Top 20 # Xem Nhiều Nhất Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Altimofoundation.com

Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu / 2023

 

Tuyển chọn những lời ca dao hay về TRÂU Thuyduongnsx tuyển chọn 1. Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu Tham vì ông lão tốt râu mà hiền 2. Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ. 3. Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm 4. Đường về đêm tối canh thâu Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười 5. Thiệt tình hỏng phải ba hoa hôm qua tui thấy con gà đá trâu….. 6. Gà đá trâu bao lâu mới thắng Trâu đá gà que cẳng con trâu 7. Ai nói chăn trâu là khổ?? Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu. 8. Dù ai buôn đâu bán đâu, Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về. Dù ai buôn bán trăm nghề, Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu. 9. Đêm qua kẻ trộm vào nhà, Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu. Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu, Thức mà giữ lấy con trâu con bò. Nằm đây nào đã ngủ cho, Thức mà giữ lấy con bò con trâu. 10. Nghé ơi ta bảo nghé này Nghé ăn cho béo nghé cày cho sâu. Ở đời khôn khéo chi đâu, Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần. 11. Chăn trâu chả biết mặt trâu Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm. 12. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng 13. Tháng giêng là tháng ăn chơi, Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà Tháng ba thì đậu đã già Ta đi ta hái về nhà phơi khô Tháng tư đi tậu trâu bò Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm… 14. Trâu ơi ta bảo trâu này, Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta. Cấy cày giữ nghiệp nông gia. Ta đây trâu đấy, ai mà quản công! Bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”. “Con trâu là đầu cơ nghiệp 15. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh, Bò năm sáu tuổi đã tranh về già, Đồng chiêm xin chớ nuôi bò, Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao! 16. Trên trời có đám mây xanh (4) Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng Ước gì ta lấy được nàng Hà Nội, Nam Ðịnh sửa đàng rước dâu Thanh Hóa cung đốn trầu cau Nghệ An thì phải thui trâu mổ bò Phú Thọ quạt nước hỏa lò Hải Dương rọc lá giã giò gói nem Tuyên Quang nấu bạc đúc tiền Ninh Bình dao thớt Quảng Yên đúc nồi An Giang gánh đá nung vôi Thừ Thiên Đà nẵng thổi xôi nấu chè Quảng Bình Hà Tĩnh thuyề ghe Đồng Nai Gia Dịnh chẻ tre bắc cầu Anh mời khắp nước chư hầu Nước Tây nước Tàu anh gởi thư sang Nam Tào Bắc đẩu dọn đàng Thiên Lôi La Sát hai hàng hai bên 17. Trời mưa trời gió đùng đùng Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu Gánh về trồng bí trồng bàu Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà. 18. Nam mô Bồ Tát Chẻ lạt đứt tay Đi cày trâu húc Đi súc phải cọc Đi học thày đánh Đi gánh đau vai Nằm dài nhịn đói 19. Nước giữa dòng chê trong, chê đục Vũng trâu đầm hì hục khen ngon 20. Đời vua Thái Tổ – Thái Tông Lúa mọc đầy đồng trâu chẳng buồn ăn. 21. Thất là mất Tồn là còn Tử là con Tôn là cháu Lục là sáu Tam là ba Gia là nhà Quốc là nước Tiền là trước Hậu là sau Ngưu là trâu Mã là ngựa 22. Trai thì cày ruộng khiển trâu Gái thì phải biết bổ cau têm trầu 23. Trăm năm còn có gì đâu Miếng trầu liền với con trâu một vần 24. Trâu bò được ngày phá đỗ Con cháu được ngày giỗ ông 25. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết 26. Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm 27. Trâu kia kén cỏ bờ ao Anh kia không vợ đời nào có con Người ta con trước, con sau Thân anh không vợ như cau không buồng Cau không buồng như tuồng cau đực Trai không vợ cực lắm anh ơi Người ta đi đón, về đôi Thân anh đi lẻ, về loi một mình 28. Của chua ai nấy cũng thèm Em cho chị mượn chồng em vài ngày Chồng em đâu phải trâu cày Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm 29. Dầu bông bưởi, dầu bông lài Xức vô tới Tết còn hoài mùi cứt trâu 30. Dù ai buôn bán nơi đâu Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về 31. Ðàn đâu mà gảy tai trâu Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi 32. Thương nhau vì nợ vì duyên Trâu đôi chi đó, thổ điền chi đây 33. Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần Làm thân con nhện mấy lần vương tơ Về đâu trong đục mà chờ Hoa thơm mất tuyết , nương nhờ vào đâu Số em giàu, lấy khó cũng giàu Số em nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo Phải duyên phải kiếp thì theo Giàu ăn khó chịu, lo gì mà lo 34. Chẳng qua số phận long đong Cột trâu, trâu đứt, cột tròng, tròng trôi. 35. Lao xao gà gáy rạng ngày Vai vác cái cày, tay dắt con trâu. Bước chân xuống cánh đồng sâu Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày. Ai ơi! bưng bát cơm đầy Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng Câu đố: – Bốn ông đập đất, một ông phất cờ, Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân. = con trâu – Vừa bằng cái bát, san sát giữa đồng = vết chân Trâu 36. Ru Con Bao giờ cho đến tháng ba, Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng. Hùm nằm cho lợn liếm lông, Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi. Nắm xôi nuốt trẻ lên mười; Con gà, be rượu nuốt người lao đao. Lươn nằm cho trúm (1) bò vào; Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô. Lúa mạ nhảy lên ăn bò; Cỏ năn (2), cỏ lác (3) rình mò bắt trâu. Gà con đuổi bắt diều hâu; Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông. Chú thích: (1) Trúm : một thứ đó để bắt lươn (2) Cỏ năn : một loài cỏ mọc dưới nước (3) cỏ lác : thứ cỏ xấu 37. Thứ nhất vợ dại trong nhà, Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn. Vợ dại thì đẻ con khôn, Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm. 38. Trâu chậm thời anh bán đi, Dao cùn đánh lại vợ thì làm sao. 39. Trâu anh con cưỡi con dòng, Có con đi trước lòng thòng theo sau. 40. Trâu anh con cưỡi con dòng, Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn. 41. Trâu buộc thì ghét trâu ăn, Quan võ thì ghét quan văn dài quần. 42.Trâu kia kén cỏ bờ ao, Anh kia không vợ đời nào có con. 43.Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa, Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền. 44. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh, Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già. Đồng chiêm xin chớ nuôi bò, Mùa đông tháng giá bò dò làm sao? 45. Em như ngọn cỏ phất phơ Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng 46. Mình rằng mình quyết lấy ta Ðể ta hẹn cưới hăm ba tháng này Hăm ba nay đã đến ngày Ta hẹn mình rày cho đến tháng giêng Tháng giêng năm mới chưa nên Ta hẹn mình liền cho đến tháng hai Tháng hai có đỗ có khoai Ta lại vật nài cho đến tháng tư Tháng tư ngày chẳn tháng dư Ta lại chần chừ cho đến tháng năm Tháng năm là tháng trâu đầm Ta hẹn mình rằng tháng sáu mình lên Tháng sáu lo chửa kịp tiền Bước sang tháng bảy lại liền mưa ngâu Tháng bảy là tháng mưa ngâu Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu Tháng tám là tháng trăng thu Bước sang tháng chín mù mù mưa rươi Tháng chín là tháng mưa rươi Bước sang tháng mười đã đãi mưa đông Quanh đi quẩn lại em đã có chồng Như chim trong lồng, như cá cắn câu 47. Ông Giăng mà lấy bà Sao, Đến mai có cưới cho tao miếng giầu. Có cưới thì cưới con trâu, Chớ cưới con nghé nàng dâu không về. 48. Ông giẳng ông giăng, Xuống chơi với tôi, Có bầu có bạn, Có ván cơm xôi, Có nồi cơm nếp, Có nệp bánh chưng, Có lưng hũ rượu, Có chiếu bám đu, Thằng cu xí-xóa, Bắt trai bỏ giỏ, Cái đỏ ẵm em, Đi xem đánh cá, Có rá vo gạo, Có gáo múc nước, Có lược chải đầu, Có trâu cày ruộng, Có muống thả ao, Ông sao trên trời. (Cái này thấy gọi là Ca dao nhi đồng, hihi) 49.Bước sang tháng sáu giá chân, Tháng một nằm trần bức đổ mồ hôi. Con chuột kéo cầy lồi lồi, Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong. Vườn rộng thì thả rau rong. Ao sâu giữa đồng, vãi cải làm dưa. Đàn bò đi tắm đến trưa, Một đàn con vịt đi bừa ruộng nương. Voi kia nằm ở gặm giường, Cóc đi đánh giặc bốn phương nhọc nhằn. Chuồn kia thấy cám liền ăn, Lợn kia thấy cám nhọc nhằn bay qua. Trời mưa cho mối bắt gà, Thòng-đong cân-cấn đuổi cò lao xao. Lươn nằm cho trúm bò vào, Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô. Thóc giống cắn chuột trong bồ, Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu. Chim chích cắn cổ diều hâu, Gà con tha quạ biết đâu mà tìm. Bong bóng thì chìm, gỗ lim thì nổi. Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai. Hòn đá giẻo dai, hòn xôi rắn chắc. Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi. Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú. Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu. Hay cắn thì trâu, hay cày thì chó. 50. Nam mô bồ tát, Chẻ lạt đứt tay, Đi cày trâu húc, Đi xúc phải cọc, Đi học thầy đánh, Đi gánh đau vai, Nằm dài nhịn đói. 51. Con kiến mày kiện củ khoai, Mày chê tao khó lấy ai cho giầu. Nhà tao chín đụn mười trâu, Lại thêm ao cá bắt cầu rửa chân. 52. Công anh chăn nghé đã lâu Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày?  

