Ca Dao Tục Ngữ Về Danh Nhân, Anh Hùng Dân Tộc

--- Bài mới hơn ---

  • Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội
  • Người Việt Nam Thương Mẹ, Kính Cha Qua Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Biển, Biển Đảo, Biển Vũng Tàu Nha Trang Hay Nhất
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Câu Hỏi Của Nguyễn Thị Thu Nga
  • Trong quá trình xây dựng đất nước nước ta đã trải qua rất nhiều thời kỳ khác nhau trong mỗi thời kỳ đều có những người tài và cống hiến đóng góp nhiều cho đất nước và sự phát triển chung của xã hội. Có rất nhiều danh nhân, anh hùng dân tộc được vinh danh và ghi nhận. Công trạng của họ còn được truyền miệng qua rất nhiều các câu ca dao tục ngữ để kể lại cho người đời sau. Ca dao tục ngữ về danh nhân hay và ý nghĩa nhất

    Việt Nam là một đất nước có những con người kiên trung, có tinh thần yêu nước sâu sắc và vô cùng đáng quý. Những anh hùng hi sinh trong các cuộc chiến tranh, những người anh hùng đã hi sinh cả tuổi xuân, cả cuộc đời mình vì sự nghiệp độc lập dân tộc. bên cạnh những vị anh hùng ấy còn có những hậu phương vững chắc để họ quyết tâm tham gia chống giặc cứu nước là những người mẹ, người vợ vô cùng kiên trung.

    Bà Trưng, Bà Triệu là 1 trong những danh nhân nổi tiếng và được nhiều người biết tới với công trạng chống lại giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước

    Những vẻ đẹp của những người anh hùng ta không thể hiểu và thấu hết qua một vài câu chuyện, qua một vài lời giới thiệu. để nói lên vẻ đẹp đó thì các nhà văn nhà thơ đã nói lên những tình cảm của mình dành cho các vị anh hùng ấy qua các tác phẩm văn học, thơ,… bên cạnh đó còn có một thể loại thể hiện vẻ đẹo của các danh nhân, chúng ta cùng đi tìm hiểu về những câu ca dao tục ngữ nói về danh nhân.

    Câu 1:

    • Ai về Hậu Lộc Phú Điền
    • Nhớ đây Bà Triệu trận điền xung phong.

    Câu ca dao trên nói về một vị nữ tướng là Bà Triệu, bà là một trong những nữ tướng nổi tiếng của Việt Nam ta xưa. Bà Triệu là một nhân vật có tính cách mạnh mẽ, quyết tâm và có tinh thần yêu nước sâu sắc. Bởi thấy những khổ cực mà nhân dân ta chịu bà đã đứng lên để dành lấy độc lập của dân tộc, cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân.

    Câu 2:

    • Ai lên Biện Thượng, Lam Sơn
    • Nhớ Lê Thái Tổ chặn đường quân Minh.

    Câu ca dao trên nói về một vị vua rất nổi tiếng, người có tấm lòng nhân đạo và yêu thương nhân dân sâu sắc đó là vua Lê Thái Tông. Để nói đến công lao của vua Lê Thái Tông thi câu ca dao nhắc đến hai địa danh mà làm nên tên tuổi của vua Lê Thái Tông đó là Biên Thương và Lam Sơn. Hình ảnh oai hùng và kiên cường của vua Lê Thái Tông khi chống giặc ngoại xâm và trị vì đất nước vô cùng được nể phục.

    Câu 3:

    • Có chàng Công Tráng họ Đinh
    • Dựng luỹ Ba Đình chống đánh giặc Tây

    Đinh Công Tráng là một người được biết đến với tính cách trung trực, trật tự, kỉ luật và nghiêm nghị. Ông tham gia rất nhiều cuộc kháng chiến chống Pháp và giành được nhiều thắng lợi và đặc biệt là thắng lợi của khởi nghĩa Ba Đình chống giặc Pháp.

    Câu 4:

    • Vĩnh Long có cặp rồng vàng
    • Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Tuấn Thần.

    Câu ca dao nói đến mảnh đất Vĩnh Long, một mảnh đất sinh ra anh hùng và nuôi dưỡng anh hùng. Một trong hai vị anh hùng nôi tiếng của vùng đất này đó là Bùi Hữu Nghĩa và Phan Tuấn Thuần. ngày nay người dân Vĩnh Long đã lập đền thờ để tưởng niệm hai vị anh hùng này.

    Câu 5:

    • Gò Công anh dũng tuyệt vời
    • Ông Trương “đám lá tối trời” đánh Tây.

    Câu ca nói đến mảnh đất Gò Công, Tiền Giang nói về một vị anh hùng mang tên Trương Quyền. ông đã tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp bởi những hình ảnh anh hùng và kiên cường ông đã ghi tên mình trong lòng bao người dân yêu nước.

    Câu 6:

    • Phất cờ chống nạn xâm lăng
    • Trương Công nghĩa khí lẫy lừng trời nam.

    Câu ca dao trên cũng nói về một người con của tỉnh Tiền Giang mang tên Trương Công Định. Trương Công Định đã cùng 25 nghĩa quân hy sinh tại mặt trận Kiểng Phước. Sự hi sinh ấy đã để lại bao nhiêu nể phục danh cho những người dân Việt Nam.

    Tổng hợp những câu ca dao tục ngữ về danh nhân:

    Cho mẹ gánh nước rửa bành cho voi

    Muốn coi lên núi mà coi

    Coi bà Triệu tướng cởi voi đánh cồng.

    Cơm chẳng đầy nồi, trẻ khóc như ri.

    Bao giờ Tự Đức chết đi,

    Vỡ đường Thiệu Trị vỡ đôi năm liền

    Mong cho thiên hạ lòng thuyền

    Trong làng lại có chiếc thuyền đi qua.

      Trách lòng Biện Nhạc chẳng minh

    Làm cho con gái thất kinh thất hồn

    Trách lòng biện Nhạc làm kiêu

    Làm cho con gái nhiều điều phiền lo.

      Trăng rằm mây phủ còn lu,

    Tấm gương chị Lý nghìn thu sáng ngời.

      Bô Bô nói với Phường Chào

    Xem tôi với chị bên nào hiền hơn.

    Hỏi thăm ông Hường Hiệu có còn hay không?

    Thăng Long tấp nập trăm miền khơi thông

    Vua Lý đã chọn đất rồng

    Ngàn năm bền vững Thăng Long kinh kỳ

      Tháp Mười đẹp nhất bông sen

    Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Atgt, Ca Dao Tục Ngữ Câu Nói Về An Toàn Giao Thông Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Giao Thông, An Toàn Giao Thông
  • Thành Ngữ Tiếng Trung Hay Và Thâm Thuý ( P 1 )
  • Thành Ngữ, Quán Ngữ Trong Hoạt Động Giao Tiếp Của Giới Trẻ Hiện Nay
  • Giao Tiếp Thành Thần Nhờ 26 Câu Thành Ngữ Tiếng Anh Thông Dụng
  • Những Câu Thơ Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Hùng Dân Tộc, Anh Bộ Đội

    --- Bài mới hơn ---

  • 100+ Danh Ngôn Cuộc Sống Cực Ý Nghĩa Mà Bạn Nên Đọc
  • Tìm Hiểu Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
  • 12 Lời Chúc Giáng Sinh Cho Khách Hàng Bằng Tiếng Anh
  • Tuyển Tập Stt Hay Xứng Đáng Trở Thành Châm Ngôn Sống Của Phụ Nữ
  • 18 Bài Thơ Thay Lời Chúc Giáng Sinh Noel Hay, Ý Nghĩa Và Hài Hước Nhất
  • Tuyển tập những câu ca dao tục ngữ hay ca ngợi anh hùng dân tộc, anh bộ đội

    Đất nước Việt Nam ta đã trải qua muôn vàng những khó khăn và thử thách, tải qua hàng ngàn năm đô hộ. cuộc sống khó khăn là thế, cuộc kháng chiến khốc liệt là thế mà nhân dân Việt Nam ta vẫn không khuất phục, không từ bỏ mà họ đã đứng lên, kiên cường chống giặc ngoại xâm. Những hình ảnh ấy chúng ta không thể không nhắc đến hình ảnh các vị anh hùng dân tộc, các chú bộ đội đã hi sinh bản thân để mang lại độc lập dân tộc.

    Để nói lên những khó khăn gian khổ, những khổ cực mà các anh hùng, các anh bộ đội đã chịu đựng thì những nhà văn, nhà thơ,… đã có những tác phẩm nổi tiếng để nói lên các hình ảnh ấy. bên cạnh thơ và văn thì trong nhân dân ta đã lưu truyền các câu ca dao tục ngữ về các vị anh hùng, các anh bộ đội để thể hiện tình cảm của mình với những nhân vật ấy. chúng ta cùng đi tìm hiểu những câu ca dao tục ngữ về anh hùng dân tộc, anh bộ đội.

    Những câu thơ văn, ca dao tục ngữ về anh dùng dân tộc, anh bộ đội

    Câu 1:

    Đây là hình ảnh về những lần hành quân của các anh bộ đội ngoài chiến trường, công việc của các anh là lái xe. Dù công việc có hiểm nguy, khó khăn đến thế nhưng các anh vẫn luôn luôn vui tươi, vui vẻ hoàn thành nhiệm vụ của mình.

    Câu 2:

    Những hình ảnh anh hùng, anh bộ đội là những hình ảnh rất đỗi quen thuộc ở chiến trường, nhưng hình ảnh những cô gái, nữ chiến sĩ mới trở nên nổi bật. những câu ca dao trên nói về hình ảnh những cô gái Paco, dù chiến trường khó khăn, nguy hiểm nhưng các cô vẫn không ngần ngại hi sinh bản thân để bảo vệ dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước.

    Câu 3:

    • Ai về Biện Thượng, Lam Sơn
    • Nhớ về Lê Thái tổ chặn đường quân Minh

    Câu thơ trên nói về hình ảnh oai hùng và lẫy lững của vua Lê Thái Tổ, ông đã chặn đường quân Minh sang xâm lược nước ta, có những thắng lợi vẻ vang, những kì tích đáng có trong lịch sử nước ta.

    Câu 4:

    • Anh đi theo chúa Tây Sơn
    • Em về cày cấy mà thương mẹ già

    Câu thơ trên nói về hình ảnh vua Quang Trung, hình ảnh oai hùng và lẫm liệt chiến thắng giặc ngoại xâm. Câu thơ không chỉ nói về hình ảnh oai hùng mà còn nói về hình ảnh vợ con và mẹ gia chờ đợi khi những người lính lên đường kháng chiến chống giặc ngoại xâm, những hình ảnh hết sức thân thương.

    Câu 5: Câu 6:

    • Bần Gie đốm đậu sáng ngời
    • Rạch Gầm soi dấu muôn đời oai linh

    Câu 7: Câu 8:

      Đua nhau xới, tranh nhau đơm

    Cà chua nấu muối cũng thơm, cũng lành

    Câu 9:

    • Ăn thật chóng, và thật nhanh
    • Chỉ loáng một cái sạch sành sanh cả nồi!

    Câu 10:

    • Tháng Năm ngày Tết Đoan Dương,
    • Là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang.

    Câu 11:

    • Trứng rồng lại nở ra rồng,
    • Liu điu lại nở ra dòng liu điu

    Câu 12:

    • Ai về Phú Thọ cùng ta
    • Vui ngày giỗ tổ tháng ba mồng mười.

    Câu 13: Câu 14:

    • Cổ Loa là đất đế kinh
    • Trông ra lại thấy tòa thành tiên xây.

    Câu 15: Câu 16:

    • Có chồng phải khổ vì con
    • Lấy chồng phải gánh giang san nhà chồng.

    Câu 17: Câu 18:

    • Ai qua Nông Cống tỉnh Thanh
    • Dừng chân nhớ Triệu Thị Trinh anh hùng.

