Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Giao Tiếp, Lời Nói

--- Bài mới hơn ---

  • Stt Đợi Chờ Da Diết Vì Nỗi Nhớ Và Buồn Trong Tình Yêu
  • Stt Về Ngày Valentine 14/2 Hay, Ý Nghĩa Để Đăng Lên Facebook Dành Tặng Bạn
  • Những Status Thất Tình, Yêu Đơn Phương Buồn Chán Facebook Hay Nhất
  • 20 Nói Hay Trong Ngày Lễ Tình Yêu Valentine
  • Lời Chúc Hay Và Ý Nghĩa Ngày Valentine Những Lời Chúc Hay Cho Ngày Lễ Tình Yêu
  • Tỗng hợp những câu ca dao tục ngữ hay về giao tiếp, lời nói

    Có câu ca dao tục ngữ nào hay về giao tiếp, lời nói nhỉ?

    Ca dao tục ngữ hay về giao tiếp, lời nói

    1.

    Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà, có duyên

    2.

    Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng, dễ nghe

    Ca dao còn nhắc nhở, khuyên nhau khi nói phải lựa lời, chọn lời, cân nhắc ý tứ. Lời nói luôn có sẵn, đối với từng trường hợp cụ thể mà chúng ta dành những “lời hay ý đẹp” cho nhau. Có niềm vui nào hơn khi trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta luôn được nghe những lời nói đẹp, những lời nói hay, sâu sắc, để cho con người sống thương nhau hơn, gần gũi nhau hơn

    3.

    Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

    Câu ca dao nói về thái độ, lời nói của mỗi chúng ta khi giao tiếp: cần phải nhẹ nhàng, nói những lời lẽ đúng mức, lịch sự, để không gây khó chịu cho đối phương.

    4.

    Đất tốt trồng cây rườm rà

    Những người thanh lịch nói ra dịu dàng

    Câu tục ngữ có mối tương quan giữa đất trồng cây và cây trồng trong việc trồng trọt là đất tốt,cây sẽ tốt, đất rắn cây khẳng khiu. Từ thực tế đó, câu tục ngữ phản ánh một hiện tượng trong sinh hoạt xã hội lời ăn tiếng nói là sự thể hiện phong cách sống của mỗi người.

    5.

    Người thanh tiếng nói cũng thanh

    Chuông kêu chuông đánh bên thành cũng kêu

    Câu ca dao trên người xưa muốn nhắn nhủ với người đời về hình thức và nội dung của một con người hoàn hảo, đó là: người càng đẹp, càng lịch sự, càng tế nhị thì phải biết mềm dẽo, lịch sự, tế nhị trong giao tiếp, làm ngược lại thì dẫu đẹp đến dâu cũng dễ thất bại trong giao tiếp và quan hệ xã hội.

    6.

    Nói lời phải giữ lấy lời

    Đừng như con bướm đậu rồi lại bay

    Nói ra thì phải đảm bảo lời nói của mình là đúng,là chân thật ,là có đạo lý,là đảm bảo có văn hóa.Đặc biệt phải đảm bảo cho người khác tin tưởng tuyệt đối vào lời nói của mình.

    7.

    Nói chín thì phải làm mười

    Nói mười làm chín kẻ cười người chê

    Ý nghĩa của câu nói trên là: Nói ít, hứa hẹn ít mà chăm chỉ làm sẽ được mọi người yêu quý; còn nói nhiều, hứa hẹn nhiều mà lại làm ít thì chỉ là kẻ ba hoa, lười biếng, luôn bị dư luận cười chê.

    8.

    Người khôn ăn nói nửa chừng

    Để cho người dại nửa mừng nửa lo

    Người khôn theo nghĩa lớn là để giúp đời, theo nghĩa nhỏ thì chí ít phải có ý tưởng minh bạch về bất kể việc gì đó. Nhưng cách khôn của người Việt không vậy! Mục đích của cái khôn không phải thể trình ra quan niệm hay trí tuệ, mà là: để sống ưu thế hơn.

    9.

    Rượu lạt uống lắm cũng say

    Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm

    Câu này chuẩn nghĩa là rươu nhạt uống lắm cũng vẫn say. Người du có khôn nói lắm thì vẫn mắc lỗi như thường, chớ có nói lắm..năng nói là năng lỗi

    10.

    Kim vàng ai nỡ uốn câu

    Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời

    Đúng vậy, nói nhau làm chi nặng lời bởi trong tình huống nào cũng rất cần chữ”nhẫn”

    11.

    Phê phán điều đầu tiên phải xuất phát từ cái tâm, nhưng chỉ cái tâm thì không đủ, cần phải có kiến thức về loại hình mà mình muốn phê phán, còn cái kiểu phê phán nói lấy được, hoặc nói cho sướng miệng, thì quả thật… không còn gì để nói.

    12.

    Một câu nhịn bằng chín câu lành

    Trong mọi sự mâu thuẫn, xích mích với người khác, biết nhịn nhục là điều tốt nhất, vì nó sẽ mang đến mọi sự an ổn thay vì là hiềm khích, tranh chấp.

    13.

    Khôn ngoan, chẳng lọ nói nhiều,

    Người khôn, nói một vài điều cũng khôn.

    Người xưa quan niệm, nói nhiều chưa chắc là người có hiểu biết mà đôi khi làdo “thùng rỗng kêu to”

    14.

    Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.

    Năng lực giao tiếp được người Việt Nam xem là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá con người qua câu ca dao trên.

    15.

    Sảy chân, gượng lại còn vừa,

    Sảy miệng, biết nói làm sao bây giờ.

    Câu ca dao muốn nói chúng ta nên cẩn thận trong lời ăn tiếng nói, một khi vạ miệng thì rút lại không được nữa

    16.

    Chim ngu ăn mận ăn me

    Người ngu ăn nói chua lè mắm tôm

    Câu thơ ý muốn châm biếm những người ăn nói không lịch sự, tế nhị

    17.

    Hoa thơm ai chẳng nâng niu

    Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề

    Hai câu ca dao với ý nghĩa là hoa thơm thì được nhiều người yêu thích, giống với hình ảnh con người nói năng dịu dàng, lịch sự sẽ được nhìu người yêu mến.

    18.

    19.

    Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành.

    Lời nói là công cụ giao tiếp, lời nói thể hiện phẩm chất, trình độ của mỗi con người. Biết dùng lời nói thích hợp sẽ tạo được hiệu quả tốt trong giao tiếp. Vì vậy, chúng ta phải tự rèn luyện cách nói năng văn minh, lịch sự để đạt được mục đích như mong muốn.

    20.

    Một lời nói dối, sám hối bảy ngày.

    Câu này khuyên răn chúng ta không nên nói dối, vì khi bị lộ sẽ hối hận.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Về Tình Bạn Đểu Thâm Thúy Nghe Mà Thấm Lòng Người
  • Danh Ngôn Tiếng Anh Về Tiền Bạc Hay Nhất
  • 100 Lời Chúc Buổi Tối, Lời Chúc Đêm Khuya Hay Nhất
  • Những Lời Chúc Ngày Mới Cho Người Yêu Ngọt Ngào, Lãng Mạn, Đong Đầy Yê
  • Ôn Tập Về Thành Ngữ
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giao Tiếp, Ăn Nói, Ứng Xử Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Thơ Hán Về Hoa Sen
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hoa, Hoa Sen, Hoa Phượng, Hoa Mai, Hoa Đào, Hoa Hồng Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Dòng Họ Khỉ
  • Một Số Lễ Hội Mùa Xuân Qua Mấy Vần Ca Dao
  • 20 Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái Em Cần Gấp Trả Lời Trước 12 Giờ Tối Nay Câu Hỏi 104117
  • Ngay khi từ bé ở các trường mầm non hay cấp 1 luôn có 1 câu khẩu hiệu đó là Tiên học lễ, hậu học văn nhắm mong nhắc nhở mọi người về việc giao tiếp ăn nói lịch sự lễ phép trước tiên rồi mới tới việc học kiến thức ở trường. Trong thực tế loài người khi sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp đã có sự phát triển vượt trội hơn rất nhiều. Và nó là phương tiện để giao lưu văn hóa trên toàn thế giới. Tuy nhiên việc giao tiếp của con người cũng có rất nhiều điều để nói. Chính vì thế từ xã xưa các cụ đã có rất nhiều câu tục ngữ để nhắc nhở con cháu về giao tiếp ăn nói trong cuộc sống hằng ngày. Ca dao tục ngữ về giao tiếp hay và ý nghĩa nhất

    Trong cuộc sống của chúng ta ngày nay, thời đại công nghệ khoa học kĩ thuật hiện đại thì vốn giao tiếp của mỗi người rất là đáng quý và rất cần thiết. giao tiếp là một hình thức làm việc, một hình thức quan hệ xã hội của mỗi người cần phải có. Nhưng giao tiếp đúng cách không phải ai cũng hiểu rõ, không phải ai cũng biết, đây là một cách sống, cách thể hiện rất khó trong cuộc sống của chúng ta.

    Vấn đề giao tiếp ăn nói thì các bạn cần phải học hỏi rất nhiều và cần rút ra những bài học để có thể giao tiếp khôn khéo hợp lòng mọi người

    Giao tiếp trong cuộc sống, trong công việc là một thử thách vưới một số người, nhưng khi với một số người khác thì đó là một chuyện rất dễ dàng. Không phải ai cũng dễ dàng có được sự giao tiếp trong cuộc sống, hay sử dụng cách giao tiếp một cách đúng chỗ, một cách ý nghĩa và phù hợp với hoàn cảnh nhất. chúng ta cùng đi tìm hiểu ca dao tục ngữ về giao tiếp.

    Ca dao về giao tiếp:

    Câu 1:

    • Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
    • Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

    Câu ca dao trên nói về sự giao tiếp, khi giao tiếp cần lựa thời điểm, hoàn cảnh phù hợp để thể hiện sự giao tiếp của mình. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, người khôn khi nói tiếng dịu dàng dễ nghe thì sẽ được mọi người yêu mến và quý trọng.

    Câu 2:

    • Lời nói chẳng mất tiền mua
    • Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

    Lời nói là một hình thức giao tiếp của con người trong cuộc sống, khi con người nói ra phải chọn những lời lẽ phù hợp với hoàn cảnh, với thời điểm thì mới được vừa lòng mọi người, mới được mọi người yêu quý và quý mền, được tin yêu trong cuộc sống.

    Câu 3:

    • Kim vàng ai nỡ uốn câu
    • Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời

    Đây là câu ca dao nói về sự giao tiếp, cách ăn nói của con người trong cuộc sống. kim vàng không ai đi uốn câu và lời nói của người khôn không bao giờ nặng lời. chính vì thế mà khi người khôn nói chuyện với nhau không bao giờ cải vả nặng lời.

    Tổng hợp những câu ca dao về giao tiếp:

      Ngày thường chả mất nén hương

    Đến khi gặp chuyện ôm lưng thày chùa

      Cười người chớ vội cười lâu

    Cười người hôm trước hôm sau người cười

      Hoa thơm ai chẳng nâng niu

    Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề

      Đất tốt trồng cây rườm rà

    Những người thanh lịch nói ra dịu dàng

      Thổi quyên, phải biết chiều hơi,

    Khuyên người, phải biết lựa lời khôn ngoan.

      Rượu nhạt, uống lắm cũng say,

    Người khôn nói lắm, dẫu hay cũng nhàm.

