Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Sách Những Câu Danh Ngôn Bất Hủ
  • {Đọc} Stt Hay Về Sự Thay Đổi Bản Thân Giúp Mình Cố Gắng Nhiều Hơn
  • Stt Hay Về Tình Yêu Buồn Bằng Tiếng Anh Trên Facebook
  • Những Câu Stt Hay Bằng Tiếng Trung Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Từ Ngữ Địa Phương
  • 10:36:14 AM, Sep 07, 2022 * Số lần xem: 854101

    * Cập nhật

    * đăng lúc 11:22:41 AM, Jan 26, 2009 Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam Ca dao là gì?

    Trước hết là Ca dao, là những câu thơ ca dân gian Việt Nam. Được truyền miệng dưới dạng những câu hát không thể một điệu nhất định. Và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc.

    Và đặc biệt hơn đó chính là ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao được hiểu ý nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ ông cha ta để lại.

    Tục ngữ là gì?

    Khác với ca dao, thì tục ngữ lại thể hiện những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian. Về mọi mặt trong cuộc sống như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn…

    Với ý nghĩa ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh thường gieo vần lưng. Và đây cũng là một thể loại văn học dân gian Việt Nam. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn của con người. Trong đó gữa hình thức và nội dung, tục ngữ có một sự gắn bó chặt chẽ. Thông thường trong một câu tục ngữ có 2 nghĩa: nghĩa đen nghĩa bóng.

    Khác với ca dao, tục ngữ thường có vần, gồm 2 loại chính là: vần liềnvần cách.

    Ca Dao Tục Ngữ Phần II từ H tới L Ca Dao Tục Ngữ Phần III từ M tới Y :: ::

    Xin bấm vào các links sau đây để đọc tiếp :

    1. Ai ai cũng tưởng bậu hiền

    A

    Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai

    2. Ai đem con sáo sang song

    Để cho con sáo sổ lồng bay cao

    3. Ai đi bờ đắp một mình

    Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân

    4. Ai đi đâu đấy hỡi ai

    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

    Ai đi muôn dặm non song

    Để ai chứa chất sầu đong vời đầy

    5. Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa

    Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào

    Ai đi sục sịch ngoài hàng rào

    Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa

    6. Ai kêu là rạch, em gọi là song

    Phù sa theo nước chảy mênh mông

    Sông ơi, thấm mát đời con gái

    Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng

    7. Ai làm cho bướm lìa hoa

    Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng

    8. Ai làm Nam Bắc phân kỳ

    Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương

    9. Ai mà nói dối cùng ai

    Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng

    Ai mà nói dối cùng chồng

    Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao

    10. Ai nhứt thì tôi đứng nhì

    Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba

    11. Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

    12. Ai ơi chơi lấy kẻo già

    Măng mọc có lứa người ta có thì

    Chơi xuân kẻo hết xuân đi

    Cái già sòng sọc nó thì theo sau

    Phần I từ A tới G

    100. Áo anh đứt chỉ đường tà

    Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

    B

    Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừBuồn về một nỗi tháng tưCon mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ănBuồn về một nỗi tháng nămChửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêuLựu xa đào, lựu xéo đào xiênVàng cầm trên tay rớt xuống không phiềnChỉ phiền một nỗi nợ với duyên không trònChờ con bạn ngọc thở than đôi lờianh hai vật đổi sao dờiTính sao nàng tính trọn đời thủy chungCanh ba cờ phất trống rungMặc ai ai thẳng ai dùn mặc aiCanh tư hạc đậu cành maiSương sa lác đác khói bay mịt mờCanh chầy tơ tưởng tưởng tơChiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu khôngAi làm lỡ chuyến đò ngangCho loan với phượng đôi hàng biệt ly

    C

    78. Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm

    Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu

    80. Bực mình chẳng muốn nói ra

    Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời

    79. Bước xuống ruộng sâu, em mảng sầu tấc dạ

    75. Bươm bướm mà đậu cành bong

    Đã dê con chị, lại bồng con em

    76. Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng

    Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai

    77. Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng

    73. Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt

    Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon

    74. Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo

    Tay em ôm bó mạ, luỵ ứa hai hàng

    C

    Đi buôn cau héo có buồn hay không

    43. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    VẦN D VẦN Đ

    Đánh bạc quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn vặt quen mồm

    Đánh chết, mà nết không chừa

    Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

    Đàn bà nói có là không

    Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

    Đàn bà tốt tóc thì sang

    Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Đàn kêu tích tịch tình tang

    Ai đem công chúa lên thang mà về

    Đàn ông đi biển có đôi

    Đàn bà đi biển mồ côi một mình

    Đàn ông không râu vô nghì

    Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

    Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ

    Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu

    Rút gươm đâm họng máu trào

    Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

    Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt

    Lửa nhà máy hết cháy thành than

    Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn

    Kể từ khi em biết được chàng

    Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

    Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

    Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang

    Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc

    Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

    Đèn treo ngang quán

    Tỏ rạng bờ kinh

    Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình

    Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

    Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn

    Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

    Đêm khuya ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Đêm khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

    Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng

    Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

    Đêm khuya trăng dọi lầu son

    Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng

    Bển qua đây đàng đã xa đàng

    Dầu tui có lâm nguy thất thế

    Hỏi con bạn vàng nó cứu không?

    Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông

    Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

    Đêm nằm tàu chuối có đôi

    Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

    Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng

    Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài

    Bây giờ chàng đã nghe ai

    Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung

    Bây giờ sự đã nhạt nhùn

    Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua

    Cá lên mặt nước, cá khô

    Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

    Đêm qua nguyệt lặn về Tây

    Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài

    Trúc với mai, mai về trúc nhớ

    Trúc trở về, mai nhớ trúc không

    Bây giờ kẻ Bắc, người Đông

    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

    Đêm thanh cảnh vắng

    Thức trắng năm canh

    Một duyên, hai nợ, ba tình

    Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

    Đến đây đất nước lạ lùng

    Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

    Đến ta mới biết của ta

    Trăm nghìn năm trước biết là của ai

    Đề huề chồng vợ

    Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang

    Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

    Đi chùa lạy Phật cầu chồng

    Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

    Đi đâu cho thiếp theo cùng

    Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

    Đi đâu mà vội mà vàng

    Mà vấp phải đá mà quàng phải dây

    Thủng thỉnh như chúng anh đây

    Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

    Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Đi qua nhà nhỏ

    Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng

    Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

    Đó đây trước lạ sau quen

    Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

    Đói lòng ăn đọt chà là

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

    Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    Đói lòng ăn nửa trái sim

    Uống lưng bát nước đi tìm người thương

    Đói lòng nuốt trái khổ qua

    Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

    Đôi ta chẳng được sum vầy

    Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương

    Vì sương nên núi bạc đầu

    Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

    Đôi ta đã trót lời thề

    Con dao lá trúc đã kề tóc mai

    Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

    Đôi ta như loan với phượng

    Nỡ lòng nào để phượng lià cây

    Muốn cho có đó, có đây

    Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi

    Thà rằng chẳng biết thì thôi

    Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

    Đôi ta như thể con tằm

    Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong

    Đôi ta như thể con ong

    Con quấn con quít, con trong con ngoài

    Đôi ta như thể con bài

    Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

    Đố ai biết luá mấy cây

    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

    Đố ai quét sạch lá rừng

    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

    Rung cây, rung cỗi, rung cành

    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

    Đố ai lặn xuống vực sâu

    Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

    Đố anh con rít mấy chưn

    Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người

    Mấy người bán áo con trai

    Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

    Đốt than nướng cá cho vàng

    Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

    Muốn ăn bôn súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đồng tiền Vạn lịch

    Thích bốn chữ vàng

    Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu

    Bây giờ cô lấy chồng đâủ

    Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

    Đổ lửa than nên vàng lộn trấu

    Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

    Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ

    Anh gặp em đây không cửa không nhà

    Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

    Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

    Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    Đờn cò lên trục kêu vang

    Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng

    Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng

    Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương

    Chiều nay qua phản bạn hồi hương

    Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào

    Ghe tui tới chỗ cắm sào

    Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

    Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá

    Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm

    Anh thấy em tốt mã anh lầm

    Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

    Đưa nhau đổ chén rượu hồng

    Mai sau em có theo chồng đất xa

    Qua đò gõ nhịp chèo ca

    Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

    Đường trơn trợt gượng đi kẻo té

    Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng

    Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi

    Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

    Đứt tay một chút còn đau

    Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

    Đ Đất lành chim đậu.

    E

    VẦN E

    Em có chồng sao em không nói?

    Để anh theo anh chọc em hoài

    Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay!

    Em đeo chiếc kim hườn

    Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến

    Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!

    Em liều một cái bánh bò

    Còn nào chót chét, cặp giò em chặt hai

    Em liều một chén dầu chanh

    Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền

    Em liều một trái sầu giêng

    Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro

    Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi

    Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?

    Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác

    Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?

    Em ơi, anh bảo em này

    Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi

    Em ơi, em có thương anh

    Em ra canh lính cho anh leo tường!

