Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Kinh Nghiệm Sống

--- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Cái Đẹp, Kinh Nghiệm Sống, Nụ Cười
  • Giải Bài 9: Kính Trọng, Biết Ơn Người Lao Động
  • Em Hãy Tìm Một Số Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Sự Kính Trọng Và Lòng Biết Ơn Thầy Cô Giáo
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Tục Ngữ Ca Dao
  • Trăm năm ai chớ bỏ ai,

    Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim. – Khuyết danh

    Sướng gì hơn sướng làm lành,

    Như bao nhiêu của để dành bấy nhiêu. – Khuyết danh

    Ru con con ngủ à ơi,

    Trông cho con lớn nên người khôn ngoan.

    Làm trai gánh vác giang san,

    Mẹ cha trông xuống, thế gian trông vào.

    Ru con con ngủ đi nào,

    Cù lao dưỡng dục biết bao cho cùng.

    Làm trai quyết chí anh hùng,

    Ra tay đánh dẹp, vẫy vùng nước non. – Khuyết danh

    Quân tử ứ hự đã đau,

    Tiểu nhân vác đá đánh đầu như không. – Khuyết danh

    Ở đây gần bạn gần thầy,

    Có công mài sắt có ngày nên kim. – Khuyết danh

    Nơi nào chí quyết một nơi,

    Làm người nay đổi mai dời sao nên. – Khuyết danh

    No cơm ấm cật, dậm dật khắp nơi,

    Quần áo tả tơi mọi nơi chẳng dật. – Khuyết danh

    Những người phinh phính mặt mo,

    Chân đi chữ bát thì cho chẳng thèm. – Khuyết danh

    Ngựa mạnh chẳng quản đường dài,

    Nước kiệu mới biết tài trai anh hùng. – Khuyết danh

    Nghĩa nhân như chén nước đầy,

    Bưng đi mà đổ, hốt rày được sao. – Khuyết danh

    Muốn sang thì bắc cầu Kiều,

    Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy. – Khuyết danh

    Muốn may thì phải có kim,

    Muốn hay thì ắt phải tìm người xưa. – Khuyết danh

    Mười năm rèn luyện sách đèn,

    Công danh gặp bước, chớ quên ơn thầy. – Khuyết danh

    Một cây làm chẳng nên non,

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. – Khuyết danh

    Lạy trời chớ điếc chớ đui,

    Để đôi con mắt xem người thế gian. – Khuyết danh

    Làm ơn ắt sẽ nên ơn,

    Trời nào phụ kẻ có nhơn bao giờ. – Khuyết danh

    Khôn ngoan cũng thể đàn bà,

    Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông. – Khuyết danh

    Hơn nhau tấm áo manh quần,

    Cởi ra ai cũng mình trần như ai. – Khuyết danh

    Gió day thì mặc gió day,

    Xin cho cây cứng lá dày thì thôi. – Khuyết danh

    Gà khôn gà chẳng đá lang,

    Gái khôn gái chẳng bỏ làng gái đi. – Khuyết danh

    Đừng ham sao tỏ bỏ trăng,

    Môt năm sao tỏ không bằng trăng lên. – Khuyết danh

    Đừng còn ỷ sắc khoe hương,

    Dây chùi trên động cũng có khi vương quết trầu. – Khuyết danh

    Đời người sống mấy gang tay,

    Hỏi đâu kỳ cục cả ngày lẫn đêm. – Khuyết danh

    Đời người sống mấy gang tay,

    Hơi đâu cặm cụi cả ngày lẫn đêm. – Khuyết danh

    Đời người sống được mấy may,

    Coi nhau như bát nước đầy là hơn. – Khuyết danh

    Diều hâu quà quạ kên kên,

    Ba giống chim ấy hay thèm thịt thiu. – Khuyết danh

    Đất xấu, trồng cây khẳng khiu,

    Những người thô tục, nói điều phàm phu. – Khuyết danh

    Đất tốt trồng cây rườm rà,

    Những người thanh lịch nói ra quý quyền. – Khuyết danh

    Dao năng liếc thì sắc,

    Người năng chào thì quen. – Khuyết danh

    Đàn bầu mà gẩy tai trâu,

    Đạn đâu bắn sét, gươm đâu chém ruồi. – Khuyết danh

    Cười người chớ vội cười lâu,

    Cười người hôm trước hôm sau người cười. – Khuyết danh

    Con còng dại lắm ai ơi,

    Uổng công xe cát, sóng dồi lại tan. – Khuyết danh

    Con chim ham ăn còn mắc cái tròng,

    Người mà ham của sao khỏi mắc vòng gian nan. – Khuyết danh

    Cóc hèn giữ phận cóc quê,

    Có đâu thẽ thọt toan bề leo thang. – Khuyết danh

    Có mắt thì phải xem đàng,

    Có phải cận thị ngó quàng ngó xiên. – Khuyết danh

    Có đỏ mà chẳng có thơm,

    Như hoa dâm bụt, nên cơm cháo gì? – Khuyết danh

    Có bát sứ, tình phụ bát đàn,

    Nâng niu bát sứ, vỡ tan có ngày. – Khuyết danh

    Chữ rằng họa phúc vô môn,

    Tìm giàu thì dễ tìm khôn khó tìm. – Khuyết danh

    Chớ thấy bể rộng mà lo,

    Bể rộng mặc bể, chèo cho có ngần. – Khuyết danh

    Chớ thấy áo rách mà cười,

    Cái giống gà nòi, lông nó lơ thơ. – Khuyết danh

    Chim quyên xuống đất cũng quyên,

    Anh hùng lỡ vận cũng nguyên anh hùng. – Khuyết danh

    Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe. – Khuyết danh

    Chim khôn chưa bắt đà bay,

    Người khôn chưa nói dang tay đỡ lời. – Khuyết danh

    Chê tôm ăn cá lù đù,

    Chê thằng bụng bự, thằng gù lại ưng. – Khuyết danh

    Chẳng lo chi đó cười đây,

    Bão rồi mới biết cội cây cứng mềm. – Khuyết danh

    Cha mẹ để của bằng non,

    Không bằng để đức cho con ở đời. – Khuyết danh

    Cây cao chẳng quản gió lung,

    Ðê cao chẳng quản nước sông tràn vào. – Khuyết danh

    Càng thắm thì lại càng phai,

    Thoang thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu. – Khuyết danh

    Cầm vàng mà lội qua sông,

    Vàng trôi không tiếc, tiếc công cầm vàng. – Khuyết danh

    Ai ơi chẳng chóng thì chầy,

    Có công mài sắt có ngày nên kim. – Khuyết danh

    Ai ơi phải nghĩ trước sau,

    Đừng tham lắm của nhà giàu làm chi.

    Làm thì xem chẳng ra gì,

    Làm tất làm tả nói gì điếc tai.

    Đi ngủ thời hết canh hai,

    Thức khuya dậy sớm mình ai dãi dầu.

    Sớm ngày đi cắt cỏ trâu,

    Trưa về lại bảo: ngồi đâu không đầy.

    Hết mẹ rồi lại đến thầy,

    Gánh cỏ có đầy, vẫn nói rằng vơi.

    Nói thì nói thật là dai,

    Lắm câu chua cạnh, đắng cay trăm chiều. – Khuyết danh

    Ai ơi chớ vội cười nhau,

    Ngắm mình cho tỏ trước sau hãy cười. – Khuyết danh

    Bước lên xe, đầu đội khăn rằn,

    Dáng đi yểu điệu, ngồi gần say mê. – Khuyết danh

    Bậu đừng đỏng đảnh, đòi lãnh với lương,

    Vải bô bậu mặc cho thường thì thôi. – Khuyết danh

    Bạn bè là nghĩa tương tri,

    Sao cho sau trước vẹn bề mới nên. – Khuyết danh

    Áo đơm năm nút con rồng,

    Ở xa con phụng, lại gần con quy. – Khuyết danh

    Áo dài chớ tưởng là sang

    Bởi không áo ngắn, mới mang áo dài. – Khuyết danh

    Áo cũ để vận trong nhà,

    Áo mới để vận đi ra ngoài đường. – Khuyết danh

    Anh hùng gì, anh hùng rơm,

    Ta cho mồi lửa hết cơn anh hùng. – Khuyết danh

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây,

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay giần sàng. – Khuyết danh

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,

    Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng. – Khuyết danh

    Ăn lắm, thì hết miếng ngon,

    Nói lắm, thì hết lời khôn hóa rồ. – Khuyết danh

    Ăn được ngủ được là tiên,

    Không ăn không ngủ là tiền mất đi. – Khuyết danh

    Ai ơi trẻ mãi ru mà,

    Càng đo đắn lắm, càng già mất duyên. – Khuyết danh

    Ai ơi được ngọc đừng cười,

    Ta đây được ngọc rụng rời chân tay. – Khuyết danh

    Ai ơi đừng phụ mụt măng,

    Mụt măng có nhỏ cũng bằng cây tre. – Khuyết danh

    Ai ơi đừng phụ bát đàn,

    Nâng niu bát sứ vỡ tan có ngày. – Khuyết danh

    Ai ơi đã quyết thì hành,

    Ðã đốn thì vác cả cành lẫn cây. – Khuyết danh

    Ai ơi đã quyết thì hành,

    Ðã đan thì lận, tròn vành mới thôi. – Khuyết danh

    Ai ơi chớ vội khoe mình,

    Giang hồ lắm kẻ tài tình hơn ta. – Khuyết danh

    Ai ơi chớ vội cười nhau

    Cười người hôm trước, hôm sau người cười. – Khuyết danh

    Ai ơi chớ vội cười nhau,

    Ngẫm mình cho kỹ trước sau hãy cười. – Khuyết danh

    Ai ơi chớ vội cười nhau,

    Cây nào là chẳng có sâu chạm cành. – Khuyết danh

    Ai ơi chẳng chóng thì chầy,

    Có công mài sắt, có ngày nên kim. – Khuyết danh

    Ai mà phụ nghĩa quên công,

    Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm. – Khuyết danh

    Ai đi gánh vác non sông,

    Để ai chứa chất sầu đông vơi đầy. – Khuyết danh

    Nguồn: Từ điển danh ngôn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Sự Chăm Chỉ, Siêng Năng, Cần Cù, Cố Gắng, Kiên Trì
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Học Tập, Ham Học Hỏi
  • Tổng Hợp Những Câu Tục Ngữ Hay Về Mẹ
  • Top Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Mẹ, Tình Mẫu Tử Hay Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nhất Về Mẹ Về Cha!!
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Nghề Nghiệp, Công Việc, Kinh Nghiệm, Kỹ Năng Sống, Kinh Nghiệm Sống

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hoá Nông Nghiệp Trong Tục Ngữ Ca Dao Về Lao Động Sản Xuất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Khánh Hòa, Kiên Giang, Kon Tum, Lai Châu, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Lào Cai, Long An
  • Tục Ngữ Về Tiết Kiệm
  • Bộ Sách Tiếng Việt Lớp 1: ‘các Thành Ngữ Đều Nặng Nề, Bài Đọc Thì Xỉa Xói Nhiều Hơn Là Giáo Dục’
  • Ca Dao Về Lao Động Sản Xuất
  • Có 1 công việc ổn định đúng với đam mê sở thích là mong muốn của rất nhiều người, công việc không chỉ giúp bạn làm ra tiền mà cũng giúp bạn có cơ hội thể hiện mình và đóng góp cho xã hội cho đất nước và cộng đồng. Để có 1 công việc tốt thì bạn cũng phải cần có gắng rất nhiều và nên học hành theo hướng chuyên môn hóa chứ không nên học lan man nhiều ngành biết nhiều nhưng không chuyên. Do nền giáo dục nước ta còn hạn chế nên việc hướng nghiệp sớm các bạn cần phải tự túc khá nhiều để có 1 tương lai tốt hơn. Ngoài ra là những kinh nghiệm về kinh nghiệm sống kỹ năng số thực tế khá thiết thực mà bạn có thể rút ra kinh nghiệm cho bản thân. Những câu ca dao tục ngữ về nghề nghiệp, công việc, kinh nghiệm, kỹ năng sống, kinh nghiệm sống ý nghĩa nhất

    Mỗi người sinh ra rồi lớn lên, ai cũng chọn cho mình một công việc, một nghề nghiệp riêng mà mình yêu thích. Những công việc trong cuộc sống náy rất nhiều, để có được chũng ta phải trải qua một quá trình rất sâu sắc. khi chúng ta làm một công việc trong một thời gian dài, một quá trình dài và có những hiểu biết về công việc chúng ta sẽ có những kinh nghiệm về công việc ấy. có một loại kinh nghiệm khác mà chúng ta cần phải trải nghiệm trong một thời gian dài và cần có những thử thách, những gian nan ấy là là kinh nghiệm sống và kỹ năng sống trong xã hội.

    Chọn đúng nghề đúng với đam mê và yêu thích của mình và được làm việc là 1 vấn đề không phải đơn giản

    Nghề nghiệp, công việc là một điều bất cứ ai cũng có trong cuộc sống này. Nghề nghiệp và công việc được khái niệm rất rộng, không thể có một khái niệm hoàn chỉnh và chính xác. Còn những kinh nghiệm, kỹ năng sống, kinh nghiệm sống được được thể hiện rất nhiều qua những kinh nghiệm trải nghiệm của chúng ta trong cuộc sống này. Để hiểu rõ hơn về nghề nghiệp, công việc, kinh nghiệm, kỹ năng sống, kinh nghiệm sống chúng ta cùng đi tìm hiểu về những câu ca dao tục ngữ về nghề nghiệp, công việc, kinh nghiệm, kỹ năng sống, kinh nghiệm sống.