      Roi song đánh đoạn thời thôi,

    Một lời xiết cạnh, muôn đời chẳng quên.

      Ăn lắm, thì hết miếng ngon,

    Nói lắm, thì hết lời khôn hóa rồ.

      Khôn ngoan, chẳng lọ nói nhiều,

    Người khôn, nói một vài điều cũng khôn.

      Vàng thời thử lửa, thử than,

    Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.

      Người thanh, tiếng nói cũng thanh,

    Chuông kêu, khẽ đánh bên thành cũng kêu.

      Sảy chân, gượng lại còn vừa,

    Sảy miệng, biết nói làm sao bây giờ.

      Vàng sa xuống giếng, khôn tìm,

    Người sa lời nói, như chim sổ lồng.

      Đất xấu, trồng cây ngẳng nghiu,

    Những người thô tục, nói điều phàm phu.

      Nói người, chẳng nghĩ đến ta,

    Thử sờ lên gáy, xem xa hay gần

      Đi hỏi già,về nhà hỏi trẻ

    Đi một ngày đàng học một sàng khôn

      Sang sông phải bắc cầu kiều

    Muốn con hay chữ phải yêu mến thầy

      Đất tốt trồng cây rườm rà

    Những người thanh lịch nói ra dịu dàng.

      Người thanh tiếng nói cũng thanh

    Chuông kêu, khẽ gõ bên thành cũng kêu.

    Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời ?

      Vàng thì thử lửa, thử than

    Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời…

      Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

      Sảy chân, gượng lại còn vừa,

    Sảy miệng, biết nói làm sao bây giờ.

      Vàng sa xuống giếng, khôn tìm,

    Người sa lời nói, như chim sổ lồng.

      Nói người, chẳng nghĩ đến ta,

    Thử sờ lên gáy, xem xa hay gần

      Ngày thường chả mất nén hương

    Đến khi gặp chuyện ôm lưng thầy chùa

      Cười người chớ vội cười lâu

    Cười người hôm trước hôm sau người cười

      Rượu nhạt, uống lắm cũng say,

    Người khôn nói lắm, dẫu hay cũng nhàm.

      Ăn lắm, thì hết miếng ngon,

    Nói lắm, thì hết lời khôn hóa rồ.

    Tục ngữ về giao tiếp:

    Câu 1:

    Câu tục ngữ nói về vai trò và tầm quan trọng của giao tiếp, của lời ăn tiếng nói. Khi chỗ đông người thì lời chào còn cao hơn mâm cỗ, có nghĩa là nó quan trọng hơn mâm cỗ, quý trọng hơn mâm cỗ mà chúng ta tham dự. ý nghĩa của lời ăn tiếng nói rất là quan trọng.

    Câu 2:

      Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành.

    Trong giao tiếp lời ăn tiếng nói của con người rất là quan trọng, là cách giao tiếp, thể hiện trong cuộc sống. nhưng quan trọng hơn trong giao tiếp là những lời nói đúng, thẳng thắng, trung thực. những lời nói đúng, những lời nói thẳng thắng trung thực thì mọi điều tốt lành sẽ đến với chúng ta.

    Câu 3:

    Đây là câu tục ngữ nói về miệng lưỡi, người ta thường nói lưỡi không xương muôn đường lắc léo. Chính vì thế mà câu tục ngữ nói rằng miệng lưỡi còn sắc bén hơn gươm. Khi lời nói nói ra còn sắc hơn khi gươm, khẳng định ý nghĩa và giá trị của miệng lưỡi.

    Tổng hợp những câu tục ngữ về giao tiếp:

    • -Kính trên, nhường dưới
    • Lời nói, gói vàng.
    • Một lời nói dối, sám hối bảy ngày.
    • Ăn có nhai, nói có nghĩ.

    Ăn bớt bát, nói bớt lời.

    • Đa ngôn, đa quá.
    • Lời nói đọi máu.
    • Chim khôn, tiếc lông,

    Người khôn, tiếc lời.

    • Lời nói, không cánh mà bay.
    • Có đi có lại mới toại lòng nhau
    • Kính lão đắc thọ
    • Tôn trọng người khác cũng là tôn tọng chính mình
    • Một câu nhịn bằng chín câu lành
    • Một điều nhịn, chín điều lành
    • Mất lòng trước, được lòng sau

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đình Làng Trong Tâm Thức Văn Hóa Việt
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh Và Món Ăn 3 Miền Việt Nam
  • ‘tục Ngữ Phong Dao’: Di Sản Văn Hóa Dân Gian Của Dân Tộc Việt
  • 30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Mang Đậm Triết Lí Nhân Sinh Về Cuộc Sống
  • 30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Mang Đậm Triết Lí Nhân Sinh Sâu Sắc Về Cuộc Sống
  • Giọng Nói Giao Tiếp Trong Tục Ngữ Người Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Đạo Đức
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Khỉ
  • Mùa Xuân Đất Việt Qua Ca Dao Và Tục Ngữ (Trường Thy)
  • Danh Ngôn Về Pháp Luật – Công Lý – Luật Sư
  • Những Địa Danh Sài Gòn (2)
  • Con người sáng tạo ra ngôn ngữ và nó trở thành phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người. Trong quá trình vận dụng, người ta luôn có ý thức chú ý đến việc tổ chức lời nói sao cho đạt hiệu quả cao trong quá trình ngôn giao. Ngay từ thuở xa xưa, khi chưa có các ngành khoa học về ngôn ngữ, ông cha ta đã đúc kết những kinh nghiệm vận dụng lời ăn tiếng nói của mình trong tục ngữ và cho đến nay, những kinh nghiệm này vẫn còn nguyên giá trị. Cho dù chỉ mới là kinh nghiệm, nhưng tính triết lí ngôn giao dân gian đó vẫn giàu sức thuyết phục và sống mãi với thời gian. Đấy là vì nó thể hiện cái logic của mình một cách hình tượng, hàm súc, đậm hơi thở của cuộc sống cùng sự trải nghiệm từ chính thực tế nói năng. Đằng sau mỗi câu tục ngữ, đằng sau những hình ảnh, những kinh nghiệm khái quát từ chính cuộc sống ấy là bản sắc văn hoá, là phong cách sống, là lối nói, giọng nói, cách nghĩ của người Việt.

    Tác dụng của lời ăn tiếng nói

     

    Trước hết, nhân dân ta nhận thức rõ tầm quan trọng và giá trị của lời ăn tiếng nói. Ngôn ngữ là công cụ dùng để giao tiếp. Nhưng khi sử dụng ngôn ngữ, người ta  không chỉ thuần tuý chuyển tải thông tin khách quan mà còn nhằm tác động vào đối tượng, chinh phục đối tượng hoặc thể hiện sự đánh giá tình cảm của mình… Ngôn ngữ có sức mạnh thật diệu kì. Nó có thể làm cho con người gần gũi, gắn bó (“Lời nói nên vợ nên chồng”) hay mãi cách xa. Nó có thể làm cho chúng ta yêu thương hay căm giận. Nó có thể làm cho đối tượng tham gia giao tiếp phơi phới yêu đời hoặc dằn vặt, đau đớn (“Lời nói đau hơn roi vọt“) hay tiếc nuối, day dứt khôn nguôi (“Miếng ngon nhớ lâu, lời đau nhớ đời“). Nó có thể gây nên chiến tranh (“Khẩu thiệt đại can qua“) mà cũng có khả năng làm “sóng yên biển lặng“…Vì thế, khi nói về giá trị của lời ăn tiếng nói, nhân dân ta đã dùng những hình ảnh biểu trưng cho sự quý giá để so sánh như: “Lời nói, gói vàng”; “Lời nói quan tiền tấm lụa”… thậm chí rất cần thiết cho sự sống: “Một lời nói, một đọi máu“. Giá trị càng cao thì người sở hữu càng phải trân trọng, giữ gìn khi vận dụng bởi:

     

    “Vàng sa xuống giếng khôn tìm,

     

    Người sa lời nói như chim sổ lồng”

     

    Không biết kiểm soát ngôn từ, nói không đúng chỗ, lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ  không hợp lí, không phù hợp với đối tượng, không diễn đạt chính xác tâm tư tình cảm của mình thì có thể gây nên những hậu quả khôn luờng. Bởi vì dù “Lời nói gió bay” nhưng có thể “há miệng mắc quai” do “Một lời đã trót nói ra, dù rằng bốn ngựa khó mà đuổi theo”;  “Sẩy chân đã có ngọn sào, sẩy miệng biết nói làm sao bây giờ“.

    Bài học về sự vận dụng ngôn từ

     

    Ngôn ngữ có sức mạnh rất to lớn nhưng không vì thế mà bộ phận tục ngữ phản ánh những kinh nghiệm nói năng chỉ coi trọng đến việc “điều câu khiển chữ“, đến hình thức của lời nói. Người ta thừa nhận cái logic “Nói ngọt lọt đến xương” nhưng cũng khẳng định một thực tế “Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”; “Gươm hai lưỡi miệng trăm hình”, “Lưỡi mềm độc quá con ong“…Do đó, tục ngữ còn phản ánh yêu cầu cao về  tính chân thật của lời nói; lời nói phải đi đôi với việc làm: “Nói chín thì phải làm mười, nói mười làm chín kẻ cười người chê”, “Nói lời thì giữ lấy lời, đừng như con bướm đậu rồi lại bay”. Ở đây dường như có sự mâu thuẫn. Một mặt, tục ngữ đề cao sức mạnh của lời nói hay, “nói ngọt“; mặt khác lại tỏ ra hoài nghi với những câu đường mật nên khẳng định giá trị của lời nói ngay, nói thật, nói phải: “Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành”; “Một câu nói ngay bằng ăn chay cả tháng”; “Nói phải củ cải cũng nghe”; “Nói gần nói xa chẳng qua nói thật”… Và, tục ngữ lại chỉ ra một thực tế không thể chối cãi đối với người thụ ngôn là: “Nói thật, mất lòng”; “Thuốc đắng dã tật, nói thật mất lòng”; “Nói ngay hay trái tai”. Thoạt nhìn tưởng như mâu thuẫn và dễ nghĩ rằng tính triết lí ngôn giao trong tục ngữ thiếu nhất quán. Nhưng thật ra, nó lại rất đúng, rất linh động, rất đời thường, rất thực chứ không xám xịt, bó hẹp trong một vài quy luật khô cứng. Sự tồn tại của chúng cho đến nay là minh chứng đầy sức thuyết phục kinh nghiệm giao tiếp của nhân dân ta. Rõ ràng việc vận dụng ngôn ngữ không hề đơn giản và bài học ngôn từ có lẽ sẽ không hề xưa cũ đối với tất cả mọi người và ở mọi thời.

