sanh thằng Lía trong nhà vầy đây.

    May là bà gặp tôi đây,

    Phải gặp người khác thế này khó an

    Vậy bà khá ráng dạy răn,

    Dạy cho nó bỏ hung hăng với người.

    Thôi khuyên bà chớ ngậm ngùi,

    Không lẽ tôi nói nặng lời bà đâu,

    Nghĩ tình cố cựu lân giao,

    Dẫu con phản bộ biết sao bây giờ”

    Mụ già chi xiết âu lo,

    Tấm lòng thổn thức ngẩn ngơ thảm sầu

    Thằng Lía gia nội bước vào,

    Thấy mẹ buồn bã xiết bao lo lường

    Ân cần hỏi lại mọi đường:

    “Chuyện chi mà mẹ thảm buồn xin phân?”

    Mẹ già sầu thảm trăm phần,

    La rằng: “Con thật chẳng tuân theo lời,

    Mẹ nay tuổi đã già rồi,

    Chỉ có con đó nhờ hồi ốm đau

    Cửa nhà túng trước hụt sau,

    Giúp vùa sao chẳng lo âu chuyện gì?

    Sao không kiếm chước đỡ nguy,

    Hoang đàng chi địa kể chi mẹ già.

    Con không suy xét sâu xa,

    Ra đường gây họa thật là vô lương

    Đánh con chú Xã quá ương,

    Người đến mắng vốn trăm đường xấu xa.

    Thật mày gieo họa cho ta,

    Quả nhà vô phước mới là sanh mi.”

    Sụt sùi giọt lụy lâm li,

    Làm cho thẳng Lía xiết chi đau lòng,

    Lạy mẹ thưa lại đục trong:

    “Xin mẹ chớ có nhọc lòng lo âu,

    Con biết xét chớ không đâu,

    Nhưng con còn nhỏ biết sao bây giờ

    Xin mẹ bớt thảm lòng tơ,

    Con xin nghe mẹ đặng cho vui lòng

    Tánh con không phải dữ hung,

    Song le con trẻ vốn không nhịn người

    Thà là con chết thì thôi,

    Còn để họ hiếp nhớp đời chịu đâu!”

    Nghe con ngổ ngạnh lòng đau,

    Mụ rầy: “Con thật xiết bao dại khờ

    Mình đây đang lúc thất cơ,

    Muôn điều phải nhịn để lo sự mình

    Chớ nên ỷ sức đua tranh,

    Nghèo nàn há dễ chống kình lợi ai

    Mẹ sanh có một mình mày,

    Nếu con sanh sự chẳng may còn gì?

    Mấy lời mẹ dạy khá ghi,

    Chớ nên gây gổ làm chi với người.

    Đang cơn nghèo khó vô hồi,

    Trăm điều nhẫn nhịn ở đời mới an

    Từ rày con khá lo toan,

    Kiếm việc làm lụng hung hoang ích gì”

    Văn Lía hối hận đang khi,

    Cúi đầu lạy mẹ bước đi ra ngoài,

    Trong lòng chi xiết ai hoài,

    Lời răn dạy đó từ đây ghi lòng

    Vừa đi vừa xét đục trong:

    “Phương chi làm lụng ngỏ phòng nuôi thân?

    Thật là khốn bấy chữ bần,

    Làm cho ta phải khổ tâm với mày

    Xiết bao đau đớn đắng cay,

    Làm sao nuôi mẹ tháng ngày cho qua.”

    Văn Lía suy xét gần xa,

    Vừa đi ngang trước cửa nhà Hương Thân,

    Thình lình chó vện sủa rân,

    Làm cho Văn Lía kinh tâm hãi hùng

    Thằng Lía định tĩnh tinh thần,

    Cúi lượm cục đá đề phòng hộ thân.

    Chó vện hung tợn muôn phần,

    Nhảy a táp Lía, Lía gần nguy nan,

    Lía bèn lách trái gọn gàng,

    Cầm đá liệng đại ngỏ toan giữ mình.

    Con chó bị liệng chẳng kinh,

    Quyết rượt theo Lía tỏ tình hung hăng

    Văn Lía chẳng nói chẳng rằng,

    Lượm cục đá khác chống ngăn hộ mình

    Liệng chó trúng giữa tam tinh,

    Chó kia vỡ óc đã đành thác oan.

    Văn Lía vừa mới đặng an,

    Nhưng nỗi chó chết lo toan trong lòng,

    Vốn nó cũng biết nào không,

    Hương Thân là kẻ dữ hung hơn người

    Liệng con chó đã thác rồi,

    Thằng Lía sợ tội chơn dời bâng khuâng,

    Trong lòng lo liệu trăm phần,

    Hương thân theo kịp khổ thân dễ nào.

    Văn Lía thơ thẩn bước mau,

    Bồi hồi chưa biết đi đâu lánh mình,

    Thình lình bị thộp hãi kinh.

    Ngó ngoái lại nhìn là chú Hương Thân!

    Hương Thân mặt giận hầm hầm,

    Nạt vang: “Mầy thật lắm phần hung hoang!

    Mày liệng chó chết rõ ràng,

    Sao mày lớn mật to gan quá vầy?

    Mày phải đền lại cho tao,

    Bằng không mày phải nguy tai bây giờ!”

    Thằng Lía suy xét lai do,

    Chó đâu đền lại âu lo vô cùng,

    Nhẹ lời thưa lại đục trong,

    Hết lời năn nỉ ngỏ phòng xin dung:

    “Vốn tôi chẳng phải dữ hung,

    Bởi chó ấy điên chớ không phải hiền,

    Thấy tôi nó nhảy chụp liền,

    Trong cơn rối loạn rất nên kinh hoàng,

    Mau chơn bỏ chạy vội vàng,

    Nó theo kế cận nguy nan thay là

    Xin chú xét lại gần xa,

    Tôi mà liệng nó chẳng qua buộc lòng,

    Ai ai cũng biết nào không,

    Con chó của chú dữ hung vô cùng

    Tôi lỡ trong lúc rối lòng,

    Liệng dọa nó sợ ngỏ phòng lánh đi,

    Chẳng dè nó lại chết đi,

    Thật tôi quá rủi muốn chi nỗi này”

    Hương Thân thấy nói dông dài,

    Dến cho thằng Lía bạt tay nói rằng:

    “Thật mày khôn quỷ vô ngần,

    Xảo lanh lỗ miệng nói năng nhiều lời

    Chó tao nay đã thác rồi,

    Lần này tao thứ sau thời khó dung.”

    Dứt lời trở bước thẳng xông,

    Thằng Lía trong dạ vui mừng xiết bao.

    Hương Thân không phải hiền đâu,

    Nhưng người đã xét trước sau cạn rồi:

    “Thằng Lía nghèo khó vô hồi,

    Dầu mà đền nó uổng lời uổng công,

    Nó không một trự một đồng,

    Đóng gông đóng nỏ gẫm không ích gì

    Văn Lía mừng rỡ xiết chi,

    Thoát qua tai nạn khác gì lên mây,

    Ra đi từ lúc ban mai,

    Đến chiều bụng đói trở ngay về nhà.

    Mẹ già thấy trẻ hỏi qua:

    “Đi đâu con nói mẹ già đặng hay?

    Đi đâu đi trọn cả ngày,

    Mẹ già trông đợi ai hoài xót xa!”

    Văn Lía bị rủi vừa qua,

    Trong lòng thảm đạm thiết tha vô cùng,

    Thưa: “Con lo lắng chẳng không,

    Muốn đi tìm việc ngỏ phòng làm ăn,

    Nhưng mà con rủi vô ngần,

    Tìm không ra chuyện khó khăn thay là.”

    Mẹ già bày tỏ gần xa:

    “Con ôi! Nhìn lại trong nhà nguy nan

    Làm sao thân phận đặng an,

    Làm sao đỡ dạ nghĩ càng xót đau.

    Mẹ nay đầu bạc tuổi cao,

    Thật chẳng còn có sức nào nuôi con

    Nay con tuổi đã lớn khôn,

    Lo làm nuôi mẹ đỡ cơn túng cùng.

    Mẹ nay đang lúc đói lòng,

    Chẳng còn một trự một đồng thảm thay

    Mẹ chịu nhịn đói ngày nay,

    Chỉ ăn có một củ khoai đỡ lòng.”

    Lời mẹ như xói tâm trung

    Khiến cho Văn Lía não nùng thiết tha

    Rưng rưng lụy ứa thưa qua:

    “Xin mẹ an dạ ở nhà chờ con”

    Dứt lời trỗi bước dời chơn,

    Mẹ già vội vã kêu con hỏi rằng:

    “Đi đâu con khá bày tàng,

    Cho mẹ biết chốn ngỏ an tấc lòng?

    Văn Lía thưa lại đục trong:

    “Con đi chưa tính trong lòng đi đâu.”

    Mẹ già căn đặn trước sau:

    “Con nghe lời mẹ thấp cao chỉ bày,

    Tuy là nghèo túng nỗi này,

    Nhưng phải giữ dạ sạch ngay cho toàn,

    Chớ nên vì buổi nguy nan,

    Mà làm những việc tham gian của ngựời.

    Dầu cho có thác chịu thôi,

    Chớ những điều quấy trọn đời lánh xa”

    Văn Lía lạy mẹ thưa qua:

    “Xin mẹ an dạ con đà gắn ghi.”

    Bồi hồi vội bước chơn đi,

    Trong lòng buòn bã đoạn tràng thiết tha,

    Bỗng nghe văng vẳng nẻo xa,

    Tiếng người cười nói thật là rộn rang,

    Văn Lía bước đến vội vàng,

    Thấy nhà phú hộ vẫn đang vui mừng,

    Đám cưới thiên hạ quá đông,

    Uống ăn rần rộ vô cùng thỏa vui

    Ngậm ngùi suy xét khúc nôi:

    “Nhà này giàu có ắt ngưòi đức nhân,

    Âu ta vào đó nhờ thân,

    Cầu người thương xót thi ân đỡ mình.”

    Phú ông giàu có gia đình,

    Song le chằng đặng hiền lành đức nhân,

    Thật người ích kỉ muôn phần,

    Lại thêm có tánh khi nhân thay là.

    Tuy là giàu chẳng ai qua,

    Song việc bố thí ai mà nhờ đâu!

    Thôn lân quanh quẩn bấy lâu,

    Người người trông thấy sang giàu nể kiêng,

    Nhưng thấy chẳng đặng đức hiền,

    Cho nên ai nấy để phiền dạ riêng

    Văn Lía nào rõ sạ duyên,

    Tưởng đâu giàu có đức hiền như ai

    Họ hàng ăn uống đông dầy,

    Văn Lía vội vã bước ngay vào nhà,

    Bầy chó rộn rực tủa ra,

    Nhảy chòm bấu sủa rất là hung hăng.

    Văn Lía kinh sợ vô ngần,

    Tới lui chẳng tiện khó khăn trăm phần,

    Chó mực cắn tét ống quần,

    Làm cho Văn Lía kinh tâm sảng hoàng.

    Phú hộ trông thấy rõ ràng,

    Bưóc ra la chó nạt vang hỏi rằng:

    “Thằng này lớn mật to gan,

    Đi đâu mau khá bày tàng thấp cao?

    Chuyện chi mày tới nhà tao,

    Ăn bận rách rưới khác đâu ăn mày!”

    Văn Lía thưa lại lời này:

    “Tấm thân cùng khổ nguy tai vô cùng,

    Nghe đồn lượng cả phú ông,

    Đến xin cứu vớt mở lòng đoái thương.

    Tôi nay đang lúc tai ương,

    Mẹ già con nhỏ trăm đường gian nan,

    Cút côi thân phận cơ hàn,

    Thật là túng bấn trăm đàng xót xa.

    Tội nghiệp mẹ góa ở nhà,

    Mấy ngày chịu đói rất là đau thương

    Thân hèn đi khắp tứ phương,

    Kiếm nơi ở đợ mong đường nuôi thân,

    Đã đi rảo khắp thôn lân,

    Chẳng ai chịu mướn muôn phần nguy nan.

    Xin ông thương kẻ bần hàn,

    Ra tay tế độ ơn mang trọn đời.”

    Nghe qua cặn kẽ mấy lời,

    Phú hộ nhích miệng mỉm cười phân qua:

    “Mau mau mày khá đi ra,

    Chẳng nên đứng ở trong nhà tao lâu,

    Thân mày rách trước tét sau,

    Ai mà chịu mướn mày đâu mà phòng!

    Khá tầm nơi khác cho xong,

    Chớ nên đứng đó khó lòng chẳng chơi.”

    Văn Lía lụy ngọc nhỏ rơi:

    “Cúi nhờ mở lượng thương tôi nguy nàn,

    Nhà ông tột bực cao sang,

    Lại đang ăn tiệc rõ ràng hơn ai,

    Cơm thừa cá cặn thiếu chi,

    Ông đổ cũng vậy giúp đây no lòng.

    Xin ông thương kẻ túng cùng,

    Bố thí làm phước để phòng về sau”

    Đáp lời trổ giọng gắt gao:

    “Cơm thừa cá cặn dễ đâu cho mày,

    Chó tao lớn nhỏ một bầy,

    Cho chó chẳng đủ lại ai cho mày!

    Mau mau khá bước đi ngay,

    Chớ đừng đứng đó nói nhây làm gì

    Có khôn thì khá mau đi,

    Nhược bằng đứng đó khổ nguy bây giờ!”

    Văn Lía nghe rõ lai do,

    Trong lòng tức tối ngẩn ngơ bất bình:

    “Lẽ nào tàn nhẫn cho đành,

    Chẳng thương kẻ khó như mình nguy nan!

    Thật là con chó nhà sang,

    Hơn người nghèo khổ rõ ràng nào sai,

    Ngậm ngùi đau đớn chua cay,

    Mùi cơm rượu thịt phất bay ngọt ngào,

    Khiến lòng thèm lạc biết bao,

    Thèm chảy nước miếng khó âu tách vời”

    Phú hộ tức giận nạt bồi:

    “Biểu mày mau khá chơn dời khỏi đây!

    Sao còn đứng nói chi nhây,

    Hay là sổ mạng của mầy khiến nguy!