    Em ơi em ở lại nhà

    Vườn dâu em hái mẹ già em thương

    Mẹ già một nắng hai sương

    Chị đi một bước trăm đường xót xa

    Cậy em em ở lại nhà

    Em thấy anh em cũng muốn chào

    Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông

    Em chấy anh em cũng muốn chào

    Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình

    Dao trong mình, gươm anh cặp nách

    Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi

    Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu

    Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi

    Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi

    Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra

    Em về hỏi mẹ cùng cha

    Có cho em lấy chồng xa hay đừng

    Én bay thấp, mưa ngập bờ ao

    Én bay cao, mưa rào lại tạnh

    Em nghe tiếng hát đâu xa

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ê

    Êm như ru

    Ếch ngồi đáy giếng

    VẦN G

    Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng

    Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua

    Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng

    Trai bạc tình một cẳng về quê

    Gái lấy trai đứng là gái dại

    Trai lấy rồi trai lại bán rao

    Gái đâu có thứ hỗn hào

    Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu

    Gà đẻ, gà cục tác

    Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

    Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

    Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi

    Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi

    Saigon vui lắm em ơi

    Lấy chồng về đó một đời sướng thân

    Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất

    Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ

    Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông

    Gẫm xem sự thế nực cười

    Một con cá lội mấy người buông câu

    Gần mực thì đen gần đèn thì sáng

    Gập ghềnh nước chảy qua đèo

    Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng

    Ghe anh đỏ mũi xanh lườn

    Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em

    Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo

    Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em

    Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ

    Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn

    Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời

    Mật đường dù chẳng đi đôi

    Chút hương rớt lại, một đời chưa quên

    Ghe lên ghe xuống dầm dề

    Sao anh không gởi thơ về thăm em?

    Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ

    Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi

    Già thì đặc bí bì bì

    Con gái đương thì rỗng toác toàng toang

    Ngoài xanh trong trắng như ngà

    Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu

    (Đố là gì? – cau dầy)

    Giàu cha giàu mẹ thì ham

    Giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn

    Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa

    Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

    Giàu từ trong trứng giàu ra

    Giàu út ăn, khó út chịu

    Giả đò mua khế bán chanh

    Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn

    Giặc Tây đánh tới Cần Giờ

    Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công

    Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh

    Giấy hồng đơn bán mấy

    Cho anh mua lấy một tờ

    Viết thơ quốc ngữ

    Dán trên trái bưởi

    Thả xuống giang hà

    Bớ cô gánh nước bên bờ

    Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ

    Giận chồng xách gói ra đi

    Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về

    Gieo gió gặp bão

    **************************************

    Toàn bộ từ vần A đến Y

    -B-

    -C-

    Ca Li đi dễ khó về

    Câu nguyên gốc là..nói về những người đi trồng cao su

    Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng, khi về bủng beo

    ================================================== =======

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    ================================================== ========

    Chân cứng đá mềm

    ================================================== ========

    Có chí thì nên

    ================================================== ========

    Cô kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi kéo lại hỏi nhà ở đâu ?

    Nhà tôi ở trước đám dâu

    Ở sau đám cải đầu cầu ngó qua

    Cái câu này còn có khác hơn một tí đó là..

    Đ-

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ếch ngồi đáy giếng

    ================================================== ========

    -G-

    -H-

    -I-

    ================================================== ========

    -K-

    -L-

    -M-

    -N-

    Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ

    ================================================== ========

    Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

    ================================================== ========

    Nhất quỷ nhì ma

    Thứ ba học trò …. )

    ================================================== ========

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    ================================================== ========

    No bụng đói con mắt

    ================================================== ========

    -O-

    Ở đâu cũng có anh hùng

    Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên

    ================================================== ========

    Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

    ================================================== ========

    Ớt nào là ớt chẳng cay,

    Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

    Vôi nào là vôi chẳng nồng

    Gái nào là gái có chồng chẳng ghen !

    ================================================== ========

    Ở hiền gặp lành

    ================================================== ========

    -Q-

    Quả cau nho nhỏ

    Cái vỏ vân vân

    Nay anh học gần

    Mai anh học xa

    Tiền, gạo là của mẹ cha

    Bút nghiên, kinh sách thì là của anh

    Lấy chàng từ thuở mười ba

    Đến năm mười tám thiếp đà năm con

    Ra đường thiếp hãy còn son

    Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng

    ================================================== ========

    -R-

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    ================================================== ========

    -S-

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người

    ================================================== ========

    Sá gì một nải chuối xanh

    Năm bảy người giành cho mủ dính tay

    ================================================== ========

    -T-

    -U-

    ================================================== ========

    -V-

    Vì sông nên phải lụy thuyền

    Chứ như đường liền ai phải lụy ai

    ================================================== ========

    Vải thưa che mắt thánh

    ================================================== ========

    -X-

    ========

    -Y-

    Yêu nhau cởi áo cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

    ========

    Yêu nhau thì ném miếng trầu

    Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra

    Yêu nhau cau bổ làm ba

    Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười

    Xem Thêm Cập nhật 2022:

      Mèo khen mèo dài đuôi.

      N Năm nắng mười mưa

    --- Bài cũ hơn ---

  • 500 Stt Buồn: Hay, Cảm Xúc, Tâm Trạng, Chất Và Độc Đáo Nhất 2022
  • Chia Sẻ Những Stt Hay Về Tình Bạn Trên Facebook Độc Đáo Nhất
  • Tổng Hợp Những Lời Chúc Buổi Tối Ngọt Ngào Nhất
  • Những Lời Chúc Buổi Sáng Ngọt Ngào, Ý Nghĩa Nhất
  • Con Gái Ế Thì Đã Sao?
  • Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập Ca Dao Tuc Ngu Viet Nam Toan Tap Doc
  • 28 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái Dạy Chúng Ta Sống Ở Đời Phải Biết ‘nhường Cơm Sẻ Áo’
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Tự Trọng
  • Xem Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao
  • Ca dao (歌謠) là một từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.
    Nội dung
    Ca dao phản ánh lịch sử: Ca dao lịch sử không phản ánh hiện tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm nhân dân.
    Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống; phản ánh đời sống tình cảm nhân dân; phản ánh đời sống xã hội cũ. Ngoài ra, ca dao còn:
    Chứa đựng tiếng cười trào phúng

    Phân loại

    Đồng dao: là thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em. Đồng dao được chia thành hai loại: loại gắn với công việc của trẻ em, loại gắn với trò chơi của trẻ em.

    Chi chi chành chành

    Cái đanh thổi lửa

    Con ngựa đứt cương

    Ba vương ngũ đế

    Ca dao lao động: là phần lời cốt lõi của dân ca lao động. Những bài ca lao động tồn tại như là một bộ phận của quá trình lao động.

    Trời mưa trời gió đùng đùng

    Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu

    Đem về trồng bí trồng bầu

    Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

    Ca dao ru con: Hát ru có từ lâu đời và rất phổ biến, lời hát ru phần nhiều là những câu ca dao có sẵn.

    Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Ca dao nghi lễ, phong tục: Trong nhiều bài ca tế thần, các yếu tố trữ tình cũng có mặt, cùng với yếu tố hiện thực, chúng biểu hiện sức mạnh của đời sống hiện thực trong các hình thức sinh hoạt tôn giáo trong nhân dân.

    Dập dìu cánh hạc chơi vơi

    Tiễn thuyền Vua Lý đang dời kinh đô

    Khi đi nhớ cậu cùng cô

    Khi về lại nhớ cá rô Tổng Trường

    Ca dao trào phúng, bông đùa

    Lỗ mũi mười tám gánh lông

    Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho

    Đêm nằm thì ngáy o o

    Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà

    Đi chợ thì hay ăn quà

    Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm

    Trên đầu những rác cùng rơm

    Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.

    Ca dao trữ tình.

    Hỡi cô tát nước bên đàng

    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

    Tục ngữ Việt Nam

    Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội. Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là “trí khôn dân gian”. Trí khôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Có thể coi tục ngữ là văn học nói dân gian nên thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội hay hẹp hơn như lời ăn tiếng nói và khuyên răn.

    Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài.

    Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…

    Đa số tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca… Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán.

    Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả.

    Đầu tiên là các bản ghi chép tục ngữ bằng chữ Nôm vào thế kỷ 19 như Nam phong ngữ ngạn thi của Đình Thái, Đại Nam Quốc Túy của Ngô Giáp Đậu…

    Bản ghi tục ngữ bằng chữ quốc ngữ có Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn của Huỳnh Tịnh Của (1897), Tục ngữ cách ngôn của Hàn Thái Dương (1920)…

    Một số bản sưu tập, chú thích nghĩa và dịch tục ngữ Việt Nam sang tiếng Pháp như Tục ngữ An Nam dịch sang tiếng Tây của V. Barbier (Triệu Hoàng Hòa), Đông Tây ngạn ngữ cách ngôn của H. Délétie và Nguyễn Xán (1931)…

    Một số bản khác như Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc (1942), [Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa]] của Minh Hiệu sưu tầm (1970), Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội do Triều Dương sưu tầm và biên soạn (1971), Tục ngữ Thái (1978), Tục ngữ ca dao dân ca của Vũ Ngọc Phan (1956), Tục ngữ Việt Nam của Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Chi (1975)…

    (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tiết Kiêm
  • Tục Ngữ Việt Nam Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Kho Tàng Thành Ngữ Ca Dao Việt Nam Dịch Sang Thành Ngữ Tiếng Anh !
  • Những Miền Quê Xứ Nghệ Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Tướng Cách Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Duyên Dáng Nón Lá Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Thời Đại Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Đặc Sắc Tục Ngữ, Ca Dao Cao Lan
  • Cuộc Thi “Nét Chữ Từ Trái Tim”: “Em Yêu Tổ Quốc” Là Bài Thơ Được Các Em Thiếu Nhi Viết Nhiều Nhất
  • Americans Missing In Action In Southeast Asia
  • Chọn Lọc Những Câu Cao Dao Việt Nam Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • “Nón nầy che nắng che mưa 

    Nón nầy để đội cho vừa đôi ta” 

                                            Ca dao

    Chiếc nón lá Việt Nam bao đời nay gắn bó với các mẹ, các chị trong mọi hoàn cảnh thời tiết và trong mọi sinh hoạt của cuộc sống. Khi  cuộc sống phát triển, có nhiều loại nón khá đẹp mắt, phong phú hơn, chiếc nón lá vẫn là vật bất ly thân đối với nhiều người phụ nữ lao động, buôn bán. 

