Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Like | Altimofoundation.com

Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa Việt Nam

Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Rượu

Mái Đình Làng Trong Văn Hóa Việt

Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Địa Danh

Ca Dao Tục Ngữ Về Hạnh Phúc, Bất Hạnh, Hiếu Thảo, Có Hiếu

35 Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Quê Hương Đất Nước Bình Định Câu Hỏi 194294

Những câu ca dao tục ngữ về cây lúa Việt Nam.

Ca dao tục ngữ hay về cây lúa

những câu ca dao tục ngữ hay về cây lúa Việt Nam.

Cây lúa là gì?

Cây lúa là cây đã có từ thời xa xưa, là loại cây mà người nông dân nuôi trồng sản xuất để tạo thành cơm ăn hoặc buôn bán.

Cây lúa bắt nguồn từ thời nguyên thủy, họ phải đi săn bắt, hái lươm những cây trái về ăn, sau đó họ thấy cây lúa ăn thật ngon, họ lại đem đi gieo ở những vùng đất khô ,nhân giống thêm và để có cái ăn, sau một thời gian dài người ta đã có ý thức và kinh nghiệm về cây lúa, đem gieo ở những vùng đất có nhiều nước, người dân thấy cây lúa tốt hơn và đã duy trì từ đó đến bây giờ. Tạo thành một biểu tượng của đất nước Việt Nam.

Những câu ca dao tục ngữ về cây lúa Việt Nam

1.

Lúa khô nước cạn ai ơi

Rủ nhau tát nước, chờ trời còn lâu

Hai câu thơ trên hàm ý muốn nói là thúc đẩy người dân hãy tưới nước chứ đừng chờ trời mưa, vì lúa đã khô sẽ dễ chết sau đó sẽ mất mùa vụ,

2.

Cực lòng thiếp lắm chàng ơi

Kiếm nơi khuất tịch, thiếp ngồi thở than

Than vì cây lúa lá vàng

Nước đâu mà tưới nó hoàn như xưa

Trông trời chẳng thấy trời mưa

Lan khô huệ héo, khổ chưa hỡi trời

Bài thơ nói về thời tiết khô hanh làm cho cây lúa “vàng” tức là lúa đã khô héo mà trời vẫn chưa chịu đổ mưa.

3.

Thân em như lúa nếp tơ,

Xanh cây tốt rễ, phởn phơ phơi màu

Ý muốn nói “thân em” như một cây lúa đang tươi tốt và màu xanh ươm, nghệ thuật so sánh “thân em” với “cây lúa” rất hay.

4.

Mạ non bắt trẻ cấy biền

Thương em đứt ruột, chạy tiền không ra

“Mạ non” tức là cây lúa non được gieo ở ruộng riêng (ruộng mạ), hình ảnh “mạ non” cho thấy về sau phải nhổ lên để cấy lại, thể hiện người làm nông không hề sướng ích gì.

5.

Trời mưa cho lúa thêm bông

Cho đồng thêm cá, cho sông thêm thuyền

Hai câu thơ trên có hàm ý kêu gọi trời cao hãy mưa để cho đồng lúa xanh tươi tốt, năng suất cao, tránh mất mùa vụ

6.

Được mùa lúa, úa mùa cau

Được mùa cau, đau mùa lúa

Hai câu thơ lý giải hiện tượng thiên nhiên, là tới mùa lúa thì hết mùa cau, còn đến mùa cau thì lúa lại mất vụ. Ông bà ta đã quan sát và đút kết lại kinh nghiệm sống cho con cháu quá hay.

7.

Trời cao đất rộng thênh thang,

Tiếng hò giọng hát ngân vang trên đồng,

Cá tươi gạo trắng nước trong,

Hai mùa lúa chín thơm nồng tình quê

Bài thơ trên có hàm ý muốn nhắn nhủ chúng ta luôn nhớ về quê hương, luôn nhớ về những mùa lúa chín vàng ươm và thơm nồng.

8.

Ăn kĩ no lâu

Cày sâu tốt lúa.

Đây là kinh nghiệm sống cho người nông dân làm nông, cày càng sâu thì lúa sẽ càng tốt. sẽ dẫn đến hậu quả vô cùng nghiêm trọng là … năng suất cao ^^

9.

Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẽo thơm một hạt đắng cay muôn phần

Bài thơ muốn nhắn nhủ chúng ta về công lao của những người nông dân đã làm ra gạo dẽo thơm cho chúng ta ăn, qua đó thể hiện sự cực khổ của người nông dân giữ trưa phải đi cày và mồ hôi nhễ nhại.

10.

Việt Nam đất nước ta ơi

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

mình rất thích ca dao

Tục Ngữ, Ca Dao Địa Danh Ninh Bình (Lv Thạc Sĩ)

Tổng Hợp Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nhất Về Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11

Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Hè, Mùa Xuân, Mùa Thu, Mùa Đông

Đặc Sản Miền Trung Qua Ca Dao

Cách Nói Của Người Miền Tây Nam Bộ Qua Ca Dao Trần Minh Thương

Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Cối, Câu Dừa, Cây Tre, Cây Bưởi

Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa, Hạt Gạo, Nông Dân Ruộng

Đề Tài Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ, Thơ Trong Giảng Dạy Môn Giáo Dục Công Dân Ở Các Lớp 6, 7

Ca Dao Tục Ngữ Về Đoàn Kết Tương Trợ Lẫn Nhau

Ca Dao Tục Ngữ Về Đồng Nai, Đồng Tháp, Đà Nẵng, Đak Lak, Đak Nông, Điện Biên Hay Nhất

Ca Dao Tục Ngữ Về Đồng Nai

1 Những câu ca dao tục ngữ về cây cối, câu dừa, cây tre, cây bưởi Author : Ngân Hường Categories : Văn hóa Các câu ca dao tục ngữ là những kinh nghiệm mà ông bà ta đúc kết từ xa xưa rất bổ ích và ý nghĩa. Các câu ca dao tục ngữ thường nói về ông bà cha mẹ, con cái, cuộc sống cũng như những điều rất ý nghĩa đối với cuộc sống của chúng ta. Bên cạnh những câu ca dao tục ngữ về ông bà cha mẹ còn có những câu tục ngữ về thiên nhiên và con người. Những câu tục ngữ về thiên nhiên thường nhắc đến các hiện tượng thiên nhiên như mây, mưa, gió bão, ngoài các hiện tượng đó thì những câu ca dao tục ngữ còn nhắc đến cây cối như cây dừa, cây tre, cây bưởi, những loại cây có ý nghĩa đối với nhân dân ta, ý nghĩa về mặt kinh tế lẫn về mặt lịch sử, chúng ta cùng đi tìm hiểu về những câu ca dao tục ngữ về cây cối, câu dừa, cây tre, cây bưởi. Những câu ca dao tục ngữ về cây dừa: Câu 1: Không chồng, son phấn qua loa, Có chồng, em trang điểm nước hoa dầu dừa Dừa là một loại cây rất thân thương và quen thuộc đối với cuộc sống của con người. cây dừa được sử dụng hầu hết các bộ phận của cây như thân cây được dùng làm gỗ, lá cây dùng để lợp nhà, trái dừa dùng để uống nước,. Bên cạnh đó dừa còn dùng để làm nước hoa cho người phụ nữ xưa. Câu 2: Bến Tre dừa ngọt sông dài Nơi chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh. ở nước ta dừa được trồng nhiều nhất ở Bến Tre, ở đây có rất nhiều dừa và rất nổi tiếng về dừa. mỗi lần đến đây chúng ta sẽ thấy được rất nhiều sản phẩm được sử dụng làm nhiều trong cuộc sống. Từ Bến Tre có nhiều dừa làm ra kẹo nổi tiếng ở Mỏ Cày. Câu 3: Tài liệu chia Bến sẻ tại Tre dừa xanh bát ngát Đường đi Ba Vát gió mát tận xương.