    Tại mày chẳng chịu sớm đi,

    Thôi mày chớ trách làm gì nghe không?”

    Bồi hồi tức tối tràn hông,

    Văn Lía ngơ ngẩn dằn lòng làm thinh,

    Xung gan chi xiết bất bình,

    Há nào dám nói sự tình nỗi chi.

    Phú hộ xít chó tức thì,

    Một bầy chó dữ thừa khi hiếp người,

    Chạy ra làm dữ vô hồi,

    Con chồm con sủa xem thôi kinh hoàng,

    Văn Lía sảng sốt kinh hoàng,

    Bỏ chạy ra ngõ tìm đàng lánh thân.

    Bào hao chó dữ muôn phần,

    Rượt theo Văn Lía sủa rân náo làng.

    Văn Lía chi xiết kinh mang,

    Chun vào bụi rậm bên đàng lánh thân.

    Phú hộ thấy vậy cười rân,

    Bèn tróc bầy chó vào sân tức thì

    Văn Lía phách tán hồn phi,

    Ngồi không cục cựa xiết chi kinh hoàng,

    Ngồi trong bụi rậm thở than,

    Đâu dè nhằm ổ kiến vàng tuôn ra,

    Đỏ au sa số hằng hà,

    Cắn chàng bấn loạn nhảy ra kêu trời,

    Phủi lia dông chạy tách vời,

    May sao bầy chó vô rồi cũng an.

    Não nề dạ ngọc xốn xang,

    Chạy thôi mệt đuối nghĩ càng xót đau,

    Trách người tàn nhẫn độc sâu,

    Chẳng lòng thương tưởng chút nào kẻ nguy:

    “Cơm thừa để đổ ích gì,

    Hoặc giả cho chó thôi thì uổng thay!

    Chớ chi họ giúp mình đây,

    Đem về cho mẹ ngày nay đỡ lòng,

    Mình ăn chút đỉnh cũng xong,

    Cớ sao cho chó mà không cho mình?”

    Đói lòng mỏi cẳng bực mình,

    Oán ông Phú hộ bất bình đắng cay:

    “Nếu họ chẳng xét ta đây,

    Ta cũng thù họ từ này về sau”

    Rối trí chẳng biết làm sao,

    Đặng mà nuôi mẹ xót đau tấc lòng,

    Mồ hôi nhỏ giọt ròng ròng,

    Tay chơn mỏi rụng vô cùng thiết tha

    Chẳng dám trở bước về nhà,

    Về nhà thấy mẹ đói mà sao an!

    Nhưng vì đi đã khắp làng,

    Vô phương hết kế biết toan lẽ nào?

    Bây giờ còn biết đi dâu,

    Đánh liều về đại biết sao bây giờ!

    Văn Lía chi xiết sầu lo,

    Ngập ngừng chơn bươc lòng tơ thảm sầu,

    Hai hàng lụy ngọc thấm bâu,

    Nhìn trời ngó đất xót đau trăm phần.

    Làu làu chói rạng trăng rằm,

    Bốn bề sáng sủa bâng khuâng tấc lòng,

    Tính về gia nội cho xong,

    Dầu đi đâu nữa gẫm không ích gì!

    Vừa đi vừa xét vừa suy,

    Ngang nhà Hương Quản cớ gì dừng chơn.

    Chú Hương với mấy đứa con,

    Xem trăng thưởng cảnh lòng son vui mừng

    Văn Lía đã đến nước cùng,

    Đề chừng Hương Quản có lòng hiền lương,

    Đánh liều vào đó bày tường,

    Cầu xin giúp đỡ kẻ đương nguy nàn

    Bạo gan chơn bước vội vàng,

    Vào thưa Hương quản mọi đàng thủy chung,

    Kể qua những nỗi lao lung,

    Kể qua những nỗi khốn cùng nguy nan .

    Chú Hương nghe rõ mọi đàng,

    Nhìn xem kĩ lại quả thằng Lía đây

    Chú Hương mói hỏi lời rày:

    “Đi đâu khuya khoắc như vầy hỡi mi?

    Ban ngày sao lại chẳng đi,

    Hay mày gian giảo ý chi chăng là?”

    Văn Lía lời mới thưa qua:

    “Cả ngày đi khắp gần xa xóm làng,

    Thân này quả thật khốn nàn,

    Chẳng ai cứu giúp trăm đàng rất nguy.”

    Chú Hương thương kẻ hàn vi,

    Rằng: “Mày nói vậy dễ gì mà tin…”

    Mới nói chưa dứt sự tình,

    Thím Hương trong cửa ứng thinh đuổi nà:

    “Thẳng này chẳng phải lạ xa,

    Vốn tôi biết nó rất là dữ hung!

    Khá mau đuổi nó cho xong,

    Đừng để nó đứng ở trong nhà mình!”

    Đáp lời có chút nhơn tình:

    “Dữ mà chẳng dữ với mình thì thôi,

    Hồi chiều cơm nguội còn dư,

    Cơn này giúp nó qua hồi làm ơn.”

    Thím rằng “Cơm nguội tuy còn,

    Nhưng chẳng cho nó nào nhơn ngãi gì!

    Tôi biểu mau đuổi nó đi,

    Đừng để nó đứng nói nhây nhiều lời.”

    Chú Hương sợ vợ hơn trời,

    Chẳng dám cãi vợ bồi hồi đuổi đi

    Văn Lía tức tối xiết chi,

    Đỡ lòng mừng hụt ngậm ngùi đắng cay:

    “Nước đời sâu độc thế này,

    Họ có thể giúp chớ nào không đâu

    Nhưng mà họ tính làm sao,

    Thà để họ đổ dễ đâu cho mình!

    Biết bao nông nỗi bất bình,

    Lòng người nham hiểm chẳng lành chi đâu.

    Sông biển dò đặng cạn sâu,

    Nhơn tình hiếm hóc dễ nào dò xong

    Đương hồi ta chửa lớn khôn,

    Ham điều giành giựt tranh hơn hoang đàng,

    Háo danh đánh lộn rộn ràng,

    Chẳng cho người hiếp họ rằng dữ hung

    Còn họ ác độc vô cùng,

    Nào ai trách họ họ không xét lường!”

    Văn Lía tức giận phi thường,

    Nó đà nghĩ cạn mọi đường gần xa

    Thầm rằng: “Thiên hạ ghét ta,

    Thiên hạ tàn nhẫn cùng là độc sâu,

    Ta thề đây sắp về sau,

    Ta thù thiên hạ dễ nào lạt phai.

    Họ không thương xót ta đây,

    Ta cũng ghét họ từ rày sắp lên,

    Họ làm ta rất đau phiền,

    Họ thật tàn nhẫn huyên thiên bất bình;

    Ghi lòng đến tuổi trưởng thành,

    Ta sẽ báo hận há đành bỏ qua,

    Ta thù ghét hết người ta,

    Có dịp hại họ ắt là chẳng dung”

    Oán hờn chất chứa đầy lòng,

    Vừa đi vừa xét đục trong nỗi mình.

    Rê chơn gần đến lều tranh,

    Nhớ trực mẹ đói lòng thành xót xa,

    Nghĩ thầm: “Chắc mẹ trông ta,

    Trông ta về nhà đỡ đói một khi.

    Trong nhà mẹ đói nằm lì,

    Nhưng ta chẳng có món gì biết sao?

    Nếu mà mình bước đại vào,

    Sợ mẹ mừng hụt càng đau đớn lòng

    Văn Lía lụy ngọc ròng ròng,

    Đứng sau chòi rách vô cùng thiết tha,

    Nghe mẹ rên xiết trong nhà,

    Rằng: “Sao thằng Lía con ta không về?

    Lòng ta đang đói trăm bề,

    Đêm nay đói nữa chẳng hề sống đâu”

    Mẹ già than thở âu sầu,

    Làm cho Văn Lía tâm bào héo don,

    Ối thôi buồn có chi hơn,

    Âu sầu thảm đạm lòng son vô cùng.

    Xiết bao nhiều nỗi não nùng,

    Chòi tranh chẳng dám dời chơn bước vào.

    Bồi hồi dạ ngọc xót đau,

    Nước cờ gần bí biết sao bây giờ!

    Nhớ lời mẹ dặn căn do,

    Tham lam chớ khá, giữ cho vẹn toàn;

    Nhưng mà trong lúc gian nan,

    Làm sao giữ đặng con đàng chánh ngay

    Chớ chi nghèo đến nước này,

    Mà trời cho chết toại thay tấc tình,

    Có chết âu mới trọn lành,

    Nhược bằng chưa chết thân mình biết sao?

    Tuy mẹ căn dặn trước sau,

    Trong lòng ghi nhớ dễ nào dám quên

    Song le trong buổi đảo điên,

    Cam đành trái mẹ mới yên thân mình

    Dốc lòng cố giữ lòng lành,

    Mà trời chẳng giúp phải đành gian tham,

    Văn Lía tính đã cùng đàng,

    Thăm nhà phú hộ vội vàng đến nơi,

    Bầy chó đã ngủ hết rồi,

    Tuốt ra chuồng vịt đề vời sợ chi

    Trong lòng đói khát đang khi,

    Dầu chết chẳng sợ sợ gì chó sao!

    Chuồng vịt Văn Lía chun vào,

    Núm hai cổ vịt thoát mau ra về,

    Trong lòng mừng rỡ trăm bề,

    Bây giờ thơ thới chẳng hề lo chi

    Chòi tranh vào đến tức thì,

    Lão bà trông thấy nan tri xa gần.

    Văn Lía lời mới tỏ phân:

    “Có cậu Hương Ấp đức nhân vô cùng,

    Thấy con khốn hại lao lung,

    Hỏi con đã rõ đục trong sạ tình

    Lời con bày tỏ đành rành,

    Người mới thương tình bắt vịt cho con”

    Mẹ già nào rõ thiệt hơn,

    Tin theo lời trẻ chẳng còn ngại nghi,

    Xúm nhau làm vịt một khi,

    Xong xuôi ăn uống đỡ khi nguy nàn,

    Đỡ lòng mừng rỡ trăm phần,

    Thoát tai chết đói nghĩ càng mừng vui.

    Từ đây tật xấu mang rồi,

    Văn Lía trộm cắp của người nuôi thân,

    Tánh quen khó bỏ trăm phần,

    Mẹ già nghi dạ tỏ trần cản ngăn;

    Nhưng Lía chẳng thế kiếm ăn,

    Cứ việc trộm cấp làm nhăn vô cùng.

    Mẹ già buồn bã tấc lòng,

    Rầy la biểu Lía mựa đừng gian tham,

    Kiếm người ở mướn làm ăn,

    Chớ nên trộm cấp nguy nan có ngày.

    Văn Lía thưa lại lời này:

    “Số mẹ chưa có thấu hay thế tình,

    Con đây cũng muốn làm lành,

    Ngặt vì thiên hạ bất bình lắm thay.

    Họ không xót tưởng con đây,

    Họ không chịu mướn ngày nay đã cùng.

    Con đi hỏi khắp nào không,

    Nghiệt cay ai nấy chẳng lòng tưởng thương.

    Ngày nay con đã cùng đưòng,

    Thật con nay đã vô phương nuôi mình

    Xin mẹ chớ khá bất bình,

    Của họ dư chẳng giúp mình cơn nguy,

    Của họ dư để làm chi,

    Mình xin chằng đặng lấy gì nuôi thân?

    Gian tham tuy xấu muôn phần,

    Song bởi họ chẳng khứng tâm giúp mình

    Lẽ nào ngồi bó tay nhìn,

    Làm sao nuôi đặng thân hình thì thôi

    Vả con đây oán thù người,

    Ngàn năm vẫn nhớ thâm cừu không quên.”

    Mẹ già nghe hãn sạ duyên,

    Tấc lòng thảm đạm ưu phiền nào an

    Văn Lía cố oán cả làng,

    Vì không cứu nó lúc đang hiểm nghèo,

    Thù kia chứa biết bao nhiêu,

    Thề không xao lãng sớm chiều gắn ghi.

    Ngày kia Văn Lía đang đi,

    Nhớ mẹ đang lúc khổ nguy đói lòng,

    Âu là phải tính cho xong,

    Há để mẹ đói mà không đau lòng

    Thói quen Văn Lía thường dùng,

    Bắt gà trộm vịt ngỏ phòng đỡ nguy,

    Chẳng dè Lía rủi một khi,

    Bị người thấy đặng xiết chi kinh hoàng

    Văn Lía tuy thật lẹ làng,

    Vừa toan tẩu thoát xóm làng tuôn ra

    Chiếc thân nguy hiểm thay là,

    Chủ nhà bắt đặng kéo ra giữa làng

    Chủ nhà Hương Quản rõ ràng,

    Hương Quản buộc gắt nguy nan vô cùng,

    Làng đem Văn Lía đóng gông,

    Hội tề nhóm lại om sòm hỏi han

    Hương Thân trổ giọng nạt vang:

    “Lía mày là đứa hung hoang làng này!

    Sao mày gan dạ lắm thay,

    Nhè nhà Hương Quản mà mày gian tham?”

    Lía rằng: “Tội thật đành cam,

    Nhưng vì cảnh ngộ nguy nan buộc mình.”

    Làng rằng: “Mày chớ nói lanh,

    Làm ăn chẳng muốn lại đành tà gian,

    Thật mày tội nặng trăm đàng,

    Phen này khó nỗi đặng an đâu là

    Sao không ở mướn người ta,

    Lấy tiền nuôi dưỡng mẹ già cho an?

    Mày cũng no ấm rõ ràng,

    Mẹ cũng được chỗ dựa nương tháng ngày.

    Vốn mày làm biếng nào sai,

    Thôi thôi chớ nói vắn dài làm chi”

    Văn Lía thưa lại tức thì:

    “Mấy ông nói ức nan tri xa gần,

    Tôi đây bao quản cực thân,

    Chẳng biết mấy lần đi hỏi làm ăn

    Nhưng mà khốn hại vô ngần,

    Chẳng ai chịu mướn khó khăn vô cùng.”

    Làng nghe nổi giận đùng đùng,

    Rằng: “Mày gian ác mựa đừng dối quanh.

    Trùm đâu mau khá phạt hành,

    Đánh sao cho nó thật kinh mà chừa

    Văn Lía chưa kịp tỏ thưa,

    Bị thằng trùm đánh chẳng vừa chi đâu.