     

    1. Nón lá Việt Nam theo dòng thời gian

    Ông cha ta từ xa xưa đã biết lấy lá chụm thành nón để đội lên đầu che mưa che nắng, nón được đan từ nhiều loại lá khác nhau như lá cọ, lá buông, lá tre, lá cối, rơm… Chiếc nón lá Việt Nam có thêm phần dây đeo để giữ nón trên đầu. Nón lá là vật dụng hết sức giản dị và mộc mạc mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.

    Gắn bó với người dân lao động là thế, chiếc nón lá ngày xưa còn theo lính ra trận, nón theo tài tử giai nhân đi trẩy hội… Trong kho tàng thơ ca Việt Nam, chiếc nón lá là hình ảnh xuất hiện thường xuyên trong những câu chuyện tình yêu hay đời sống dân dã hàng ngày. Chiếc nón cứ thế trở thành một phần trong cuộc sống thôn quê của người dân Việt Nam.

    Chiếc nón lá mỗi vùng lại có những nét riêng khác nhau. Ở Miền Nam thì có nón ngựa hay nón Gò Găng. Nón được làm bằng lá dứa, thường được dùng khi cưỡi ngựa, là loại nón thường được các quan lại và binh lính dùng. Vì đặc trưng đi ngựa nên nón thường làm chắc chắn cứng cáp hơn nón thông thường. Bên trong nón trang trí các họa tiết thêu hoa văn, thường là những hình long, phụng, chim trĩ, chim công.

    Ở miền Bắc thì có nón quai thao thường đi kèm với trang phục mớ ba mớ bảy. Nón được làm bằng lá cọ hoặc lá gồi hình dạng giống như tai nấm và có quai đeo. Ngày nay loại nón này thường được dùng trong các dịp lễ hội hoặc những buổi hát dân ca quan họ Bắc Ninh. 

    Ở miền Trung thì có nón bài thơ, đã có biết bao nhiêu chàng trai đã ngơ ngẩn khi nhìn thấy một tà áo dài tím với chiếc nón bài thơ nghiêng nghiêng. Đây là hình ảnh bao đời nay là biểu tượng của con gái Huế, hiền hậu, đoan trang và thùy mị. Nón bài thơ có đặc điểm nổi bật là nón có hai lớp lá, ở giữa được lồng vào những bức tranh phong cảnh Huế như cầu Tràng Tiền, cửa Ngọ Môn… hoặc những bài thơ ngắn được chọn lọc kĩ càng.

    Cho dù loại nón nào đi nữa thì cũng được đôi bàn tay nghệ nhân tỉ mỉ làm ra bằng tất cả tấm lòng và tinh thần làm việc hăng say nghiêm túc từ khâu cahọn lá cho đến công đoạn hoàn thành một chiếc nón. 

    2. Công đoạn làm nên chiếc nón lá

    Người Việt từ nông thôn cho tới thành thị đều dùng nón lá, nhưng ít người để ý nón lá có bao nhiêu vành, đường kính rộng bao nhiêu cm… ? Nón lá tuy giản dị rẻ tiền nhưng nghệ thuật làm nón cần phải khéo tay. Nghề chằm nón không chỉ dành riêng cho phụ nữ mà cả những người đàn ông trong gia đình cũng có thể giúp chuốt vành, lên khung nón. Với cây mác sắc, họ chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu; sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy. Người phụ nữ thì chằm nức vành . Để có được lá đẹp, họ thường chọn lá nón non vẫn giữ được màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng. Khi xây và lợp lá, người ta phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có thể thanh và mỏng. 

    Vật liệu làm nón tuy đơn sơ nhưng khó tìm loại lá làm nón, lá mọc ở những vùng núi, sau này người ta đem giống về trồng ở vườn, có tên Du Qui Diệp là lá làm tơi thời gian văn minh chưa phát triển, người ta dùng loại lá nầy làm cái tơi để mùa đông chống mưa gió. Một loại khác là Bồ Qui Diệp là loại mỏng và mền hơn để làm nón lá. 

    Người ta chặt lá nón non còn búp, cành lá nón có hình nan quạt nhiều lá đơn chưa xoè ra hẳn phơi khô, cột lại thành từng bó nhỏ gánh bán cho những vùng quê có người chằm nón. Ở Quảng Nam ngày xưa vùng Bà Rén chuyên buôn bán nón lá, từ đó phân phối đến các chợ như chợ Hội An, có khu bán nón lá nhiều loại

    Nguyên liệu dùng làm nón lá

    Nghệ nhân đang tỉ mỉ làm nón lá

    Lá non lúc khô có màu trắng xanh, người mua phải phơi lá vào sương đêm cho lá bớt độ giòn vì khô, mở lá từ đầu tới cuồng lá, cắt bỏ phần cuối cùng, dùng lưỡi cày cũ hay một miếng gan, đặt trên nồi than lửa nóng đỏ, dùng cục vải nhỏ độn giống như củ hành tây, người ta đè và kéo lá nón thẳng như một tờ giấy dài màu trắng, có nổi lên những đường gân lá nhỏ, lựa những lá đẹp để làm phần ngoài của nón. Người ta dùng cái khung hình giống như Kim Tự Tháp Ai Cập, có 6 cây sườn chính, khoảng cách giống nhau để gài 16 cái vành nón tròn lớn nhỏ khác nhau lên khung. Cái khung nầy phải do thợ chuyên môn làm kích thước đúng cỡ khi lợp lá và chằm nón xong, tháo nón ra dễ dàng. Nón thường chỉ 16 vành tròn làm bằng tre cật vót nhỏ đều nhau nối lại, Nón bài thơ nhẹ mỏng chỉ 2 lớp lá trong chen hình cảnh và các câu thơ, nón thường độ bền lâu hơn dày có 3 lớp phần trong lót thêm loại lá đót, (loại cây nầy giống cây sậy, khi trổ bông người ta lấy bông làm chổi) Chằm xong nón tháo khỏi khung, cắt lá thừa nức miệng nón và làm quai, nón rộng đường kính thường 41 cm, người ta phết phiá ngoài lớp mỏng sơn dầu trong suốt nước mưa không thấm qua các lỗ kim vào bên trong. Để có được một chiếc nón, phải trải qua 15 khâu, từ lên rừng hái lá, rồi sấy lá, mở, ủi, chọn lá, xây độn vành, chằm, cắt lá, nức vành, cắt chỉ… 

    Thời gian chưa có chỉ cước người ta dùng bẹ lá cây thuộc loại thơm (hùm) tước lấy phần tơ ngâm nước vài ba ngày cho nát phần thịt của lá, dùng bàn chải, chải lấy phần tơ dùng làm chỉ để chằm nón, hay dùng chỉ đoác. Nhưng sau nầy phát triển người ta dùng cước nhỏ bằng nylon, chằm nón có đường nét thanh nhã hơn. 

    3. Nét đẹp văn hóa Việt

    Nón lá đã có từ lâu lắm trong dòng lịch sử Việt. Nó có mặt khắp nơi từ thành thị đến thôn quê không phân biệt sang hèn, nam nữ, nghề nghiệp… Nón lá theo người nông dân ra đồng một nắng hai sương mùa mưa cũng đặng, mùa nắng cũng xong cốt để làm mát, tránh mưa cho một đời lam lũ. Còn gì thú vị khoan khoái khi nghỉ tay cấy, tay cày lấy nón làm quạt dưới lũy tre làng;

    Nón làm bạn với người bán hàng rong lê la trên khắp phố phường từ chị bán xôi, anh xích lô đạp, đến ngoại bán cốm dẹp, bánh tét, bánh bò… đâu đâu cũng gặp;

    Thương lắm những tà áo dài trắng học trò thanh khiết thướt tha bay bay trong gió những buổi đến trường, em lúng liếng cười giấu khuôn mặt rạng ngời trinh nguyên dưới vành nón lá quê mình…

     

    Áo dài trắng học trò thướt tha, thanh khiết hơn khi kết hợp với nón lá

    Sao có thể quên được những con người cả đời lam lũ gắn chặt mình với đôi tay làm ra bao nón lá tô điểm cho đời. 

    Ở các làng quê mỗi khi có lễ hội, tang ma, hiếu, hỉ, nón lá xuất hiện đầy đường, trên các cánh đồng, trên các nẻo đường đất chân quê. Nón với người là đôi bạn chí thân không rời nhau nửa bước.

    Nón lá cũng nhẹ nhàng đi vào thơ, ca, nhạc, họa… mang đậm bản sắc quê hương. Nón bài thơ Huế đến nay vẫn là dấu ấn đẹp về quá khứ chưa thể xóa mờ. Có gì xúc động hơn khi người Việt Nam định cư ở nước ngoài bắt gặp chiếc áo dài thuần túy và chiếc nón lá quê hương đã và đang nhắc nhở về nguồn cội, tổ tiên.

    Và ngày nay, nón lá còn thấy ở các khu lưu niệm, khu du lịch để du khách mua làm quà tặng người thân trong những chuyến du lịch. 