    Câu 19:

    • Ai về Hậu Lộc, Phú Điền,
    • Nơi đây Bà Triệu trận tiền xung phong.

    Câu 20: Câu 21:

    • Đường đi cống vải từ đây dứt
    • Dân nước đời đời hưởng lộc chung.

    Câu 22:

    • Sa nam trên chợ dưới đò
    • Nơi đây Hắc Đế kéo cờ dựng binh.

    Câu 23: Câu 24:

    • Ở đời muôn sự của chung
    • Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi

    Câu 25:

    • Trống chùa ai đánh thì thùng
    • Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng

    Câu 26: Câu 27: Câu 28: Câu 29: Câu 30: Câu 31: Câu 32: Câu 33: Câu 34: Câu 35: Câu 36: Câu 37:

    • Ban ngày khoác lá ngụy trang
    • Từng đàn bướm trắng, bướm vàng bay theo
    • Ban đêm gùi đạn vượt đèo
    • Trăng vàng sà xuống đập đèo trên lưng
    • Dừng chân mắc võng giữa rừng
    • Suối reo, chim hót chúc mừng ngủ ngon
    • Ơi người trẩy hội nước non
    • Trường Sơn là bạn sắt son đồng hành.

    Câu 38: Câu 39:

    • Binh trạm đóng giữa rừng sâu
    • Quanh năm chẳng thấy trăng sao mây trời
    • Ngày đêm con suối đưa lời
    • Con chim đưa tiếng, mua rơi đều đều
    • Quê hương gợi nhớ bao điều
    • Cây đa giếng nước nắng chiều mênh mang
    • Bóng tre mát rượi quanh làng
    • Câu hò giã gạo rộn ràng đêm trăng
    • Bao giờ quét sạch xâm lăng
    • Quê hương chín nhớ mười thương lại về

    Câu 40:

    • Mưu mô thằng Mỹ cuồng điên
    • Bắn ngày rồi lại bắn đêm giở trò
    • Bắn ngày, mày vụn ra tro
    • Bắn đêm, mày cũng gãy giò nát xương
    • Lòng ta đã cháy căm hờn
    • Lưới ta đã khép mày chuồn đi đâu
    • Mưu sâu thì họa càng sâu
    • Bảo cho giặc Mỹ một câu nhớ đời

    Câu 41:

    Ngoài ra còn có một số câu ca dao, tục ngữ về anh hùng, bộ đội ngắn gọn khác như

    1. Anh hùng đa nạnHồng nhan đa truân!2. Anh hùng chí để bốn phươngKhi gấp thì ngắn, khi vươn thì dài3. Anh hùng gặp vận4. Anh hùng gì mà anh hùng rơmTôi cho nắm (mớ) lửa hết cơn anh hùng5. Anh hùng khi gấp cũng khoanh tay6. Anh hùng mạt lộ (vận)7. Anh hùng nào (đâu) phải khúc lươnKhi cuộn thì ngắn, khi vươn thì dài8. Anh hùng nào giang sơn nấy9. Anh hùng rơm10. Anh hùng xó bếp11. Anh hùng tử, khí hùng nào tử12. Anh hùng thức anh hùng13. Ai lên A Lưới Dốc Mèo14. Bò lên rồi lại bò lênBò đi bò lại cho quên nhọc nhằn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Stt Hay Ngắn Gọn Hài Hước Và Độc Đáo Nhất Trên Mạng Xã Hội Facebook
  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Lòng Hiểu Thảo, Trung Hậu, Nhân Ái
  • Stt Con Gái, 69+ Status Hay Về Cô Gái Mạnh Mẽ! Cố Lên Nào Cô Gái Ơi
  • 15 Câu Nói Hay Về Đám Cưới Đầy Thấm Thía Của Người Nổi Tiếng
  • Tin Nhắn Chúc Mừng Sinh Nhật Hay Và Ý Nghĩa Nhất Cho Người Yêu
  • Người “gom Nhặt” Ca Dao, Tục Ngữ Dân Tộc Thái

    --- Bài mới hơn ---

  • Status Tháng 12, Tạm Biệt Năm Cũ Và Khép Lại Những Buồn Vui Đã Qua
  • Sưu Tầm Ngay Những Stt Chúc Mừng Sinh Nhật Idol Hay Nhất
  • Tuyển Tập Stt Hay Về Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Dành Tặng Người Thân
  • 100 Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Bằng Tiếng Anh Hay Nhất Cho: Bạn Bè, Người Yêu, Bố Mẹ, Anh Chị Em 2022
  • Một Số Lời Nói Hay Của Nhà Phật
  • Hàng chục năm qua, ông bỏ công sức sưu tầm, tìm hiểu loại hình văn hóa và tri thức dân gian này để vận dụng vào đời sống văn hóa thực tiễn. Đến nay, ông đã sưu tầm được hơn 2 nghìn câu ca dao, tục ngữ, từng bước đưa di sản này đến gần với đời sống văn hóa tinh thần của người dân trong thời hiện tại.

    Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống văn hóa, ông Cừ thừa hưởng tình yêu ca dao, tục ngữ của dân tộc Thái từ người cha yêu quý của mình.

    Ông Phạm Xuân Cừ giành cả cuộc đời miệt mài sưu tầm ca dao tục ngữ dân tộc Thái.

    Khi trưởng thành, bằng tình yêu, tâm huyết và mong muốn tìm lại kho tàng ca dao tục ngữ dân tộc Thái, ông Cừ đã đi đến tất cả các thôn bản của người Thái sinh sống ở xứ Thanh để sưu tầm, tìm hiểu. Tại đây, ông có cơ hội được gặp gỡ nhiều cụ cao niên để khai thác, cóp nhặt tất cả các câu ca dao, tục ngữ của dân tộc Thái, tập hợp thành những tệp tư liệu riêng. Được mỗi người chia sẻ một, hai câu theo trí nhớ của mình, qua nhiều năm “gom nhặt”, ông Phạm Xuân Cừ đã sưu tầm được hơn 2.500 câu ca dao tục ngữ.

    Ông còn phối hợp cùng các hội viên trong Hội Dân tộc học và Nhân học tỉnh Thanh Hóa và thầy cô giáo, sinh viên Trường Đại học Hồng Đức sưu tầm, phiên dịch gần 10 nghìn câu ca dao, tục ngữ dân tộc Thái, hiện đã được in thành sách đưa vào giảng dạy ngoại khóa cho sinh viên dân tộc Thái.

    Ông Cừ chia sẻ, cũng như kho tàng văn hóa các dân tộc khác, tục ngữ, ca dao của dân tộc Thái là một kho tàng tri thức, kinh nghiệm về sản xuất, đời sống tinh thần, qua đó thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan, tư tưởng, tình cảm của con người.

    Tục ngữ dân tộc Thái ca ngợi, khích lệ người siêng năng chăm làm và làm ăn có tính toán biết gắn cuộc sống của người lao động đối với vai trò, vị trí của mình trong xã hội, được xã hội quý mến, trân trọng. Ngay từ ngày mới trưởng thành con trai Thái phải học những việc cần thiết của người đàn ông như, đan lát, tập chặt dao, rìu, tập cầm cày bừa…, con gái Thái phải học dệt thổ cẩm, thêu thùa, may vá, các công việc nội trợ…

    Ví dụ như câu ca dao tục ngữ người Thái về giáo dục cách sống, cách ứng xử như: “Nhiều mây trời mới đổ mưa/ Nhiều người mới nên làng nên bản”, hay những câu tục ngữ Thái ca ngợi, khích lệ người siêng năng chăm làm, được xã hội quý mến, trân trọng “Của xin không đủ ngày/ Của mua không đủ năm/ Chăm làm có ăn, siêng nằm chết đói”.

    Ấn tượng hơn là, vào mỗi dịp họp dân, ông Cừ tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đến bà con không chỉ bằng văn bản khô cứng mà vận dụng ca dao, tục ngữ để ví von cho bà con dễ hiểu. Ông Cừ ví dụ “Giữ lấy rừng về sau phát triển/ Để cho muôn mó nước, sông suối tuôn trào/ Ai nhớ được câu nói ấy thì mới nên người”.

    Theo ông Cừ, những văn bản, chính sách tiếp cận đến bà con không phải ai đọc cũng hiểu, nên mình hiểu được phải giải nghĩa cho bà con, đọc ca dao tục ngữ để giải thích là hiệu quả nhất, vừa cuốn hút, vừa sâu sắc.

    Không chỉ sưu tầm ca dao tục ngữ Thái, ông Phạm Xuân Cừ còn tự mình sáng tác. Ông chia sẻ ca dao, tục ngữ vốn là của dân gian, nhưng theo thời gian, kho tàng ca dao dần bị mai một nên cũng cần có người sáng tác để bồi đắp cho kho tàng ca dao tục ngữ ấy. Mong muốn của ông, không chỉ những người con dân tộc Thái hiểu, mà tất cả các dân tộc khác cũng có thể học tập, vận dụng vào đời sống.

    HỒNG MINH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 999+ Stt Hay Vui Về Tình Bạn Tình Yêu Trong Cuộc Sống
  • 99 Câu Nói Hay Về Tình Yêu Trong Tiểu Thuyết Ngôn Tình Cổ Đại Và Hiện Đại Trung Quốc
  • 20+ Lời Chúc Sinh Nhật Bạn Gái Hay Nhất
  • Những Lời Chúc Ngày Công An Nhân Dân Việt Nam 19.8 Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Đời
  • Những Câu Ca Dao Kháng Chiến Hào Hùng Của Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương Đất Nước ❤️ Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Cuộc Sống
  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Về Chữ Ăn
  • Ẩm Thực Xa Xưa Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • Thì dân ta mới hết người đánh Tây.

    Con ơi, con ngủ cho ngoan,

    Mẹ còn cày cấy tập đoàn đồng sâu.

    Con ơi, hãy ngủ cho lâu,

    Mẹ đi vận tải, bắc cầu, khai mương.

    Mẹ còn đi học ở trường trưa nay.

    Con ơi, cứ ngủ cho say,

    Đã có mẹ gác máy bay quân thù.

    Ngày mai thống nhất, bố về,

    Gia đình hạnh phúc, tràn trề niềm vui.

    Em yêu, em quý quê hương,

    Yêu anh bộ đội lên đường hành quân.

    Đông Xuân anh thắng vang lừng,

    Quê em sôi nổi đón mừng công anh.

    Đánh cho Mỹ ngụy tan tành,

    Lời thơ tiếng hát em dành tặng anh.

    Cấy cày, sản xuất, đấu tranh,

    Anh ơi! Em quyết cùng anh diệt thù.

    Ngày nào bộ đội về làng,

    Em chạy vào làng tặng một rổ khoai.

    Khoai em tuy ít mà bùi,

    Ăn vào một miếng cũng vui cả đoàn.

    Hôm nay bộ đội về làng,

    Em chạy vào hàng xin được tòng quân.

    Thằng Tây chớ cậy xác dài,

    Chúng tao người nhỏ nhưng dai hơn mày!

    Thằng Tây chớ cậy béo quay,

    Mày thức hai buổi là mày dở hơi.

    Chúng tao thức bốn đêm rồi.

    Ăn cháo ba bữa, chạy mười chín cây.

    Bây giờ mới gặp mày đây,

    Sức tao vẫn đủ bắt mày hàng tao.

    Trên trời có đám mây vàng

    Em đi tiếp vận cho chàng giết Tây

    Thằng Tây tiếp tế máy bay,

    Không bằng tiếp vận chân tay chúng mình.

    Xuân về, hoa cúc nở hoa,

    Trên cành chim sáo hát ca rộn ràng,

    Chào anh, anh Giải phóng quân!

    Anh đem nắng ấm mùa xuân đến nhà.

    Con ơi, con ngủ cho mùi,

    Để mẹ ngồi vót cho rồi bó chông.