    Cắn răng mà chịu biết sao,

    Da tan thịt nát xót đau vô cùng,

    Thét rồi lụy nhỏ ròng ròng,

    Văn Lía than thở não nùng xiết bao.

    Xóm làng đang lúc bàn nhau,

    Hương Sư đi trễ bước vào hỏi qua:

    “Chuyện chi đánh trẻ kêu la

    Khá tua phân lại gần xa mọi đàng?”

    Hương Sư quyền thế trong làng,

    Lại thêm hiền đức rõ ràng ai qua.

    Văn Lía khóc lóc kêu la,

    Thưa lại các việc gần xa đuôi đầu.

    Hương Sư nghe rõ âm hao,

    Truyền mở Văn Lía cho mau chớ chầy

    “Một thằng con nít thơ ngây,

    Chuyện chi mà đánh thế này nhẫn tâm!”

    Tỏ cùng hương chức xa gần:

    “Các ông quả thật nhẫn tâm thay là!

    Nó rất có hiếu mẹ già,

    Không tiền nuôi mẹ sanh ra kế cùng.

    Sao không suy xét đục trong,

    Mấy ai biết nhục mà không giữ mình?

    Bởi chưng cơn túng gia đình,

    Lại thêm đang tuổi xuân xanh biết gì!

    Nó mà gian ác nỗi này,

    Là cơn nguy khốn chẳng ai giúp giùm.

    Nó cũng biết xét nào không,

    Đem thân ở mướn khắp cùng ngoài trong,

    Mà cũng chẳng kẻ có lòng,

    Chẳng chịu mướn, nó lâm vòng hiếm nguy,

    Cơn túng chẳng biết làm chi,

    Sanh ra gian ác có gì lạ đâu!”

    Nghe lời biện bạch lý sâu,

    Các chức đều thảy nhìn nhau bất bình,

    Nhưng mà họ chỉ làm thinh,

    Vì chưng là lẽ công minh tỏ trần.

    Văn Lía thoát nạn cám ân,

    Trong lòng thơ thới vui mừng xiết bao,

    Bươn bả bước lại cúi đầu,

    Lạy người bốn lạy ngõ hầu đáp ơn.

    Hương Sư bèn tỏ thiệt hơn:

    “Từ nay bỏ tánh chớ còn gian tham”

    Văn Lía khép nép bày tàng:

    “Hiềm vì chẳng có chuyện làm nuôi thân,

    Thật là khốn hại muôn phần,

    Tôi đây cũng rất khổ tâm thay là”

    Mấy lời thành thật thiết tha,

    Hương Sư suy xét phân qua như vầy

    “Ta đây đành dạ mướn mày,

    Nhưng mà mày ráng đổi thay tánh tình.”

    Lía nghe thỏa dạ ưng đành,

    Thề nguyền thay đổi theo lành lánh gian

    Hương Sư trỗi bước vội vàng,

    Văn Lía theo dõi gia đàng đến nơi,

    Tiền mướn đâu đó tính rồi,

    Bạc trao cho Lía rất vui vô cùng

    Cầm bạc chi xiết vui mừng,

    Về nhà cùng mẹ đục trong giãi bày.

    Thuật qua các việc vắn dài,

    Mẹ già toại chí từ này khỏi lo.

    Mừng con có chốn ấm no,

    Phận mình cũng khỏi nguy cơ túng cùng

    Giấy tờ thuê mướn làm xong,

    Hương Sư biểu Lía ra đồng chăn trâu,

    Chẳng biểu làm chuyện khác đâu,

    Chăn trâu hôm sớm miễn sao vẹn phần.

    Văn Lía bao quản gian truân

    Đáp ơn làm phước làm nhơn cứu mình,

    Mai chiều trọn tấm lòng thành

    Chẳng dám sai sót phận mình chi đâu

    Hằng ngày chỉ việc chăn trâu,

    Ngoài đồng rộng rãi trăm phần toại vui,

    Thật là thỏa chí thảnh thơi,

    Mục đồng bè bạn hôm mai chung cùng.

    Có hơn hai chục mục đồng,

    Từ ngày biết Lía có lòng nể kiêng.

    Văn Lía tâm tánh chẳng hiền,

    Lại thêm sức mạnh rất nên lạ lùng,

    Chưa đầy mười sáu thu đông,

    Sức mạnh người lớn tưởng không sánh bì.

    Thằng sao tâm tánh lạ kỳ,

    Chẳng chịu ai hiếp nhiều khi sanh rầy.

    Thường lề ngày tháng ở ngoài,

    Cho trâu ăn cỏ ruộng này ruộng kia,

    Ngày kia nhìn thấy dưới khe,

    Gốc cây cá lóc nằm kề một bên,

    Phút đâu vùng cái nhảy lên,

    Rớt xuống cá đã nằm trên ruộng rồi.

    Văn Lía thấy vậy vui cười,

    Khen con cá lóc vô hồi tài ba:

    “Chớ chi cá lóc dạy ta,

    Dạy ta miếng đó thật là mang ơn”

    Mục đồng xúm lại hỏi đon:

    “Lía nhìn chi đó dừng chơn đứng hoài?”

    Lía rằng: “Cá lóc rất hay,

    Nó vùng một cái thật tài vô song

    Dưới khe sâu thật vô cùng,

    Một cái chỉ vùng nhảy khỏi lên trên”

    Mục đồng nghe rõ sạ duyên,

    Có đứa bày giải hư nên sạ tình:

    “Con cá nó cũng như mình,

    Tập lâu ắt được chẳng tin hãy làm

    Văn Lía bèn hỏi cho tàng,

    Làm sao lập thế bày đàng nhảy cao?”

    Mục đồng bày tỏ trước sau:

    “Cứ đào cái lỗ ban đầu cạn thôi,

    Mình tập nhảy đặng khỏi rồi,

    Thì đào sâu nữa lần hồi sẽ nên”

    Văn Lía nghe hãn sạ duyên,

    Tấc lòng thơ thới rất nên thỏa đành,

    Mấy lời gẫm xét đành rành.

    Chàng quyết chí tập cho mình nhảy cao.

    Mục đồng xúm xít cùng nhau,

    Văn Lía bèn biểu khá đào lỗ sâu

    Mấy đứa há dám cãi đâu,

    Vưng lời xúm xít cùng nhau đào liền

    Văn Lía xuống đó nhảy lên,

    Cứ làm như vậy rất nên gọn gàng.

    Kiên gan vững chí trăm đàng,

    Cứ vậy mà tập vẹn toàn một năm.

    Lần lần nhảy giỏi trăm phần,

    Lỗ nọ đào lần càng bữa càng sâu.

    Chẳng những Lía nhảy khỏi đầu,

    Nhảy còn qua khỏi hàng rào thiệt cao.

    Nghề chi năng luyện năng trau,

    Thét rồi cũng giỏi dễ nào đơn sai!

    Nghề nhảy Văn Lía ai tày,

    Nóc nhà nhảy khỏi ai ai cũng nhường,

    Mục đồng xem thấy hãn tường,

    Thảy đều lánh sợ dễ thường dám qua.

    Văn Lía toại dạ thay là,

    Học nghề cá lóc ai mà đám đương!

    Khắp cùng đồng nội ruộng mương,

    Mục đồng đều thảy kính nhường Lía ta.

    Ngày kia Lía tỏ gần xa:

    “Mình đây đủ mặt thảy là hai mươi,

    Chia ra một phía mười người,

    Giả đò đánh giặc chơi vui cho đành.”

    Thằng Mướp mười bảy xuân xanh,

    Lớn hơn các đứa vóc hình cũng to,

    Nghe Lía bày tỏ căn do,

    Mướp liền ứng chịu lựa người chia hai

    Xong xuôi hai phía ra tay,

    Cùng nhau đánh giặc toại thay tấc lòng

    Cùng nhau đánh giặc giữa đồng,

    Rượt qua rượt lại vô cùng vầy vui.

    Nửa ngày đánh giặc nhau chơi,

    Đến rốt cuộc rồi bên Lía thắng hơn.

    Chơi vui thỏa bấy lòng son,

    Mục đồng chơi vậy chẳng còn chơi chi.

    Văn Lía cũng toại lắm thay,

    Cuộc chơi thích chí chi tày nữa đâu.

    Sáu tháng cứ vậy chơi nhau,

    Nhưng mà chẳng xảy việc nào nguy nan.

    Ngày nọ Văn Lía bày tàng,

    Kêu mục đồng lại nghe chàng chỉ phân:

    “Đánh giặc vui vẻ trăm phần,

    Song le chưa đủ thỏa tâm đành lòng

    Có việc vui vẻ vô cùng,

    Để tao bày giải đục trong sạ tình.

    Tao có đi xem hát đình,

    Thấy rõ hát bội đành rành không sai:

    Trong lúc vua bị nịnh vây,

    Thật là vui vẻ toại thay tấc lòng

    Vậy ta mau hiệp nhau cùng,

    Ta làm y vậy thỏa lòng chẳng sai”

    Mục đồng nghe rõ vắn dài,

    Đành lòng ưng thuận chẳng ai bất bình.

    Văn Lía bèn tỏ hắc minh:

    “Để tao làm Chúa bây đành hay không?

    Thằng Mướp to lớn vô cùng,

    Để nó làm nịnh ắt xong chớ gì!

    Nhưng tao giao trước lời này,

    Làm vua phải để lâu ngày mới vây,

    Chớ chẳng phải mới lên ngai,

    Mà bị nịnh rượt chẳng hay đâu là!

    Thằng Mướp, thằng Bí, thằng Cà,

    Đều theo phe nịnh gian tà bất trung.

    Thằng Ổi, thằng Khế, thằng Hồng,

    Phò vua trọn dạ tròn lòng trung ngay

    Bao nhiêu còn lại phải vầy:

    Làm quan làm tướng tao sai vưng lời”

    Văn Lía truyền lịnh xong xuôi,

    Mục đồng hết thảy đều vui thỏa lòng.

    Thằng Mướp bèn tỏ đục trong:

    “Chơi vầy ở tại giữa đồng không vui,

    Vào trong miễu nọ mà chơi,

    Vậy âu mới giống việc đời phải không?”

    Văn Lía nghe hãn thủy chung,

    Rất nên đành dạ toại lòng phán qua:

    “Lời bàn rất đẹp lòng ta,

    Trâu ta khá cột đặng mà đi chơi”

    Mục đồng nghe rõ khúc nôi,

    Trâu đều thảy cột xong xuôi mọi đàng,

    Cùng nhau sau trước một đoàn,

    Kéo vào miễu nọ ngỏ toan vui vầy.

    Đến nơi đứng dưới gốc cây,

    Xúm nhau bàn luận vắn dài thấp cao.

    Văn Lía bèn tỏ âm hao:

    “Làm Vua phải ngự ngai cao mới là,

    Có ngai như ở trào ca,

    Tụi bây lo đẹp lòng ta bây giờ.”

    Thằng Mướp có tánh đôi co,

    Chau mày phân lại đặng cho Lía tàng:

    “Làm gì mình có ngai vàng?

    Mày khéo bày chuyện khó toan vô cùng!

    Ngồi đại dưới đất cho xong,

    Làm ngai khó nỗi thật không thể làm.”

    Văn Lía thấy cãi lịnh troàn,

    Nạt rằng: “Trẫm đã chỉ troàn cãi sao!

    Làm ngai có khó chi đâu,

    Vào rừng thì có vốn nào khó chi.”

    Nghe Văn Lía nói dị kì,

    Thằng Mướp hỏi lại nằn nì gần xa:

    “Ngai đâu ở chốn rừng già,

    Mi khá bày giải cho ta đặng tường?”

    Trái tai Văn Lía đâu nhường,

    Mắng rằng: “Mầy thật ngu bường con trâu!

    Ngai kia ở chốn rừng sâu,

    Ấy tao nói ý cớ sao không tàng?

    Đốn cây làm cái ngai vàng,

    Cột lại như thể cái thang khó gì

    Làm cho giống ở trào nghi,

    Chớ nên cãi lịnh diên trì dang ca.”

    Thằng Mướp bị quở bị la,

    Chẳng dám cãi nữa dần dà tỏ phân:

    “Lịnh trên dạy dưới phải vâng,

    Chúng ta mau khá dời chân đi liền.”

    Mục đồng nghe có lịnh truyền,

    Đồng nhau, trỗi bước rất nên trọn lòng,

    Vào rừng chằng quản gai chông,

    Đốn cây cột lại đã xong mọi đàng.

    Đem ra miễu nọ đã an,

    Làm cái ngai giả vẹn toàn trước sau.

    Văn Lía mừng rỡ xiết bao,

    Nghiêm nghị lên thẳng ngai cao mà ngồi,

    Bâng khuâng tấc dạ rất vui,

    Tỉ mình như đã trị ngôi thỏa lòng.

    Thằng Mướp liền nói bông lông:

    “Như vầy quả thật vô cùng cao sang!”

    Văn Lía bèn tỏ mọi đàng:

    “Từ đây y thửa lịnh troàn chớ sai”

    Các đứa phân lại vắn dài:

    “Cúi vưng nghe lịnh từ này về sau.”

    Văn Lía phỉ chí xiết bao,

    Tỉ mình thật chẳng khác nào như vua.

    Từ đây tối sớm chiều trưa,

    Làm vua Văn Lía rất vừa lòng thay,

    Mỗi ngày ngồi ở trên ngai,

    Mục đồng ngồi dưới vui vầy trào ca.

    Văn Lía ngang dọc thay là,

    Mục đồng đều sợ ai mà chẳng kiêng,

    Bày chơi nhiều việc chẳng nên,

    Làm vua làm chúa oai quyền vang rân.

    Hằng ngày chơi trước miễu thần,

    Mục đồng cùng Lía trăm phần vầy vui.

    Ngày kia Văn Lía trên ngôi,

    Nhìn xem xuống dưới đủ người trước sau,

    Thằng Mướp chẳng biết đi đâu,

    Ngày nay vắng mặt cớ nào chẳng thông?

    Văn Lía han hỏi đục trong:

    “Mướp sao vắng mặt nó không đến chầu?