     

    Lời nói và phong cách

     

    Ngôn ngữ là công cụ chung dùng để giao tiếp trong một cộng đồng nhưng mỗi người, khi sử dụng lại có những thể hiện riêng, có thói quen ngôn ngữ riêng. Ngay cả mỗi cá nhân, cùng một nội dung thông báo nhưng nếu hoàn cảnh, đối tượng, mục đích giao tiếp… thay đổi thì việc vận dụng ngôn ngữ cũng có sự thể hiện khác biệt. Tất cả những điều này tạo nên sự sinh động, đa dạng, phong phú và biến đổi không ngừng của ngôn ngữ giao tế. Sự hiện thực hoá ý tưởng bằng những phát ngôn cụ thể trong quá trình ngôn giao đều mang đậm dấu ấn phong cách của mỗi người. Có thể nói qua lời ăn tiếng nói, người ta phần nào thể hiện tâm hồn, tính cách và tình cảm của mình… Nếu Buffon (1707- 1788)- một nhà văn, nhà lí luận Pháp- có khẳng định:”Phong cách là chính con người” (Le style, c’est l’homme) thì từ xa xưa, điều này đã được tục ngữ Việt Nam đề cập. Khác với cách nói mang tính hàn lâm, tục ngữ thể hiện cái logic của mình bằng lối nói so sánh hình tượng; giàu sắc thái biểu cảm mà không kém phần triết lí: “Vàng thì thử lửa thử than, chim khôn thử tiếng người ngoan thử lời”; “Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe”; “Đất tốt trồng cây rườm rà, những người thanh lịch nói ra dịu dàng”; “Đất rắn trồng cây ngẳng nghiu, những người thô tục nói điều phàm phu”.

    Ai cũng có lúc “nhả ngọc phun châu” và cũng có khi không thể kiềm lòng mà tuôn ra những lời khó nghe, khiếm nhã. Nhưng cái logic trên quả thật đúng và đáng suy ngẫm. Trong quá trình ngôn giao, ngoài sự chi phối do các nhân tố khách quan còn có sự chi phối từ chính bản thân người nói như: thói quen, nghề nghiệp, tính cách, tình cảm, giới tính, địa bàn cư trú,… Tất cả những điều này sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ khi giao tiếp. Lời nói là kết quả của sự tổng hoà từ rất nhiều các nhân tố khác nhau, cả chủ quan lẫn khách quan. Và, cũng chính từ lời nói, qua thực tế giao tiếp hàng ngày, ta thấy được chủ thể phát ngôn là người như thế nào: hiền hoặc dữ; tốt hay xấu; trầm mặc hay sôi nổi; nhân ái hay thâm độc; khôn ngoan hoặc ngu dốt; dịu dàng hay chanh chua, cục súc…

     

    Lời nói và vị thế xã hội

     

    Tục ngữ còn đề cập đến vị thế của người giao tiếp. Mỗi người, khi tham gia giao tiếp, bao giờ cũng xuất hiện với một tư cách, một cương vị nhất định mà mối quan hệ gia đình và xã hội đã quy định. Có mối quan hệ ngang vai, có mối quan hệ không bằng vai. Trong quan hệ giao tiếp không bằng vai, rõ ràng lời nói của vai trên có “sức nặng” hơn vai dưới. Trên nói, dưới nghe. Gia đình và xã hội khó mà ổn định và phát triển nếu trật tự này bị xoá nhoà hay không được tôn trọng. Nhưng điều đó cũng không cho phép vai trên muốn nói gì thì nói theo kiểu “Chân lí nằm trong tay kẻ mạnh“. Khi đề cập đến vị thế của người giao tiếp, sự thể hiện của tục ngữ có phần nào đó vừa mỉa mai, chỉ trích vừa bi quan, chua chát: “Tay mang túi bạc kè kè, nói quấy nói quá người nghe ầm ầm”; “Trong lưng chẳng có một đồng, lời nói như rồng chúng chẳng thèm nghe”;  “Miệng nhà quan có gang có thép”… Điều này cũng dễ hiểu vì cái logic đó đa phần là cái logic của những người nông dân thấp cổ bé miệng ngày xưa. Thân phận họ như “con ong, cái kiến” và lời nói bị xem nhẹ như vỏ trấu,  rơm khô.

     

    Một số yêu cầu trong ngôn ngữ giao tiếp

     

    Từ việc chỉ ra giá trị của ngôn ngữ, mối quan hệ giữa ngôn ngữ với lời nói cá nhân, tục ngữ  đã khái quát nên một số yêu cầu thiết thực.

    Đầu tiên là sự ngắn gọn khi giao tiếp. Tục ngữ có câu: “Ăn bớt bát, nói bớt lời”. Một trong những nguyên nhân về việc sử dụng lời nói không đạt hiệu quả cao là do nói nhiều mà lượng thông tin không được bao nhiêu. Và hơn thế nữa, hậu quả của sự nói nhiều là bộc lộ những sai sót có thể có: “Ăn lắm thì hết miếng ngon, nói lắm thì hết lời khôn hoá rồ”; “Năng ăn hay đói, năng nói hay lầm”; “Hương năng thắp năng khói, người năng nói năng lỗi”… Cái gì quá mức độ cũng không hay, do đó cần phải biết điều tiết: “Rượu nhạt uống lắm cũng say, người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm“. Cái logic ở đây là đòi hỏi cao về lượng thông tin chứ không phải là độ dài lời nói. Chính xác hơn, tục ngữ  đòi hỏi có một mối quan hệ phù hợp giữa lượng và chất. Một văn bản dài nhưng nếu thông tin phong phú, không thừa từ, thừa ý vẫn là một văn bản đạt được tính ngắn gọn. Một phát ngôn vẫn bị coi là dông dài nếu diễn đạt theo kiểu “dây cà ra dây muống“. Người xưa quan niệm, nói nhiều chưa chắc là người có hiểu biết mà đôi khi là do “thùng rỗng kêu to”. Tục ngữ Nga có câu: “Nói ít đi thì sẽ thông minh hơn“. Tục ngữ Việt không thiếu những câu thể hiện điều này:”Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo”; “Người khôn nói ít làm nhiều, không như người dại lắm điều rườm tai”; “Khôn ngoan chẳng lọ nói nhiều, người khôn mới nói nửa điều đã khôn”…

     

    Để  đạt được yêu cầu trên, khi nói năng cần phải suy nghĩ. Rõ ràng, một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự thiếu sót, non kém trong vận dụng ngôn ngữ là do không cân nhắc, lựa chọn ngôn từ để vận dụng phù hợp trong từng cảnh huống giao tiếp cụ thể. Điều này đã được nhân dân ta khái quát trong câu: “Ăn có nhai, nói có nghĩ”.  Một sự so sánh rất bình dân, mộc mạc nhưng cũng rất thâm thuý. Đấy có thể coi như là quy luật tất yếu. Con người không thể sống nếu không ăn và cũng khó thể tồn tại và phát triển nếu thiếu sự giao tiếp. Trong quá trình thực hiện các hành động này, nếu nhai không tốt, nghĩ chưa sâu thì đều có thể dẫn đến kết quả xấu. Để nhấn mạnh điều này, tục ngữ Việt đã nêu lên những hậu quả khôn lường khi nói năng thiếu nghĩ suy bằng những so sánh giàu hình tượng: “Sẩy chân còn hơn sẩy miệng”; “Vạ ở miệng mà ra, bệnh qua miệng mà vào”; “Vạ tay không hay bằng vạ mồm“…Triết lí này dẫn đến một yêu cầu thứ ba khi vận dụng ngôn ngữ. Đó là cần chú ý  lựa lời khi nói năng.

    Các phương tiện ngôn ngữ ở tất cả các cấp độ (ngữ âm, từ vựng, cú pháp) luôn tồn tại những hình thức biểu đạt cùng nghĩa. Mỗi hình thức biểu đạt cùng nghĩa như thế phù hợp với từng điều kiện giao tiếp cụ thể. Do đó, việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ là một thao tác tự nhiên, tất yếu khách quan. Có lựa chọn tốt thì mới có thể tạo ra một lời nói tốt. Phong cách học hiện đại đã chỉ ra cụ thể những thao tác lựa chọn, quy luật lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ nhằm tạo ra các phát ngôn đạt hiệu quả giao tiếp cao. Tuy nhiên, vốn ngôn ngữ dồi dào (tiền đề khách quan cho sự lựa chọn) cùng với việc nắm vững quy luật, thao tác lựa chọn vẫn chưa đủ. Giữa lí thuyết trong sách vở với thực tế sống động trong việc vận dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày vẫn có một khoảng cách và bị chi phối rất lớn bởi cá nhân người nói. Khi tranh luận, phê bình, chỉ trích, do không nén nổi bức xúc, đôi khi chúng ta dùng những từ khiếm nhã, nặng nề cho hả giận, đã tức. Điều này có lẽ ai cũng từng trải nghiệm và chắc chắn sẽ còn gặp phải. Giá trị đích thực của hoạt động ngôn giao không chỉ là thông tin mà còn là để con người gần nhau, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau. Lấy tình cảm làm nguyên tắc lựa lời là văn hoá ứng xử, giao tiếp của người Việt Nam: “Chim khôn chưa bắt đã bay, người khôn chưa nói dang tay đỡ lời”; “Chim khôn ai nỡ bắn, người khôn ai nỡ nói nặng”; “Hoa thơm ai nỡ bỏ rơi, người khôn ai nỡ nặng lời đến ai”; “Người khôn ai nỡ roi đòn, một lời nói nhẹ hãy còn đắng cay”; “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau“. Lời khuyên này có lẽ không bao giờ cũ, không bao giờ thừa với tất cả mọi người.

    Nói chuyện với bố mẹ nên ra sao? Khi dạy con cần tông giọng gì? Đối với chồng về muộn thì vợ nên nói gì?  Tất cả sẽ được giới thiệu trong Khóa học lý thuyết Làm chủ giọng nói được hướng dẫn bởi HLV Trần Thị Minh Hải – chuyên gia trong việc đào tạo Kỹ năng giao tiếp ứng xử và chăm sóc khách hàng, người thay đổi giọng nói của mình và có 5 năm kinh nghiệm trong huấn luyện  giọng nói và làm chủ giọng nói đến từ I Love My Voice.

    (Sưu tầm)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Sự Ghen Ăn Tức Ở Hay – Chất – Thấm Nhất Dành Cho Các Thành Phần Gato
  • Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam Ebook Pdf
  • Báo Cao Bằng Điện Tử
  • Cái Cò Và Con Cò
  • Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Về Con Cò
  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Giao Tiếp, Văn Hóa Ứng Xử, Giáo Dục, Sự Im Lặng

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống Gia Đình
  • Những Câu Nói Hay Dành Cho Cô Gái Tóc Ngắn Cá Tính
  • Danh Ngôn Hay Về Thầy Cô Và Mái Trường
  • Thoát Ế Nhờ 40 Stt Buồn Hay Bằng Tiếng Anh Đăng Lên Mxh
  • Danh Ngôn Nói Về Lòng Người
  • Tổng hợp những câu ca dao tục ngữ hay về giao tiếp, văn hóa ứng xử, giáo dục, sự im lặng

    Những câu ca dao tục ngữ nào hay về giao tiếp, văn hóa ứng xử, giáo dục, sự im lặng nhỉ?

    Ca dao tục ngữ hay về giao tiếp, văn hóa ứng xử, giáo dục, sự im lặng

    1.

    Luyện mãi thành tài, miệt mài tất giỏi.

    Câu này thật sự có ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Nó luôn nhắc nhở chúng ta phải rèn luyện ý chí, nghị lực để vươn lên trong mọi lĩnh vực của đời sống con người. nếu chúng ta có một phương pháp học đúng cách

    2.

    Học ăn học nói, học gói học mở.

    Đây là là câu tục ngữ nói về những điều cơ bản trong cuộc sống mà con người ta phải học để có được cách ăn ở, giao tiếp, cách đối nhân xử thế sao cho lịch sự, tế nhị, văn minh.

    3.

    Học hay cày biết.

    4.

    Học một biết mười.

    5.

    Học thầy chẳng tầy học bạn.