53. Cưới em có cánh con gà, Có dăm sợi bún, có và hạt xôi. Cưới em còn nữa anh ơi! Có một đĩa đậu hai môi rau cần. Có xa dịch lại cho gần, Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi. Hay là nặng lắm anh ơi! Để em bớt lại một môi rau cần. Cưới nàng anh toan dẫn voi, Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn. Dẫn trâu sợ họ máu hàn, Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân. Miễn là có thú bốn chân, Dẫn con chuột béo mời dân mời làng. – Chàng dẫn thế em lấy làm sang Nỡ nào em lại phá ngang như là… Người ta thách lợn thách gà, Nhà em thách cưới một nhà khoai lang Củ to thì để mời làng, Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi. Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi! Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà. Bao nhiêu củ rím củ hà, Để cho con lợn con gà nó ăn. 54. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng 55. Anh về bán ruộng cây da Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em 56. 17. Hò ơ.. (chớ) Bớ này anh nó ơi Số phận em giao phó cho trời xanh Lấy anh em không lấy, Nhưng dạ cũng không đành làm ngơ Vốn em cũng chẳng bơ thờ Em đã hằng chọn trong lóng đục, Nhưng vẫn còn chờ nợ duyên Vốn em muốn lấy ông thầy thuốc cho giàu sang, Nhưng lại sợ ổng hay gia hay giảm Em muốn lấy ông thầy pháp cho đảm, Nhưng lại sợ ổng hét la ghê gốc Em muốn lấy chú thợ mộc, Nhưng lại sợ chú hay đục khoét rầy rà Em muốn lấy anh thợ cưa cho thật thà, Nhưng lại sợ trên tàn dưới mạt Em muốn lấy người hạ bạc, Nhưng lại sợ mang lưới mang chài Em muốn lấy anh cuốc đất trồng khoai, Nhưng lại sợ ảnh hay đào hay bới Em cũng muốn chọn anh thợ rèn kết ngỡi, Nhưng lại sợ ảnh nói tức nói êm Bằng lấy anh đặt rượu làm men, Thì lại sợ ảnh hay cà riềng cà tỏi Em muốn lấy ông nhạc công cho giỏi, Nhưng lại sợ giọng quyển giọng kèn Em muốn lấy thằng chăn trâu cho hèn, Nhưng lại sợ nhiều điều thá ví Em muốn lấy anh lái buôn thành thị, Nhưng lại sợ ảnh kêu mắc rẻ khó lòng Em muốn lấy anh thợ đóng thùng, Nhưng lại sợ ảnh kêu trật niền trật ngổng Em muốn lấy ông Hương ông Tổng, Nhưng lại sợ việc trống việc gông Em muốn lấy anh hàng gánh tay không, Nhưng lại sợ đầu treo đầu quảy Em muốn lấy chú hàng heo khi nãy, Nhưng lại sợ chú làm lộn ruột lộn gan Em muốn lấy anh thợ đát thợ đan, Nhưng lại sợ ảnh hay bắt phải bắt lỗi Em muốn lấy anh hát bè hát bội, Nhưng lại sợ giọng rỗi giọng tuồng Em muốn lấy anh thợ đóng xuồng, Nhưng lại sợ ảnh hay dằn hay thúc… Hò ơ.. (chớ) Mấy lời trong đục chẳng dám nói ra Có thầy giáo tập dạy trong làng xa, hay dạy hay răn So đức hạnh chẳng ai bằng, lại con nhà nho học Sử kinh thầy thường đọc, nên biết việc thánh hiền Gặp nhau em kết liền, không chờ chẳng đợi… (ờ) Hò ơ.. (chớ) Không chẳng chờ chẳng đợi phỉ nguyền phụng loan 57. Hút sách là chuyện chẳng lành Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây  

58. Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà Cả ba việc ấy đều là khó thay. 59. Mười năm cắp sách theo thày Năm thứ mười một vác cày theo trâu. 60. Bốn ông đập đất, một ông phất cờ, Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân. 61.Ai cũng gặt lúa đỏ đuôi Chàng về mà đập, mà phơi kịp ngày Ai mà giã gạo ba chày Giã sao cho trắng, gửi ngay cho chàng Sẵn tiền mua bạc mua vàng Sẵn tiền sắm áo cho chàng trẩy kinh Sáng trời chàng mới tập binh Em ngồi vò võ, một mình em lo Ruộng nương không ai cày cho Trâu bò, gà, lợn em lo dường nào! Ruộng người cày cấy xôn xao Ruộng nhà cỏ mọc lên cao lồng ngồng Người ta có vợ có chồng Cỏ cao, mạ úa nhưng lòng vẫn vui Nhà ta chỉ có em thôi Ruộng cạn mạ úa em ngồi em lo 62.Ai ơi uống rượu thì say Bỏ ruộng trâu cày bỏ giống ai gieo. 63.Anh đánh thì tôi chịu đòn Tánh tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa Anh đánh thì tôi xin thưa Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu Ăn quen chừa được chẳng lâu Lệ làng làng bắt mất trâu mặc làng 64.Ba vợ bảy tám nàng hầu Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi. 65.Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng 66.Anh em bất nghĩa chi khèo Anh dữ như mèo tôi lại như trâu 67.Bé ăn trộm gà Già ăn trộm trâu Lâu nữa làm giặc 68.Cầm trâu cầm áo cầm khăn Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em ! 69.Cái bống mặc xống ngang chân Lấy chồng Kẻ Chợ cho gần, xem voi Trèo lên trái núi mà coi Thấy ông quản tượng cõi voi đánh cồng Túi vóc mà thêu chỉ hồng Têm trầu cánh phượng cho chồng đi thi Một mai chồng đỗ, vinh quy Võng anh đi trước, em thì võng sau Tàn quạt, hương án theo hầu Vinh quy bái tổ, giết trâu ăn mừng! 70.Cái kiến mà kiện củ khoai Mày chê tao khó, lấy ai cho giầu Nhà tao chín đụn mười trâu Lại thêm ao cá, bắc cầu rửa chân Cầu nầy là cầu ái ân Một trăm con gái rửa chân cầu nầy Có rửa thì rửa chân tay Chớ rửa lông mày chết cá ao anh Nhà anh có một cây chanh Nó chửa ra nhành nó đã ra hoa Nhà anh có một mụ già Thổi cơm không chín, quét nhà chẳng nên Ăn cỗ khì đòi ngồi trên Mâm son bát sứ đem lên hầu bà. 71.Bong bóng thì chìm gỗ lim thì nổi Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai Hòn đá dẻo dai, hòn xôi rắn chắc Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu Hay sủa thì trâu, hay cày thì chó… (hình như vẫn còn tiếp thì phải) 72.Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu Tham vì ông lão tốt râu mà hiền Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ. Chẳng tham nhà ngói ba tòa Tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành. 73.Chồng dữ thì em mới rầu Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng 74.Chùn đùi, thắt quản, ngắn đuôi Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi 75.Cao đầu thấp hậu thì tậu liền tay 76.Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày 77.Chết lỗ chân trâu 78.Có ăn có chọi mới gọi là trâu 79.Có xa dịch lại cho gần Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi Hay là nặng lắm anh ơi! Để em bớt lại một môi rau cần. Cưới nàng anh toan dẫn voi Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn. Dẫn trâu sợ họ máu hàn Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân. Miễn là có thú bốn chân Dẫn con chuột béo mời dân mời làng. 80.Con cá rô thia ẩn bóng chân trâu Một trăm quân tử tới câu cũng chẳng màng.

81.Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu 82.Con tằm nó ăn lá dâu Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò 83.Con vợ khôn lấy thằng chồng dại Như bông hoa lài cặm bãi cứt trâu 84.Công anh chăn nghé đã lâu Bây giờ nghé lớn thành trâu ai cày 85.Đàn đâu mà gảy tai trâu Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi 86.Em thì canh cửi việc nhà Nuôi anh ăn học đăng khoa bảng vàng Trước là vinh hiển tổ đường Bõ công đèn sách lưu hương con nhà Rước vinh quy về nhà bái tổ Ngả trâu bò làm lễ tế vua Họ hàng ăn uống say sưa Hàng Tổng hàng Huyện mừng cho ông Nghè 87.Dưa gang một chạp thì trồng Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo Tháng hai đi tậu trâu bò cày đất cho ải mạ mùa ta gieo 88.Được voi to trâu bò chẳng kể Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa Một lời đã trót nói ra Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo 89.Em là con gái nhà giàu Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao Cưới em trăm tấm gấm đào Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng Sắm xe tứ mã đem sang Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu Ba trăm nón Nghệ đội đầu Một người một cái quạt Tàu thật xinh Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình May chăn cho rộng ta mình đắp chung Cưới em chín chĩnh mật ong Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò Cưới em tám vạn trâu bò Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm Lá đa mặt nguyệt hôm rằm Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi Xin chàng chín chục con dơi góa chồng Thách thế mới thỏa trong lòng Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân 90.Gió nam ào ạt gốc cây nằm mát Chẻ lạt đứt tay, đi cày trâu húc Đi xúc phải cọc, đi học thầy đánh Đi gánh đau vai, nằm dài nhịn đói

91. Vợ bé nghé con Sẩy đàn tan nghé Hòn đá cheo leo, Con trâu trèo, con trâu trợn Con ngựa trèo, con ngựa đổ. Anh thương em lao khổ Tận cổ chí kim, Anh thương em khó kiếm khôn tìm. Cây kim luồn qua sợi chỉ, Sự bất đắc dĩ phu mới lìa thê, Nên hay không nên, anh ở em về, Đừng giao, đừng kết, đừng thề mà vương. 92.Lạc đường nắm đuôi chó Lạc ngõ nắm đuôi trâu 93.Lao xao gà gáy rạng ngày Vai vác cái cày, tay dắt con trâu. Bước chân xuống cánh đồng sâu Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày Ai ơi! bưng bát cơm đầy Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng? 94.Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng Một huyền hai lái chẳng xong Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào 95.Lộn con toán bán con trâu 96.Mật ngọt rớt xuống thau đồng Những lời anh nói cho lòng em say Một trâu anh sắm đôi cày Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia! Chàng ơi! chàng cho em ra Nhẽ đâu một ổ đôi gà ấp chung. 97.Một rằng mình quyết lấy ta Ta về bán cửa bán nhà mà đi Ta về bán núi Ba Vì Bán chùa Hương Tích, Phật đi làu làu Ta về bán hết ngựa trâu Bán hột thầu dầu, bán trứng gà ung Bán ba mươi sáu Thổ công Bán ông Hành Khiển, vợ chồng Táo Quân Bán từ giờ Ngọ giờ Dần Giờ Tí giờ Sửu giờ Thân giờ Mùi Ta về bán cả que cời Bán tro đun bếp bán trăm khêu đèn Ta về bán trống bán kèn Có gì bán hết, lấy tiền cưới em 98.Nghé hành nghé hẹ Có khôn theo mẹ Có khéo theo đàn Chớ có chạy quàng Có ngày lạc mẹ Việc nhẹ phần con Kéo nỉ kéo non Kéo đến quanh tròn Mẹ con ta nghỉ 99.Trăm năm cơ hội tình cờ, Đàn cầm anh gãy, câu thơ anh đề. Muốn cho thuận nẻo đi về, Anh sang làm rể, em về làm dâu. Số giàu lấy khổ cũng giàu, Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo. Phải duyên phải kiếp thì theo, Khuyên em chớ nghĩ giàu nghèo làm chi. Em ơi! chữ vị là vì, Chữ dục là muốn, chữ tùy là theo, Ta đã yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, Thất bát giang cũng lội, tam thập đèo cũng qua. 100.Trời mưa lâm râm Cây trâm có trái Con gái có duyên Đồng tiền có lỗ Bánh tổ thì ngon Bánh dòn thì béo Cái kéo thợ may Cái cày làm ruộng Cái xuổng đắp bờ Cái lờ đơm cá Cái ná bắn chim Cái kim may áo Cái giáo đi săn Cái khăn bịt đầu Cái cầu đi chợ Có vợ đàn ông Có chồng con gái Cái trái mù u Ông cu đi câu Để trâu ăn lúa Bắt được chặt đầu, chặt đầu đuôi Còn hai con mắt đem nuôi mẹ già

Tướng Trâu

Cầm trâu cầm áo cầm khăn Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em ! Đàn đâu mà gảy tai trâu Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi Chồng em đâu phải trâu cày Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm Trâu gầy cũng tầy bò giống Ghi Chú: * Trâu gầy vẫn mạnh hơn bò Mắt bánh rán, Trán bánh chưng Lưng tôm càng Ghi Chú: * Trâu có mắt lớn, cái trán vuông vức như cái bánh chưng và lưng không oằn là trâu khỏe mạnh Đã có sừng thì đừng hàm trên Ghi Chú: * Trâu không có răng hàm trên Tai lá mít đít lồng bàn Ghi Chú: * Trâu có tai lớn và mông bự là trâu tốt Vành mồm trắng, mắt tai to Hễ thưa lông bụng, móng hài cũng mua Ghi Chú: * Trâu thưa lông bụng và vành mồm trắng mới là trâu có tướng tốt Sà sừng mắt lại nhỏ con Vụng giàn chậm chạp ai còn nuôi chi Ghi Chú: * Trâu có cặp sừng sệ xuống và mắt nhỏ thì chậm chạp