    Tội nó luật phải chém đầu,

    Thật tội rất lớn dễ nào thứ dung

    Mục đồng quỳ tấu song song:

    “Ắt là thằng Mướp trái lòng chi đây,

    Cùng ta chằng chịu vui vầy,

    Không chừng có chuyện bữa nay ở nhà.”

    Văn Lía bèn tỏ gần xa:

    “Thằng Mướp nó chẳng phục ta không chừng!

    Chờ nó lai đáo trào trung,

    Đặng ta hỏi lại đục trong cho tường

    Ví bằng nó chẳng chịu nhường,

    Cùng ta thử sức đối đương thử tài:

    Nếu nó thắng được ta đây,

    Thì ta đây sẽ nhường ngai Mướp liền.”

    Còn đang bày tỏ sạ duyên,

    Bỗng thằng Mướp đến đứng bên kia là.

    Thằng Lía bèn hỏi gần xa:

    “Sao mày lai đáo trào ca trễ vầy?

    Khá tua bày tỏ vắn dài,

    Đặng ta rõ thấu cho hay sự tình?”

    Thẳng Mướp trổ giọng bất bình:

    “Chơi vầy thật chẳng công minh chút nào!

    Tài chi mày ngự ngai cao?

    Lẽ thì phải để cho tao ngai này

    Bởi tao lớn tuổi hơn mày

    Mày còn nhỏ tuổi lại tài cán chi?”

    Thằng Lía nghe đã tường tri,

    Trong lòng nổi giận tức thì phân qua:

    “Nếu mày muốn chiếm ngôi ta,

    Cùng ta thử sức mới là công minh,

    Nếu mi thiếu sức chống kình,

    Thì là mi phải chia đành nhường ngai

    Thường ngày tùng phục ta đây,

    Ta kêu phải dạ ta sai vưng lời.

    Cứ việc thử sức mà chơi,

    Đặng cho biết rõ ai tài hơn ai?”

    Thằng Mướp đáp lại vắn dài:

    “Nếu đặng như vậy ta đây đành lòng.”

    Thằng Lía tức giận trong lòng,

    Kế mưu sắp sẵn đục trong ai tàng?

    Lía ta phân lại rõ ràng:

    “Thử tài thử sức nghĩ càng quá hay,

    Nhưng ta nghĩ đặng việc này,

    Còn thêm thú vị chẳng sai đâu là

    Thẳng Mướp giả kẻ gian tà,

    Nịnh thần thí chúa đặng mà đoạt ngôi,

    Sẵn dịp đó rất là vui,

    Cho ta thử sức đặng coi thế nào?”

    Còn lắm chuyện ngộ biết bao,

    Hãy xem luôn tiếp cuốn sau rõ tường.

     

     

     

     

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiếng Trung Nghiêm Thùy Trang
  • 60 Câu Thành Ngữ Tiếng Trung Thông Dụng Nhất (Phần 1)
  • Nghề Buôn Xưa Qua Tục Ngữ, Ca Dao
  • Món Ngon Hà Thành Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Về An Giang Ghé Thăm 7 Núi
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Năm Tý Nghĩ Về Hình Ảnh Con Chuột Trong Ca Dao, Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • #1 Quy Luật Chuyển Hóa Sự Thay Đổi Về Lượng Thành Những Sự Thay Đổi Về Chất Và Ngược Lại
  • Một Ngàn Lẻ Một Thành Ngữ Trung Quốc.
  • Thuyết Minh Về Bến Nhà Rồng Lớp 9
  • Bến Nhà Rồng 150 Năm Trước
  • Giải Thích Và Bình Luận Câu Ca Dao Ta Về Ta Tắm Ao Ta Dù Trong Dù Đục Ao Nhà Vẫn Hơn
  • Chuột là con vật nhỏ bé gây ra nhiều thiệt hại cho con người và cũng chính con người đã đưa chuột lên phim ảnh, đưa vào truyện tích, thơ văn. Ở đây chỉ điểm qua hình ảnh con chuột trong tục ngữ, ca dao, vừa để thư giãn đầu xuân vừa dùng làm bài học đối nhân xử thế ở đời.

    Dân gian có câu: Chuột chạy cùng sào , có nghĩa chuột chạy đến đầu mút cây sào là hết đường. Đối với con người, đây là bước đường cùng, là bế tắc, khốn cùng, không có lối thoát.

    Phê phán những kẻ đi làm ơn hạng người có thể quay mặt làm hại mình, gọi là làm ơn mắc oán, như hình ảnh chuột cứu mèo: Chuột cắn dây buộc mèo .

    Và để cười những kẻ đua đòi, đài các rởm không tự biết thân phận mình, thời có câu: Chuột chù đeo đạc (mõ). Ca dao cũng có câu: Chim chích mà đậu cành sồi/ Chuột chù trong cống đòi soi gương Tàu

    Phê phán những kẻ bất tài vô tướng nhưng hay khoe khoang, khoác lác, có câu: Chuột chù lại có xạ hương .

    Người xưa còn dựng nên câu đối thoại thật vui và dí dỏm để ám chỉ những kẻ chỉ biết chê người mà không tự xét mình:

    Chuột chù chê khỉ rằng hôi, Khỉ mới trả lời: cả họ mày thơm?

    Phê phán những kẻ táo bạo, liều lĩnh, làm những công việc phiêu lưu mạo hiểm, có câu: Chuột gặm chân mèo .

    Gặp những người xưa nay vốn sống trong cảnh nghèo khó, túng thiếu, bỗng dưng gặp vận may, được cuộc sống đổi đời, sung sướng, ấm no và hạnh phúc, dân gian thường nói: Chuột sa chĩnh gạo hay chuột sa bồ nếp hoặc Chuột sa lọ mỡ.

    Con mèo trèo lên cây cau/ Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà/ Chú chuột đi chợ đường xa/ Mua mắm, mua muối giỗ cha chú mèo.

    Mèo và chuột rất kỵ nhau, mèo đã cất công leo lên tận ngọn cau hẳn không phải để thăm chú chuột. Sự việc ra sao chắc ai cũng biết.

    Chưa hết. Người đời còn mượn hình ảnh chú chuột để nói lên vụng trộm ái tình trong đêm khuya. Ca dao có nói về tình tiết này:

    Tăng Hoàng Phi (Sưu tầm)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Học Tập, Học Hành Hay Nhất
  • Tổng Hợp Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Lòng Biết Ơn Là Gì?
  • Ca Dao Lịch Sự Và Tế Nhị
  • Tục Ngữ Ca Dao Và Thơ Nói Về Khỉ:
  • Văn Thuyết Minh: Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Biển

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Rượu Bia Hay Và Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống 80++ Châm Ngôn, Stt Hay Nhất Về Cuộc Sống
  • 199 Câu Nói Hay Về Hạnh Phúc Tan Vỡ Đầy Xót Xa
  • 25+ Lời Chúc Vợ Ngủ Ngon Hay Nhất Các Ông Chồng Nên Tham Khảo
  • Download Ebook Lời Chúc Phúc Của Odin Tập 3
  • Sông sâu mà biển cũng sâu

    Muốn ăn cá lớn, rong câu cho dài

    Dốc lòng trồng cúc bẻ bông

    Ngó ra ngoài biển thấy ông đưa đò

    Anh ở làm sao cho biết đói biết no

    Biết ra khơi về lộng đây em lo kết nguyền

    Trời sinh có biển có nguồn

    Có ta, có bạn, còn buồn nỗi chi?

    Tháng chín mưa giông thuyền mong ghé bến

    Từ nơi bãi biển qua đến buổi chợ chiều

    Nuôi con chồng vợ hẩm hiu

    Nhà tranh một mái tiêu điều nắng mưa

    Động bể đông bắc nồi rang thóc

    Động bể bắc đổ thóc ra phơi

    Sự đời nghĩ cũng nực cười

    Một con cá lội mấy người thả câu

    Anh về xẻ gỗ bắc cầu

    Non cao anh vượt biển sâu anh dò

    Bây giờ sao chẳng bén cho

    Xa xôi cách mấy lần đò cũng đi

    Trời cao hơn trán

    Trăng sáng hơn đèn

    Kèn kêu hơn quyển

    Biển rộng hơn sông

    Anh đừng thương trước uổng công

    Chờ cho thiệt vợ, thiệt chồng hãy thương

    Ai về em gởi bức thơ

    Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao

    Non kia ai đắp mà cao

    Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu

    Non cao, biển cả

    Con chim tra trả tìm mồi

    Khi mô vật đổi sao dời

    Đất Quảng Nam hết nước mới hết người tài hoa

    Bãi biển Nha Trang mịn màng, trắng trẻo

    Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh

    Đêm đêm thơ thẩn một mình

    Đố sao cho khỏi vướng tình nước mây?

    Ngó lên trên rừng thấy cặp cu đang đá

    Ngó về dưới biển thấy cặp cá đang đua

    Biểu anh về lập miếu thờ vua

    Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên rừng thấy cặp cua đang đá

      Ngó xuống biển thấy cặp cá đang đua

      Biểu anh về lập miếu thờ vua

      Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên rừng thấy cặp cu đương đá,

      Ngó về Rạch Giá thấy cặp cá đương đua.

      Anh về lập miếu thờ vua,

      Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên trời thấy mây giăng tứ diện,

      Ngó xuống biển thấy chim liệng cá đua.

      Anh về lập miễu thờ vua,

      Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn

    Núi lở non mòn, ngỡi bạn không quên

    Ðường còn đi xuống đi lên,

    Tình qua nghĩa bậu quyết nên vợ chồng.

      Sông cạn, biển cạn lòng ta không cạn

      Núi lở non mòn, nghĩa bạn không quên

      Đường còn đi xuống đi lên

      Ơn bạn bằng biển, ta đền bằng non

      Đường mòn duyên nợ không mòn

      Chết thì mới hết, sống còn gặp nhau

      Lời nguyền trước cũng như sau

      Em không phụ khó, ham giàu ở đâu

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng

    Lụa tốt xem biên

    Người hiền xem tướng

    Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy

    Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa

    Em thương anh không dám nói ra

    Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời

    Anh với em cũng muốn kết đôi

    Sợ vầng mây bạc trên trời mau tan.

    Đố ai tát bể Đông Khê

    Tát sông Bồ Đề, nhổ mạ cấy chiêm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lời Chúc Tết Bính Thân 2022 Hay Và Dễ Nhớ Dành Cho Bạn Bè
  • Những Lời Chúc Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 Hay, Ý Nghĩa Nhất
  • Top Sách Hay Và Những Câu Nói Ý Nghĩa Của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
  • 10 Câu Danh Ngôn Tiếng Anh Bất Hủ Của Các Nhà Khoa Học Vĩ Đại
  • Những Lời Chúc Giáng Sinh Tình Cảm Và Lãng Mạn Dành Cho Người Yêu
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu
  • Ngày Xuân, Tản Mạn Về “Con Trâu” Trong Ca Dao Tục Ngữ
  • Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Về Con Cò
  • Cái Cò Và Con Cò
  • Báo Cao Bằng Điện Tử
  •  

    Tuyển chọn những lời ca dao hay về TRÂU

    Thuyduongnsx tuyển chọn

    1. Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

    Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

    2. Chẳng tham ruộng cả ao liền

    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

    3. Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

    4. Đường về đêm tối canh thâu

    Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười

    5. Thiệt tình hỏng phải ba hoa

    hôm qua tui thấy con gà đá trâu…..

    6. Gà đá trâu bao lâu mới thắng

    Trâu đá gà que cẳng con trâu

    7. Ai nói chăn trâu là khổ??

    Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

    8. Dù ai buôn đâu bán đâu,

    Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về.

    Dù ai buôn bán trăm nghề,

    Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu.

    9. Đêm qua kẻ trộm vào nhà,

    Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.

    Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,

    Thức mà giữ lấy con trâu con bò.

    Nằm đây nào đã ngủ cho,

    Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

    10. Nghé ơi ta bảo nghé này

    Nghé ăn cho béo nghé cày cho sâu.

    Ở đời khôn khéo chi đâu,

    Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

    11. Chăn trâu chả biết mặt trâu

    Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

    12. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu

    Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

    13. Tháng giêng là tháng ăn chơi,

    Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

    Tháng ba thì đậu đã già

    Ta đi ta hái về nhà phơi khô

    Tháng tư đi tậu trâu bò

    Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…

    14. Trâu ơi ta bảo trâu này,

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

    Cấy cày giữ nghiệp nông gia.

    Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!

    Bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.

    “Con trâu là đầu cơ nghiệp

    15. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!

    16. Trên trời có đám mây xanh (4)

    Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng

    Ước gì ta lấy được nàng

    Hà Nội, Nam Ðịnh sửa đàng rước dâu

    Thanh Hóa cung đốn trầu cau

    Nghệ An thì phải thui trâu mổ bò

    Phú Thọ quạt nước hỏa lò

    Hải Dương rọc lá giã giò gói nem

    Tuyên Quang nấu bạc đúc tiền

    Ninh Bình dao thớt Quảng Yên đúc nồi

    An Giang gánh đá nung vôi

    Thừ Thiên Đà nẵng thổi xôi nấu chè

    Quảng Bình Hà Tĩnh thuyề ghe

    Đồng Nai Gia Dịnh chẻ tre bắc cầu

    Anh mời khắp nước chư hầu

    Nước Tây nước Tàu anh gởi thư sang

    Nam Tào Bắc đẩu dọn đàng

    Thiên Lôi La Sát hai hàng hai bên

    17. Trời mưa trời gió đùng đùng

    Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu

    Gánh về trồng bí trồng bàu

    Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

    18. Nam mô Bồ Tát

    Chẻ lạt đứt tay

    Đi cày trâu húc

    Đi súc phải cọc

    Đi học thày đánh

    Đi gánh đau vai

    Nằm dài nhịn đói

    19. Nước giữa dòng chê trong, chê đục

    Vũng trâu đầm hì hục khen ngon

    20. Đời vua Thái Tổ – Thái Tông

    Lúa mọc đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.

