Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu

--- Bài mới hơn ---

  • Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu
  • Ngày Xuân, Tản Mạn Về “Con Trâu” Trong Ca Dao Tục Ngữ
  • Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Về Con Cò
  • Cái Cò Và Con Cò
  • Báo Cao Bằng Điện Tử
  •  

    Tuyển chọn những lời ca dao hay về TRÂU

    Thuyduongnsx tuyển chọn

    1. Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

    Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

    2. Chẳng tham ruộng cả ao liền

    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

    3. Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

    4. Đường về đêm tối canh thâu

    Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười

    5. Thiệt tình hỏng phải ba hoa

    hôm qua tui thấy con gà đá trâu…..

    6. Gà đá trâu bao lâu mới thắng

    Trâu đá gà que cẳng con trâu

    7. Ai nói chăn trâu là khổ??

    Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

    8. Dù ai buôn đâu bán đâu,

    Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về.

    Dù ai buôn bán trăm nghề,

    Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu.

    9. Đêm qua kẻ trộm vào nhà,

    Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.

    Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,

    Thức mà giữ lấy con trâu con bò.

    Nằm đây nào đã ngủ cho,

    Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

    10. Nghé ơi ta bảo nghé này

    Nghé ăn cho béo nghé cày cho sâu.

    Ở đời khôn khéo chi đâu,

    Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

    11. Chăn trâu chả biết mặt trâu

    Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

    12. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu

    Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

    13. Tháng giêng là tháng ăn chơi,

    Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

    Tháng ba thì đậu đã già

    Ta đi ta hái về nhà phơi khô

    Tháng tư đi tậu trâu bò

    Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…

    14. Trâu ơi ta bảo trâu này,

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

    Cấy cày giữ nghiệp nông gia.

    Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!

    Bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.

    “Con trâu là đầu cơ nghiệp

    15. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!

    16. Trên trời có đám mây xanh (4)

    Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng

    Ước gì ta lấy được nàng

    Hà Nội, Nam Ðịnh sửa đàng rước dâu

    Thanh Hóa cung đốn trầu cau

    Nghệ An thì phải thui trâu mổ bò

    Phú Thọ quạt nước hỏa lò

    Hải Dương rọc lá giã giò gói nem

    Tuyên Quang nấu bạc đúc tiền

    Ninh Bình dao thớt Quảng Yên đúc nồi

    An Giang gánh đá nung vôi

    Thừ Thiên Đà nẵng thổi xôi nấu chè

    Quảng Bình Hà Tĩnh thuyề ghe

    Đồng Nai Gia Dịnh chẻ tre bắc cầu

    Anh mời khắp nước chư hầu

    Nước Tây nước Tàu anh gởi thư sang

    Nam Tào Bắc đẩu dọn đàng

    Thiên Lôi La Sát hai hàng hai bên

    17. Trời mưa trời gió đùng đùng

    Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu

    Gánh về trồng bí trồng bàu

    Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

    18. Nam mô Bồ Tát

    Chẻ lạt đứt tay

    Đi cày trâu húc

    Đi súc phải cọc

    Đi học thày đánh

    Đi gánh đau vai

    Nằm dài nhịn đói

    19. Nước giữa dòng chê trong, chê đục

    Vũng trâu đầm hì hục khen ngon

    20. Đời vua Thái Tổ – Thái Tông

    Lúa mọc đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.

    21. Thất là mất

    Tồn là còn

    Tử là con

    Tôn là cháu

    Lục là sáu

    Tam là ba

    Gia là nhà

    Quốc là nước

    Tiền là trước

    Hậu là sau

    Ngưu là trâu

    Mã là ngựa

    22. Trai thì cày ruộng khiển trâu

    Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

    23. Trăm năm còn có gì đâu

    Miếng trầu liền với con trâu một vần

    24. Trâu bò được ngày phá đỗ

    Con cháu được ngày giỗ ông

    25. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết

    26. Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta

    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

    27. Trâu kia kén cỏ bờ ao

    Anh kia không vợ đời nào có con

    Người ta con trước, con sau

    Thân anh không vợ như cau không buồng

    Cau không buồng như tuồng cau đực

    Trai không vợ cực lắm anh ơi

    Người ta đi đón, về đôi

    Thân anh đi lẻ, về loi một mình

    28. Của chua ai nấy cũng thèm

    Em cho chị mượn chồng em vài ngày

    Chồng em đâu phải trâu cày

    Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

    29. Dầu bông bưởi, dầu bông lài

    Xức vô tới Tết còn hoài mùi cứt trâu

    30. Dù ai buôn bán nơi đâu

    Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

    31. Ðàn đâu mà gảy tai trâu

    Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    32. Thương nhau vì nợ vì duyên

    Trâu đôi chi đó, thổ điền chi đây

    33. Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần

    Làm thân con nhện mấy lần vương tơ

    Về đâu trong đục mà chờ

    Hoa thơm mất tuyết , nương nhờ vào đâu

    Số em giàu, lấy khó cũng giàu

    Số em nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo

    Phải duyên phải kiếp thì theo

    Giàu ăn khó chịu, lo gì mà lo

    34. Chẳng qua số phận long đong

    Cột trâu, trâu đứt, cột tròng, tròng trôi.

    35. Lao xao gà gáy rạng ngày

    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

    Bước chân xuống cánh đồng sâu

    Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày.

    Ai ơi! bưng bát cơm đầy

    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng

    Câu đố:

    – Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

    Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân. = con trâu

    – Vừa bằng cái bát, san sát giữa đồng = vết chân Trâu

    36. Ru Con

    Bao giờ cho đến tháng ba,

    Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.

    Hùm nằm cho lợn liếm lông,

    Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.

    Nắm xôi nuốt trẻ lên mười;

    Con gà, be rượu nuốt người lao đao.

    Lươn nằm cho trúm (1) bò vào;

    Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

    Lúa mạ nhảy lên ăn bò;

    Cỏ năn (2), cỏ lác (3) rình mò bắt trâu.

    Gà con đuổi bắt diều hâu;

    Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.

    Chú thích:

    (1) Trúm : một thứ đó để bắt lươn

    (2) Cỏ năn : một loài cỏ mọc dưới nước

    (3) cỏ lác : thứ cỏ xấu

    37. Thứ nhất vợ dại trong nhà,

    Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn.

    Vợ dại thì đẻ con khôn,

    Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm.

    38. Trâu chậm thời anh bán đi,

    Dao cùn đánh lại vợ thì làm sao.

    39. Trâu anh con cưỡi con dòng,

    Có con đi trước lòng thòng theo sau.

    40. Trâu anh con cưỡi con dòng,

    Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn.

    41. Trâu buộc thì ghét trâu ăn,

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

    42.Trâu kia kén cỏ bờ ao,

    Anh kia không vợ đời nào có con.

    43.Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa,

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    44. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

    Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già.

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá bò dò làm sao?

    45. Em như ngọn cỏ phất phơ

    Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng

    46. Mình rằng mình quyết lấy ta

    Ðể ta hẹn cưới hăm ba tháng này

    Hăm ba nay đã đến ngày

    Ta hẹn mình rày cho đến tháng giêng

    Tháng giêng năm mới chưa nên

    Ta hẹn mình liền cho đến tháng hai

    Tháng hai có đỗ có khoai

    Ta lại vật nài cho đến tháng tư

    Tháng tư ngày chẳn tháng dư

    Ta lại chần chừ cho đến tháng năm

    Tháng năm là tháng trâu đầm

    Ta hẹn mình rằng tháng sáu mình lên

    Tháng sáu lo chửa kịp tiền

    Bước sang tháng bảy lại liền mưa ngâu

    Tháng bảy là tháng mưa ngâu

    Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu

    Tháng tám là tháng trăng thu

    Bước sang tháng chín mù mù mưa rươi

    Tháng chín là tháng mưa rươi

    Bước sang tháng mười đã đãi mưa đông

    Quanh đi quẩn lại em đã có chồng

    Như chim trong lồng, như cá cắn câu

    47. Ông Giăng mà lấy bà Sao,

    Đến mai có cưới cho tao miếng giầu.

    Có cưới thì cưới con trâu,

    Chớ cưới con nghé nàng dâu không về.

    48. Ông giẳng ông giăng,

    Xuống chơi với tôi,

    Có bầu có bạn,

    Có ván cơm xôi,

    Có nồi cơm nếp,

    Có nệp bánh chưng,

    Có lưng hũ rượu,

    Có chiếu bám đu,

    Thằng cu xí-xóa,

    Bắt trai bỏ giỏ,

    Cái đỏ ẵm em,

    Đi xem đánh cá,

    Có rá vo gạo,

    Có gáo múc nước,

    Có lược chải đầu,

    Có trâu cày ruộng,

    Có muống thả ao,

    Ông sao trên trời.

    (Cái này thấy gọi là Ca dao nhi đồng, hihi)

    49.Bước sang tháng sáu giá chân,

    Tháng một nằm trần bức đổ mồ hôi.

    Con chuột kéo cầy lồi lồi,

    Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong.

    Vườn rộng thì thả rau rong.

    Ao sâu giữa đồng, vãi cải làm dưa.

    Đàn bò đi tắm đến trưa,

    Một đàn con vịt đi bừa ruộng nương.

    Voi kia nằm ở gặm giường,

    Cóc đi đánh giặc bốn phương nhọc nhằn.

    Chuồn kia thấy cám liền ăn,

    Lợn kia thấy cám nhọc nhằn bay qua.

    Trời mưa cho mối bắt gà,

    Thòng-đong cân-cấn đuổi cò lao xao.

    Lươn nằm cho trúm bò vào,

    Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

    Thóc giống cắn chuột trong bồ,

    Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu.

    Chim chích cắn cổ diều hâu,

    Gà con tha quạ biết đâu mà tìm.

    Bong bóng thì chìm, gỗ lim thì nổi.

    Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai.

    Hòn đá giẻo dai, hòn xôi rắn chắc.

    Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi.

    Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú.

    Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu.

    Hay cắn thì trâu, hay cày thì chó.

    50. Nam mô bồ tát,

    Chẻ lạt đứt tay,

    Đi cày trâu húc,

    Đi xúc phải cọc,

    Đi học thầy đánh,

    Đi gánh đau vai,

    Nằm dài nhịn đói.

    51. Con kiến mày kiện củ khoai,

    Mày chê tao khó lấy ai cho giầu.

    Nhà tao chín đụn mười trâu,

    Lại thêm ao cá bắt cầu rửa chân.

    52. Công anh chăn nghé đã lâu

    Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày?

     

    53. Cưới em có cánh con gà,

    Có dăm sợi bún, có và hạt xôi.

    Cưới em còn nữa anh ơi!

    Có một đĩa đậu hai môi rau cần.

    Có xa dịch lại cho gần,

    Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi.

    Hay là nặng lắm anh ơi!

    Để em bớt lại một môi rau cần.

    Cưới nàng anh toan dẫn voi,

    Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

    Dẫn trâu sợ họ máu hàn,

    Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân,

    Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

    – Chàng dẫn thế em lấy làm sang

    Nỡ nào em lại phá ngang như là…

    Người ta thách lợn thách gà,

    Nhà em thách cưới một nhà khoai lang

    Củ to thì để mời làng,

    Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.

    Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi!

    Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà.

    Bao nhiêu củ rím củ hà,

    Để cho con lợn con gà nó ăn.

    54. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu

    ví dâu

    Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

    55. Anh về bán ruộng cây da

    Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em

    56. 17. Hò ơ.. (chớ) Bớ này anh nó ơi

    Số phận em giao phó cho trời xanh

    Lấy anh em không lấy,

    Nhưng dạ cũng không đành làm ngơ

    Vốn em cũng chẳng bơ thờ

    Em đã hằng chọn trong lóng đục,

    Nhưng vẫn còn chờ nợ duyên

    Vốn em muốn lấy ông thầy thuốc cho giàu sang,

    Nhưng lại sợ ổng hay gia hay giảm

    Em muốn lấy ông thầy pháp cho đảm,

    Nhưng lại sợ ổng hét la ghê gốc

    Em muốn lấy chú thợ mộc,

    Nhưng lại sợ chú hay đục khoét rầy rà

    Em muốn lấy anh thợ cưa cho thật thà,

    Nhưng lại sợ trên tàn dưới mạt

    Em muốn lấy người hạ bạc,

    Nhưng lại sợ mang lưới mang chài

    Em muốn lấy anh cuốc đất trồng khoai,

    Nhưng lại sợ ảnh hay đào hay bới

    Em cũng muốn chọn anh thợ rèn kết ngỡi,

    Nhưng lại sợ ảnh nói tức nói êm

    Bằng lấy anh đặt rượu làm men,

    Thì lại sợ ảnh hay cà riềng cà tỏi

    Em muốn lấy ông nhạc công cho giỏi,

    Nhưng lại sợ giọng quyển giọng kèn

    Em muốn lấy thằng chăn trâu cho hèn,

    Nhưng lại sợ nhiều điều thá ví

    Em muốn lấy anh lái buôn thành thị,

    Nhưng lại sợ ảnh kêu mắc rẻ khó lòng

    Em muốn lấy anh thợ đóng thùng,

    Nhưng lại sợ ảnh kêu trật niền trật ngổng

    Em muốn lấy ông Hương ông Tổng,

    Nhưng lại sợ việc trống việc gông

    Em muốn lấy anh hàng gánh tay không,

    Nhưng lại sợ đầu treo đầu quảy

    Em muốn lấy chú hàng heo khi nãy,

    Nhưng lại sợ chú làm lộn ruột lộn gan

    Em muốn lấy anh thợ đát thợ đan,

    Nhưng lại sợ ảnh hay bắt phải bắt lỗi

    Em muốn lấy anh hát bè hát bội,

    Nhưng lại sợ giọng rỗi giọng tuồng

    Em muốn lấy anh thợ đóng xuồng,

    Nhưng lại sợ ảnh hay dằn hay thúc…

    Hò ơ.. (chớ) Mấy lời trong đục chẳng dám nói ra

    Có thầy giáo tập dạy trong làng xa, hay dạy hay răn

    So đức hạnh chẳng ai bằng, lại con nhà nho học

    Sử kinh thầy thường đọc, nên biết việc thánh hiền

    Gặp nhau em kết liền, không chờ chẳng đợi… (ờ)

    Hò ơ.. (chớ) Không chẳng chờ chẳng đợi phỉ nguyền phụng loan

    57. Hút sách là chuyện chẳng lành

    Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây

     

    58. Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà

    Cả ba việc ấy đều là khó thay.