Vai nồi đồng, mông cối lỗ Ghi Chú: * Vai to tròn, mông lớn là trâu tốt Sừng to móng hến thì nuôi phải rồi Ghi Chú: * Trâu có sừng to, mở Rộng là trâu đắc dụng Tam tinh khoáy sọ thì chừa Đốm đuôi nát chủ thì đưa vào nồi Ghi Chú: * Trâu có khoáy sọ và đuôi có đốm là trâu độc dễ gây tai họa nên giết thịt Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng Một huyền hai lái chẳng xong Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào Lúa Đồng Ngâu, trâu Yên Mỹ Mất trâu mất ruộng không màng Mất cây cuốc mục ra làng kiện thưa Mất trâu thì lại tậu trâu Những quân cướp nợ có (chẳng) giầu hơn ai ? Một trâu anh sắm đôi cày Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia Chàng ôi! chàng cho em ra Nhẽ đâu một ổ hai gà ấp chung ? Một trâu anh sắm hai cày Một chàng hai thiếp có ngày oan giạ Chả yêu thì bỏ nhau ra Làm chi một ổ hai gà ấp chung. Yếu trâu cũng bằng bò khỏe Con trâu ăn cỏ đất bằng Uống nước bờ ao Hồi nào mầy ở với tao Đến khi mầy chết Tao cầm dao xẻo thịt mầy Thịt mầy nấu cháo linh binh Da mầy bịt trống tụng kinh trong chùa Sừng mầy tao tiện con cờ Cán dao, cán mác, lược dầy lược thưa Mua trâu cưới vợ làm nhà Cả ba việc ấy đều là khó thay Muốn giầu nuôi trâu nái Muốn lụi bại nuôi chim bồ câu. Ngày xưa Ninh Thích chăn trâu Mà rồi công ấn công hầu trâu ơi ! Ngày nay mình nghé ta ngồi Mai sau ta có một thời hiển vinh ? Trâu he cũng bằng bò khỏe Ghi Chú: * Trâu he là trâu nghé hay trâu còn non Lang đuôi thì bán, lang trán thì cày Ghi Chú: * Trâu có hoa trên trán thì giữ để cày ngược lại đuôi có hoa thì đem bán Phù thủy, thầy bói, lái trâu Nghe ba anh ấy đầu lâu không còn Trâu ác vạc sừng Ghi Chú: * Trâu ác hay mài sừng để chiến đấu Tậu trâu lấy vợ làm nhà Trong ba việc ấy lọ là khó thay Ruồi lằn chọi với bò trâu Đàn gà quật với diều hâu mấy lần Thật thà cũng thể lái trâu Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng Trâu tóc chóp, bò mũ mấn Ghi Chú: * Trâu có tóc chóp thì tốt, ngược lại bò có tóc chóp thì xui xẻo Trâu ra, mạ vào Ghi Chú: * Cần cấy ngay sau khi cày ruộng xong Trâu kia (già) kén (cắn) (ăn) cỏ bờ ao Anh kia không vợ đời nào có con Người ta con trước, con sau Thân anh không vợ như cau không buồng Cau không buồng như tuồng cau đực Trai (Anh) không vợ cực lắm anh ơi Người ta đi đón, về đôi Thân anh đi lẻ, về loi một mình Trâu năm sáu tuổi còn nhanh Bò năm sáu tuổi đã tranh về già Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta Cấy cày vốn nghiệp nông gia Hai sương một nang)Tắ đây trâu đấy ai mà quản công Bao giờ cây lúa còn bông Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn Trâu ai buộc ngõ ông Cai Hoãn ai mà lại đeo tai bà Nghè Ngựa ai buộc ngõ ông Nghè Gà ai gáy ở đầu hè ông Cai Ghi Chú: * Nghè là người đỗ tiến sĩ thời xưa; Hoãn là đôi bông tai Trâu bò ở với nhau lâu quen chuồng quen chỏi Người ở với nhau lâu, inh ỏi đủ điều Trâu buộc thì ghét trâu ăn Quan võ thì ghét quan văn dài quần Trai thì cày ruộng khiển trâu Gái thì phải biết bổ cau têm trầu Ghi Chú: * Tục ăn trầu có ở hầu hết các nước Đông Nam Á; Xem: Trầu Cau Trong Ca Dao Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta (*) Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm Ghi Chú: * Hoặc: Trâu ta ăn cỏ đồng ta Trâu khoẻ chẳng lo cày trưa Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền. Trâu kia chết để bộ da Người chết để tiếng xấu xa muôn đời Cao vây, dậy tiền, sâu vai, khai hậu Ghi Chú: * Hai chân sau mở rộng gọi là khai hậu Sừng cánh cắt, mắt ông voi Ghi Chú: * Cặp sừng to lớn như cánh chim cắt là trâu tốt Ăn thịt trâu không tỏi Như ăn gỏi không rau mơ Trâu quá sá, mạ quá thì Ghi Chú: * Quá sá là quá già, không còn khả năng để cày cấy Trâu dê chết để tế ruồi Sao bằng khi sống cơi suồi kính dâng Lại thêm tiền thấp hậu cao Ghi Chú: * Hai vai trước thấp mà mông cao, con trâu đi chúi là khôphải trâu tốt Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày Ghi Chú: * Sống lưng phải vừa phải nhưng nổi cao thì trâu cày khỏe Đầu thanh cao, rào thấp hậu Chẳng tậu thì sao Được voi to trâu bò chẳng kể Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa Một lời đã trót nói ra Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo (*) Ghi Chú: * Nguyên thủy: Nhất ký ngôn xuất tứ mãi nan truy Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng Trăm trâu trăm bó cỏ Trâu đứng ăn năm Trâu nằm ăn ba Nghé hoa ba con ăn một (*) Ghi Chú: * Câu đố toán học – Có bản khác: Con ở đàng xa một bó ba con Chưa được thì khấn một trâu Được rồi thì có trâu đâu cho bà Anh có sừng trâu bạc Tôi có gạc (có giác) trâu đen Bụng trâu làm sao bụng bò làm vậy Buộc trâu trưa nát chuồng Ăn thịt trâu không có tỏi Như ăn gỏi không có lá mơ Béo như trâu chương Đầu trâu mặt ngựa Chăn trâu chả biết mặt trâu Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm. Chị bị cứt trâu Chị em dâu nấu đầu trâu thủng nồi Chết đuối vũng trâu đằm Anh Ngữ Tương đương: * To cut one’s throat with feather OR An unfortunate man would be drowned in a tea cup) Chết lỗ chân trâu Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An unfortunate