    Những câu tục ngữ về nghề nghiệp, công việc, kinh nghiệm, kỹ năng sống, kinh nghiệm sống:

    Câu 1:

      Sáng giũa cưa, trưa mài đục.

    Câu ca dao trên nói về một công việc trong cuộc sống của những người lao động mệt nhọc. công việc được nói đến câu tục ngữ trên là thợ mộc, công việc của những người ấy luôn gắn với những cái cưa và những cái đục.

    Câu 2:

      Muốn giàu nuôi lợn nái, muốn hại nuôi bồ câu.

    Đây là kinh nghiệm về công việc mà ông bà ta đã để lại trong câu tục ngữ trên. Nuôi lợn nái là một công việc rất giàu vì, nuôi lợn nái sẽ đẻ lợn con, nuôi lợn con lớn bán ta sẽ có tiền, còn với bồ câu chỉ nuôi cho vui chứ chả lợi lộc gì.

    Câu 3:

      Một đồng một giõ, chẳng bỏ nghề đâu.

    Đây là một câu tục ngữ nói về lòng yêu nghề của những người trong cuộc sống. học yêu nghề đến mức cho tiền họ cũng không bỏ nghề của họ dù công việc này khó khăn, khổ cực.

    Câu 4:

      Ruộng bề bề không bằng nghề trong tay.

    Đây là câu tục ngữ nói về sự khổ cực của nghề nông, dù chúng ta có ruộng nhiều đến mức nào cũng không bằng khi chúng ta có một cacsi nghề. Làm nông là một nghề cực khổ và khó khăn, chính vì thế mà có một nghề nào đó vẫn hay.

    Câu 5:

      Một nghề chín còn hơn chín nghề

    Đây là 1 trong những câu tục ngữ rất sâu sắc và ngày càng đúng hơn trong xã hội hiện nay khi sự cạnh tranh nghề nghiệp ngày càng cao. Bạn cần phải chuyên môn hó và tập trung công việc mình giỏi nhất chứ không nên ôm đồn quá nhiều mảng nhiều việc khác nhau thì kỹ năng của bạn sẽ khó cạnh tranh lại những người khác. Ý nghĩa của câu này là bạn làm chuyên 1 nghề giỏi thì sẽ có cơ hội tìm việc cao hơn, lương cao hơn và cơ hội thăng tiến cũng cao hơn so với việc bạn biết mỗi việc 1 ít thì rất khó kiếm việc gì. thời buổi này nghề nghiệp được chuyên môn hóa và phân chia theo từng lĩnh vực mảng và giai đoạn để đạt hiệu suất cao nhất.

    • · Mễ tận dân tàn.
    • · Nhất sĩ, nhì nông, tam công, tứ cổ.
    • · Một nghề thì sống, đống nghề thì chết.
    • · Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh.
    • · Làm thầy địa lý mất mả táng cha.
    • · Miệng bà đồng, như lồng chim khướu.
    • · Thứ nhất thục bi, thứ nhì quản tượng.
    • · Giầu chủ kho, no nhà bếp.
    • · Phần đàn em, ăn thèm vác nặng
    • · Gái đĩ già mồm, kẻ trộm trắng răng.
    • · Là lượt là vợ thông lại, nhễ nhại là vợ học trò.
    • · Muốn giàu thì buôn bè, muốn què thì tập vật.
    • · Thợ sơn bôi bác, thợ bạc lọc lừa.
    • · Tối về quạt mát cho anh ngồi rèn.
    • · Làm thầy địa lý mất mả táng cha.
    • · Giầu chủ kho, no nhà bếp.
    • · Phần đàn em, ăn thèm vác nặng.
    • · Là lượt là vợ thông lại, nhễ nhại là vợ học trò.
    • · Muốn giàu thì buôn bè, muốn què thì tập vật.
    • · Thợ sơn bôi bác, thợ bạc lọc lừa.
    • · Bẩn như thợ nề, chỗ ăn chỗ ngủ như dê nó nằm.
    • · Ăn kĩ no lâu, Cày sâu tốt lúa.
    • · Tốt giống, tốt mạ.

    Tốt mạ, tốt lúa.

    Cấy dày cóc được ăn.

    • · Được mùa cau, đau mùa lúa
    • · Bẩn như thợ nề, chỗ ăn chỗ ngủ như dê nó nằm.

    Những câu ca dao về nghề nghiệp, công việc, kinh nghiệm, kỹ năng sống, kinh nghiệm sống:

    Câu 1:

    • Vạn Vân có bến Thổ Hà,
    • Vạn Vân nấu rượu, Thổ Hà nung vôi.
    • Nghĩ rằng đá nát thì thôi,
    • Ai ngờ đá nát nung vôi lại nồng.

    Đây là những câu ca dao nói về những ngành nghề nổi tiếng cũng từng vùng trên đất nước ta. Những ngành nghề được nhắc đến trong câu ca dao trên là nấu rượu, nung vôi,… những ngành nghề này vô ucnfg cực nhọc nhưng là ngành nghề truyền thống của từng nơi trên.

    Câu 2:

    • Nhỏ còn thơ dại biết chi.
    • Lớn rồi đi học, học thì phải siêng.
    • Theo đời cũng thể bút nghiên
    • Thua em kém chị cũng nên hổ mình.

    Học tập là một công việc rất quan trọng và hữu ích đối với tất cả mọi người. học tập là con đường để chúng ta có được một công việc tốt trong cuộc sống này. Ngay từ khi còn nhoe chúng ta nên có một cách học tập đúng đắn để sau này lớn không hối hận.

    Thì em mới lấy được chồng thợ khay.

    Dạy học thì ít, bắt cua thì nhiều.

    Thương thầy, trò cũng muốn theo.

    Trò sợ thầy nghèo bán cả trò đi.

      Muốn ăn cơm trắng cá thèn,

    Thì về Đa Bút đi rèn với anh.

    Một ngày ba bữa cơm canh.

      Lấy chồng thợ mộc sướng sao

    Mạt cưa rấm bếp, vỏ bào nấu cơm.

    Vỏ bào còn nỏ hơn rơm,

    Mạt cưa rấm bếp còn thơm hơn trầm.

    Để em gánh đục gánh bào đi theo.

      Cha mẹ giàu con thong thả,

    Cha mẹ nghèo con vất vả gian nan.

    Sớm mai lên núi đốt than,

    Chiều về xuống biển đào hang bắt còng.

      Miệng bà đồng, như lồng chim khướu.

    Thứ nhất thục bi, thứ nhì quản tượng.

      Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi

    Mua trâu xem vó, mua chó xem chân

      Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

    Trâu ăn cho béo trâu cày cho sâu.

    Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

      Tháng sáu thì cấy cho sâu

    Tháng chạp cấy nhảy mau mau mà về.

    Mưa sớm ở nhà phơi thóc

      Mồng chín tháng chín không mưa

    Mẹ con bán cả cày bừa mà ăn

    Mồng chín tháng chín có mưa

    Mẹ con đi sớm về trưa mặc lòng.

      Ơn trời mưa nắng phải thì

    Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu

    Công lênh chẳng quản ai đâu

    Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.

      Tháng chạp cày vỡ ruộng ra

    Tháng giêng làm mạ mưa sa đây đồng

    Ai ơi cùng vợ cùng chồng

    Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.

    Trong bài viết này có rất nhiều các câu ca dao tục ngữ hay và thiết thực cho tất cả mọi người không chỉ trong việc định hướng nghề nghiệp chọn nghề mà cả những kinh nghiệm sống thực tế rất hữu ích để áp dụng vào cuộc sống hằng ngày của bạn thân. Bạn cũng có thể dùng những câu tục ngữ này để chia sẻ hay truyền đạt lại cho thế hệ sau hoặc góp ý bạn bè người thân để mọi người cùng tiến bộ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Thành Ngữ Và Tục Ngữ
  • Đoàn Kết, Thương Yêu Nhau Vốn Là Một Truyền Thống Quý Báu Của Con Người Việt Nam, Dân Tộc Việt Nam. Em Hiểu Về Điều Này Như Thế Nào Qua Tục Ngữ, Ca Dao?
  • Phân Biệt Tục Ngữ, Thành Ngữ Và Ca Dao
  • Những Câu Nói Hay Về Khiêm Tốn: 50+ Danh Ngôn Hay
  • Phân Biệt Thành Ngữ Với Tục Ngũ
  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Cái Đẹp, Kinh Nghiệm Sống, Nụ Cười

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài 9: Kính Trọng, Biết Ơn Người Lao Động
  • Em Hãy Tìm Một Số Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Sự Kính Trọng Và Lòng Biết Ơn Thầy Cô Giáo
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Tục Ngữ Ca Dao
  • Kho Tàng Lục Bát Dân Gian
  • Tổng hợp những ca dao tục ngữ hay về cái đẹp, kinh nghiệm sống, nụ cười

    Ca dao tục ngữ nào hay về cái đẹp, kinh nghiệm sống, nụ cười nhỉ?

    Gặp em thấy khéo miệng cười

    Thấy xinh con mắt, thấy tươi má hồng

    Câu ca dao này thể hiện hàm ý là Đối với chàng trai là vậy, còn đối với cô gái vẻ đẹp của cơ thể còn quan trọng hơn nữa, từ mái tóc, khuôn mặt đến dáng hình, tất cả đều có thể gợi lên rung động về tình yêu, về cái đẹp.

    2.

    Mình về mình nhớ ta chăng

    Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.

    Câu ca dao này không nói đến hàm răng mà nói đến vẻ đẹp gắn với chúng, toát ra từ chúng

    3.

    Năm quan mua lấy miệng cười

    Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen

    Có rất nhiều câu khen cái đẹp của miệng cười.Không phải ngẫu nhiên mà trong ca dao, khi nhắc đến vẻ đẹp của con người, người ta lại nói đến nụ cười và hàm răng.

    4.

    Ngó lên lỗ miệng em cười

    Như búp sen nở, như mặt trời mới lên

    Đây có lẽ cũng là một nét riêng của thẩm mỹ người Việt. Người nước ngoài thường nhận xét người Việt Nam hay cười

    5.

    Một cái cười bằng mười thang thuốc bổ

    Câu này rất quen thuộc rồi, nụ cười của những ai có cái miệng xinh, có hàm răng đẹp thường mang lại một khoái cảm thẩm mỹ, sự quyến rũ và tình cảm yêu mến,

    6.

    Vàng thật chẳng sợ chi lửa

    Vàng ở đây được hiểu là lòng trong sáng, ngay thẳng. Lửa là lòng tham đố kỵ, ganh gét. Câu này có nghĩa là nếu ai không có chí , không vững vàng thì sẽ dễ bị lay động bởi những tác động xung quanh.

    7.

    Thức đêm mới biết đêm dài

    Ban đêm thì chúng ta sẽ ngủ, và khi ngủ thì não sẽ của ta sẽ nghỉ ngơi và không quan tâm đến vấn đề thời gian nên thời gian trôi nhanh, còn khi bạn thức thì não vẫn hoạt động cho nên thời gian trôi rất lâu.

    8.

    Lần trước bị đau, lần sau phải chừa

    Ý muốn nói về kinh nghiệm sống, như chúng ta đang đi trên con đường đầy chông gai và khó vượt qua, sau này ta rút kinh nghiệm ta sẽ đi đường khác.

    9.

    Thất bại là mẹ thành công

    Câu tục ngữ trên là một lời dạy bảo thiết thực vể những kinh nghiệm trong cuộc sống. Khi hiểu được ý nghĩa của câu tục ngữ rồi, ta có thể tự tin hơn trước những thất bại, khó khăn trong cuộc sống

    10.

    Trăm nghe không bằng một thấy

    Ngụ ý câu nói này là một lời khuyên dành cho mọi người về sự cần thiết của việc nhìn tận mắt, không nên tin theo nhưng lời đồn đại mà đôi khi phải gánh thiệt vào thân.

    11.

    Câu tục ngữ này có nghĩa đen là người bịđiếcthì tiếngsúngkhông thể làm họgiật mình. Nghĩa bóng là người chưa biếtsự việcđó hoặc chưa từngtrải quanỗisợ hãiđó thì không biết sợ, họ vẫn làm.

    12.

    Đi một ngày đàng, học một sàng khôn

    Với câu tục ngữ này, ông cha ta đã mách bảo, khuyên dạy rằng, muốn nên người, muốn hiếu biết nhiều, có kiến thức rộng, am hiểu sự đời, phải lăn lộn với cuộc sống, phải đi nhiều, phải đi đây đó để thu lượm, học hỏi những tri thức của cuộc sống để nâng cao, mở rộng tầm nhìn, tầm hiểu biết của bản thân mình.

    13.

    Thua keo này, bày keo khác

    Câu này sẽ tùy thuộc vào bản chất của đối tượng mà trong sử dụng. Với những người có tư tưởng làm việc phục vụ cho lợi ích nhân dân, thành ngữ thua keo này bày keo khác, thể hiện sự kiên trì phấn đấu để đạt mục đích.

    14.

    Cái răng cái tóc là góc con người

    Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

    Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.

    Câu ca dao có nghĩa không nên quá coi thường hình thức. HÌnh thức có thể làm tăng giá trị của nội dung, đồng thời hình thức cũng có thể phá hoại nội dung, hạ thấp nội dung.

    17.

    Người đẹp vì lụa,lúa tốt vì phân

    Ý nghĩa của câu này là mỗi người đẹp vì lụa có nghĩa là người được mọi người xem là đẹp khi trang trí cho mình những bộ đồ sang trọng và quý phái để đánh giá con người vì thế đặt ra những chuẩn mực riêng.

    18.

    Cái nết đánh chết cái đẹp

    Câu tục ngữ bao hàm một nghĩa rộng, nó nêu lên một bài học, một nhận xét sấu sắc. Đạo đức là cái gốc của con người. Người vô đạo đức là con người không có nhân cách. Đức hạnh được coi trọng hơn nhan sắc.