    21. Thất là mất

    Tồn là còn

    Tử là con

    Tôn là cháu

    Lục là sáu

    Tam là ba

    Gia là nhà

    Quốc là nước

    Tiền là trước

    Hậu là sau

    Ngưu là trâu

    Mã là ngựa

    22. Trai thì cày ruộng khiển trâu

    Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

    23. Trăm năm còn có gì đâu

    Miếng trầu liền với con trâu một vần

    24. Trâu bò được ngày phá đỗ

    Con cháu được ngày giỗ ông

    25. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết

    26. Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta

    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

    27. Trâu kia kén cỏ bờ ao

    Anh kia không vợ đời nào có con

    Người ta con trước, con sau

    Thân anh không vợ như cau không buồng

    Cau không buồng như tuồng cau đực

    Trai không vợ cực lắm anh ơi

    Người ta đi đón, về đôi

    Thân anh đi lẻ, về loi một mình

    28. Của chua ai nấy cũng thèm

    Em cho chị mượn chồng em vài ngày

    Chồng em đâu phải trâu cày

    Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

    29. Dầu bông bưởi, dầu bông lài

    Xức vô tới Tết còn hoài mùi cứt trâu

    30. Dù ai buôn bán nơi đâu

    Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

    31. Ðàn đâu mà gảy tai trâu

    Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    32. Thương nhau vì nợ vì duyên

    Trâu đôi chi đó, thổ điền chi đây

    33. Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần

    Làm thân con nhện mấy lần vương tơ

    Về đâu trong đục mà chờ

    Hoa thơm mất tuyết , nương nhờ vào đâu

    Số em giàu, lấy khó cũng giàu

    Số em nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo

    Phải duyên phải kiếp thì theo

    Giàu ăn khó chịu, lo gì mà lo

    34. Chẳng qua số phận long đong

    Cột trâu, trâu đứt, cột tròng, tròng trôi.

    35. Lao xao gà gáy rạng ngày

    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

    Bước chân xuống cánh đồng sâu

    Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày.

    Ai ơi! bưng bát cơm đầy

    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng

    Câu đố:

    – Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

    Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân. = con trâu

    – Vừa bằng cái bát, san sát giữa đồng = vết chân Trâu

    36. Ru Con

    Bao giờ cho đến tháng ba,

    Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.

    Hùm nằm cho lợn liếm lông,

    Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.

    Nắm xôi nuốt trẻ lên mười;

    Con gà, be rượu nuốt người lao đao.

    Lươn nằm cho trúm (1) bò vào;

    Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

    Lúa mạ nhảy lên ăn bò;

    Cỏ năn (2), cỏ lác (3) rình mò bắt trâu.

    Gà con đuổi bắt diều hâu;

    Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.

    Chú thích:

    (1) Trúm : một thứ đó để bắt lươn

    (2) Cỏ năn : một loài cỏ mọc dưới nước

    (3) cỏ lác : thứ cỏ xấu

    37. Thứ nhất vợ dại trong nhà,

    Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn.

    Vợ dại thì đẻ con khôn,

    Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm.

    38. Trâu chậm thời anh bán đi,

    Dao cùn đánh lại vợ thì làm sao.

    39. Trâu anh con cưỡi con dòng,

    Có con đi trước lòng thòng theo sau.

    40. Trâu anh con cưỡi con dòng,

    Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn.

    41. Trâu buộc thì ghét trâu ăn,

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

    42.Trâu kia kén cỏ bờ ao,

    Anh kia không vợ đời nào có con.

    43.Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa,

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    44. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

    Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già.

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá bò dò làm sao?

    45. Em như ngọn cỏ phất phơ

    Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng

    46. Mình rằng mình quyết lấy ta

    Ðể ta hẹn cưới hăm ba tháng này

    Hăm ba nay đã đến ngày

    Ta hẹn mình rày cho đến tháng giêng

    Tháng giêng năm mới chưa nên

    Ta hẹn mình liền cho đến tháng hai

    Tháng hai có đỗ có khoai

    Ta lại vật nài cho đến tháng tư

    Tháng tư ngày chẳn tháng dư

    Ta lại chần chừ cho đến tháng năm

    Tháng năm là tháng trâu đầm

    Ta hẹn mình rằng tháng sáu mình lên

    Tháng sáu lo chửa kịp tiền

    Bước sang tháng bảy lại liền mưa ngâu

    Tháng bảy là tháng mưa ngâu

    Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu

    Tháng tám là tháng trăng thu

    Bước sang tháng chín mù mù mưa rươi

    Tháng chín là tháng mưa rươi

    Bước sang tháng mười đã đãi mưa đông

    Quanh đi quẩn lại em đã có chồng

    Như chim trong lồng, như cá cắn câu

    47. Ông Giăng mà lấy bà Sao,

    Đến mai có cưới cho tao miếng giầu.

    Có cưới thì cưới con trâu,

    Chớ cưới con nghé nàng dâu không về.

    48. Ông giẳng ông giăng,

    Xuống chơi với tôi,

    Có bầu có bạn,

    Có ván cơm xôi,

    Có nồi cơm nếp,

    Có nệp bánh chưng,

    Có lưng hũ rượu,

    Có chiếu bám đu,

    Thằng cu xí-xóa,

    Bắt trai bỏ giỏ,

    Cái đỏ ẵm em,

    Đi xem đánh cá,

    Có rá vo gạo,

    Có gáo múc nước,

    Có lược chải đầu,

    Có trâu cày ruộng,

    Có muống thả ao,

    Ông sao trên trời.

    (Cái này thấy gọi là Ca dao nhi đồng, hihi)

    49.Bước sang tháng sáu giá chân,

    Tháng một nằm trần bức đổ mồ hôi.

    Con chuột kéo cầy lồi lồi,

    Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong.

    Vườn rộng thì thả rau rong.

    Ao sâu giữa đồng, vãi cải làm dưa.

    Đàn bò đi tắm đến trưa,

    Một đàn con vịt đi bừa ruộng nương.

    Voi kia nằm ở gặm giường,

    Cóc đi đánh giặc bốn phương nhọc nhằn.

    Chuồn kia thấy cám liền ăn,

    Lợn kia thấy cám nhọc nhằn bay qua.

    Trời mưa cho mối bắt gà,

    Thòng-đong cân-cấn đuổi cò lao xao.

    Lươn nằm cho trúm bò vào,

    Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

    Thóc giống cắn chuột trong bồ,

    Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu.

    Chim chích cắn cổ diều hâu,

    Gà con tha quạ biết đâu mà tìm.

    Bong bóng thì chìm, gỗ lim thì nổi.

    Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai.

    Hòn đá giẻo dai, hòn xôi rắn chắc.

    Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi.

    Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú.

    Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu.

    Hay cắn thì trâu, hay cày thì chó.

    50. Nam mô bồ tát,

    Chẻ lạt đứt tay,

    Đi cày trâu húc,

    Đi xúc phải cọc,

    Đi học thầy đánh,

    Đi gánh đau vai,

    Nằm dài nhịn đói.

    51. Con kiến mày kiện củ khoai,

    Mày chê tao khó lấy ai cho giầu.

    Nhà tao chín đụn mười trâu,

    Lại thêm ao cá bắt cầu rửa chân.

    52. Công anh chăn nghé đã lâu

    Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày?

     

    53. Cưới em có cánh con gà,

    Có dăm sợi bún, có và hạt xôi.

    Cưới em còn nữa anh ơi!

    Có một đĩa đậu hai môi rau cần.

    Có xa dịch lại cho gần,

    Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi.

    Hay là nặng lắm anh ơi!

    Để em bớt lại một môi rau cần.

    Cưới nàng anh toan dẫn voi,

    Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

    Dẫn trâu sợ họ máu hàn,

    Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân,

    Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

    – Chàng dẫn thế em lấy làm sang

    Nỡ nào em lại phá ngang như là…

    Người ta thách lợn thách gà,

    Nhà em thách cưới một nhà khoai lang

    Củ to thì để mời làng,

    Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.

    Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi!

    Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà.

    Bao nhiêu củ rím củ hà,

    Để cho con lợn con gà nó ăn.

    54. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu

    ví dâu

    Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

    55. Anh về bán ruộng cây da

    Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em

    56. 17. Hò ơ.. (chớ) Bớ này anh nó ơi

    Số phận em giao phó cho trời xanh

    Lấy anh em không lấy,

    Nhưng dạ cũng không đành làm ngơ

    Vốn em cũng chẳng bơ thờ

    Em đã hằng chọn trong lóng đục,

    Nhưng vẫn còn chờ nợ duyên

    Vốn em muốn lấy ông thầy thuốc cho giàu sang,

    Nhưng lại sợ ổng hay gia hay giảm

    Em muốn lấy ông thầy pháp cho đảm,

    Nhưng lại sợ ổng hét la ghê gốc

    Em muốn lấy chú thợ mộc,

    Nhưng lại sợ chú hay đục khoét rầy rà

    Em muốn lấy anh thợ cưa cho thật thà,

    Nhưng lại sợ trên tàn dưới mạt

    Em muốn lấy người hạ bạc,

    Nhưng lại sợ mang lưới mang chài

    Em muốn lấy anh cuốc đất trồng khoai,

    Nhưng lại sợ ảnh hay đào hay bới

    Em cũng muốn chọn anh thợ rèn kết ngỡi,

    Nhưng lại sợ ảnh nói tức nói êm

    Bằng lấy anh đặt rượu làm men,

    Thì lại sợ ảnh hay cà riềng cà tỏi

    Em muốn lấy ông nhạc công cho giỏi,

    Nhưng lại sợ giọng quyển giọng kèn

    Em muốn lấy thằng chăn trâu cho hèn,

    Nhưng lại sợ nhiều điều thá ví

    Em muốn lấy anh lái buôn thành thị,

    Nhưng lại sợ ảnh kêu mắc rẻ khó lòng

    Em muốn lấy anh thợ đóng thùng,

    Nhưng lại sợ ảnh kêu trật niền trật ngổng

    Em muốn lấy ông Hương ông Tổng,

    Nhưng lại sợ việc trống việc gông

    Em muốn lấy anh hàng gánh tay không,

    Nhưng lại sợ đầu treo đầu quảy

    Em muốn lấy chú hàng heo khi nãy,

    Nhưng lại sợ chú làm lộn ruột lộn gan

    Em muốn lấy anh thợ đát thợ đan,

    Nhưng lại sợ ảnh hay bắt phải bắt lỗi

    Em muốn lấy anh hát bè hát bội,

    Nhưng lại sợ giọng rỗi giọng tuồng

    Em muốn lấy anh thợ đóng xuồng,

    Nhưng lại sợ ảnh hay dằn hay thúc…

    Hò ơ.. (chớ) Mấy lời trong đục chẳng dám nói ra

    Có thầy giáo tập dạy trong làng xa, hay dạy hay răn

    So đức hạnh chẳng ai bằng, lại con nhà nho học

    Sử kinh thầy thường đọc, nên biết việc thánh hiền

    Gặp nhau em kết liền, không chờ chẳng đợi… (ờ)

    Hò ơ.. (chớ) Không chẳng chờ chẳng đợi phỉ nguyền phụng loan

    57. Hút sách là chuyện chẳng lành

    Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây

     

    58. Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà

    Cả ba việc ấy đều là khó thay.

    59. Mười năm cắp sách theo thày

    Năm thứ mười một vác cày theo trâu.

    60. Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

    Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân.

    61.Ai cũng gặt lúa đỏ đuôi

    Chàng về mà đập, mà phơi kịp ngày

    Ai mà giã gạo ba chày

    Giã sao cho trắng, gửi ngay cho chàng

    Sẵn tiền mua bạc mua vàng

    Sẵn tiền sắm áo cho chàng trẩy kinh

    Sáng trời chàng mới tập binh

    Em ngồi vò võ, một mình em lo

    Ruộng nương không ai cày cho

    Trâu bò, gà, lợn em lo dường nào!

    Ruộng người cày cấy xôn xao

    Ruộng nhà cỏ mọc lên cao lồng ngồng

    Người ta có vợ có chồng

    Cỏ cao, mạ úa nhưng lòng vẫn vui

    Nhà ta chỉ có em thôi

    Ruộng cạn mạ úa em ngồi em lo

    62.Ai ơi uống rượu thì say

    Bỏ ruộng trâu cày bỏ giống ai gieo.

    63.Anh đánh thì tôi chịu đòn

    Tánh tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa

    Anh đánh thì tôi xin thưa

    Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu

    Ăn quen chừa được chẳng lâu

    Lệ làng làng bắt mất trâu mặc làng

    64.Ba vợ bảy tám nàng hầu

    Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi.

    65.Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    66.Anh em bất nghĩa chi khèo

    Anh dữ như mèo tôi lại như trâu

    67.Bé ăn trộm gà

    Già ăn trộm trâu

    Lâu nữa làm giặc

    68.Cầm trâu cầm áo cầm khăn

    Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

    69.Cái bống mặc xống ngang chân

    Lấy chồng Kẻ Chợ cho gần, xem voi

    Trèo lên trái núi mà coi

    Thấy ông quản tượng cõi voi đánh cồng

    Túi vóc mà thêu chỉ hồng

    Têm trầu cánh phượng cho chồng đi thi

    Một mai chồng đỗ, vinh quy

    Võng anh đi trước, em thì võng sau

    Tàn quạt, hương án theo hầu

    Vinh quy bái tổ, giết trâu ăn mừng!

    70.Cái kiến mà kiện củ khoai

    Mày chê tao khó, lấy ai cho giầu

    Nhà tao chín đụn mười trâu

    Lại thêm ao cá, bắc cầu rửa chân

    Cầu nầy là cầu ái ân

    Một trăm con gái rửa chân cầu nầy

    Có rửa thì rửa chân tay

    Chớ rửa lông mày chết cá ao anh

    Nhà anh có một cây chanh

    Nó chửa ra nhành nó đã ra hoa

    Nhà anh có một mụ già

    Thổi cơm không chín, quét nhà chẳng nên

    Ăn cỗ khì đòi ngồi trên

    Mâm son bát sứ đem lên hầu bà.

    71.Bong bóng thì chìm gỗ lim thì nổi

    Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai

    Hòn đá dẻo dai, hòn xôi rắn chắc

    Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi

    Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú

    Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu

    Hay sủa thì trâu, hay cày thì chó…

    (hình như vẫn còn tiếp thì phải)

    72.Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

    Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

    Chẳng tham ruộng cả ao liền

    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

    Chẳng tham nhà ngói ba tòa

    Tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành.