3 Ôi tuổi thơ, ta dầm mưa ta tắm. Ta lội tung tăng trên mặt nước mặt sông. Ta lặn xuống, nghe vang xa tiếng sấm, Nghe mưa rơi, tiếng ấm tiếng trong. Ôi đâu rồi những trò chơi tuổi trẻ, Những tàu chuối bẹ dừa, những mảnh chòi nhỏ bé, Những vết chân thơ ấu buổi đầu tiên, Mấy tấm mo cau là mấy chiếc thuyền. Dừa ơi dừa! Người bao nhiêu tuổi Mà lá tươi xanh mãi đến giờ Tôi nghe gió ngàn xưa đang gọi Xào xạc lá dừa hay tiếng gươm khua Dừa Bến Tre ba đồng một trái, Chuối Bến Tre một nải đồng ba. Ai biểu anh đến rồi lại đi ra, Để em thương nhớ, em chờ em đợi, nước mắt sa vắn dài. Trồng dừa ra đọt chặt tàu Sợ em đổi dạ tham giàu bỏ anh. Em đi lên xuống cầu dừa, Lấy ai có chửa đổ thừa cho anh. Kìa vườn dừa cây cao cây thấp Gió quặt quà cành lá xác xơ Thương em anh vẫn đợi chờ. Tài liệu chia sẻ tại Ăn dừa ngồi gốc cây dừa,

4 Cho em ngồi với, cho vừa một đôi. Trời mưa lộp bộp lá dừa Bợp anh ba bợp cho anh chừa đi đêm. Gió đưa gió đẩy lá dừa, Muốn ai thì muốn nhưng chừa em ra. Dừa xanh trên bến Sông Cầu Dừa bao nhiêu trái, dạ em sầu bấy nhiêu. Trăng lên khuất bóng cây dừa, Làm thân con gái phải chừa đi đêm. Muốn trong bậu uống nước dừa Muốn nên cơ nghiệp, bậu chừa lang vân. Dừa tơ bẹ dún tốt tàng, Giàu sang có chỗ, điếm đàng có nơi. Đất thiếu trồng dừa, Đất thừa trồng cau. Dừa giao lá, cá giao đuôi. Ôi thân dừa đã hai lần máu chảy, Biết bao đau thương biết mấy oán hờn. Ai xui thằng giặc đi càn, Vô sâu ong đốt, ra đàng gặp chông. Dừa bị thương dừa không cúi xuống Vẫn ngẩng lên ca hát giữa trời Tài liệu Nếu chia ngã sẻ xuống tại dừa ơi không uổng

5 Dừa lại đứng lên thân dựng pháo đài. Những câu ca dao tục ngữ về cây tre: Câu 1: Tre già khó uốn. Cây tục ngữ nói về cây tre khi già sẽ khó uốn, khi già sẽ khó khăn trong việc uốn nắn để thành vật giống. Cây tục ngữ mươn cây tre để nói về sự dạy bảo con người, khi còn nhỏ không dạy bảo lớn lên sẽ không dạy bảo được. Câu 2: Tre già măng mọc. Tre là một loại cây rất nổi tiếng, rất có ý nghĩa trong lịch sử của dân tộc Việt Nam ta. Khi tre già thì sẽ có măng mọc lên, tre là loài cây không bao giờ tàn, không bao giờ bị chết. Câu 3: Đóng tre căng bạc giữa đồng Các anh pháo thủ xoay nòng súng lên Súng anh canh cả trời đêm Để cho trăng đẹp toả lên xóm làng. Dây là câu tục ngữ nói về cây tre, nhắc đến giá trị và ý nghĩa của cây tre. Ngày xưa cây tre rất có ý nghĩa trong các cuộc kháng chiến, những cuộc kháng chiến luôn có sự hiện diện của cây tre. Tổng hợp một số câu ca dao tục ngữ về cây tre: Tre già là bà lim. Có tre mới cho vay hom tranh. Tre non dễ uốn. Tre già nhiều người chuộng, người già ai chuộng làm chi. Tre lướt cò đỗ. Chặt tre cài bẫy vót chông Tài liệu chia sẻ tại Tre bao nhiêu lá thương chồng bấy nhiêu.

7 Câu 1: Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân Nụ tầm xuân nở ra xanh ngắt Em đã có chồng anh tiếc lắm thay Bài ca dao nói về chuyện tình cảm của đôi trai gái được thể hiện qua các loại cây như cây bưởi, nụ tầm xuân, Những hình ảnh ấy nói lên tính cảm yêu thương của người con trai đối với người con gái mình yêu thương. Câu 2: Qua tỉ như chùm gởi đáp nhờ Gá vô nhánh bưởi nọ đặng nhờ hưởng hơi Câu ca dao thể hiện tình cảm của đôi trai gái, của nam nữ được thể hiện qua hình ảnh chum gởi và cây bưởi. hình ảnh chum gởi nhờ vào nhánh bưởi để hưởng hơi nhánh bưởi. Tổng hợp một số câu ca dao tục ngữ về cây bưởi: Mưa tháng bảy gãy cành trám Nắng tháng tám rám cành bưởi Cái sáo mặc áo em tao Làm tổ cây cà Làm nhà cây chanh Đọc canh bờ giếng Mỏi miệng tiếng kèn Hỡi cô trồng sen! Cho anh hái lá Hỡi cô trồng bưởi! Tài liệu chia sẻ tại Cho anh hái hoa

8 Cứ một cụm cà Là ba cụm lý Con nhà ông lý Mặc áo tía tô Tổng hợp một số câu ca dao tục ngữ về cây cối: Ba năm mít mới đóng đài Hoa thơm nỏ rộ, hoa xoài nở đua Bông lài, bông lựu, bông ngâu Sao bằng bông bưởi thơm lâu dịu dàng Cây bần kia hỡi cây bần Lá xanh bông trắng lại gần không thơm Hoa lài hoa lý hoa Ngâu Chẳng bằng hoa bưởi thơm lâu diệu dàng Một cành đào sớm nở hoa Muôn ngàn cây cỏ, theo đà nương thân. Ngó lên đám ngó xanh xanh Người mong hái nụ, người dành bẻ gương Tạnh trời mưa kéo về non Hẹn cùng cây cỏ chớ còn trông mưa Thiếu chi củi quế rừng ta Kiếm chi củi mục rừng xa đem về Tài liệu chia Tre sẻ tại già đan sọt, nứa tốt đan bồ Trồng Tùng tưới nước cho Tùng

9 Em săm say trên đọt, dưới gốc sùng không hay Trồng cây cũng muốn cây xanh, Kết đôi hổng đặng để thành phu thê. Nghe vẻ nghe ve Nghe vè về rau Xấc láo hỗn hào Là rau ngành ngạnh Trong lòng không tránh Vốn thiệt tâm lang Đất rộng bò ngang Là rau muống biển Quan đòi thầy kiện Bình bát nấu canh Ăn hơi tanh tanh Là rau dấp cá Không ba có má Rau má có bờ Thò tay so đo Nó là rau nhớt Ăn cay như ớt Vốt thiệt rau răm Sống tới ngàn năm Tài liệu Là rau chia vạn sẻ tại thọ

Tục Ngữ, Thành Ngữ, Câu Đố

Tục Ngữ Về Tình Yêu Nam Nữ Hay ❤️ 1001 Câu Chế Vui

Ca Dao Về Vợ Chồng Hạnh Phúc ❤️ Tục Ngữ Vợ Chồng Hay

Những Câu Ca Dao Nói Về Cha Mẹ ❤️ Tục Ngữ Cha Mẹ Hay

Ca Dao Tục Ngữ Cải Biên

Cây Lúa Trong Ngôn Ngữ Người Việt

Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Văn Hóa Sản Xuất Nông Nghiệp Phần 1

Tìm Hiểu Đôi Câu Ca Dao, Tục Ngữ Trên Quê Biển Bình Thuận…

Sóc Trăng Bên Bờ Biển Lớn

Thổ Âm Thổ Ngữ Của Người Thanh Hóa

Bô Sưu Tập Ca Dao Đồng Dao Cho Bé

(Ngày ngày viết chữ) Người Việt là cư dân trồng lúa nước điển hình ở Đông Nam Á. Điều này để lại dấu ấn đậm nét trong Việt ngữ, rõ nét nhất là hai từ “lúa” và “nước”. Hiếm có ngôn ngữ nào mà khái niệm “lúa” và “nước” lại thể hiện cụ thể, sinh động như tiếng Việt.

MỌI NGƯỜI CŨNG ĐỌC

Thông thường, phải là sự vật thân thuộc đến một mức độ nhất định người ta mới đặt tên cho. Và càng thân thuộc, càng tri nhận sâu sắc về sự vật người ta mới dùng các tên riêng để gọi từng bộ phận, từng chi tiết của sự vật đó.

Ở đây, khi xem xét cây lúa, chúng tôi nhận thấy rằng Tiếng Việt có hàng chục từ đơn để chỉ cây lúa nước và các sản phẩm của nó.