    19.

    Bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người

    Câu tục ngữ này là bài học rất thú vị cho mỗi người chúng ta. Hình thức tạo được ấn tượng ban đầu, trí tuệ khiến mọi người nhớ bạn lâu hơn. Vẻ đẹp hình thức có thể được tạo ra bởi bộ đồ bạn đang mặc, trang sức bạn đang đeo nhưng vẻ đẹp của tri thức được tạo ra bởi chính quá trình học hỏi, phấn đấu của mỗi con người.

    20.

    Trúc xinhtrúc mọc đầu đình

    Em xinhem đứng một mình cũng xinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Kinh Nghiệm Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Sự Chăm Chỉ, Siêng Năng, Cần Cù, Cố Gắng, Kiên Trì
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Học Tập, Ham Học Hỏi
  • Tổng Hợp Những Câu Tục Ngữ Hay Về Mẹ
  • Top Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Mẹ, Tình Mẫu Tử Hay Ý Nghĩa Nhất
  • Hãy Giải Thích Một Số Câu Ca Dao Tục Ngữ Kể Về Kinh Nghiệm Trồng Trọt ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Phật Dạy Về Đạo Đức Gia Đình
  • #99 Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Chị Gái Hay “đi Vào Lòng Người”
  • Top Những Lời Chúc Tết Độc Đáo Và Ý Nghĩa Nhất Năm 2022
  • Tập Hợp Những Câu Nói Hay Về Quê Hương Đong Đầy Tình Cảm
  • Lời Chúc Tết Sếp 2022, Chúc Mừng Năm Mới Quản Lý Ấn Tượng, Được Lòng N
  • Câu 1: Đây là kinh nghiệm về đặc điểm thời tiết các mùa trong năm:

    Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, Ngày tháng mười chưa cười đã tối.

    Nghĩa đen của câu tục ngữ này là: tháng năm (Âm lịch), thì đêm ngắn, ngày dài, tháng mười thì đêm dài, ngày ngắn. Cách nói cường điệu có tác dụng nhấn mạnh đặc điểm ấy: chưa nằm đã sáng, chưa cười đã tối. Phép đối xứng giữa hai vế câu làm nổi bật sự trái ngược trong tính chất của đêm mùa hạ và ngày mùa đông.

    Có thể vận dụng nội dung của câu tục ngữ này vào chuyện tính toán, sắp xếp công việc hoặc giữ gìn sức khỏe trong mùa hè và mùa đông.

    *Câu 2: Là nhận xét và kinh nghiệm phán đoán nắng mưa:

    Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa.

    Câu này có hai vế đối xứng, nhấn mạnh ý: Sự khác biệt về mật độ sao trên bầu trời đêm trước sẽ dẫn đến sự khác biệt về hiện tượng mưa, nắng trong những ngày sau đó.

    Vế Mau sao thì nắng: Mau có nghĩa là dày, nhiều. Đêm nhiều sao thì hôm sau trời nắng.

    Vế vắng sao thì mưa: vắng có nghĩa là ít, thưa… Đêm ít sao thì ngày hôm sau trời sẽ mưa.

    Nghĩa cả câu: Đêm trước nhiều sao báo hiệu ngày hôm sau sẽ nắng. Đêm trước ít sao báo hiệu ngày hôm sau sẽ mưa.

    Kinh nghiệm này được đúc kết từ hiện tượng trông sao đoán thời tiết đã có từ lâu của nông dân ta và nó đã được áp dụng thường xuyên trong sản xuất nông nghiệp và trong sinh hoạt. Nắm được thời tiết (mưa, nắng) để chủ động sắp xếp công việc. Vì các phán đoán về hiện tượng thiên nhiên phần lớn dựa trên kinh nghiệm cho nên không phải lúc nào cũng đúng.

    *Câu 3: Là kinh nghiệm về hiện tượng thời tiết trước khi có bão:

    Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ.

    Ráng là màu vàng xuộm của mây do mặt trời chiếu vào. Ráng mỡ gà thường xuất hiện ở phía chân trời trước khi có giông bão. Nó như điềm báo trước để con người biết mà lo chống giữ nhà cửa cho chắc chắn nhằm giảm bớt tác hại ghê gớm do bão gây ra.

    Câu tục ngữ này đã lược bỏ một số thành phần để thành câu rút gọn, nhấn mạnh vào nội dung chính để mọi người dễ nhớ.

    Dân gian không chỉ dựa vào hiện tượng ráng mỡ gà mà còn dựa vào hiện tượng chuồn chuồn bay để đoán bão. Câu tục ngữ: Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão cũng đúc kết kinh nghiệm này.

    Hiện nay, ngành khí tượng đã có nhiều phương tiện khoa học hiện đại để dự báo bão khá chính xác nhưng những kinh nghiệm dân gian vẫn còn tác dụng.

    *Câu 4: Là kinh nghiệm về hiện tượng thời tiết trước khi có lụt:

    Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt.

    Cứ đến tháng bảy (Âm lịch) mà kiến rời khỏi tổ từng đàn lớn, kéo nhau từ chỗ đất thấp lên chỗ đất cao thì nhất định thể nào cũng xảy ra lụt lội.

    Ở nước ta, mùa lũ thường xảy ra vào tháng tám nhưng có năm kéo dài sang cả tháng chín, tháng mười. Từ thực tế quan sát được nhiều lần, nhân dân tổng kết thành quy luật. Kiến là loại côn trùng rất nhạy cảm với những thay đổi của khí hậu, thời tiết. Khi trời sắp có những đợt mưa to kéo dài, các loại kiến từ trong tổ kéo ra đàn đàn lũ lũ, di chuyền chỗ ở lên cao để tránh bị ngập nước và để bảo tồn nòi giống.

    Câu tục ngữ này chứng tỏ người xưa quan sát tỉ mỉ những biểu hiện nhỏ nhất trong thế giới tự nhiên, từ đó rút ra những nhận xét chính xác, lâu dần thành kinh nghiệm. Kinh nghiệm này nhắc nhở mọi người phải chuẩn bị phòng chống lũ lụt sau tháng bảy Âm lịch.

    *Câu 5: Là nhận xét của nông dân về giá trị của đất đai:

    Tấc đất, tấc vàng.

    Hình thức câu tục ngữ này được rút gọn tối đa chỉ có bốn tiếng chia thành hai vế đối xứng rất dễ hiểu, dễ nhớ. Nội dung của nó nêu bật giá trị của đất đai canh tác.

    Tấc là đơn vị đo lường cũ trong dân gian bằng 1/10 thước. Đất là đất đai trồng trọt chăn nuôi . Tấc đất: mảnh đất rất nhỏ. Vàng là kim loại quý thường được cân đo bằng cân tiểu li, hiếm khi đo bằng tấc thước. Tấc vàng chỉ lượng vàng lớn , quý giá vô cùng. Câu tục ngữ đã lấy cái có giá trị rất nhỏ (tấc đất) để so sánh với cái có giá trị rất lớn (tấc vàng) để khẳng định giá trị của đất đai đối với nhà nông. Nghĩa của cả câu là: một mảnh đất nhỏ bằng một lượng vàng lớn. Đất cũng quý giá như vàng, có khi còn quý hơn vàng.

    Đất quý giá vì đất nuôi sống con người. Con người phải đổ bao mồ hôi, xương máu mới có được đất đai. Đất là một loại “vàng” đặc biệt có khả năng sinh sôi vô tận. Vàng thật dù nhiều đến đâu nhưng ngồi không ăn mãi cũng hết (Miệng ăn núi lở), còn chất vàng của đất đai khai thác hết thế hệ này sang thế hệ khác, mãi mãi không bao giờ vơi cạn.

    Vì thế con người cần sử dụng đất đai sao cho có hiệu quả nhất.

    Người ta có thể sử dụng câu tục ngữ này trong nhiều trường hợp. Chẳng hạn như: để phê phán hiện tượng lãng phí đất; để đề cao giá trị của đất và thể hiện sự gắn bó yêu quý đất đai của người nông dân.

    *Câu 6: Là nhận xét và kinh nghiệm về hiệu quả của các hình thức chăn nuôi, trồng trọt:

    Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền.

    Chuyển câu tục ngữ này từ tiếng Hán Việt sang tiếng Việt thì nó có nghĩa là: thứ nhất nuôi cá, thứ nhì làm vườn, thứ ba làm ruộng. Thứ tự nhất, nhị, tam cũng là thứ tự lợi ích của các nghề nuôi cá, làm vườn, trồng lúa mang lại cho người nông dân.

    Trong các nghề kể trên, đem lại nhiều lợi ích nhất là nuôi cá (canh trì), tiếp theo là nghề làm vườn (canh viên), sau đó là làm ruộng (canh điền).

    Bài học rút ra từ câu tục ngữ trên là: Muốn làm giàu, cần phải phát triển nuôi trồng thủy sản. Trong thực tế, bài học này đã được áp dụng triệt để. Nghề nuôi tôm, cá ở nước ta ngày càng được đầu tư phát triển, thu lợi nhuận lớn gấp nhiều lần trồng lúa.

    Nhưng không phải thứ tự trong câu tục ngữ áp dụng nơi nào cũng đúng mà chúng phụ thuộc vào đặc điểm địa lí tự nhiên của từng vùng. Ở vùng nào có đặc điểm địa lí phong phú thì cách sắp xếp theo trật tự đó là hợp lí nhưng đối với những nơi chỉ thuận lợi cho một nghề phát triển, chẳng hạn nghề làm vườn hay làm ruộng, thì vấn đề lại không như vậy. Nói tóm lại, con người phải linh hoạt, sáng tạo trong công việc để tạo ra nhiều của cải vật chất nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.

    *Câu 7: Nội dung câu này khẳng định tầm quan trọng của các yếu tố cần thiết của nghề trồng lúa:

    Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.

    Phép liệt kê có tác dụng vừa nêu rõ thứ tự, vừa nhấn mạnh vai trò của từng yếu tố. Các chữ nhất, nhị, tam, tứ có nghĩa là: thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư. Nghĩa cả câu là: Thứ nhất là nước, thứ hai là phân, thứ ba là chuyên cần, thứ tư là giống. Kinh nghiệm này được đúc kết từ nghề trồng lúa nước là phải bảo đảm đủ bốn yếu tố: nước, phân, cần, giống, trong đó yếu tố quan trọng hàng đầu là nước. Nước có đủ thì lúa mới tốt, mùa màng mới bội thu.

    Câu tục ngữ trên giúp người nông dân thấy được tầm quan trọng của từng yếu tố cũng như mối quan hệ chặt chẽ giữa các yếu tố đối với nhau. Bài học kinh nghiệm này rất có ích đối với một đất nước phần lớn dân số sống bằng nghề nông. Nông dân ta còn nhấn mạnh: Một lượt tát, một bát cơm. Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân. Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn…

    *Câu 8: Là kinh nghiệm trong việc trồng lúa nói riêng và trồng trọt các loại cây khác nói chung:

    Nhất thì, nhì thục.

    Hình thức câu tục ngữ này đặc biệt ở chỗ nó được rút gọn tối đa và chia làm 2 vế đối xứng. Nội dung nhấn mạnh hai yếu tố thì và thục. Thì: là thời vụ. Thục: là đất canh tác phù hợp với từng loại cây. Nội dung câu tục ngữ này khẳng định trong trồng trọt, quan trọng nhất là thời vụ (thời tiết), thứ hai là đất canh tác.

    Kinh nghiệm này đã đi sâu vào thực tế sản xuất nông nghiệp ở nước ta. Nghề trồng lúa nhất thiết phải gieo cấy đúng thời vụ và sau mỗi vụ thu hoạch phải tập trung cải tạo đất để chuẩn bị tốt cho vụ sau. Có như vậy thì công sức lao động vất vả của người nông dân mới được đền bù xứng đáng bằng những mùa lúa bội thu.

    Qua các câu tục ngữ trên, ta có thể rút ra đặc điểm chung về mặt hình thức của chúng ta là ngắn gọn, thường dùng phép đối, có vần điệu nhịp nhàng nên dễ đọc dễ nhớ. Có những câu không thể thu gọn được hơn nữa (Ví dụ: Tấc đất, tấc vàng). Tuy hình thức tục ngữ ngắn gọn nhưng nội dung của nó cô đọng và hàm súc.

    Các hình ảnh trong tục ngữ thường cụ thể và sinh động. Người xưa hay sử dụng cách nói thậm xưng để khẳng định nội dung cần thể hiện. Ví dụ: Chưa nằm đã sáng; chưa cười đã tối; tấc đất; tấc vàng… Do vậy mà sức thuyết phục của tục ngữ cao hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 1001 Lời Chúc Sinh Nhật Bạn Thân Hay Bá Đạo Và Ý Nghĩa Độc Nhất Trên Facebook
  • Những Lời Chúc Sinh Nhật Dành Cho Người Yêu Hay Nhất
  • Tin Nhắn Sms Kute Lời Chúc Halloween Hay, Dễ Thương Và Ý Nghĩa Nhất
  • 999+ Những Câu Nói Hay Về Sách Và Thói Quen Đọc Sách
  • Tổng Hợp Những Stt Cảm Xúc Nhất Về Tháng 11 Heo May
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Kinh Nghiệm Sản Xuất Của Ông Cha Ta

    --- Bài mới hơn ---

  • 50 Câu Stt Yêu Đơn Phương Bạn Thân Hay Nhất Mọi Thời Đại
  • Những Dòng Stt Kỉ Niệm 1 Năm Yêu Nhau Ý Nghĩa Nhất Dành Cho Các Cặp Đôi
  • Trọn Bộ Status Kỉ Niệm 1 Năm Yêu Nhau, Kỉ Niệm 1 Năm Yêu Nhau Viết Gì Cho Ngầu
  • Lời Chúc Tết Dành Cho Bố Mẹ Chồng (Bố Mẹ Vợ) Ý Nghĩa Nhất
  • Stt Lời Chúc Mừng Khai Trương Hồng Phát Cửa Hàng Spa Làm Đẹp Hay Nhất
  • Việt Nam ta có kho tàng tục ngữ, ca dao rất phong phú và đa dạng. Tục ngữ, ca dao là những câu nói ngắn gọn thể hiện kinh nghiệm của dân gian về nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội trong đó có lao động sản xuất. Những kinh nghiệm đó xuất phát từ thực tế việc quan sát công cuộc lao động để sản xuất ra của cải vật chất của dân gian. Mỗi câu ca dao, tục ngữ biểu thị một ý nghĩa riêng.