man would be drowned in a tea cup Đàn gảy tai trâu (Đàn khảy tai trâu) Đầu nheo còn hơn phèo trâu Đến đâu chết trâu đến đấy Đi sông đi biển không chết chết ở lỗ chân trâu Làm cực như trâu Tương Đương với Anh Ngữ : To work as hard as a horse Chín đụn mười trâu chết cũng hai tay buông xuôi (cắp đít) Tương Đương với Anh Ngữ : A handfull of ashes is all than remains of the greatest. OR: It will all be the same a hundred years hence Có ăn có chọi mới gọi là trâu Gái mười bảy bẻ găy sừng trâu Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu Con trâu là đầu cơ nghiệp Cống làng Tô trâu bò làng Hệ Dắt trâu chui qua ống Đi cày trâu hút đi xúc phải cọc Trâu thì kho bò thì tái Muống thì vừa cải thì nhừ Đuôi chùng quá gối thì nào được đâu! Ghi Chú: * Trâu có đuôi dài quá cũng không đắc dụng Thứ nhất bó rễ, thứ nhì trễ cành Trâu cổ cò, bò cổ vại Ghi Chú: * Trâu phải có cổ dài, cổ bò lớn và ngắn thì tốt Giờ trâu về chuồng Hùng hục như trâu hút mả Hùng hục như trâu lăn Kẻ trâu trắng người trâu đen Khấn trâu trả lễ bò Khỏe như trâu Không có trâu bắt bò đi đẩm Làm kiếp trâu ăn cỏ làm kiếp chó ăn dơ Làm kiếp trâu kéo cày trả nợ Lấm như trâu đầm Lắm rận thì giàu lắm trâu thì nghèo Làm rể chớ xào thịt trâu làm dâu chớ đồ xôi lại Làm ruộng không trâu làm giàu không thóc Lắm ruộng thì thâu lắm trâu thì bán Làm thân trâu kéo cày trả nợ Làm thân trâu ngựa Lâu ngày cứt trâu hóa bùn Lộn con toán bán con trâu (cả nhà) Lộn thừng lộn chão quá hơn lộn trâu cày Lòng trâu dạ chó Máu đâu trâu đó Máu trâu cũng như máu bò Nằm trâu thổi sáo Một con tằm cũng phải hái dâu một con trâu cũng phải đi chăn Mua trâu bán chả Mua trâu lựa nái cưới gái lựa dòng Mua trâu vẽ bóng Muốn giàu nuôi trâu cái Nai lưng trâu Nhịn thuốc mua trâu nhịn trầu mua ruộng Tương Đương với Anh Ngữ : Take care of the pence and the pounces will take care of themselves Phản chủ đầu trâu Ăn cơm nhà Phật, Ðốt trâu nhà chùa Phản chủ đầu trâu Ăn cơm nhà Phật Đốt trâu nhà chùa Ruộng sâu trâu nái Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng Thui trâu nửa mùa hết rơm Tham bong bóng bỏ bọng trâu Thật thà lái buôn (trâu) Vễnh sừng, tóc chớp cả nhà mang tai Ghi Chú: * Trâu loại nầy dữ, hay nổi khùng như trâu điên dễ gây tai vạ Sông Sâu (hoắm) không chết, chết vũng trâu đầm Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An unfortunate man would be drowned in a tea cup Thà chết vũng trâu hơn chết khu đĩa đèn Trật con toán bán cái nhà (con trâu) Trâu béo kéo trâu gầy Trâu bò được ngày phá đỗ Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết Trâu buộc ghét trâu ăn Trâu cày ngựa cỡi (ngựa cưỡi) Trâu chậm uống nước đục (nước dơ) Trâu ngơ ăn cỏ héo Tương Đương với Anh Ngữ: He that comes first to the hill may sit where he will. OR: Delays are dangerous Trâu chết bò cũng lột da Trâu chết chẳng khỏi rơm Trâu chết để da người ta chết để tiếng Trâu chết mặc trâu bò chết mặc bò Củ tỏi giắt lưng Trâu cho ra trâu cho Bò bán ra bò bán Trâu cột ghét trâu ăn Trâu đạp cũng chết voi đạp cũng chết Trâu dong bò dắt Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy Trâu già đâu (không) nệ dao phay Trâu hay ác thì trâu vạt sừng Trâu ho cũng bằng bò khỏe Trâu lấm vẫy quàng Trâu lành (Trâu sống) không ai mà cả Trâu ngã nhiều gã cầm dao Trâu leo cày muỗm Trâu ngã lắm kẻ cầm dao Trâu nghiến hàm bò bạch thiệt Trâu ta ăn cỏ đồng ta Trâu teo heo nở Trâu thịt thì gầy trâu cày thì béo Trâu tìm cọc cọc chẳng tìm trâu Trâu tìm cột cột không tìm trâu Trâu toi thì bò ngã Trâu trắng đi đâu mất mùa tới đấy Trâu trắng trâu đen Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt Thân trâu trâu lo thân bò bò liệu Tiếc thịt trâu toi Trai mười bảy bẻ gãy sừng trâu Trăm trâu cũng một công chăm Vác bổi thui trâu Ghi Chú: Ý nói không liệu sức mình; Tương đương với câu: Liệu cơm gắp mắm Vô một gà ra phải ba trâu Voi địt hơn trâu rống Khoáy sừng, khoáy sọ, khoáy tai Tam tinh, chằng ách làm tai chúa nhà Đầu gà còn hơn đuôi phượng (đuôi trâu) Tương Đương với Anh Ngữ : Better be the head of a dog than a tail of a lion Làm chủ một nơi còn hơn làm tôi tớ kẻ khác. Dùng dao mổ trâu (mổ bò) cắt tiết gà Tương Đương với Anh Ngữ : To use a steam hammer to crack nuts Xử dụng không đúng chỗ Chung nốt làm cầu, chung trâu làm trống Chỉ đường cho Mọi trộm trâu Trâu hoa tai, bò gai sừng Ghi Chú: Trâu có hoa tai cũng như bò có gai sừng là hai con vật không nên nuôi Thưa lông, mọng da, mõm giỏ Ghi Chú: * Trâu lông thưa, miệng rộng mõm dài, miệng như cái giỏ mới tốt Trâu nghiến hàm, bò bạch thiệt Ghi Chú: * Trâu nghiến hàm chặt lại là trâu xấu Hàm nghiến, lưỡi đốm hoa cà Vểnh sừng tóc chóp, cửa nhà mang tai Ghi Chú: * Lưỡi trâu có đốm hoa cà là trâu tốt Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi Mua trâu xem vó, mua chó xem chân Chùng đùi, thắt quản, ngắn đuôi Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà Ghi Chú: * Châm biếm người lái máy cày phải được ăn sang, nông dân phải chịu tốn kém Trâu ác là trâu vạc sừng Bò ác là bò còng lưng méo sườn Lọ đầu thì bán Lọ trán thì nuôi Lọ đuôi thì thịt  