     

    Du khách nước ngoài thích thú trong chiếc nón lá Việt Nam 

    Đời sống văn minh, phát triển nhưng nón lá Việt nam vẫn thuần túy nguyên hình của nó. Ở bất cứ nơi đâu, từ rừng sâu hẻo lánh, trên đồng ruộng mênh mông, dọc theo sông dài biển cả, đều thấy chiếc nón lá ngàn đời không đổi thay./.

    DH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiếc Nón Lá Trong Đời Sống Văn Hóa Của Người Việt
  • Cảm Thức Của Một Nhà Thơ Về Sự Hi Sinh Cho Tổ Quốc
  • Đề Tài Một Vài Kinh Nghiệm Lồng Ghép Ca Dao, Tục Ngữ Tạo Hứng Thú Học Tập Cho Học Sinh Ở Môn Địa Lí Thcs
  • Đức Tính Giản Dị Của Bác Qua Một Số Bài Thơ
  • Phân Tích Câu Nói Của Bác Hồ, Chữ Tài Và Đức Trong Câu Nói Của Bác Hồ
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Duyên Nợ Và Lời Phật Dạy Trong Tình Yêu Đáng Suy Ngẫm
  • Duyên Nợ Và Lời Phật Dạy Trong Tình Yêu
  • Cùng Lắng Nghe Lời Phật Dạy Về Duyên Nợ Và Tình Yêu Đáng Suy Ngẫm
  • Những Stt Hay Khi Đăng Ảnh Câu Like Được Yêu Thích 2022
  • Khái Quát Chung Về Định Danh Ngôn Ngữ
  • LTS: Chỉ ra các sai sót chủ yếu trong phần Tục ngữ của cuốn sách Ca dao tục ngữ Việt Nam do Phương Thu sưu tầm và biên soạn được Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2004, tác giả Trần Sơn đã có bài viết chia sẻ.

    Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả bài viết.

    Ở bài viết này, người viết xin được chỉ ra các sai sót chủ yếu trong phần Tục ngữ của cuốn sách.

    Trong phần này, do sơ suất từ khâu biên soạn, biên tập và in ấn đã có hàng chục câu tục ngữ sai với các kiểu sai khác nhau đã làm cho các câu tục ngữ này bị biến dạng, nhiều khi rất vô nghĩa và hài hước.

    Nhầm thơ trong Truyện Kiều thành tục ngữ

    Có một số câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du mà soạn giả Phương Thu lại nhầm thành tục ngữ.

    Đó là câu “Chữ trinh đáng giá ngàn vàng” (trang 40), đây vốn là câu thứ 3095 trong Truyện Kiều; còn câu “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê” (trang 86) là câu thứ 1306 của Truyện Kiều.

    Chữ tác đánh chữ tộ

    Tất nhiên mỗi câu tục ngữ cũng như các thể loại văn học dân gian khác có thể có nhiều dị bản, nhưng trong cuốn sách này rất nhiều câu tục ngữ bị viết sai chứ đó không phải là các dị bản của câu tục ngữ đó.

    Đây là kiểu sai sót phổ biến trong cuốn sách này, không biết là do khâu biên soạn, biên tập hay lỗi đánh máy mà rất nhiều câu trong đó chữ “tác” đánh chữ “tộ” làm cho nhiều câu tục ngữ bị sai nghĩa, thậm chí vô nghĩa.

    Câu “Ăn lấy chắc, mặc lấy bền” bị biến thành câu “Ăn lấy chắc, mặc lấy tiền” (trang 4).

    “Mặc lấy bền” mới có ý nghĩa và tương thích với vế trước của nó là “Ăn lấy chắc”, chứ “mặc lấy tiền” thì có ý nghĩa gì?

    Câu “Xấu mặt xin tương, cả phường cùng húp” được những người làm sách chép thành “Xấu mặt xin tương, cả phường cùng úp” (trang 6). Xin tương là để cùng húp chứ xin tương để cùng úp thì có nghĩa gì?

    Câu “Giàu thủ kho, no nhà bếp” bị biến thành “Giàu chủ kho, no nhà bếp” (trang 7).

    “Chủ kho” thì giàu là tất nhiên rồi, sao cần phải nói nữa; thực ra, từ đúng trong câu tục ngữ này phải là “thủ kho” (người giữ kho). Đây chắc nhìn chữ nọ sọ chữ kia nên hóa sai.

    Câu “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ” được cuốn sách viết thành “Tay làm hàm nhai, tay quay miệng trễ” (trang 15) đã làm cho câu tục ngũ bị sai nghĩa hoàn toàn vì “tay quay” cũng có nghĩa là “tay làm” (quay có nghĩa là hoạt động).

    Vậy “tay làm” mà “miệng trễ” thì mâu thuẫn quá, không hợp với lôgíc trong câu tục ngữ này.

    Câu “Ăn cơm lừa thóc, ăn cóc bỏ gan” bị biến thành câu “Ăn cơm lừa thóc, ăn cỏ bỏ gan” (trang 20).

    Cỏ làm sao có ganmà bỏ? Làm sách tục ngữ kiểu này đúng là quá xem thường độc giả.

    Câu “Ghen vợ, ghen chồng chẳng nồng bằng ghen ăn” được soạn giả chép thành “Ghen vợ, ghen tuồng không nồng bằng miếng ăn” (trang 20).

    Đang nói về “ghen vợ” sao không ghép với “ghen chồng” lại ghép “ghen tuồng”? Đây cũng là kiểu chép nhầm “tác” thành “tộ”.

    Câu “Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống” được cuốn sách viết thành “Tiền vào nhà khó như gió từ nhà trống”.

    “Từ” với “vào” nghĩa khác nhau, vế trước dùng từ “vào” thì vế sau cũng phải dùng từ “vào” mới hợp lôgíc và cấu trúc của câu tục ngữ này.

    Câu “Của chẳng ngon, nhà đông con cũng hết” bị viết sai thành câu “Của chẳng ngon, nhà nhiều con chẳng hết” (trang 42).

    Nghĩa của câu tục ngữ sai này rất không ổn vì nó phi lôgic. Câu tục ngữ này nghĩa hai vế là đối lập nhau, “của chẳng ngon” nhưng “nhà đông con cũng hết” mới hợp lý chứ “của chẳng ngon” nhưng “nhà nhiều con chẳng hết” thì chẳng có ý nghĩa gì.

    Câu “Hùm dữ chẳng nỡ ăn thịt con” bị viết sai thành “Hùm chẳng ăn thịt con” (trang 43).

    Đọc câu tục ngữ sai này nghe như là đang nói về một loài thực vật nào đó chứ không phải nói về con vật.

    Trang 46 có câu “Áo năng may năng nói, người năng tới năng thân”. Áo mà lại biết nói ư? Hay là tác giả đã nhân hóa?

    Hóa ra là lỗi nhầm từ do trông gà hóa cuốc, từ “mới” lại đánh thành từ “nói”, vì câu tục ngữ đó đúng phải là “Áo năng may năng mới, người năng tới năng thân”.

    Vẫn ở trang này, lại có câu “Thua trời một bạn, không bằng thua bạn một ly”. Đọc lên thấy rất lạ, từ xưa nay lấy “bạn” làm đơn vị số lượng để so sánh bao giờ và “bạn” thì làm sao đối được với “ly”.

    Hóa ra, cụm từ “một vạn” được những người làm sách đánh nhầm thành “một bạn”.

    Thực ra câu tục ngữ này còn có một dị bản nữa là “Thua thầy một vạn, không bằng thua bạn một ly”.

    Trang 48 có 2 câu tục ngữ được viết sai: “Tháng giêng rét dài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng ” và “Mồng bảy ngâu ra, mồng ba ngâu”. Thì ra, chữ “tác” đánh chữ “tộ” nên “Bân” viết thành “Bần” , “vào” viết thành “vàng”.

    Trang 49 của cuốn sách lại có câu tục ngữ rất lạ “Sao thì , sao thì ” mặc dù ngay dưới câu này là câu “Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”.

    Vậy là hai câu tục ngữ này “cãi nhau”: một câu nói xuôi, một câu nói ngược. Thực ra, chỉ có câu sau là đúng, câu trước là sai. Đây là lỗi của soạn giả và cả người biên tập.

    Trang 55 có câu “Làm tùy phủ, ngủ tùy chồng”. Đang nói về nơi chốn sao lại nói người, “phủ” thì phải đi với “nhà” chứ, sao lại đi với “chồng”.

    Thực ra, câu tục ngữ đúng là “Ăn tùy chủ, ngủ tùy chồng”. Hóa ra, do nghe từ được, từ mất mà những người làm sách đã nhầm “chủ” thành “phủ”.

    Thực ra, chỉ có câu tục ngữ “Giỏ nhà ai, quai nhà ấy”, vì chỉ có “quai” đi với “giỏ” mới hợp.

    Và, có như vậy mới đảm bảo ý nghĩa và vần của câu tục ngữ chứ không có câu tục ngữ sai như sách đã viết.

    Trang 60 có câu “Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò chạy đi”.

    Trẻ mới có chín tháng thì làm sao mà “chạy đi” được, mà mới “lò dò” thì làm sao mà “chạy đi” được?

    Đây là lỗi kiến thức của soạn giả. Thực ra, phải thay “chạy đi” bằng “biết đi” mới đúng.

    Trang 63 có câu “Để đau chạy thuốc, chẳng tành giải trước thì hơn”. Đọc câu này, độc giả chẳng hiểu “chẳng tành” có nghĩa là gì.

