Tục Ngữ, Ca Dao Về Quan Hệ Gia Đình (Phạm Việt Long

--- Bài mới hơn ---

  • Mách Bạn Những Cách Phản Ứng Cực Hay Khi Tỏ Tình…thất Bại
  • Stt Hay Chất Đểu Độc Đáo Về Cuộc Sống
  • Tuyển Tập Những Danh Ngôn Về Lạc Quan Hay Nhất !!!
  • Những Lời Chúc Sinh Nhật Hay Dành Tặng Bạn Gái
  • Trải Lòng Với Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Bị Lừa Dối
  • Published on

    Mời độc giả vào đọc Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam với nhiều tư liệu về văn hoá nghệ thuật đáng quan tâm. Địa chỉ: vanhien.vn

    1. 1. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình LỜI CẢM ƠN Tác giả xin chân thành cảm ơn giáo sư, tiến sĩ khoa học Phan Đăng Nhậtđã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trong quá trình tác giả nghiên cứu, hoàn thànhcông trình này. Tác giả cũng chân thành cảm ơn các nhà khoa học đã đóng góp nhiều ýkiến quý báu giúp tác giả hoàn thiện công trình: – GS. TS Lê Chí Quế – Boxxyno.com Trần Đức Ngôn – GS. TS Nguyễn Xuân Kính – Boxxyno.com Vũ Anh Tuấn – Boxxyno.com Nguyễn Chí Bền – TS. Nguyễn Hữu Thức – TS. Nguyễn Thị Huế. Tác giả xin chân thành cảm ơn trường Đại học Khoa học xã hội và nhânvăn và Trung tâm Công nghệ thông tin (Văn phòng Bộ Văn hoá Thông tin, nay làBộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch) đã giúp dỡ tận tình tác giả trong suốt quá trìnhnghiên cứu, công bố công trình này. Phạm Việt Long 1
    2. 4. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhđể nhờ vào sự che chở của người chồng… Xem thế, người đàn bà đối với chồngchỉ có nhẫn nhục và chiều chuộng”3 Như vậy các tác giả Thi ca bình dân Việt Nam coi người phụ nữ Việt Nam”sống trong chế độ Tam tòng” của Nho giáo, tuân theo đạo tam tòng nghiêm khắcnày. Phạm Việt Long có nhận định khác. Ông cho rằng: “Qua ca dao, chúng tathấy không phải chỉ có phụ nữ mới theo chồng, mà có cả đàn ông theo vợ, vàquan trọng hơn là họ theo nhau, “phu phụ tương tòng”… Cách thức theo chồngcủa người phụ nữ Việt thời phong kiến đa dạng, phong phú, với nhiều ý nghĩatích cực, thể hiện sự chủ động của người phụ nữ trong việc lựa chọn và xây đắphạnh phúc cho mình. Trong sự chủ động ấy, người phụ nữ sẵn sàng gánh vác việckhó khăn, nặng nhọc, sẵn sàng chịu đựng mọi éo le của cuộc sống miễn là làmcho vợ chồng được gắn bó. Từ khái niệm tòng phu của Nho giáo, các tác giả đãchuyển hoá thành khái niệm theo nhau-“tương tòng”, là biểu tượng cho sự gắnbó vợ chồng người Việt trong xã hội phong kiến” 4 Kết luận như vậy có tính uyển chuyển, nhưng quan trọng là bằng conđường nào, bằng phương pháp nào để đi đến kết luận trên. Trước hết, tác giả không tự định ra trong đầu mình một tư tưởng, rồi tìmnhững đơn vị ca dao thích ứng để minh hoạ cho nó. Ông bao quát một kho tàngca dao đồ sộ khá đầy đủ 5, chứa đựng 11.825 đơn vị ca dao. Từ kho tàng đó, ôngchọn ra 1.179 đơn vị nói về đề tài gia đình, chiếm 9,97% tổng số. Từ đó, để khảosát vấn đề quan hệ vợ chồng, ông chọn được 690 đơn vị có đề tài này, chiếm58,52% đơn vị ca dao nói về gia đình (ngoài quan hệ vợ chồng còn có các quanhệ cha mẹ- con cái, anh chị em…) Từ toàn bộ các đơn vị ca dao nói về quan hệ vợ chồng được rút ra từ Khotàng ca dao, gồm 11.825 câu, tác giả bằng thống kê, chỉ ra có 3 kiểu phục tòng(nôm na là theo): – Vợ theo chồng. “Lấy chồng theo thói nhà chồng”, “Có chồng thìphải theo chồng, Đắng cay cũng chịu, mặn nồng cũng vui”… Trong quan hệ này,tác giả cũng rút ra những trường hợp ngược lại, nghĩa là vợ không theo chồng, sốlượng không đáng kể, ví như: “ăn cam ngồi gốc cây cam, Lấy