Tạm lấy thời điểm cây lúa còn non làm mốc, theo Từ điển Hoàng Phê, “cây lúa non được gieo ở ruộng riêng, sẽ nhổ đi cấy lại khi đến tuổi” gọi là “mạ”

Khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen.

Tục ngữ Việt Nam có rất nhiều câu nói về kỹ thuật gieo mạ, như “Gieo mạ còn phải kén giống” hay “Mạ mùa sướng cao, mạ chiêm ao thấp” . Cụ thể, tùy theo giống lúa, tùy mùa, tùy thời tiết mà nông dân chọn chân ruộng, chọn cách gieo trồng sao cho phù hợp. Về vụ mùa và vụ chiêm, Phan Kế Bính viết: “Ruộng chia là hai vụ: cày cấy tự tháng Năm tháng Sáu đến tháng Tám tháng Chín được gặt gọi là vụ mùa; cày cấy từ tháng Một tháng Chạp đến tháng Tư tháng Năm năm sau được gặt gọi là vụ chiêm” ).

“Đòng” hay “đòng đòng” là “ngọn của thân cây lúa đã phân hóa thành các cơ quan sinh sản và sẽ phát triển dần thành bông khi lúa trỗ ”

Cây lúa sau khi gặt lấy bông, phần thân còn lại ngoài đồng gọi là “rạ”. Bông lúa sau khi tuốt hoặc đập lấy thóc, phần thân còn lại gọi là “rơm”.

“Rồi mùa toóc rã rơm khô,

Bạn về xứ bạn biết mô mà tìm.”

Nhánh của một bông lúa được gọi là “gié”:

“Đọt lúa vàng, gié lúa cũng vàng,

Anh thương em, cha mẹ họ hàng cũng thương.”

Về những sản phẩm của cây lúa, các tên gọi cũng vô cùng đặc trưng. Hầu như mỗi một sản phẩm sinh ra từ cây lúa đều có cách định danh riêng. “Thóc” là hạt lúa còn nguyên cả vỏ. Còn thóc sau khi qua xay, giã, tách vỏ rồi thì gọi là “gạo”. Cái vỏ sau khi được tách ra đó gọi là “trấu”.

“Ngày thì đem thóc ra phơi,

Tối lặn mặt trời đổ thóc vào xay.”

“Bòn tro đãi trấu làm giàu,

Đời nay nguyền rủa, đời sau ăn mày.”

. Câu tục ngữ này thể hiện sự tự hào về thành quả lao động của bà con nông dân. Và, không những gạo ngon thì cơm ngon, mà hạt gạo trắng nấu thành cơm trông cũng rất “ngon mắt”:

“Cơm trắng ăn với chả chim,

Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no.”

không chỉ cho thấy giá trị của cám mà còn phản ánh hiện thực là người nông dân hiểu rất rõ giá trị của những sản phẩm từ lúa. Câu ca dao:

“Bồ dục đâu đến bàn thứ tám,

Cám nhỏ đâu đến lần lợn sề.”

“Sáng trăng giã gạo giữa trời,

Cám bay phảng phất thương người phương xa.”

không chỉ là kinh nghiệm nấu cơm thuần túy mà qua đó còn thể hiện được quan niệm phàm chuyện gì cũng có nguyên nhân của nó. Còn câu tục ngữ “Cơm chín tới, cải ngồng non, gái một con, gà nhảy ổ”

“Thấy nếp thì lại thèm xôi,

Ngồi bên thúng gạo nhớ nồi cơm thơm.

Hai tay xới xới đơm đơm,

Công ai cày cấy sớm hôm đó mà.”

Cơm sôi to lửa thì ngon,

Cháo sôi to lửa thì còn nồi không.

. Trong tiếng Việt, từ đơn là một khối cố định, không thể phân chia thành những bộ phận nhỏ hơn mà có nghĩa. Đặc trưng từ đơn của tiếng Việt là mỗi từ đơn đều vừa là hình vị, vừa là âm tiết. Về nguyên tắc, những khái niệm càng cơ bản càng có nhiều khả năng sử dụng từ đơn để biểu đạt. Và những từ tạo mới thường sẽ có dạng từ phức do cơ chế tổ hợp từ các từ sẵn có. Điều này hết sức có ý nghĩa đối với việc đánh giá độ mật thiết giữa cây lúa và nền văn minh lúa nước với người Việt.

Văn minh lúa nước thể hiện qua từ “lúa”

Người Việt vốn có tâm lý trọng nông và thực tế đã trải qua nhiều triều đại thực thi chính sách kinh tế chỉ chú trọng nông nghiệp. Những chính sách có thể kể đến là “quân điền, khẩn hoang, hộ đê; nhà vua lại thường ra sắc khuyến nông khiến các phủ huyện tổng lý phải khuyên dân chăm giữ bản nghiệp”

Kể cả khi làm lúa thất bát, người nông dân vẫn dặn nhau chớ có ngã lòng:

Ai ơi! Nhớ lấy lời này:

Tằm nuôi ba lứa, ruộng cày ba năm.

Nhờ trời hòa cốc phong đăng,

Cấy lúa lúa tốt, nuôi tằm tằm tươi.

Được thua dù có tại trời,

Chớ thấy sóng cả mà rời tay co .

Muốn được mùa, người nông dân thường “cầu trời”, dựa vào “ơn trời”:

“Cầu cho mưa thuận gió lành,

Lúa vàng nặng hạt, ruộng anh được mùa.”

, do đó mà nảy sinh tâm lý tôn kính tự nhiên, chịu ơn tự nhiên.

Dù vậy, người nông dân Việt Nam không hoàn toàn duy tâm, bởi muốn được mùa họ chủ yếu vẫn phải dựa vào kinh nghiệm trồng lúa tích lũy qua bao đời. Chẳng hạn kinh nghiệm “Giồng cây theo gió, cấy lúa theo mưa” .

Hoặc như câu “Lúa phơi màu trông nhau liềm hái” muốn cho thấy cái nhìn chuẩn xác của nhà nông với lúa má nhà mình. Cụ thể, “vụ chiêm vào tháng tư, lúa bắt đầu có hoa. Nếu trời nắng và có gió nồm nam, hoa lúa dễ thụ phấn, khi ấy gọi là lúa phơi màu. Vụ mùa vào tháng tám (lúa sớm), tháng chín (lúa muộn) bắt đầu có gió heo may mà lúa phơi màu thì thuận thời tiết. Vào những thời điểm ấy, nhà nông nên chuẩn bị liềm hái là vừa” cho thấy kinh nghiệm lúa trồng (lúa cấy) tốt hơn lúa gieo thẳng (lúa sạ ).

Người Việt còn nói “Gió đông là chồng lúa chiêm, gió bắc là duyên lúa mùa”, về nội dung, đây là một kinh nghiệm trồng lúa. Gió đông thổi từ biển vào vào mùa hè, mang theo hơi nước tạo mưa giúp cho cây lúa vụ chiêm phát triển. Gió bắc thổi vào mùa đông, giúp lúa vụ mùa (vụ đông) thụ phấn tốt, đạt năng suất cao. Đi sâu vào mặt từ vựng, cách dùng “chồng”, “duyên” còn cho thấy có sự nhân hóa cây lúa. Kỳ thực, người Việt rất giỏi nhân hóa, giỏi thổi hồn vào vạn vật, xem vạn vật cũng như người. Nhưng sự nhân hóa đối với cây lúa là một sự nhân hóa mà nói như Đào Thản là một sự nhân hóa “rất triệt để”

“Nửa đêm sao sáng mây cao,

Triệu trời nắng gắt, nắng gào chẳng sai.

Lúa khô nước cạn ai ôi!

Rủ nhau tát nước chờ trời còn lâu.

Và nỗi lo thường trực của nông dân không gì ngoài nỗi lo mất mùa, những câu tục ngữ sau thể hiện nỗi lo đó, đồng thời cho thấy kinh nghiệm trồng trọt cũng như quan niệm về lẽ được mất ở đời:

– “Được mùa lúa úa mùa cau, được mùa cau đau mùa lúa.”

– “Được mùa quéo, héo mùa chiêm.”

– “Được mùa dưa, sưa mùa lúa.”

Lúa trỗ vào tháng Hai theo kinh nghiệm của dân gian là năm đó mất mùa. Bên cạnh nỗi lo mất mùa còn có nỗi lo trộm đạo:

“Cấy lúa, lúa trỗ ra năn,

Kẻ trộm gặt mất con ăn bằng gì?