    Hóa ra, những người làm sách nhầm chữ nọ sang chữ kia, “chẳng thà” hóa “chẳng tành”. Đúng là một kiểu làm sách quá ẩu!

    Trang 56 cũng có lỗi tương tự khi sách viết nhầm “hỏng” thành “lỏng” trong câu “Kén quá hóa lỏng“. Đọc câu tục ngữ sai này độc giả không hiểu vì sao “kén quá” lại “hóa lỏng”.

    Câu tục ngữ “Gieo gió gặt bão” bị viết sai thành “gieo gió gặp bão” (trang 113). Đây là câu tục ngữ chỉ quan hệ nhân quả nên “gieo” phải đi với “gặt” mới phù hợp, chứ không thể đi với “gặp”.

    Trang 115 có cuốn sách có câu tục ngữ rất buồn cười ” ăn thì no, co thì ấm”.

    Phải chăng những người làm sách này hiểu câu tục ngữ trên là “kéo nhau đi ăn thì sẽ no và mùa rét năng kéo co thì sẽ ấm”?

    Thực ra, đây là câu tục ngữ rất quen thuộc “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”.

    Làm sách tục ngữ kiểu này đúng là làm hỏng ngôn ngữ, tục ngữ thành “ngữ tục”!

    Câu “Con bò cạp có nọc đằng đuôi” bị chép sai thành “Con bò cọp có nọc ở đuôi” (trang 25).

    Bò là bò, cọp là cọp làm gì có con bò cọp. Hóa ra là lỗi biên tập, lỗi đánh máy ẩu nên “con bò cạp” thành “con bò cọp”.

    Tương tự như trên câu “Trưởng giả còn thiếu trã nấu ăn” bị viết sai thành ” giả còn thiếu nấu ăn”.

    Vì lỗi đánh máy, lỗi chính tả mà câu tục ngữ này thật tối nghĩa, không hiểu nổi.

    Trong phần Tục ngữ, lỗi đánh máy chữ nọ sọ chữ kia, sai chính tả trong cuốn sách còn xuất hiện ở rất nhiều câu tục ngữ nữa như:

    Câu “Vắng trăng có sao, vắng đào có lý” thành “Vầng trăng có sao, vắng đào có lý” (trang 39);

    Câu “Ở góa ba năm lấy chồng buồn ngủ” thành “Ở hóa ba năm lấy chồng buồn ngủ” (trang 37);

    “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” thành “Một tiếng giữa làng, bằng một sàng xó bếp” (trang 34);

    “Lẽ” thành “lẻ” trong câu “Gái phải làm lẻ thà rằng chết trẻ còn hơn” (trang 35);

    “Nhỡ” thành “nhở” trong câu “Đừng tham da trắng tóc dài, đến khi nhở bữa chẳng mài mà ăn” (trang 35);

    “Mặt” thành “mặc” trong câu “Đánh chuông ra mặc, đánh giặc ra tay” (trang 33);

    “Lắt léo” thành “lắc léo” trong câu “Lưỡi không xương nhiều đường lắc léo” (trang 32);

    “Đau” thành “đâu” trong câu “Miếng ngon nhớ lâu, lời đâu nhớ đời”;

    “Phường” thành “phương” trong câu “Buôn có bạn, bán có phương” (trang 18);

    “Trỏ: thành “trò” trong câu “Cho nhau vàng, không bằng trò đàng đi buôn” (trang 18);

    “Xơ” thành “sơ” trong câu “Ăn mít bỏ , ăn cá bỏ lờ” (trang 10).

    Ngoài ra, còn rất nhiều câu khác trong phần Tục ngữ cũng bị in sai như:

    “Hết cơn cực, đến hồi thái lai” (trang 116); “Tắt đèn, ngói cũng như nhà tranh” (trang 116); “Non cao ai đắp mà ” (trang 113); “Con giun lắm cũng ” (trang 109); “Văn , vợ người” (trang 109); “Đi một ngày đàng, học một khôn” (trang 106);

    “Những người mắt nhọ nhem, bởi chưng kiếp trước đĩa đèn không lau” (trang 94); “Đất cứng trồng cây ngả ” (trang 74); “Nhất chơi tiền, nhì tiền” (trang 64); “Ba năm ở với người /Chẳng bằng một lúc đứng gần người khôn” (trang 105).

    Phải chăng vì cuốn sách này không có người sửa bản in (không thấy đề ở cuối sách) nên sách này có rất nhiều lỗi đánh máy và người đánh máy lại là một người nghiệp dư và làm ẩu?

    Râu ông nọ cắm cằm bà kia

    Đây là kiểu sai sót mà soạn giả lấy nửa câu tục ngữ nọ ghép mới nửa câu tục ngữ kia để làm ra câu mới một cách khiên cưỡng, không hợp cả về vần và về nghĩa.

    Câu ” Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại biết đâu mà dò ” (trang 71) lấy phần đầu của câu “Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo” (trang 72) và phần cuối của câu “Người khôn rào trước đón sau, để cho người dại nửa mừng nửa lo” (trang 71) rồi ghép một cách cơ học lại với nhau.

    Câu “Mực mài tròn, mài son đánh giặc” (trang 24) cũng được lắp ghép theo cách tương tự như trên.

    Phần đầu “Mực mài tròn” lấy ở câu “Mực mài tròn, son mài dài”; phần sau “mài son đánh giặc” lấy ở câu “Mài mực ru con, mài son đánh giặc”.

    Đây đúng là cách sáng tác tục ngữ theo kiểu “Râu ông nọ cắm cằm bà kia” điển hình của soạn giả.

    Chẻ một câu tục ngữ làm hai

    Đây có lẽ là lỗi trình bày. Một câu tục ngữ dạng thơ lục bát được trình bày thành 2 dòng nhưng đầu mỗi dòng đều có dấu gạch ngang nên người đọc nhầm tưởng là 2 câu tục ngữ.

    Có hàng chục câu tục ngữ mắc lỗi như vậy kéo dài suốt từ trang 105 đến trang 115.

    – Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

    – Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người (trang 105).

    – Muốn sang thì bắc cầu kiều,

    – Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy (trang 106).

    – Một cây làm chẳng nên non,

    – Ba cây chụm lại nên hòn núi cao (trang 107).

    – Người khôn con mắt đen sì,

    – Người dại con mắt nửa chì nửa thau (trang 108).

    – Nói lời thì giữ lấy lời,

    – Đừng như con bướm đầu rồi lại bay (trang 109).

    – Vàng thì thử lửa thử than,

    – Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời (trang 110).

    – Thứ nhất thì tu tại gia,

    – Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa (trang 112).

    – Khúc sông bên lở bên bồi,

    – Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm (trang 113).

    – Sự đời nghĩ cũng nực cười,

    – Ai ơi đã quyết thì hành.

    – Đã đan thì lận tròn vành mới thôi (trang 115).

    Nhầm thành ngữ, tục ngữ thành ca dao

    Trong phần cuối của cuốn sách (phần Ca dao), trong mục 14. Ca dao đối với giai cấp phong kiến, soạn giả đã đưa hàng trăm câu tục ngữ, thành ngữ vào mục này.

    Vậy là soạn giả không phân biệt rõ được đâu là ca dao, đâu là tục ngữ, thành ngữ.

    Đầu tắt, mặt tối; Thắt lưng, buộc bụng; Cái khó bó cái khôn; Tham buổi giỗ, lỗ buổi cày; Một năm làm nhà, ba năm hết gạo; Ruộng sâu, trâu nái; Hết nạc vạc đến xương;

    Giàu bán chó, khó bán con; Bút sa, gà chết; Miệng quan, trôn trẻ; Được làm vua, thua làm giặc; Nén bạc đâm toạc tờ giấy; Khó giữ đầu, giàu giữ của ;…

    Cuốn sách ca dao tục ngữ Việt Nam có nhiều sai sót này, năm 2010, lại được Nhà xuất bản Thời Đại liên kết với Nhà sách Minh Thắng xuất bản vẫn giữ nguyên mẫu bìa cả trước, cả sau.

    Tuy nhiên, trong cuốn sách mới này vẫn còn hàng câu tục ngữ sai vẫn chưa được sửa chữa như:

    Ăn cơm lừa thóc, ăn bỏ gan; Ở ba năm, lấy chồng buồn ngủ; Giàu kho, no nhà bếp; Mực mài tròn, mài son đánh giặc; Làm tùy , ngủ tùy chồng;

    Áo năng may năng , người năng tới năng thân; Ghen vợ, ghen không nồng bằng miếng ăn; Đánh chuông ra , đánh giặc ra tay; Kén quá hóa ; Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò đi; Để đau chạy thuốc, chẳng giải trước thì hơn…

    Hiện nay trên mạng, một số nhà sách và Facebook vẫn đang rao bán cuốn sách này.

    Để góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, đề nghị các cơ quan chức năng cho kiểm tra và có biện pháp xử lí thích hợp với các đơn vị xuất bản và phát hành.