anh thì lấy về Namkhông về” “ăn chanh ngồi gốc cây chanh, Lấy anh thì lấy về Thanh không về”. – Chồng theo vợ. “Vợ mà biết ở ắt chồng phải theo”, “Mình về anh cũngvề theo, Sum vầy phu phụ hiểm nghèo có nhau”… – Cả hai theo nhau. “Theo nhau cho chọn lời vàng đá”, “Quyết theonhau cho trọn đạo”… (Xin xem các trang 65,66- vi tính, ở đó có đầy đủ dẫn chứng)3 Nguyễn Tấn Long, Phan Canh (1998), Thi ca bình dân Việt Nam (Tập 1), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, tr.198,194.4 Phạm Việt Long, sách đã dẫn, tr.66 (vi tính).5 Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên và các cộng sự: Kho tàng ca dao người Việt, NXB Văn hoá-Thông tin, H, năm 1995. 4
    3. 6. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhvề sau nữa, khi được tích hợp vào cuộc sống hàng ngày của người bản địa, chỉcòn giữ được ở nơi xuất phát có cái vỏ hình thức nữa thôi (thường là tên gọi)trong khi nội hàm của khái niệm tiếp thu đã biến đổi hẳn” 8 Tóm lại, tác giả Phạm Việt Long trong sách Tục ngữ ca dao về quan hệ giađình đã nghiêm túc tiếp thu người đi trước về phương pháp tiếp cận văn hoá, đólà nguyên nhân quan trọng đem đến những đóng góp mới trong công trình nghiêncứu của ông và đây cũng là kinh nghiệm cho những ai quan tâm đến việc tìm hiểubản sắc văn hoá Việt Nam./. P.Đ.N.8 Nguyễn Từ Chi: Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người, NXB Văn hoá – Thông tin, Tạp chí văn hoá nghệthuật, H, 1996, tr.240. 6
    4. 8. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Văn học dân gian, trong đó có tục ngữ, ca dao, là kho tàng văn học quýgiá của đất nước, đã vượt qua mọi thử thách của thời gian, trở thành một thànhtố quan trọng trong gia tài văn hoá nước ta. Thông qua nghệ thuật ngôn từ, tụcngữ, ca dao đúc kết trí tuệ, tình cảm của nhân dân và phản ánh nhiều mặt củaxã hội, trong đó có phong tục, tập quán, có các mối quan hệ trong gia đình.Việc đi sâu nghiên cứu tục ngữ, ca dao đã phát hiện ngày càng nhiều nhữnggiá trị tiềm ẩn trong đó, giúp cho con người của xã hội đương đại có cơ sở đểthực hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, bảo tồn và phát huy truyền thống vănhóa của dân tộc. Trong qúa trình nghiên cứu, sưu tầm văn học dân gian, vớikhối lượng lớn tục ngữ, ca dao đã được sưu tầm, cần có các công trình nghiêncứu theo chuyên đề, đi thật sâu vào những nội dung chủ yếu của tục ngữ, cadao, qua đó làm cho người đương thời hiểu sâu hơn tục ngữ, ca dao, để cócách thức ứng xử phù hợp với kho tàng văn hoá quý giá này của dân tộc và đểrút ra những bài học bổ ích cho cuộc sống hiện tại. Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển toàn diện, hướng tới mụctiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Phù hợp vớixu hướng của thời đại, Đảng cộng sản Việt Nam coi văn hóa vừa là mục tiêuvừa là động lực của phát triển. Trong quá trình mở rộng cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,hội nhập với thế giới, bên cạnh những yếu tố tích cực, một vấn đề nóng bỏnghiện nay là sự hấp thụ thiếu chọn lọc những biểu hiện văn hóa ngoại lai, xa rờinhững tiêu chuẩn đạo lý dân tộc từng tồn tại hàng nghìn đời nay. Nhiều mặttiêu cực của xã hội hiện đại đã tác động vào gia đình, tạo ra nguy cơ phá vỡ sựbình yên của gia đình. Trong điều kiện đó, gia đình trong xã hội hiện đại đang là một vấn đềđược quan tâm. Quay trở về những giá trị truyền thống, trong đó có quan hệgia đình, đã trở thành xu hướng của thời đại. Việc nghiên cứu những giá trịtrong gia đình truyền thống thể hiện qua tục ngữ, ca dao là một cách