Con ăn lộc sắn lộc si,

Con ăn bằng gì, cho đến tháng Năm?”

Còn đây là không khí xóm làng rộn ràng trong mùa thu hoạch:

Bảo nhau gặt lúa vội vàng,

Mang về nhặt tuốt, luận bàn thóc dôi.

Người thì nhóm bếp bắc nồi,

Người đem đãi thóc để rồi đi rang.

Người đứng cối kẻ giần sàng,

Nghe canh gà gáy phàn nàn chưa xong.

Trong làng già trẻ thong dong,

Sớm khuya bện chổi chớ hòng rỗi tay.

Tháng Giêng là tháng ăn chơi,

Tháng Hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà.

Tháng Ba thì đậu đã già,

Ta đi ta hái về nhà phơi khô.

Tháng Tư đi tậu trâu bò,

Để ta sắm sửa làm mùa tháng Năm.

Sáng ngày đêm lúa ra ngâm,

Bao giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra.

Gánh đi ta ném ruộng ta,

Đến khi lên mạ thì ta nhổ về.

Sắp tiền mượn kẻ cấy thuê,

Cấy xong rồi mới trở về nghỉ ngơi.

Cỏ lúa dọn đã sạch rồi,

Nước ruộng vơi mười còn độ một, hai.

Ruộng thấp đóng một gàu giai,

Ruộng cao thì phải đóng hai gàu sòng.

Chờ cho lúa có đòng đòng,

Bây giờ ta sẽ trả công cho người.

Bao giờ cho đến tháng Mười,

Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta.

Gặt hái ta đem về nhà,

Phơi khô quạt sạch ấy là xong công.

Đừng chê em xấu em đen,

Vốn em ở đất đồng quen ba mùa.

Tháng Tư cấy trộm tua rua,

Tháng Sáu cấy mùa, tháng Chạp cấy chiêm.

Một năm ba vụ cấy liền,

Còn gì má phấn, răng đen hỡi chàng!

. Sự vất vả, cơ cực quanh năm đó của nông gia đã được thể hiện rất đầy đủ trong ca dao, tục ngữ vậy.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tổng tập văn học dân gian người Việt. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội. Tập 15. Ca dao. 2002.

Tổng tập văn học dân gian người Việt. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội. Tập 1. Tục ngữ. 2002.

Đào Duy Anh. (1938). Việt Nam văn hóa sử cương. Tái bản năm 2014. Hà Nội: NXB Thế giới.

Đào Thản. (1998). Cây lúa, tiếng Việt và nét đẹp văn hoá, tâm hồn Việt Nam. (8 trang). Việt Nam học – Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất (1998). Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

Đinh Gia Khánh (Chủ biên). (2009). Văn học dân gian Việt Nam. Tái bản lần thứ 12. Hà Nội: NXB Giáo dục.

Hoàng Phê (Chủ biên). (2013). Từ điển tiếng Việt. Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng.

Hoàng Tuệ. (2014). Cuộc sống ở trong ngôn ngữ. HCM: NXB Trẻ.

Lương Đức Thiệp. (2017). Xã hội Việt Nam từ sơ sử đến cận đại. Tái bản lần thứ nhất. Hà Nội: NXB Tri Thức.

Phan Kế Bính. (1915). Việt Nam phong tục. Tái bản năm 2022. Hà Nội: NXB Hồng Đức.

Trần Ngọc Thêm. (2000). Cơ sở văn hóa Việt Nam. Tái bản lần thứ hai. Hà Nội: NXB Giáo dục.

Vũ Ngọc Phan (2017). Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam. Hà Nội: NXB Văn học.

Website https://cadao.me/.

Con Gà Trong Tục Ngữ Việt Nam

Tiếp Cận Kiến Thức Địa Lý Qua Thơ

Tìm Hiểu Du Lịch Qua Ca Dao Ở Một Số Tỉnh Miền Tây Nam Bộ Theo Hướng Du Lịch Sinh Thái Hiện Đại

Kho Tàng Ca Dao Tục Ngữ

Cà Mau Xưa Qua Các Câu Thơ & Ca Dao

Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu

Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu

Ngày Xuân, Tản Mạn Về “Con Trâu” Trong Ca Dao Tục Ngữ

Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Về Con Cò

Cái Cò Và Con Cò

Báo Cao Bằng Điện Tử

 

Tuyển chọn những lời ca dao hay về TRÂU

Thuyduongnsx tuyển chọn

1. Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

2. Chẳng tham ruộng cả ao liền

Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

3. Trên đồng cạn dưới đồng sâu

Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

4. Đường về đêm tối canh thâu

Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười

5. Thiệt tình hỏng phải ba hoa

hôm qua tui thấy con gà đá trâu…..

6. Gà đá trâu bao lâu mới thắng

Trâu đá gà que cẳng con trâu

7. Ai nói chăn trâu là khổ??

Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

8. Dù ai buôn đâu bán đâu,

Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về.

Dù ai buôn bán trăm nghề,

Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu.

9. Đêm qua kẻ trộm vào nhà,

Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.

Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,

Thức mà giữ lấy con trâu con bò.

Nằm đây nào đã ngủ cho,

Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

10. Nghé ơi ta bảo nghé này

Nghé ăn cho béo nghé cày cho sâu.

Ở đời khôn khéo chi đâu,

Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

11. Chăn trâu chả biết mặt trâu

Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

12. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu

Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

13. Tháng giêng là tháng ăn chơi,

Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

Tháng ba thì đậu đã già

Ta đi ta hái về nhà phơi khô

Tháng tư đi tậu trâu bò

Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…

14. Trâu ơi ta bảo trâu này,

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

Cấy cày giữ nghiệp nông gia.

Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!

Bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.

“Con trâu là đầu cơ nghiệp

15. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,

Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!

16. Trên trời có đám mây xanh (4)

Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng

Ước gì ta lấy được nàng

Hà Nội, Nam Ðịnh sửa đàng rước dâu

Thanh Hóa cung đốn trầu cau

Nghệ An thì phải thui trâu mổ bò

Phú Thọ quạt nước hỏa lò

Hải Dương rọc lá giã giò gói nem

Tuyên Quang nấu bạc đúc tiền

Ninh Bình dao thớt Quảng Yên đúc nồi

An Giang gánh đá nung vôi

Thừ Thiên Đà nẵng thổi xôi nấu chè

Quảng Bình Hà Tĩnh thuyề ghe

Đồng Nai Gia Dịnh chẻ tre bắc cầu

Anh mời khắp nước chư hầu

Nước Tây nước Tàu anh gởi thư sang

Nam Tào Bắc đẩu dọn đàng

Thiên Lôi La Sát hai hàng hai bên

17. Trời mưa trời gió đùng đùng

Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu

Gánh về trồng bí trồng bàu

Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

18. Nam mô Bồ Tát

Chẻ lạt đứt tay

Đi cày trâu húc

Đi súc phải cọc

Đi học thày đánh

Đi gánh đau vai

Nằm dài nhịn đói

19. Nước giữa dòng chê trong, chê đục

Vũng trâu đầm hì hục khen ngon

20. Đời vua Thái Tổ – Thái Tông

Lúa mọc đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.

21. Thất là mất

Tồn là còn

Tử là con

Tôn là cháu

Lục là sáu

Tam là ba

Gia là nhà

Quốc là nước

Tiền là trước

Hậu là sau

Ngưu là trâu

Mã là ngựa

22. Trai thì cày ruộng khiển trâu

Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

23. Trăm năm còn có gì đâu

Miếng trầu liền với con trâu một vần

24. Trâu bò được ngày phá đỗ

Con cháu được ngày giỗ ông

25. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết

26. Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta

Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

27. Trâu kia kén cỏ bờ ao

Anh kia không vợ đời nào có con

Người ta con trước, con sau

Thân anh không vợ như cau không buồng

Cau không buồng như tuồng cau đực

Trai không vợ cực lắm anh ơi

Người ta đi đón, về đôi

Thân anh đi lẻ, về loi một mình

28. Của chua ai nấy cũng thèm

Em cho chị mượn chồng em vài ngày

Chồng em đâu phải trâu cày

Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

29. Dầu bông bưởi, dầu bông lài

Xức vô tới Tết còn hoài mùi cứt trâu

30. Dù ai buôn bán nơi đâu

Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

31. Ðàn đâu mà gảy tai trâu

Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

32. Thương nhau vì nợ vì duyên

Trâu đôi chi đó, thổ điền chi đây

33. Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần

Làm thân con nhện mấy lần vương tơ

Về đâu trong đục mà chờ

Hoa thơm mất tuyết , nương nhờ vào đâu

Số em giàu, lấy khó cũng giàu

Số em nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo

Phải duyên phải kiếp thì theo

Giàu ăn khó chịu, lo gì mà lo

34. Chẳng qua số phận long đong

Cột trâu, trâu đứt, cột tròng, tròng trôi.