    Biết ơn,quý ơn là phẩm chất đạo đức của tình bạn & tình thầy trò.Thầy là người cho ta nhiều kiến thức.Bạn là người giúp ta phát triển những kiến thức đã học

    6.

    Học thầy học bạn, vô vạn phong lưu.

    Câu này có ý nghĩa là chịu khó học hỏi thì ắt giàu có.

    7.

    Ăn vóc học hay.

    Ăn vóc là ăn uống đầy đủ bổ sung các chất thì mới có sức khỏe, cơ bắp. Học hay là học giỏi, giỏi giang xưng đáng với công sức đã bỏ ra để có được thành quả.

    8.

    Bảy mươi còn học bảy mươi mốt.

    9.

    Có cày có thóc, có học có chữ.

    10.

    Có học, có khôn.

    11.

    Dao có mài mới sắc, người có học mới nên.

    12.

    Dẫu rằng thông hoạt, chẳng học cũng hư đời, tài chí bằng trời, chẳng học cũng là phải khổ.

    13.

    Dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng.

    14.

    Dốt đến đâu học lâu cũng biết.

    15.

    Đi một ngày đàng học một sàng khôn.

    16.

    Hay học thì sang, hay làm thì có.

    17.

    Học để làm người.

    18.

    Học hành vất vả kết quả ngọt bùi.

    19.

    Học khôn đến chết, học nết đến già.

    20.

    Có đi có lại mới toại lòng nhau

    21.

    Câu này ý nói là phải kính trọng người lớn tuổi sẽ sống lâu.Bạn tôn kính người lớn tuổi thì người đó sống bao lâu bạn sẽ sống bấy lâu. Đây là văn hóa trong ứng xử

    22.

    23.

    24.

    Lời nói, gói vàng.

    25.

    Rất đơn giản câu này ý nói tình cảm, lễ nghi, lời chào mời thân mật còn quý hơn vật chất, miếng ăn.

    26.

    Đây là văn hóa ứng xử, phải luôn biết kính trọng những người lớn tuổi và nhường nhịn những người nhỏ tuổi hơn.

    27.

    Một lời nói dối, sám hối bảy ngày.

    Khuyên răn chúng ta nên sống thật, không nên nói dối sẽ rất ân hận về sau

    28.

    Đây là đạo lý làm người, với ý nghĩa là khuyên chúng ta phải luôn luôn biết ơn những người đã tạo ra thành quả cho ta dùng

    29.

    Bán anh em xa mua láng giềng gần.

    Thực ra ở đây không có chuyện mua bán gì cả. Câu này có ý khuyên răn người ta nên ăn ở có tình có nghĩa, vui vẻ với hàng xóm láng giềng kề bên. Bởi anh em họ hàng dù là thân tình, máu mủ nhưng ở xa thì nếu có việc khẩn cấp, nghiêm trọng không thể có mặt nhanh chóng để giúp đỡ bằng người ngoài nhưng ở gần mình. Nước xa thì không cứu được lửa gần mà.

    30.

    Đi hỏi già,về nhà hỏi trẻ

    Đi hỏi già: Người già nhiều kinh nghiệm sẽ giúp được bạn. Về nhà hỏi trẻ: Mọi chuyện ở nhà nên hỏi trẻ vì trẻ con ngây thơ không dấu diếm điều gì sẽ kể hết chuyện nó biết khi ở nhà.Đây là một kinh nghiệm sống mà ông cha ta đúc kết và truyền dạy.

    31.

    Một điều nhịn, chín điều lành

    32.

    Sang sông phải bắc cầu kiều

    Muốn con hay chữ phải yêu mến thầy

    Câu này ý muốn nhắn nhủ bậc làm cha mẹ, muốn con cái mình học tập tốt thì cần phải yêu quý kính trọng người làm nghề giáo.

    33.

    Đất tốt trồng cây rườm rà

    Những người thanh lịch nói ra dịu dàng.

    34.

    Người thanh tiếng nói cũng thanh

    Chuông kêu, khẽ gõ bên thành cũng kêu.

    35.

    Kim vàng ai nỡ uốn câu

    Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời

    36.

    Vàng thì thử lửa, thử than

    Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời…

    37.

    Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

    38.

    Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

    39.

    Sảy chân, gượng lại còn vừa,

    Sảy miệng, biết nói làm sao bây giờ.

    40.

    Vàng sa xuống giếng, khôn tìm,

    Người sa lời nói, như chim sổ lồng

    41.

    Nói người, chẳng nghĩ đến ta,

    Thử sờ lên gáy, xem xa hay gần

    42.

    Ngày thường chả mất nén hương

    Đến khi gặp chuyện ôm lưng thầy chùa

    43.

    Cười người chớ vội cười lâu

    Cười người hôm trước hôm sau người cười

    44.

    Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành.

    45.

    Ăn có nhai, nói có nghĩ.

    Ăn bớt bát, nói bớt lời.

    46.

    Rượu nhạt, uống lắm cũng say,

    Người khôn nói lắm, dẫu hay cũng nhàm.

    47.

    Ăn lắm, thì hết miếng ngon,

    Nói lắm, thì hết lời khôn hóa rồ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Status Hay Về Cuộc Sống Ý Nghĩa Facebook
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Buồn Của Con Gái Sâu Sắc Nhất
  • Lời Chúc Sinh Nhật Bằng Tiếng Anh Chân Thành Đầy Mới Lạ
  • Stt Hay Và 101 Danh Ngôn Ý Nghĩa Về Ngôn Ngữ, Ngôn Từ & Lời Nói
  • 101 Những Stt Buồn Về Đêm Cực Chất Dành Cho Con Trai 2022
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Giao Thông, An Toàn Giao Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Atgt, Ca Dao Tục Ngữ Câu Nói Về An Toàn Giao Thông Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Danh Nhân, Anh Hùng Dân Tộc
  • Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội
  • Người Việt Nam Thương Mẹ, Kính Cha Qua Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Biển, Biển Đảo, Biển Vũng Tàu Nha Trang Hay Nhất
  • Tổng hợp những câu ca dao tục ngữ hay về giao thông, an toàn giao thông

    Câu ca dao tục ngữ nào về an toàn giao thông hay?

    Đi xe không mũ, lãnh đủ tang thương.

    Câu tục ngữ này có ý nghĩa là nếu bạn đi xe không đội mũ bảo hiểm thì khi gặp tai nạn bạn chính là người phải lãnh đủ hậu quả. Qua đó muốn nhắn nhủ đến chúng ta phải tuân thủ luật lệ giao thông mà nhà nước quy định đó là đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy.

    2.

    Giành khách lấn đường, Diêm Vương mừng đón.

    Câu tục ngữ này đang ám chỉ những người chạy xe bắt khách, vì mưu sinh nên phải giành lấy khách mà phải lấn đường. Tuy nhiên khi lấn đường thì sẽ rất nguy hiểm có thể xảy ra tai nạn. cụm từ “Diêm Vương mừng đón” nhấn mạnh nhằm nhắc nhở mọi người phải tuân thủ luật lệ giao thông để tránh xảy ra hậu quả nghiệm trọng.

    3.

    Xe không có thắng, chạy thẳng vào hòm.

    Thắng xe là một công cụ rất quan trọng với mục đích là để làm dừng xe lại, tuy nhiên nếu xe không có thắng thì chắc chắn rằng bạn sẽ không thể dừng lại và qua đó lại trực tiếp gây tai nạn dễ “chạy thẳng vào hòm”

    4.

    Lấn chiếm vỉa hè, áp phe với… xà bần, rác thải.

    Câu này có ý nghĩa châm biếm những người buôn bán lấn lòng lề đường, vỉa hè gây cản trở giao thông.

    5.

    Phóng càn phóng đại, ắt phải đến… toà!

    Phòng càn phóng đại có nghĩa là chạy xe với tốc độ cao và không nhìn trước ngó sau, qua đó rất dễ gây tai nạn và sẽ dễ đến “tòa” tức lên phường giải thích.

    6.

    Chở ẩu chở bừa, người ưa bị phạt.

    Mỗi xe máy chỉ quy định được đi 2 người và kèm them một em bé với độ tuổi pháp luật quy định, do vậy mà chúng ta không nên “chở ẩu, chở bừa” như đi 3 sẽ vi phạm luật giao thông và bị phạt nặng

    7.

    Chạy xe trái luật, địa ngục chực chờ.

    Luật lệ giao thông ở nước ta rất cụ thể, nhưng vẫn có nhiều người cố tình chạy xe trái luật, mà trái luật thì sao? “địa ngục chực chờ” là bốn từ mô tả cụ thể nhất.

    8.

    Chiếm dụng lòng đường, khôn lường tai hoạ.

    Lấn chiếm lòng lề đường dường như là phong tục của dân ta thì phải, nếu cứ tiếp tục như vậy thì đất nước ta biết khi nào mới văn minh và hiện đại phát triển được

    9.

    Đua xe đường phố là bố tử thần.

    Đua xe là hiện trạng xảy ra rất nhiều hiện nay của các thanh niên “quái xế”, hiện tượng này khiến cho rất nhiều người đi đường lo sợ. Đua xe có thể gây ra tai nạn cực kỳ nghiêm trọng, có thể dẫn đến tử vong do vậy mà đây là một trong những tội nặng nhất khi tham gia giao thông

    10.

    Coi thường luật lệ là mẹ của tai nạn giao thông.

    Luật giao thông là do nhà nước ban hành, mỗi người dân đều phải tuân thủ theo để có được xã hội văn minh và phát triển.

    11.

    Vượt ẩu phóng nhanh là anh của thương đau, tang tóc.

    Phóng nhanh vượt ẩu rất dễ gây ra tai nạn trực tiếp và cũng có thể gián tiếp, nếu bị nặng thì có thể dẫn đến tử vong, thương đau, tang tóc làm khổ cha mẹ, làm khổ gia đình.

    12.

    Vòng vèo lạng lách là khách của âm cung.

    Lạng lách đánh võng là trường hợp thường gặp ở những thanh niên độ tuổi mới lớn còn háo thắng và thích thể hiện. Trường hợp này rất dễ gây ra tai nạn, “khách của âm cung” là 4 từ dùng để răn đe.

    13.

    Chạy xe nghênh ngông là ông của quan tài, nạng gỗ.

    Ngông cuồng, háo thắng là tính tình riêng của mỗi người, tuy nhiên thì độ nặng nhẹ khác nhau, và thể hiện qua việc tham gia giao thông. Nếu chạy xe mà ngông cuồng, thì sẽ có thể dẫn đến tại nạn, nặng hơn là tử vong, một kết thúc cuộc đời không ai muốn.

    14.

    Đi hàng ba hàng bảy là bạn tri kỷ của thảm hoạ, đoạn trường.

    Trường hợp đi xe dàn hàng là trường hợp xảy ra rất nhiều bởi những đám bạn bè chơi chung với nhau. Một khi đi dàn hàng như vậy thì sẽ chiếm chỗ khiến người khác di chuyển khó khăn, đây là một trong những luật lệ cấm của điều luật khi tham gia giao thông.

    15.

    Lái xe thể hiện bản chất con người!

    Vâng ! Nhìn qua phong cách lái xe, người ta có thể đánh giá bản chất con người của bạn. Bạn đi xe đàng hoàng tử tế, tham gia đúng luật giao thông thì ai dám phán bạn hư đốn?

    16.