    59. Mười năm cắp sách theo thày

    Năm thứ mười một vác cày theo trâu.

    60. Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

    Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân.

    61.Ai cũng gặt lúa đỏ đuôi

    Chàng về mà đập, mà phơi kịp ngày

    Ai mà giã gạo ba chày

    Giã sao cho trắng, gửi ngay cho chàng

    Sẵn tiền mua bạc mua vàng

    Sẵn tiền sắm áo cho chàng trẩy kinh

    Sáng trời chàng mới tập binh

    Em ngồi vò võ, một mình em lo

    Ruộng nương không ai cày cho

    Trâu bò, gà, lợn em lo dường nào!

    Ruộng người cày cấy xôn xao

    Ruộng nhà cỏ mọc lên cao lồng ngồng

    Người ta có vợ có chồng

    Cỏ cao, mạ úa nhưng lòng vẫn vui

    Nhà ta chỉ có em thôi

    Ruộng cạn mạ úa em ngồi em lo

    62.Ai ơi uống rượu thì say

    Bỏ ruộng trâu cày bỏ giống ai gieo.

    63.Anh đánh thì tôi chịu đòn

    Tánh tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa

    Anh đánh thì tôi xin thưa

    Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu

    Ăn quen chừa được chẳng lâu

    Lệ làng làng bắt mất trâu mặc làng

    64.Ba vợ bảy tám nàng hầu

    Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi.

    65.Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    66.Anh em bất nghĩa chi khèo

    Anh dữ như mèo tôi lại như trâu

    67.Bé ăn trộm gà

    Già ăn trộm trâu

    Lâu nữa làm giặc

    68.Cầm trâu cầm áo cầm khăn

    Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

    69.Cái bống mặc xống ngang chân

    Lấy chồng Kẻ Chợ cho gần, xem voi

    Trèo lên trái núi mà coi

    Thấy ông quản tượng cõi voi đánh cồng

    Túi vóc mà thêu chỉ hồng

    Têm trầu cánh phượng cho chồng đi thi

    Một mai chồng đỗ, vinh quy

    Võng anh đi trước, em thì võng sau

    Tàn quạt, hương án theo hầu

    Vinh quy bái tổ, giết trâu ăn mừng!

    70.Cái kiến mà kiện củ khoai

    Mày chê tao khó, lấy ai cho giầu

    Nhà tao chín đụn mười trâu

    Lại thêm ao cá, bắc cầu rửa chân

    Cầu nầy là cầu ái ân

    Một trăm con gái rửa chân cầu nầy

    Có rửa thì rửa chân tay

    Chớ rửa lông mày chết cá ao anh

    Nhà anh có một cây chanh

    Nó chửa ra nhành nó đã ra hoa

    Nhà anh có một mụ già

    Thổi cơm không chín, quét nhà chẳng nên

    Ăn cỗ khì đòi ngồi trên

    Mâm son bát sứ đem lên hầu bà.

    71.Bong bóng thì chìm gỗ lim thì nổi

    Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai

    Hòn đá dẻo dai, hòn xôi rắn chắc

    Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi

    Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú

    Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu

    Hay sủa thì trâu, hay cày thì chó…

    (hình như vẫn còn tiếp thì phải)

    72.Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

    Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

    Chẳng tham ruộng cả ao liền

    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

    Chẳng tham nhà ngói ba tòa

    Tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành.

    73.Chồng dữ thì em mới rầu

    Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng

    74.Chùn đùi, thắt quản, ngắn đuôi

    Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

    75.Cao đầu thấp hậu thì tậu liền tay

    76.Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

    77.Chết lỗ chân trâu

    78.Có ăn có chọi mới gọi là trâu

    79.Có xa dịch lại cho gần

    Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi

    Hay là nặng lắm anh ơi!

    Để em bớt lại một môi rau cần.

    Cưới nàng anh toan dẫn voi

    Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

    Dẫn trâu sợ họ máu hàn

    Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân

    Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

    80.Con cá rô thia ẩn bóng chân trâu

    Một trăm quân tử tới câu cũng chẳng màng.

    81.Con gái mười bảy bẻ gãy sừng

    trâu

    82.Con tằm nó ăn lá dâu

    Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò

    83.Con vợ khôn lấy thằng chồng dại

    Như bông hoa lài cặm bãi cứt trâu

    84.Công anh chăn nghé đã lâu

    Bây giờ nghé lớn thành trâu ai cày

    85.Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    86.Em thì canh cửi việc nhà

    Nuôi anh ăn học đăng khoa bảng vàng

    Trước là vinh hiển tổ đường

    Bõ công đèn sách lưu hương con nhà

    Rước vinh quy về nhà bái tổ

    Ngả trâu bò làm lễ tế vua

    Họ hàng ăn uống say sưa

    Hàng Tổng hàng Huyện mừng cho ông Nghè

    87.Dưa gang một chạp thì trồng

    Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo

    Tháng hai đi tậu trâu bò

    cày đất cho ải mạ mùa ta gieo

    88.Được voi to trâu bò chẳng kể

    Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

    Một lời đã trót nói ra

    Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo

    89.Em là con gái nhà giàu

    Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao

    Cưới em trăm tấm gấm đào

    Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời

    Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi

    Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng

    Sắm xe tứ mã đem sang

    Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu

    Ba trăm nón Nghệ đội đầu

    Một người một cái quạt Tàu thật xinh

    Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình

    May chăn cho rộng ta mình đắp chung

    Cưới em chín chĩnh mật ong

    Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò

    Cưới em tám vạn trâu bò

    Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm

    Lá đa mặt nguyệt hôm rằm

    Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi

    Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi

    Xin chàng chín chục con dơi góa chồng

    Thách thế mới thỏa trong lòng

    Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân

    90.Gió nam ào ạt gốc cây nằm mát

    Chẻ lạt đứt tay, đi cày trâu húc

    Đi xúc phải cọc, đi học thầy đánh

    Đi gánh đau vai, nằm dài nhịn đói

    91. Vợ bé nghé con

    Sẩy đàn tan nghé

    Hòn đá cheo leo,

    Con trâu trèo, con trâu trợn

    Con ngựa trèo, con ngựa đổ.

    Anh thương em lao khổ

    Tận cổ chí kim,

    Anh thương em khó kiếm khôn tìm.

    Cây kim luồn qua sợi chỉ,

    Sự bất đắc dĩ phu mới lìa thê,

    Nên hay không nên, anh ở em về,

    Đừng giao, đừng kết, đừng thề mà vương.

    92.Lạc đường nắm đuôi chó

    Lạc ngõ nắm đuôi trâu

    93.Lao xao gà gáy rạng ngày

    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

    Bước chân xuống cánh đồng sâu

    Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày

    Ai ơi! bưng bát cơm đầy

    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?

    94.Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

    Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

    Một huyền hai lái chẳng xong

    Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

    95.Lộn con toán bán con trâu

    96.Mật ngọt rớt xuống thau đồng

    Những lời anh nói cho lòng em say

    Một trâu anh sắm đôi cày

    Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia!

    Chàng ơi! chàng cho em ra

    Nhẽ đâu một ổ đôi gà ấp chung.

    97.Một rằng mình quyết lấy ta

    Ta về bán cửa bán nhà mà đi

    Ta về bán núi Ba Vì

    Bán chùa Hương Tích, Phật đi làu làu

    Ta về bán hết ngựa trâu

    Bán hột thầu dầu, bán trứng gà ung

    Bán ba mươi sáu Thổ công

    Bán ông Hành Khiển, vợ chồng Táo Quân

    Bán từ giờ Ngọ giờ Dần

    Giờ Tí giờ Sửu giờ Thân giờ Mùi

    Ta về bán cả que cời

    Bán tro đun bếp bán trăm khêu đèn

    Ta về bán trống bán kèn

    Có gì bán hết, lấy tiền cưới em

    98.Nghé hành nghé hẹ

    Có khôn theo mẹ

    Có khéo theo đàn

    Chớ có chạy quàng

    Có ngày lạc mẹ

    Việc nhẹ phần con

    Kéo nỉ kéo non

    Kéo đến quanh tròn

    Mẹ con ta nghỉ

    99.Trăm năm cơ hội tình cờ,

    Đàn cầm anh gãy, câu thơ anh đề.

    Muốn cho thuận nẻo đi về,

    Anh sang làm rể, em về làm dâu.

    Số giàu lấy khổ cũng giàu,

    Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.

    Phải duyên phải kiếp thì theo,

    Khuyên em chớ nghĩ giàu nghèo làm chi.

    Em ơi! chữ vị là vì,

    Chữ dục là muốn, chữ tùy là theo,

    Ta đã yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,

    Thất bát giang cũng lội, tam thập đèo cũng qua.

    100.Trời mưa lâm râm

    Cây trâm có trái

    Con gái có duyên

    Đồng tiền có lỗ

    Bánh tổ thì ngon

    Bánh dòn thì béo

    Cái kéo thợ may

    Cái cày làm ruộng

    Cái xuổng đắp bờ

    Cái lờ đơm cá

    Cái ná bắn chim

    Cái kim may áo

    Cái giáo đi săn

    Cái khăn bịt đầu

    Cái cầu đi chợ

    Có vợ đàn ông

    Có chồng con gái

    Cái trái mù u

    Ông cu đi câu

    Để trâu ăn lúa

    Bắt được chặt đầu, chặt đầu đuôi

    Còn hai con mắt đem nuôi mẹ già

     

    Tướng Trâu

    Cầm trâu cầm áo cầm khăn

    Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Chồng em đâu phải trâu cày

    Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

    Trâu gầy cũng tầy bò giống

    Ghi Chú: * Trâu gầy vẫn mạnh hơn bò

    Mắt bánh rán,

    Trán bánh chưng

    Lưng tôm càng

    Ghi Chú: * Trâu có mắt lớn, cái trán vuông vức như cái bánh chưng và

    lưng không oằn là trâu khỏe mạnh

    Đã có sừng thì đừng hàm trên

    Ghi Chú: * Trâu không có răng hàm trên

    Tai lá mít đít lồng bàn

    Ghi Chú: * Trâu có tai lớn và mông bự là trâu tốt

    Vành mồm trắng, mắt tai to

    Hễ thưa lông bụng, móng hài cũng mua

    Ghi Chú: * Trâu thưa lông bụng và vành mồm trắng mới là trâu có tướng

    tốt

    Sà sừng mắt lại nhỏ con

    Vụng giàn chậm chạp ai còn nuôi chi

    Ghi Chú: * Trâu có cặp sừng sệ xuống và mắt nhỏ thì chậm chạp

    Vai nồi đồng, mông cối lỗ

    Ghi Chú: * Vai to tròn, mông lớn là trâu tốt

    Sừng to móng hến thì nuôi phải rồi

    Ghi Chú: * Trâu có sừng to, mở Rộng là trâu đắc dụng

    Tam tinh khoáy sọ thì chừa

    Đốm đuôi nát chủ thì đưa vào nồi

    Ghi Chú: * Trâu có khoáy sọ và đuôi có đốm là trâu độc dễ gây tai họa

    nên giết thịt

    Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

    Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

    Một huyền hai lái chẳng xong

    Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

    Lúa Đồng Ngâu, trâu Yên Mỹ

    Mất trâu mất ruộng không màng

    Mất cây cuốc mục ra làng kiện thưa

    Mất trâu thì lại tậu trâu

    Những quân cướp nợ có (chẳng) giầu hơn ai ?

    Một trâu anh sắm đôi cày

    Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia

    Chàng ôi! chàng cho em ra

    Nhẽ đâu một ổ hai gà ấp chung ?