35. Lao xao gà gáy rạng ngày

Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

Bước chân xuống cánh đồng sâu

Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày.

Ai ơi! bưng bát cơm đầy

Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng

Câu đố:

– Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân. = con trâu

– Vừa bằng cái bát, san sát giữa đồng = vết chân Trâu

36. Ru Con

Bao giờ cho đến tháng ba,

Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.

Hùm nằm cho lợn liếm lông,

Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.

Nắm xôi nuốt trẻ lên mười;

Con gà, be rượu nuốt người lao đao.

Lươn nằm cho trúm (1) bò vào;

Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

Lúa mạ nhảy lên ăn bò;

Cỏ năn (2), cỏ lác (3) rình mò bắt trâu.

Gà con đuổi bắt diều hâu;

Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.

Chú thích:

(1) Trúm : một thứ đó để bắt lươn

(2) Cỏ năn : một loài cỏ mọc dưới nước

(3) cỏ lác : thứ cỏ xấu

37. Thứ nhất vợ dại trong nhà,

Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn.

Vợ dại thì đẻ con khôn,

Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm.

38. Trâu chậm thời anh bán đi,

Dao cùn đánh lại vợ thì làm sao.

39. Trâu anh con cưỡi con dòng,

Có con đi trước lòng thòng theo sau.

40. Trâu anh con cưỡi con dòng,

Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn.

41. Trâu buộc thì ghét trâu ăn,

Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

42.Trâu kia kén cỏ bờ ao,

Anh kia không vợ đời nào có con.

43.Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa,

Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

44. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già.

Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

Mùa đông tháng giá bò dò làm sao?

45. Em như ngọn cỏ phất phơ

Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng

46. Mình rằng mình quyết lấy ta

Ðể ta hẹn cưới hăm ba tháng này

Hăm ba nay đã đến ngày

Ta hẹn mình rày cho đến tháng giêng

Tháng giêng năm mới chưa nên

Ta hẹn mình liền cho đến tháng hai

Tháng hai có đỗ có khoai

Ta lại vật nài cho đến tháng tư

Tháng tư ngày chẳn tháng dư

Ta lại chần chừ cho đến tháng năm

Tháng năm là tháng trâu đầm

Ta hẹn mình rằng tháng sáu mình lên

Tháng sáu lo chửa kịp tiền

Bước sang tháng bảy lại liền mưa ngâu

Tháng bảy là tháng mưa ngâu

Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu

Tháng tám là tháng trăng thu

Bước sang tháng chín mù mù mưa rươi

Tháng chín là tháng mưa rươi

Bước sang tháng mười đã đãi mưa đông

Quanh đi quẩn lại em đã có chồng

Như chim trong lồng, như cá cắn câu

47. Ông Giăng mà lấy bà Sao,

Đến mai có cưới cho tao miếng giầu.

Có cưới thì cưới con trâu,

Chớ cưới con nghé nàng dâu không về.

48. Ông giẳng ông giăng,

Xuống chơi với tôi,

Có bầu có bạn,

Có ván cơm xôi,

Có nồi cơm nếp,

Có nệp bánh chưng,

Có lưng hũ rượu,

Có chiếu bám đu,

Thằng cu xí-xóa,

Bắt trai bỏ giỏ,

Cái đỏ ẵm em,

Đi xem đánh cá,

Có rá vo gạo,

Có gáo múc nước,

Có lược chải đầu,

Có trâu cày ruộng,

Có muống thả ao,

Ông sao trên trời.

(Cái này thấy gọi là Ca dao nhi đồng, hihi)

49.Bước sang tháng sáu giá chân,

Tháng một nằm trần bức đổ mồ hôi.

Con chuột kéo cầy lồi lồi,

Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong.

Vườn rộng thì thả rau rong.

Ao sâu giữa đồng, vãi cải làm dưa.

Đàn bò đi tắm đến trưa,

Một đàn con vịt đi bừa ruộng nương.

Voi kia nằm ở gặm giường,

Cóc đi đánh giặc bốn phương nhọc nhằn.

Chuồn kia thấy cám liền ăn,

Lợn kia thấy cám nhọc nhằn bay qua.

Trời mưa cho mối bắt gà,

Thòng-đong cân-cấn đuổi cò lao xao.

Lươn nằm cho trúm bò vào,

Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

Thóc giống cắn chuột trong bồ,

Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu.

Chim chích cắn cổ diều hâu,

Gà con tha quạ biết đâu mà tìm.

Bong bóng thì chìm, gỗ lim thì nổi.

Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai.

Hòn đá giẻo dai, hòn xôi rắn chắc.

Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi.

Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú.

Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu.

Hay cắn thì trâu, hay cày thì chó.

50. Nam mô bồ tát,

Chẻ lạt đứt tay,

Đi cày trâu húc,

Đi xúc phải cọc,

Đi học thầy đánh,

Đi gánh đau vai,

Nằm dài nhịn đói.

51. Con kiến mày kiện củ khoai,

Mày chê tao khó lấy ai cho giầu.

Nhà tao chín đụn mười trâu,

Lại thêm ao cá bắt cầu rửa chân.

52. Công anh chăn nghé đã lâu

Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày?

 

53. Cưới em có cánh con gà,

Có dăm sợi bún, có và hạt xôi.

Cưới em còn nữa anh ơi!

Có một đĩa đậu hai môi rau cần.

Có xa dịch lại cho gần,

Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi.

Hay là nặng lắm anh ơi!

Để em bớt lại một môi rau cần.

Cưới nàng anh toan dẫn voi,

Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

Dẫn trâu sợ họ máu hàn,

Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

Miễn là có thú bốn chân,

Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

– Chàng dẫn thế em lấy làm sang

Nỡ nào em lại phá ngang như là…

Người ta thách lợn thách gà,

Nhà em thách cưới một nhà khoai lang

Củ to thì để mời làng,

Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.

Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi!

Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà.

Bao nhiêu củ rím củ hà,

Để cho con lợn con gà nó ăn.

54. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu

ví dâu

Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

55. Anh về bán ruộng cây da

Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em

56. 17. Hò ơ.. (chớ) Bớ này anh nó ơi

Số phận em giao phó cho trời xanh

Lấy anh em không lấy,

Nhưng dạ cũng không đành làm ngơ

Vốn em cũng chẳng bơ thờ

Em đã hằng chọn trong lóng đục,

Nhưng vẫn còn chờ nợ duyên

Vốn em muốn lấy ông thầy thuốc cho giàu sang,

Nhưng lại sợ ổng hay gia hay giảm

Em muốn lấy ông thầy pháp cho đảm,

Nhưng lại sợ ổng hét la ghê gốc

Em muốn lấy chú thợ mộc,

Nhưng lại sợ chú hay đục khoét rầy rà

Em muốn lấy anh thợ cưa cho thật thà,

Nhưng lại sợ trên tàn dưới mạt

Em muốn lấy người hạ bạc,

Nhưng lại sợ mang lưới mang chài

Em muốn lấy anh cuốc đất trồng khoai,

Nhưng lại sợ ảnh hay đào hay bới

Em cũng muốn chọn anh thợ rèn kết ngỡi,

Nhưng lại sợ ảnh nói tức nói êm

Bằng lấy anh đặt rượu làm men,

Thì lại sợ ảnh hay cà riềng cà tỏi

Em muốn lấy ông nhạc công cho giỏi,

Nhưng lại sợ giọng quyển giọng kèn

Em muốn lấy thằng chăn trâu cho hèn,

Nhưng lại sợ nhiều điều thá ví

Em muốn lấy anh lái buôn thành thị,

Nhưng lại sợ ảnh kêu mắc rẻ khó lòng

Em muốn lấy anh thợ đóng thùng,

Nhưng lại sợ ảnh kêu trật niền trật ngổng

Em muốn lấy ông Hương ông Tổng,

Nhưng lại sợ việc trống việc gông

Em muốn lấy anh hàng gánh tay không,

Nhưng lại sợ đầu treo đầu quảy

Em muốn lấy chú hàng heo khi nãy,

Nhưng lại sợ chú làm lộn ruột lộn gan

Em muốn lấy anh thợ đát thợ đan,

Nhưng lại sợ ảnh hay bắt phải bắt lỗi

Em muốn lấy anh hát bè hát bội,

Nhưng lại sợ giọng rỗi giọng tuồng

Em muốn lấy anh thợ đóng xuồng,

Nhưng lại sợ ảnh hay dằn hay thúc…

Hò ơ.. (chớ) Mấy lời trong đục chẳng dám nói ra

Có thầy giáo tập dạy trong làng xa, hay dạy hay răn

So đức hạnh chẳng ai bằng, lại con nhà nho học

Sử kinh thầy thường đọc, nên biết việc thánh hiền

Gặp nhau em kết liền, không chờ chẳng đợi… (ờ)

Hò ơ.. (chớ) Không chẳng chờ chẳng đợi phỉ nguyền phụng loan

57. Hút sách là chuyện chẳng lành

Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây

 

58. Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà

Cả ba việc ấy đều là khó thay.