    Thay đổi văn hóa giao thông – bắt đầu từ chính bạn

    Đây là câu tục ngữ ý muốn nhấn mạnh văn hóa giao thông, và muốn mỗi người chúng ta nhìn nhận cụ thể hơn khi tham gia giao thông cần phải chấp hành nghiêm chỉnh

    17.

    Lái xe bất cẩn ân hận cả đời

    Là câu tục ngữ răn đe mỗi người chúng ta. Ý muốn nhắn nhủ chúng ta cần phải lái xe đàng hoàng, tử tế, chấp hành đúng mọi luật lệ giao thông.

    18.

    Uống thêm một ly dễ đi Chợ Rẫy

    Chợ Rẫy là một bệnh viện nổi tiếng ở Tp. Hồ Chí Minh và câu tục ngữ này ý muốn nói về vấn đề sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông sẽ rất dễ gây ra tai nạn và vào bệnh viện.

    19.

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

    Chạy xe nhường nhịn, là thương chính mình

    Câu ca dao muốn nhắn nhủ chúng ta khi tham gia giao thông thì cần phải nhường nhịn trước sau, không nên chen lấn, luồng lách khi tham gia giao thông sẽ dễ gây tại nạn và hậu quả là chính bản thân mình phải chịu.

    20.

    Nhường nhau không phải là hèn

    Nhường nhau để khỏi lách, lèn, kẹt xe

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thành Ngữ Tiếng Trung Hay Và Thâm Thuý ( P 1 )
  • Thành Ngữ, Quán Ngữ Trong Hoạt Động Giao Tiếp Của Giới Trẻ Hiện Nay
  • Giao Tiếp Thành Thần Nhờ 26 Câu Thành Ngữ Tiếng Anh Thông Dụng
  • Tổng Hợp 101 Câu Thành Ngữ Tiếng Nhật Hay Thông Dụng Trong Cuộc Sống
  • Tổng Hợp Tục Ngữ, Thành Ngữ Tiếng Nhật Đặc Biệt Nhất
  • Con Heo Trong Ca Dao, Thành Ngữ, Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giàu Nghèo, Đồng Tiền, Sức Mạnh Đồng Tiền Hay Nhất
  • Giáo Dục Đạo Đức Qua Tục Ngữ, Thành Ngữ…
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Kế Thừa Và Phát Huy Truyền Thống Tốt Đẹp Của Dân Tộc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Xuân ❤️ Thành Ngữ Mùa Xuân Hay
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Ngày Tết Hay Nhất
  • Từ xa xưa con người đã biết hái lượm và săn bắt, rồi tiến tới biết trồng trọt và thuần hóa thú rừng để chăn nuôi. Trong những con vật ấy, phải kể đến con heo… Cho đến nay, hầu như gia đình nông dân nào cũng có nuôi một vài con heo. Chính vì vậy, heo đã sớm đi vào ca dao, thành ngữ, tục ngữ.

    Heo trong tranh Đông Hồ. Ảnh tư liệu

    Heo ở Việt Nam được nuôi rất nhiều loại tùy từng vùng miền khác nhau. Người miền Bắc gọi là lợn, với người Nam gọi là heo. Ngoài ra, tiếng Việt còn có nhiều từ để gọi các loại lợn (heo) khác nhau như: Heo nái (lợn cái nuôi để sinh sản lợn con); heo sề (lợn nái già); heo nọc (heo đực dùng để truyền giống); heo bột, heo sữa (lợn con đang bú mẹ); heo ỷ (một giống lợn của Việt Nam, có mõm ngắn, lưng võng và bụng sệ với lớp da màu đen hay xám); heo lòi (lợn rừng)…

    Ca dao đã truyền khẩu lại nhiều câu thể hiện sự gắn bó của con heo với cuộc sống của người Việt: “Ta về ta rủ bạn ta/Nuôi lợn nuôi gà, cày cấy ta ăn”, “Lòng thương chị bán thịt heo/Hai vai gánh nặng còn đèo móc câu”. Hoặc để đánh giá người: “Đàn bà không biết nuôi heo đàn bà nhác. Đàn ông không biết buộc lạt, đàn ông hư”. Cũng có những câu ca dao khen tặng sự khéo léo, chăn nuôi quanh năm, hay làm ăn thành công của những gia đình nông dân: “Chăn nuôi vừa khéo vừa khôn/Quanh năm gà lợn xuất chuồng quanh năm”. Hay: “Giàu heo nái, lãi gà con”. Nuôi heo để đem bán là một sinh kế của giới nông dân nước ta. Lắm khi chẳng được gì nên từ đó cũng nẩy sinh ra những câu ca dao đùa cợt cảnh mấy bà gánh heo đi rồi lại gánh về: “Ba bà đi bán lợn con/Bán đi chẳng được lon ton chạy về/Ba bà đi bán lợn sề/Bán đi chẳng được chạy về lon ton”.

    Về mặt ẩm thực, thịt heo được miêu tả: “Con gà cục tác lá chanh – Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi”. “Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi”! vừa kêu gọi sự chú ý khẩu vị dân tộc, vừa nhắc nhở chúng ta rằng khẩu vị dân tộc đó hình thành từ lâu đời được thời gian thử thách và được coi có cơ sở khoa học vững chắc. Ở miền Nam, ăn cỗ mà có đầu heo là coi như giàu có, ca dao miền Nam có câu: “Cồng cộc bắt cá dưới bàu/Cha mẹ mày giàu, đám giỗ đầu heo”. Mà chẳng riêng gì việc phúng viếng, cúng tế, cưới xin đến việc đãi đằng người ta cũng biếu nhau chân giò, nhất là cho sản phụ ăn để có sữa: “Ăn chân sau, cho nhau chân trước”, chân trước đẹp mắt chứ không lợi thịt như chân giò sau… Nói về văn hóa ẩm thực thịt heo, với những người sành ăn “mua thịt thì chọn miếng mông” ngon và béo có “đầu gà, má lợn”, “lợn giò, bò bắp”. Thái cho ngon mắt phải “thịt nạc dao phay, thịt mỡ dao bầu”. Và nhất định phải có gia vị thêm vào mới ngon “thịt đầy xanh, không hành không ngon”…

    Về mặt châm biếm “chú ỉn” cũng góp mặt trong tiếng cười trí tuệ của người dân và đã vạch mặt cả anh thầy bói nói nước đôi, nói dựa: “Số cô không giàu thì nghèo/Ngày ba mươi tết thịt treo đầy nhà”. Hay: “Bói cho một quẻ trong nhà/ Chuồng heo ở dưới, chuồng gà ở trên”. Cũng có câu ca dao trách khéo sự thiên vị như: “Mèo theo thịt mỡ ồn ào/Cọp tha con lợn thì nào thấy chi!”.

    Tỏ tình là cả một nghệ thuật, thông thường mấy chàng văn hoa bóng bẩy nhưng cũng có người mượn con heo làm phương tiện “cứu cánh”. Hãy nghe anh chàng ngố tìm cách làm quen, bày tỏ: “Cô kia đi chợ Hà Đông/Để anh kết nghĩa vợ chồng cùng đi/Anh đi chưa biết mua gì/Hay mua con lợn phòng khi cheo làng”. Ngày xưa con gái muốn lấy chồng phải nộp cheo cho làng. Cheo là lễ vật bao gồm ít nhất là một con heo quay và một số tiền mặt do làng ước định phải nộp cho làng để làng cấp cho giấy giá thú. Lắm khi cô gái tuy đẹp nhưng lại quá nghèo, chàng trai muốn cưới thì phải: “Giúp em một thúng xôi vò/Một con lợn béo, một vò rượu tăm/Giúp cho đôi chiếu em nằm/Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo/Giúp cho quan tám tiền cheo/Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau”. Vả lại, cha mẹ sinh con gái cũng chỉ rạng mặt nở mày khi con được nhà trai nộp cheo xin cưới theo đúng lễ nghi thủ tục: “Anh về thưa với mẹ cha, bắt lợn đi cưới, bắt gà đi cheo”. Nhưng cũng có những gia đình biết phải chăng: “Người ta thách lợn, thách gà/Nhà em thách cưới một nhà khoai lang”.

    Đôi bạn trẻ phải hiểu rằng tình yêu không thể lúc nào cũng ở vào cao điểm, có lúc xuống đáy. Những lúc tình yêu xuống đến đáy thì người ta sẽ ra sao? Đây là kinh nghiệm cay đắng của các chị: “Còn duyên anh cưới ba heo/Hết duyên anh đánh ba hèo đuổi đi”. Riêng với những người ham tật đèo bồng đa thê, đôi khi lại bị lâm vào cảnh trớ trêu dở khóc dở cười: “Một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ ra chuồng heo mà nằm”.

    Thành ngữ nói về cái sự vô ý, vô tứ, làm ăn thiếu tính toán hay nhất là mấy câu: “Lợn lành chữa làm lợn què”, “Lợn trong nhà thả ra mà đuổi”. Không có sự phê phán nào bình dân bình dị như thế mà có khả năng tạo hiệu quả lớn như thế!

    Con heo gắn bó với con người hàng ngàn năm lịch sử. Con heo cái tên không mấy mĩ miều, đôi khi còn được gắn với những sự ngu dốt. Ấy vậy mà đã đi vào ca dao, tục ngữ thành ngữ khá đa dạng, làm sao kể hết.

    Thanh Kim Trà

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sưu Tầm Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Hà Nội Hay
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hà Nội ❤️️ Những Câu Nói Hay Nhất
  • Những Câu Tục Ngữ Về Hà Nội, Ca Dao Về Hà Nội
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Hà Nội (Hay Nhất)
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Đồng Nai
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Giao Thương

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Chúc Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Cho Đồng Nghiệp Hay, Ý Nghĩa Nhất 2
  • Những Câu Nói Hay Về Con Gái Thời Nay Được Dân Mạng Chia Sẻ Nhiều Nhất
  • Ngày Của Mẹ Mother’s Day 2022 Ở Việt Nam Là Ngày Nào? Quà Tặng Ý Nghĩa
  • Ca Dao Tục Ngữ Thành Ngữ Là Gì
  • Những Câu Nói Hay Về Lòng Người Ý Nghĩa, Sâu Sắc!
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Nslide Những Câu Nói Nổi Tiếng Trong Tam Quốc
  • Rung Động Trước Những Lời Chúc Ngọt Ngào Của Con Dành Cho Mẹ
  • 99+ Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Được Share Điên Đảo Trên Facebook , Zalo
  • Ca Dao Tục Ngữ Phú Yên
  • Top 24 Lời Chúc Kỷ Niệm Ngày Cưới Dành Cho Chồng Hay Nhất
  • Người Già Trong Thành Ngữ Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phong Tục Tập Quán Việt Nam Qua Ca Dao Và Tục Ngữ , Trang Điện Tử Www.hovuvovietnam.com
  • Những Vần Thơ Về Đảng
  • Những Vần Thơ Viết Về Đảng, Bác Hồ Và Mùa Xuân
  • Hình Tượng Bác Hồ Trong Ca Dao Việt Nam
  • Thắm Nghĩa Đồng Bào Trong Cuộc Chiến Chống Dịch Covid
  • (Ngày ngày viết chữ) Bài viết này nói về những quan niệm của người Việt đối với người già, tuổi già thể hiện qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao.

    Già là túi khôn, là vốn quý

    Người già có nhiều kinh nghiệm, họ trải qua nhiều nỗi thăng trầm, nhìn thấu mọi lẽ thường lẫn bất thường của xã hội:

    Bà già đeo bị hạt tiêu,

    Sống bao nhiêu tuổi nhiều điều đắng cay.