    73.Chồng dữ thì em mới rầu

    Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng

    74.Chùn đùi, thắt quản, ngắn đuôi

    Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

    75.Cao đầu thấp hậu thì tậu liền tay

    76.Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

    77.Chết lỗ chân trâu

    78.Có ăn có chọi mới gọi là trâu

    79.Có xa dịch lại cho gần

    Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi

    Hay là nặng lắm anh ơi!

    Để em bớt lại một môi rau cần.

    Cưới nàng anh toan dẫn voi

    Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

    Dẫn trâu sợ họ máu hàn

    Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân

    Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

    80.Con cá rô thia ẩn bóng chân trâu

    Một trăm quân tử tới câu cũng chẳng màng.

    81.Con gái mười bảy bẻ gãy sừng

    trâu

    82.Con tằm nó ăn lá dâu

    Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò

    83.Con vợ khôn lấy thằng chồng dại

    Như bông hoa lài cặm bãi cứt trâu

    84.Công anh chăn nghé đã lâu

    Bây giờ nghé lớn thành trâu ai cày

    85.Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    86.Em thì canh cửi việc nhà

    Nuôi anh ăn học đăng khoa bảng vàng

    Trước là vinh hiển tổ đường

    Bõ công đèn sách lưu hương con nhà

    Rước vinh quy về nhà bái tổ

    Ngả trâu bò làm lễ tế vua

    Họ hàng ăn uống say sưa

    Hàng Tổng hàng Huyện mừng cho ông Nghè

    87.Dưa gang một chạp thì trồng

    Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo

    Tháng hai đi tậu trâu bò

    cày đất cho ải mạ mùa ta gieo

    88.Được voi to trâu bò chẳng kể

    Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

    Một lời đã trót nói ra

    Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo

    89.Em là con gái nhà giàu

    Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao

    Cưới em trăm tấm gấm đào

    Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời

    Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi

    Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng

    Sắm xe tứ mã đem sang

    Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu

    Ba trăm nón Nghệ đội đầu

    Một người một cái quạt Tàu thật xinh

    Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình

    May chăn cho rộng ta mình đắp chung

    Cưới em chín chĩnh mật ong

    Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò

    Cưới em tám vạn trâu bò

    Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm

    Lá đa mặt nguyệt hôm rằm

    Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi

    Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi

    Xin chàng chín chục con dơi góa chồng

    Thách thế mới thỏa trong lòng

    Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân

    90.Gió nam ào ạt gốc cây nằm mát

    Chẻ lạt đứt tay, đi cày trâu húc

    Đi xúc phải cọc, đi học thầy đánh

    Đi gánh đau vai, nằm dài nhịn đói

    91. Vợ bé nghé con

    Sẩy đàn tan nghé

    Hòn đá cheo leo,

    Con trâu trèo, con trâu trợn

    Con ngựa trèo, con ngựa đổ.

    Anh thương em lao khổ

    Tận cổ chí kim,

    Anh thương em khó kiếm khôn tìm.

    Cây kim luồn qua sợi chỉ,

    Sự bất đắc dĩ phu mới lìa thê,

    Nên hay không nên, anh ở em về,

    Đừng giao, đừng kết, đừng thề mà vương.

    92.Lạc đường nắm đuôi chó

    Lạc ngõ nắm đuôi trâu

    93.Lao xao gà gáy rạng ngày

    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

    Bước chân xuống cánh đồng sâu

    Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày

    Ai ơi! bưng bát cơm đầy

    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?

    94.Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

    Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

    Một huyền hai lái chẳng xong

    Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

    95.Lộn con toán bán con trâu

    96.Mật ngọt rớt xuống thau đồng

    Những lời anh nói cho lòng em say

    Một trâu anh sắm đôi cày

    Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia!

    Chàng ơi! chàng cho em ra

    Nhẽ đâu một ổ đôi gà ấp chung.

    97.Một rằng mình quyết lấy ta

    Ta về bán cửa bán nhà mà đi

    Ta về bán núi Ba Vì

    Bán chùa Hương Tích, Phật đi làu làu

    Ta về bán hết ngựa trâu

    Bán hột thầu dầu, bán trứng gà ung

    Bán ba mươi sáu Thổ công

    Bán ông Hành Khiển, vợ chồng Táo Quân

    Bán từ giờ Ngọ giờ Dần

    Giờ Tí giờ Sửu giờ Thân giờ Mùi

    Ta về bán cả que cời

    Bán tro đun bếp bán trăm khêu đèn

    Ta về bán trống bán kèn

    Có gì bán hết, lấy tiền cưới em

    98.Nghé hành nghé hẹ

    Có khôn theo mẹ

    Có khéo theo đàn

    Chớ có chạy quàng

    Có ngày lạc mẹ

    Việc nhẹ phần con

    Kéo nỉ kéo non

    Kéo đến quanh tròn

    Mẹ con ta nghỉ

    99.Trăm năm cơ hội tình cờ,

    Đàn cầm anh gãy, câu thơ anh đề.

    Muốn cho thuận nẻo đi về,

    Anh sang làm rể, em về làm dâu.

    Số giàu lấy khổ cũng giàu,

    Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.

    Phải duyên phải kiếp thì theo,

    Khuyên em chớ nghĩ giàu nghèo làm chi.

    Em ơi! chữ vị là vì,

    Chữ dục là muốn, chữ tùy là theo,

    Ta đã yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,

    Thất bát giang cũng lội, tam thập đèo cũng qua.

    100.Trời mưa lâm râm

    Cây trâm có trái

    Con gái có duyên

    Đồng tiền có lỗ

    Bánh tổ thì ngon

    Bánh dòn thì béo

    Cái kéo thợ may

    Cái cày làm ruộng

    Cái xuổng đắp bờ

    Cái lờ đơm cá

    Cái ná bắn chim

    Cái kim may áo

    Cái giáo đi săn

    Cái khăn bịt đầu

    Cái cầu đi chợ

    Có vợ đàn ông

    Có chồng con gái

    Cái trái mù u

    Ông cu đi câu

    Để trâu ăn lúa

    Bắt được chặt đầu, chặt đầu đuôi

    Còn hai con mắt đem nuôi mẹ già

     

    Tướng Trâu

    Cầm trâu cầm áo cầm khăn

    Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Chồng em đâu phải trâu cày

    Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

    Trâu gầy cũng tầy bò giống

    Ghi Chú: * Trâu gầy vẫn mạnh hơn bò

    Mắt bánh rán,

    Trán bánh chưng

    Lưng tôm càng

    Ghi Chú: * Trâu có mắt lớn, cái trán vuông vức như cái bánh chưng và

    lưng không oằn là trâu khỏe mạnh

    Đã có sừng thì đừng hàm trên

    Ghi Chú: * Trâu không có răng hàm trên

    Tai lá mít đít lồng bàn

    Ghi Chú: * Trâu có tai lớn và mông bự là trâu tốt

    Vành mồm trắng, mắt tai to

    Hễ thưa lông bụng, móng hài cũng mua

    Ghi Chú: * Trâu thưa lông bụng và vành mồm trắng mới là trâu có tướng

    tốt

    Sà sừng mắt lại nhỏ con

    Vụng giàn chậm chạp ai còn nuôi chi

    Ghi Chú: * Trâu có cặp sừng sệ xuống và mắt nhỏ thì chậm chạp

    Vai nồi đồng, mông cối lỗ

    Ghi Chú: * Vai to tròn, mông lớn là trâu tốt

    Sừng to móng hến thì nuôi phải rồi

    Ghi Chú: * Trâu có sừng to, mở Rộng là trâu đắc dụng

    Tam tinh khoáy sọ thì chừa

    Đốm đuôi nát chủ thì đưa vào nồi

    Ghi Chú: * Trâu có khoáy sọ và đuôi có đốm là trâu độc dễ gây tai họa

    nên giết thịt

    Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

    Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

    Một huyền hai lái chẳng xong

    Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

    Lúa Đồng Ngâu, trâu Yên Mỹ

    Mất trâu mất ruộng không màng

    Mất cây cuốc mục ra làng kiện thưa

    Mất trâu thì lại tậu trâu

    Những quân cướp nợ có (chẳng) giầu hơn ai ?

    Một trâu anh sắm đôi cày

    Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia

    Chàng ôi! chàng cho em ra

    Nhẽ đâu một ổ hai gà ấp chung ?

    Một trâu anh sắm hai cày

    Một chàng hai thiếp có ngày oan giạ

    Chả yêu thì bỏ nhau ra

    Làm chi một ổ hai gà ấp chung.

    Yếu trâu cũng bằng bò khỏe

    Con trâu ăn cỏ đất bằng

    Uống nước bờ ao

    Hồi nào mầy ở với tao

    Đến khi mầy chết

    Tao cầm dao xẻo thịt mầy

    Thịt mầy nấu cháo linh binh

    Da mầy bịt trống tụng kinh trong chùa

    Sừng mầy tao tiện con cờ

    Cán dao, cán mác, lược dầy lược thưa

    Mua trâu cưới vợ làm nhà

    Cả ba việc ấy đều là khó thay

    Muốn giầu nuôi trâu nái

    Muốn lụi bại nuôi chim bồ câu.

    Ngày xưa Ninh Thích chăn trâu

    Mà rồi công ấn công hầu trâu ơi !

    Ngày nay mình nghé ta ngồi

    Mai sau ta có một thời hiển vinh ?

    Trâu he cũng bằng bò khỏe

    Ghi Chú: * Trâu he là trâu nghé hay trâu còn non

    Lang đuôi thì bán, lang trán thì cày

    Ghi Chú: * Trâu có hoa trên trán thì giữ để cày ngược lại đuôi có hoa

    thì đem bán

    Phù thủy, thầy bói, lái trâu

    Nghe ba anh ấy đầu lâu không còn

    Trâu ác vạc sừng

    Ghi Chú: * Trâu ác hay mài sừng để chiến đấu

    Tậu trâu lấy vợ làm nhà

    Trong ba việc ấy lọ là khó thay

    Ruồi lằn chọi với bò trâu

    Đàn gà quật với diều hâu mấy lần

    Thật thà cũng thể lái trâu

    Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng

    Trâu tóc chóp, bò mũ mấn

    Ghi Chú: * Trâu có tóc chóp thì tốt, ngược lại bò có tóc chóp thì xui

    xẻo

    Trâu ra, mạ vào

    Ghi Chú: * Cần cấy ngay sau khi cày ruộng xong

    Trâu kia (già) kén (cắn) (ăn) cỏ bờ ao

    Anh kia không vợ đời nào có con

    Người ta con trước, con sau

    Thân anh không vợ như cau không buồng

    Cau không buồng như tuồng cau đực

    Trai (Anh) không vợ cực lắm anh ơi

    Người ta đi đón, về đôi

    Thân anh đi lẻ, về loi một mình

    Trâu năm sáu tuổi còn nhanh

    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già

    Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

    Cấy cày vốn nghiệp nông gia

    Hai sương một nang)Tắ đây trâu đấy ai mà quản công

    Bao giờ cây lúa còn bông

    Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

    Trâu ai buộc ngõ ông Cai

    Hoãn ai mà lại đeo tai bà Nghè

    Ngựa ai buộc ngõ ông Nghè

    Gà ai gáy ở đầu hè ông Cai

    Ghi Chú: * Nghè là người đỗ tiến sĩ thời xưa; Hoãn là đôi bông tai

    Trâu bò ở với nhau lâu quen chuồng quen chỏi

    Người ở với nhau lâu, inh ỏi đủ điều

    Trâu buộc thì ghét trâu ăn

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần

    Trai thì cày ruộng khiển trâu

    Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

    Ghi Chú: * Tục ăn trầu có ở hầu hết các nước Đông Nam Á; Xem: Trầu Cau

    Trong Ca Dao

    Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta (*)

    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

    Ghi Chú: * Hoặc: Trâu ta ăn cỏ đồng ta

    Trâu khoẻ chẳng lo cày trưa

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    Trâu kia chết để bộ da

    Người chết để tiếng xấu xa muôn đời

    Cao vây, dậy tiền, sâu vai, khai hậu

    Ghi Chú: * Hai chân sau mở rộng gọi là khai hậu

    Sừng cánh cắt, mắt ông voi

    Ghi Chú: * Cặp sừng to lớn như cánh chim cắt là trâu tốt

    Ăn thịt trâu không tỏi

    Như ăn gỏi không rau mơ

    Trâu quá sá, mạ quá thì

    Ghi Chú: * Quá sá là quá già, không còn khả năng để cày cấy

    Trâu dê chết để tế ruồi

    Sao bằng khi sống cơi suồi kính dâng

    Lại thêm tiền thấp hậu cao

    Ghi Chú: * Hai vai trước thấp mà mông cao, con trâu đi chúi là khôphải

    trâu tốt

    Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

    Ghi Chú: * Sống lưng phải vừa phải nhưng nổi cao thì trâu cày khỏe

    Đầu thanh cao, rào thấp hậu

    Chẳng tậu thì sao

    Được voi to trâu bò chẳng kể

    Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

    Một lời đã trót nói ra

    Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo (*)

    Ghi Chú: * Nguyên thủy: Nhất ký ngôn xuất tứ mãi nan truy

    Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    Trăm trâu trăm bó cỏ

    Trâu đứng ăn năm

    Trâu nằm ăn ba

    Nghé hoa ba con ăn một (*)

    Ghi Chú: * Câu đố toán học – Có bản khác: Con ở đàng xa một bó ba con

    Chưa được thì khấn một trâu

    Được rồi thì có trâu đâu cho bà

    Anh có sừng trâu bạc

    Tôi có gạc (có giác) trâu đen

    Bụng trâu làm sao bụng bò làm vậy

    Buộc trâu trưa nát chuồng

    Ăn thịt trâu không có tỏi

    Như ăn gỏi không có lá mơ

    Béo như trâu chương

    Đầu trâu mặt ngựa

    Chăn trâu chả biết mặt trâu

    Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

    Chị bị cứt trâu

    Chị em dâu nấu đầu trâu thủng nồi

    Chết đuối vũng trâu đằm

    Anh Ngữ Tương đương: * To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup)

    Chết lỗ chân trâu

    Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup

    Đàn gảy tai trâu (Đàn khảy tai trâu)

    Đầu nheo còn hơn phèo trâu

    Đến đâu chết trâu đến đấy

    Đi sông đi biển không chết chết ở lỗ chân trâu

    Làm cực như trâu

    Tương Đương với Anh Ngữ : To work as hard as a horse

    Chín đụn mười trâu chết cũng hai tay buông xuôi (cắp đít)

    Tương Đương với Anh Ngữ : A handfull of ashes is all than remains of the

    greatest. OR: It will all be the same a hundred years hence

    Có ăn có chọi mới gọi là trâu

    Gái mười bảy bẻ găy sừng trâu

    Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu

    Con trâu là đầu cơ nghiệp

    Cống làng Tô trâu bò làng Hệ

    Dắt trâu chui qua ống

    Đi cày trâu hút đi xúc phải cọc

    Trâu thì kho bò thì tái

    Muống thì vừa cải thì nhừ

    Đuôi chùng quá gối thì nào được đâu!