    Đặc biệt là độc giả cần lựa chọn những cuốn sách được làm một cách nghiêm túc, được ấn hành bởi các nhà xuất bản uy tín.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Quyển Sách Hay Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Đầy Phong Phú Và Sinh Động
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống, Cách Ứng Xử, Giao Tiếp, Kinh Nghiệp Số
  • Những Dòng Stt Tâm Trạng Buồn Chán, Cô Đơn
  • 99 + Stt Hay Về Tình Bạn Thân Đầy Up Những Ý Nghĩa Về Tình Bạn Đẹp
  • Tải Bài Hát Dòng Status Buồn
  • Nguồn Gốc Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc Của Tục Ngữ Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Viết Báo Tường Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • 317. Ca Dao, Tục Ngữ Và Lịch Sử Việt
  • Nét Đẹp Văn Hóa Từ Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Ở Phú Xuyên
  • Tìm Hiểu Về Tết Việt Nam Qua Ca Dao,tục Ngữ
  • Trong cuộc sống, bất cứ điều gì cũng mang thông điệp muốn truyền tải cả. Đối với sinh vật bậc cao như con người, ngôn ngữ được sinh ra bởi nhu cầu trao đổi thông tin và giao tiếp. Một số cảm xúc như yêu, ghét, giận, hờn có thể được hoa mỹ thông qua một số cách thức sử dụng từ ngữ rất đặc biệt. Trong tiếng Việt, hình ảnh những câu ca dao, tục ngữ đã trở nên quá quen thuộc. Chúng chứa đựng dòng chảy của lịch sử qua từng câu từng chữ. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết được ca dao, tục ngữ xuất phát từ đâu trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam.

    Ca dao, tục ngữ là ra đời để người xưa lưu giữ những bài học kinh nghiệm sống của mình cho con cháu. Ca dao, tục ngữ là những câu nói truyền miệng ngắn gọn, có vần điệu và rất dễ nhớ. Ngoài những bài học răn dạy, đôi lúc, ca dao, tục ngữ còn là nơi gửi gắm tình cảm, bày tỏ quan điểm của tầng lớp nhân dân, sĩ phu trước hiện thực xã hội. Đó là lý do lí giải cho việc ca dao, tục ngữ mang dòng chảy lịch sử.

    Thời điểm mà truyền thông chưa phát triển trong xã hội như bây giờ thì ca dao, tục ngữ là một trong những hình thức để truyền thông tin được áp dụng rất rộng rãi. Không phải tất cả các câu tục ngữ, ca dao đều do tầng lớp nhân dân sáng tác mà trong đó có thể do tầng lớn tri thức, cụ thể là những người học Nho nhưng thi cử không đậu đạt để được làm quan. Họ trở thành thầy đồ, thầy thuốc, thầy bói… sống hoà vào cuộc sống của giới bình dân. Vì vậy, một số câu ca dao, tục ngữ cũng mang nét Nho giáo khá đậm đặc như:

    – Thương người như thể thương thân (Gia Huấn Ca của cụ Nguyễn Trãi).

    – Đồ sở khanh (nhân vật trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du).

    – Máu Hoạn Thư (Truyện Kiều).

    – Cô kia tát nước bên đàng, / Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi ? (Từ bài thơ Tiếng Hát Trong Trăng trong tập thơ “Tiếng thông reo” của thi sĩ Bàng bá Lân xuất bản năm 1935).

    Một số câu nói truyền lại kinh nghiệm sống, để răn dạy như:

    – Ở chọn nơi, chơi chọn bạn .

    – Ăn đi trước, lội nước đi sau .

    – Cày sâu tốt lúa.

    – Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.

    – Có công mài sắt, có ngày nên kim .

    – Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Chọn Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca Việt Nam
  • Thơ Ca Về Biển Đảo: Sẵn Sàng Khi Tổ Quốc Gọi Tên!
  • Biển Đảo Trong Tục Ngữ, Ca Dao Ở Hội An
  • Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Về Ngày 20/11 Đầy Đủ Và Ý Nghĩa
  • Danh Sách Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Stt Tổng Hợp Những Câu Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương, Đất Nước
  • Ca Dao Việt Nam Về Chủ Đề Than Thân
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Thơ Chế
  • T rải suốt hơn 2000 năm từ khi du nhập, Phật giáo đã bắt rễ sâu rộng trên mảnh đất Việt Nam, cùng với dân tộc trải qua những thăng trầm lịch sử. Ảnh hưởng của Phật Giáo đối với dân tộc thật sâu đậm. Từ trong tư duy, tình cảm, thể hiện ra trong ngôn ngữ và trong mọi sinh hoạt của cuộc sống.Ở đây chúng tôi muốn nói riêng đến ca dao, tục ngữ, một mảng văn học rất phong phú vô cùng quan trọng, định hình cho văn hóa Việt Nam.

    Mạng hạ, PL 2545, Tân Tỵ 2001

    Lệ Như Thích Trung Hậu

    ĐỌC SÁCH CỦA THẦY TRUNG HẬU

    Ca dao, tục ngữ là gia tài văn hóa của dân tộc. Chúng ta thừa hưởng gia tài đó từ quần chúng, vì quần chúng vừa là người sáng tạo vừa là người lưu giữ bằng cách truyền miệng từ đời này qua đời khác. Một lời thốt ra đây đấy, rồi đồng thanh tương ứng, như thử đó là sự thực của chính lòng mình, như chính mình thốt ra.

    Nói sáng tạo tức là nói cảm hứng. Quần chúng rút cảm hứng tư đâu để sáng tạo? Từ trong sâu thẳm của vốn liếng văn hóa un đúc từ ngàn xưa. Cũng từ trong sâu thẳm đó, sáng tạo bắt gặp hưởng ứng của tập thể, được truy nhận, trút bỏ tính cánh riêng tư cá nhân và biến thành gia tài của tập thể. Từ ngàn xưa, Phật giáo đã tô bồi văn hóa cho đất nước này, đã trở thành văn hóa của dân tộc. Như vậy, tất nhiên Phật giáo đã cung cấp cảm hứng, đã là nguồn cội chính của sáng tạo và truy nhận tập thể trong việc hình thành ca dao tục ngữ. Nhận định có tính cách hiển nhiên này tạo ra hai phản ứng đối nghịch nhau nơi người nghiên cứu về ca dao tục ngữ, vừa hứng khởi vừa nhụt bước. Hứng khởi vì mưa gió thuận hòa như thế giữa Phật giáo và nhân gian, mùa gặt ca dao tục ngữ chắc chắn phải đầy ắp Nhụt bước, vì chính mưa thuận gió hòa đó trong tâm hồn quần chúng khiến cho sự quan sát ảnh hưởng của Phật giáo trong tục ngữ ca dao thành ra phức tạp. Trái cây đang chín trên cành, làm sao phân biệt đâu là cống hiến của đất, đâu là góp phần của phân bón? Tác giả cuốn sách này đã nhụt bước như vậy không phải một lần, ngay từ câu hỏi đầu tiên. Làm sao chọn lựa? Đứng trên tiêu chuẩn nào? Không tiêu chuẩn nào hoàn toàn khách quan cả. Lấy một ví dụ: nhân duyên. Tư tưởng rất bác học này của Phật giáo được dân gian tiếp nhận như một chuyện hiển nhiên trong đời sống thường ngày, như chim hót bướm bay. Trai gái gắn bó với nhau? Nhân duyên. Phụ bạc nhau? Cũng nhân duyên. Hàng trăm câu tục ngữ ca dao như vậy, biết lấy câu nào bỏ câu nào? Lấy ít thì bất công, lấy nhiều thì lạm phát, lấy nửa chừng thì vừa lạm phát vừa bất công. Tình cha nghĩa mẹ là một ví dụ khác. Ở đây vừa có chữ hiếu của Nho giáo vừa có chữ hiếu của Vu Lan. Hai tình cảm trộn lẫn với nhau, tùy lúc phần này đậm hơn phần kia. Làm sao phán đoán khách quan để chọn lựa: đây đậm màu Phật giáo hơn đó? Đã trích câu này sao lại bỏ câu kia? Giống như một tiếng chuông ngân, ai dám quả quyết đâu là lúc ngân nga tan biến hẳn trong không trung? Cũng vậy, những khái niệm ngôn ngữ như phước, đức, tội, nghiệp, phận, số, kiếp … hoặc những hình ảnh, âm thanh như chùa, tượng, hương đèn, hoa sen, chuông mõ … nằm trong rất nhiều thề thốt, ví von, hẹn hò, trách móc giữa trai gái, vợ chồng. Chẳng lẽ nghe tiếng chuông này mà bỏ tiếng chuông kia? Chọn lựa của tác giả quả là ray rứt, bỏ thì thương vương thì tội. Tác giả đành mang tội, đành gánh tội nghiệp trên vai, gánh mọi phê bình chỉ trích mà tác giả biết trước. Bù lại, người đọc tha hồ thướng thức hoa thơm quả lạ mà tác giả đã hái trong nhiều chục năm qua với lòng thương trải rộng trên cả những trái đắng chát, độc. Ở đâu, trong bất kỳ văn hóa nào, quần chúng cũng thích hóm hỉnh, trào lộng, tiếu lâm. Đặc tính đó phát biểu tràn đầy trong tục ngữ. Ở Pháp, hồi thế kỷ XVII, César Oudin, trong Les Curiosités Francaises (1640), đã phân loại tục ngữ theo thứ lớp như sau: familières, vulgaires, basses, triviales (trêu chọc, tầm phào, hạ tiện, thô bỉ). Trong sách này, bốn loại đó không thiếu. Cùng với những chấp tay cung kính, những tiến cười bốn loại này vẽ ra hình ảnh của Phật giáo trong dân gian sung kính từ bi, nhân quả, nghiệp báo, nhân duyên, hiếu hạnh trong đạo Phật. Và nhân gian đòi tôn trọng chữ giới. Không đặt chữ giới lên hàng đầu, hãy cúi đầu gánh chịu tiếng cười, kể cả tiếng cười độc, của nhân gian. Hãy quán tiếng cười đó, biết ơn những người đã cười độc, và trải lòng từ bi đến với họ. Tôi rất hân hạnh được Thượng Tọa Trung Hậu cho cái phước viết mấy dòng này ở đầu sách. Sự kính trọng và tình cảm thân mật lâu đời của tôi đối với Thượng Tọa cho phép tôi cũng cười một tiếng với tác giả qua hai câu chuyện thiền. Câu chuyện thứ nhất, tôi nghĩ là chuyện thiền nhưng quá phổ thông trong quần chúng đến nỗi đã thành ra chuyện ngụ ngôn mà thế hệ của tôi đã học từ lớp ba trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Một chú bé thọc tay vào hũ kẹo, bốc cả một nắm kẹo, rút tay không ra. Nhưng nếu Thượng Tọa cho một chiếc kẹo để có thể rút tay ra dễ dàng thì lại thương mấy chiếc kẹp kia quá trong nắm tay. Chuyện thứ hai là chuyện gió thổi. Mùa hè nóng bức, sư phụ ngồi quạt phe phẩy. Chú tiểu lại gần, thưa: “Bach Thầy, bản chất của không khí là hiện diện cùng khắp, còn gió thì chỗ nào cũng thổi cả. Bach Thầy, tại sao Thầy phải dùng quạt? Tại sao Thầy phải tạo ra gió? Chú tiểu thông thái quá, nhưng những bậc thông thái. Sư phụ đáp: “Chú chỉ biết rằng bản chất của không khí là hiện diện cùng khắp, nhưng chú không biết tại sao chỗ nào cũng có gió thổi.” Chú tiểu hỏi lại: “Bach Thầy, Thầy nói “không có chỗ nào mà không có gió thổi”, như vậy là nghĩa làm sao?” Sư phụ không nói gì nữa, im lặng tiếp tục phe phẩy. Chú tiểu cúi đầu, chấp tai vái rồi bước ra. Thượng Tọa Trung Hậu ngồi phạt phe phẩy. Chỗ nào mà không có làn gió Phật giáo?