Post ngày: 10/05/17  

Con Trâu Trong Ngôn Ngữ Ca Dao / 2023

2. Hình ảnh con trâu trong ca dao, tục ngữ trước hết là hình ảnh được biểu hiện hiển ngôn. Trong hai con vật thân quen với cuộc sống của người nông dân là trâu và bò thì trâu được đánh giá cao hơn bò: ” Trâu gầy cũng tày bò giống“, ” Trâu he cũng bằng bò khoẻ ” (Tục ngữ). Bò khả năng chịu rét kém, sức kéo không khoẻ bằng trâu, đặc biệt là việc kéo cày ở đồng chiêm thì bò kém xa trâu. Trâu có sức khoẻ dẻo dai hơn bò:

Trâu năm sáu tuổi còn nhanh, Bò năm sáu tuổi đã tranh về già, Đồng chiêm xin chớ nuôi bò, Mùa đồng tháng giá, bò dò làm sao!

Chính vì thế mà nuôi trâu để phục vụ cho lao động sản xuất là sự ưu tiên lựa chọn hàng đầu của người nông dân. Nghề nông mà không có trâu thì không thể tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả cao giống như việc nhà giàu mà không có thóc gạo: ” Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc“. Muốn có trâu hay, cày khoẻ thì cần phải biết chọn trâu giống tốt. Tục ngữ nêu lên kinh nghiệm mua trâu: ” Mua trâu xem sừng, mua chó xem chân” hay ” Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi“, ” Trâu cổ cò, bò cổ vại “. Trâu sừng to, cân đối là trâu khoẻ. Cổ trâu dài, cổ bò ngắn và to là loại trâu bò kéo khoẻ. Trâu khoẻ và nhanh có ảnh hưởng đến hiệu quả công việc sản xuất:

– Thứ nhất vợ dại trong nhà,

Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn. – Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa, Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

Trâu là con vật đóng vai trò hàng đầu của nhà nông: ” Con trâu là đầu cơ nghiệp“. Muốn làm giàu thì phải nuôi trâu, đặc biệt là trâu nái vừa cày vừa sinhh sản và bán trâu giống là có cơ hội giàu có: ” Muốn giàu nuôi trâu nái, muốn lụn bại nuôi bồ câu “. Tuy nhiên, việc “tậu trâu” là việc hệ trọng tương đương “lấy vợ, làm nhà” và chọn trâu tốt không phải là công việc dễ dàng.

Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà Trong ba việc ấy thật là khó thay.

Sự giàu có sung túc của nhà nông được đánh giá bằng chất lượng và số lượng ruộng và trâu: ” Ruộng sâu, trâu nái ” và ca dao thì:

Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu, Tham vì ông lão tốt râu mà hiền.

Chăn trâu là một việc làm khá vất vả, phải đi sớm về khuya, suốt ngày phơi mặt ngoài đồng, phải chịu mưa nắng gió rét, chăm bẵm trâu cho béo tốt, có sức mà kéo cày:

Trâu anh con cưỡi con dòng, Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn.

Chăn trâu là phải luôn coi chừng trâu, không để trâu đi lạc đàn, trâu ăn lúa. Trâu đã đi vào bài ca dao huyền thoại nói về chú Cuội chăn trâu mải chơi, ngồi gốc cây đa để trâu ăn lúa”

Thằng Cuội ngồi gốc cây đa Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời Cha còn cắt cỏ trên trời Mẹ còn cưỡi ngựa đi chơi cầu vồng

Chính vì vất vả nặng nhọc và mang trách nhiệm nặng nề nên đứa trẻ chăn trâu được xã hội xưa coi trọng, quý mến. Có hẳn một lễ hội mục đồng mà những đứa trẻ chăn trâu tham gia và được đối xử trọng vọng. Lễ hội chọi trâu là một hình thức thi trâu khoẻ, tôn vinh người chăn trâu, gia đình nào có trâu thắng cuộc thì rất vinh dự. Lễ hội chọi trâu trở thành một ngày hội lớn:

Dù ai buôn đâu bán đâu, Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về. Dù ai buôn bán trăm nghề, Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu.

Con trâu với công việc cày vừa của nhà nông thường do người đàn ông đảm nhận. Vì vậy, biết điều khiển con trâu và cày sao cho giỏi là tiêu chuẩn để đánh giá người con trai trong công việc nhà nông:

Trai thì cày ruộng khiển trâu Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

Văn hoá nghề nông thể hiện rất rõ qua công việc cày cấy, mối quan hệ giữa người với trâu. Trâu không còn là con vật mà là người bạn cùng làm nông, họ thường tâm tình tha thiết với trâu về công việc cày cấy:

Trâu ơi! Ta bảo trâu này! Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta. Cày cấy vốn nghiệp nông gia, Ta đây trâu đấy ai mà quản công! Bao giờ cây lúa trổ bông, Thời còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

Người chăn trâu tâm tình, khuyên bảo trâu ân cần về việc ăn uống, làm lụng, cả về những vấn đề triết lí nhân sinh:

Trâu ơi ta bảo trâu này, Trâu ăn cho béo trâu cày cho sâu. Ở đời khôn khéo chi đâu, Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

Với nghề nông thì “cần” là phẩm chất quan trọng và người chăn trâu khuyên trâu muốn cần thì phải có sức khoẻ, muốn có sức khoẻ để cày sâu thì phải ăn cho khoẻ. Người nông dân nói với trâu là cũng tự nhủ với lòng mình.

Con trâu thường gắn với lịch nông vụ:

Tháng tư đi tậu trâu bò, Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…

Nghề nông là một nghề vất vả nhưng là một nghề cao cả vì nó quyết định đến đời sống của mọi người. Người Đông Nam Á nói chung và người Việt nói riêng, cơm là món ăn chủ đạo hàng ngày. Bài ca sau đây nói về sự lam lũ của nghề nông và lời nhắn gửi với mọi người đừng quên công lao nhọc nhằn của họ”

Lao xao gà gáy rạng ngày, Vai vác cái cày, tay dắt con trâu. Bước chân xuống cánh đồng sâu, Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày. Ai ơi! Bưng bát cơm đầy, Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng.

Tuy vất vả nhưng người nông dân luôn yêu đời, lạc quan tin tưởng vào tương lai tươi sáng. Họ coi công việc cày cấy là niềm vui và giữa trâu với người cùng hoà bài ca niềm hăng say lao động. Cảnh trâu và người cùng đồng hành trong công việc nhà nông, trâu như một thành viên trong gia đình đầm ấm hạnh phúc:

Rủ nhau đi cấy đi cày Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu Trên đồng cạn, dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa

Hình ảnh con trâu được dùng với ý nghĩa hành ngôn có số lượng khá cao trong các bài ca dao tục ngữ nói về con trâu. Nhận xét về các loại người trong xã hội, tục ngữ dùng hình ảnh con trâu với các cấu trúc biểu thị ý nghĩa hành ngôn. Hình ảnh “trâu chậm” và “trâu ngơ” để biểu thị loại người chậm chạp, ngu ngơ thì sẽ bị thua thiệt: ” Trâu chậm uống nước dơ, Trâu ngơ ăn cỏ héo“. Khi người ta cùng cảnh ngộ, cùng giới tính thì thường có những suy nghĩ và ham muốn giống nhau thể hiện qua câu tục ngữ: ” Bụng trâu làm sao, bụng bò làm vậy” hay ” Bụng trâu cũng như dạ bò“. Phê phán những kẻ cơ hội, vô tâm, chỉ biết lợi cho mình, tục ngữ có câu: ” Trâu lành không ai mà cả Trâu ngã nhiều gã cầm dao“, ” Trâu chết mặc trâu bò chết mặc bò củ tỏi giắt lưng“. Để chỉ loại người tham lam, tác giả dân gian dùng hình ảnh cái bụng vô độ của chó và trâu: ” Cơm đâu no bụng chó, cỏ đâu no bụng trâu “.