    Ghi Chú: * Trâu có đuôi dài quá cũng không đắc dụng

    Thứ nhất bó rễ, thứ nhì trễ cành

    Trâu cổ cò, bò cổ vại

    Ghi Chú: * Trâu phải có cổ dài, cổ bò lớn và ngắn thì tốt

    Giờ trâu về chuồng

    Hùng hục như trâu hút mả

    Hùng hục như trâu lăn

    Kẻ trâu trắng người trâu đen

    Khấn trâu trả lễ bò

    Khỏe như trâu

    Không có trâu bắt bò đi đẩm

    Làm kiếp trâu ăn cỏ làm kiếp chó ăn dơ

    Làm kiếp trâu kéo cày trả nợ

    Lấm như trâu đầm

    Lắm rận thì giàu lắm trâu thì nghèo

    Làm rể chớ xào thịt trâu làm dâu chớ đồ xôi lại

    Làm ruộng không trâu làm giàu không thóc

    Lắm ruộng thì thâu lắm trâu thì bán

    Làm thân trâu kéo cày trả nợ

    Làm thân trâu ngựa

    Lâu ngày cứt trâu hóa bùn

    Lộn con toán bán con trâu (cả nhà)

    Lộn thừng lộn chão quá hơn lộn trâu cày

    Lòng trâu dạ chó

    Máu đâu trâu đó

    Máu trâu cũng như máu bò

    Nằm trâu thổi sáo

    Một con tằm cũng phải hái dâu một con trâu cũng phải đi chăn

    Mua trâu bán chả

    Mua trâu lựa nái cưới gái lựa dòng

    Mua trâu vẽ bóng

    Muốn giàu nuôi trâu cái

    Nai lưng trâu

    Nhịn thuốc mua trâu nhịn trầu mua ruộng

    Tương Đương với Anh Ngữ : Take care of the pence and the pounces will

    take care of themselves

    Phản chủ đầu trâu

    Ăn cơm nhà Phật, Ðốt trâu nhà chùa

    Phản chủ đầu trâu Ăn cơm nhà Phật

    Đốt trâu nhà chùa

    Ruộng sâu trâu nái

    Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng

    Thui trâu nửa mùa hết rơm

    Tham bong bóng bỏ bọng trâu

    Thật thà lái buôn (trâu)

    Vễnh sừng, tóc chớp cả nhà mang tai

    Ghi Chú: * Trâu loại nầy dữ, hay nổi khùng như trâu điên dễ gây tai vạ

    Sông Sâu (hoắm) không chết, chết vũng trâu đầm

    Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup

    Thà chết vũng trâu hơn chết khu đĩa đèn

    Trật con toán bán cái nhà (con trâu)

    Trâu béo kéo trâu gầy

    Trâu bò được ngày phá đỗ

    Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết

    Trâu buộc ghét trâu ăn

    Trâu cày ngựa cỡi (ngựa cưỡi)

    Trâu chậm uống nước đục (nước dơ)

    Trâu ngơ ăn cỏ héo

    Tương Đương với Anh Ngữ: He that comes first to the hill may sit where

    he will. OR: Delays are dangerous

    Trâu chết bò cũng lột da

    Trâu chết chẳng khỏi rơm

    Trâu chết để da người ta chết để tiếng

    Trâu chết mặc trâu bò chết mặc bò

    Củ tỏi giắt lưng

    Trâu cho ra trâu cho

    Bò bán ra bò bán

    Trâu cột ghét trâu ăn

    Trâu đạp cũng chết voi đạp cũng chết

    Trâu dong bò dắt

    Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy

    Trâu già đâu (không) nệ dao phay

    Trâu hay ác thì trâu vạt sừng

    Trâu ho cũng bằng bò khỏe

    Trâu lấm vẫy quàng

    Trâu lành (Trâu sống) không ai mà cả

    Trâu ngã nhiều gã cầm dao

    Trâu leo cày muỗm

    Trâu ngã lắm kẻ cầm dao

    Trâu nghiến hàm bò bạch thiệt

    Trâu ta ăn cỏ đồng ta

    Trâu teo heo nở

    Trâu thịt thì gầy trâu cày thì béo

    Trâu tìm cọc cọc chẳng tìm trâu

    Trâu tìm cột cột không tìm trâu

    Trâu toi thì bò ngã

    Trâu trắng đi đâu mất mùa tới đấy

    Trâu trắng trâu đen

    Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt

    Thân trâu trâu lo thân bò bò liệu

    Tiếc thịt trâu toi

    Trai mười bảy bẻ gãy sừng trâu

    Trăm trâu cũng một công chăm

    Vác bổi thui trâu

    Ghi Chú: Ý nói không liệu sức mình; Tương đương với câu: Liệu cơm gắp

    mắm

    Vô một gà ra phải ba trâu

    Voi địt hơn trâu rống

    Khoáy sừng, khoáy sọ, khoáy tai

    Tam tinh, chằng ách làm tai chúa nhà

    Đầu gà còn hơn đuôi phượng (đuôi trâu)

    Tương Đương với Anh Ngữ : Better be the head of a dog than a tail of a

    lion Làm chủ một nơi còn hơn làm tôi tớ kẻ khác.

    Dùng dao mổ trâu (mổ bò) cắt tiết gà

    Tương Đương với Anh Ngữ : To use a steam hammer to crack nuts Xử dụng

    không đúng chỗ

    Chung nốt làm cầu, chung trâu làm trống

    Chỉ đường cho Mọi trộm trâu

    Trâu hoa tai, bò gai sừng

    Ghi Chú: Trâu có hoa tai cũng như bò có gai sừng là hai con vật không

    nên nuôi

    Thưa lông, mọng da, mõm giỏ

    Ghi Chú: * Trâu lông thưa, miệng rộng mõm dài, miệng như cái giỏ mới tốt

    Trâu nghiến hàm, bò bạch thiệt

    Ghi Chú: * Trâu nghiến hàm chặt lại là trâu xấu

    Hàm nghiến, lưỡi đốm hoa cà

    Vểnh sừng tóc chóp, cửa nhà mang tai

    Ghi Chú: * Lưỡi trâu có đốm hoa cà là trâu tốt

    Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi

    Mua trâu xem vó, mua chó xem chân

    Chùng đùi, thắt quản, ngắn đuôi

    Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

    Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà

    Ghi Chú: * Châm biếm người lái máy cày phải được ăn sang, nông dân phải

    chịu tốn kém

    Trâu ác là trâu vạc sừng

    Bò ác là bò còng lưng méo sườn

    Lọ đầu thì bán

    Lọ trán thì nuôi

    Lọ đuôi thì thịt

     

    Post ngày:

    10/05/17  

    --- Bài cũ hơn ---

  • Con Trâu Trong Văn Học Dân Gian
  • Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của
  • Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá
  • Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”
  • 36 Cụm Thành Ngữ Tiếng Hàn Dễ Thuộc Nhất
  • Ca Dao,tục Ngữ Về Quảng Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè
  • 77 Bài Hát (Ca Dao) Ru Con, Ru Bé Ngủ Rất Hay
  • Người Tày Giáo Dục Con Cháu Qua Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Giáo Dục Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thay Đổi, Cố Gắng, Nỗ Lực, Quyết Tâm, Rèn Luyện Thân Thể
  • CA DAO VẦ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG

    1- Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm Rượu Hồng Ðào chưa nhấm đã say Bạn về đừng ngủ gác tay Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo 2- Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo Bình Ðịnh nằm co, Thừa Thiên ăn hết… 3- Học trò trong Quảng ra thi Thấy cô gái Huế chân đi không đành. 4- Ai đi phố Hội, Chùa Cầu Ðể thương , để nhớ, để sầu cho ai, Ðể sầu cho khách vãng lai, Ðể thương để nhớ cho ai chịu sầu 5- Thương nhau chớ quá e dè, Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be. Thiếp nói thì chàng phải nghe Thức khuya, dậy sớm, làm chè10 ngày 12 xu Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình, Bạn ơi, bạn chớ phiền tình, Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau Lạy trời, mưa xuống cho mau Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng 6- Rằng xa: cửa ngõ cũng xa Rằng gần: Vĩnh Ðiện, La Qua cũng gần 7- Chiều chiều mây phủ ải vân Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn 8- Chiều chiều mây phủ Sơn Trà Lòng ta thương bạn, nước mắt và trộn cơm 9- Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông Thấy nước xanh như tàu lá, Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn Thấy phố xá nghinh ngang Kể từ ngày Tây lại đất Hàn, Ðào sông Cù Nhĩ, tìm vàng Bồng Miêu. Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu, Ở nuôi thầy mẹ, sớm chiều cũng có anh 10- Ngó lên Hòn Kẻm, Ðá Dừng Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi 11- Ai đi cách trở sơn khê Nhớ tô mì Quảng, tình quê mặn mồng 12- Hội An đất hẹp, người đông Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu 13- Hội An bán gấm, bán điều Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành -14 Chiêm Sơn là lụa mỹ miều Sớm mai mắc cưởi, chiều chiều bán tơ 15- Chồng em là lái buôn tiêu Ði lên đi xuống Trà Nhiêu, Kim Bồng -16 Tơ cau thuốc lá đầy ghe Hội An buôn bán tiếng nghe xa gần. 17- Nem chả Hòa Vang Bánh tổ Hội An Khoai lang Tiên Ðỏa Thơm rượu Tam Kỳ Ai đi cách trở sơn khê, Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng . Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu , mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất. 18.- Hội An đất hẹp, người đông , Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu . Phố Hội an nhỏ hẹp ,nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi ,khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây. 19.- Hội An bán gấm, bán điêù Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành . Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp , còn Kim Bồng,Trà Nhiêu là vùng ngoaị ô , chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An. 20.- Ðưa tay hốt nhắm dăm bào, Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công, Không mai thì mốt, hồi công,

    Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân Kim Bồng là một xã bên kia sông, đôí diện với Hội.An,sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc,hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp,bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc. 21.- Năm hòn nằm đó không sai, Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui, Ngó về Cửa Ðại, than ôi, Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình. Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình ,không chen vơí các hòn đảo khác . 22.- Sáng trăng, trải chiếu hai hàng, Cho anh đọc sách, cho nàng quay tơ . Quay tơ vẫn giữ mối tơ, Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh . Cảnh sinh hoạt ở thôn quê, dưới ánh trăng, chàng đọc sách, nàng quay tơ, chàng nhắn với nàng giữ tình chung thủy chờ chàng. 23.- Ai về nhắn với ngọn nguồn, Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên. Người miền biển có cá chuồn làm mắm , nguời miền núi có mít non gởi xuống để trao đổi lương thực

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Câu Tục Ngữ Và Thành Ngữ Việt Nam Hay Nhất
  • Cao Dao Quảng Ninh: Đậm Nét Trữ Tình Văn Hoá Dân Gian
  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh
  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Cao Dao Quảng Ninh: Đậm Nét Trữ Tình Văn Hoá Dân Gian
  • Những Câu Câu Tục Ngữ Và Thành Ngữ Việt Nam Hay Nhất
  • Ca Dao,tục Ngữ Về Quảng Nam
  • Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè
  • Câu ca dao, tục ngữ Quảng Ninh

    Tục ngữ ca dao về chốn tâm linh

    *Trăm năm tích đức tu hành

    Chưa đi Yên Tử chưa thành quả tu.

    * Ai đi Yên Tử cùng anh

    Khói hương nghi ngút còn vương hạ Trần.

    * Nào ai quyết chí tu hành

    Hãy về Yên Tử mới đành làm tu.

    *Lần theo dấu tích ngàn xưa

    Bảy trăm năm ấy bây giờ còn lưu.

    * Vĩnh Nghiêm, Yên Tử, Quỳnh Lâm

    Ai chưa đến đó thiền tâm chưa đành.

    *Miếu Đức Ông là nơi Cửa Suốt

    Khách vẫn lại thương nhớ cùng dâng.

    * Bao giờ sấm chớp Chùa Lôi

    Con ơi nhớ dậy mang nồi ra sân.

    * Mồng bảy hội miếu Tiên Công

    Dưới là đánh vật trên rồng phi bay.

    Đêm thì hát đúm vui thay

    Bên này thi cấy, bên đây đua thuyền.

    *Chùa Quỳnh vui lắm ai ơi

    Trốn cha, trốn mẹ mà chơi Chùa Quỳnh.

    * Chùa Quỳnh khánh đá, chuông đồng

    Muốn chơi thì lấy của chồng mà chơi.

    Tục ngữ ca dao thời kì kháng chiến chống Pháp

    * Vua thua ông huyện Hoành Bồ.

    * Cọp dữ Mông Dương, nước độc Hà Tu

    Da dày, bụng ỏng, mặt phù, chân sâu.

    *Chưa đi chưa biết Vàng Danh

    Đi ra khốn khổ thân anh thế này.

    *Chưa đi chưa biết Vàng Danh

    Má hồng để lại, má xanh mang về.

    *Ai đi Uông Bí, Quảng Hồng

    Có đoàn vệ quốc dân công qua đèo

    Ai về cho ta về theo

    Có sông cũng lội , có đèo cũng qua.

    *Sông sâu còn có kẻ dò

    Tội ác chủ mỏ ai dò cho ra.

    * Đào than cho nó làm giàu

    Xúc vàng đem đổ xuống tàu cho Tây.

    * ở quê cái khổ bám theo

    Ra mỏ cái khổ nó trèo lên lưng.

    * Đau đẻ cũng phải xúc than

    Đẻ rơi cũng mặc kêu van hững hờ.