    Ca dao, tục ngữ với ý nghĩa nhằm nêu ra một vấn đề gì đó về tình cảm, hay phê phán lên án, nhắn nhủ, … Và bài viết này vforum sẽ đề cập đến vấn đề liên quan đến ca dao, tục ngữ đó là Những câu ca dao, tục ngữ về kinh nghiệm sản xuất của ông cha ta? Sau đây hãy cùng vforum tìm hiểu nhé.

    Những câu ca dao, tục ngữ về kinh nghiệm sản xuất của ông cha ta

    1.

    Qua câu tục ngữ, ông cha ta muốn khẵng định giá trị của đất. có đất có thể làm ra tất cả nhưng vàng thì không thể. Vì vậy khi có phải biết tôn trọng những gì mình có, đừng bỏ lãng phí nó một cách vô nghĩa.

    2.

    Nhất canh trì, nhị canh viên , tam canh điền

    Câu tục ngữ này đề cập đến giá trị kinh tế của các mô hình lao động của nhà nông. Theo đó, làm ao mang lại giá trị kinh tế lớn nhất, tiếp đến là làm vườn rồi mới đến làm ruộng.

    3.

    Nhất nước , nhì phân , tam cần, tứ giống.

    Câu tục ngữ này được đúc kết từ kinh nghiệm trồng trọt bao nhiêu năm của ông cha ta. Bốn yếu tố qua trọng nhất trong việc để cho thu hoạch cao là: nước, phân bón, sự cần cù, cuối cùng là giống có tốt hay không.

    4.

    Câu tục ngữ này khẳng định tầm quan trọng của thời vụ, đất đai đã được khai phá, chăm bón đối với cây trồngNhất thì là ám chỉ phải đúng thời vụ, nhì tục là nói đến đất đai phải.

    5.

    Thứ nhất cày nỏ, thứ nhì bỏ phân.

    6.

    Tốt giếng tốt má, tốt mạ tốt lúa.

    7.

    Trồng tre đất sỏi, trồng tỏi đất bồi.

    Câu tục ngữ có nghĩa là khi trồng tre thì bạn nên trồng ở đất sỏi, còn trồng tỏi thì trồng ở đất bồi. Đây là kinh nghiệm mà ông cha ta quan sát và truyền lại cho con cháu.

    8.

    Một cục đất ải bằng một bãi phân.

    Câu tục ngữ này đối với bà con nông dân miền Bắc hay miền Trung thì khá tinh thông, ai ai cũng biết. Vì vậy, đã từ lâu kỹ thuật làm đất này đã được đúc kết thành câu nói này

    9.

    Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng

    Ngày tháng mười chưa cười đã tối.

    Đây là câu ca dao mà ông cha đã truyền lại cho chúng ta rất chính xác nhờ vào những gì mà mình đã đúc kết được trong cuộc sống mà ngày nay nó vẫn rất khả thi.Ý nghĩa là tháng năm thì thời gian ban ngày dài hơn thời gian ban đêm, còn vào tháng mười thì thời gian ban ngày ngắn hơn thới gian ban đêm.

    10.

    Mau sao thì nắng , vắng sao thì mưa

    Câu tục ngữ này là một kinh nghiệm hay và đúng đắn về dự báo thời tiết khi trời đang ở vào lúc mùa hè.

    11.

    Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ.

    Câu tục ngữ là một kinh nghiệm quý báu về dự báo thời tiết. Ráng mỡ gà là ráng vàng tươi óng ánh. Có ráng mỡ gà xuất hiện ở trên bầu trời, nhân dân ta biết trời sắp nói gió to, sắp bão, cần phải chuẩn bị giữ gìn, chằng buộc, chống đỡ, nhất là nhà gianh vách đá

    12.

    Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt

    Ngày xưa , ông cha ta thấy kiến bò là đoán lụt và hay đề phòng lũ lụt sau tháng 7 âm. Do kiến là loại bò sát nên có thể biết được những thiên tai trước con người 1 cách nhanh nhạy , nó bò để chuẩn bị thức ăn , nơi trú ẩn để tránh nạn ( các bạn quan sát sẽ thấy trước khi mưa kiến thường bò đoàn dài trên tường )

    13.

    Mây xanh thì nắng mây trắng thì mưa

    Đây là kinh nghiệm dân gian về dự báo thời tiết : khi nhìn lên bầu trời thấy trời cao , mây trong xanh thì không có mưa , người lại thấy mây trắng bay đầy, bầu trời thấp thì sẽ có mưa .

    14.

    Tháng bảy heo may chuồn chuồn bay thì bão

    Tháng bảy (âm lịch) có gió bấc thổi và chuồn chuồn bay ra nhiều là trời sắp có bão. Đây là kinh nghiệm mà ông cha ta đã đúc kết được để nhắc nhở con cháu trong sản xuất

    15.

    Gió nam đưa xuân sang hè

    Khi thấy gió nam thì chúng ta sẽ biết được trời xuân đã chuyển sang hè, câu tục ngữ này giúp ta biết được thời tiết để có thể chuẩn bị cho việc sản xuất đạt kết quả tốt.

    16.

    Nhai kĩ no lâu cày sâu tốt lúa

    Đây là câu tục ngữ về kinh nghiệm sản xuất, cụ thể hơn là sản xuất nông nghiệp, mà trong canh tác nông nghiệp thì cây lúa là cây lương thực số một của người Việt nam ta. Muốn lúa sinh trưởng và phát triển tốt, một trong những điều quan trọng là cần chuẩn bị đất thật kĩ, điều này thể hiện qua vế câu: cày sâu tốt lúa.

    17.

    Giàu nuôi lợn nái lụi bại nuôi bồ câu

    Ông cha ta muốn nói là nuôi lợn thì sẽ giàu có và thành công hơn bồ câu, tuy nhiên đây là quan niệm đã quá xư cũ.

    18.

    Tháng giêng là tháng ăn chơi

    Tháng hai trồng đậu trồng khoai trồng cà

    Tháng ba thì đậu đã già

    Ta đi ta hái về nhà phơi khô

    Tháng tư đi tậu trâu bò

    Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm.

    Với người Việt, cho dù làm nghề gì, cũng đều nhất thiết phải có thời gian nghỉ ngơi tích cực, dài ngắn khác nhau tùy mùa vụ cụ thể từng ngành nghề để bù lại thời gian lao động cực nhọc. Và bài thơ này đã nêu lên cụ thể về vấn đề ấy.

    19.

    Đất thiếu trồng dừa đất thừa trồng cau

    Đây là kinh nghiệm mà ông cha ta đã để lại cho con cháu, một sự quan sát rất tinh tế của người xưa.

    20.

    Qua giêng hết năm qua rằm hết tháng

    Ý muốn nói qua giêng là qua những ngày lễ nghỉ tết của dân tộc ta thì con người lại phải đi làm vất vả, còn qua rằm là ngày 15 đã nữa tháng phóng đại thành hết tháng ám chỉ sự nhanh chóng.

    Trên đây là bài viết về Những câu ca dao, tục ngữ về kinh nghiệm sản xuất của ông cha ta, mong rằng bài viết này sẽ giúp ích các bạn biết nhiều hơn về những câu ca dao tục ngữ hay về kinh nghiệm sản xuất cũng như trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Danh Ngôn Về Sự Buông Tay
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Khi Chia Tay
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Khi Chia Tay Giúp Bạn Mạnh Mẽ Đứng Lên Bước Tiếp
  • Stt Tự Chúc Mừng Sinh Nhật Bản Thân Hay Nhất Tháng 8/2020
  • Lời Chúc Buổi Sáng Bằng Tiếng Anh Hay Nhất,ý Nghĩa Nhất
  • Đặc Điểm Hai: Tục Ngữ Ca Dao Nói Về Kinh Nghiệm Lao Động Sản Xuất Sử Dụng Nhiều

    --- Bài mới hơn ---

  • Stt Tết, Status Chúc Tết & Năm Mới Hạnh Phúc Sum Vầy Thật Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Hay Về Ngành Y: 52+ Danh Ngôn Hay
  • Những Lời Chúc Về Ngày Của Mẹ (Mother’s Day) Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Tổng Hợp Những Danh Ngôn Tiếng Anh Hay Nhất Về Tình Yêu Và Tình Bạn
  • Chúc Tết Chính Mình Và Để Vào Mùa Chay
  • Tải bản đầy đủ – 128trang

    2.1.1. Nghề trồng lúa:

    Nhƣ trong chƣơng I chúng tôi đã phân tích, trong số những câu tục

    ngữ nói về trồng trọt thì những câu nói về kinh nghiệm làm ruộng (gieo

    trồng, cày cấy và gặt hái) lại chiếm đa số (có 174 câu trên tổng số 438

    câu, chiếm tỷ lệ 39,7%). Còn ca dao thì cũng có tới 99 bài nói về nghề

    này (chiếm tỷ lệ 61,87%) mặc dù có những bài ca dao không chỉ nói về

    kinh nghiệm về trồng lúa mà còn đề cập cả đến kinh nghiệm khác nữa. Ví

    dụ:

    Tháng chạp là tháng trồng khoai,

    Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà.

    Tháng ba cày ruộng vỡ ra,

    Tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng.

    Tháng năm gặt hái đã xong,

    Nhờ Trời một mẫu năm nong thóc đầy.

    Năm nong đầu em xay, em giã,

    Trấu ủ phân, cám bã nuôi heo.

    Sang năm lúa tốt tiền nhiều,

    Em đem đóng thuế đóng sưu cho chồng.

    Đói no có thiếp có chàng,

    Còn hơn chung đỉnh giàu sang một mình.

    Có thể nói, cha ông ta đã đúc kết đƣợc những kinh nghiệm hết sức

    quý báu và phong phú về nghề làm ruộng.

    Nói đến trồng trọt thì từ xƣa tới nay trồng lúa đã và đang là một

    trong những nghề chủ đạo sản xuất ra lúa gạo. Nếu nhƣ trƣớc đây, sản

    xuất ra lúa gạo trƣớc hết là nhằm phục vụ cho nhu cầu trong nƣớc thì khoảng

    một thập kỷ trở lại đây, ngƣời nông dân Việt Nam không chỉ sản xuất ra lúa

    gạo cho nhu cầu nội địa mà còn để xuất khẩu. Và gạo đã trở thành một trong

    những mặt hàng nông sản xuất khẩu nhiều nhất của Việt Nam.

    Về trồng lúa, ca dao có rất nhiều bài:

    82

    Bao giờ Mang hiện đến ngày,

    Cày bừa cho chín, mạ này đem gieo.

    Bao giờ nắng rữa bàng trôi,

    Tua Rua quặt lại, thời thôi cấy mùa.

    Tua Rua thì mặc Tua Rua,

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    Cày nông xấu lúa, xấu màu

    Thiệt mình, thiệt cả con trâu kéo cày.

    Và tục ngữ cũng vậy:

    – Cấy thưa hơn bừa kỹ.

    – Cấy thưa thừa thóc, cấy mau dốc bồ.

    – Cấy thưa thừa thóc, cấy dầy cóc được ăn.

    – Cơm quanh rá, mạ quanh bờ.

    – Chiêm cấy to tẽ, mùa cấy nhẻ con.

    – Làm ruộng tháng năm, coi chăm tháng mười.

    Có thể nói, trong ca dao cũng nhƣ trong tục ngữ nói về kinh nghiệm trồng

    lúa, chúng ta có thể thấy xuất hiện rất nhiều từ mà hễ chỉ cần nghe nhắc

    đến những từ đó là ngƣời đọc hay ngƣời nghe có thể nhận diện ngay lớp

    từ đó nói về ngành nghề gì. Chẳng hạn nhƣ tên của rất nhiều loại lúa mạ

    cũng nhƣ những đặc điểm của chúng : lúa chiêm, lúa mùa, lúa dé, lúa

    von, lúa bông vang, mạ, mạ chiêm, mạ mùa, chiêm gon, chiêm hoa

    ngâu,…trong các câu tục ngữ sau đây:

    – Chiêm cấy to tẽ, mùa cấy nhẻ con.

    – Chiêm cứng, ré mềm.

    – Lúa bông vang thì vàng con mắt.

    – Lúa chín hoa ngâu đi đâu chẳng gặt.

    – Lúa ré là mẹ lúa chiêm

    – Mạ chiêm đào sâu chôn chặt, Mạ mùa vừa đặt vừa đi.