    Một trâu anh sắm hai cày

    Một chàng hai thiếp có ngày oan giạ

    Chả yêu thì bỏ nhau ra

    Làm chi một ổ hai gà ấp chung.

    Yếu trâu cũng bằng bò khỏe

    Con trâu ăn cỏ đất bằng

    Uống nước bờ ao

    Hồi nào mầy ở với tao

    Đến khi mầy chết

    Tao cầm dao xẻo thịt mầy

    Thịt mầy nấu cháo linh binh

    Da mầy bịt trống tụng kinh trong chùa

    Sừng mầy tao tiện con cờ

    Cán dao, cán mác, lược dầy lược thưa

    Mua trâu cưới vợ làm nhà

    Cả ba việc ấy đều là khó thay

    Muốn giầu nuôi trâu nái

    Muốn lụi bại nuôi chim bồ câu.

    Ngày xưa Ninh Thích chăn trâu

    Mà rồi công ấn công hầu trâu ơi !

    Ngày nay mình nghé ta ngồi

    Mai sau ta có một thời hiển vinh ?

    Trâu he cũng bằng bò khỏe

    Ghi Chú: * Trâu he là trâu nghé hay trâu còn non

    Lang đuôi thì bán, lang trán thì cày

    Ghi Chú: * Trâu có hoa trên trán thì giữ để cày ngược lại đuôi có hoa

    thì đem bán

    Phù thủy, thầy bói, lái trâu

    Nghe ba anh ấy đầu lâu không còn

    Trâu ác vạc sừng

    Ghi Chú: * Trâu ác hay mài sừng để chiến đấu

    Tậu trâu lấy vợ làm nhà

    Trong ba việc ấy lọ là khó thay

    Ruồi lằn chọi với bò trâu

    Đàn gà quật với diều hâu mấy lần

    Thật thà cũng thể lái trâu

    Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng

    Trâu tóc chóp, bò mũ mấn

    Ghi Chú: * Trâu có tóc chóp thì tốt, ngược lại bò có tóc chóp thì xui

    xẻo

    Trâu ra, mạ vào

    Ghi Chú: * Cần cấy ngay sau khi cày ruộng xong

    Trâu kia (già) kén (cắn) (ăn) cỏ bờ ao

    Anh kia không vợ đời nào có con

    Người ta con trước, con sau

    Thân anh không vợ như cau không buồng

    Cau không buồng như tuồng cau đực

    Trai (Anh) không vợ cực lắm anh ơi

    Người ta đi đón, về đôi

    Thân anh đi lẻ, về loi một mình

    Trâu năm sáu tuổi còn nhanh

    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già

    Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

    Cấy cày vốn nghiệp nông gia

    Hai sương một nang)Tắ đây trâu đấy ai mà quản công

    Bao giờ cây lúa còn bông

    Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

    Trâu ai buộc ngõ ông Cai

    Hoãn ai mà lại đeo tai bà Nghè

    Ngựa ai buộc ngõ ông Nghè

    Gà ai gáy ở đầu hè ông Cai

    Ghi Chú: * Nghè là người đỗ tiến sĩ thời xưa; Hoãn là đôi bông tai

    Trâu bò ở với nhau lâu quen chuồng quen chỏi

    Người ở với nhau lâu, inh ỏi đủ điều

    Trâu buộc thì ghét trâu ăn

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần

    Trai thì cày ruộng khiển trâu

    Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

    Ghi Chú: * Tục ăn trầu có ở hầu hết các nước Đông Nam Á; Xem: Trầu Cau

    Trong Ca Dao

    Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta (*)

    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

    Ghi Chú: * Hoặc: Trâu ta ăn cỏ đồng ta

    Trâu khoẻ chẳng lo cày trưa

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    Trâu kia chết để bộ da

    Người chết để tiếng xấu xa muôn đời

    Cao vây, dậy tiền, sâu vai, khai hậu

    Ghi Chú: * Hai chân sau mở rộng gọi là khai hậu

    Sừng cánh cắt, mắt ông voi

    Ghi Chú: * Cặp sừng to lớn như cánh chim cắt là trâu tốt

    Ăn thịt trâu không tỏi

    Như ăn gỏi không rau mơ

    Trâu quá sá, mạ quá thì

    Ghi Chú: * Quá sá là quá già, không còn khả năng để cày cấy

    Trâu dê chết để tế ruồi

    Sao bằng khi sống cơi suồi kính dâng

    Lại thêm tiền thấp hậu cao

    Ghi Chú: * Hai vai trước thấp mà mông cao, con trâu đi chúi là khôphải

    trâu tốt

    Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

    Ghi Chú: * Sống lưng phải vừa phải nhưng nổi cao thì trâu cày khỏe

    Đầu thanh cao, rào thấp hậu

    Chẳng tậu thì sao

    Được voi to trâu bò chẳng kể

    Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

    Một lời đã trót nói ra

    Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo (*)

    Ghi Chú: * Nguyên thủy: Nhất ký ngôn xuất tứ mãi nan truy

    Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    Trăm trâu trăm bó cỏ

    Trâu đứng ăn năm

    Trâu nằm ăn ba

    Nghé hoa ba con ăn một (*)

    Ghi Chú: * Câu đố toán học – Có bản khác: Con ở đàng xa một bó ba con

    Chưa được thì khấn một trâu

    Được rồi thì có trâu đâu cho bà

    Anh có sừng trâu bạc

    Tôi có gạc (có giác) trâu đen

    Bụng trâu làm sao bụng bò làm vậy

    Buộc trâu trưa nát chuồng

    Ăn thịt trâu không có tỏi

    Như ăn gỏi không có lá mơ

    Béo như trâu chương

    Đầu trâu mặt ngựa

    Chăn trâu chả biết mặt trâu

    Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

    Chị bị cứt trâu

    Chị em dâu nấu đầu trâu thủng nồi

    Chết đuối vũng trâu đằm

    Anh Ngữ Tương đương: * To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup)

    Chết lỗ chân trâu

    Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup

    Đàn gảy tai trâu (Đàn khảy tai trâu)

    Đầu nheo còn hơn phèo trâu

    Đến đâu chết trâu đến đấy

    Đi sông đi biển không chết chết ở lỗ chân trâu

    Làm cực như trâu

    Tương Đương với Anh Ngữ : To work as hard as a horse

    Chín đụn mười trâu chết cũng hai tay buông xuôi (cắp đít)

    Tương Đương với Anh Ngữ : A handfull of ashes is all than remains of the

    greatest. OR: It will all be the same a hundred years hence

    Có ăn có chọi mới gọi là trâu

    Gái mười bảy bẻ găy sừng trâu

    Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu

    Con trâu là đầu cơ nghiệp

    Cống làng Tô trâu bò làng Hệ

    Dắt trâu chui qua ống

    Đi cày trâu hút đi xúc phải cọc

    Trâu thì kho bò thì tái

    Muống thì vừa cải thì nhừ

    Đuôi chùng quá gối thì nào được đâu!

    Ghi Chú: * Trâu có đuôi dài quá cũng không đắc dụng

    Thứ nhất bó rễ, thứ nhì trễ cành

    Trâu cổ cò, bò cổ vại

    Ghi Chú: * Trâu phải có cổ dài, cổ bò lớn và ngắn thì tốt

    Giờ trâu về chuồng

    Hùng hục như trâu hút mả

    Hùng hục như trâu lăn

    Kẻ trâu trắng người trâu đen

    Khấn trâu trả lễ bò

    Khỏe như trâu

    Không có trâu bắt bò đi đẩm

    Làm kiếp trâu ăn cỏ làm kiếp chó ăn dơ

    Làm kiếp trâu kéo cày trả nợ

    Lấm như trâu đầm

    Lắm rận thì giàu lắm trâu thì nghèo

    Làm rể chớ xào thịt trâu làm dâu chớ đồ xôi lại

    Làm ruộng không trâu làm giàu không thóc

    Lắm ruộng thì thâu lắm trâu thì bán

    Làm thân trâu kéo cày trả nợ

    Làm thân trâu ngựa

    Lâu ngày cứt trâu hóa bùn

    Lộn con toán bán con trâu (cả nhà)

    Lộn thừng lộn chão quá hơn lộn trâu cày

    Lòng trâu dạ chó

    Máu đâu trâu đó

    Máu trâu cũng như máu bò

    Nằm trâu thổi sáo

    Một con tằm cũng phải hái dâu một con trâu cũng phải đi chăn

    Mua trâu bán chả

    Mua trâu lựa nái cưới gái lựa dòng

    Mua trâu vẽ bóng

    Muốn giàu nuôi trâu cái

    Nai lưng trâu

    Nhịn thuốc mua trâu nhịn trầu mua ruộng

    Tương Đương với Anh Ngữ : Take care of the pence and the pounces will

    take care of themselves

    Phản chủ đầu trâu

    Ăn cơm nhà Phật, Ðốt trâu nhà chùa

    Phản chủ đầu trâu Ăn cơm nhà Phật

    Đốt trâu nhà chùa

    Ruộng sâu trâu nái

    Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng

    Thui trâu nửa mùa hết rơm

    Tham bong bóng bỏ bọng trâu

    Thật thà lái buôn (trâu)

    Vễnh sừng, tóc chớp cả nhà mang tai

    Ghi Chú: * Trâu loại nầy dữ, hay nổi khùng như trâu điên dễ gây tai vạ

    Sông Sâu (hoắm) không chết, chết vũng trâu đầm

    Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup

    Thà chết vũng trâu hơn chết khu đĩa đèn

    Trật con toán bán cái nhà (con trâu)

    Trâu béo kéo trâu gầy

    Trâu bò được ngày phá đỗ

    Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết

    Trâu buộc ghét trâu ăn

    Trâu cày ngựa cỡi (ngựa cưỡi)

    Trâu chậm uống nước đục (nước dơ)

    Trâu ngơ ăn cỏ héo

    Tương Đương với Anh Ngữ: He that comes first to the hill may sit where

    he will. OR: Delays are dangerous

    Trâu chết bò cũng lột da

    Trâu chết chẳng khỏi rơm

    Trâu chết để da người ta chết để tiếng

    Trâu chết mặc trâu bò chết mặc bò

    Củ tỏi giắt lưng

    Trâu cho ra trâu cho

    Bò bán ra bò bán

    Trâu cột ghét trâu ăn

    Trâu đạp cũng chết voi đạp cũng chết

    Trâu dong bò dắt

    Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy

    Trâu già đâu (không) nệ dao phay

    Trâu hay ác thì trâu vạt sừng

    Trâu ho cũng bằng bò khỏe

    Trâu lấm vẫy quàng

    Trâu lành (Trâu sống) không ai mà cả

    Trâu ngã nhiều gã cầm dao

    Trâu leo cày muỗm

    Trâu ngã lắm kẻ cầm dao

    Trâu nghiến hàm bò bạch thiệt

    Trâu ta ăn cỏ đồng ta

    Trâu teo heo nở

    Trâu thịt thì gầy trâu cày thì béo

    Trâu tìm cọc cọc chẳng tìm trâu

    Trâu tìm cột cột không tìm trâu

    Trâu toi thì bò ngã

    Trâu trắng đi đâu mất mùa tới đấy

    Trâu trắng trâu đen

    Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt

    Thân trâu trâu lo thân bò bò liệu

    Tiếc thịt trâu toi

    Trai mười bảy bẻ gãy sừng trâu

    Trăm trâu cũng một công chăm

    Vác bổi thui trâu

    Ghi Chú: Ý nói không liệu sức mình; Tương đương với câu: Liệu cơm gắp

    mắm

    Vô một gà ra phải ba trâu

    Voi địt hơn trâu rống

    Khoáy sừng, khoáy sọ, khoáy tai

    Tam tinh, chằng ách làm tai chúa nhà

    Đầu gà còn hơn đuôi phượng (đuôi trâu)

    Tương Đương với Anh Ngữ : Better be the head of a dog than a tail of a

    lion Làm chủ một nơi còn hơn làm tôi tớ kẻ khác.