    Chông này gìn giữ non sông,

    Chông này góp sức diệt quân bạo tàn.

    Chông này xóa sạch tóc tang,

    Chông này đem lại tiếng đàn lời ca.

    Cho con gần mẹ gần cha,

    Cho nước độc lập, cho nhà yên vui.

    Con ơi, con ngủ cho mùi,

    Để mẹ ngồi vót cho rồi bó chông.

    Thằng Tây đánh trận Điện Biên

    Mặt mày nhếch nhác, van xin đầu hàng

    Một bầy quân tướng huênh hoang

    Giỏi đánh giặc mồm lại giỏi giơ tay

    Thằng Tây nuôi lính thật tài

    Cái bệnh chạy dài dễ chẳng ai hơn!

    Bên sông thưa thớt tiếng gà

    Mây trôi xuống bến, trăng tà về tây

    Đò em đợi bến sông này

    Đưa đoàn chiến sĩ đêm nay lên đường

    Đò em chở bạn tình thương

    Chở lòng yêu nước can trường qua sông.

    Ai ơi, chớ dại chớ lầm

    Lương tâm bán rẻ, đi cầm súng Tây

    Máu người thân vấy đầy tay

    Hại dân hại nước, tội này ai tha?

    Ngủ đi, con ngủ cho say,

    Mẹ còn tay súng tay cày giương cao.

    Đổ mồ hôi, đổ máu đào,

    Giữ quê, biển rộng, trời cao trong lành.

    Giữ nhà máy, giữ đồng xanh,

    Chặn tay giặc Mỹ đang rình hại ta.

    Cha đi cứu nước cứu nhà.

    Mẹ “ba đảm nhiệm” thay cha mọi bề.

    Mướp ơi, mướp cứ leo giàn,

    Cứ xanh sắc lá, cứ vàng màu hoa.

    Xới vun công của mẹ già,

    Bát canh nhớ vị đậm đà quê hương.

    Bữa cơm ở giữa chiến trường,

    Thoảng mùi canh mướp càng thương mẹ già.

    Cụ ông bàn với cụ bà:

    Bà nó ở nhà giữ cháu hôm nay.

    Để tôi ra bắn máy bay,

    Mai tôi lại bế cháu thay phiên bà.

    Bà rằng: “Ông khéo khéo là!

    Để tôi ra bắn máy bay,

    Tối qua tập bắn, cái tay đang thèm.

    Ông ơi! Ông ngẫm mà xem,

    Tóc ông cũng đã bạc trên mái đầu”.

    Ông rằng “Già tóc, già râu,

    Còn chuyện đánh Mỹ, tôi đâu có già!”.

    Hỡi thuyền đưa khách sang sông,

    Chở chông chở súng, chở chồng em sang.

    Chồng em du kích giữ làng,

    Giữ yên bến nước đò ngang sớm chiều.

    Lòng Bác rộng khắp bao la,

    Lòng dân, lòng Bác chan hòa nước non.

    Chúng cháu ghi nhớ công ơn,

    Quyết giết giặc Pháp rửa hờn cho dân.

    Toàn dân dốc một lòng thành,

    Làm tròn nhiệm vụ đáp tấm tình Cụ thương dân.

    Chồng em vì nước hy sinh,

    Cánh tay mất nửa, mối tình còn nguyên.

    Gió to, sóng cả, sông sâu,

    Dưới chân nước chảy, trên cầu mưa rơi.

    Gió mưa, sông nước, mặt trời.

    “Nhanh tay ơi chị em ơi! ta chèo”.

    Áo em vai đã ướt đều,

    Vì mưa, hay đã thấm nhiều mồ hôi?

    Ướt em, em thấy vẫn vui,

    Chỉ lo ướt súng, ướt người chiến binh.

    Mưa rơi thêm lạnh rừng khuya,

    Nghe không gian ngỡ bốn bề mênh mông.

    Hành quân nhớ bếp lửa hồng,

    Nhớ xưa Bác sống giữa rừng ấm vui.

    Ai lên xứ Lạng cùng anh,

    Thăm quân du kích, xem thành Bắc Sơn.

    Suối trong in bóng trăng tròn,

    Hai cô gái Thổ, trèo non đi tuần.

    Chị em du kích Thái Bình,

    Ca – lô đội lệch vừa xinh vừa giòn.

    Người ta nhắc chuyện chồng con,

    Lắc đầu nguây nguẩy: “Em còn giết Tây!”.

    Hy sinh trả nghĩa giang san

    Đoàn quân Nam tiến vượt ngàn gian lao

    Tình ruột thịt, nghĩa đồng bào

    Bát cơm chung, giọt máu đào giúp nhau.

    Thằng Tây ở đất Điện Biên

    Bị ta vây chặt suốt đêm suốt ngày

    Điện Biên Phủ sắp lung lay

    Thành “Điện Âm Phủ” vùi Tây xuống mồ

    Anh em ta gắng thi đua

    Đào hào cho vững, khoét mồ chôn Tây!

    Anh đi gìn giữ nước non,

    Tóc xanh em đợi, lòng son em chờ.

    Anh đi ra lính Cụ Hồ,

    Con sông, con hói, con đò đưa anh.

    Đói lòng cơm nắm giở ra,

    Chia nhau lót dạ, ngủ qua đêm dài.

    Nhìn nhau lặng tiếng im hơi,

    Cành cây gió động, mưa rơi ướt đầu.

    Nằm đây bố trí bên nhau,

    Súng ơi! Có rét chui đầu vào chăn!

    Ai qua phố Phủ Đoan Hùng,

    Hẳn rằng còn nhớ voi gầm sông Lô.

    Rừng xanh khói lửa mịt mù.

    Nước sông đỏ máu quân thù chưa phai.

    Luyện quân voi luyện cho tài,

    Lập công voi xé một vài ca nô.

    Dòng sông nước đục lờ đờ,

    Bên kia sông cát: nấm mồ thực dân!

    Con đò trong bãi nằm dài,

    Em là du kích đợi hoài các anh.

    Quân về mình biếc lá xanh,

    Ngậm tăm lựa bóng trăng thanh xuống đò.

    Hôm đi thuyền bến nặng chờ,

    Hôm về thằng trận câu hò lại vang.

    “Cách sông nên phải lụy đò”,

    Câu ca thuở trước bây giờ còn đâu!

    Bây giờ mưa gió đêm thâu,

    Em đây vẫn cứ chống chèo đò ngang.

    Đò đưa mấy chuyến quân sang,

    Lòng em như sóng tràng giang reo mừng.

    Anh đi ra tận chiến trường,

    Ngày về xin hẹn sông Thương dừng chèo.

    Ngày xưa bưng lấy bát cơm,

    Nhớ thầy nhớ mẹ phong sương cấy cày.

    Ngày nay bưng bát cơm đầy,

    Ơn Bác, ơn Đảng ngày ngày không quên.

    Em về sửa lại đôi quang,

    Còn em đem cuốc, sẵn sàng làm đê.

    Mai kia nước lũ kéo về,

    Quyết tâm chống lụt, đê kè làm thêm.

    Giữ cho đẹp lúa đồng chiêm,

    Cho khoai nhiều củ, ngô thêm óng vàng.

    Mặc quân giặc Mỹ “leo thang”,

    Quyết tâm sản xuất, Mỹ càng thua to.

    Lời kết: Những câu ca dao ấy tựa như chứng cớ lịch sử đầy đanh thép, ghi lại khí thế quyết tâm và những cột mốc hào hùng của dân tộc. Ca dao kháng chiến đã cho thấy hình ảnh con người Việt Nam sáng rực lòng yêu nước và lòng nhân ái dân tộc sâu xa, kết tinh từ truyền thống ngàn đời của dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em Hay Nhất ❤️ 1001 Câu
  • Ca Dao, Tục Ngữ Chế Về Tình Yêu ( Vào Đọc Ngay Nào)
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Thầy Cô Giáo
  • ‘một Lần Bất Tín, Vạn Lần Bất Tin’
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao
  • Tục Ngữ, Ca Dao Dân Tộc Thái Và Tục Ngữ, Ca Dao Người Kinh (Cảnh Thụy)

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Lý Giáo Dục Trong Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Câu Nói Chân Thành Cảm Ơn Hay Nhất Cho Cuộc Sống
  • Status Buồn Người Ở Lại Và Người Ra Đi, Đến Một Lúc Nào Đó Nỗi Đau Ngày Xưa Sẽ Dịu Lại
  • Cực “thấm” Với Những Câu Nói Hay Về Du Lịch Bằng Tiếng Anh
  • Sms 8/3, Tin Nhắn Xếp Hình Chúc Mừng 8/3 Độc Đáo Nhất
  • Cộng đồng dân tộc Thái ở Việt Nam có khoảng hơn 1,5 triệu người, cư trú chủ yếu ở các tỉnh thuộc địa bàn Tây Bắc. Theo nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu, người Thái xuất hiện ở Tây Bắc cách đây hàng nghìn năm, qua các đợt di cư của tộc người Thái từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống và từ Thái Lan sang. Dân tộc Thái có truyền thống văn hóa lâu đời, đạt đến trình độ cao. Ngoài chữ viết, người Thái còn bảo tồn được kho tàng văn hóa, lễ hội, luật tục, tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú và đặc sắc.

    Cũng như kho tàng văn hóa các dân tộc khác, tục ngữ, ca dao của dân tộc Thái là một kho kinh nghiệm về sản xuất, đời sống tinh thần; qua đó, thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan, tư tưởng, tình cảm của con người. So sánh tục ngữ, ca dao của người Thái với người Kinh, chúng ta sẽ tìm thấy ở đó có sự tương đồng thú vị, trên cơ sở đó, có những phân tích, đánh giá và đặt ra những vấn đề cần lý giải.

    Trong khuôn khổ giới hạn, bài viết này, xin chỉ trình bày bước đầu so sánh, tìm hiểu những nét tương đồng về nội dung giữa tục ngữ, thành ngữ dân tộc Thái và với thành ngữ, tục ngữ dân tộc Kinh, trong khuôn khổ nguồn tư liệu còn hạn hẹp: “Luật tục Thái ở Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng (NXB Văn hóa dân tộc, 2012) và ” Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái” (Hội Văn nghệ dân gian- NXB Văn hóa dân tộc, 2012)

    Tổ chức xã hội theo truyền thống của người Thái là bản, mường. Bản của người Thái nhỏ nhất vài ba nóc nhà, lớn thì hàng chục, hàng trăm nhà. Trong cộng đồng ấy, con người được gắn kết với nhau bằng tình cảm và những luật tục, nghi lễ. Lễ hội “xên bản, xên mường” của người Thái kết tinh cao giá trị văn hóa, lịch sử và nhân văn. Do vậy, tục ngữ Thái khuyên răn con người ta sống phải biết yêu quý bản mường của mình, gắn kết với nơi ăn, trốn ở nơi mình sinh sống:

    – Rời nơi ăn chốn ở mãi mãi rồi cũng thành ma

    Tương tự như vậy, người Kinh có câu:

    Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn

    – Sểnh nhà ra thất nghiệp

    Tinh thần đoàn kết cộng đồng, muôn người như một, tạo thành sức mạnh được người Thái ví von bằng những hình ảnh rất cụ thể và gần gũi:

    – Chuối đến lúc trĩu buồng phải có cây chạc chống

    – Khỏe một mình làm không được

    Khôn một mình làm không xong

    Tương tự như vậy, tục ngữ người Kinh có những câu:

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

    Trong phạm vi rộng, tục ngữ Thái khuyên con người biết đoàn kết cộng đồng trong bản, trong mường; ở phạm vi hẹp, tục ngữ Thái khuyên con người đoàn kết anh em trong một nhà:

    Không nặng tiếng trái lời

    Để nhắc nhở anh chị em trong một nhà đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau, người Kinh cũng có những câu:

    – Anh em như thể chân tay

    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần

    – Khôn ngoan đá đáp người ngoài

    Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

    Điều thú vị là trong kho tàng ca dao, tục ngữ của người Thái và người Kinh, số lượng ca dao, tục ngữ nói về đoàn kết gia đình, đoàn kết cộng đồng khá phong phú. Qua đó cho thấy, tinh thần đoàn kết được xây dựng từ gia đình- tế bào của xã hội, được người Thái và người Kinh rất coi trọng. Nó là bài học của con người qua đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và chống kẻ thù để bảo vệ cuộc sống bình yên.