Tục ngữ thường lấy hình ảnh con trâu để nhận xét về các quan hệ trong xã hội. Trong xã hội xưa, những thế lực thống trị thường tranh chấp nhau làm cho dân tình tang thương khốn khổ thể hiện qua câu tục ngữ: ” Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết “. Để biểu thị sự so kè, ghen ghét nhau của các quan chức thời phong kiến, tác giả dân gian đã dùng hình ảnh “trâu buộc” và “trâu ăn”:

Trâu buộc thì ghét trâu ăn, Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

Nhận xét về nhân tình thế thái, tác giả dân gian thường dùng hình ảnh trâu với các cấu trúc ngữ nghĩa khác nhau. Câu tục ngữ ” Cứt trâu để lâu hoá bùn ” để hàm chỉ sự việc gì mà để lâi thì giảm bớt hiệu quả, giảm bớt sự nghiêm trọng của sự việc, thậm chí có thể thay đổi bản chất vấn đề. Thói thường nhiều khi người ta không nhận ra bản chất sự việc, khi có nhiều thì chê ỏng chê eo nhưng khi không có, túng thế lại chấp nhận những cái tầm thường:

Nước giữa dòng chê trong, chê đục Vũng trâu đầm hì hục khen ngon

Nói về sự bù trừ, tương trợ lẫn nhau hoặc là sự chia đều, đổ đồng, tục ngữ có câu: ” Trâu béo kéo trâu gầy“. Nói về tính cộng đồng thì tác giả dân gian thường nói về thói quen sống theo bầy đàn của trâu, đây cũng là tâm lí bầy đàn của xã hội sống quần cư: ” Trâu có đàn, bò có lũ“. Người Việt luôn trọng danh dự, coi danh dự hơn cả của cải vật chất nên biết tạo danh tiếng cho mình. Câu tục ngữ ” Trâu chết để da, người ta chết để tiếng ” là để nhắc nhở mọi người biết giữ gìn danh dự.

Tác giả dân gian mượn hình ảnh trâu với đặc tính không thính tai để nói về vấn đề có tính triết lí nhân sinh, nói với người không hiểu biết như “Đàn gảy tai trâu”, làm việc một cách vô ích, không có hiệu quả:

Đàn đâu mà gảy tai trâu, Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi!

Nói về mối quan hệ trai gái, câu tục ngữ ” Trâu tìm cọc (cột) cọc (cột) chẳng tìm trâu ” hàm chỉ người con trai thường đi tìm người con gái để ngỏ lời chứ con gái không đi tìm con trai để tán tỉnh. Hình ảnh đáng yêu của “ngọn cỏ phất phơ” là em và anh là “con nghé nhởn nhơ” đi tìm cỏ, cỏ cần cho trâu và trâu bao giờ cũng khát khao ăn cỏ như anh khát khao em:

Em như ngọn cỏ phất phơ, Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng

Hình ảnh cỏ được tiếp tục để hàm chỉ người con gái và sự “kén cỏ” được hàm chỉ sự kén vợ của các chàng trai:

Trâu kia kén cỏ bờ ao, Anh kia không vợ đời nào có con. Người ta con trước con sau, Thân anh không vợ như cau không buồng.

Nói đến trâu là gắn với chức năng cày bừa và làm việc vất vả, nặng nhọc: ” Trâu cày ngựa cưỡi “. Mượn ý của câu thành ngữ này nhưng ca dao nói với hàm nghĩa vui đùa:

Của chua ai nấy cũng thèm, Em cho chị mượn chồng em vài ngày. Chồng em đâu phải trâu cày, Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm.

Nói đến trâu gắn liền với đồng làng là hàm chỉ kiểu văn hoá làng xã. Trong xã hội xưa, dân làng nào thì theo tập quán, hương ước của làng ấy theo kiểu: ” Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy “. các sinh hoạt đều bó hẹp trong phạm vi làng xã, thậm chí cái gì của làng mình cũng tốt hơn làng khác. Đây là kiểu văn hoá tự hào tự tôn về làng xã của mình:

Trâu ta ăn cỏ đồng ta, Tham thanh chuộng lạ dắt qua đồng người Đồng ngượi cỏ tốt nhưng hôi, Đồng ta cỏ xấu nhưng bùi trâu ăn.

3. Như vậy, ngôn ngữ ca dao, tục ngữ có hình ảnh con trâu thể hiện đầy đủ các khía cạnh của văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần. Nói đến trâu là nói đến nền sản xuất nông nghiệp và văn hoá làng xã. Hình ảnh trâu trong ca dao, tục ngữ là hình ảnh dùng để so sánh, ẩn dụ nên nó có ý nghĩa hành ngôn, thể hiện những nhận xét của tác giả dân gian về con người, việc đời và rút ra các mối quan hệ nhân sinh. Rồi mai đây, con trâu không còn kéo cày trên cánh đồng như hình ảnh con trâu trong ca dao, tục ngữ là một kho bảo tàng sống động về sinh hoạt làng quê và phong tục tập quán gắn với nghề nông một thời.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (Chủ biên), (1995), Kho tàng ca daô người Việt, Bốn tập, Nxb VHTT, H.

2. Nguyễn Lai (1996), Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học, Nxb GD, H.

3. Mã Giang Lân (2000), “Tục ngữ ca dao Việt Nam”, Cao dao Việt Nam, những lời bình, Nxb VHTT, H.

4. Phan Ngọc (2000), Thử xem xét văn hoá văn học bằng ngôn ngữ, Nxb Thanh Niên, H.

5. Vũ Ngọc Phan (1978), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, In lần thứ tám, Nxb KHXH, H.

6. Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb Tp. Hồ Chí Minh.

Ca Dao Tục Ngữ Về Con Cò / 2023

Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao Ông ơi ông vớt tôi nao Tối có lòng nào ông hãy xáo măng Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục đau lòng cò con!

Cái cò đi đón cơn mưa Tối tăm mù mịt ai đưa, cò về? Cò về đến gốc cây đề, Giương cung anh bắn cò về làm chỉ Cò về thăm bác thăm dì, Thăm cô xứ Bắc thăm dì xứ Đông.

Con cò lấp lé bụi tre Sao cò lại muốn lăm le vợ người Vào đây ta hát đôi lời Để cho cò hiểu sự đời , ở ăn Sự đời cò lấy làm răn Để cho cò khỏi băn khoăn sự đời.

Cái cò bay lả bay la Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng.

Cái cò bay bổng bay lơ Lại đây anh gởi xôi ngô cho nàng. Đem về nàng nấu nàng rang, Nàng ăn có dẻo thì nàng lấy anh.

Cái cò cái vạc cái nông Sao mày giẫm lúa nhà ông hỡi cò, Không, không! Tôi đứng trên bờ Mẹ con nhà vạc đổ ngờ cho tôi Chẳng tin ông đứng ông coi Mẹ con nhà nó còn ngồi đấy kia!

Cái cò cái vạc cái nông Ba con cùng béo, vặt lông con nào Vặt lông con vạc cho tao Mắm muối bỏ vào, xào rán rồi thuôn!

Cái cò cái vạc cái nông Cùng ăn một đồng nói chuyện giăng ca Muối kia đổ ruột con gà Mẹ mình chẳng xót bằng ta xót mình.

Cái cò chết tối hôm qua Có hai hạt gạo với ba đồng tiền Một đồng mua trống mua kèn Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong Một đồng mua mớ rau răm Đem về thái nhỏ thờ vong con cò.

Cái cò lặn lội bờ ao Phất phơ đôi dải yếm đào gió bay Em về giục mẹ cùng thầy, Cắm sào đợi nước biết ngày nào trong? Cổ yếm em thõng thòng thòng, Tay em đeo vòng như bắp chuối non. Em khoe em đẹp em giòn, Anh trông nhan sắc em còn kém xuân.

Cái cò lặn lội bờ ao Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng? Chú tôi hay tửu hay tăm, Hay ngồi một xó, hay ăn thịt gà Ai ra ruộng chú ở nhà Nói thì dở giọng ba hao chích chòe!

Cái cò lặn lội bờ ao Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng? Chú tôi hay tửu hay tăm, Hay nước chè đặc hay nằm ngủ trưa Ngày thì ước những ngày mưa! Đêm thì ước những đêm thừa trống canh.

Cái cò lặn lội bờ sông, Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền!

Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non Chàng đi xa vợ xa con Chàng đi đến tận nước non Cao Bằng Chân đi nhưng dạ dùng dằng Nửa nhớ Cao Bằng, nửa nhớ vợ con! Nàng về nuôi cái cùng con Để anh đi trẩy nước non cùng người

Cái cò lặn lội bờ sông Cổ dài mỏ cứng cánh cong lưng gù Bã xa sông rộng sóng to Vì lo cái bụng đi mò cái ăn.

Cái cò là cái cò con Mẹ đi xúc tép, để con ở nhà Mẹ đi lặn lội đồng xa Mẹ sà chân xuống, phải mà con lươn Ông kia có cái thuyền buồm Chở vào rừng rậm xem lươn bắt cò Ông kia chống gậy lò dò Con lươn thụt xuống, con cò bay lên.

Cái cò là cái cò kỳ Ăn cơm nhà dì, uống nước nhà cô Đêm nằm thì ngáy o o Chưa đi đến chợ đã lo ăn quà Hàng bánh hàng bún bầy ra Củ từ khoai sọ, đến bà cháo kê Ăn rồi cắp đít ra về Thấy hàng chả chó, lại lê chân vào Chả này bà bán ra sao Ba đồng một gắp, thì nào tôi mua! Nói dối rằng mua cho chồng Về đến quãng đồng, ngả nón ra ăn Ăn rồi đau quặn đau quăn Chạy về cho kịp, nằm lăn cả ngày Đem tiền đi bói ông thầy Bói ra quẻ này: những chả cùng nem Ông thầy nói dối đã quen Nào ai ăn chả ăn nem bao giờ!

Cái cò là cái cò quăm Mày hay đánh vợ mày nằm với ai? Có đánh thì đánh sớm mai, Chớ đánh chập tối chẳng ai cho nằm!

Cái cò là cái cò vàng Mẹ đi bán hàng, nhà lại vắng cha Vắng cha thì ở với bà Không ở với chú, chú là đàn ông.

Cái cò là cái cò vàng Mẹ đi đắp đàng con ở với ai Con ở với bà, bà không có vú Không ở với chú, chú là đàn ông. Thôi con chết quách cho xong!

Con cò là con cò vàng Muốn đi hát đúm sợ làng cười chê Ai cười lời kẻ thôn quê Mà cò ngần ngại đứng lề đường quan Hay cò vui câu xẩm xoan Thì cò bay đến hân hoan cùng người.

Cái cò mà mổ cái tôm Cái tôm quắp lại mà ôm cái cò.

Cái cò mà mổ cái trai, Cái trai quắp lại mà nhai cái cò.

Cái cò trắng bạch như vôi Cô kia có lấy chú tôi thì về. Chú tôi chẳng mắng chẳng chê, Thím tôi thì mổ lấy mề nấu canh!

Con cò trắng bệch như vôi Đừng nông nổi nữa, đừng lời nguyệt hoa Ví dù muốn đẹp đôi ta Đừng như cánh bướm quanh hoa đầu mùa Đừng vê thuốc, đừng bỏ bùa Đừng như chú tiểu ở chùa Thiều Quang Đừng thắm nhạt, đừng đa đoan Nên duyên thì phượng với loan một lời Giăng kia vằng vặc giữa giời Giăng ai soi tỏ lòng người nầy cho.

Con cò trắng tợ như vôi Tình tôi với bậu xứng đôi quá chừng!

Con cò trắng toát như bông Muốn nghe hát đúm mà không chịu vào Nghĩ gì, cò đậu cành cao Nghiêng nghiêng, nghé nghé nửa chào nửa e Xuống đây cho ta nhắn nhe Đừng đứng trên ấy gãy tre của làng.

Cái trai mày há miệng ra, Cái cò nó mổ muốn tha thịt mày. Cái cò mày mổ cái trai, Cái trai quặp lại muốn nhai thịt cò.

Con cò mà mổ con trai U ơi, U lấy vợ hai cho thầy.

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2015

Ca Dao Tục Ngữ Về Mẹ, Tình Mẹ Con / 2023

Những câu ca dao tục ngữ hay nhất về mẹ: Lên non mới biết non cao, Nuôi con mới biết công lao mẹ hiền.

Ca dao tục ngữ về mẹ, tình mẹ con

Ta đi trọn kiếp con người Cũng không đi hết những lời mẹ ru

Công cha nghĩa mẹ cao vời, Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta. Nên người con phải xót xa, Đáp đền nghĩa nặng như là trời cao. Đội ơn chín chữ cù lao, Sanh thành kể mấy non cao cho vừa

Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ mới chân tu

Công cha đức mẹ cao dày, Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ. Nuôi con khó nhọc đến giờ, Trưởng thành con phải biết thờ song thân

Mẹ già ở tấm lều tranh, Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con

Đêm khuya trăng rụng xuống cầu, Cảm thương cha mẹ dãi dầu ruột đau

Biển Đông còn lúc đầy vơi, Chớ lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng

Đêm đêm khấn nguyện Phật Trời, Cầu cho cha mẹ sống đời với con

Ngó lên trời thấy cặp cu đang đá, Ngó ra ngoài biển, thấy cặp cá đang đua. Đi về lập miếu thờ vua, Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha

Muốn cho gần mẹ gần cha, Khi vào thúng thóc, khi ra quan tiền

Ai về tôi gởi buồng cau, Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy. Ai về tôi gởi đôi giày, Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi

Ơn hoài thai, to như bể! Công dưỡng dục, lớn tựa sông! Em nguyện ở vậy không chồng, Lo nuôi cha mẹ, hết lòng làm con Chim đa đa đậu nhánh đa đa, Chồng gần không lấy, để lấy chồng xa. Mai sau cha yếu mẹ già, Bát cơm đôi đũa, chén trà ai dâng?

Nếu mình hiếu với mẹ cha, Chắc con cũng hiếu với ta khác gì? Nếu mình ăn ở vô nghì, Đừng mong con hiếu làm gì uổng công?

Hiếu thuận sinh ra con hiếu thuận, Ngỗ nghịch nào con có khác chi! Xem thử trước thềm mưa xối nước, Giọt sau, giọt trước chẳng sai gì

Ở đời ai cũng có lần, Làm cha mẹ mới biết ơn sinh thành. Người xưa khó nhọc nuôi mình, Khác gì mình đã hết tình nuôi con

Mẹ dạy thì con khéo, Bố dạy thì con khôn

Mồ côi cha, ăn cơm với cá Mồ côi mẹ lót lá mà nằm

Ai rằng công mẹ như non, Thật ra công mẹ lại còn lớn hơn

Lòng mẹ như bát nước đầy, Mai này khôn lớn, ơn này tính sao

Nhớ ơn chín chữ cù lao, Ba năm bú mớm biết bao thân tình

Con ho lòng mẹ tan tành, Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi

Nuôi con chẳng quản chi thân, Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn. Mẹ ngoảnh đi, con dại, Mẹ ngoảnh lại, con khôn

Mẹ giàu con có, mẹ khó con không

Mẹ già như chuối ba hương, Như xôi nếp một, như đường mía lau

Bồng cho con bú một hồi, Mẹ đã hết sữa, con vòi con la

Nuôi con buôn tảo bán tần, Chỉ mong con lớn nên thân với đời. Những khi trái nắng trở trời, Con đau là mẹ đứng ngồi không yên. Trọn đời vất vả triền miên, Chăm lo bát gạo đồng tiền nuôi con

Thêm một người quả đất chật thêm, Thiếu mẹ thế giới đầy nước mắt