    Cho nên, từ lâu, người Việt đã xem người già là túi khôn, là vốn quý. Thành ngữ “Kẻ cắp gặp bà già” chính là để nói sự lõi đời của người cao tuổi. Người Việt thường cảm thán (xen chút ngưỡng mộ) rằng “Gừng càng già càng cay” và không quên dặn “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”.

    Nói về mối quan hệ giữa người trẻ với người già, người Việt còn có câu “Khôn đâu tới trẻ, khỏe đâu tới già”, để thấy rằng trẻ và già nên nương tựa nhau, bổ sung cho nhau. Một gia đình có già có trẻ, người trẻ được bảo ban, người già được chăm sóc, đó chính là phúc. Cho nên người Việt xưa rất thích những gia đình tam đại đồng đường, tứ đại đồng đường. Sự tháo vát của người già còn thể hiện ở câu “Một mẹ già bằng ba con ở”.

    Lại nói, dù dân gian có nhiều câu nói thể hiện chuyện cha mẹ già khó khăn, làm duyên con bẽ bàng, nhưng đồng thời cũng có những câu như:

    Canh suông  khéo nấu thì ngon,

    Mẹ già khéo nói  thì con đắt chồng.

    để biểu đạt vai trò quan trọng của bậc sinh thành khi vun vén duyên con.

     

    Hiếu đễ với người già

    Nhìn chung, người Việt kính trọng người già. Câu tục ngữ “Yêu trẻ trẻ đến nhà, kính già già để tuổi cho” hầu như không người Việt nào không biết. Trong gia đình, chuyện hiếu kính với cha mẹ cực kỳ quan trọng. Và những câu ca dao nhắc nhau hiếu thuận với cha mẹ già thực sự rất nhiều.

    Mẹ già hai đứa nuôi chung,

    Đứa lo cơm cháo, đứa giùm thuốc thang.

    Mẹ già đầu bạc như tơ,

    Lưng đau con đỡ, mắt lờ con nuôi.

    Đèo mô cao bằng đèo Cây Cốc?

    Dốc mô ngược bằng dốc Mỹ Cang?

    Một tiếng anh than hai hàng lệ nhỏ,

    Em có mẹ già biết bỏ cho ai.

    Mẹ già như chuối ba hương,

    Như xôi nếp mật, như đường mía lau.

    Đường mía lau càng lâu càng ngát,

    Xôi nếp mật ngào ngạt hương say.

    Ba hương lây lất tháng ngày,

    Gió đưa mẹ rụng, con rày mồ côi.

    Mẹ già như áng mây trôi,

    Như sương trên cỏ, như lời hát ru.

    Lời hát ru vi vu trong gió,

    Sương trên cỏ khó vỡ dễ tan.

    Mây trôi lãng đãng trên ngàn,

    Gió đưa tan, hợp, hợp, tan, nao lòng.

    Trời mưa cho ướt lá dừa,

    Cho tươi luống cải cho vừa lòng em.

    Cho em hái đọt rau dền,

    Nấu tô canh ngọt dâng lên mẹ già.

    Con cá đối  nằm trên cối đá,

    Chim đa đa  đậu nhánh đa đa,

    Chồng gần không lấy, bậu  lấy chồng xa.

    Mai sau cha yếu mẹ già,

    Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà  ai dưng ?

     

    Sợ tuổi già

    Mặc dù xem người già là túi khôn, là đáng kính trọng, nhưng người Việt (và lẽ nhiều dân tộc khác trên thế giới) cũng rất sợ tuổi già. Bởi “Trẻ khôn ra, già lú lại”, ai mong già làm gì.

    Lý do một cô gái thôi chờ đợi một chàng trai thường là:

    Một năm một tuổi một già,

    Ba năm một tuổi chi mà đợi anh.

    “Cái tuổi nó đuổi xuân đi”, nên các cô gái thường mang tâm lý:

    Ai ơi, trẻ mãi ru  mà,

    Càng đo đắn  mãi càng già mất duyên.

    Mướp  già thì mướp có xơ,

    Gái già thì gái nằm trơ một mình.

    Cau già lỡ lứa bán trăm,

    Chị nọ lỡ lứa biết nằm cùng ai?

    Thành ngữ “Già kén kẹn hom” cũng dùng để nói chớ có kén chọn mà lỡ duyên thế này. Kén của con tằm nếu để quá lâu sẽ dính chặt vào hom (những búi rơm, rạ hoặc cây rang, cây bổi…), khó gỡ ra. Ở đây chơi chữ  “kén” trong ‘kén tằm’ đồng âm với “kén’ trong “kén chọn”. Ý của thành ngữ này là nếu quá kén chọn sẽ dễ dẫn đến quá lứa, lỡ thì.

    Trường hợp lứa đã quá, thì đã lỡ, có cô than:

    Cau già dao bén thì ngon,

    Người già trang điểm phấn son cũng già.

    Thế nhưng cũng có cô rất lạc quan:

    Cau già khéo bổ thì non,

    Nạ dòng  trang điểm lại giòn  hơn xưa.

    Gà già khéo ướp lại tơ,

    Nạ dòng trang điểm, gái tơ mất chồng.

    Còn như khi không thể để bản thân lỡ thì mà lo bến đỗ trước, và rồi phải từ chối chàng trai từng ước hẹn, các cô cũng rằng:

    Anh về kiếm vợ kẻo già,

    Kiếm con kẻo muộn, em đà  có đôi.

    Trong cuộc sống, người ta thường dặn nhau lúc còn trẻ khỏe phải biệt lo liệu, đừng để đến già kẻo mà:

    Mỗi năm, mỗi tuổi, mỗi già,

    Chẳng lo liệu trước ắt là lụy  sau.

    Tre già nhiều người chuộng,

    Người già ai chuộng làm chi.

    Thế nhưng, cũng vì sợ tuổi già đến, chưa kịp chơi cho thỏa đã không còn sức, nên mới có câu:

    Ai ơi chơi lấy kẻo già,

    Măng  mọc có lứa người ta có thì.

    Chơi xuân kẻo hết xuân đi,

    Cái già xồng xộc nó thì theo sau.

    Và tâm lý muốn lớn nhanh để chơi ai cũng có, nhưng lại sợ:

    Muốn cho mau lớn mà chơi,

    Mới lớn vừa rồi, già lại theo sau.

     

    Duyên nợ với người già

    Mặc dù người Việt có câu:

    Chồng già vợ trẻ là tiên,

    Vợ già chồng trẻ là duyên ba đời.

    nhưng nhìn chung người Việt thường muốn sánh duyên cùng người có tuổi tác tương xứng.

    Ông già tôi chẳng lấy ông đâu,

    Ông đừng cạo mặt nhổ râu tốn tiền.

    Sở dĩ không muốn lấy chồng già là vì:

    Con gái lấy phải chồng già,

    Cầm bằng con lợn cọp tha vào rừng.

    rồi bị xóm giềng cười nhạo:

    Nhà bà có ngọn mía mưng,

    Có cô gái út mà ưng ông già.

    Chuyện cười nhạo đôi khi thái quá, khiến các cô phải ném hết thẹn thùng mà phản bác:

    Tiếng đồn em lấy chồng già,

    Đêm nằm em thấy ớt cà ra răng ?

    – Tre già còn dẻo hơn măng,

    Ớt cà ra có hột, chớ hơn thằng ớt tơ.

    Nhưng không muốn lấy chồng già chủ yếu là do những chuyện trái khoáy khác:

    Vô duyên lấy phải chồng già,

    Ra đường bạn hỏi rằng cha hay chồng?

    Nói ra đau đớn trong lòng,

    Chính thực là chồng có phải cha đâu.

    Ngày ngày vác cối giã trầu,

    Tay thời rót nước, tay hầu cái tăm.

    Đêm đêm đưa lão đi nằm,

    Thiếp đặt lão xuống, lão nằm trơ trơ.

    Hỡi ông lão ơi! Ông trở dậy cho thiếp tôi nhờ,

    Để thiếp tôi kiếm chút con thơ bế bồng.

    Nữa mai người có thiếp không,

    Xấu hổ với chúng bạn, cực lòng mẹ cha.

    Gà tơ xào với mướp già,

    Vợ hai mươi mốt chồng đà sáu mươi.

    Ra đường, chị giễu  em cười,

    Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng.

    Đêm nằm tưởng cái gối bông,

    Giật mình gối phải râu chồng nằm bên.

    Sụt sùi tủi phận hờn duyên,

    Oán cha trách mẹ tham tiền bán con.

    Ngược lại, các ông cũng không ham gì vợ già:

    Vô duyên lấy phải vợ già,

    Ăn cơm phải đút, xin bà nuốt nhanh.

    Vô phúc lấy phải trẻ ranh,

    Vừa chơi, vừa phá tung hoành tứ tung.

    Thế nhưng, nếu đã vào thế lấy vợ già, các ông cũng cố mà tìm ra điểm tốt:

    Canh bầu  nấu với cá trê,

    Ăn vô cho mát mà mê vợ già.

    Có phúc lấy được vợ già,

    Sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh.

    Vô phúc lấy phải trẻ ranh,

    Nó ăn nó bỏ tan tành nó đi.

    hòng giữ cho gia đạo bình an. Đó có lẽ cũng là một biểu hiện của tinh thần luôn cố gắng lạc quan thường thấy ở người Việt.

    Nếu các cô không ham chồng già thì ngược lại, các ông già cũng không ham gì vợ trẻ, bởi:

    Người già mà lấy vợ tơ,

    Như liều thuốc độc để hờ bên thân.

    Con gái mà lấy chồng già,

    Đêm nằm thỏ thẻ đẻ ra con chồn.

    Thế nhưng, cũng có khi, ông già thương thật, nên khi bị người mình để bụng thương chê, các cụ liền nói đạo lý:

    – Ông già tui chẳng ưa đâu,

    Hàm răng ông rụng, chòm râu ông dài.

    – Con tôm con tép còn râu,

    Huống chi  em bậu  câu mâu  sự đời.

    Thương nhau vừa dặm vừa dài,

    Cắn rứt chi đó mà đòi hàm răng?

    Có khi, các cụ vội vã phân bua, thể hiện:

    Già thì già tóc già râu,

    Đêm ba bảy vợ, già đâu có già!

    Càng già càng dẻo càng dai,

    Càng gãy chân chõng , càng sai chân giường.

     

    Cười nhạo người già

    Cuộc sống muôn màu muôn vẻ, có kính trọng, nể vì thì cũng có chế giễu, nhạo báng. Có khi người ta cất lời chê già khó tính:

    Ai làm cho chuối không cành,

    Cho anh không vợ cắn quanh mẹ già.

    Mẹ già như mẹ người ta,

    Thì anh có vợ trong nhà đã lâu.

    Mẹ anh ác nghiệt cơ cầu,

    Cho nên anh chịu âu sầu đến nay.

    Hoặc càm ràm mấy câu như “Già sinh tật, đất sinh cỏ’, hay “Trẻ đeo hoa, già đeo tật”. Cũng có khi dân gian lên tiếng đánh thẳng vào những thói hư tật xấu, thường là chê trách cái nết không chuyên chính:

    Bà già đã tám mươi tư,

    Ngồi bên cửa sổ đưa thư kén chồng.