    Vượt lên những kinh nghiệm thông thường được con người đúc rút qua thực tiễn, thể hiện nhân sinh quan, mối quan hệ ứng xử giữa người với người, tục ngữ Thái còn có những câu đậm tính triết lý, khái quát những quy luật của tự nhiên, xã hội, thể hiện một trình độ tư duy cao, có tính biện chứng. Đọc những câu sau, ta thấy cái nhìn của người Thái về thế giới không phải là bất biến, trái lại, rất động:

    – Mưa nhiều không cần nắng, cũng nắng

    Nắng nhiều không cần mưa, cũng mưa

    – Không ai gặp xấu cả năm

    – Người ta có gặp vận rủi

    Qua vận rủi rồi cũng phải tới vận may

    Tuy thuộc hai nền văn hóa khác nhau, nhưng người Thái với người kinh lại gần nhau trong quan niệm về thế giới. Cả người Thái và người Kinh đều nhìn thế giới với con mắt “vạn vật hữu linh”. Tục ngữ Thái có câu :

    Một miếng đất bằng cái quạt cũng có chủ

    Cũng giống như câu tục ngữ của người kinh :

    – Đất có thổ công, sông có hà bá

    Nhìn sự thay đổi của tạo hóa theo quy luật, người Thái cũng có những câu thật triết lý :

    Cũng như người Kinh quan niệm :

    Quan niệm của người Thái về khả năng của con người trong nhận thức thế giới khách quan cũng rất gần với triết học hiện đại vì nó thừa nhận thế giới là vô cùng tận, nhận thức của con người về thế giới luôn hữu hạn :

    Những câu tục ngữ trên rất gần với quan niệm của Kinh qua các câu tục ngữ :

    – Không ai nắm tay được đến tối, gối tay được đến sáng

    Nhìn cuộc sống theo quy luật nhân quả, người Thái có cái nhìn rất hướng thiện :

    Làm ác thể nào cũng gặp ác

    Người không đáp thì ma cũng đáp

    Quan niệm đó trùng với quan niệm của người Kinh, tuy người Thái ít chịu ảnh hưởng bởi quan niệm của Phật giáo:

    – Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác

    Khi phát triển về trình độ tư duy, con người ta nhận thức được đúng với sai, thật với giả, mà cao hơn là phân biệt được sự khác nhau giữa hiện tượng và bản chất, hình thức với nội dung. Tục ngữ Thái có nhiều câu chỉ rõ mối quan hệ này:

    – Người đi kẻ lại phải xem biết ai tốt xấu

    Mặc rách rưới, người có lòng nhân nghĩa cũng nên

    Người mặc đẹp, ăn ngon, lòng dối trá cũng có

    Người Kinh cũng có những câu tương tự:

    – Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

    – Mật ngọt thì ruồi chết tươi

    Những nơi cay đắng là nơi thật thà

    Ruột trong thì trắng vỏ ngoài lại đen

    Qua những câu tục ngữ đúc rút kinh nghiệm về nhìn nhận, đánh giá con người, có thể thấy người Thái cũng như người Kinh, đều nhìn nhận con người về thể chất và nhân cách như là sản phẩm của tự nhiên và môi trường xã hội. Cho nên, trong việc chọn vợ gả chồng người Thái khuyên răn người ta phải chọn dòng giống, nhìn vào gia phong:

    Kén vợ, kén chồng không chỉ đi tìm gương mặt bề ngoài

    Chọn con dao chứ không phải chọn vỏ dao

    Phải biết thật kỹ đáy lòng mà nắm bắt được ngay, gian

    Lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống

    Cũng giống như quan niệm của người Kinh:

    – Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh

    – Trứng rồng lại nở ra rồng

    Liu điu lại nở ra dòng liu điu

    – Giỏ nhà ai quai nhà nấy

    Mặc dù đặc điểm và trình độ phát triển xã hội ở hai cộng đồng người Thái và Kinh không giống nhau, nhưng tổng kết, đúc rút về thói đời, người Thái có câu :

    Lúc làm nên thì luôn thấy chín bà vợ

    Khi không làm nên thì chỉ có một em vợ cũng chẳng thấy

    – Anh em rượu đắng khác hẳn với anh em cùng chịu mùi tanh hôi

    (“Anh em rượu đắng” ở đây chỉ những người dưng, chỉ anh anh em em bên chiếu rượu (với người Thái, rượu đắng là rượu ngon). Còn “anh em cùng chịu mùi tanh hôi” là anh em ruột rà, máu mủ. Có thể ngày thường anh em ít gặp nhau, nhưng khi cha mẹ mất (bốc mùi hôi tanh) thì cùng nhau gánh chịu:

    Tương tự như vậy, người Kinh cũng có những câu:

    – Lúc khó thì chẳng ai nhìn

    Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em

    – Bần cư thành thị vô nhân vấn

    Phú tại sơn lâm hữu khách tầm

    (nghèo ở thành thị không có người hỏi, giầu thì ở rừng núi có người tìm đến)

    Trong quan hệ ứng xử, người Thái cũng có cái nhìn tinh tế và sâu sắc:

    – Uống rượu đừng nói chuyện ruộng

    Ngủ với vợ (chồng) không nói chuyện tình cũ

    Để con người sống có nghĩa, có tình, sống hướng thiện, trong kho tàng tục ngữ của người Thái cũng như người Kinh, có nhiều câu đúc rút những kinh nghiệm giáo dục con cháu. Trách nhiệm giáo dục con cháu thuộc về ông bà, cha mẹ. Nếu như người Kinh quan niệm “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, “con dại, cái mang” thì người Thái cũng quan niệm “Con cháu gây tội ác, tất cả bậc cha mẹ đều phải lo”. Việc đề cao giáo dục trong gia đình là bài học quý về giáo dục mà đến nay vẫn còn mang tính thời sự. Người Thái có những câu răn dạy:

    – Người già hãy bảo con cháu

    Để quá thì chúng lớn khó bảo

    Lớn lên tưởng mình cao bằng núi

    Những đỉnh núi cao không vượt gối của người

    Và người Kinh cũng có những câu tương tự:

    – Dạy con từ thưở còn thơ

    Trong nền văn minh nông nghiệp, người Thái cũng như người Kinh rất trọng kinh nghiệm. Tục ngữ Thái có câu:

    Đi nhiều thấy nhiều điều khôn ngoan hơn mình

    Ghi vào lòng để hiểu biết và khôn

    Và tương tự, người Kinh cũng quan niệm:

    – Đi một ngày đàng, học một sàng khôn

    – Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Vì đề cao kinh nghiệm, nên người Thái cũng như người Kinh rất tôn trọng người già. Gìa làng, trưởng bản luôn là người có uy tín, được cộng đồng tôn sùng. Tục ngữ Thái có câu:

    – Cây nhọn không bằng sắt cùn

    Trẻ hiểu biết không bằng già quên

    Cũng giống như quan niệm của người Kinh:

    – Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già

    Có thể nói, người Thái có cả một kho tàng kinh nghiệm rất phong phú, đúc rút từ cuộc sống xã hội, cho thấy cộng đồng người Thái có những mối quan hệ xã hội khá phong phú ở trình độ xã hội đã được tổ chức cao.

    2. Những chuẩn mực đạo đức

    Tục ngữ Thái có rất nhiều câu răn dạy người ta sống theo đạo làm người. Thông qua đó, chúng ta thấy quan niệm nhân sinh của người Thái.

    Các nhà dân tộc học gọi người Thái là người của ” nền văn minh thung lũng “. Tục ngữ Thái có câu : Tsả kin tói phạy, Tay kin tói nặm (Xá ăn theo lửa , Thái ăn theo nước). Vùng đất có sông, suối là nơi người Thái chọn để cư trú. Do vậy, người Thái có tập quán canh tác từ rất sớm : trồng lúa nước ở nơi thung lũng lòng chảo, nơi gần nguồn nước và làm nương rẫy trên sườn núi, đánh bắt cá dưới sông suối, dùng thuyền bè để đi lại, lợi dụng sức nước để sản xuất. Người Thái sớm biết dùng trâu kéo cày, chăn nuôi nhiều gia súc. Người đàn ông Thái nếu không biết phát nương, săn thú, đánh bắt cá sẽ bị chê cười ; người phụ nữ Thái phải biết chăn tằm, ươm tơ, dệt vải, thêu thùa… Bởi thế, trong những chuẩn mực đạo đức, người Thái đặc biệt coi trọng sự chăm chỉ, hay lam hay làm và phê phán thói lười biếng. Tục ngữ Thái có rất nhiều câu khuyên con người phải biết chăm làm, không ngại việc :

    – Đừng chây lười ngại việc

    Đừng tiếc công tiếc sức, gắng lòng làm ăn

    Việc làm được, lớn như đồi núi chưa đủ

    Đổ mồ hôi, cạn kiệt sức mới vừa tầm

    Bởi vì có lao động mới có cái ăn

    – Muốn để bụng đói hãy nằm im

    Muốn ăn ở nghèo khó thì chỉ nói, không làm

    Muốn thành lớn hãy bắt tay từ việc nhỏ

    – Lười biếng bụng trống rỗng

    Người giàu có, nhờ làm ăn liên tục

    Người nghèo khó bởi làm ăn dông dài

    Tất cả mọi của cải trên đời đều từ bàn tay lao động của con người. Không có gì tự dưng sẵn có:

    Trong đó có ít người số may mà được

    Nhìn chung mọi người phải nghĩ, phải lo mới có được

    Nếu không nghĩ, không lo để tìm kiếm thì kho bạc, kho vàng của nhà trời cũng không tự đến

    Cố cùng bạn làm lụng, nó khắc tới mình

    Lao động còn khiến con người thêm hiểu biết, thông minh, tài giỏi. Quan niệm đó rất duy vật và có cơ sở khoa học:

    – Nhẫn được thành người khôn

    Chăm được thành người tài

    Tục ngữ người Kinh cũng khuyên con người chăm chỉ làm ăn:

    Không dưng ai dễ mang phần đến cho

    – Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ

    Người Thái cho rằng nếu không lao động mà chỉ hưởng thụ thì của cải dẫu có bao nhiêu cũng hết:

    – Chẳng làm gì, gác chân ăn, mỏ vàng bằng trái núi cũng hết

    Người Kinh đúc kết điều này trong một câu tương tự:

    Người Thái khuyên con cháu phải biết tự lực, chỉ có của cải do chính mình làm ra mới đảm bảo cuộc sống được ổn định, bền vững; đừng ỷ nại người trên, trông chờ vào của cải ông bà, cha mẹ để lại:

    – Của cải từ tay chân làm ra là nguồn tuôn chảy

    Của cải từ cha mẹ để lại là nước lũ cuốn đi

    Còn người Kinh dặn dò con cháu:

    – Của làm ra là của trong nhà

    Của ông bà là của ngoài sân

    Của phù vân có chân nó chạy

    Do nền sản xuất nông nghiệp còn ở trình độ thấp, thiên tai bất thường, con người phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nên người Thái cũng như người Kinh, đều nhắn nhủ nhau “tích cốc phòng cơ”, đề phòng rủi ro, thiên tai, và phải tiết kiệm. Tục ngữ Thái có câu:

    – Gom của phòng mùa thiếu

    – Vừa ăn lại vừa để, tốt lắm

    Vừa kiệm lại vừa giành, tốt quá

    – Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện

    Khuyên con người phải biết chăm chỉ lao động, tiết kiệm, tục ngữ Thái cũng dạy người ta không tham lam, trộm cắp:

    – Đừng trộm hái rau quả của vườn người

    Cũng như tục ngữ của người Kinh:

    Người Kinh cũng có câu: ” Thật thà là cha quỷ quái ” để đề cao những lời nói thật, lên án những kẻ hay dối trá.