    Dùng dao mổ trâu (mổ bò) cắt tiết gà

    Tương Đương với Anh Ngữ : To use a steam hammer to crack nuts Xử dụng

    không đúng chỗ

    Chung nốt làm cầu, chung trâu làm trống

    Chỉ đường cho Mọi trộm trâu

    Trâu hoa tai, bò gai sừng

    Ghi Chú: Trâu có hoa tai cũng như bò có gai sừng là hai con vật không

    nên nuôi

    Thưa lông, mọng da, mõm giỏ

    Ghi Chú: * Trâu lông thưa, miệng rộng mõm dài, miệng như cái giỏ mới tốt

    Trâu nghiến hàm, bò bạch thiệt

    Ghi Chú: * Trâu nghiến hàm chặt lại là trâu xấu

    Hàm nghiến, lưỡi đốm hoa cà

    Vểnh sừng tóc chóp, cửa nhà mang tai

    Ghi Chú: * Lưỡi trâu có đốm hoa cà là trâu tốt

    Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi

    Mua trâu xem vó, mua chó xem chân

    Chùng đùi, thắt quản, ngắn đuôi

    Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

    Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà

    Ghi Chú: * Châm biếm người lái máy cày phải được ăn sang, nông dân phải

    chịu tốn kém

    Trâu ác là trâu vạc sừng

    Bò ác là bò còng lưng méo sườn

    Lọ đầu thì bán

    Lọ trán thì nuôi

    Lọ đuôi thì thịt

     

    Post ngày:

    10/05/17  

    --- Bài cũ hơn ---

  • Con Trâu Trong Văn Học Dân Gian
  • Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của
  • Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá
  • Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”
  • 36 Cụm Thành Ngữ Tiếng Hàn Dễ Thuộc Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Nói Hay Nhất Về Tình Bạn, Tình Yêu, Cuộc Sống Trong Anime
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tính Tự Lập
  • Lits 100 Những Câu Nói Hay Về Triết Lý Sống Nên Đọc
  • Stt Thả Thính Trai Gái Hay Kèm Hình Ảnh Typo Chữ Đẹp Nhất 2021 * Du Lịch Số
  • Những Châm Ngôn Du Lịch Đáng Suy Ngẫm
  • Những âu ca dao tục ngữ về con trâu Việt Nam

    Ca dao tục ngữ về con trâu Việt Nam

    Những câu ca dao tục ngữ vè con trâu Việt Nam hay nhất

    TỤC NGỮ

    1.

    Con trâu là đầu cơ nghiệp

    Câu tục ngữ gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước Việt Nam đã có từ xa xưa nhưng bây giờ hình ảnh con trâu đi trước cái cày theo sau được xem là hình ảnh biểu hiện của một nền nông nghiệp lạc hậu của Việt Nam.

    2.

    Chín gang trâu cười, mười gang trâu khóc.

    3.

    Tha cày cuốc góc, nghỉ nhọc chăn trâu.

    4.

    Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà.

    Câu nói trên có ý nghĩa là đủ 3 điều ấy mới là “đàn ông”, đầu tiên là phải tậu trâu vì con trâu nó làm ra tiền ra bạc, còn vợ thì hay mua sắm tốn kém cho nên phải sắm trâu để làm lụng trước.

    5.

    Trâu thịt thì gầy, trâu cày thì béo.

    6.

    Muốn giàu nuôi trâu lái, muốn lụn bại nuôi bồ câu.

    Câu tục ngữ muốn nhắn nhủ chúng ta muốn làm giàu thì nuôi trâu, “trâu lái” là trâu nái do dân địa phương người ta phát âm chữ “L” thành “N”

    7.

    Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi.

    Muốn nói rằng chúng ta nếu muốn mua trâu thì nên mua trâu nái tức “xem vó”, còn lấy vợ thì chọn con nhà có dòng dõi, có sức khỏe tốt, có khả năng sinh sản và không có di truyền bệnh tật, …

    8.

    Hai câu thơ tỏ vẻ biết ơn đến 2 con vật có công rất lớn trong sản xuất nông nghiệp.

    9.

    Mua trâu xem sừng, mua chó xem chân.

    10.

    Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc.

    Ý muốn nói không có trâu thì người dân sẽ gặp muôn vàng khó khăn trong sản xuất, qua đó phải biết quý trọng con trâu và xem nó như là bạn.

    CA DAO

    1.

    Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

    Hai câu ca dao trên ví von sự chăm chỉ của đôi vợ chồng nhà nông, nếu phân tích rỏ hành động thì từ chồng cày thì phải có trâu, trâu đi bừa thì phải có người. suy luận cách đó thì phải thêm 1 con trâu và 1 người nữa

    2.

    Ai nói chăn trâu là khổ??

    Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

    Ý muốn châm biếm những cô gái có lối sống xa hoa vật chất, và so sánh với hình ảnh con trâu chỉ ăn cỏ để sống qua ngày.

    3.

    Đêm qua kẻ trộm vào nhà,

    Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.

    Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,

    Thức mà giữ lấy con trâu con bò.

    Nằm đây nào đã ngủ cho,

    Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

    Muốn nói là giấc ngủ chẳng quan trọng bằng con trâu, nhỡ khi chợp mắt mất trâu rồi lấy gì đi cày mà kiếm sống.

    4.

    Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ăn cho béo trâu cày cho sâu.

    Ở đời khôn khéo chi đâu,

    Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

    Bốn câu ca dao trên muốn diễn đạt hình ảnh chăm sóc cho trâu khỏe mạnh để có thể cày sâu giúp ta kiếm sống.

    5.

    Tháng giêng là tháng ăn chơi,

    Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

    Tháng ba thì đậu đã già

    Ta đi ta hái về nhà phơi khô

    Tháng tư đi tậu trâu bò

    Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…

    “Tháng tư đi tậu trâu bò” lột tả hình ảnh con trâu quan trọng như thế nào trong ngành sản xuất, tậu trâu để tháng 5 bắt đầu cày bừa.

    6.

    Trâu ơi ta bảo trâu này,

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

    Cấy cày giữ nghiệp nông gia.

    Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!

    Bao giờ cây lúa còn bông,

    thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.

    Ý ở đây nói là nông nghiệp còn phụ thuộc vào cây lúa nước thì vẫn còn cần đến trâu nên mới cho trâu ăn cỏ để có sức khỏe giúp nhà nông.

    7.

    Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!

    Bài thơ cho thấy được sức khỏe của con trâu tốt hơn bò rất nhiều, do vậy mà từ bao đời nay chỉ có hình ảnh con trâu đi cày chứ không có con bò nào đi cày cả.

    8.

    Trâu buộc thì ghét trâu ăn,

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

    Hai câu ca dao trên có hàm ý là lấy hai con trâu ở hai tình thế khác nhau để so sánh, để phê phán thói hư, tật xấu của con người: hậm hực, ghen ghét những người hơn mình.

    9.

    Dù ai buôn bán nơi đâu

    Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

    Nhắn nhủ những người xa quê hương nên nhớ “mồng mười tháng tám” hãy về quê để tham gia lễ hội chọi trâu. Thật sự thì để mồng mười nghe cho nó vần chứ thật sự thì lễ chọi trâu Đồ Sơn diễn ra vào ngày 9 tháng 8 hàng năm.

    10.

    Trời mưa trời gió đùng đùng

    Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu

    Gánh về trồng bí trồng bàu

    Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

    4 câu thơ cho ta thấy được hình ảnh con trâu không chỉ có sức khỏe mà “phân trâu” còn giúp ích rất nhiều trong việc trồng trọt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Status Buồn Về Cuộc Sống Gia Đình Khó Khăn Thử Thách Đáng Để Suy Ngẫm
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Đoàn Kết Tương Trợ
  • Kho Tàng Stt Tiếng Anh Ngắn Hay Về Tình Yêu Ngọt Ngào, Sâu Lắng
  • 10 Câu Thoại Kinh Điển Mọi Thời Đại Của Joker: ‘nếu Bạn Giỏi Thứ Gì Đó Đừng Bao Giờ Làm Nó Miễn Phí’ Trở Thành Tuyên Ngôn Giới Trẻ
  • Những Khẩu Hiệu An Toàn Giao Thông Hay
  • Con Trâu Trong Ngôn Ngữ Ca Dao

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Cò
  • Tổng Hợp Những Câu Đố Dành Cho Trẻ Mầm Non, 300 Câu Đố Hay
  • Kho Tàng Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín
  • Chùm Ca Dao Đặc Sắc Về Hà Nội
  • #1 Những Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Di Tích Lịch Sử Ở Hậu Giang
  • 2. Hình ảnh con trâu trong ca dao, tục ngữ trước hết là hình ảnh được biểu hiện hiển ngôn. Trong hai con vật thân quen với cuộc sống của người nông dân là trâu và bò thì trâu được đánh giá cao hơn bò: ” Trâu gầy cũng tày bò giống“, ” Trâu he cũng bằng bò khoẻ ” (Tục ngữ). Bò khả năng chịu rét kém, sức kéo không khoẻ bằng trâu, đặc biệt là việc kéo cày ở đồng chiêm thì bò kém xa trâu. Trâu có sức khoẻ dẻo dai hơn bò:

    Trâu năm sáu tuổi còn nhanh, Bò năm sáu tuổi đã tranh về già, Đồng chiêm xin chớ nuôi bò, Mùa đồng tháng giá, bò dò làm sao!

    Chính vì thế mà nuôi trâu để phục vụ cho lao động sản xuất là sự ưu tiên lựa chọn hàng đầu của người nông dân. Nghề nông mà không có trâu thì không thể tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả cao giống như việc nhà giàu mà không có thóc gạo: ” Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc“. Muốn có trâu hay, cày khoẻ thì cần phải biết chọn trâu giống tốt. Tục ngữ nêu lên kinh nghiệm mua trâu: ” Mua trâu xem sừng, mua chó xem chân” hay ” Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi“, ” Trâu cổ cò, bò cổ vại “. Trâu sừng to, cân đối là trâu khoẻ. Cổ trâu dài, cổ bò ngắn và to là loại trâu bò kéo khoẻ. Trâu khoẻ và nhanh có ảnh hưởng đến hiệu quả công việc sản xuất:

    Thứ nhất vợ dại trong nhà,

    Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn. – Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa, Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    Trâu là con vật đóng vai trò hàng đầu của nhà nông: ” Con trâu là đầu cơ nghiệp“. Muốn làm giàu thì phải nuôi trâu, đặc biệt là trâu nái vừa cày vừa sinhh sản và bán trâu giống là có cơ hội giàu có: ” Muốn giàu nuôi trâu nái, muốn lụn bại nuôi bồ câu “. Tuy nhiên, việc “tậu trâu” là việc hệ trọng tương đương “lấy vợ, làm nhà” và chọn trâu tốt không phải là công việc dễ dàng.

    Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà Trong ba việc ấy thật là khó thay.

    Sự giàu có sung túc của nhà nông được đánh giá bằng chất lượng và số lượng ruộng và trâu: ” Ruộng sâu, trâu nái ” và ca dao thì:

    Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu, Tham vì ông lão tốt râu mà hiền.

    Chăn trâu là một việc làm khá vất vả, phải đi sớm về khuya, suốt ngày phơi mặt ngoài đồng, phải chịu mưa nắng gió rét, chăm bẵm trâu cho béo tốt, có sức mà kéo cày:

    Trâu anh con cưỡi con dòng, Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn.

    Chăn trâu là phải luôn coi chừng trâu, không để trâu đi lạc đàn, trâu ăn lúa. Trâu đã đi vào bài ca dao huyền thoại nói về chú Cuội chăn trâu mải chơi, ngồi gốc cây đa để trâu ăn lúa”

    Thằng Cuội ngồi gốc cây đa Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời Cha còn cắt cỏ trên trời Mẹ còn cưỡi ngựa đi chơi cầu vồng

    Chính vì vất vả nặng nhọc và mang trách nhiệm nặng nề nên đứa trẻ chăn trâu được xã hội xưa coi trọng, quý mến. Có hẳn một lễ hội mục đồng mà những đứa trẻ chăn trâu tham gia và được đối xử trọng vọng. Lễ hội chọi trâu là một hình thức thi trâu khoẻ, tôn vinh người chăn trâu, gia đình nào có trâu thắng cuộc thì rất vinh dự. Lễ hội chọi trâu trở thành một ngày hội lớn:

    Dù ai buôn đâu bán đâu, Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về. Dù ai buôn bán trăm nghề, Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu.

    Con trâu với công việc cày vừa của nhà nông thường do người đàn ông đảm nhận. Vì vậy, biết điều khiển con trâu và cày sao cho giỏi là tiêu chuẩn để đánh giá người con trai trong công việc nhà nông:

    Trai thì cày ruộng khiển trâu Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

    Văn hoá nghề nông thể hiện rất rõ qua công việc cày cấy, mối quan hệ giữa người với trâu. Trâu không còn là con vật mà là người bạn cùng làm nông, họ thường tâm tình tha thiết với trâu về công việc cày cấy:

    Trâu ơi! Ta bảo trâu này! Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta. Cày cấy vốn nghiệp nông gia, Ta đây trâu đấy ai mà quản công! Bao giờ cây lúa trổ bông, Thời còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

    Người chăn trâu tâm tình, khuyên bảo trâu ân cần về việc ăn uống, làm lụng, cả về những vấn đề triết lí nhân sinh:

    Trâu ơi ta bảo trâu này, Trâu ăn cho béo trâu cày cho sâu. Ở đời khôn khéo chi đâu, Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

    Với nghề nông thì “cần” là phẩm chất quan trọng và người chăn trâu khuyên trâu muốn cần thì phải có sức khoẻ, muốn có sức khoẻ để cày sâu thì phải ăn cho khoẻ. Người nông dân nói với trâu là cũng tự nhủ với lòng mình.