59. Mười năm cắp sách theo thày

Năm thứ mười một vác cày theo trâu.

60. Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân.

61.Ai cũng gặt lúa đỏ đuôi

Chàng về mà đập, mà phơi kịp ngày

Ai mà giã gạo ba chày

Giã sao cho trắng, gửi ngay cho chàng

Sẵn tiền mua bạc mua vàng

Sẵn tiền sắm áo cho chàng trẩy kinh

Sáng trời chàng mới tập binh

Em ngồi vò võ, một mình em lo

Ruộng nương không ai cày cho

Trâu bò, gà, lợn em lo dường nào!

Ruộng người cày cấy xôn xao

Ruộng nhà cỏ mọc lên cao lồng ngồng

Người ta có vợ có chồng

Cỏ cao, mạ úa nhưng lòng vẫn vui

Nhà ta chỉ có em thôi

Ruộng cạn mạ úa em ngồi em lo

62.Ai ơi uống rượu thì say

Bỏ ruộng trâu cày bỏ giống ai gieo.

63.Anh đánh thì tôi chịu đòn

Tánh tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa

Anh đánh thì tôi xin thưa

Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu

Ăn quen chừa được chẳng lâu

Lệ làng làng bắt mất trâu mặc làng

64.Ba vợ bảy tám nàng hầu

Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi.

65.Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

66.Anh em bất nghĩa chi khèo

Anh dữ như mèo tôi lại như trâu

67.Bé ăn trộm gà

Già ăn trộm trâu

Lâu nữa làm giặc

68.Cầm trâu cầm áo cầm khăn

Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

69.Cái bống mặc xống ngang chân

Lấy chồng Kẻ Chợ cho gần, xem voi

Trèo lên trái núi mà coi

Thấy ông quản tượng cõi voi đánh cồng

Túi vóc mà thêu chỉ hồng

Têm trầu cánh phượng cho chồng đi thi

Một mai chồng đỗ, vinh quy

Võng anh đi trước, em thì võng sau

Tàn quạt, hương án theo hầu

Vinh quy bái tổ, giết trâu ăn mừng!

70.Cái kiến mà kiện củ khoai

Mày chê tao khó, lấy ai cho giầu

Nhà tao chín đụn mười trâu

Lại thêm ao cá, bắc cầu rửa chân

Cầu nầy là cầu ái ân

Một trăm con gái rửa chân cầu nầy

Có rửa thì rửa chân tay

Chớ rửa lông mày chết cá ao anh

Nhà anh có một cây chanh

Nó chửa ra nhành nó đã ra hoa

Nhà anh có một mụ già

Thổi cơm không chín, quét nhà chẳng nên

Ăn cỗ khì đòi ngồi trên

Mâm son bát sứ đem lên hầu bà.

71.Bong bóng thì chìm gỗ lim thì nổi

Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai

Hòn đá dẻo dai, hòn xôi rắn chắc

Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi

Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú

Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu

Hay sủa thì trâu, hay cày thì chó…

(hình như vẫn còn tiếp thì phải)

72.Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

Chẳng tham ruộng cả ao liền

Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

Chẳng tham nhà ngói ba tòa

Tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành.

73.Chồng dữ thì em mới rầu

Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng

74.Chùn đùi, thắt quản, ngắn đuôi

Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

75.Cao đầu thấp hậu thì tậu liền tay

76.Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

77.Chết lỗ chân trâu

78.Có ăn có chọi mới gọi là trâu

79.Có xa dịch lại cho gần

Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi

Hay là nặng lắm anh ơi!

Để em bớt lại một môi rau cần.

Cưới nàng anh toan dẫn voi

Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

Dẫn trâu sợ họ máu hàn

Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

Miễn là có thú bốn chân

Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

80.Con cá rô thia ẩn bóng chân trâu

Một trăm quân tử tới câu cũng chẳng màng.

81.Con gái mười bảy bẻ gãy sừng

trâu

82.Con tằm nó ăn lá dâu

Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò

83.Con vợ khôn lấy thằng chồng dại

Như bông hoa lài cặm bãi cứt trâu

84.Công anh chăn nghé đã lâu

Bây giờ nghé lớn thành trâu ai cày

85.Đàn đâu mà gảy tai trâu

Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

86.Em thì canh cửi việc nhà

Nuôi anh ăn học đăng khoa bảng vàng

Trước là vinh hiển tổ đường

Bõ công đèn sách lưu hương con nhà

Rước vinh quy về nhà bái tổ

Ngả trâu bò làm lễ tế vua

Họ hàng ăn uống say sưa

Hàng Tổng hàng Huyện mừng cho ông Nghè

87.Dưa gang một chạp thì trồng

Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo

Tháng hai đi tậu trâu bò

cày đất cho ải mạ mùa ta gieo

88.Được voi to trâu bò chẳng kể

Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

Một lời đã trót nói ra

Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo

89.Em là con gái nhà giàu

Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao

Cưới em trăm tấm gấm đào

Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời

Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi

Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng

Sắm xe tứ mã đem sang

Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu

Ba trăm nón Nghệ đội đầu

Một người một cái quạt Tàu thật xinh

Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình

May chăn cho rộng ta mình đắp chung

Cưới em chín chĩnh mật ong

Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò

Cưới em tám vạn trâu bò

Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm

Lá đa mặt nguyệt hôm rằm

Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi

Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi

Xin chàng chín chục con dơi góa chồng

Thách thế mới thỏa trong lòng

Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân

90.Gió nam ào ạt gốc cây nằm mát

Chẻ lạt đứt tay, đi cày trâu húc

Đi xúc phải cọc, đi học thầy đánh

Đi gánh đau vai, nằm dài nhịn đói

91. Vợ bé nghé con

Sẩy đàn tan nghé

Hòn đá cheo leo,

Con trâu trèo, con trâu trợn

Con ngựa trèo, con ngựa đổ.

Anh thương em lao khổ

Tận cổ chí kim,

Anh thương em khó kiếm khôn tìm.

Cây kim luồn qua sợi chỉ,

Sự bất đắc dĩ phu mới lìa thê,

Nên hay không nên, anh ở em về,

Đừng giao, đừng kết, đừng thề mà vương.

92.Lạc đường nắm đuôi chó

Lạc ngõ nắm đuôi trâu

93.Lao xao gà gáy rạng ngày

Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

Bước chân xuống cánh đồng sâu

Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày

Ai ơi! bưng bát cơm đầy

Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?

94.Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

Một huyền hai lái chẳng xong

Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

95.Lộn con toán bán con trâu

96.Mật ngọt rớt xuống thau đồng

Những lời anh nói cho lòng em say

Một trâu anh sắm đôi cày

Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia!

Chàng ơi! chàng cho em ra

Nhẽ đâu một ổ đôi gà ấp chung.

97.Một rằng mình quyết lấy ta

Ta về bán cửa bán nhà mà đi

Ta về bán núi Ba Vì

Bán chùa Hương Tích, Phật đi làu làu

Ta về bán hết ngựa trâu

Bán hột thầu dầu, bán trứng gà ung

Bán ba mươi sáu Thổ công

Bán ông Hành Khiển, vợ chồng Táo Quân

Bán từ giờ Ngọ giờ Dần

Giờ Tí giờ Sửu giờ Thân giờ Mùi

Ta về bán cả que cời

Bán tro đun bếp bán trăm khêu đèn

Ta về bán trống bán kèn

Có gì bán hết, lấy tiền cưới em

98.Nghé hành nghé hẹ

Có khôn theo mẹ

Có khéo theo đàn

Chớ có chạy quàng

Có ngày lạc mẹ

Việc nhẹ phần con

Kéo nỉ kéo non

Kéo đến quanh tròn

Mẹ con ta nghỉ

99.Trăm năm cơ hội tình cờ,

Đàn cầm anh gãy, câu thơ anh đề.