    Phật lịch 2545

    Tân Tỵ 2001

    Gs. Cao Huy Thuần.

    (Paris)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam 10 Pdf
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Chứng Minh Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mưa Nắng Bão Lụt, Thời Tiết, Dự Báo Thời Tiết
  • 35 Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Quê Hương Đất Nước Bình Định Câu Hỏi 194294
  • Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam Chọn Lọc

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lời Chúc Hay Và Ngọt Ngào Nhất Trong Ngày Lễ Tình Nhân 14/2
  • Những Câu Nói Về Bản Thân Mình Hay Nhất
  • 16 Danh Ngôn Hay Về Nghệ Thuật
  • Lời Chúc Sinh Em Bé Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Những Lời Trích Dẫn Từ Các Cuốn Sách Hay Nhất Mọi Thời Đại (Phần 1)
  • Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc nét văn hóa đặc sắc của dân tộc

    Ca dao, tục ngữ là sự kết tinh, lắng đọng vốn sống và những kinh nghiệm quý báu trong dân gian. Đây là loại hình văn nghệ truyền miệng từ đời này qua đời khác. Trải qua bao biến thiên cuộc sống, trong thời đại ngày nay, ca dao, tục ngữ vẫn còn vẹn nguyên giá trị răn dạy con người về cách đối nhân xử thế trong cuộc sống.

    Cuốn sách “Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc” là công trình sưu tầm, nghiên cứu công phu, khoa học, tập hợp khá nhiều tinh hoa của tục ngữ, ca dao trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam nhằm cung cấp một nguồn “sử liệu” về văn học dân gian cho độc giả.

    Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc cuốn sách tập hợp những câu ca dao tục ngữ muôn đời của dân tộc ta được đúc kết lại.

    Cuốn sách văn học- tiểu thuyết có các phần như:

    Phần I. Tình cảm, tình yêu đôi lứa

    -Hôn nhân và tình cảm gia đình

    – Tục ngữ, ca dao về lao động nghề nghiệp

    – Tục ngữ ca dao ca ngợi Bác Hồ…

    Nó không dừng lại ở những trang giấy thông thường mà đó là nguồn tư liệu quý giá giúp cho người đọc với nhiều đối tượng khác nhau có được cái nhìn sâu rộng hơn về loại hình văn hóa dân gian của Việt Nam bao đời nay.

    Ca dao, tục ngữ có những lối giáo dục chân thực, hóm hỉnh tạo nên đời sống vật chất và tinh thần phong phú. Trong đời sống hàng ngày, câu ca dao, tục ngữ vẫn được ông bà, cha mẹ truyền tụng khuyên răn con cháu. Loại hình văn hóa truyền miệng này như một nguồn nhựa sống để nuôi dưỡng tâm hồn cho thế hệ hôm nay và mai sau.

    Đấy là một cuốn sách có giá trị về luân lý và đạo đức học, vì đấy là cái nền để rồi đến khi hấp thu được tư tưởng đạo đức mới của thời đại mới, mới có thể trở thành được những con người Việt Nam vừa dân tộc vừa hiện đại. Đó là một mẫu người Việt Nam đẹp nhất, những con Rồng cháu Tiên xuất hiện dưới thời đại Bác Hồ, sẽ là những người Việt Nam có tâm hồn đạo đức đẹp nhất từ xưa đến nay. Cái đẹp của người Việt Nam mới là sự hợp thành bởi hai sắc thái đạo đức Truyền thống và Hiện đại. Hai yếu tố ấy như là hai phần trong một cơ thể Người – Thiếu đi một phần sẽ trở nên “bất thành nhân dạng”, không thể nào trở thành được một Con người mới, của Thời đại mới.

    Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc cần thiết và hữu ích, nhất là cho lớp người trẻ tuổi, những người sẽ quyết định vận mệnh tương lai của đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Ngày 8/3 Ý Nghĩa, Hài Hước Nhất
  • Danh Ngôn Chủ Nghĩa Cộng Sản
  • 115 Dòng Danh Ngôn & Stt Ý Nghĩa Về Sự Thay Đổi Trong Cuộc Sống
  • Đập Vào Mặt Bạn Đểu, Bọn Khốn Nạn Những Câu Nói Khinh Bỉ Hay Nhất
  • Top 100 Stt Bựa Về Cuộc Sống Đăng Facebook Câu Được “ngàn Like”
  • Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Về Chiếc Nón Lá Việt Nam
  • Những Vần Thơ Ca Ngợi Đảng
  • Ca Dao Mùa Xuân Qua Những Miền Lễ Hội
  • Lễ Hội Truyền Thống Qua Ca Dao Hà Nội
  • Ẩm Thực Trong Ca Dao Việt Nam
  • Bài làm

    Nón lá là hình ảnh bình dị, thân quen gắn liền với tà áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Từ xưa đến nay, nhắc đến Việt Nam du khách nước ngoài vẫn thường trầm trồ khen ngơị hình ảnh chiếc nón lá – tượng trưng cho sự thanh tao của người phụ nữ Việt. Nón lá đã đi vào ca dao, dân ca và làm nên văn hóa tinh thần lâu đời của Việt Nam.

    Bạn có còn nhớ trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm, chiếc nón lá hiện lên rất tự nhiên, gần gũi:

    Sao anh không về thăm quê em Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên Bàn tay xây lá, tay xuyên nón Mười sáu vành, mười sáu trăng lên

    Như vậy mới thấy được rằng nón là là biểu tượng cho sự dịu dàng, bình dị, thân thiện của người phụ nữ Việt từ ngàn đời nay.

    Để làm được chiếc nón lá đẹp thì người làm cần phải tinh tế, tỉ mỉ từ khâu lựa chọn nguyên liệu, cách phơi lá, cách khâu từng đường kim mũi chỉ. Người ta vẫn bảo làm ra một chiếc nón lá cần cả một tấm lòng là vì vậy.

    Nón lá có thể được làm từ lá dừa hoặc lá cọ. Mỗi loại lá lại mang đến sự khác nhau cho sản phẩm. Thường thì những sản phẩm nón làm từ lá dừa có nguồn gốc từ Nam Bộ, vì đây là nơi trồng dừa nhiều. Tuy nhiên làm từ lá dừa sẽ không đẹp và tinh tế như lá cọ. Lá cọ có độ mềm mại, chắc chắn hơn. Khi lựa chọn lá cũng phải chọn những chiếc lá có màu xanh, bóng bẩy, có nổi gân để tạo nên điểm nhấn cho sản phẩm. Quá trình phơi cho lá mềm để dễ làm cũng cần từ 2-4 tiếng, lá vừa mềm vừa phẳng.

    Khâu làm vành nón là khâu vô cùng quan trọng để tạo khung chắc chắn cho sản phẩm. Người dùng cần phải lựa chọn nan tre có độ mềm và dẻo dai. Khi chuốt tre thì cần phải chuốt tỉ mỉ để đến khi nào có thể uốn cong mà không sợ gãy. Sau đó người dùng sẽ uốn theo những đường kính từ nhỏ đến lớn tạo thành khung cho nón lá sao cho tạo thành một hình chóp vừa vặn.

    Khi đã tạo khung và chuẩn bị lá xong đến giai đoạn chằm nón. Đây là giai đoạn giữ cho khung và lá bám chặt vào nhau. Thường thì người làm sẽ chằm bằng sợi nilong mỏng nhưng có độ dai, màu trắng trong suốt.