    Con trâu thường gắn với lịch nông vụ:

    Tháng tư đi tậu trâu bò, Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…

    Nghề nông là một nghề vất vả nhưng là một nghề cao cả vì nó quyết định đến đời sống của mọi người. Người Đông Nam Á nói chung và người Việt nói riêng, cơm là món ăn chủ đạo hàng ngày. Bài ca sau đây nói về sự lam lũ của nghề nông và lời nhắn gửi với mọi người đừng quên công lao nhọc nhằn của họ”

    Lao xao gà gáy rạng ngày, Vai vác cái cày, tay dắt con trâu. Bước chân xuống cánh đồng sâu, Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày. Ai ơi! Bưng bát cơm đầy, Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng.

    Tuy vất vả nhưng người nông dân luôn yêu đời, lạc quan tin tưởng vào tương lai tươi sáng. Họ coi công việc cày cấy là niềm vui và giữa trâu với người cùng hoà bài ca niềm hăng say lao động. Cảnh trâu và người cùng đồng hành trong công việc nhà nông, trâu như một thành viên trong gia đình đầm ấm hạnh phúc:

    Rủ nhau đi cấy đi cày Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu Trên đồng cạn, dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa

    Hình ảnh con trâu được dùng với ý nghĩa hành ngôn có số lượng khá cao trong các bài ca dao tục ngữ nói về con trâu. Nhận xét về các loại người trong xã hội, tục ngữ dùng hình ảnh con trâu với các cấu trúc biểu thị ý nghĩa hành ngôn. Hình ảnh “trâu chậm” và “trâu ngơ” để biểu thị loại người chậm chạp, ngu ngơ thì sẽ bị thua thiệt: ” Trâu chậm uống nước dơ, Trâu ngơ ăn cỏ héo“. Khi người ta cùng cảnh ngộ, cùng giới tính thì thường có những suy nghĩ và ham muốn giống nhau thể hiện qua câu tục ngữ: ” Bụng trâu làm sao, bụng bò làm vậy” hay ” Bụng trâu cũng như dạ bò“. Phê phán những kẻ cơ hội, vô tâm, chỉ biết lợi cho mình, tục ngữ có câu: ” Trâu lành không ai mà cả Trâu ngã nhiều gã cầm dao“, ” Trâu chết mặc trâu bò chết mặc bò củ tỏi giắt lưng“. Để chỉ loại người tham lam, tác giả dân gian dùng hình ảnh cái bụng vô độ của chó và trâu: ” Cơm đâu no bụng chó, cỏ đâu no bụng trâu “.

    Tục ngữ thường lấy hình ảnh con trâu để nhận xét về các quan hệ trong xã hội. Trong xã hội xưa, những thế lực thống trị thường tranh chấp nhau làm cho dân tình tang thương khốn khổ thể hiện qua câu tục ngữ: ” Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết “. Để biểu thị sự so kè, ghen ghét nhau của các quan chức thời phong kiến, tác giả dân gian đã dùng hình ảnh “trâu buộc” và “trâu ăn”:

    Trâu buộc thì ghét trâu ăn, Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

    Nhận xét về nhân tình thế thái, tác giả dân gian thường dùng hình ảnh trâu với các cấu trúc ngữ nghĩa khác nhau. Câu tục ngữ ” Cứt trâu để lâu hoá bùn ” để hàm chỉ sự việc gì mà để lâi thì giảm bớt hiệu quả, giảm bớt sự nghiêm trọng của sự việc, thậm chí có thể thay đổi bản chất vấn đề. Thói thường nhiều khi người ta không nhận ra bản chất sự việc, khi có nhiều thì chê ỏng chê eo nhưng khi không có, túng thế lại chấp nhận những cái tầm thường:

    Nước giữa dòng chê trong, chê đục Vũng trâu đầm hì hục khen ngon

    Nói về sự bù trừ, tương trợ lẫn nhau hoặc là sự chia đều, đổ đồng, tục ngữ có câu: ” Trâu béo kéo trâu gầy“. Nói về tính cộng đồng thì tác giả dân gian thường nói về thói quen sống theo bầy đàn của trâu, đây cũng là tâm lí bầy đàn của xã hội sống quần cư: ” Trâu có đàn, bò có lũ“. Người Việt luôn trọng danh dự, coi danh dự hơn cả của cải vật chất nên biết tạo danh tiếng cho mình. Câu tục ngữ ” Trâu chết để da, người ta chết để tiếng ” là để nhắc nhở mọi người biết giữ gìn danh dự.

    Tác giả dân gian mượn hình ảnh trâu với đặc tính không thính tai để nói về vấn đề có tính triết lí nhân sinh, nói với người không hiểu biết như “Đàn gảy tai trâu”, làm việc một cách vô ích, không có hiệu quả:

    Đàn đâu mà gảy tai trâu, Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi!

    Nói về mối quan hệ trai gái, câu tục ngữ ” Trâu tìm cọc (cột) cọc (cột) chẳng tìm trâu ” hàm chỉ người con trai thường đi tìm người con gái để ngỏ lời chứ con gái không đi tìm con trai để tán tỉnh. Hình ảnh đáng yêu của “ngọn cỏ phất phơ” là em và anh là “con nghé nhởn nhơ” đi tìm cỏ, cỏ cần cho trâu và trâu bao giờ cũng khát khao ăn cỏ như anh khát khao em:

    Em như ngọn cỏ phất phơ, Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng

    Hình ảnh cỏ được tiếp tục để hàm chỉ người con gái và sự “kén cỏ” được hàm chỉ sự kén vợ của các chàng trai:

    Trâu kia kén cỏ bờ ao, Anh kia không vợ đời nào có con. Người ta con trước con sau, Thân anh không vợ như cau không buồng.

    Nói đến trâu là gắn với chức năng cày bừa và làm việc vất vả, nặng nhọc: ” Trâu cày ngựa cưỡi “. Mượn ý của câu thành ngữ này nhưng ca dao nói với hàm nghĩa vui đùa:

    Của chua ai nấy cũng thèm, Em cho chị mượn chồng em vài ngày. Chồng em đâu phải trâu cày, Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm.

    Nói đến trâu gắn liền với đồng làng là hàm chỉ kiểu văn hoá làng xã. Trong xã hội xưa, dân làng nào thì theo tập quán, hương ước của làng ấy theo kiểu: ” Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy “. các sinh hoạt đều bó hẹp trong phạm vi làng xã, thậm chí cái gì của làng mình cũng tốt hơn làng khác. Đây là kiểu văn hoá tự hào tự tôn về làng xã của mình:

    Trâu ta ăn cỏ đồng ta, Tham thanh chuộng lạ dắt qua đồng người Đồng ngượi cỏ tốt nhưng hôi, Đồng ta cỏ xấu nhưng bùi trâu ăn.

    3. Như vậy, ngôn ngữ ca dao, tục ngữ có hình ảnh con trâu thể hiện đầy đủ các khía cạnh của văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần. Nói đến trâu là nói đến nền sản xuất nông nghiệp và văn hoá làng xã. Hình ảnh trâu trong ca dao, tục ngữ là hình ảnh dùng để so sánh, ẩn dụ nên nó có ý nghĩa hành ngôn, thể hiện những nhận xét của tác giả dân gian về con người, việc đời và rút ra các mối quan hệ nhân sinh. Rồi mai đây, con trâu không còn kéo cày trên cánh đồng như hình ảnh con trâu trong ca dao, tục ngữ là một kho bảo tàng sống động về sinh hoạt làng quê và phong tục tập quán gắn với nghề nông một thời.

    Tài liệu tham khảo

    1. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (Chủ biên), (1995), Kho tàng ca daô người Việt, Bốn tập, Nxb VHTT, H.

    2. Nguyễn Lai (1996), Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học, Nxb GD, H.

    3. Mã Giang Lân (2000), “Tục ngữ ca dao Việt Nam”, Cao dao Việt Nam, những lời bình, Nxb VHTT, H.

    4. Phan Ngọc (2000), Thử xem xét văn hoá văn học bằng ngôn ngữ, Nxb Thanh Niên, H.

    5. Vũ Ngọc Phan (1978), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, In lần thứ tám, Nxb KHXH, H.

    6. Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb Tp. Hồ Chí Minh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Bất Công, Không Công Bằng
  • Chùm Thơ Rất Hay Về Hoa Sen Với Những Ý Thơ Và Ngôn Từ Tuyệt Đẹp
  • Nhưng Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Khoan Dung
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Vô Ơn Trong Cuộc Sống Đúng Nhất
  • Một Số Câu Thành Ngữ
  • Ngày Xuân, Tản Mạn Về “Con Trâu” Trong Ca Dao Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Về Con Cò
  • Cái Cò Và Con Cò
  • Báo Cao Bằng Điện Tử
  • Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam Ebook Pdf
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Ghen Ăn Tức Ở Hay – Chất – Thấm Nhất Dành Cho Các Thành Phần Gato
  • Ths.Trần Tùng Chinh

     Năm Kỷ Sửu, năm con trâu, quả là có nhiều chuyện để bàn về con vật hiền lành này. Dân gian thật lạ, khi người ta, nhất là những đứa trẻ có những hành động nghịch ngợm, rắn mắc, quậy phá, thậm chí là những biểu hiện vô giáo dục, ông bà mình ngày xưa không tiếc lời mắng mỏ là đồ “trâu sanh chó đẻ”; mặt mày mà khó ưa thì dân gian lấy hình ảnh dễ sợ trong trí tưởng tượng của mình về cái chốn âm trì địa ngục để gọi là dòng cái thứ “đầu trâu mặt ngựa”… Âu cũng là chuyện bất công.

    Đầu năm mở đầu bằng một vài câu chửi có hình ảnh con trâu là để “xả xui”. Thực ra như đã nói, đây là con vật hiền lành số một. Con vật là biểu tượng của nền văn minh nông nghiệp lúa nước này, từ bao đời nay là một người bạn tốt của con người.

    Ta hãy nghe cậu bé mục đồng vắt vẻo trên lưng trâu véo von tiếng sáo “Ai bảo chăn trâu là khổ”. Hay bác nông dân không hề có ý thức tu từ nhưng đã nhân hóa một cách tự nhiên hình ảnh con trâu để thủ thỉ rất tình cảm với “người bạn” của mình, rằng:

    “Trâu ơi, ta bảo trâu này,

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta…

    Cấy cày vốn nghiệp nông gia

    Ta đâu trâu đấy ai mà quản công

    Bao giờ ngọn lúa còn bông

    Là còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn…”

    Lời hát dân gian sao mà thấm đượm nghĩa tình. Có cực cùng chia, có phúc cùng hưởng. Thời mà việc đồng áng còn thủ công, “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Không có con trâu – cả con bò đáng yêu nữa – thì quả thật công việc năm nắng mười mưa, dãi nắng dầm sương, bán mặt cho đất bán lưng cho trời ngoài đồng ruộng của người nông dân xưa thêm trăm phần khốn khó. Vì vậy chả trách người ta đưa cái việc “tậu trâu” lên trước cả “cưới vợ, làm nhà” để nhắc nhở rằng “trong ba việc ấy lọ là khó thay” để không thể làm tùy tiện, dễ dãi coi thường được.

    Ca dao xưa vẫn còn lưu truyền những bài “kinh điển” về con trâu trong quan hệ với người nông dân:

    “Lao xao gà gáy rạng ngày

    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu

    Bước chân xuống cánh đồng sâu

    Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày

    Ai ơi, bưng bát cơm đầy

    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng ?”

    Hay là:

    “Rạng ngày vác cuốc ra đồng,

    Tay cầm nồi lửa, tay dòng thừng trâu

    Ruộng đầm nước cả bùn sâu

    Suốt ngày cùng với con trâu cày bừa

    Việc làm chẳng quản nắng mưa

    Cơm ăn đắp đổi muối dưa tháng ngày

    Ai ơi, bưng bát cơm đầy

    Biết công kẻ cấy người cày mới nao”

    Hoặc là bài ca dao hết sức quen thuộc sau đây:

    “Rủ nhau đi cấy đi cày,

    Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu

    Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chống cày vợ cấy con trâu đi bừa”

    Cái thuở mà “con trâu đi trước cái cày theo sau” ấy, tình chồng nghĩa vợ gắn bó với nhau trong lao động gian khó, trong mồ hôi nước mắt để kiếm miếng cơm manh áo, con trâu là chứng nhân, là người bạn gắn bó hàn vi. Trâu gần gũi thân thiết, trâu chia sẻ vui buồn. Trâu cũng đi vào trong ngôn ngữ của tình yêu – tất nhiên ở đây là tình yêu của người nông dân chân lấm tay bùn, chịu thương chịu khó. Chẳng hạn như con trâu thành một tiêu chuẩn để lựa chọn tình yêu:

    “Trai thì cày ruộng khiển trâu,

    Gái thì phải biết bổ cau têm trầu”

    Để thề thốt yêu thương:

    “Trăm năm còn có gì đâu

    Miếng trầu liền với con trâu một vần”

    Để trách móc nhẹ nhàng mà cay đắng:

    “Công anh chăn nghé đã lâu,

    Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày ?”