Muốn cho thuận nẻo đi về,

Anh sang làm rể, em về làm dâu.

Số giàu lấy khổ cũng giàu,

Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.

Phải duyên phải kiếp thì theo,

Khuyên em chớ nghĩ giàu nghèo làm chi.

Em ơi! chữ vị là vì,

Chữ dục là muốn, chữ tùy là theo,

Ta đã yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,

Thất bát giang cũng lội, tam thập đèo cũng qua.

100.Trời mưa lâm râm

Cây trâm có trái

Con gái có duyên

Đồng tiền có lỗ

Bánh tổ thì ngon

Bánh dòn thì béo

Cái kéo thợ may

Cái cày làm ruộng

Cái xuổng đắp bờ

Cái lờ đơm cá

Cái ná bắn chim

Cái kim may áo

Cái giáo đi săn

Cái khăn bịt đầu

Cái cầu đi chợ

Có vợ đàn ông

Có chồng con gái

Cái trái mù u

Ông cu đi câu

Để trâu ăn lúa

Bắt được chặt đầu, chặt đầu đuôi

Còn hai con mắt đem nuôi mẹ già

Tướng Trâu

Cầm trâu cầm áo cầm khăn

Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

Đàn đâu mà gảy tai trâu

Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

Chồng em đâu phải trâu cày

Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

Trâu gầy cũng tầy bò giống

Ghi Chú: * Trâu gầy vẫn mạnh hơn bò

Mắt bánh rán,

Trán bánh chưng

Lưng tôm càng

Ghi Chú: * Trâu có mắt lớn, cái trán vuông vức như cái bánh chưng và

lưng không oằn là trâu khỏe mạnh

Đã có sừng thì đừng hàm trên

Ghi Chú: * Trâu không có răng hàm trên

Tai lá mít đít lồng bàn

Ghi Chú: * Trâu có tai lớn và mông bự là trâu tốt

Vành mồm trắng, mắt tai to

Hễ thưa lông bụng, móng hài cũng mua

Ghi Chú: * Trâu thưa lông bụng và vành mồm trắng mới là trâu có tướng

tốt

Sà sừng mắt lại nhỏ con

Vụng giàn chậm chạp ai còn nuôi chi

Ghi Chú: * Trâu có cặp sừng sệ xuống và mắt nhỏ thì chậm chạp

Vai nồi đồng, mông cối lỗ

Ghi Chú: * Vai to tròn, mông lớn là trâu tốt

Sừng to móng hến thì nuôi phải rồi

Ghi Chú: * Trâu có sừng to, mở Rộng là trâu đắc dụng

Tam tinh khoáy sọ thì chừa

Đốm đuôi nát chủ thì đưa vào nồi

Ghi Chú: * Trâu có khoáy sọ và đuôi có đốm là trâu độc dễ gây tai họa

nên giết thịt

Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

Một huyền hai lái chẳng xong

Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

Lúa Đồng Ngâu, trâu Yên Mỹ

Mất trâu mất ruộng không màng

Mất cây cuốc mục ra làng kiện thưa

Mất trâu thì lại tậu trâu

Những quân cướp nợ có (chẳng) giầu hơn ai ?

Một trâu anh sắm đôi cày

Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia

Chàng ôi! chàng cho em ra

Nhẽ đâu một ổ hai gà ấp chung ?

Một trâu anh sắm hai cày

Một chàng hai thiếp có ngày oan giạ

Chả yêu thì bỏ nhau ra

Làm chi một ổ hai gà ấp chung.

Yếu trâu cũng bằng bò khỏe

Con trâu ăn cỏ đất bằng

Uống nước bờ ao

Hồi nào mầy ở với tao

Đến khi mầy chết

Tao cầm dao xẻo thịt mầy

Thịt mầy nấu cháo linh binh

Da mầy bịt trống tụng kinh trong chùa

Sừng mầy tao tiện con cờ

Cán dao, cán mác, lược dầy lược thưa

Mua trâu cưới vợ làm nhà

Cả ba việc ấy đều là khó thay

Muốn giầu nuôi trâu nái

Muốn lụi bại nuôi chim bồ câu.

Ngày xưa Ninh Thích chăn trâu

Mà rồi công ấn công hầu trâu ơi !

Ngày nay mình nghé ta ngồi

Mai sau ta có một thời hiển vinh ?

Trâu he cũng bằng bò khỏe

Ghi Chú: * Trâu he là trâu nghé hay trâu còn non

Lang đuôi thì bán, lang trán thì cày

Ghi Chú: * Trâu có hoa trên trán thì giữ để cày ngược lại đuôi có hoa

thì đem bán

Phù thủy, thầy bói, lái trâu

Nghe ba anh ấy đầu lâu không còn

Trâu ác vạc sừng

Ghi Chú: * Trâu ác hay mài sừng để chiến đấu

Tậu trâu lấy vợ làm nhà

Trong ba việc ấy lọ là khó thay

Ruồi lằn chọi với bò trâu

Đàn gà quật với diều hâu mấy lần

Thật thà cũng thể lái trâu

Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng

Trâu tóc chóp, bò mũ mấn

Ghi Chú: * Trâu có tóc chóp thì tốt, ngược lại bò có tóc chóp thì xui

xẻo

Trâu ra, mạ vào

Ghi Chú: * Cần cấy ngay sau khi cày ruộng xong

Trâu kia (già) kén (cắn) (ăn) cỏ bờ ao

Anh kia không vợ đời nào có con

Người ta con trước, con sau

Thân anh không vợ như cau không buồng

Cau không buồng như tuồng cau đực

Trai (Anh) không vợ cực lắm anh ơi

Người ta đi đón, về đôi

Thân anh đi lẻ, về loi một mình

Trâu năm sáu tuổi còn nhanh

Bò năm sáu tuổi đã tranh về già

Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

Cấy cày vốn nghiệp nông gia

Hai sương một nang)Tắ đây trâu đấy ai mà quản công

Bao giờ cây lúa còn bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

Trâu ai buộc ngõ ông Cai

Hoãn ai mà lại đeo tai bà Nghè

Ngựa ai buộc ngõ ông Nghè

Gà ai gáy ở đầu hè ông Cai

Ghi Chú: * Nghè là người đỗ tiến sĩ thời xưa; Hoãn là đôi bông tai

Trâu bò ở với nhau lâu quen chuồng quen chỏi

Người ở với nhau lâu, inh ỏi đủ điều

Trâu buộc thì ghét trâu ăn

Quan võ thì ghét quan văn dài quần

Trai thì cày ruộng khiển trâu

Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

Ghi Chú: * Tục ăn trầu có ở hầu hết các nước Đông Nam Á; Xem: Trầu Cau

Trong Ca Dao

Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta (*)

Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

Ghi Chú: * Hoặc: Trâu ta ăn cỏ đồng ta

Trâu khoẻ chẳng lo cày trưa

Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

Trâu kia chết để bộ da

Người chết để tiếng xấu xa muôn đời

Cao vây, dậy tiền, sâu vai, khai hậu

Ghi Chú: * Hai chân sau mở rộng gọi là khai hậu

Sừng cánh cắt, mắt ông voi

Ghi Chú: * Cặp sừng to lớn như cánh chim cắt là trâu tốt

Ăn thịt trâu không tỏi

Như ăn gỏi không rau mơ

Trâu quá sá, mạ quá thì

Ghi Chú: * Quá sá là quá già, không còn khả năng để cày cấy

Trâu dê chết để tế ruồi

Sao bằng khi sống cơi suồi kính dâng

Lại thêm tiền thấp hậu cao

Ghi Chú: * Hai vai trước thấp mà mông cao, con trâu đi chúi là khôphải

trâu tốt

Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

Ghi Chú: * Sống lưng phải vừa phải nhưng nổi cao thì trâu cày khỏe

Đầu thanh cao, rào thấp hậu

Chẳng tậu thì sao

Được voi to trâu bò chẳng kể

Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

Một lời đã trót nói ra

Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo (*)

Ghi Chú: * Nguyên thủy: Nhất ký ngôn xuất tứ mãi nan truy

Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

Trăm trâu trăm bó cỏ

Trâu đứng ăn năm

Trâu nằm ăn ba

Nghé hoa ba con ăn một (*)