    83

    – Mạ chiêm tháng ba không già, Mạ mùa tháng rưỡi ắt là không non.

    ra đây là những từ chuyên dùng trong gieo trồng và cấy lúa dù có thể họ

    không thể biết hết về đặc tính của các loại mạ, các loại lúa, không rõ thời

    gian nào thì ngƣời nông dân bắt đầu gieo trồng trên những loại ruộng,

    loại đất nhƣ thế nào và với kỹ thuật cày ra sao cấy cũng nhƣ thời điểm

    nào thì họ cấy gặt. Nhƣ vậy, trong nghề trồng lúa, từ xa xƣa, bao thế hệ

    nông dân đã đúc kết nên một hệ thống từ khá phong phú. Có thể liệt kê sơ

    bộ ra ở đây nhƣ sau:

    – Lớp danh từ: giống, giống lúa, lúa, vụ lúa, vụ chiêm, vụ mùa, lúa

    chiêm, lúa mùa, lúa dé, lúa gon, lúa bông vang, ruộng, đồng ruộng,

    bờ ruộng, ruộng ngấu, mạ già, mạ úa, mạ mùa, mạ chiêm, mạ non,

    thóc gạo, ruộng cao, ruộng thấp, ruộng khô, ruộng sâu (cấy trước),

    ruộng gò (cấy sau), ruộng góc, hàng sông, hàng con, bụi lúa, …

    – Lớp động từ: cấy, cày, bừa, gặt hái, làm ruộng, làm mùa, làm mạ, gặt

    chiêm, cấy trốc, cấy lúa, cấy thưa, cấy mau, vãi lúa, đi cày, cày sâu bừa

    kỹ, bừa cạn, cày sâu, cày nông, cắt rạ, trỗ (lúa, ngô bắt đầu ra hoa)…

    Có thể, nhiều từ thuộc lớp từ này sẽ đƣợc sử dụng trong nhiều ngữ

    cảnh, nhiều loại văn bản khác nhau. Ví dụ nhƣ từ cấy có thể đƣợc coi là

    một thuật ngữ trong y sinh học (cấy phôi) với ý nghĩa là gieo, cấy tế bào

    vào cơ thể. Nhìn chung, lớp từ này dù đƣợc dùng trong ngữ cảnh nào, loại

    văn bản nào thì ngƣời đọc lẫn ngừi nghe có thể xác định ngay: đó là

    những từ chuyên dùng trong một nghề mà hiện nay có tới khoảng 75%

    dân số Việt Nam theo làm – nghề trồng lúa.

    Thêm vào đó, một hệ thống từ vựng về gieo trồng cày cấy nhƣ nêu

    trên xuất hiện từ rất xa xƣa và tồn tại cho đến nay trong kho tàng văn hoá

    dân gian Việt Nam có thể coi là một trong những bằng chứng sống động,

    và quan trọng để chứng minh Việt Nam là một trong những cái nôi đầu

    tiên của nền văn hóa văn minh lúa nƣớc trong khu vực và trên thế giới.

    84

    đồng thời, nó cũng minh chứng cho lịch sử lâu đời của dân tộc Việt Nam

    từ thuở khai sinh.

    2.1.2. Trồng trọt các loại cây khác

    Ngoài cây lúa là loại cây lƣơng thực chủ đạo, ngƣời nông dân Việt

    Nam còn trồng trọt khá nhiều loại cây khác. Do vậy, căn cứ vào những

    sản xuất, chúng ta cũng sẽ gặp hàng loạt tên các loại cây trồng, trong số

    đó, có cả những cây lƣơng thực nhƣ khoai, đậu, ngô, đỗ, cà, bầu, bí nhƣ:

    Đất đập nhỏ, luống đánh to,

    Xung quanh rắc đậu, trồng ngô xen vào.

    Phân tro chăm bón cho nhiều,

    Đậu ngô hai gánh một sào không sai.

    Tháng chạp là tiết trồng khoai,

    Tháng giêng tưới đậu, tháng hai cấy cà

    Bên cạnh đó, ngƣời nông dân còn trồng cả các loại cây ăn quả nhƣ

    chanh, mít, dừa, chanh, cam, quýt…:

    – Cảnh cau, màu chuối

    – Mít chạm cành, Chanh chạm rễ

    – Mít tròn, dưa vẹo, thị méo trôn…

    2.2. Về những từ chuyên dùng nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm

    Cũng nhƣ trong chƣơng một chúng tôi đã phân tích, ở nƣớc ta,

    cùng với nghề trồng trọt (mà chủ yếu là trồng lúa) thì nghề chăn nuôi,

    đánh cá, trồng dâu nuôi tằm… cũng chiếm vị trí rất quan trọng trong lao

    động sản xuất nông nghiệp.

    Trong nghề chăn nuôi, từ xƣa chăn nuôi gia súc và gia cầm đã trở

    thành ngành chủ đạo. Đặc biệt là trong chăn nuôi các loại gia súc, chúng

    tôi nhận thấy con trâu là loại gia súc đƣợc ngƣời nông dân dành cho nhiều

    tình cảm nhất. Tổng số câu tục ngữ nói về kinh nghiệm chọn giống và

    chăn nuôi trâu mà chúng tôi thống kê đƣợc là 35 câu còn, ca dao là 6 bài.

    85

    Trƣớc hết, có thể thấy trong các loại gia súc, con trâu là con vật

    quen thuộc và gần gũi nhất đối với ngƣời nông dân. Hơn thế nữa, đối với

    họ thì “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Vì vậy, ngƣời dân lao động Việt

    Nam đã đƣa hình ảnh con trâu vào trong nhiều bài ca dao. Xuất hiện ở đó,

    con trâu dƣờng nhƣ đƣợc coi nhƣ là bạn cần mẫn của ngƣời nông dân

    trong lao động sản xuất:

    Trâu ơi! Ta bảo trâu này!

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

    Cấy cầy vốn nghiệp nông gia,

    Ta đây, trâu đấy ai mà quản công!

    Bao giờ cây lúa còn bông,

    Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

    Tiếng gọi Trâu ơi thật gần gũi. Ngƣời ta là ai thì trâu cũng là ai, thật bình

    đẳng, thân thiết. Và cũng chính vì đƣợc tình cảm gần gũi đối với con trâu

    nhƣ vậy nên ngƣời nông dân Việt Nam rất hiểu và cũng rất có kinh

    nghiệm trong việc chọn giống khi mua để có con trâu nhƣ ý cũng nhƣ rất

    có kinh nghiệm trong việc chăm nuôi để chúng có thể giúp ích tối đa cho

    mình trong sản xuất. Điều này thể hiện qua cách chọn và sử dụng từ của

    ngƣời sáng tác.

    Khi chọn giống mua trâu thì những con đƣợc việc sẽ là những con

    mà tóc chóp, hoa tai:

    – Trâu hoa tai, bò gai sừng.

    – Trâu tóc chóp, bò mũ chấn.

    Còn những con mà: tóc tạng, khoang nạng, vang trừng thì không nên

    mua vì đó là những con trâu rất phàm ăn mà lại dữ, rất nguy hiểm. Vì

    vậy khi quyết mua thì cần phải xem xét kỹ lƣỡng và nên lựa nái, xem vó,

    xem sừng:

    – Mua trâu lựa nái, mua gái lựa dòng.

    – Mua trâu xem sừng, mua chó xem chân.

    86

    – Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi.

    Và nên:

    – Cày trâu loạn, bán trâu đồ.

    Và trong quá trình chăn nuôi thì họ cũng rút ra nhiều kinh nghiệm với

    những con trâu nhƣ trâu he, trâu trắng, trâu hay, trâu gầy, trâu chậm,

    trâu ngơ… thì sẽ có những đặc điểm gì cần chú ý. Phải nói rằng, để tìm

    từ ngữ và cách diễn đạt thích hợp để nêu lên đặc điểm của từng loại nhƣ

    vậy quả là linh hoạt:

    – Trâu chậm uống nước dơ, Trâu ngơ ăn cỏ héo.

    – Trâu hay không ngại cày trưa.

    – Trâu thịt thì gầy, trâu cầy thì béo.

    – Trâu trắng đi đến đâu, mất mùa đến đấy.

    Đó là một loạt kinh nghiệm về chăn nuôi trâu – con vật đƣợc coi là gần

    gũi nhất với ngƣời nông dân. Qua tục ngữ cũng nhƣ ca dao nói về kinh

    nghiệm chọn giống và chăn nuôi trâu, bằng cách diễn đạt giản dị và

    những từ ngữ phong phú, chính xác, ngƣời đọc cảm nhận thấy ngƣời

    nông dân Việt Nam dƣờng nhƣ đã dành cho con trâu một tình cảm thân

    thiết, dƣờng nhƣ đã coi con trâu nhƣ một ngƣời bạn thực sự của mình

    trong công việc và dƣờng nhƣ đã hiểu khá rõ về tính cách cũng nhƣ đặc

    điểm của chúng.

    Bên cạnh đó, những gia súc đƣợc nhắc đến trong ca dao tục ngữ

    nói về kinh nghiệm chăn nuôi còn có con lợn (ca dao có 1 bài chiếm tỷ lệ

    0,66%, tục ngữ có 13 câu chiếm tỷ lệ 5.25%) và con bò (ca dao: 3 bài

    chiếm tỷ lệ 2%, tục ngữ 15 bài chiếm tỷ lệ 3,42%). Tuy nhiên có thể thấy,

    trong quan niệm và cách đối xử, bò lợn hay cả những gia cầm nhƣ gà vịt

    đều ở địa vị thấp hơn trâu rất nhiều vì nhiều khi bò, lợn đƣợc nhắc tới thì

    bị coi nhƣ thức ăn và bị có thành kiến là dốt nát.

    Trong những câu tục ngữ nói về kinh nghiệm chăn nuôi lợn, các

    tác giả cũng đƣa ra một loạt từ để chỉ đặc điểm cũng nhƣ tính chất của nó

    87

    nhƣ lợn đực là những con chuộng phệ, lợn sề là những con chuộng chỗm,

    lợn đói một bữa bằng người đói nửa năm, lợn đói một năm không bằng

    tằm đói một bữa…

    Còn trong kinh nghiệm chăn nuôi bò thì:

    – Bò đẻ tháng năm, nỏ bằm thì hư.

    – Bắt lợn tóm giò, bắt bò tóm mũi.

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá bò dò làm sao?

    Bên cạnh chọn giống và chăn nuôi gia súc, kinh nghiệm chọn

    giống, chăn nuôi gà, vịt và đánh bắt, nuôi thả cá cũng nhƣ nghề trồng dâu

    nuôi tằm cũng đƣợc ngƣời xƣa đã đúc kết lại khá súc tích bằng cách chọn

    lựa từ vựng sao cho hợp lý mà lại hàm chứa đƣợc đầy đủ thông tin muốn

    truyền đạt. Ở những nghề này, có thể liệt kê một loạt từ vựng khá điển

    hình mà khi tiếp nhận là ngƣời đọc có thể phần nào nhận diện nó liên

    quan đến lĩnh vực nào. Sở dĩ chúng tôi nói phần nào là bởi vì nếu những

    từ và cụm từ này đứng một mình và tách ra khỏi văn cảnh là câu tục ngữ

    hay bài ca dao thì cũng rất có thể ngƣời đọc hay ngƣời nghe liên tƣởng

    tới một lĩnh vực nào đó chứ không hẳn là liên tƣởng đến kinh nghiệm về

    các nghề mà chúng tôi đang đề cập đến. Ví dụ:

    – Nghề trồng dâu nuôi tằm ( tục ngữ có 18 bài chiếm tỷ lệ 4,1%, ca dao

    có 23 bài chiếm tỷ lệ 15,33%): chăn tằm, ươm tơ, dâu, tằm xuân, nong

    tằm, nong kén, nén tơ, nuôi tằm, tằm đỏ cổ, vỗ dâu vào, chăn tằm lấy

    tơ, dâu cỏ lá nhỏ, dâu tàu to lá, giống dâu ưa nước…

    – Nghề chọn giống và chăn nuôi gà, vịt (tục ngữ có 11 câu chiếm tỷ lệ

    2,51%, ca dao có 2 bài chiếm tỷ lệ 1,33%): gà cỏ, gà cựa dài (thì rắn),

    gà cựa ngắn (thì mềm), gà đen chân trắng, gà trắng chân chì, gà ri,

    gà nâu, nuôi gà…

    – Nghề nuôi thả và đánh bắt cá (tục ngữ có 23 câu chiếm tỷ lệ 5,25%, ca

    dao có 4 bài chiếm tỷ lệ 2,66%): ao sâu tốt cá, cá mè, cá chép, vãi

    88

    chài, làm nghề chài cá, cầm chài, vãi cá, vào lộng ra khơi, đi biển làm

    nghề, giong câu, …

    3. TIỂU KẾT

    Nói tóm lại, ca dao tục ngữ truyền đạt kinh nghiệm lao động sản

    xuất bên cạnh những đặc điểm khá đặc sắc về ngữ âm, thì những đặc

    điểm về từ vựng lại khá đơn giản.

    Thứ nhất, về cơ bản, ca dao tục ngữ nói về kinh nghiệm sản xuất

    trong nông nghiệp nên hệ thống từ vựng đƣợc lựa chọn sử dụng bao gồm

    một tỷ lệ khá nhiều từ chuyên dùng trong trồng trọt (đặc biệt là gieo trồng

    và cày cấy lúa, cũng nhƣ là trồng trọt các loại cây nông nghiệp và các loại

    cây ăn quả) và chăn nuôi (những loài gia súc phục vụ trực tiếp cho công

    việc cày bừa của nhà nông nhƣ trâu bò, và các loài gia cầm nhằm cải

    thiện kinh tế nhƣ gà vịt). Đây những từ mà chúng tôi tạm gọi là từ thƣờng

    gặp trong sản xuất nông nghiệp: trong trồng trọt và chăn nuôi. Chúng tôi

    tạm gọi nhƣ vậy vì đây là hệ thống từ vựng mà khi nhắc tới thì phần lớn

    ngƣời ta sẽ liên tƣởng tới nghề nông.