    *Lầm than cực khổ thế này

    Xúc than cuốc đất suốt ngày lọ lem.

    *Khi xưa nghe tiếng còi tầm

    Như nghe tiếng vọng từ âm phủ về.

    * Thẻ tôi lĩnh có hai đồng

    Ông cai lĩnh hộ trừ công năm hào.

    *Cây mắm cò quăm

    Cây sú cù queo

    Thắt lưng cho chặt mà theo anh về

    Ăn cơm với cá mòi he

    Lấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời.

    * Ai ra Cẩm Phả mà xem

    Rừng xanh ngăn ngắt, đất đen sì sì

    Đã làm cái kiếp cu li

    Còn gì là đẹp còn gì là vui.

    * Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

    Huyện Hoành Bồ đồi cát mênh mông

    Ai ơi, đứng lại mà trông

    Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

    Việc gì mà rủ nhau ra

    Làm ăn cực khổ nghĩ mà tủi thân.

    * Ai về Yên Dưỡng, Hoành Mô

    Mà xem quân lính cụ Hồ sang sông

    Đêm ngày mải mê chiến công

    Thoáng nom như có cả chồng em kia.

    * Thuyền than mà đậu bến than

    Thương anh vất vả cơ hàn nắng mưa.

    * Thuyền than đậu bến đen sì

    Anh không ra mỏ lấy gì em ăn.

    Ca dao tục ngữ giao duyên

    * Ai về chợ huyện Thanh Vân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Sắc Thái Văn Hóa Quảng Bình Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Thành Ngữ Về Quê Hương Đất Nước Hay ❤️ Đẹp Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Đặc Sản Quảng Nam, Đà Nẵng
  • Hình Bóng Con Trâu Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hải Phòng

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Giá Trị Cuộc Sống
  • Tuyển Tập Những Bài Thơ Chúc Mừng Sinh Nhật Hay Hài Hước Và Bá Đạo Nhất
  • 99+ Câu Nói Hay, Stt Hạnh Phúc Về Tình Yêu, Cuộc Sống (Update)
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ 1001 Stt Buồn Đau Đớn Khiến Bất Cứ Ai Cũng Bật Khóc
  • Tổng Hợp Lời Chúc Sinh Nhật Hay Ý Nghĩa Nhất Tặng Người Yêu Bạn Bè
    1. Hải Phòng có bến Sáu Kho

      Có sông Tam Bạc, có lò Xi măng

    2. Đứng trên đỉnh núi ta thề

      Không giết được giặc, không về Núi Voi

    3. Thuốc lào Vĩnh Bảo

      Chồng hút, vợ say

      Thằng con châm đóm

      Lăn quay ra giường

    4. Dù ai buôn đâu, bán đâu

      Mùng chín tháng tám chọi trâu thì về

      Dù ai bận rộn trăm nghề

      Mùng chín tháng tám nhớ về chọi trâu

    5. Sấm động biển Đồ sơn

      Vác nồi rang thóc

      Sấm động bên sóc

      đổ thóc ra phơi

    6. Nhất cao là núi U Bò

      Nhất đông chợ Giá, nhất to sông Rừng

      (Thủy Nguyên)

    7. Chín con theo mẹ ròng ròng.

      Còn một con út nẩy lòng bất nhân

      (Địa hình Đồ Sơn ví như một con Rồng đang chầu về viên ngọc là Hòn Dáu. Sách cổ gọi núi Đồ Sơn là Cửu Long – chín rồng với câu ca trên. Con út ở đây là núi Độc, đứng riêng hẳn ra ở đầu bán đảo. Thực ra có tới 15 điểm cao từ 25m đến 129m trong dãy núi này, cao nhất là Đồn cao. Trên đỉnh núi còn những dãy tường thành, dấu vết đồn luỹ của Phạm Đình Trọng, một tướng Chúa Trịnh đi đàn áp cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu, thế kỷ 18)

    8. Đầu Mè, đuôi Úc

      Giữa khúc Nụ Đăng (Tiên Lãng)

    9. My Sơn bắc ngật văn chương bút

      Triều thủy nam hồi phú quí nguyên

      Dịch nghĩa:

      “Núi My Sơn phía bắc tạo thế văn chương

      Ngọn triều phía nam đem lại nguồn giàu có”

      My Sơn là xã ở Thủy Nguyên.

      — Theo Boxxyno.com

    10. Sâu nhất là sông Bạch Đằng

      Ba lần giặc đến, ba lần giặc tan

    11. Cá rô đầm Sét

      Nước mắm Vạn Vân

      Cam Đồng Dụ

      Cau Văn Ú

      Vú Đồ Sơn

    (Câu cổ đó)

    Văn học mình thấp kém không tìm được nhiều bài cho lắm nhưng nay cũng mạng phép đóng góp 1 vài bài , có gì xin các anh chị đóng góp ý kiến :

    1) Đống Đa ghi để lại đây

    Bên kia Thanh Miếu bên này Bộc An

    2) Sâu nhất là sông Bạch Đằng

    Ba lần giặc đến ba lần giặc tan

    Cao nhất là núi Lam Sơn

    Có ông Lê Lợi trong ngàn tiến ra

    3) Vải Quang , hung Láng , ngổ Đầm

    Cá rô Đầm Sét , sâm cầm Hồ Tây

    4) Đồng Đăng có phố Kì Lừa

    Có nàng Tô Thị , có chùa Tam Thanh

    5) Đông Ba Gia Hội hai cầu

    Ngó lên Diệu Đế bớn lầu hai chuông

    6) Ai về đến huyện Đông Anh

    Ghé thăm phong cảnh Loa Thành Thục Vương

    7) Rồi mùa toóc(a) rã , rơm khô (a) : rạ

    Bạn về quê bạn biết mô(b) mà tìm (b) : Đâu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Về Tình Bạn Hay Ý Nghĩa Sâu Sắc Mãi Không Bao Giờ Quên
  • Những Lời Chúc Ngày Thầy Thuốc Việt Nam Hay Nhất
  • 23 Lời Chúc Thi Tốt Hay Và Ý Nghĩa Nhất Dành Tặng Bạn Bè
  • Những Lời Chúc 14/2 Hay Và Ý Nghĩa Nhất Gửi Đến Người Yêu
  • Tục Ngữ Ca Dao Về Ngày Tết Nguyên Đán
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Cò

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Đố Dành Cho Trẻ Mầm Non, 300 Câu Đố Hay
  • Kho Tàng Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín
  • Chùm Ca Dao Đặc Sắc Về Hà Nội
  • #1 Những Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Di Tích Lịch Sử Ở Hậu Giang
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Triết Lý Kinh Doanh Và Kinh Tế
  • Con cò mà đi ăn đêm

    Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao

    Ông ơi ông vớt tôi nao

    Tối có lòng nào ông hãy xáo măng

    Có xáo thì xáo nước trong

    Đừng xáo nước đục đau lòng cò con!

    Cái cò đi đón cơn mưa

    Tối tăm mù mịt ai đưa, cò về?

    Cò về đến gốc cây đề,

    Giương cung anh bắn cò về làm chỉ

    Cò về thăm bác thăm dì,

    Thăm cô xứ Bắc thăm dì xứ Đông.

    Con cò lấp lé bụi tre

    Sao cò lại muốn lăm le vợ người

    Vào đây ta hát đôi lời

    Để cho cò hiểu sự đời , ở ăn

    Sự đời cò lấy làm răn

    Để cho cò khỏi băn khoăn sự đời.

    Cái cò bay lả bay la

    Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng.

    Cái cò bay bổng bay lơ

    Lại đây anh gởi xôi ngô cho nàng.

    Đem về nàng nấu nàng rang,

    Nàng ăn có dẻo thì nàng lấy anh.

    Cái cò cái vạc cái nông

    Sao mày giẫm lúa nhà ông hỡi cò,

    Không, không! Tôi đứng trên bờ

    Mẹ con nhà vạc đổ ngờ cho tôi

    Chẳng tin ông đứng ông coi

    Mẹ con nhà nó còn ngồi đấy kia!

    Cái cò cái vạc cái nông

    Ba con cùng béo, vặt lông con nào

    Vặt lông con vạc cho tao

    Mắm muối bỏ vào, xào rán rồi thuôn!

    Cái cò cái vạc cái nông

    Cùng ăn một đồng nói chuyện giăng ca

    Muối kia đổ ruột con gà

    Mẹ mình chẳng xót bằng ta xót mình.

    Cái cò chết tối hôm qua

    Có hai hạt gạo với ba đồng tiền

    Một đồng mua trống mua kèn

    Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong

    Một đồng mua mớ rau răm

    Đem về thái nhỏ thờ vong con cò.

    Cái cò lặn lội bờ ao

    Phất phơ đôi dải yếm đào gió bay

    Em về giục mẹ cùng thầy,

    Cắm sào đợi nước biết ngày nào trong?

    Cổ yếm em thõng thòng thòng,

    Tay em đeo vòng như bắp chuối non.

    Em khoe em đẹp em giòn,

    Anh trông nhan sắc em còn kém xuân.

    Cái cò lặn lội bờ ao

    Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?

    Chú tôi hay tửu hay tăm,

    Hay ngồi một xó, hay ăn thịt gà

    Ai ra ruộng chú ở nhà

    Nói thì dở giọng ba hao chích chòe!

    Cái cò lặn lội bờ ao

    Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?

    Chú tôi hay tửu hay tăm,

    Hay nước chè đặc hay nằm ngủ trưa

    Ngày thì ước những ngày mưa!

    Đêm thì ước những đêm thừa trống canh.

    Cái cò lặn lội bờ sông,

    Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền!

    Cái cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

    Chàng đi xa vợ xa con

    Chàng đi đến tận nước non Cao Bằng

    Chân đi nhưng dạ dùng dằng

    Nửa nhớ Cao Bằng, nửa nhớ vợ con!

    Nàng về nuôi cái cùng con

    Để anh đi trẩy nước non cùng người

    Cái cò lặn lội bờ sông

    Cổ dài mỏ cứng cánh cong lưng gù

    Bã xa sông rộng sóng to

    Vì lo cái bụng đi mò cái ăn.

    Cái cò là cái cò con

    Mẹ đi xúc tép, để con ở nhà

    Mẹ đi lặn lội đồng xa

    Mẹ sà chân xuống, phải mà con lươn

    Ông kia có cái thuyền buồm

    Chở vào rừng rậm xem lươn bắt cò

    Ông kia chống gậy lò dò

    Con lươn thụt xuống, con cò bay lên.

    Cái cò là cái cò kỳ

    Ăn cơm nhà dì, uống nước nhà cô

    Đêm nằm thì ngáy o o

    Chưa đi đến chợ đã lo ăn quà

    Hàng bánh hàng bún bầy ra

    Củ từ khoai sọ, đến bà cháo kê

    Ăn rồi cắp đít ra về

    Thấy hàng chả chó, lại lê chân vào

    Chả này bà bán ra sao

    Ba đồng một gắp, thì nào tôi mua!

    Nói dối rằng mua cho chồng

    Về đến quãng đồng, ngả nón ra ăn

    Ăn rồi đau quặn đau quăn

    Chạy về cho kịp, nằm lăn cả ngày

    Đem tiền đi bói ông thầy

    Bói ra quẻ này: những chả cùng nem

    Ông thầy nói dối đã quen

    Nào ai ăn chả ăn nem bao giờ!

    Cái cò là cái cò quăm

    Mày hay đánh vợ mày nằm với ai?

    Có đánh thì đánh sớm mai,

    Chớ đánh chập tối chẳng ai cho nằm!

    Cái cò là cái cò vàng

    Mẹ đi bán hàng, nhà lại vắng cha

    Vắng cha thì ở với bà

    Không ở với chú, chú là đàn ông.

    Cái cò là cái cò vàng

    Mẹ đi đắp đàng con ở với ai

    Con ở với bà, bà không có vú

    Không ở với chú, chú là đàn ông.

    Thôi con chết quách cho xong!

    Con cò là con cò vàng

    Muốn đi hát đúm sợ làng cười chê

    Ai cười lời kẻ thôn quê

    Mà cò ngần ngại đứng lề đường quan

    Hay cò vui câu xẩm xoan

    Thì cò bay đến hân hoan cùng người.

    Cái cò mà mổ cái tôm

    Cái tôm quắp lại mà ôm cái cò.

    Cái cò mà mổ cái trai,

    Cái trai quắp lại mà nhai cái cò.

    Cái cò trắng bạch như vôi

    Cô kia có lấy chú tôi thì về.

    Chú tôi chẳng mắng chẳng chê,

    Thím tôi thì mổ lấy mề nấu canh!

    Con cò trắng bệch như vôi

    Đừng nông nổi nữa, đừng lời nguyệt hoa

    Ví dù muốn đẹp đôi ta

    Đừng như cánh bướm quanh hoa đầu mùa

    Đừng vê thuốc, đừng bỏ bùa

    Đừng như chú tiểu ở chùa Thiều Quang

    Đừng thắm nhạt, đừng đa đoan

    Nên duyên thì phượng với loan một lời

    Giăng kia vằng vặc giữa giời

    Giăng ai soi tỏ lòng người nầy cho.

    Con cò trắng tợ như vôi

    Tình tôi với bậu xứng đôi quá chừng!

    Con cò trắng toát như bông

    Muốn nghe hát đúm mà không chịu vào

    Nghĩ gì, cò đậu cành cao

    Nghiêng nghiêng, nghé nghé nửa chào nửa e

    Xuống đây cho ta nhắn nhe

    Đừng đứng trên ấy gãy tre của làng.

    Cái trai mày há miệng ra,

    Cái cò nó mổ muốn tha thịt mày.

    Cái cò mày mổ cái trai,

    Cái trai quặp lại muốn nhai thịt cò.

    Con cò mà mổ con trai

    U ơi, U lấy vợ hai cho thầy.

    Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2022

    --- Bài cũ hơn ---

  • Con Trâu Trong Ngôn Ngữ Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Bất Công, Không Công Bằng
  • Chùm Thơ Rất Hay Về Hoa Sen Với Những Ý Thơ Và Ngôn Từ Tuyệt Đẹp
  • Nhưng Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Khoan Dung
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Vô Ơn Trong Cuộc Sống Đúng Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100