    Thậm chí để “xỉa xói”, để “ngọt nhạt”, “mát mẻ” nhằm khẳng định quyền “sở hữu” trong tình yêu – vốn không thể san sẻ cho bất kỳ người thứ ba nào:

    “Của chua ai nấy cũng thèm

    Em cho chị mượn chồng em vài ngày

    – Chồng em đâu phải trâu cày

    Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm ?”

    Hoặc có cái hóm hỉnh, ỡm ờ “mắng yêu” người bạn tình của mình lúc đầu ấp tay gối, má tựa vai kề:

    “Hùng hục như trâu húc mả”,

    “Khỏe như trâu”,

    “Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu”,

    “Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta,

    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm”…

    Và khi tình yêu, hôn nhân hạnh phúc của người bình dân đơm hoa kết trái thì họ tự hào mãn nguyện nhìn ngắm đứa con yêu quý của mình mà nói với nhau rằng:

    “Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng”

    Trữ tình, duyên dáng mà ngọt ngào đáng yêu vô cùng !

    “Làm thân trâu kéo cày trả nợ”

    “Làm kiếp trâu ăn cỏ, làm kiếp chó ăn dơ”

    Hoặc con trâu cũng là để triết lý nhân sinh thế sự. Chẳng hạn như:

    “Trâu kia chết để bộ da,

    Người chết để tiếng xấu xa muôn đời”

    “Đàn đâu đàn gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi”

    “Trâu chậm uống nước dơ”

    Trâu ngơ ăn cỏ héo”

    “Trâu bò ở với nhau lâu quen chuồng quen chỏi

    Người ở với nhau lâu inh ỏi đủ điều”

    “Trâu buộc thì ghét trâu ăn

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần”

    “Đi sông đi biển không chết, chết ở lỗ chân trâu”

    “Thật thà cũng thể lái trâu

    Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng”

    Thế mới thấy, trong quan hệ gần gũi với con người, khi triết lý, đúc kết kinh nghiệm sống, người bình dân đã “không tha” cho con vật quen thuộc với mình. Họ nhìn ngắm, quan sát, phân tích, đánh giá và đem hình ảnh con trâu vào để ví von cho cách đối nhân xử thế, cho những dạng tính cách con người, cho những bài học cuộc sống mà không hề có trong trường học. Vâng, trường đời với bao trải nghiệm quý giá đã mang đến những bài học không thể đánh đổi bằng bất cứ thứ gì…

    Thôi thì để kết thúc bài viết tản mạn này, ta hãy đến với hình ảnh con trâu trong cái nhìn “ẩm thực” cho phù hợp với cái không khí “ăn chơi” của ba ngày tết. Ừ thì cũng có thể xem đây là kinh nghiệm để thực đơn ngày xuân Kỷ sửu thêm phần hương vị:

    “Làm rể chớ xào thịt trâu

    Làm dâu chớ đồ xôi lại”

    “Trâu thì kho, bò thì tái”

    “Ăn thịt trâu không có tỏi

    Như ăn gỏi không có lá mơ”

    Mà lạ sao, tìm khắp các câu tục ngữ, ca dao không thấy câu nào ca ngợi cái món “lẩu trâu” vậy ta, e rằng cũng là một chút thiếu sót cho một bài viết vài dòng tản mạn về Trâu…

    Xuân Kỷ Sửu

     TTC

    Posted by Hoài Ngọc

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu
  • Con Trâu Trong Văn Học Dân Gian
  • Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của
  • Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá
  • Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngày Xuân, Tản Mạn Về “Con Trâu” Trong Ca Dao Tục Ngữ
  • Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Về Con Cò
  • Cái Cò Và Con Cò
  • Báo Cao Bằng Điện Tử
  • Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam Ebook Pdf
  • Truyện ngắn

     

    Hai vợ chồng hàng xóm của tôi lúc nhỏ là mục đồng, ngày ngày trên lưng trâu dong ruổi khắp cánh đồng, miệng nghêu ngao những câu hát hò quen thuộc được truyền miệng từ người này qua người khác. Lớn lên cả hai nên vợ nên chồng, ngoài công việc đồng áng, họ còn theo nghề lái trâu. Họ có cả kho những câu ca dao, tục ngữ nói về trâu. Hàng xóm chúng tôi thường chứng kiến tài đối đáp của hai người. Nghe mãi nên vợ chồng tôi cũng thuộc vài câu ca dao, tục ngữ mà họ đối đáp nhau mỗi khi tranh tài.

    Tết sắp đến, tôi nghe hai vợ chồng lái trâu bàn với nhau buôn bán cho đến hết ngày 28 Tết thì nghỉ để dọn dẹp nhà cửa đón Tết. Vậy mà sáng 29 Tết, tôi nghe cô vợ cằn nhằn:

    – Đúng là “Đờn gãy tai trâu” mà, đã dặn rồi vậy mà sáng sớm đi mất biệt để cho mình vật lộn với bao nhiêu là công việc.

    Chẳng biết ông chồng đi đâu mà mãi gần sáng hôm sau mới mò về. Tôi nghe tiếng ông chồng nghêu ngao từ xa:

    “Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta”

    Rồi tiếng cô vợ ra mở cổng. Chẳng thèm hỏi, cô vợ cất tiếng:

    “Đường về đêm tối canh thâu

    Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười”

    Không để chồng kịp trả lời, lúc này chị vợ mới hỏi:

    – Đi đâu mà bây giờ mới mò về, lại “như trâu bò mới vực nhau” vậy? Suốt đêm ông đi đâu “Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi” phải không?

    Ông chồng liền lẹ làng lên tiếng:

    “Thiệt tình không phải nói ngoa

    Hôm nay tôi thấy con gà đá trâu”

    Chị vợ cũng không vừa:

    “Gà đá trâu bao lâu mới thắng

    “Trâu đá gà què cẳng con trâu”

    Ông chồng nói tiếp:

    – Trời tối, không thấy đường nên đi lạc, bộ bà không biết “Lạc đường nắm đuôi chó/ Lạc ngõ nắm đuôi trâu” sao? Nhờ nắm đuôi trâu mà tôi mới về được đến nhà đấy, nếu không thì đi lạc vào nhà người khác rồi.

    – Đừng có già mồm, nhưng ông đi đâu mà lạc? Bộ “dắt trâu chui qua ống” hả? Hay ông muốn “cưa sừng làm nghé” vẩy đuôi với mấy bà góa xóm trên.

    – Đúng là “Nước giữa dòng chê trong chê đục/ Vũng trâu đầm hì hục khen ngon”. Nhà hết sạch cơm canh rồi “trâu chậm uống nước đục”, “Trâu chết mặc trâu/ Bò chết mặc bò”. Mặc kệ ông. Nhìn ông thấy phát ớn!

    – Sao lại ớn? Bà không thấy tui rất đàng hoàng, chung thủy với bà sao? Say xỉn cách mấy tui cũng ráng tìm về nhà với bà, không dám đi ngang về tắt. Bởi tui nghĩ “Trâu ta ăn cỏ đồng ta/ Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm”. “Đồng người cỏ tốt nhưng hôi/ Đồng ta cỏ xấu nhưng bùi trâu ăn”.

    – Đúng là “Trâu cổ cò/ Bò cổ giải”, lấy nhằm ông là số tui xui hết cỡ.

    – Nè! Nè! Bà không nghe người ta nói sao, để tui nhắc cho bà nhớ:

    “Số em giàu lấy khó cũng giàu

    Số em nghèo chín đụng, mười trâu cũng nghèo

    Phải duyên phải kiếp thì theo

    Giàu ăn khó chịu, lo gì mà lo”

    Tại số bà nghèo nên tui phải chịu vạ lây, bởi tui không nghe lời người xưa dạy “Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi” nên lấy phải thứ “Trâu nghiến hàm, bò bạch thiệt”. Giờ phải chịu làm thân “trâu béo kéo trâu gầy”. Thiệt khổ thân, đúng là cực như trâu!

    Chị vợ không vừa:

    – Đồ cái thứ “đầu trâu mặt ngựa” tui đây “lộn con toán, bán con trâu” nên lấy phải ông, khổ cả đời. Cũng tại ông trước đây theo tán tỉnh tôi, một hai đòi làm thân trâu ngựa để lo cho tôi “trâu đi tìm cọc” chứ đời nào “cọc đi tìm trâu” mà bây giờ ông lên mặt nặng nhẹ với tôi “trâu ác là trâu vạc sừng” đó. Nói cho ông biết, thiên hạ người ta nói tôi:

    Tiếc cho vợ khôn lấy thằng chồng dại/ Như bông hoa lài cắm bãi cứt trâu.

    Nhưng mà thôi, không cãi nữa, ông đi mà lo quét dọn bàn thờ, chùi bộ lư đồng cho bóng, chuẩn bị rước ông bà, lại còn khách khứa nữa.

    – “Trâu khỏe chẳng lo cày trưa/ Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền”. Từ từ ăn xong cái đã “Có ăn có chọi mới gọi là trâu” chứ!

    – Đúng là “Đàn gãy tai trâu”! Người ta thì “Một con tằm cũng phải hái dâu, một con trâu cũng phải đứng đồng”, còn ông thì cứ vô tư, chỉ giỏi nhậu nhẹt, đàn đúm, coi chừng có ngày cũng chết sớm.

    – Bà khéo lo xa “Trâu ho bằng bò rống” ấy mà.

    Vợ chồng tôi nằm nghe vợ chồng lái trâu tranh tài mà không khỏi cười thầm, ngày thường họ rất yêu thương nhau nhưng không ai chịu thua ai. Lo cuộc chiến kéo dài nên vợ chồng tôi chạy sang. Tôi lên tiếng:

    – Tại sao hai đứa cứ tranh cãi nhau mãi thế? Cả hai quên cái thời:

    Rủ nhau đi cấy đi cày/ Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu/ Trên đồng cạn, dưới đồng sâu/ Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.

    Vợ tôi thêm:

    – Hai đứa phải biết: “Thương nhau vì nợ vì duyên/ Trâu đôi chi đó, thổ điền chi đây”. Vợ chồng bây nên nhớ, cãi vã rồi sinh ấu đả “Trâu toi thì bò ngã” đó nghen!

    Hai vợ chồng lái trâu cười xòa, không cãi nữa.

    Thạch Sene

    (TP. Cần Thơ)

    Tuần Báo Văn Nghệ chúng tôi số Xuân 2021

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu
  • Con Trâu Trong Văn Học Dân Gian
  • Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của
  • Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá
  • Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Cò

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Đố Dành Cho Trẻ Mầm Non, 300 Câu Đố Hay
  • Kho Tàng Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín
  • Chùm Ca Dao Đặc Sắc Về Hà Nội
  • #1 Những Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Di Tích Lịch Sử Ở Hậu Giang
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Triết Lý Kinh Doanh Và Kinh Tế
  • Con cò mà đi ăn đêm

    Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao

    Ông ơi ông vớt tôi nao

    Tối có lòng nào ông hãy xáo măng

    Có xáo thì xáo nước trong

    Đừng xáo nước đục đau lòng cò con!

    Cái cò đi đón cơn mưa

    Tối tăm mù mịt ai đưa, cò về?

    Cò về đến gốc cây đề,

    Giương cung anh bắn cò về làm chỉ

    Cò về thăm bác thăm dì,

    Thăm cô xứ Bắc thăm dì xứ Đông.

    Con cò lấp lé bụi tre

    Sao cò lại muốn lăm le vợ người

    Vào đây ta hát đôi lời

    Để cho cò hiểu sự đời , ở ăn

    Sự đời cò lấy làm răn

    Để cho cò khỏi băn khoăn sự đời.

    Cái cò bay lả bay la

    Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng.

    Cái cò bay bổng bay lơ

    Lại đây anh gởi xôi ngô cho nàng.

    Đem về nàng nấu nàng rang,

    Nàng ăn có dẻo thì nàng lấy anh.

    Cái cò cái vạc cái nông

    Sao mày giẫm lúa nhà ông hỡi cò,

    Không, không! Tôi đứng trên bờ

    Mẹ con nhà vạc đổ ngờ cho tôi

    Chẳng tin ông đứng ông coi

    Mẹ con nhà nó còn ngồi đấy kia!

    Cái cò cái vạc cái nông

    Ba con cùng béo, vặt lông con nào

    Vặt lông con vạc cho tao

    Mắm muối bỏ vào, xào rán rồi thuôn!

    Cái cò cái vạc cái nông

    Cùng ăn một đồng nói chuyện giăng ca

    Muối kia đổ ruột con gà

    Mẹ mình chẳng xót bằng ta xót mình.

    Cái cò chết tối hôm qua

    Có hai hạt gạo với ba đồng tiền

    Một đồng mua trống mua kèn

    Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong

    Một đồng mua mớ rau răm

    Đem về thái nhỏ thờ vong con cò.

    Cái cò lặn lội bờ ao

    Phất phơ đôi dải yếm đào gió bay

    Em về giục mẹ cùng thầy,

    Cắm sào đợi nước biết ngày nào trong?