    Thứ hai, trong ca dao và tục ngữ nói về kinh nghiệm sản xuất, các

    tác giả chủ yếu sử dụng từ thuần Việt với cách diễn đạt giản dị không khó

    hiểu. Số lƣợng từ Hán Việt chiếm tỷ lệ thấp, đặc biệt là trong ca dao; còn

    từ địa phƣơng đƣợc dùng rất ít, trong ca dao hầu nhƣ không xuất hiện.

    Sở dĩ, các tác giả từ thời xƣa đã rất quan tâm và chú trọng trong

    việc lựa chọn từ ngữ để đúc kết lại những kinh nghiệm quý báu trong ca

    dao và tục ngữ nói về kinh nghiệm lao động sản xuất hoàn toàn không có

    gì khó hiểu. Trái lại, điều đó đƣợc giải thích bằng những lý do xác đáng

    và hợp lý. Lý do chính là đối tƣợng hƣớng tới của tục ngữ ca dao nói về

    kinh nghiệm sản xuất là đại đa số những ngƣời thuộc tầng lớp nông dân.

    Mặc dù, ngày nay, nông dân Việt Nam đã có sự khác biệt rất lớn so với

    nông dân Việt Nam cách nay chỉ khoảng hai mƣơi, ba mƣơi năm nhƣng

    nhìn chung, nông dân là những ngƣời quanh năm vất vả, “bán mặt cho

    89

    đất, bán lưng cho trời”, những ngƣời ít có điều kiện học hành. Hơn thế

    nữa, nhiều ngƣời trong số họ có khi cả đời không bƣớc chân ra khỏi cổng

    làng do vậy cũng không có cơ hội tiếp xúc thế giới bên ngoài và mở

    mang kiến thức… Với những đối tƣợng này, việc không sử dụng nhiều từ

    Hán Việt cũng nhƣ từ địa phƣơng là hoàn toàn có lý và dễ hiểu. Vì nếu

    một câu tục ngữ, một bài ca dao muốn đi vào tâm thức ngƣời đọc, ngƣời

    nghe thì trƣớc hết nó không thể đƣợc tạo nên bằng nhiều từ ngữ xa lạ và

    khó hiểu mà từ Hán Việt cũng nhƣ từ địa phƣơng đƣợc coi là lớp từ mà ai

    ai khi gặp cũng có thể hiểu ngay và hiểu một cách chính xác.Thậm chí có

    khá nhiều từ Hán Việt nhiều khi còn gây khó hiểu hoặc hiểu sai nghĩa cho

    ngay cả những ngƣời có chút học vấn.

    Vì vậy, để cho tất cả những ngƣời nông dân suốt ngày, suốt tháng

    đầu tắt mặt tối có thể tiếp thu những kinh nghiệm quý báu, các tác giả từ

    thời xƣa đã cố gắng sử dụng ít những lớp từ gây khó hiểu mà chú trọng

    sử dụng nhiều từ thuần Việt cũng nhƣ cách diễn đạt dễ hiểu, dễ nhớ đối

    với ngƣời đọc. Và kết quả của việc chọn lựa cách sử dụng từ vựng đó

    chính là những thành quả mà ngƣời nông dân đạt đƣợc. Nhiều kinh

    nghiệm mà bao đời truyền lại đã trở thành những bài học ăn sâu vào tâm

    thức biết bao thế hệ nông dân. Những kinh nghiệm đó đã giúp cho ngƣời

    nông dân đỡ vất vả hơn, chủ động hơn sáng tạo hơn trong công việc của

    mình cũng nhƣ có đƣợc nhiều vụ mùa bội thu hơn, đời sống ngày càng

    đƣợc cải thiện và trở nên khấm khá hơn.

    Cuối cùng, từ vựng trong câu ca dao tục ngữ nói về kinh nghiệm

    sản xuất đƣợc lƣu truyền trong bao thế hệ ngƣời Việt là một trong những

    bằng chứng quan trọng chứng minh một hiện thực rằng Việt Nam là một

    trong những cái nôi đầu tiên của nền văn minh nông nghiệp lúa nƣớc

    trong khu vực và trên thế giới.

    90

    PHẦN KẾT LUẬN

    ao động là quá trình mà con ngƣời phát triển lý trí cũng nhƣ tôi

    L

    luyện cảm quan thẩm mỹ. Do đó, quá trình lao động là quá trình

    phát triển khoa học và văn nghệ. Những sáng tác dân gian trong mỗi thời

    kỳ lịch sử đều có liên hệ chặt chẽ với lao động và ngƣợc lại, những sản

    phẩm trong quá trình lao động ấy, những sáng tác truyền miệng lại cũng

    có mối liên hệ chặt chẽ với lao động sản xuất, đƣợc sản sinh trên cơ sở

    của lao động sản xuất. Cũng nhƣ các loại văn học truyền miệng khác,

    hiện thời chúng ta chƣa thể biết đƣợc tục ngữ và ca dao đã xuất hiện vào

    một thời kỳ nhất định nào trong lịch sử tồn tại của con ngƣời. Nhƣng

    chúng ta có thể tin đƣợc loại tục ngữ nói về kinh nghiệm lao động của

    ngƣời Việt và nói về các hiện tƣợng tự nhiên chắc đã phải ra đời từ rất

    sớm, tƣơng ứng với sự phát triển rất sớm của nền kinh tế nông nghiệp của

    nƣớc ta. Chính vì vậy, chúng tôi quyết định chọn ca dao, tục ngữ nói về kinh

    nghiệm sản xuất trong nông nghiệp làm đối tƣợng chính của đề tài.

    Nội dung chính của luận văn:

    * Về nội dung: Kinh nghiệm trong lao động sản xuất đƣợc đúc kết

    lại trong ca dao và tục ngữ trong hai mảng nội dung lớn là trồng trọt và

    chăn nuôi. Đây là hai nghề chính trong sản xuất lao động nông nghiệp

    của Việt Nam tự bao năm nay. Và cũng chính bởi lẽ đó mà có thể nói,

    những câu tục ngữ ca dao đúc kết những kinh nghiệm trong lao động sản

    xuất cũng chiếm một vị trí quan trọng trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt

    Nam.

    * Về đặc điểm ngữ âm: ca dao cũng nhƣ tục ngữ Việt Nam mang

    chủ đề kinh nghiệm lao động sản xuất đều là những đơn vị mang đặc

    trƣng chung của thơ ca Việt Nam là có vần và có nhịp. Đây có thể nói là

    91

    hai đặc điểm nổi bật của của ca dao tục ngữ nói chung và ca dao tục ngữ

    nói về kinh nghiệm lao động sản xuất nói riêng.

    đƣợc sáng tác theo thể lục bát và tuân thủ nghiêm chỉnh hiệp vần chung

    của thể thơ lục bát: chữ cuối câu trên phải vần với chữ thứ 6 câu dƣới và

    mỗi hai câu mỗi đổi vần, và vần luôn là vần bằng. Nhờ có vần, mỗi dòng

    ca dao không chỉ trở nên hài hoà, dễ nhớ, có nhạc điệu mà nó còn có thể

    truyền tải thông tin một cách đầy đủ và trọn vẹn hơn.

    Về nhịp điệu, ca dao nói về kinh nghiệm sản xuất rất đa dạng và

    linh hoạt. Nhờ vậy, những bài ca dao truyền đạt kinh nghiệm quý báu

    trong lao động sản xuất trở nên không đơn điệu, tẻ nhạt, cứng nhắc mà

    trái lại, nhờ có sự đan xen của các cách ngắt nhịp khác nhau ấy mà những

    kinh nghiệm quý báu ấy đƣợc truyền tải một cách trọn vẹn theo đúng tâm

    nguyện của những ngƣời đi trƣớc.

    – Về đặc điểm ngữ âm của tục ngữ nói về kinh nghiệm lao động:

    Tục ngữ đúc kết kinh nghiệm lao động sản xuất gồm hai loại: Loại câu

    không gieo vần và loại câu có gieo vần

    + Loại câu không gieo vần có thể là những tuy không vần vè nhƣng

    đƣợc chia làm hai vế rất cân đối nhau về ý tứ những cũng có thể là những

    câu không cân đối nhƣng khi đọc lên nghe rất xuôi tai. Ở những câu tục

    ngữ thuộc loại không gieo vần và cũng đặt không đối, ngƣời sáng tác có

    mục đích duy nhất là truyền lại kinh nghiệm của mình nên chỉ cốt sao cho

    ý đúng, lời gọn mà thôi.

    + Loại câu có gieo vần: nhìn chung, vị trí hiệp vần của tục ngữ Việt

    Nam nói chung và tục ngữ nói về kinh nghiệm sản xuất rất đa dạng vần

    rất phong phú với các loại vần khác nhau nhƣ vần lƣng, vần liền, vần

    cách tiếng. Nhìn chung, các kiểu vần này không tồn tại riêng rẽ mà luôn

    kết hợp một cách linh hoạt trong các đơn vị tục ngữ.

    92

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Status Con Gái Hay Dành Cho Các Cô Nàng Alone
  • 999+ Lời Chúc Sinh Nhật Bằng Tiếng Anh Cảm Động, Sâu Lắng Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Dối Trá Đang Suy Ngẫm Nhất Đời Người
  • Stt Tình Yêu Buồn Dành Cho Người Cô Đơn
  • Cảm Nhận Những Stt Về Hoa Quỳnh, Loài Hoa Lặng Lẽ Và Thanh Khiết Nhất Thế Gian
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Triết Lý Kinh Doanh Và Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Heo
  • Văn Thuyết Minh: Ca Dao
  • Tục Ngữ Ca Dao Và Thơ Nói Về Khỉ:
  • Ca Dao Lịch Sự Và Tế Nhị
  • Tổng Hợp Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Lòng Biết Ơn Là Gì?
  • Ca dao tục ngữ là kết tinh của trí tuệ, tình cảm và kinh nghiệm được đúc kết trong quá trình sinh sống, lao động của cha ông ta ngày xưa. Tư tưởng triết lý của ca dao tục ngữ được bao trùm lên nhiều lĩnh vực như kinh tế, thiên văn học, giáo dục,… Trong khi các doanh nghiệp ngày nay đang mày mò tự tìm ra cho mình những triết lý kinh doanh thì ông bà ta ngày xưa đã biết đúc kết, gom nhặt những kinh nghiệm của mình để vào trong ca dao tục ngữ.

    Làm ăn kinh doanh buôn bán cái gì cũng cần có tổ chức, phường hội liên kết để bảo vệ, giúp đỡ nhau. Đồng thời hạn chế những mâu thuẫn, xung đột có thể xảy ra.

    Ví dụ điển hình nhất chúng ta có thể thấy đó chính là “chợ”. Các tiểu thương trong chợ sẽ tổ chức, liên kết lại với nhau để hỗ trợ nhau buôn bán và bảo vệ quyền lợi tập thể khi có ai đó xâm phạm đến lợi ích của cả chợ.

    Câu ca dao tục ngữ này chỉ ra cho chúng ta thấy việc nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng trước khi đầu tư kinh doanh một sản phẩm là rất cần thiết. Không thể cứ đi bán một sản phẩm mà khách hàng không cần.

    Mùa đông thời tiết rất lạnh, không ai lại đi mua quạt mà chúng ta lại đi bán quạt. Mùa hè không phải mùa của quả hồng, mà lại lựa chọn đi bán hồng thì chi phí sẽ cao.

    Trong đầu tư kinh doanh, ai cũng muốn mình thu được nguồn lợi tương ứng với số tiền đầu tư mình bỏ ra. Chẳng ai mong muốn chỉ kiếm ít lãi cả.

    Như chúng ta đầu tư 500 triệu vào bất động sản. Một năm sau chúng ta mong rằng lợi nhuận thu về sẽ nhiều, được một nữa, hoặc gấp đôi so với số vốn bỏ ra. Chẳng ai muốn bỏ ra 500 triệu, sau một năm chỉ thu về vài triệu đồng cả.

    Ông bà ta đã chỉ ra rằng, tiền mà chỉ để trong nhà mãi thì nó cũng sẽ không sinh sôi nảy nở. Muốn kiếm thêm được nhiều tiền, để tiền đẻ ra tiền thì phải đầu tư kinh doanh, buôn bán.

    Ngày nay, chúng ta luôn tìm cách đa dạng hóa thu nhập, tìm cách tạo nguồn thu nhập thứ hai bằng việc đầu tư kinh doanh, đầu tư bất động sản hoặc thị trường chứng khoán.

    Nghệ thuật bán hàng đã được ông bà ta cân nhắc từ ngày xưa. Người bán hàng phải biết khéo léo, vui vẻ, hòa nhã và phục vụ tốt để khách hàng cảm thấy hài lòng và sẽ quay trở lại với cửa hàng. Nếu tỏ ra khó chịu, phục vụ không tốt sẽ khiến khách hàng không hài lòng và không muốn mua hàng nữa.

    Ví dụ như hai cửa hàng quần áo ở gần nhau. Một cửa hàng có cô chủ bán hàng rất thân thiện. Khách hàng có thể vào lựa và thử đồ thoải mái, đến khi hài lòng có thể mua. Cô luôn cười và không tỏ ra khó chịu. Thì khi đó, dù không có nhu cầu mua hàng khách hàng có thể vẫn sẽ mua và quay trở lại.

    Nhưng cửa hàng bên cạnh, cô chủ bán hàng mặt rất khó chịu, khách vào thử mà không mua sẽ bị chửi và cô sẽ tỏ thái độ. Điều đó làm khách hàng không hài lòng và dù có nhu cầu cũng không muốn mua nữa.