    Lúc chiếc nón đã được khâu xong thì người dùng bắt đầu quết dầu làm bóng và phơi khô để dầu bám chặt vào nón, tạo độ bền khi đi nắng mưa.

    Đi dọc miền đất nước, không nơi nào chúng ta thấy sự hiện diện của chiếc nón lá. Nó là người bạn của những người phụ nữ khi trời nắng hoặc trời mưa. Không chỉ có công dụng che nắng, che mưa mà nón lá còn xuất hiện trong các tiết mục nghệ thuật, đi đến các nước bạn trên thế giới. Nét đẹp văn hóa của nón lá chính là nét đẹp cần được bảo tồn và gìn giữ. Nhắc đến nón lá, chắc chắn chúng ta sẽ nghĩ ngay đến tà áo dài Việt Nam, bởi rằng đây là hai thứ luôn đi liền với nhau, tạo nên nét đặc trung riêng của người phụ nữ Việt Nam từ ngàn đời nay.

    Để giữ chiếc nón lá bền với thời gian thì người dùng cần phải khéo léo, bôi dầu thường xuyên để tránh làm hỏng hóc, sờn nón.

    Chiếc nón lá Việt Nam là sản phẩm của người Việt, làm tôn thêm vẻ đẹp của người phụ nữ, và khẳng định sự tồn tại lâu đời của sản phẩm này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Cảnh Việt Qua Tục Ngữ, Ca Dao, Thơ Ca
  • Ca Dao Về Con Người Hay ❤️ Tục Ngữ Lòng Dạ Con Người
  • Thuyết Minh Về Cây Lúa Việt Nam
  • Tổng Hợp Vài Điều Về Y Đức (Sưu Tầm)
  • Bàn Về Thành Ngữ, Tục Ngữ Hiện Có Ở Cà Mau
  • Giới Thiệu Về Chiếc Nón Lá Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Vần Thơ Ca Ngợi Đảng
  • Ca Dao Mùa Xuân Qua Những Miền Lễ Hội
  • Lễ Hội Truyền Thống Qua Ca Dao Hà Nội
  • Ẩm Thực Trong Ca Dao Việt Nam
  • Tổng Hợp Những Câu Thành Ngữ Việt Nam Và Ý Nghĩa
  • (Những bài văn hay) – Anh (Chị) hãy giới thiệu về chiếc nón lá Việt Nam. ( Bài làm của học sinh giỏi trường THPT Cẩm Giàng – Hải Dương).

    Đề bài: Giới thiệu về chiếc Nón lá Việt Nam

    BÀI LÀM

    Nón lá từ bao đời nay là bạn của nhà nông. Nước ta nắng lắm mưa nhiều vì thế nón lá là vật dụng không thể thiếu trong sản xuất lao động và trong cuộc sống thường ngày. Không chỉ có giá trị thực dụng nón lá còn được sử dụng với giá trị thẩm mĩ.

    Không ai có thể nói chính xác nón lá có từ bao giờ. Có lẽ từ rất lâu đời rồi con người đã biết tạo ra chiếc nón để che nắng, che mưa. Chỉ biết trên trống đồng Ngọc Lũ người xưa đã trạm khắc hình tượng con người đội nón lá chèo thuyền, giã gạo đánh trận… Càng ngày chiếc nón càng được cải tiến đẹp hơn. Đặc biệt từ thế kỉ XIII thời nhà Trần nón lá được sử dụng như hình với bóng trong mọi hoạt động con người Việt Nam, không phân biệt giới tính địa vị tuổi tác.

    Có những loại nón lá, nón có chóp nhọn hoặc hơi tù hình chóp rất thông dụng. Nón thúng quai thao thường theo bước các liền anh liền chị trong làn điệu quan họ Bắc Ninh đến với nhiều vùng miền của đất nước, nón thúng không có chóp mái bằng, phía bên trong có vành tròn vừa với đầu người đội. Nón ba tầng cũng giống hình nón thúng song mảnh dễ hơn. Nón bài thơ nổi tiếng ở quê hương xứ Huế thường mỏng có in hình bài thơ phía bên trong đằm thắm trữ tình. Có nhiều nơi sản xuất nón nhưng nổi tiếng nhất vẫn là nón làng Chuông, nón Huế.

    Chất liệu làm nón gồm có nan che, lá nón, dây cước. Lá nón thường làm bằng lá cọ ngoài ra có thể làm bằng lá cối, hồ, qui điệp. Lá nón thường chọn loại lá bánh tẻ, phơi được nắng có tẩy một chút cho lá trắng. Dùng bàn là gang lá phảng, buộc lang, tre rừng cũng được ép phẳng các vanh con đường kính chỉ to hơn đầu tăm một chút. Còn vành cái đường kính bằng khoảng đầu đũa. Người thợ thủ công đặt các vanh con vào khung nón trải lượt lá nón bên trong rồi đến lớp buộc lang cho nón cứng khỏe bên ngoài là lớp lá nón đẹp phần chóp nón được khâu khá kĩ để dấu các mối nối giữa các lá nón. Tiếp theo người thơ khâu lá nón vào vanh con từ chóp xuống theo các đường hình tròn của khung mũi cước phải đều mới đẹp. Mái nón phải phẳng đến giữa nón người ta có thể cho các hình trang trước bên trong khâu hết mười sáu vanh con thì đến vanh cái bên ngoài phải có vanh đè để che đầu các lá cọ. Sau cùng là công đoạn tết nôi bằng dây len đan chéo vào nhau rất thẩm mĩ.

    Nón lá có nhiều công dụng trong đời sống. Trước hết là giá trị ” thực dụng” che nắng, che mưa. Sau đó phải kể đến các giá trị khác mà nón lá đã đi vào thơ ca nhạc họa. Khi tiễn con về nhà chồng, người mẹ thường đặt vào tay con chiếc nón lá như lời nhẵn gửi yêu thương. Buổi tiễn đưa người yêu hoặc chồng ra trận, cô gái thường đội chiếc nón có quai màu tím. Chỉ bấy nhiêu thôi mà thay cho bao lời hứa hẹn thủy chung đợi chờ làm yên lòng người ra trận. Người xưa còn ví:

    ” Chồng chành như nón không quai

    Như thuyền không lái như gái không chồng”

    Rồi câu ca dao đằm thắm trữ tình cũng mượn hình ảnh chiếc nón để bày tỏ yêu thương:

    ” Qua đình ngả nón chông đình

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”.

    Và lời thơ của Đỗ Trung Quân cũng từng được phổ nhạc in đậm trong tâm trí người dân Việt Nam:

    ” Quê hương là cầu tre nhỏ

    Mẹ về nón lá nghiêng tre”.

    Ta từng thấy nón lá có vai trò như thế nào trong đời sống tâm hồn con người Việt Nam. Sau vành nón lá nụ cười đôi mắt duyên dáng e ấp của cô gái đã khiến bao chàng trai siêu lòng. Nón lá cùng với áo dài đã trở thành trang phục truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.

    Nón lá là một vật dụng được làm bằng những chất liệu từ cỏ cây lên cẩn thận trong sử dụng bảo quản mới bền đẹp. Khi mới mua, người thợ nón thường quay một lớp dầu thông bên ngoài nón. Lớp dầu đó làm cho nón bóng đẹp. Và quan trọng khi trời mưa, nước mưa khó thấm vào lá nón. Nó trôi toạt đi lá nón được bảo vệ. Khi đội về ta nên treo nón lên cao tránh để vật dụng nặng đè vào nón khiến nón gãy bẹp.

    Ngày nay những chiếc mũ vải thời trang trong đời dần thay thế nón lá bởi nó gọn, nhẹ, bền, đẹp. Nhưng nón lá đã đi vào tiềm thức, nghệ thuật nên nó còn mải với người dân Việt Nam. Các bà các mẹ, các chị đội nón đi chợ, đi làm, đi chơi. Chiếc nón luôn song hành cùng người phụ nữ Việt Nam.

    Tác giả: ANH ĐÀO

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá Việt Nam
  • Phong Cảnh Việt Qua Tục Ngữ, Ca Dao, Thơ Ca
  • Ca Dao Về Con Người Hay ❤️ Tục Ngữ Lòng Dạ Con Người
  • Thuyết Minh Về Cây Lúa Việt Nam
  • Tổng Hợp Vài Điều Về Y Đức (Sưu Tầm)
  • Tìm Hiểu Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 12 Lời Chúc Giáng Sinh Cho Khách Hàng Bằng Tiếng Anh
  • Tuyển Tập Stt Hay Xứng Đáng Trở Thành Châm Ngôn Sống Của Phụ Nữ
  • 18 Bài Thơ Thay Lời Chúc Giáng Sinh Noel Hay, Ý Nghĩa Và Hài Hước Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tôn Trọng Người Khác
  • Châm Ngôn Về Kẻ Tiểu Nhân
  • --- Bài cũ hơn ---

  • 100+ Danh Ngôn Cuộc Sống Cực Ý Nghĩa Mà Bạn Nên Đọc
  • Những Câu Thơ Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Hùng Dân Tộc, Anh Bộ Đội
  • Những Stt Hay Ngắn Gọn Hài Hước Và Độc Đáo Nhất Trên Mạng Xã Hội Facebook
  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Lòng Hiểu Thảo, Trung Hậu, Nhân Ái
  • Stt Con Gái, 69+ Status Hay Về Cô Gái Mạnh Mẽ! Cố Lên Nào Cô Gái Ơi
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100