    Cổ yếm em thõng thòng thòng,

    Tay em đeo vòng như bắp chuối non.

    Em khoe em đẹp em giòn,

    Anh trông nhan sắc em còn kém xuân.

    Cái cò lặn lội bờ ao

    Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?

    Chú tôi hay tửu hay tăm,

    Hay ngồi một xó, hay ăn thịt gà

    Ai ra ruộng chú ở nhà

    Nói thì dở giọng ba hao chích chòe!

    Cái cò lặn lội bờ ao

    Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?

    Chú tôi hay tửu hay tăm,

    Hay nước chè đặc hay nằm ngủ trưa

    Ngày thì ước những ngày mưa!

    Đêm thì ước những đêm thừa trống canh.

    Cái cò lặn lội bờ sông,

    Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền!

    Cái cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

    Chàng đi xa vợ xa con

    Chàng đi đến tận nước non Cao Bằng

    Chân đi nhưng dạ dùng dằng

    Nửa nhớ Cao Bằng, nửa nhớ vợ con!

    Nàng về nuôi cái cùng con

    Để anh đi trẩy nước non cùng người

    Cái cò lặn lội bờ sông

    Cổ dài mỏ cứng cánh cong lưng gù

    Bã xa sông rộng sóng to

    Vì lo cái bụng đi mò cái ăn.

    Cái cò là cái cò con

    Mẹ đi xúc tép, để con ở nhà

    Mẹ đi lặn lội đồng xa

    Mẹ sà chân xuống, phải mà con lươn

    Ông kia có cái thuyền buồm

    Chở vào rừng rậm xem lươn bắt cò

    Ông kia chống gậy lò dò

    Con lươn thụt xuống, con cò bay lên.

    Cái cò là cái cò kỳ

    Ăn cơm nhà dì, uống nước nhà cô

    Đêm nằm thì ngáy o o

    Chưa đi đến chợ đã lo ăn quà

    Hàng bánh hàng bún bầy ra

    Củ từ khoai sọ, đến bà cháo kê

    Ăn rồi cắp đít ra về

    Thấy hàng chả chó, lại lê chân vào

    Chả này bà bán ra sao

    Ba đồng một gắp, thì nào tôi mua!

    Nói dối rằng mua cho chồng

    Về đến quãng đồng, ngả nón ra ăn

    Ăn rồi đau quặn đau quăn

    Chạy về cho kịp, nằm lăn cả ngày

    Đem tiền đi bói ông thầy

    Bói ra quẻ này: những chả cùng nem

    Ông thầy nói dối đã quen

    Nào ai ăn chả ăn nem bao giờ!

    Cái cò là cái cò quăm

    Mày hay đánh vợ mày nằm với ai?

    Có đánh thì đánh sớm mai,

    Chớ đánh chập tối chẳng ai cho nằm!

    Cái cò là cái cò vàng

    Mẹ đi bán hàng, nhà lại vắng cha

    Vắng cha thì ở với bà

    Không ở với chú, chú là đàn ông.

    Cái cò là cái cò vàng

    Mẹ đi đắp đàng con ở với ai

    Con ở với bà, bà không có vú

    Không ở với chú, chú là đàn ông.

    Thôi con chết quách cho xong!

    Con cò là con cò vàng

    Muốn đi hát đúm sợ làng cười chê

    Ai cười lời kẻ thôn quê

    Mà cò ngần ngại đứng lề đường quan

    Hay cò vui câu xẩm xoan

    Thì cò bay đến hân hoan cùng người.

    Cái cò mà mổ cái tôm

    Cái tôm quắp lại mà ôm cái cò.

    Cái cò mà mổ cái trai,

    Cái trai quắp lại mà nhai cái cò.

    Cái cò trắng bạch như vôi

    Cô kia có lấy chú tôi thì về.

    Chú tôi chẳng mắng chẳng chê,

    Thím tôi thì mổ lấy mề nấu canh!

    Con cò trắng bệch như vôi

    Đừng nông nổi nữa, đừng lời nguyệt hoa

    Ví dù muốn đẹp đôi ta

    Đừng như cánh bướm quanh hoa đầu mùa

    Đừng vê thuốc, đừng bỏ bùa

    Đừng như chú tiểu ở chùa Thiều Quang

    Đừng thắm nhạt, đừng đa đoan

    Nên duyên thì phượng với loan một lời

    Giăng kia vằng vặc giữa giời

    Giăng ai soi tỏ lòng người nầy cho.

    Con cò trắng tợ như vôi

    Tình tôi với bậu xứng đôi quá chừng!

    Con cò trắng toát như bông

    Muốn nghe hát đúm mà không chịu vào

    Nghĩ gì, cò đậu cành cao

    Nghiêng nghiêng, nghé nghé nửa chào nửa e

    Xuống đây cho ta nhắn nhe

    Đừng đứng trên ấy gãy tre của làng.

    Cái trai mày há miệng ra,

    Cái cò nó mổ muốn tha thịt mày.

    Cái cò mày mổ cái trai,

    Cái trai quặp lại muốn nhai thịt cò.

    Con cò mà mổ con trai

    U ơi, U lấy vợ hai cho thầy.

    Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2021

    --- Bài cũ hơn ---

  • Con Trâu Trong Ngôn Ngữ Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Bất Công, Không Công Bằng
  • Chùm Thơ Rất Hay Về Hoa Sen Với Những Ý Thơ Và Ngôn Từ Tuyệt Đẹp
  • Nhưng Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Khoan Dung
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Vô Ơn Trong Cuộc Sống Đúng Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Về Con Cò

    --- Bài mới hơn ---

  • Cái Cò Và Con Cò
  • Báo Cao Bằng Điện Tử
  • Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam Ebook Pdf
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Ghen Ăn Tức Ở Hay – Chất – Thấm Nhất Dành Cho Các Thành Phần Gato
  • Giọng Nói Giao Tiếp Trong Tục Ngữ Người Việt
  • Đến đây không hát thì hò,

    Chẳng phải con cò ngóng cổ mà nghe.

    Câu hò anh đựng ba vò,

    Anh quên đậy nắp, nó bò sạch trơn.

     

    Cái cò chết tối hôm qua

    Có hai hạt gạo với ba đồng tiền

    Một đồng mua trống mua kèn

    Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong

    Một đồng mua mớ rau răm

    Đem về thái nhỏ thờ vong con cò

     

    Cái cò là cái cò con

    Mẹ đi xúc tép, để con ở nhà

    Mẹ đến chỗ cánh (Mẹ đi lặn lội) đồng xa

    Mẹ sà chân xuống, phải mà con lươn

    Ông kia có cái thuyền buồm

    Chở vào rừng rậm xem lươn bắt cò

    Ông kia lấy gậy đỡ cò (chống gậy lò dò)

    Con lươn thụt xuống, con cò bay lên (thoát bay)

     

    Cái cò là cái cò con

    Mẹ nó yêu nó nó còn làm ngơ (lơ)

    Con cò bay bổng bay bơ

    Lại đây anh gửi xôi khô cho nàng

    Đem về nàng nấu nàng rang

    Nàng ăn có giẻo thì nàng lấy anh

     

    Cái cò là cái cò con

    Mẹ đi xúc tép, để con ở nhà

    Mẹ đến chỗ cánh (Mẹ đi lặn lội) đồng xa

    Mẹ sà chân xuống, phải mà con lươn

    Ông kia có cái thuyền buồm

    Chở vào rừng rậm xem lươn bắt cò

    Ông kia chống gậy lò dò

    Đi vào bụi rậm xem cò bắt lươn

    Con cò cắp cổ con lươn Con lươn cũng cố quấn quanh cổ cò

    Hai con, cò kéo , lươn co

    Con lươn tụt xuống con cò bay lên

     

    Con cò ăn bên kia hói

    Con cói ăn bên kia sông

     

    Con cò đậu cọc bờ ao (cầu ao)

    Phất phơ đôi dãi yếm đào gió bay

     

    Con cò bị phải cơn mưa

    Tối tăm mù mịt, ai đưa cò về

    Cò về đến gốc cây đề

    Hỏi: Đêm tăm tối, cò về làm chỉ

    Cò đi thăm bác thăm dì

    Thăm cha, thăm mẹ, sau thì thăm em!

     

    Con cò bay bổng (bay lả) bay la

    Bay từ cửa miếu bay ra cánh đồng.

    Cha mẹ sinh đẻ tay không

    Cho nên bay khắp tây đông kiếm mồi

    Trước là nuôi cái thân tôi

    Sau nuôi đàn trẻ nuôi đời cò con.

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngày Xuân, Tản Mạn Về “Con Trâu” Trong Ca Dao Tục Ngữ
  • Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu
  • Con Trâu Trong Văn Học Dân Gian
  • Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của
  • Con Heo Trong Ca Dao, Thành Ngữ, Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giàu Nghèo, Đồng Tiền, Sức Mạnh Đồng Tiền Hay Nhất
  • Giáo Dục Đạo Đức Qua Tục Ngữ, Thành Ngữ…
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Kế Thừa Và Phát Huy Truyền Thống Tốt Đẹp Của Dân Tộc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Xuân ❤️ Thành Ngữ Mùa Xuân Hay
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Ngày Tết Hay Nhất
  • Từ xa xưa con người đã biết hái lượm và săn bắt, rồi tiến tới biết trồng trọt và thuần hóa thú rừng để chăn nuôi. Trong những con vật ấy, phải kể đến con heo… Cho đến nay, hầu như gia đình nông dân nào cũng có nuôi một vài con heo. Chính vì vậy, heo đã sớm đi vào ca dao, thành ngữ, tục ngữ.

    Heo trong tranh Đông Hồ. Ảnh tư liệu

    Heo ở Việt Nam được nuôi rất nhiều loại tùy từng vùng miền khác nhau. Người miền Bắc gọi là lợn, với người Nam gọi là heo. Ngoài ra, tiếng Việt còn có nhiều từ để gọi các loại lợn (heo) khác nhau như: Heo nái (lợn cái nuôi để sinh sản lợn con); heo sề (lợn nái già); heo nọc (heo đực dùng để truyền giống); heo bột, heo sữa (lợn con đang bú mẹ); heo ỷ (một giống lợn của Việt Nam, có mõm ngắn, lưng võng và bụng sệ với lớp da màu đen hay xám); heo lòi (lợn rừng)…

    Ca dao đã truyền khẩu lại nhiều câu thể hiện sự gắn bó của con heo với cuộc sống của người Việt: “Ta về ta rủ bạn ta/Nuôi lợn nuôi gà, cày cấy ta ăn”, “Lòng thương chị bán thịt heo/Hai vai gánh nặng còn đèo móc câu”. Hoặc để đánh giá người: “Đàn bà không biết nuôi heo đàn bà nhác. Đàn ông không biết buộc lạt, đàn ông hư”. Cũng có những câu ca dao khen tặng sự khéo léo, chăn nuôi quanh năm, hay làm ăn thành công của những gia đình nông dân: “Chăn nuôi vừa khéo vừa khôn/Quanh năm gà lợn xuất chuồng quanh năm”. Hay: “Giàu heo nái, lãi gà con”. Nuôi heo để đem bán là một sinh kế của giới nông dân nước ta. Lắm khi chẳng được gì nên từ đó cũng nẩy sinh ra những câu ca dao đùa cợt cảnh mấy bà gánh heo đi rồi lại gánh về: “Ba bà đi bán lợn con/Bán đi chẳng được lon ton chạy về/Ba bà đi bán lợn sề/Bán đi chẳng được chạy về lon ton”.

    Về mặt ẩm thực, thịt heo được miêu tả: “Con gà cục tác lá chanh – Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi”. “Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi”! vừa kêu gọi sự chú ý khẩu vị dân tộc, vừa nhắc nhở chúng ta rằng khẩu vị dân tộc đó hình thành từ lâu đời được thời gian thử thách và được coi có cơ sở khoa học vững chắc. Ở miền Nam, ăn cỗ mà có đầu heo là coi như giàu có, ca dao miền Nam có câu: “Cồng cộc bắt cá dưới bàu/Cha mẹ mày giàu, đám giỗ đầu heo”. Mà chẳng riêng gì việc phúng viếng, cúng tế, cưới xin đến việc đãi đằng người ta cũng biếu nhau chân giò, nhất là cho sản phụ ăn để có sữa: “Ăn chân sau, cho nhau chân trước”, chân trước đẹp mắt chứ không lợi thịt như chân giò sau… Nói về văn hóa ẩm thực thịt heo, với những người sành ăn “mua thịt thì chọn miếng mông” ngon và béo có “đầu gà, má lợn”, “lợn giò, bò bắp”. Thái cho ngon mắt phải “thịt nạc dao phay, thịt mỡ dao bầu”. Và nhất định phải có gia vị thêm vào mới ngon “thịt đầy xanh, không hành không ngon”…

    Về mặt châm biếm “chú ỉn” cũng góp mặt trong tiếng cười trí tuệ của người dân và đã vạch mặt cả anh thầy bói nói nước đôi, nói dựa: “Số cô không giàu thì nghèo/Ngày ba mươi tết thịt treo đầy nhà”. Hay: “Bói cho một quẻ trong nhà/ Chuồng heo ở dưới, chuồng gà ở trên”. Cũng có câu ca dao trách khéo sự thiên vị như: “Mèo theo thịt mỡ ồn ào/Cọp tha con lợn thì nào thấy chi!”.