    Còn tục ngữ người Kinh có câu: ” Ăn có nhai, nói có nghĩ

    3. Về kinh nghiệm sản xuất

    Trong lao động, sản xuất cũng như đời sống, thiên tai luôn là nỗi ám ảnh với con người. Người Kinh có câu: “Thủy, hỏa, đạo, tặc” để xếp hạng những yếu tố gây nguy hiểm cho cuộc sống con người. Trong đó, “thủy” đứng ở vị trí đầu tiên. Chắc hẳn những trận lụt kinh hoàng đã thành ám ảnh không phai đối với người Kinh xa xưa. Sau “thủy” là “hỏa”. Nạn lửa chỉ sau nạn cháy, còn nguy hiểm hơn cả trộm cướp và giặc giã. Còn với người Thái thì:

    – Không nạn nào hơn nạn lửa, nạn nước

    Dùng nước phải biết tránh nguồn nước

    Dùng lửa hãy giữ gìn nạn cháy

    – Bừa bãi lửa thường sinh nạn cháy

    Kinh nghiệm sản xuất của người Kinh thiên về cấy trồng, mùa vụ còn kinh nghiệm sản xuất của người Thái ngoài việc trồng trọt, chăn nuôi, còn có săn bắn, hái lượm, cách thức đi rừng, kinh nghiệm khai thác lâm sản…mà ở đề tài này, ca dao tục ngữ của người Kinh không nhiều.

    Đi sâu tìm hiểu ca dao, tục ngữ của người Thái với người Kinh, chúng ta thấy có nhiều nét tương đồng. Sự tương đồng được thể hiện ở nhiều lĩnh vực: từ sản xuất đến đời sống, từ tư tưởng đến tình cảm, thế giới quan đến quan niệm sống, quan niệm về giá trị đạo đức, nhân văn…

    Những nét tương đồng đó là kết quả của nhiều nguyên nhân: do sự tương đồng về tự nhiên, điều kiện sống, trình độ canh tác, hoặc do sự tương đồng trong cách cảm, cách nghĩ và ảnh lẫn nhau trong giao lưu văn hóa…Tuy nhiên, những sự tương đồng này chỉ được đề cập ở phương diện nội dung, tư tưởng. Đi sâu vào tìm hiểu, trong sự tương đồng vẫn có sự khác biệt, kể cả về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật, mà trong bài viết này chưa có dịp đề cập đến.

    Những nét tương đồng đi cùng với sự khác biết, vừa thể hiện nét chung về văn hóa của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam vừa phản ánh bản sắc riêng trong văn hóa của mỗi dân tộc. Bởi thế mà nền văn hóa Việt Nam có sự thống nhất trong đa dạng, mà chúng ta cần giữ gìn và phát huy.

    Tài liệu tham khảo

    1. Hội Văn nghệ dân gian (2012), Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

    2. Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng (2012), Luật tục Thái ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Chúc Ngủ Ngon Bá Đạo, Hài Hước Giành Cho Bạn Bè, Người Yêu
  • Những Lời Chúc Valentine Tiếng Anh Hay Và Ngọt Ngào Nhất
  • Những Câu Nói Truyền Cảm Hứng Trong Các Bộ Phim Về Tình Yêu
  • Những Hình Ảnh Động Chúc Mừng Sinh Nhật Đẹp Và Ý Nghĩa Nhất
  • Truyền Thống Văn Hóa Dân Tộc Trong Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Việt Nam.

    --- Bài mới hơn ---

  • Stt Đểu Về Con Gái Độc Và Hay Nhất Trên Facebook
  • Stt Tâm Trạng Tại Sao Cứ Phải Cố Gắng Gượng Cười Và Giả Vờ Mạnh Mẽ Hả Cô Gái ?
  • Những Câu Nói Hay Cảm Động Nhất Về Hạnh Phúc Gia Đình
  • 27 Câu Nói Giúp Bạn Đánh Bật Sự Chần Chừ Và Làm Việc Hiệu Quả Hơn
  • Đôi Dòng Stt Bày Tỏ Cảm Xúc Khi Người Yêu Cũ Có Người Yêu Mới
  • Sau cùng là Tài liệu tham khảo.

    B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.

    CHƯƠNG 1: CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN.

    1.1 Định nghĩa về văn hóa của UNESCO

    Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất trí tuệ và cảm xúc,

    quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội.

    Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương , những lối sống, những quyền cơ

    bản của con người và hệ thống những giá trị những phong tục, tín ngưỡng. Văn hóa đem

    3

    lại cho con người khả năng suy xét về bản thân, chính văn hóa giúp cho chúng ta trở

    thành sinh vật đặc biệt, nhân bản, có lý tính có phê phán và dấn thân một cách có đạo

    lý.Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là

    một phương án chưa hoàn thành, đặt ra để xem xét thành tựu của bản thân, tìm tòi không

    mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo những công trình mới mẻ, vượt trội bản

    thân.

    1.2 Định nghĩa về ngôn ngữ

    Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người,

    phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội. Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và

    ngôn ngữ viết, trong thời đại hiện nay, nó là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn

    hoá giữa các dân tộc. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội, và

    là công cụ tư duy của con người.

    1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa.

    Người ta đã nói rằng ngôn ngữ và văn tự là kết tinh của văn hóa dân tộc, nhờ

    ngôn ngữ và văn tự để được lưu truyền và trong tương lai, nền văn hóa cũng nhờ vào

    ngôn ngữ để phát triển. Sự biến đổi và phát triển ngôn ngữ lại luôn luôn đi song song với

    biến đổi và phát triển văn hóa. Vậy muốn nghiên cứu sâu về văn hóa phải nghiên cứu

    ngôn ngữ, và tất nhiên muốn đi sâu vào ngôn ngữ phải chú tâm đến văn hóa.

    1.4 Khái niệm về thành ngữ, tục ngữ.

    -Thành ngữ là một cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa, nghĩa của

    chúng có tính hình tượng, gợi cảm.

    – Tục ngữ là những câu nói được đúc kết từ kinh nghiệm, luân lí, là những câu nói

    hoàn chỉnh, tục ngữ được coi như một tác phẩm văn học trọn vẹn bởi nó luôn mang ba

    chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ.

    4

    CHƯƠNG 2 . TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG CA DAO,

    TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ.

    1. Truyền thống nhân hậu, đoàn kết.

    Có thể nói nhân hậu, đoàn kết là một trong những truyền thống quý báu nhất của dân tộc

    ta. Khó có một dân tộc nào trên thế giới có ý thức dân tộc mạnh mẽ cùng truyền thống

    đoàn kết như dân tộc ta.Trải qua 4000 năm lịch sử, dân tộc ta từ khi dựng nước đã phải

    giữ nước do đó ý thức dân tộc luôn được đặt lên trên hết, điều này được thể hiện rõ nét

    trong văn hóa nước ta, mà biểu hiện của nó được thể hiện một cách rõ nét trong kho tang

    thành ngữ tục ngữ.

    Thành ngữ tục ngữ ca dao về tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái được thể

    hiện một cách rõ nét qua những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao như:

    – Lá lành đùm lá rách : người có lòng giúp người khác trong cơn khó khăn. Hoạn nạn

    – Chết cả đống còn hơn sống một mình : tinh thần đoàn kết, sống chết có nhau.

    – Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ : tinh thần đoàn kết, đòng cam cộng khổ.

    – Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết : đề cao sức mạnh đoàn kết trong tập thể.

    – Đồng tâm hiệp lực ( đồng sức đồng lòng): cùng một lòng, cùng hợp sức để đạt mục

    tiêu chung

    – Thương người như thể thương thân: tinh thần nhân đạo cao cả, coi trọng giá trị

    con người.

    – Một cây làm chẳng nên non,

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    – Bầu ơi thương lấy bí cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

    – Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước thì thương nhau cùng.

    Chúng ta có lẽ không xa lạ gì với những câu tục ngữ, thành ngữ trên, ông cha ta

    đã sử dụng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ để thể hiện thông điệp của mình. Đây được

    xem như những lời răn dạy, những bài học mà ông cha ta đã đúc kết từ ngàn đời. Những

    “bầu”, những “bí” hay “lá lành”, “lá rách” đều mang ý nghĩa biểu tượng cho con người

    5

    Việt Nam, những đồng bào cùng chung sống trong mái nhà chung. Đất nước Việt Nam

    là một đất nước nhỏ, dân tộc Việt Nam là tổng hòa mối quan hệ của 54 dân tộc anh

    em .Nếu không có sự đoàn kết, tương thân tương ái, đùm bọc lẫn nhau thì dân tộc này,

    đất nước này làm sao có thể có được hòa bình êm ấm, tự do tự chủ.

    Thành ngữ, tục ngữ còn nói lên bài học về lòng nhân hậu vị tha.

    – Có trước có sau: ( Có thủy có chung): Khen người trước sao sau vậy, giữ vẹn tình

    nghĩa với người cũ.

    – Hiền như Bụt: Khen người nào rất hiền lành.

    – Lành như đất: Khen người nào rất hiền lành.

    – Ở hiền gặp lành: Ăn ở tốt với người khác thì lại có người đối xử tốt với mình.

    Khuyên sống hiền lành, nhân hậu thì sẽ gặp điều tốt đẹp may mắn.

    – Uống nước nhớ nguồn: Biết ơn người đã đem lại những điều tốt đẹp cho mình, sống

    có nghĩa có tình, thủy chung.

    – Gan vàng dạ sắt: Khen người chung thủy, không thay lòng đổi dạ.

    – Có trước có sau: ( Có thủy có chung): Khen người trước sao sau vậy, giữ vẹn tình

    nghĩa với người cũ.

    – Một miếng khi đói bằng một gói khi no: Khi người ta cần mà mình giúp thì việc ấy

    có giá trị hơn rất nhiều những gì khi mình cho mà mình cho người ta không cần.

    – Muôn người như một: Mọi người đều đồng ý như nhau, đoàn kết một lòng.

    – Nhường cơm sẻ áo: Nói lên tình cảm thân thiết giữa con người với nhau. Gúp đỡ, san

    sẻ cho nhau lúc gặp khó khăn hoạn nạn.

    Bên cạnh những thành ngữ mang ý nghĩa tốt cũng có không ít thành ngữ phê phán

    những thói xấu của một số người trong xã hội như :

    6

    – Con sâu bỏ rầu nồi canh: Một người làm bậy ảnh hưởng xấu đến cả tập thể.

    – Trâu buộc ghét trâu ăn: Nói những kẻ ghen ghét gièm pha người có quyền lợi hơn

    mình.

    2. Truyền thống trung thực , tự trọng.

    – Cây ngay không sợ chết đứng: Người ngay thẳng chẳng sợ sự gièm pha, bày đặt để

    nói xấu hay chèn ép của kẻ ghen ghét.

    – Chết trong còn hơn sống đục: phương châm cao thượng của người biết tự trọng.

    – Chết vinh còn hơn sống nhục: đồng nghĩa với chết trong còn hơn sống đục.

    – Chết đứng còn hơn sống quỳ: đồng nghĩa với chết trong còn hơn sống đục.

    – Đói cho sạch, rách cho thơm: Dù đói khổ vẫn phải sống trong sạch, lương thiện.

    – Giấy rách phải giữ lấy lề: Dù nghèo đói, khó khăn vẫn phải giữ nền nếp.

    – Thẳng như ruột ngựa: Có lòng dạ ngay thẳng.

    – Tốt danh hơn lành áo: Danh dự thanh danh còn hơn cái vỏ bề ngoài.

    – Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng: Chê người vì một mối lợi nhỏ mà phẩm chất sa

    sút.

    – Đục nước béo cò: phê phán kẻ cơ hội.

    3. Truyền thống biết ơn ,uống nước nhớ nguồn.

    Dân tộc Việt Nam luôn tự hào về truyền thống biết ơn, uống nước nhớ nguồn.

    Truyền thống ấy được thể hiện qua việc biết ơn, kính trọng đấng sinh thành, tôn trọng

    7

    người có lòng giúp đỡ, dìu dắt, dạy bảo ta nên người. Truyền thống ấy được cha mẹ, ông

    bà răn dạy ngay từ thuở còn trong nôi, theo thời gian, truyền thống ấy được bồi đắp, giữ

    gìn rồi trở thành quan niệm sống, lối suy nghĩ, trở thành văn hóa của cả một dân tộc. Từ

    xưa đến nay, tryền thống uống nước nhớ nguồn luôn là niềm tự hào của dân tộc Việt

    Nam, được hun đúc qua nhiều đời, nhiều thế hệ và vẫn luôn vẹn nguyên giá trị cho tới

    ngày nay.

    Tục ngữ, thành ngữ về biết ơn gia đình, tổ tiên và những người có lòng giúp đỡ mình:

    – Ăn quả nhớ người trồng cây: nhớ ơn tổ tiên, ông bà.

    – Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy: nhớ ơn ông bà cha mẹ và người thầy.

    – Uống nước nhớ nguồn: luôn ghi nhớ công ơn, tổ tiên, gốc rễ.

    – Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.

    – Chim có tổ, người có tông:

    – Lá rụng về cội.

    – Ơn trả nghĩa đền : phải biết ơn, ghi nhớ công ơn, đền đáp những người đã giúp đỡ

    mình.

    – Ơn sâu nghĩa nặng : ghi nhớ công ơn những người đã giúp đỡ mình

    – Tiên học lễ, hậu học văn : trước hết phải biết đạo lí, học cách đối nhân xử thế rồi

    sau đó mới học kiến thức.

    – Kính lão, đắc thọ : Tôn trọng, yêu quý người già thì được sống lâu.

    – Kính già, già để tuổi cho.

    – Tối lửa tắt đèn : mối quan hệ thân thuộc giữa hàng xóm, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn.

    Ca dao tục ngữ thể hiện lòng kính trọng người thầy.

    – Không thầy đố mày làm nên.

    – Tôn sư trọng đạo: kính trọng thầy và coi trọng những kiến thức, cái đạo của thầy

    truyền lại, theo nho giáo.

    – Nhất tự vi sư, bán tự vi sư : một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.

    – Một chữ nên thầy: đồng nghĩa với nhất tự vi sư bán tự vi sư.

    – Trọng thầy mới được làm thầy: phải kính trọng thầy thì mới có thể nhận được sự

    8

    kính trọng từ người khác.

    – Tầm sư học đạo: tìm thầy, tìm người giỏi để theo học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 101+ Hình Ảnh Kèm Câu Nói Hay Về Đứa Bạn Thân Sâu Sắc & Ý Nghĩa
  • 30 Lời Chúc Ngủ Ngon Cho Bạn Gái Lãng Mạn Nhất
  • Chùm Stt Thất Vọng Về Đàn Ông, Buồn Não Nề Hay, Sâu Sắc Nhất
  • Tổng Hợp Những Stt Đểu Và Chất Về Tình Yêu
  • 60 Lời Chúc Ngày Của Mẹ Hay, Ý Nghĩa Nhất
  • ‘tục Ngữ Phong Dao’: Di Sản Văn Hóa Dân Gian Của Dân Tộc Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh Và Món Ăn 3 Miền Việt Nam
  • Đình Làng Trong Tâm Thức Văn Hóa Việt
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giao Tiếp, Ăn Nói, Ứng Xử Hay Nhất
  • Thơ Hán Về Hoa Sen
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hoa, Hoa Sen, Hoa Phượng, Hoa Mai, Hoa Đào, Hoa Hồng Hay Nhất
  • Bộ sách “Tục ngữ phong dao” dù ra đời đã lâu, đến nay vẫn được phổ biến rộng rãi, được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu và viết về tục ngữ ca dao Việt Nam.

    Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội năm 1988: Tục ngữ là câu ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của nhân dân; phong dao là những bài ca dao cổ.

    Những câu tục ngữ như “Tối như đêm ba mươi”, “Tiễn ông Táo lên chầu trời”, “No ba ngày tết, đói ba tháng hè”… đều đi sâu vào đời sống nhân dân, được truyền từ đời này sang đời khác. Cũng có nhiều câu nói dần bị mai một, rồi biến mất, đó là điều rất đáng tiếc.

    Ý thức được việc gìn giữ di sản quý giá của dân gian, nhiều cuốn sách về tục ngữ phong dao đã được biên soạn, như An Nam phong thổ thoại của cụ Thiên Bản cư sĩ Trần Tất Văn; Thanh Hóa quan phong sử của cụ Vương Duy Trinh; Đại Nam quốc túy của cụ Sự Sự Trai Ngô Giáp Đậu; Tục ngữ An Nam của cụ Triệu Hoàng Hòa; Nam ngạn trích cẩm của Phạm Quang Sán; Gương phong tục của Đoàn Duy Bình; …

    Tuy nhiên, những sách này được biên soạn hoặc không theo trật tự nào, hoặc đối nhau thì hai câu một, hoặc chia ra từng mục như trời đất, năm tháng, tiền của, văn học; hay từng thiên như Sơn Tây, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thừa Thiên; từng chương như Tống Sơn, Nga Sơn, Hoằng Mỹ, Hậu Lộc;… Trong thực trạng đó, Nguyễn Văn Ngọc vẫn ấp ủ và khao khát tập hợp di sản tục ngữ phong dao của Việt Nam thành một cuốn sách có hệ thống, có tác dụng lưu giữ cho tương lai.

    Sách Tục ngữ phong dao được in lần đầu tiên tại Vĩnh Hưng Long thư quán, năm 1928. Cuốn sách tập hợp các sáng tác ca dao, tục ngữ, câu đố, câu đối…., được phân chia theo thể loại rõ ràng, mạch lạc. Trong mỗi thể loại, các bài lại được sắp xếp theo vần, trong mỗi vần lại được chia theo số chữ, vô cùng cẩn thận, tỉ mỉ, giúp độc giả dễ theo dõi.

    Đầu năm 2022, cuốn sách được tái bản lại, với diện mạo mới, đồng thời bổ sung thêm những chú thích, dị bản, giúp độc giả có cái nhìn đa dạng hơn về một nền văn hóa dân gian đồ sộ của dân tộc.

    Trong bản in mới, Tục ngữ phong dao được chia thành 2 tập. Tập 1 thuộc về thể phương ngôn, tục ngữ từ ba chữ đến hai mươi chữ; tập 2 thuộc về thể phong dao, từ bốn câu trở lên.

    Tục ngữ phong dao có khoảng gần 6.500 câu và 850 bài, với gần 700 trang sách dày dặn, được xem là một kho vàng chung của nhân loại. Theo nhà nghiên cứu Lê Thanh Hiền, cuốn sách là “tập hợp đầu tiên những giá trị tinh thần do các thế hệ người lao động Việt Nam sáng tạo và truyền khẩu qua hàng nghìn năm, được sưu tầm, biên soạn nghiêm túc ấn thành văn bản”.

    Việc tập hợp, biên soạn, hệ thống tục ngữ ca dao của Nguyễn Văn Ngọc, theo ông, “cốt ở một điều là cứ theo như cái phong trào có mới nới cũ ngày nay, ai là người đã lưu tâm đến quốc văn quốc túy mà không lo sợ rằng những câu lý thú tối cổ của ông cha để lại, mà tức là cái kho vàng chung cho cả nhân loại nếu không chịu mau mau thu nạp, giữ gìn lấy, thì rồi tất mỗi ngày một sai suyễn, lưu lạc đi thực rất là đáng tiếc. Cho nên chúng tôi quả không dám kén chọn lựa lọc, san Thi gì”.

    Bởi kho tàng tục ngữ ca dao của dân tộc quá đồ sộ, đồng thời cũng có mong muốn tập hợp được càng nhiều càng tốt, nên ở cuốn sách, Nguyễn Văn Ngọc chú trọng và việc thu thập thật nhiều câu, có khi không phân biệt rõ ràng thế nào là thành ngữ, tục ngữ, lý ngữ, sấm ngữ, mê ngữ, phương ngôn, đồng dao, ca dao hay phong dao.

    Tác giả cho rằng, “đối với công việc sưu tập bây giờ, thiết tưởng ta còn phải quý hồ đa trước rồi nhiên hậu mới có nơi khảo cứu mà quý hồ tinh được.”

    Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục trong bài viết Triết học bình dân trong tục ngữ phong dao đã viết tục ngữ phong dao “phản chiếu một cách trực tiếp và trung thành những cảm nghĩ của nhân dân sinh sống hàng ngày trong nhân quần xã hội và tiếp xúc với cảnh vật trong hoàn cảnh thiên nhiên. Như vậy thì tục ngữ phong dao chứa đựng những kinh nghiệm thực tế, những lẽ phải phổ thông của dân tộc. Chúng còn có ý nghĩa hơn là ngôn ngữ nói chung, vì đó là những cảm nghĩ đã trải qua kinh nghiệm và suy luận của đại chúng. Nếu phân tích ngôn ngữ có thể tìm ra một triết lý bình dân Việt Nam, thì nghiên cứu tục ngữ phong dao càng làm cho ta thấy cái triết lý ở một trình độ cao hơn và phong phú hơn nhiều.”

    Cũng bởi thế, việc sưu tầm, biên soạn và lưu giữ di sản tục ngữ phong dao của dân tộc là việc là có ý nghĩa quan trọng, “để vun trồng cho các học văn Việt Nam của tổ tiên xưa được chắc rễ, bền cây”, đồng thời góp phần phát triển ngôn ngữ Việt hiện đại đa dạng, phong phú.

    Bộ sách Tục ngữ phong dao dù ra đời đã lâu, đến nay vẫn được phổ biến rộng rãi, được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu và viết về tục ngữ ca dao Việt Nam.

    Nguyễn Văn Ngọc (1/3/1890 – 26/ 4 /1942) tự Ôn Như là nhà văn, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam.

    Nguyễn Văn Ngọc có lòng say mê đặc biệt với văn hóa, văn học phương Đông, nhất là văn hóa, văn học dân tộc. Ông cho ra đời nhiều cuốn sách bằng tiếng Hán, tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ. Ông tham gia biên soạn các sách giáo khoa như Phổ thông độc bản, Phổ thông độc bản lớp đồng ấu, Luân lý giáo khoa thư, Giáo khoa văn học An Nam, Đông Tây ngụ ngôn. Về khảo cứu, Nguyễn Văn Ngọc có Cổ học tinh hoa, Nam thi hợp tuyển, Đào nương ca, Truyện cổ nước Nam, Ngụ ngôn, Tục ngữ phong dao…

    --- Bài cũ hơn ---

  • 30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Mang Đậm Triết Lí Nhân Sinh Về Cuộc Sống
  • 30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Mang Đậm Triết Lí Nhân Sinh Sâu Sắc Về Cuộc Sống
  • Những Câu Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội
  • Sưu Tầm, Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ Vào Giảng Dạy Phần Triết Học Trong Môn Giáo Dục Công Dân
  • Triết Lý Biện Chứng Trong Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam Và Việc Vận Dụng Vào Dạy Học Triết Học
  • Biết Một Số Ca Dao Tục Ngữ Ca Ngợi Đạo Pháp, Quê Hương, Đất Nước, Dân Tộc, Thiên Nhiên

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Vần Thơ Nhân Ái
  • 100+ Stt Yêu Đời Vui Tươi Ngắn Gọn Ý Nghĩa Nhất
  • 💘 Stt Người Lính, Cap Hay Về Bộ Đội, Quân Sự Chất
  • Cap Hay Về Tình Yêu Đơn Phương – Mỗi Câu Nói Là Một Nỗi Buồn!
  • 999+ Stt Yêu Xa Cảm Động Nhất Giúp Các Cặp Đôi Có Thêm Niềm Tin
  • BIẾT MỘT SỐ CA DAO TỤC NGỮ

    CA NGỢI ĐẠO PHÁP, QUÊ HƯƠNG,

    ĐẤT NƯỚC, DÂN TỘC, THIÊN NHIÊN

     

    I. Mục đích:

    -Cung cấp kiến thức về ca dao tục ngữ ca ngợi Đạo pháp, quê hương dân tộc, thiên nhiên cho các em.