    Bà già tuổi tám mươi hai,

    Ngồi trong quan tài hát ghẹo ông sư.

    Bà già đi chợ Cầu Đông,

    Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?

    Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

    Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn!

    Ấy vậy mà, đâu đó vẫn có thể bắt gặp những câu ca dao nửa chê trách, nửa cảm thông:

    Già thì bế cháu ẵm  con,

    Già đâu lại muốn cau non trái mùa.

    – Già thì lễ Phật đi chùa,

    Cau non trái mùa ai cũng muốn ăn.

    “Cau non trái mùa ai cũng muốn ăn” vừa là lời chống chế của người già, vừa là lời bênh vực của dân gian dành cho người già. Rằng thói đó âu cũng là lẽ thường.

    Về cánh các ông già, các nết không đứng đắn cũng không thoát được con mắt tinh tường và cái miệng thẳng thừng của dân gian:

    Ông già bạc phếu râu tôm

    Thấy dâu quét bếp còn lườm mắt dê

    Ông già ông đội nón cời,

    Ông ve  con nít ông Trời đánh ông.

    Điểm qua một vài thành ngữ, tục ngữ, ca dao như thế, mới thấy cái nhìn của dân gian đối với người già, tuổi già vô cùng đa diện, đặc sắc, có khen có chê, có nể có khinh. Điều đó không chỉ cho thấy thái độ của dân gian mà còn biểu hiện khả năng dùng từ, đặt câu biến hóa, lời lẽ khi khen, khi yêu thì chân thành, cảm động, khi chê, khi ghét thì chua chát, sâu cay.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nói Về Nông Nghiệp, Nghề Nghiệp, Công Việc
  • Câu Ca Dao Về Làng Nghề Hà Nội
  • Triết Lý Dân Tộc Việt Nam Qua Tục Ngữ
  • Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá Việt Na…
  • Ca Dao Dân Ca – Nét Đẹp Tâm Hồn Người Việt
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Tục Ngữ Ca Dao

    --- Bài mới hơn ---

  • Kho Tàng Lục Bát Dân Gian
  • Ca Dao Tục Ngữ Và Thành Ngữ Thể Hiện Lòng Biết Ơn?
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái, Yêu Thương Con Người
  • Ca Dao Tục Ngữ Qua 2 Miền Nam Bắc Pptx
  • Cách Nói Của Người Miền Tây Nam Bộ Qua Ca Dao Trần Minh Thương
  • TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ VÂN TỪ

    nhiệt liệt chào mừng các thầy cô giáo

    và các em học sinh về dự chuyên đề

    Môn ngữ văn

    Giáo viên thực hiện: Lê Thị Như Hoa

    Lời ăn tiếng nói

    trong tục ngữ – ca dao

    A. Lời ăn tiếng nói là vẻ đẹp của con người, là phương tiện thể hiện nội tâm.

    ” Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.

    Bảy thương nết ở khôn ngoan

    Tám thương ăn nói lại càng thêm thương”

    Gió đưa mười tám lá me

    Mặt rỗ hoa mè, ăn nói có duyên

    Thương chàng lắm lắm chàng ơi

    Nhớ miệng chàng nói, nhớ lời chàng than

    ” Nói gần nói xa chẳng qua nói thật”.

    * Lời nói đẹp là lời nói thanh ( không tục )

    * Lời nói đẹp là lời nói đúng sự thật , không ba hoa tô vẽ, không vòng vo , rắc rối.

    ” Người thanh tiếng nói cũng thanh

    Chuông kêu sẽ đánh bên thành cũng kêu”

    * Lời nói đẹp là lời nói dịu dàng.

    * Lời nói đẹp là lời nói có duyên.

    ” Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe “.

    ” Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên “.

    ii. Những ảnh hưởng của lời nói trong cuộc sống

    * Lời nói làm cho người ta si mê:

    Chim khôn chết mệt vì mồi

    Người khôn chết mệt vì lời nhỏ to.

    * Lời nói đem lại niềm phấn khởi: ” Được lời như cởi tấm lòng” hoặc gây ra nỗi xót xa:

    ” Dao vàng cắt ruột máu rơi

    Ruột đau chẳng mấy bằng lời em than.”

    * Lời nói có thể đem lại lợi ích vật chất, hoặc cũng có thể gây xích mích bất hòa:

    – Một lời nói quan tiền thúng thóc.

    – Một lời nói dùi đục cẳng tay.

    * Ghê gớm hơn, nó có thể gây thù chuốc oán, có khi gây bùng nổ can qua:

    – Một lời nói một đọi máu.

    – Khẩu thiệt đại can qua.

    * Trong đời sống tình cảm,lời nói tác động sâu sắc dai dẳng suốt chiều dài thăm thẳm của đời người:

    ” Dế kêu cho giải cơn sầu

    Mấy lời em nói bạc đầu chưa quên”

    III. Lời nói – phương tiện giáo dục hiệu quả.

    ” Người khôn không nỡ roi đòn

    Một lời nhè nhẹ hãy còn đắng cay”

    ” Sẩy chân còn hơn sẩy miệng”.

    ” Sẩy chân gượng lại cho vừa

    Sẩy miệng còn biết đá đưa đường nào”

    * Thay cho roi vọt và những lời thét mắng thô lỗ cục cằn

    – ” Học ăn, học nói, học gói, học mở”

    – ” Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”

    ” Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

    – ” Ăn nhai nói nghĩ “

    iv. Phương châm nói năng trong tục ngữ – ca dao.

    * Trong nói năng cần chú ý tính chất ngắn gọn, cô đọng, súc tích. Kiệm lời là phương châm hết sức quan trọng.

    Ăn bớt bát, nói bớt lời.

    Chim khôn tiếc lông, người khôn tiếc lời

    Miếng ngon ăn ít ngon nhiều

    Người khôn dẫu nói nửa điều cũng khôn.

    * Nói thừa – một điều tối kị trong giao tiếp

    – Nói dài, nói dai, nói dại

    Ăn lắm thì hết miếng ngon

    Nói lắm thì hết lời khôn hóa rồ.

    Rượu nhạt uống lắm cũng say

    Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm.

    Cái răng cái tóc là góc con người. Lời ăn tiếng nói cũng là góc con người, một góc rất quan trọng nữa. Do vai trò to lớn của nó cho nên từ bao đời nay nó đã được quan tâm, được đúc kết và gìn giữ trong những câu ca dao tục ngữ. Với chúng ta ngày nay, biết ăn nói lịch sự văn minh là yêu cầu quan trọng của con người có văn hóa. Dù làm nghề nghiệp gì, dù ở cương vị nào của xã hội mỗi người không thể không chú ý nói ý đẹp lời hay. Lời ăn tiếng nói là của mỗi cá nhân, nhưng nó lại góp vào trình độ văn hóa nói chung của dân tộc. Muốn nâng cao văn hóa của lời nói phải học ăn học nói.

    ” Nói cũng phải học, mà phải chịu khó học mới được”

    Hồ Chí Minh

    Kính chúc các thầy cô giáo và các em mạnh khoẻ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Em Hãy Tìm Một Số Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Sự Kính Trọng Và Lòng Biết Ơn Thầy Cô Giáo
  • Giải Bài 9: Kính Trọng, Biết Ơn Người Lao Động
  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Cái Đẹp, Kinh Nghiệm Sống, Nụ Cười
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Kinh Nghiệm Sống
  • Những Miền Quê Xứ Nghệ Trong Ca Dao, Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Kho Tàng Thành Ngữ Ca Dao Việt Nam Dịch Sang Thành Ngữ Tiếng Anh !
  • Tục Ngữ Việt Nam Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tiết Kiêm
  • Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập
  • Hồng sơn cao ngất mấy trùng Lam Giang mấy trượng thì lòng mấy nhiêu

    Chỉ hai câu ca dao mà đại từ ai xuất hiện ba lần như đưa con người dọc theo chiều dài lịch sử và chiều sâu văn hoá để trở về quá khứ. Biết bao thế hệ tiền nhân đã hiến thân cho mảnh đất quê hương để tạo nên vùng văn hoá Hông Lam lung linh bao sắc màu huyền thoại. Trải qua bao cuộc dâu bể, dẫu thời gian và năm tháng có làm thay đổi nhiều thứ nhưng núi Hồng – sông Lam vẫn hiên ngang, gồng mình chống đỡ với giông gió, bão tố để cuộc sống con người vơi bớt những nhọc nhằn. Núi Hồng – sông Lam không chỉ là biểu tượng cho vẻ đẹp của thiên nhiên xứ Nghệ mà nó còn trở thành hình tượng của sự nhớ thương:

    Đức Thọ gạo trắng nước trong Ai về Đức Thọ thong dong con người

    Hai bên lưu vực sông Lam, sông La, Ngàn Sâu, Ngàn Phố là những xóm làng yên bình của Đức Thọ, Nghi Xuân, Nam Đàn, Hương Sơn, Hương Khê…

    Trèo lên chót vót Hai Vai Ra tay khoát gió khoác vai ông Đùng.

    Dọc theo chiều dài đất nước từ Bắc vào Nam, đứng sừng sững ngạo nghễ giữa đồng bằng Diễn châu là hình ảnh lèn Hai Vai. Lèn Hai Vai chính là hoá thân của ông Đùng, người anh hùng bị chém cụt đầu thời tiền sử:

    Mỗi tên làng, tên núi, tên sông trong ca dao xứ Nghệ đều gắn bó thân thiết với người lao động, nó cụ thể và sinh động chứ không xa xôi, bóng gió. Mỗi địa danh đều tồn tại với một lí do riêng. Nhiều làng quê đi vào ca dao gắn với những đặc sản riêng của vùng từng vùng đất. Thứ đặc sản rất quen thuộc với mỗi người dân xứ Nghệ đó là chè xanh:

    Mặc lục chợ Hạ, uống chè Hương Sơn.

    Ai về Hà Tĩnh thì về

    Đọi nước chè em múc ra Khặm đụa vô nỏ bổ

    Về Hương Sơn thưởng thức thứ chè xanh mới hái được nấu với nước sông Ngàn Phố vừa sánh đặc lại vừa chát đã làm say lòng người bao thế hệ. Ca dao còn có câu miêu tả độ sánh đặc của nước chè nơi đây:

    Ai về Hồng Lộc thì về Ăn cơm cá Bàu Nậy, Uống nước chè khe Yên

    Việt Nam được coi là xứ sở của chè xanh, nhưng có thưởng thức chè xanh Nghệ Tĩnh mới thấy hết cái hồn quê đậm đà của ấm nước chè nơi đây. Người xứ Nghệ có cách uống chè độc đáo. Chè được nấu cả lá lẫn cành mới thơm ngon và đặc sánh. Dù trời nắng chang chang thì bát nước chè phải uống lúc còn nóng hôi hổi mới ngon, mới mát. Uống chè xanh cũng có hội gọi là “hội nước chát”. Quanh ấm chè chát mọi người cùng trò chuyện để gắn chặt hơn tình làng, nghĩa xóm và thậm chí bàn bạc cả những chuyện quan trọng như dựng vợ gả chồngcho con cái. Tình người xứ Nghệ được ví như đọi nước đầy. Nhiều vùng quê Nghệ Tĩnh cũng nổi tiếng với chè xanh như chè Gay (Anh Sơn – Nghệ An), chè rú Mả, chè Khe Yên ..:

    Vùng ven biển thì nổi tiếng với những hải sản mang hơi thở của biển cả:

    Cá thu, cá nục, cá mòi thiếu chi.