    Tỏ tình là cả một nghệ thuật, thông thường mấy chàng văn hoa bóng bẩy nhưng cũng có người mượn con heo làm phương tiện “cứu cánh”. Hãy nghe anh chàng ngố tìm cách làm quen, bày tỏ: “Cô kia đi chợ Hà Đông/Để anh kết nghĩa vợ chồng cùng đi/Anh đi chưa biết mua gì/Hay mua con lợn phòng khi cheo làng”. Ngày xưa con gái muốn lấy chồng phải nộp cheo cho làng. Cheo là lễ vật bao gồm ít nhất là một con heo quay và một số tiền mặt do làng ước định phải nộp cho làng để làng cấp cho giấy giá thú. Lắm khi cô gái tuy đẹp nhưng lại quá nghèo, chàng trai muốn cưới thì phải: “Giúp em một thúng xôi vò/Một con lợn béo, một vò rượu tăm/Giúp cho đôi chiếu em nằm/Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo/Giúp cho quan tám tiền cheo/Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau”. Vả lại, cha mẹ sinh con gái cũng chỉ rạng mặt nở mày khi con được nhà trai nộp cheo xin cưới theo đúng lễ nghi thủ tục: “Anh về thưa với mẹ cha, bắt lợn đi cưới, bắt gà đi cheo”. Nhưng cũng có những gia đình biết phải chăng: “Người ta thách lợn, thách gà/Nhà em thách cưới một nhà khoai lang”.

    Đôi bạn trẻ phải hiểu rằng tình yêu không thể lúc nào cũng ở vào cao điểm, có lúc xuống đáy. Những lúc tình yêu xuống đến đáy thì người ta sẽ ra sao? Đây là kinh nghiệm cay đắng của các chị: “Còn duyên anh cưới ba heo/Hết duyên anh đánh ba hèo đuổi đi”. Riêng với những người ham tật đèo bồng đa thê, đôi khi lại bị lâm vào cảnh trớ trêu dở khóc dở cười: “Một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ ra chuồng heo mà nằm”.

    Thành ngữ nói về cái sự vô ý, vô tứ, làm ăn thiếu tính toán hay nhất là mấy câu: “Lợn lành chữa làm lợn què”, “Lợn trong nhà thả ra mà đuổi”. Không có sự phê phán nào bình dân bình dị như thế mà có khả năng tạo hiệu quả lớn như thế!

    Con heo gắn bó với con người hàng ngàn năm lịch sử. Con heo cái tên không mấy mĩ miều, đôi khi còn được gắn với những sự ngu dốt. Ấy vậy mà đã đi vào ca dao, tục ngữ thành ngữ khá đa dạng, làm sao kể hết.

    Thanh Kim Trà

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sưu Tầm Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Hà Nội Hay
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hà Nội ❤️️ Những Câu Nói Hay Nhất
  • Những Câu Tục Ngữ Về Hà Nội, Ca Dao Về Hà Nội
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Hà Nội (Hay Nhất)
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Đồng Nai
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mẹ, Tình Mẹ Con

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Stt Hay Về Xe Độ Độc Và Chất Cho “quái Xế” Đường Phố
  • 25+ Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Bằng Tiếng Anh Cực Ấn Tượng
  • 15 Câu Danh Ngôn Tiếng Anh Hay Nhất Về Gia Đình
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Biết Ơn, Lòng Biết Ơn, Kính Trọng, Lễ Phép, Lễ Độ
  • 60 Câu Chúc Mừng Sinh Nhật Hài Hước
  • Những câu ca dao tục ngữ hay nhất về mẹ: Lên non mới biết non cao, Nuôi con mới biết công lao mẹ hiền.

    Ca dao tục ngữ về mẹ, tình mẹ con

    Ta đi trọn kiếp con người

    Cũng không đi hết những lời mẹ ru

    Công cha nghĩa mẹ cao vời,

    Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta.

    Nên người con phải xót xa,

    Đáp đền nghĩa nặng như là trời cao.

    Đội ơn chín chữ cù lao,

    Sanh thành kể mấy non cao cho vừa

    Tu đâu cho bằng tu nhà,

    Thờ cha kính mẹ mới chân tu

    Công cha đức mẹ cao dày,

    Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.

    Nuôi con khó nhọc đến giờ,

    Trưởng thành con phải biết thờ song thân

    Mẹ già ở tấm lều tranh,

    Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con

    Đêm khuya trăng rụng xuống cầu,

    Cảm thương cha mẹ dãi dầu ruột đau

    Biển Đông còn lúc đầy vơi,

    Chớ lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng

    Đêm đêm khấn nguyện Phật Trời,

    Cầu cho cha mẹ sống đời với con

    Ngó lên trời thấy cặp cu đang đá,

    Ngó ra ngoài biển, thấy cặp cá đang đua.

    Đi về lập miếu thờ vua,

    Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha

    Muốn cho gần mẹ gần cha,

    Khi vào thúng thóc, khi ra quan tiền

    Ai về tôi gởi buồng cau,

    Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.

    Ai về tôi gởi đôi giày,

    Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi

    Ơn hoài thai, to như bể!

    Công dưỡng dục, lớn tựa sông!

    Em nguyện ở vậy không chồng,

    Lo nuôi cha mẹ, hết lòng làm con

    Chim đa đa đậu nhánh đa đa,

    Chồng gần không lấy, để lấy chồng xa.

    Mai sau cha yếu mẹ già,

    Bát cơm đôi đũa, chén trà ai dâng?

    Nếu mình hiếu với mẹ cha,

    Chắc con cũng hiếu với ta khác gì?

    Nếu mình ăn ở vô nghì,

    Đừng mong con hiếu làm gì uổng công?

    Hiếu thuận sinh ra con hiếu thuận,

    Ngỗ nghịch nào con có khác chi!

    Xem thử trước thềm mưa xối nước,

    Giọt sau, giọt trước chẳng sai gì

    Ở đời ai cũng có lần,

    Làm cha mẹ mới biết ơn sinh thành.

    Người xưa khó nhọc nuôi mình,

    Khác gì mình đã hết tình nuôi con

    Mẹ dạy thì con khéo,

    Bố dạy thì con khôn

    Mồ côi cha, ăn cơm với cá

    Mồ côi mẹ lót lá mà nằm

    Ai rằng công mẹ như non,

    Thật ra công mẹ lại còn lớn hơn

    Lòng mẹ như bát nước đầy,

    Mai này khôn lớn, ơn này tính sao

    Nhớ ơn chín chữ cù lao,

    Ba năm bú mớm biết bao thân tình

    Con ho lòng mẹ tan tành,

    Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi

    Nuôi con chẳng quản chi thân,

    Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.

    Mẹ ngoảnh đi, con dại,

    Mẹ ngoảnh lại, con khôn

    Mẹ giàu con có, mẹ khó con không

    Mẹ già như chuối ba hương,

    Như xôi nếp một, như đường mía lau

    Bồng cho con bú một hồi,

    Mẹ đã hết sữa, con vòi con la

    Nuôi con buôn tảo bán tần,

    Chỉ mong con lớn nên thân với đời.

    Những khi trái nắng trở trời,

    Con đau là mẹ đứng ngồi không yên.

    Trọn đời vất vả triền miên,

    Chăm lo bát gạo đồng tiền nuôi con

    Thêm một người quả đất chật thêm,

    Thiếu mẹ thế giới đầy nước mắt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Chúc Mừng Sinh Nhật Bố Vợ Hài Hước
  • Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Mẹ Vợ, Bố Vợ “quý Mến Con Rể”
  • Lời Chúc Chia Tay Đồng Nghiệp Khi Chuyển Công Tác Hay, Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Hay An Ủi Người Thất Tình Ý Nghĩa Nhất Giúp Họ Vượt Qua Nỗi Đau
  • Những Câu Nói Bất Hủ Hay An Ủi Người Thất Tình Cảm Động Nhất
  • Hình Bóng Con Trâu Qua Ca Dao

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Đặc Sản Quảng Nam, Đà Nẵng
  • Thành Ngữ Về Quê Hương Đất Nước Hay ❤️ Đẹp Nhất
  • Sắc Thái Văn Hóa Quảng Bình Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh
  • HÌNH BÓNG CON TRÂU

    ” Trai thời trung hiếu làm đầu”, hai chữ Trung và Hiếu đã khiến cho những đấng tu mi nam tử phải gặp những khổ ải ghê gớm để vượt qua, hòng tìm đến với mộng trung nhân mà xây đắp dệt thêu tình duyên của mình:

    Cuộc đời là một giấc mộng dài, có đó mất đó, nhiều đó liền ít đó, thậm chí đang vàng vun bạc đống trong phút chốc lại trống rỗng trắng trơn:

    Hà cớ gì phải chạy theo tiền tài danh vọng, lao đầu vào cuộc cạnh tranh để tìm kiếm vinh hoa phú quý? Nào có sướng bền ấm lâu, thân tâm an lạc? Chi bằng biết “thiểu dục tri túc”, hạn chế ham muốn, biết đủ biết dừng, để vơi bớt cái khổ lo toan mưu tính hằng ngày:

    Được bao nhiêu thì thọ hưởng bấy nhiêu, có gì xài nấy, tội dại chi mà cứ ước muốn vượt quá tầm tay, nằm mộng giữa ban ngày, để rồi khi giật mình thức giấc phải bàng hoàng trước sự thật:

    Ảo vọng. Ảo cảnh. Ảo ngay trong cuộc đời ảo. Thôi thì biết thân biết phận, hãy dôc tâm dốc sức của chính mình, tự đi bằng đôi chân của mình, không nhờ vả phiền hà ai, đó cũng là lời chỉ dạy của giáo lý nhà Phật về chánh tinh tấn:

    Là Phật tử, làm gì thì làm, nói gì thì nói, nhưng chớ phạm vào giới “vọng ngôn vọng ngữ” mà mang tiếng:

    Giữa cuộc sống đời thường, khi nói đến quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu trong gia đình, là chạm đến một mối rối rắm như tơ vò, đủ thứ chuyện sẽ xảy ra chung quy cũng bởi “khẩu nghiệp nặng nề”:

    Nhưng mối quan hệ này tuy rất nhạy cảm rối răm, mà cũng rất thiêng liêng nếu như nghe được câu này:

    Mẹ chồng mà dữ thì nàng dâu mới nên người, mới biết lo canh cánh mà giữ “tam tòng”(tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) và tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh), còn không thì cũng giữ gìn “tam quy-ngũ giới” cho xứng đáng con nhà Phật. Mẹ chồng mà hiền lành nhân hậu, lúc nào cũng buông xả tha thứ, độ lượng khoan dung thì mấy nàng dâu sẽ rủ nhau mà nhảy vào vòng vô minh, để cho “tam độc” tham sân si quấn lấy cuộc đời:

    Cứ lặn hụp mãi trong vô minh thì bao bao giờ mới tìm thấy ánh sáng để đưa cuộc sống mình đến tháng ngày an nhiên thanh thản? Đến lúc gặp “nghiệp chướng oan khiêng” lại khóc lóc than van cho cái kiếp số của mình:

    Nào ai muốn làm kiếp súc sinh? Ai cũng muốn làm người được ăn no mặc đẹp. Nhưng rất nhiều người lại quên đi bài học: gieo ác gặt ác, gieo gió gặt bão. Gieo nhân lành ắt hái quả ngọt. Không trốn chạy tránh né đi đâu được:

    Dân gian có câu đố về “cái trống” được bịt bằng da trâu rất thú vị:

    Hãy thử tịnh tâm lắng nghe âm thanh của ba hồi chuông trống Bát Nhã từ các chốn thiền tự vào đêm trừ tịch đất trời giao thoa. Tiếng trống dập dồn trầm hùng nào là tiếng trống được bịt bằng da con trâu? Da trâu đó là của con trâu nào? Hồn vía nó đang ở đâu? Nó có được đầu thai làm kiếp khác hay không? Đầu thai thành kiếp người hay kiếp gì?

    Lạy chư Phật mười phương, xin hồi hướng công đức đến tất cả những con trâu đã giúp đỡ cho con người bao đời qua…

    Tâm Không – Vĩnh Hữu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top Câu Tục Ngữ Mê Tín Dị Đoan Hay Nhất 2021
  • Tiếng Cười Phê Phán Mê Tín Dị Đoan Trong Ca Dao Việt Nam
  • Ý Nghĩa Của Địa Danh Qua Tục Ngữ Ca Dao Phú Yên
  • Ứng Xử Của Người Phật Tử Đi Chùa Trong Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao Về Phật Giáo, Tục Ngữ Phật Giáo
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100