    – Giáo dục tình cảm tôn thờ Đạo pháp, tình yêu quê hương đất nước, dân tộc, thiên nhiên… Kỹ năng sống cho các em.

    – Rèn luyện kỹ năng cảm thụ văn học

    II. Nội dung:

    1. Vào bài: Trong những bậc học trước, các em đã biết đề tài, nội dung của ca dao,tục ngữ vô cùng phong phú, đa dạng. Bài học này sẽ giúp các em củng cố kiến thức đồng thời biết thêm những nội dung mới như ca ngợi Đạo pháp, quê hương đất nước dân tộc…

    2.Ca ngợi Đạo pháptrước hết là ca ngợi đạo hiếu. Em hãy cho biết một số câu ca dao (hoặc tục ngữ) có nội dung này?

    + “ Phật dạy chữ Hiếu làm đầu,

    Ai mà giữ được đạo mầu mới trao”

    + “ Quý thay đức Mục kiền Liên,

    Treo gương hiếu thảo muôn nghìn thiên thu”

    _Em hãy nêu một lời dạy của Đức Phật về mối quan hệ này?

    “ Gặp thời không có Phật thì thờ cha mẹ là thờ Phật vậy”

    _Bên cạnh ca ngợi đạo hiếu, Đạo Pháp còn là ca ngợigì nữa?

    + Ca ngợi giáo lý vi diệu của Đức Từ phụ (Phật-Pháp). Cho dẫn chứng?

    + Ca ngợi cảnh trí trang nghiêm, thanh tịnh chốn thiền môn (Tăng, Chùa). Cho dẫn chứng?

    Mái chùa hồn nước hồn non

    Hồn dân tộc Việt chon von mái chùa

    Nước non thuận gió hoà mưa

    Dân an nước thịnh mái chùa thêm xinh.

    Đại ý: Đạo pháp luôn gắn liền với đời sống tinh thần của quê hương đất nước, mái chùa luôn là biểu tượng của truyền thống dân tộc trong việc giữ gìn sự hoà hiếu và mang lại đời sống tinh thần bình an, hạnh phúc và ấm no.

    Ca dao ca- ngợi Đạo pháp cũng gần gũi gắn bó với tình cảm yêu quê hương đất nước, dân tộc, thiên nhiên.v.v..Hãy tìm những bài ca dao (hoặc tục ngữ) nói về những đề tài nầy?

    + “ Gió đưa cành trúc la đà,

    Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Cương”.

    + “ Trước bến Vân Lâu,

    Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm,

    Ai thương ai cảm ai nhớ ai trông…

    Thuyền ai thấp thoáng bên sông,

    Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.”

    +“ Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm,

    Rượu Hồng đào chưa nhắm đã say”

    3.Kết luận:

    *Ca dao tục ngữ ca ngợi Đạo pháp, quê hương đất nước dân tộc, thiên nhiên rất nhiều và có mối quan hệ Vì lịch sử Phật giáo, lịch sử dân tộc, nền văn học Việt Nam đã quá lâu đời, song song hình thành, tồn tại và phát triển.

    – Đạo pháp và dân tộc Việt Nam hòa quyện.Thiên nhiên,quê hương, đất nước Việt Nam chan hòa, tình tự1.

    -Cung cấp kiến thức về ca dao tục ngữ ca ngợi Đạo pháp, quê hương dân tộc, thiên nhiên cho các em.- Giáo dục tình cảm tôn thờ Đạo pháp, tình yêu quê hương đất nước, dân tộc, thiên nhiên… Kỹ năng sống cho các em.- Rèn luyện kỹ năng cảm thụ văn học: Trong những bậc học trước, các em đã biết đề tài, nội dung của ca dao,tục ngữ vô cùng phong phú, đa dạng. Bài học này sẽ giúp các em củng cố kiến thức đồng thời biết thêm những nội dung mới như ca ngợi Đạo pháp, quê hương đất nước dân tộc…trước hết là ca ngợi đạo hiếu. Em hãy cho biết một số câu ca dao (hoặc tục ngữ) có nội dung này?+ “ Phật dạy chữ Hiếu làm đầu,Ai mà giữ được đạo mầu mới trao”+ “ Quý thay đức Mục kiền Liên,Treo gương hiếu thảo muôn nghìn thiên thu”_Em hãy nêu một lời dạy của Đức Phật về mối quan hệ này?“ Gặp thời không có Phật thì thờ cha mẹ là thờ Phật vậy”_Bên cạnh ca ngợi đạo hiếu, Đạo Pháp còn là ca ngợigì nữa?+ Ca ngợi giáo lý vi diệu của Đức Từ phụ (Phật-Pháp). Cho dẫn chứng?+ Ca ngợi cảnh trí trang nghiêm, thanh tịnh chốn thiền môn (Tăng, Chùa). Cho dẫn chứng?Mái chùa hồn nước hồn nonHồn dân tộc Việt chon von mái chùaNước non thuận gió hoà mưaDân an nước thịnh mái chùa thêm xinh.: Đạo pháp luôn gắn liền với đời sống tinh thần của quê hương đất nước, mái chùa luôn là biểu tượng của truyền thống dân tộc trong việc giữ gìn sự hoà hiếu và mang lại đời sống tinh thần bình an, hạnh phúc và ấm chúng tôi dao ca- ngợi Đạo pháp cũng gần gũi gắn bó với.v.v..Hãy tìm những bài ca dao (hoặc tục ngữ) nói về những đề tài nầy?+ “ Gió đưa cành trúc la đà,Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Cương”.+ “ Trước bến Vân Lâu,Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm,Ai thương ai cảm ai nhớ ai trông…Thuyền ai thấp thoáng bên sông,Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.”+“ Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm,Rượu Hồng đào chưa nhắm đã say”*Ca dao tục ngữ ca ngợi Đạo pháp, quê hương đất nước dân tộc, thiên nhiên rất nhiều và có mối quan hệ Vì lịch sử Phật giáo, lịch sử dân tộc, nền văn học Việt Nam đã quá lâu đời, song song hình thành, tồn tại và phát triển.- Đạo pháp và dân tộc Việt Nam hòa quyện.Thiên nhiên,quê hương, đất nước Việt Nam chan hòa, tình tự1.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoa Và Mùa Xuân Trong Thi Ca Việt
  • Chọn Lọc Những Câu Cao Dao Việt Nam Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Americans Missing In Action In Southeast Asia
  • Cuộc Thi “Nét Chữ Từ Trái Tim”: “Em Yêu Tổ Quốc” Là Bài Thơ Được Các Em Thiếu Nhi Viết Nhiều Nhất
  • Đặc Sắc Tục Ngữ, Ca Dao Cao Lan
  • Tuyển Chọn Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Nguồn Gốc Của Tục Ngữ Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Viết Báo Tường Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • 317. Ca Dao, Tục Ngữ Và Lịch Sử Việt
  • Nét Đẹp Văn Hóa Từ Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Ở Phú Xuyên
  • Tuyển chọn tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam

    Nhà xuất bản: NXB Thời đại

    Tác giả: Phúc hải

    Năm xuất bản: 2014

    Số trang: 523

    Khổ sách: 14.5×20.5 cm

    Dạng bìa: Bìa cứng

    Tuyển chọn tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam tác phẩm đặc sắc mang giá trị nhân văn lớn

    Nhắc tới ca dao, tục ngữ của nhân dân ta thì đó phải kể tới một kho tàng văn hóa với giá trị quan trọng. Đối với các bạn trẻ càng cần tiếp cận và thấu hiểu những giá trị này từ những người đi trước để kho tàng này không bị mai một đi theo thời gian. Tác giả Phan Hải đã tuyển chọn và làm nên cuốn sách ý nghĩa này: Tuyển chọn tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam xứng đáng được đón nhận bởi những giá trị mà nó mang lại cho mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là vô cùng cần thiết với các bạn trẻ.

    Tuyển chọn tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam cuốn sách tập hợp những giá trị văn hóa của nhân dân ta.

    Sau thời gian sưu tập, biên soạn tác giả đã cho ra đời bộ sách với phương diện khá đầy đủ những câu ca dao, tục ngữ của nhân dân ta. Cuốn sách bao gồm 3 phần:

    Phần I. Ca dao

    Phần II. Tục ngữ

    Phần III. Dân ca.

    Mỗi phần gồm rất nhiều các câu ca dao, dân ca, tục ngữ của cha ông ta để lại. Ý nghĩa của nó giúp chúng ta cảm nhận sâu sắc về cuộc sống, tình người, tình yêu, gia đình, xã hội..từ đó giúp chúng ta đúc rút ra được các bài học để rèn luyện bản thân trở thành những con người có trách nhiệm với gia đình và xã hội, những con người có một tâm hồn trong sáng, lương thiện. Đồng thời cuốn sách cũng nhắc nhở thế hệ trẻ ngày nay không được quên đi cội nguồn, truyền thống của dân tộc.

    Ý nghĩa sâu sắc của từng câu ca dao, tục ngữ, dân ca:

    Ca dao, tục ngữ, dân ca truyền miệng của Việt Nam, có sắc thái độc đáo, khó sánh được. Mỗi câu từ đềud mênh mông kỳ thú, phản ánh nếp sống, lối suy nghĩ của dân tộc Việt trải qua 4000 năm văn hiến.

    Một dân tộc văn minh, nhiều nghị lực, dũng cảm, đầy thi vị. Ca dao tục ngữ là niềm tự hào to lớn của dân tộc Việt Nam. Không phải dân tộc nào cũng có được văn chương và thi sĩ tính như thế. Non nước Việt Nam đẹp nghìn thu, vô song. Người nước Việt cũng khác thường. Trải qua nhiều thời đại, kho tàng văn chương bình dân Việt Nam càng phong phú, súc tích với biết bao câu tục ngữ, ca dao, những câu hát điệu hò muôn hình muôn vẻ.

    Dân ca là ca dao đã được dân gian hát và hò qua nhiều thể điệu đặc thù của từng địa phương. Ca dao, tục ngữ, kho tàng văn học phong phú, là kiến thức vô giá. Ca dao thể hiện nghệ thuật sống đẹp, phong tục tập quán, tín ngưỡng. Ca dao đầy tình nghĩa : Tình cảm trai gái, vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh em, tình cảm giữa con người với thiên nhiên, cây cối loài vật. Ca dao, tục ngữ, dân ca đặc cao giá trị nếp sống của con người tự do xã hội chủ nghĩa.

    Ca dao bảo vệ chân thiện mỹ, đề cao cái đẹp cái hay, chỉ trích cái xấu trong xã hội loài người. Ca dao tục ngữ là một hành trình tìm về cội nguồn của nước Việt Nam mến yêu. Đọc ca dao để thấy khí thiêng sông núi Việt, đọc ca dao để thấy tinh thần hiện hữu, bản sắc dân tộc của dân tộc Việt. Thấy ra ý thức dân tộc và sức mạnh tinh thần của người Việt, thấy cái tinh thần kháng chiến quật cường của người Việt, nhất định không chịu đồng hoá.