Ghi Chú: * Câu đố toán học – Có bản khác: Con ở đàng xa một bó ba con

Chưa được thì khấn một trâu

Được rồi thì có trâu đâu cho bà

Anh có sừng trâu bạc

Tôi có gạc (có giác) trâu đen

Bụng trâu làm sao bụng bò làm vậy

Buộc trâu trưa nát chuồng

Ăn thịt trâu không có tỏi

Như ăn gỏi không có lá mơ

Béo như trâu chương

Đầu trâu mặt ngựa

Chăn trâu chả biết mặt trâu

Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

Chị bị cứt trâu

Chị em dâu nấu đầu trâu thủng nồi

Chết đuối vũng trâu đằm

Anh Ngữ Tương đương: * To cut one’s throat with feather OR An

unfortunate man would be drowned in a tea cup)

Chết lỗ chân trâu

Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

unfortunate man would be drowned in a tea cup

Đàn gảy tai trâu (Đàn khảy tai trâu)

Đầu nheo còn hơn phèo trâu

Đến đâu chết trâu đến đấy

Đi sông đi biển không chết chết ở lỗ chân trâu

Làm cực như trâu

Tương Đương với Anh Ngữ : To work as hard as a horse

Chín đụn mười trâu chết cũng hai tay buông xuôi (cắp đít)

Tương Đương với Anh Ngữ : A handfull of ashes is all than remains of the

greatest. OR: It will all be the same a hundred years hence

Có ăn có chọi mới gọi là trâu

Gái mười bảy bẻ găy sừng trâu

Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu

Con trâu là đầu cơ nghiệp

Cống làng Tô trâu bò làng Hệ

Dắt trâu chui qua ống

Đi cày trâu hút đi xúc phải cọc

Trâu thì kho bò thì tái

Muống thì vừa cải thì nhừ

Đuôi chùng quá gối thì nào được đâu!

Ghi Chú: * Trâu có đuôi dài quá cũng không đắc dụng

Thứ nhất bó rễ, thứ nhì trễ cành

Trâu cổ cò, bò cổ vại

Ghi Chú: * Trâu phải có cổ dài, cổ bò lớn và ngắn thì tốt

Giờ trâu về chuồng

Hùng hục như trâu hút mả

Hùng hục như trâu lăn

Kẻ trâu trắng người trâu đen

Khấn trâu trả lễ bò

Khỏe như trâu

Không có trâu bắt bò đi đẩm

Làm kiếp trâu ăn cỏ làm kiếp chó ăn dơ

Làm kiếp trâu kéo cày trả nợ

Lấm như trâu đầm

Lắm rận thì giàu lắm trâu thì nghèo

Làm rể chớ xào thịt trâu làm dâu chớ đồ xôi lại

Làm ruộng không trâu làm giàu không thóc

Lắm ruộng thì thâu lắm trâu thì bán

Làm thân trâu kéo cày trả nợ

Làm thân trâu ngựa

Lâu ngày cứt trâu hóa bùn

Lộn con toán bán con trâu (cả nhà)

Lộn thừng lộn chão quá hơn lộn trâu cày

Lòng trâu dạ chó

Máu đâu trâu đó

Máu trâu cũng như máu bò

Nằm trâu thổi sáo

Một con tằm cũng phải hái dâu một con trâu cũng phải đi chăn

Mua trâu bán chả

Mua trâu lựa nái cưới gái lựa dòng

Mua trâu vẽ bóng

Muốn giàu nuôi trâu cái

Nai lưng trâu

Nhịn thuốc mua trâu nhịn trầu mua ruộng

Tương Đương với Anh Ngữ : Take care of the pence and the pounces will

take care of themselves

Phản chủ đầu trâu

Ăn cơm nhà Phật, Ðốt trâu nhà chùa

Phản chủ đầu trâu Ăn cơm nhà Phật

Đốt trâu nhà chùa

Ruộng sâu trâu nái

Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng

Thui trâu nửa mùa hết rơm

Tham bong bóng bỏ bọng trâu

Thật thà lái buôn (trâu)

Vễnh sừng, tóc chớp cả nhà mang tai

Ghi Chú: * Trâu loại nầy dữ, hay nổi khùng như trâu điên dễ gây tai vạ

Sông Sâu (hoắm) không chết, chết vũng trâu đầm

Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

unfortunate man would be drowned in a tea cup

Thà chết vũng trâu hơn chết khu đĩa đèn

Trật con toán bán cái nhà (con trâu)

Trâu béo kéo trâu gầy

Trâu bò được ngày phá đỗ

Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết

Trâu buộc ghét trâu ăn

Trâu cày ngựa cỡi (ngựa cưỡi)

Trâu chậm uống nước đục (nước dơ)

Trâu ngơ ăn cỏ héo

Tương Đương với Anh Ngữ: He that comes first to the hill may sit where

he will. OR: Delays are dangerous

Trâu chết bò cũng lột da

Trâu chết chẳng khỏi rơm

Trâu chết để da người ta chết để tiếng

Trâu chết mặc trâu bò chết mặc bò

Củ tỏi giắt lưng

Trâu cho ra trâu cho

Bò bán ra bò bán

Trâu cột ghét trâu ăn

Trâu đạp cũng chết voi đạp cũng chết

Trâu dong bò dắt

Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy

Trâu già đâu (không) nệ dao phay

Trâu hay ác thì trâu vạt sừng

Trâu ho cũng bằng bò khỏe

Trâu lấm vẫy quàng

Trâu lành (Trâu sống) không ai mà cả

Trâu ngã nhiều gã cầm dao

Trâu leo cày muỗm

Trâu ngã lắm kẻ cầm dao

Trâu nghiến hàm bò bạch thiệt

Trâu ta ăn cỏ đồng ta

Trâu teo heo nở

Trâu thịt thì gầy trâu cày thì béo

Trâu tìm cọc cọc chẳng tìm trâu

Trâu tìm cột cột không tìm trâu

Trâu toi thì bò ngã

Trâu trắng đi đâu mất mùa tới đấy

Trâu trắng trâu đen

Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt

Thân trâu trâu lo thân bò bò liệu

Tiếc thịt trâu toi

Trai mười bảy bẻ gãy sừng trâu

Trăm trâu cũng một công chăm

Vác bổi thui trâu

Ghi Chú: Ý nói không liệu sức mình; Tương đương với câu: Liệu cơm gắp

mắm

Vô một gà ra phải ba trâu

Voi địt hơn trâu rống

Khoáy sừng, khoáy sọ, khoáy tai

Tam tinh, chằng ách làm tai chúa nhà

Đầu gà còn hơn đuôi phượng (đuôi trâu)

Tương Đương với Anh Ngữ : Better be the head of a dog than a tail of a

lion Làm chủ một nơi còn hơn làm tôi tớ kẻ khác.

Dùng dao mổ trâu (mổ bò) cắt tiết gà

Tương Đương với Anh Ngữ : To use a steam hammer to crack nuts Xử dụng

không đúng chỗ

Chung nốt làm cầu, chung trâu làm trống

Chỉ đường cho Mọi trộm trâu

Trâu hoa tai, bò gai sừng

Ghi Chú: Trâu có hoa tai cũng như bò có gai sừng là hai con vật không

nên nuôi

Thưa lông, mọng da, mõm giỏ

Ghi Chú: * Trâu lông thưa, miệng rộng mõm dài, miệng như cái giỏ mới tốt

Trâu nghiến hàm, bò bạch thiệt

Ghi Chú: * Trâu nghiến hàm chặt lại là trâu xấu

Hàm nghiến, lưỡi đốm hoa cà

Vểnh sừng tóc chóp, cửa nhà mang tai

Ghi Chú: * Lưỡi trâu có đốm hoa cà là trâu tốt

Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi

Mua trâu xem vó, mua chó xem chân

Chùng đùi, thắt quản, ngắn đuôi

Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà

Ghi Chú: * Châm biếm người lái máy cày phải được ăn sang, nông dân phải

chịu tốn kém

Trâu ác là trâu vạc sừng

Bò ác là bò còng lưng méo sườn

Lọ đầu thì bán

Lọ trán thì nuôi

Lọ đuôi thì thịt

 

Post ngày:

10/05/17  

Con Trâu Trong Văn Học Dân Gian

Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của

Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá

Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”

36 Cụm Thành Ngữ Tiếng Hàn Dễ Thuộc Nhất

🌟 Home
🌟 Top