    Từ xưa cho đến ngày nay, việc buôn bán kinh doanh gian lận luôn bị phê bình và lên án. Việc treo đầu dê bán thịt chó là lừa dối, không trung thực với khách hàng chỉ để kiếm lợi về cho chính mình. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta phải luôn luôn trung thực, có gì bán đó để đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng và tạo lòng tin nơi khách hàng.

    Ví dụ như chúng ta mở cửa hàng mỹ phẩm cao cấp chính hãng nhưng lại kinh doanh, buôn bán những sản phẩm kém chất lượng, hàng nhái. Những sản phẩm này được bán ra với mức giá bằng với giá sản phẩm chính nhưng chất lượng lại không tốt. Nó làm ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng và làm mất lòng tin nơi khách hàng.

    Từ xưa, ông bà ta đã biết trong kinh doanh luôn cần phải xây dựng mối quan hệ. Mối quan hệ càng rộng thì buôn bán, kinh doanh sẽ thuận lợi hơn.

    Ví dụ như buôn bán mỹ phẩm, chúng ta cần có nhiều mối quan hệ để có thể tìm kiếm được nhiều nhà cung cấp uy tín, chất lượng và giá rẻ. Đồng thời, việc kinh doanh buôn bán cũng giúp chúng ta làm quen với nhiều người hơn, từ đó mở rộng mối quan hệ.

    Ông bà ta đã chỉ ra rằng, nếu kinh doanh buôn bán mà không bán được hàng đó là rủi ro lớn nhất. Vì vậy, nếu khách trả chưa đủ vốn thì hãy nài nỉ, thuyết phục để khách mua hàng. Còn nếu khách trả ngoài vốn thì bán luôn. Linh hoạt, nhanh nhẹn trong kinh doanh cũng là một lợi thế để giúp chúng ta bán được hàng.

    Việc lựa chọn địa điểm kinh doanh còn tùy thuộc vào số vốn mà chúng ta có. “Đông” có nghĩa là biển đông, nơi giao thương kinh tế với các nước bạn. Chỉ khi chúng ta có nhiều vốn mới quyết định đầu tư kinh doanh ở những thị trường rộng mở và phát triển như thế này. “Thái” Có nghĩa là là buôn về miền núi, nơi mà mức sống và thu nhập của người dân còn thấp. Chúng ta có thể dùng số vốn ít để bắt đầu kinh doanh, buôn bán ở đây.

    Phương châm này cho đến ngày nay vẫn được áp dụng. Để mở một cửa hàng làm tóc, nếu chúng ta có vốn lớn sẽ lựa chọn đầu tư mặt bằng ở trong trung tâm, ngoài mặt tiền, gần khu đông dân cư và xây dựng cơ sở hiện đại, đầy đủ. Nhưng ngược lại, nếu chúng ta không có nhiều tiền, địa điểm kinh doanh mà chúng ta lựa chọn có thể là ở vùng ngoại ô, gần chợ, mở một cửa tiệm nhỏ với một số dụng cụ cần thiết để kinh doanh. Do vậy, lựa chọn địa điểm kinh doanh còn tùy thuộc vào số vốn của mình có.

    Việc xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng rất quan trọng. Đó sẽ là những khách hàng trung thành và thường xuyên của chúng ta. Nhờ họ chúng ta có thể có thêm những khách hàng mới, khách hàng tiềm năng khác. Do vậy, việc tạo thiện cảm và xây dựng mối quan hệ với khách hàng luôn là vấn đề mà mỗi người bán hàng, người làm kinh doanh cần quan tâm

    Nguồn: bytuong

    --- Bài cũ hơn ---

  • #1 Những Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Di Tích Lịch Sử Ở Hậu Giang
  • Chùm Ca Dao Đặc Sắc Về Hà Nội
  • Kho Tàng Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín
  • Tổng Hợp Những Câu Đố Dành Cho Trẻ Mầm Non, 300 Câu Đố Hay
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Cò
  • Tục Ngữ, Ca Dao Dân Tộc Thái Và Tục Ngữ, Ca Dao Người Kinh (Cảnh Thụy)

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Lý Giáo Dục Trong Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Câu Nói Chân Thành Cảm Ơn Hay Nhất Cho Cuộc Sống
  • Status Buồn Người Ở Lại Và Người Ra Đi, Đến Một Lúc Nào Đó Nỗi Đau Ngày Xưa Sẽ Dịu Lại
  • Cực “thấm” Với Những Câu Nói Hay Về Du Lịch Bằng Tiếng Anh
  • Sms 8/3, Tin Nhắn Xếp Hình Chúc Mừng 8/3 Độc Đáo Nhất
  • Cộng đồng dân tộc Thái ở Việt Nam có khoảng hơn 1,5 triệu người, cư trú chủ yếu ở các tỉnh thuộc địa bàn Tây Bắc. Theo nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu, người Thái xuất hiện ở Tây Bắc cách đây hàng nghìn năm, qua các đợt di cư của tộc người Thái từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống và từ Thái Lan sang. Dân tộc Thái có truyền thống văn hóa lâu đời, đạt đến trình độ cao. Ngoài chữ viết, người Thái còn bảo tồn được kho tàng văn hóa, lễ hội, luật tục, tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú và đặc sắc.

    Cũng như kho tàng văn hóa các dân tộc khác, tục ngữ, ca dao của dân tộc Thái là một kho kinh nghiệm về sản xuất, đời sống tinh thần; qua đó, thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan, tư tưởng, tình cảm của con người. So sánh tục ngữ, ca dao của người Thái với người Kinh, chúng ta sẽ tìm thấy ở đó có sự tương đồng thú vị, trên cơ sở đó, có những phân tích, đánh giá và đặt ra những vấn đề cần lý giải.

    Trong khuôn khổ giới hạn, bài viết này, xin chỉ trình bày bước đầu so sánh, tìm hiểu những nét tương đồng về nội dung giữa tục ngữ, thành ngữ dân tộc Thái và với thành ngữ, tục ngữ dân tộc Kinh, trong khuôn khổ nguồn tư liệu còn hạn hẹp: “Luật tục Thái ở Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng (NXB Văn hóa dân tộc, 2012) và ” Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái” (Hội Văn nghệ dân gian- NXB Văn hóa dân tộc, 2012)

    Tổ chức xã hội theo truyền thống của người Thái là bản, mường. Bản của người Thái nhỏ nhất vài ba nóc nhà, lớn thì hàng chục, hàng trăm nhà. Trong cộng đồng ấy, con người được gắn kết với nhau bằng tình cảm và những luật tục, nghi lễ. Lễ hội “xên bản, xên mường” của người Thái kết tinh cao giá trị văn hóa, lịch sử và nhân văn. Do vậy, tục ngữ Thái khuyên răn con người ta sống phải biết yêu quý bản mường của mình, gắn kết với nơi ăn, trốn ở nơi mình sinh sống:

    – Rời nơi ăn chốn ở mãi mãi rồi cũng thành ma

    Tương tự như vậy, người Kinh có câu:

    Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn

    – Sểnh nhà ra thất nghiệp

    Tinh thần đoàn kết cộng đồng, muôn người như một, tạo thành sức mạnh được người Thái ví von bằng những hình ảnh rất cụ thể và gần gũi:

    – Chuối đến lúc trĩu buồng phải có cây chạc chống

    – Khỏe một mình làm không được

    Khôn một mình làm không xong

    Tương tự như vậy, tục ngữ người Kinh có những câu:

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

    Trong phạm vi rộng, tục ngữ Thái khuyên con người biết đoàn kết cộng đồng trong bản, trong mường; ở phạm vi hẹp, tục ngữ Thái khuyên con người đoàn kết anh em trong một nhà:

    Không nặng tiếng trái lời

    Để nhắc nhở anh chị em trong một nhà đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau, người Kinh cũng có những câu:

    – Anh em như thể chân tay

    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần

    – Khôn ngoan đá đáp người ngoài

    Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

    Điều thú vị là trong kho tàng ca dao, tục ngữ của người Thái và người Kinh, số lượng ca dao, tục ngữ nói về đoàn kết gia đình, đoàn kết cộng đồng khá phong phú. Qua đó cho thấy, tinh thần đoàn kết được xây dựng từ gia đình- tế bào của xã hội, được người Thái và người Kinh rất coi trọng. Nó là bài học của con người qua đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và chống kẻ thù để bảo vệ cuộc sống bình yên.

    Vượt lên những kinh nghiệm thông thường được con người đúc rút qua thực tiễn, thể hiện nhân sinh quan, mối quan hệ ứng xử giữa người với người, tục ngữ Thái còn có những câu đậm tính triết lý, khái quát những quy luật của tự nhiên, xã hội, thể hiện một trình độ tư duy cao, có tính biện chứng. Đọc những câu sau, ta thấy cái nhìn của người Thái về thế giới không phải là bất biến, trái lại, rất động:

    – Mưa nhiều không cần nắng, cũng nắng

    Nắng nhiều không cần mưa, cũng mưa

    – Không ai gặp xấu cả năm

    – Người ta có gặp vận rủi

    Qua vận rủi rồi cũng phải tới vận may

    Tuy thuộc hai nền văn hóa khác nhau, nhưng người Thái với người kinh lại gần nhau trong quan niệm về thế giới. Cả người Thái và người Kinh đều nhìn thế giới với con mắt “vạn vật hữu linh”. Tục ngữ Thái có câu :

    Một miếng đất bằng cái quạt cũng có chủ

    Cũng giống như câu tục ngữ của người kinh :

    – Đất có thổ công, sông có hà bá

    Nhìn sự thay đổi của tạo hóa theo quy luật, người Thái cũng có những câu thật triết lý :

    Cũng như người Kinh quan niệm :

    Quan niệm của người Thái về khả năng của con người trong nhận thức thế giới khách quan cũng rất gần với triết học hiện đại vì nó thừa nhận thế giới là vô cùng tận, nhận thức của con người về thế giới luôn hữu hạn :

    Những câu tục ngữ trên rất gần với quan niệm của Kinh qua các câu tục ngữ :

    – Không ai nắm tay được đến tối, gối tay được đến sáng

    Nhìn cuộc sống theo quy luật nhân quả, người Thái có cái nhìn rất hướng thiện :

    Làm ác thể nào cũng gặp ác

    Người không đáp thì ma cũng đáp

    Quan niệm đó trùng với quan niệm của người Kinh, tuy người Thái ít chịu ảnh hưởng bởi quan niệm của Phật giáo:

    – Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác

    Khi phát triển về trình độ tư duy, con người ta nhận thức được đúng với sai, thật với giả, mà cao hơn là phân biệt được sự khác nhau giữa hiện tượng và bản chất, hình thức với nội dung. Tục ngữ Thái có nhiều câu chỉ rõ mối quan hệ này:

    – Người đi kẻ lại phải xem biết ai tốt xấu

    Mặc rách rưới, người có lòng nhân nghĩa cũng nên

    Người mặc đẹp, ăn ngon, lòng dối trá cũng có

    Người Kinh cũng có những câu tương tự:

    – Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

    – Mật ngọt thì ruồi chết tươi

    Những nơi cay đắng là nơi thật thà

    Ruột trong thì trắng vỏ ngoài lại đen

    Qua những câu tục ngữ đúc rút kinh nghiệm về nhìn nhận, đánh giá con người, có thể thấy người Thái cũng như người Kinh, đều nhìn nhận con người về thể chất và nhân cách như là sản phẩm của tự nhiên và môi trường xã hội. Cho nên, trong việc chọn vợ gả chồng người Thái khuyên răn người ta phải chọn dòng giống, nhìn vào gia phong:

    Kén vợ, kén chồng không chỉ đi tìm gương mặt bề ngoài

    Chọn con dao chứ không phải chọn vỏ dao

    Phải biết thật kỹ đáy lòng mà nắm bắt được ngay, gian

    Lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống

    Cũng giống như quan niệm của người Kinh:

    – Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh

    – Trứng rồng lại nở ra rồng

    Liu điu lại nở ra dòng liu điu

    – Giỏ nhà ai quai nhà nấy

    Mặc dù đặc điểm và trình độ phát triển xã hội ở hai cộng đồng người Thái và Kinh không giống nhau, nhưng tổng kết, đúc rút về thói đời, người Thái có câu :

    Lúc làm nên thì luôn thấy chín bà vợ

    Khi không làm nên thì chỉ có một em vợ cũng chẳng thấy

    – Anh em rượu đắng khác hẳn với anh em cùng chịu mùi tanh hôi

    (“Anh em rượu đắng” ở đây chỉ những người dưng, chỉ anh anh em em bên chiếu rượu (với người Thái, rượu đắng là rượu ngon). Còn “anh em cùng chịu mùi tanh hôi” là anh em ruột rà, máu mủ. Có thể ngày thường anh em ít gặp nhau, nhưng khi cha mẹ mất (bốc mùi hôi tanh) thì cùng nhau gánh chịu:

    Tương tự như vậy, người Kinh cũng có những câu:

    – Lúc khó thì chẳng ai nhìn

    Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em

    – Bần cư thành thị vô nhân vấn

    Phú tại sơn lâm hữu khách tầm

    (nghèo ở thành thị không có người hỏi, giầu thì ở rừng núi có người tìm đến)

    Trong quan hệ ứng xử, người Thái cũng có cái nhìn tinh tế và sâu sắc:

    – Uống rượu đừng nói chuyện ruộng

    Ngủ với vợ (chồng) không nói chuyện tình cũ

    Để con người sống có nghĩa, có tình, sống hướng thiện, trong kho tàng tục ngữ của người Thái cũng như người Kinh, có nhiều câu đúc rút những kinh nghiệm giáo dục con cháu. Trách nhiệm giáo dục con cháu thuộc về ông bà, cha mẹ. Nếu như người Kinh quan niệm “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, “con dại, cái mang” thì người Thái cũng quan niệm “Con cháu gây tội ác, tất cả bậc cha mẹ đều phải lo”. Việc đề cao giáo dục trong gia đình là bài học quý về giáo dục mà đến nay vẫn còn mang tính thời sự. Người Thái có những câu răn dạy:

    – Người già hãy bảo con cháu

    Để quá thì chúng lớn khó bảo

    Lớn lên tưởng mình cao bằng núi

    Những đỉnh núi cao không vượt gối của người

    Và người Kinh cũng có những câu tương tự:

    – Dạy con từ thưở còn thơ

    Trong nền văn minh nông nghiệp, người Thái cũng như người Kinh rất trọng kinh nghiệm. Tục ngữ Thái có câu:

    Đi nhiều thấy nhiều điều khôn ngoan hơn mình

    Ghi vào lòng để hiểu biết và khôn

    Và tương tự, người Kinh cũng quan niệm:

    – Đi một ngày đàng, học một sàng khôn

    – Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Vì đề cao kinh nghiệm, nên người Thái cũng như người Kinh rất tôn trọng người già. Gìa làng, trưởng bản luôn là người có uy tín, được cộng đồng tôn sùng. Tục ngữ Thái có câu:

    – Cây nhọn không bằng sắt cùn

    Trẻ hiểu biết không bằng già quên

    Cũng giống như quan niệm của người Kinh:

    – Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già

    Có thể nói, người Thái có cả một kho tàng kinh nghiệm rất phong phú, đúc rút từ cuộc sống xã hội, cho thấy cộng đồng người Thái có những mối quan hệ xã hội khá phong phú ở trình độ xã hội đã được tổ chức cao.