    Hãy đọc Tuyển chọn tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam để thấy thông điệp của tiền nhân để muôn đời cho dân con nước Việt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thơ Ca Về Biển Đảo: Sẵn Sàng Khi Tổ Quốc Gọi Tên!
  • Biển Đảo Trong Tục Ngữ, Ca Dao Ở Hội An
  • Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Về Ngày 20/11 Đầy Đủ Và Ý Nghĩa
  • Danh Sách Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Một Số Câu Ca Dao, Tục Ngữ Thường Được Vận Dụng Trong Hòa Giải Ở Cơ Sở
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Kế Thừa Và Phát Huy Truyền Thống Tốt Đẹp Của Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Xuân ❤️ Thành Ngữ Mùa Xuân Hay
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Ngày Tết Hay Nhất
  • Thành Ngữ Tục Ngữ Lớp 5 ❤️️ Ca Dao Tục Ngữ Hay Nhất
  • Tổng Hợp Thơ, Danhh Ngôn, Tục Ngữ Hài Hước Vô Đối
  • Tổng Hợp Những Câu Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa
  • Nhan loại loài người trải qua rất nhiều các thời kỳ khác nhau với mỗi thời kỳ đều có những nét văn hóa và thành tựu trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Và thế hệ sau phải kế thừa những thành quả đó và tiếp tục phát huy nó phát triển và tiền bộ nhiều hơn nữa. Đặc biệt ở nước ta là 1 nước đang phát triển thì sự kế thừa đó rất cần thiết. Nhưng kế thừa cũng phải có chọn lọc và phù hợp với xu hướng của xã hội. Vì nhiều cái không còn phù hợp với xã hội hiện tại mà chúng ta vẫn áp dụng vào thực tế thì nó không mang lại hiệu quả cao thậm chí còn có những tác động ngược lại. Những câu ca dao tục ngữ về kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ý nghĩa nhất

    Dân tộc ta từ bao nay có truyền thống yêu nước, chăm chỉ, siêng năng cần cù, kiên trung, yêu thương và giúp đỡ mọi người,…. Bởi những đức tính ấy mà chúng ta sống trong cuộc sống độc lập tự do, cuộc sống hòa bình và yêu thương nhau. Cuộc sống của chúng ta ngày càng hiện đại, sáng tạo và đi vào quá trinh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng hoàn thiện. những truyền thống tốt đẹp ấy đã được cha ông truyền lại bao đời nay cho chúng ta và chúng ta phải kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp ấy của dân tộc mà ông cha ta để lại.

    Dân tộc Việt Nam có rất nhiều nét văn hóa truyền thống rất hay và tót đẹp cần được duy trì và phát triển

    Những câu ca dao tục ngữ về kế thường và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc thể hiện mọi truyền thống tốt đẹp của dân tộc. những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta như truyền thống yêu nước, chăm chỉ, siêng năng cần cù, kiên trung, yêu thương và giúp đỡ mọi người,…. Chúng ta cần tiếp thu, kế thường để phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. chúng ta cùng đi tìm hiểu những câu ca dao tục ngữ về kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc để hiểu rõ hơn về truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

    Những câu tục ngữ về kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc:

    Câu 1:

    Ông bà ta từ xưa đã có truyền thống thờ cũng tổ tiên, ông bà để thể hiện tình yêu thương ông bà, tưởng nhớ tổ tiên và nhớ về cội nguồn. Câu tục ngữ trên thể hiện tinh thần kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc.Truyền thống yêu thương, nhớ ơn ông bà được thể hiện qua câu tục ngữ trên.

    Câu 2:

    Một trong những truyền thống tốt đẹp mà ông bà ta để lại là những phẩm chất đạo đức tốt đẹp như trung kiên, dũng cảm, cần cù, siêng năng,… Câu tục ngữ trên thể hiện truyền thống tốt đẹp của ông bà ta là phẩm chất lòng tự trong. Câu tục ngữ có ý nghĩa rằng dù cuộc sống có khó khăn gian khổ, thiếu thốn về vật chất thì con người không đánh mất lòng tự trọng hay danh dự của mình.

    Câu 3:

      Cây có cội, nước có nguồn.

    Truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta từ bao đời nay là truyền thống thờ cúng và nhớ về công ơn ông bà ta. Câu tục ngữ đã thể hiện rõ truyền thống tốt đẹp ấy và nhân dân ta đã kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp ấy đã được phát huy.

    • Chim có tổ, người có tông.
    • Một người làm nên cả họ được nhờ- Một người làm bậy cả họ xấu lây.
    • Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh.
    • Khôn từ trong trứng khôn ra.
    • Bà con vì tổ vì tiên, không phải vì tiền vì gạo.Con hơn cha là nhà có phúc
    • Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ
    • Anh em như thể tay chân
    • Lành thì huynh đệ rách thì chém nhau
    • Ăn vóc học hay
    • Nhất tự vi sư bán tự vi sư
    • Tiên học lễ hậu học văn
    • Nói gần nói xa chẳng qua nói thật

    Những câu ca dao tục ngữ về về kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc:

    Câu 1:

    • Con người có cố có ông
    • Như cây có cội như sông có nguồn.

    Truyền thống tốt đẹp của ông bà ta xưa để lại là nhớ ơn tổ tiên, yêu thương cha mẹ. truyền thống tốt đẹp này đã được chúng ta ngày nay kế thừa và phát huy một cách hiệu quả. Sự kế thừa và phát huy này thể hiện tinh thần nhớ ơn tổ tiên, yêu thương ông bà và cha mẹ.

    Câu 2:

    • Đói lòng ăn đọt chà là,
    • Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.

    Tình cảm yêu thương đối với ông bà cha mẹ, tình yêu thương ấy được ông bà ta dạy qua bao thế hệ. yêu thương ông bà cha mẹ để thể hiện lòng hiếu thảo, lòng yêu thương đối với ông bà. Chúng ta hãy tiếp thu và phát huy truyền thống này của dân tộc.

      Gió mùa thu mẹ ru con ngủ

    Năm cánh chầy thức đủ năm canh.

      Đĩa nghiêng đựng nước sao đầy

    Lòng thương người nghĩa, cha mẹ rầy cũng thương.

      Nhìn lên nuột lạt mái nhà

    Nhà bao nhiêu nuột lạt nhớ ông bà bấy nhiêu

      Khôn ngoan đối (đá) đáp người ngoài

    Gà cùng một mẹ chới hoài đá nhau.

      Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Một lòng thờ mẹ kính cha

    Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

    Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

    Thương cha nhớ me quá chừng bạn ơi

    Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần

    Sớm thăm tối viến mới đành dạ con

    Bao nhiêu nuột lạc nhớ ông bà bấy nhiêu

      Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chìu

      Qua đình ngã nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu

      Muốn sang thì bắc cầu kiều

    Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy

    Gắng công ăn học có ngày thành danh

      Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

    Đừng như con bướm đậu rồi lại bay

      Ăn trông nồi ngồi trông hướng

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng.

    Con sãi ở chùa thì quét lá đa

    Con cãi cha mẹ trăm đường con hư

      Cười người chớ vội cười lâu

    Cười người hôm trước hôm sau người cười

    Chữ tài liền với chữ tai một vần

    Tay không làm nổi cơ đồ mới ngoan

      Cha mẹ sinh con, trời sinh tính

    Chín phương chìa một phương

    Rau răm ở lại chịu đời đắng cay

      Hoa thơm ai chẳng muốn đeo

    Người khôn ai nỡ cứ theo nặng lời

      Hoa thơm ai chẳng nâng niu

    Người khôn ai chẳng mến yêu mọi bề

    Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha

      Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

      Mười năm lưu lạc giang hồ

    Một ngày tu tỉnh, cơ đồ lại nên

      Mấy đời bánh đúc có xương

    Mấy đời mẹ ghẻ mà thương con chồng

      Mình về mình nhớ ta chăng

    Ta về ta nhớ hàm răng mình cười

    Trăm năm biết có duyên gì hay không

      Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng

      Muốn sang thi bắc cầu Kiều

    Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy

      Nói chín thì phải làm mười

    Nói mười làm chín kẻ cười người chê

    Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi

    Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng

    Ở rộng người cười, ở hẹp người chê

      Phượng hoàng ở chốn cheo leo

    Sa cơ lỡ vận phải theo đàn gà

      Bao giờ gió thuận mưa hòa

    Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng

      Phù thủy, thầy bói, lái trâu

    nghe ba người ấy đầu lâu không còn.

      Rồng thiêng uống nước ao tù

    Người khôn nói với người ngu bực mình

      Rượu lạt uống lắm cũng say

    Người khôn nói lắm, dẫu hay cũng nhàm

    Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu

    Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn,

      Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn,

    Hỏi ai gây dựng nên non nước này?

      Số giàu đem đến dửng dưng

    Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu

      Số giàu tay trắng cũng giàu

    Số nghèo chín đụm mười trân cũng nghèo

    Cây đa bến cũ, con đò khác đưa.

      Thuyền ai lơ lửng bên sông

    Có lòng đợi khách hay không hỡi thuyền.

    Ngàn năm bia miệng vẩn còn trơ trơ

    Xấu người đẹp nết, còn hơn đẹp người.

      Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

      Nhị vàng bông trắng lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

      Trứng rồng lại nở ra rồng

    Liu điu lại nở ra giòng liu điu

      Tay bưng dĩa muối chấm gừng

    Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ em

    Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày

    Ruột trong thì trắng vo

    Ai ơi nếm thử mà xem

    Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi

      Thân em như miếng cau khô

    Kẻ thanh chuộng mỏng, kẻ thô chuộng dày

      Thân em như cây quế giữa rừng

    Thơm tho ai biết ngát lừng ai hay

    Phòng khi mưa gió đi về chùi chân

    Chùi rồi lại vứt ra sân

    Gọi người hàng xóm có chân thì chùi

      Thôi thà đừng biết cho xong

    Biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu

      Thuyền ơi có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng nhớ thuyền

      Tiếc thay hột gạo trắng ngần

    Đã vo nước đục, lại vần than rơm

    Lấy nhau không đặng thương hoài ngàn năm.

      Trồng trầu thì phải khai mương

    Làm trai hai vợ phải thương cho đồng.

      Trách ai tính chuyện đa đoan

    Đã hái được mận lại toan bẻ đào

      Trách người quân tử vô danh

    Chơi hoa xong lại bẻ cành bán rao

      Trúc xinh trúc mọc đầu đình

    Em xinh em đứng một mình cũng xinh

      Thân tui thui thủi một mình

    Đêm đêm lạnh lẽo buồn tình lang thang

      Nếu ai nghĩ chuyện đá vàng

    Tôi xin được dạo cung đàn tình chung

    Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng

    Tay kia bắt cá, tay này bắt chim.

    Một tay cấy lúa, tay tìm hái rau

    Một tay ôm ấp con đau

    Một tay vo gạo, tay cầu cúng ma

    Một tay vung vãi đằng xa

    Một tay bếp núc cửa nhà nắng mưa

    Một tay quơ củi, muối dưa

    Một tay để vâng lệnh, để bầm thưa, đỡ đần

    Tay này mẹ giữ lấy con

    Tay nào lau nước mắt… mẹ còn thiếu tay!

    Nét truyền thống của mỗi dân tộc có thể rất khác nhau nhưng đa số đều hướng tới cái hoàn thiện cái hay cái đẹp sống tốt đời đẹp đạo. Hy vọng qua những câu ca dao tục ngữ trên thì các bạn hiểu hơn về văn hóa của nước ta và chung tay vào góp sức cho những nét văn hóa truyền thống đó ngày càng phát triển và đẹp hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Đạo Đức Qua Tục Ngữ, Thành Ngữ…
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giàu Nghèo, Đồng Tiền, Sức Mạnh Đồng Tiền Hay Nhất
  • Con Heo Trong Ca Dao, Thành Ngữ, Tục Ngữ
  • Sưu Tầm Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Hà Nội Hay
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hà Nội ❤️️ Những Câu Nói Hay Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100