    Ai về Cửa Hội quê tôi

    Ai về Thạch Hạ mà coi Bắc nồi lên bếp xách oi ra đồng.

    Nhưng không phải vùng đất ven biển nào cũng được thiên nhiên ưu đãi, thế nên có địa danh lại gắn liền với bao nỗi nhọc nhằn của người dân An -Tĩnh:

    Thạch Hạ là một xã ven biển thuộc huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh. Đất đai ở đây bạc màu, con người bao đời vất vả dãi nắng dầm sương nhưng cái đói, cái nghèo vẫn đeo bám họ. Hình ảnh “Bắc nồi lên bếp, xách oi ra đồng” thể hiện cuộc sống tạm bợ của người dân.

    Ai hay mít ngọt, trám bùi Có về Cát Ngạn với tui thì về.

    Ngược lên miền sơn cước chúng ta sẽ có dịp thưởng thức những loại hoa quả đặc trưng:

    Quê ta ngọt mía Nam Đàn Bùi khoai chợ Rộ, thơm cam Xã Đoài.

    Vùng đồi núi, trung du, đồng bằng lại có những sản vật nổi tiếng:

    Bưởi Phúc Trạch, cam bù Hương Sơn, hồng vuông Thạch Hà Thanh Chương ngon cá sông Giăng Ngon khoai La Mạ, ngon măng chợ Chùa

    Hay:

    Bánh đa chợ Cày, bánh tày chợ Voi Bánh đúc cháo kê là nghề làng Trại

    Những món ăn dân dã như bánh đa, bánh tày (bánh chưng), bánh đúc, cháo kê cũng đi vào ca dao như thứ đặc sản mà người lao động hết sức nâng niu:

    Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn

    Nói đến xứ Nghệ mà chưa nhắc đến nhút thì quả là còn thiếu sót:

    Nhút là món ăn được làm từ mít xanh, xơ mít. Đây là món ăn gắn liền với các miền quê ở xứ Nghệ, món ăn của người nghèo. Nhưng nhút ngon phải chấm với tương Nam Đàn mới đúng vị.

    Quê tôi vốn ở Nguyệt Đàm Tôi đi bán hến chợ Sa Nam gần kề Hến tôi ngon gớm ngon ghê Ai muốn ăn hến thì về quê tôi

    Một món ăn đạm bạc không thể thiếu trong mâm cơm của người dân xứ nghệ trong những ngày hè đó là hến:

    Cũng có những địa danh gắn liền với nghề nghiệp:

    Lắm nống Do Nha, lắm cà Lộc Châu, Lắm dâu Cẩm Mỹ, lắm bị Kẻ Giăng, Lắm măng Kẻ Cừa, lắm bừa Trung Sơn, Lắm cơn Yên Xứ.

    Lắm ló Xuân Viên, lắm tiền Hội Thống,

    Kẻ Dặm đục đá nấu vôi Miệng thì thổi lửa, tay lôi rành rành

    Các địa danh trên đều thuộc huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Dân Xuân Viên giàu vì lúa gạo (lắm ló: lắm lúa); Hội Thống giàu nhờ nghề biển và buôn bán. Do Nha nổi tiếng với nghề thủ công đan nống (nống là nong). Kẻ chính là tên nôm của làng.

    Kẻ Dặm (tức Diễn Minh) là một làng thuộc huyện Diễn Châu, dưới chân lèn Hai Vai người dân nơi đây sống bằng nghề đục đá, nấu vôi. Diễn Châu cũng là nơi nổi tiếng với nhiều làng nghề khác nhau như nghề rèn, nghề làm nước mắm, dệt võng, dệt vải, dệt chiếu…

    Trai Đông Thái gái Yên Hồ Gặp nhau ta nổi cơ đồ cũng nên

    Người Nghệ Tĩnh đôi khi còn lấy địa danh để nhắc đến tình yêu đôi lứa hay tự hào về con người của các vùng quê:

    Đông Thái thuộc xã Tùng Ảnh, Đức Thọ. Trai Đông Thái tài giỏi còn gái Yên Hồ (cũng thuộc Thọ, Hà Tĩnh) thì xinh đẹp, giỏi giang. Trai thanh – gái lịch nổi tiếng cả một vùng đất.

    Đặng Sơn người đẹp nước trong Dâu non xanh bại, tơ tằm vàng sân

    Trong ca dao còn có câu: Trai Đông Phái, gái Phượng Lịch cũng nghĩa như trên chỉ khác Đông Phái và Phượng Lịch thuộc huyện Diễn Châu, Nghệ An.

    Xôi nếp cái, gái Tràng Lưu

    Đặng Sơn là địa danh thuộc huyện Đô Lương, Nghệ An. Xã Đặng Sơn nằm ở ven sông có nghề truyền thống là trồng dâu, nuôi tằm. Con gái vùng này xinh đẹp, đảm đang.

    Tràng Lưu (nay là xã Trường Lộc, Can lộc, Hà Tĩnh) là một vùng đất văn vật. Gái Tràng Lưu thông minh, xinh đẹp, nết na nổi tiếng.

    Bao giờ Đại Huệ mang tơi Rú Đụn đội nón thì trời mới mưa

    Các địa danh trong ca dao, tục ngữ có khi còn gắn liền với kinh nghiệm sản xuất hoặc dự báo thời tiết. Mỗi địa phương có kinh nghiệm dự báo thời tiết riêng:

    Đại Huệ nằm ở phía bắc còn rú (núi) Đụn thì ở phía tây huyện Nam Đàn, Nghệ An. Người dân xung quanh đây hễ thấy mây bọc xung quanh núi Đại Huệ hoặc trùm đỉnh rú Đụn thì biết chắc trời sắp mưa.

    Bao giờ ngàn Hống mang tơi, rú Thành đội mạo thì trời mưa to Mưa Cẩm Nang kiếm đàng mà chạy, mưa Kẻ Nại đứng lại mà giòm.

    Hay:

    ……

    Bao giờ mống Mắt mống Mê Thuyền câu thuyền lái chèo về cho mau

    Ngư dân chài lưới luôn phải đối mặt với bao hiểm hoạ từ thời tiết nên họ có nhiều kinh nghiệm tránh mưa bão:

    Mống (tức là cầu vồng cụt), Mắt, Mê là hai hòn đảo nhỏ thuộc các huyện Diễn Châu, Nghi Lộc. Đây là kinh nghiệm xem thời tiết của người dân vùng biển, khi thấy mống dựng lên ở hòn Mắt, hòn Mê thì trời sắp nổi giông tố nên cần nhanh chóng tìm nơi trú ẩn an toàn.

    Kinh kỳ dệt gấm thêu hoa

    Xứ Nghệ được xem là mảnh đất địa linh nhân kiệt, nhiều làng quê nổi tiếng về học hành khoa cử như làng Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu, Nghệ An), Tiên Điền, Tiên Bào (Nghi Xuân, Hà Tĩnh)….

    Tiền Điền, Tiên Bào sinh anh hào thông thái

    Quỳnh Đôi tơ lụa thủ khoa ba đời

    Cũng nói về mảnh đất địa linh nhân kiệt, nhưng xét về khía cạnh khác, có câu phương ngôn nổi tiếng: “Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần“nghĩa là nếu Thanh Hoá được hưởng nhiều ân huệ của vua thì Nghệ Tĩnh là đất được thần linh bảo hộ. Ở Nghệ Tĩnh, hàng trăm vị thần được lập đền thờ ở các làng xã. Nhắc đến đền thờ, dân gian có câu: “Đền Cờn, đền Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng” nhằm nhấn mạnh vẻ đẹp, tính linh thiêng và sự bề thế của bốn ngôi đền nổi tiếng bậc nhất xứ Nghệ.

    Đền Cờn (hay đền Cần) thuộc xã Quỳnh Phương, Quỳnh Lưu, Nghệ An là một ngôi đền nguy nga, tráng lệ. Đền thờ tứ vị thánh nương gồm 3 mẹ con công chúa nước Nam Tống là Từ Hy Thái Hậu Dương Nguyệt Quả, các công chúa Triệu Nguyệt Khiêu, Triệu Nguyệt Hương và bà nhũ mẫu. Tương truyền, xưa có ba mẹ con công chúa Nam Tống bị chết chìm ở biển Đông, thi thể trôi dạt vào cửa Càn. Người dân thấy thi thể còn tươi tắn như khi còn sống, toàn thân toả mùi thơm như lan, như quế nên đã chôn cất và lập miếu thờ đàng hoàng. Đây là những nữ thần bảo vệ cho dân làng làm ăn thịnh vượng.

    Đền Quả (còn gọi là đền Quả Sơn) toạ lạc dưới chân núi Quả Sơn thuộc làng Miếu Đường, xã Bạch Ngọc (nay là xã Bồi Sơn), Đô Lương, Nghệ An. Đền thờ Uy Mnh Vương Lý Nhật Quang – hoàng tử thứ 8 của vua Lý Công Uẩn. Ông là tri châu đầu tiên của Nghệ An. Tại đây, Lý Nhật Quang đã cống hiến tuổi xuân của mình để bảo vệ và xây dựng nước nhà, ông đã thực hiện chính sách huệ dân, khai khẩn đất đai, khuyến thiện, trừng ác thu phục được lòng người. Khi ông mất, người dân địa phương tưởng nhớ và lập đền thờ ông. Hiện tại trên đất Nghệ có trên 30 điểm lập đền thờ Lý Nhật Quang và đều coi ông là thành hoàng.

    Đền Bạch Mã thờ vị tướng trẻ Phan Đà, một người nổi tiếng thao lược của nghĩa quân Lam Sơn. Ông là người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh.Trong một đi lần thám thính tình hình quân địch ông bị giặc phục kích rồi tử trận. Con bạch mã trung thành mang ông về, đến xã Võ Liệt (Thanh Chương, Nghệ An) thì dừng chân. Tại đây ông được dân làng lập miếu thờ. Sau khi cuộc kháng chiến thắng lợi, Lê Thái Tổ cho xây dựng toà đền bề thế.

    Chiêu Trưng không chỉ nổi tiếng bởi sự linh thiêng mà còn mê hoặc lòng người bởi vẻ đẹp của núi non, biển trời hùng vĩ. Ngôi đền được xây dựng phía tây chân núi Long Ngâm, ngọn núi như một con rồng quấy đầu xuống nước. Đền thờ võ tướng Lê Khôi, cháu ruột của Lê Lợi nằm ở xã Thạch Kim, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Ông từng lập nhiều chiến công hiển hách cho nghĩa quân Lam Sơn.

    Ca dao tục ngữ chính là tiếng lòng của người lao động, nó đẹp và sáng lung linh mà bụi thời gian không thể làm phai mờ. Nhờ nó mà cái hồn quê được mãi lưu truyền từ đời này sang đời khác để văn hoá Nghệ nói riêng, văn hoá Việt nói chung sẽ giữ mãi được bản sắc riêng./.

    Tác giả bài viết: Nguyễn Thúy Hằng

    Phan Nữ La Giang @ 14:52 23/12/2013

    Số lượt xem: 48140

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tướng Cách Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ca Dao, Tục Ngữ , Danh Ngôn Về Xây Dựng Tình Bạn Trong Sáng Lành Mạnh?
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín, Uy Tín, Lời Hứa Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn, Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao , Tục Ngữ Về Truyền Thống Tôn Sư Trọng Đạo
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100