    2. Những chuẩn mực đạo đức

    Tục ngữ Thái có rất nhiều câu răn dạy người ta sống theo đạo làm người. Thông qua đó, chúng ta thấy quan niệm nhân sinh của người Thái.

    Các nhà dân tộc học gọi người Thái là người của ” nền văn minh thung lũng “. Tục ngữ Thái có câu : Tsả kin tói phạy, Tay kin tói nặm (Xá ăn theo lửa , Thái ăn theo nước). Vùng đất có sông, suối là nơi người Thái chọn để cư trú. Do vậy, người Thái có tập quán canh tác từ rất sớm : trồng lúa nước ở nơi thung lũng lòng chảo, nơi gần nguồn nước và làm nương rẫy trên sườn núi, đánh bắt cá dưới sông suối, dùng thuyền bè để đi lại, lợi dụng sức nước để sản xuất. Người Thái sớm biết dùng trâu kéo cày, chăn nuôi nhiều gia súc. Người đàn ông Thái nếu không biết phát nương, săn thú, đánh bắt cá sẽ bị chê cười ; người phụ nữ Thái phải biết chăn tằm, ươm tơ, dệt vải, thêu thùa… Bởi thế, trong những chuẩn mực đạo đức, người Thái đặc biệt coi trọng sự chăm chỉ, hay lam hay làm và phê phán thói lười biếng. Tục ngữ Thái có rất nhiều câu khuyên con người phải biết chăm làm, không ngại việc :

    – Đừng chây lười ngại việc

    Đừng tiếc công tiếc sức, gắng lòng làm ăn

    Việc làm được, lớn như đồi núi chưa đủ

    Đổ mồ hôi, cạn kiệt sức mới vừa tầm

    Bởi vì có lao động mới có cái ăn

    – Muốn để bụng đói hãy nằm im

    Muốn ăn ở nghèo khó thì chỉ nói, không làm

    Muốn thành lớn hãy bắt tay từ việc nhỏ

    – Lười biếng bụng trống rỗng

    Người giàu có, nhờ làm ăn liên tục

    Người nghèo khó bởi làm ăn dông dài

    Tất cả mọi của cải trên đời đều từ bàn tay lao động của con người. Không có gì tự dưng sẵn có:

    Trong đó có ít người số may mà được

    Nhìn chung mọi người phải nghĩ, phải lo mới có được

    Nếu không nghĩ, không lo để tìm kiếm thì kho bạc, kho vàng của nhà trời cũng không tự đến

    Cố cùng bạn làm lụng, nó khắc tới mình

    Lao động còn khiến con người thêm hiểu biết, thông minh, tài giỏi. Quan niệm đó rất duy vật và có cơ sở khoa học:

    – Nhẫn được thành người khôn

    Chăm được thành người tài

    Tục ngữ người Kinh cũng khuyên con người chăm chỉ làm ăn:

    Không dưng ai dễ mang phần đến cho

    – Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ

    Người Thái cho rằng nếu không lao động mà chỉ hưởng thụ thì của cải dẫu có bao nhiêu cũng hết:

    – Chẳng làm gì, gác chân ăn, mỏ vàng bằng trái núi cũng hết

    Người Kinh đúc kết điều này trong một câu tương tự:

    Người Thái khuyên con cháu phải biết tự lực, chỉ có của cải do chính mình làm ra mới đảm bảo cuộc sống được ổn định, bền vững; đừng ỷ nại người trên, trông chờ vào của cải ông bà, cha mẹ để lại:

    – Của cải từ tay chân làm ra là nguồn tuôn chảy

    Của cải từ cha mẹ để lại là nước lũ cuốn đi

    Còn người Kinh dặn dò con cháu:

    – Của làm ra là của trong nhà

    Của ông bà là của ngoài sân

    Của phù vân có chân nó chạy

    Do nền sản xuất nông nghiệp còn ở trình độ thấp, thiên tai bất thường, con người phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nên người Thái cũng như người Kinh, đều nhắn nhủ nhau “tích cốc phòng cơ”, đề phòng rủi ro, thiên tai, và phải tiết kiệm. Tục ngữ Thái có câu:

    – Gom của phòng mùa thiếu

    – Vừa ăn lại vừa để, tốt lắm

    Vừa kiệm lại vừa giành, tốt quá

    – Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện

    Khuyên con người phải biết chăm chỉ lao động, tiết kiệm, tục ngữ Thái cũng dạy người ta không tham lam, trộm cắp:

    – Đừng trộm hái rau quả của vườn người

    Cũng như tục ngữ của người Kinh:

    Người Kinh cũng có câu: ” Thật thà là cha quỷ quái ” để đề cao những lời nói thật, lên án những kẻ hay dối trá.

    Còn tục ngữ người Kinh có câu: ” Ăn có nhai, nói có nghĩ

    3. Về kinh nghiệm sản xuất

    Trong lao động, sản xuất cũng như đời sống, thiên tai luôn là nỗi ám ảnh với con người. Người Kinh có câu: “Thủy, hỏa, đạo, tặc” để xếp hạng những yếu tố gây nguy hiểm cho cuộc sống con người. Trong đó, “thủy” đứng ở vị trí đầu tiên. Chắc hẳn những trận lụt kinh hoàng đã thành ám ảnh không phai đối với người Kinh xa xưa. Sau “thủy” là “hỏa”. Nạn lửa chỉ sau nạn cháy, còn nguy hiểm hơn cả trộm cướp và giặc giã. Còn với người Thái thì:

    – Không nạn nào hơn nạn lửa, nạn nước

    Dùng nước phải biết tránh nguồn nước

    Dùng lửa hãy giữ gìn nạn cháy

    – Bừa bãi lửa thường sinh nạn cháy

    Kinh nghiệm sản xuất của người Kinh thiên về cấy trồng, mùa vụ còn kinh nghiệm sản xuất của người Thái ngoài việc trồng trọt, chăn nuôi, còn có săn bắn, hái lượm, cách thức đi rừng, kinh nghiệm khai thác lâm sản…mà ở đề tài này, ca dao tục ngữ của người Kinh không nhiều.

    Đi sâu tìm hiểu ca dao, tục ngữ của người Thái với người Kinh, chúng ta thấy có nhiều nét tương đồng. Sự tương đồng được thể hiện ở nhiều lĩnh vực: từ sản xuất đến đời sống, từ tư tưởng đến tình cảm, thế giới quan đến quan niệm sống, quan niệm về giá trị đạo đức, nhân văn…

    Những nét tương đồng đó là kết quả của nhiều nguyên nhân: do sự tương đồng về tự nhiên, điều kiện sống, trình độ canh tác, hoặc do sự tương đồng trong cách cảm, cách nghĩ và ảnh lẫn nhau trong giao lưu văn hóa…Tuy nhiên, những sự tương đồng này chỉ được đề cập ở phương diện nội dung, tư tưởng. Đi sâu vào tìm hiểu, trong sự tương đồng vẫn có sự khác biệt, kể cả về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật, mà trong bài viết này chưa có dịp đề cập đến.

    Những nét tương đồng đi cùng với sự khác biết, vừa thể hiện nét chung về văn hóa của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam vừa phản ánh bản sắc riêng trong văn hóa của mỗi dân tộc. Bởi thế mà nền văn hóa Việt Nam có sự thống nhất trong đa dạng, mà chúng ta cần giữ gìn và phát huy.

    Tài liệu tham khảo

    1. Hội Văn nghệ dân gian (2012), Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

    2. Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng (2012), Luật tục Thái ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Chúc Ngủ Ngon Bá Đạo, Hài Hước Giành Cho Bạn Bè, Người Yêu
  • Những Lời Chúc Valentine Tiếng Anh Hay Và Ngọt Ngào Nhất
  • Những Câu Nói Truyền Cảm Hứng Trong Các Bộ Phim Về Tình Yêu
  • Những Hình Ảnh Động Chúc Mừng Sinh Nhật Đẹp Và Ý Nghĩa Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Biển

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Rượu Bia Hay Và Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống 80++ Châm Ngôn, Stt Hay Nhất Về Cuộc Sống
  • 199 Câu Nói Hay Về Hạnh Phúc Tan Vỡ Đầy Xót Xa
  • 25+ Lời Chúc Vợ Ngủ Ngon Hay Nhất Các Ông Chồng Nên Tham Khảo
  • Download Ebook Lời Chúc Phúc Của Odin Tập 3
  • Sông sâu mà biển cũng sâu

    Muốn ăn cá lớn, rong câu cho dài

    Dốc lòng trồng cúc bẻ bông

    Ngó ra ngoài biển thấy ông đưa đò

    Anh ở làm sao cho biết đói biết no

    Biết ra khơi về lộng đây em lo kết nguyền

    Trời sinh có biển có nguồn

    Có ta, có bạn, còn buồn nỗi chi?

    Tháng chín mưa giông thuyền mong ghé bến

    Từ nơi bãi biển qua đến buổi chợ chiều

    Nuôi con chồng vợ hẩm hiu

    Nhà tranh một mái tiêu điều nắng mưa

    Động bể đông bắc nồi rang thóc

    Động bể bắc đổ thóc ra phơi

    Sự đời nghĩ cũng nực cười

    Một con cá lội mấy người thả câu

    Anh về xẻ gỗ bắc cầu

    Non cao anh vượt biển sâu anh dò

    Bây giờ sao chẳng bén cho

    Xa xôi cách mấy lần đò cũng đi

    Trời cao hơn trán

    Trăng sáng hơn đèn

    Kèn kêu hơn quyển

    Biển rộng hơn sông

    Anh đừng thương trước uổng công

    Chờ cho thiệt vợ, thiệt chồng hãy thương

    Ai về em gởi bức thơ

    Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao

    Non kia ai đắp mà cao

    Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu

    Non cao, biển cả

    Con chim tra trả tìm mồi

    Khi mô vật đổi sao dời

    Đất Quảng Nam hết nước mới hết người tài hoa

    Bãi biển Nha Trang mịn màng, trắng trẻo

    Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh

    Đêm đêm thơ thẩn một mình

    Đố sao cho khỏi vướng tình nước mây?

    Ngó lên trên rừng thấy cặp cu đang đá

    Ngó về dưới biển thấy cặp cá đang đua

    Biểu anh về lập miếu thờ vua

    Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên rừng thấy cặp cua đang đá

      Ngó xuống biển thấy cặp cá đang đua

      Biểu anh về lập miếu thờ vua

      Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên rừng thấy cặp cu đương đá,

      Ngó về Rạch Giá thấy cặp cá đương đua.

      Anh về lập miếu thờ vua,

      Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên trời thấy mây giăng tứ diện,

      Ngó xuống biển thấy chim liệng cá đua.

      Anh về lập miễu thờ vua,

      Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn

    Núi lở non mòn, ngỡi bạn không quên

    Ðường còn đi xuống đi lên,

    Tình qua nghĩa bậu quyết nên vợ chồng.

      Sông cạn, biển cạn lòng ta không cạn

      Núi lở non mòn, nghĩa bạn không quên

      Đường còn đi xuống đi lên

      Ơn bạn bằng biển, ta đền bằng non

      Đường mòn duyên nợ không mòn

      Chết thì mới hết, sống còn gặp nhau

      Lời nguyền trước cũng như sau

      Em không phụ khó, ham giàu ở đâu

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng

    Lụa tốt xem biên

    Người hiền xem tướng

    Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy

    Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa

    Em thương anh không dám nói ra

    Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời

    Anh với em cũng muốn kết đôi

    Sợ vầng mây bạc trên trời mau tan.

    Đố ai tát bể Đông Khê

    Tát sông Bồ Đề, nhổ mạ cấy chiêm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lời Chúc Tết Bính Thân 2022 Hay Và Dễ Nhớ Dành Cho Bạn Bè
  • Những Lời Chúc Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 Hay, Ý Nghĩa Nhất
  • Top Sách Hay Và Những Câu Nói Ý Nghĩa Của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
  • 10 Câu Danh Ngôn Tiếng Anh Bất Hủ Của Các Nhà Khoa Học Vĩ Đại
  • Những Lời Chúc Giáng Sinh Tình Cảm Và Lãng Mạn Dành Cho Người Yêu
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100