thức đónggóp vào việc định hướng xây dựng gia đình trong xã hội ngày nay. Trong bối cảnh trên, việc làm sáng tỏ vấn đề phong tục, tập quán trongquan hệ gia đình qua tục ngữ, ca dao, chọn lựa và đề cao những phong tục tậpquán tốt đẹp của dân tộc, tìm ra và loại bỏ những hủ tục, sẽ góp phần đáng kểvào việc làm rõ nội hàm của khái niệm “Truyền thống văn hóa Việt Nam”,chống lại lối sống thực dụng, xa rời những chuẩn mực đạo đức, giáo dục, nângcao trình độ văn hóa, củng cố gia đình, ổn định xã hội, góp phần xây dựng nềnvăn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phục vụ sự nghiệp cách mạng hiệnnay cũng như lâu dài. 8
    5. 9. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Với những lý do như đã trinh bầy, chúng tôi căn cứ vào tục ngữ, ca daocủa người Việt đã được sưu tầm và in thành sách để khảo sát về quan hệ giađình người Việt truyền thống. Sở dĩ chúng tôi chọn hai thể loại này vì chúnggần gũi với nhau trong phương thức hình thành, lưu truyền cũng như trong nộidung và nghệ thuật. Tục ngữ thiên về lý trí, ca dao thiên về tình cảm, hai thểloại này sẽ bổ trợ cho nhau để chúng ta có thể nhìn nhận vấn đề gia đình từ cảhai góc độ lý trí và tình cảm. Thực hiện phương châm kế thừa có chọn lọc di sản văn hoá của dân tộc,chúng tôi đã tìm hiểu khá kỹ công trình nghiên cứu về tục ngữ, ca dao củanhững bậc tiền bối và thấy như sau: Việc sưu tầm, chú giải tục ngữ, ca dao nóichung đã được tiến hành từ nửa cuối thế kỷ thứ XVIII, nhưng chưa có côngtrình nào đi sâu nghiên cứu riêng về phong tục tập quán trong quan hệ gia đìnhngười Việt mà chỉ có một số tác phẩm đề cập đến vấn đề này trong một sốchương, mục. Năm 1940, qua Kinh thi Việt Nam, Nguyễn Bách Khoa (Trương Tửu)nói về Gia tộc phụ hệ và Chống nam quyền để phân tích về gia đình Việt Namthể hiện qua ca dao. Năm 1960, ở tác phẩm Chống hôn nhân gia đình phongkiến trong ca dao Việt Nam, Hằng Phương nêu lên những nội dung có tínhchất chống đối trong ca dao. Từ năm 1956 đến năm 1978, qua việc phân tíchca dao, Vũ Ngọc Phan nêu lên sự đối xử bất công đối với người phụ nữ, mâuthuẫn mẹ chồng – nàng dâu, chế độ đa thê, cảnh khổ lẽ mọn, đạo tam tòng tróibuộc người phụ nữ. Từ những năm 90 đến nay, các nhà nghiên cứu đã chú ý nghiên cứu vềtục ngữ, ca dao theo chuyên đề. Có những công trình được xuất bản hoặc táibản đáng chú ý như: Thi pháp ca dao của Nguyễn Xuân Kính, Ca dao tụcngữ với khoa học nông nghiệp của Bùi Huy Đáp, Tìm hiểu thi pháp tục ngữViệt Nam của Phan Thị Đào, Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người Việtcủa Triều Nguyên, Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc và thi pháp của Nguyễn TháiHòa, Tiếp cận ca dao bằng phương thức xâu chuỗi theo mô hình cấu trúccủa Triều Nguyên… Có hai tác phẩm đi sâu vào nội dung tục ngữ, ca dao, đặcbiệt là khảo sát khá kỹ các mối quan hệ của con người trong xã hội, đó là Thica bình dân Việt Nam của Nguyễn Tấn Long, Phan Canh và Đạo làm ngườitrong tục ngữ, ca dao Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Dân. Nghiên cứu về phong tục, tập quán trong gia đình người Việt, các côngtrình ngiên cứu khoa học trên góc độ xã hội học, văn hoá học, và đặc biệt làdân tộc học, đã có những tác phẩm chuyên sâu hoặc đã có những chuyên mụcchuyên sâu. 9
    6. 14. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình CHƯƠNG MỘT TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ GIA ĐÌNH ĐƯỢC PHẢN ÁNH QUA TỄC NGỮ, CA DAO 1. NHỮNG QUAN NIỆM CHÍNH VỀ GIA ĐÌNH VIỆT NAMTRUYỀN THỐNG 1.1. Khái niệm gia đình Gia đình là một thực thể vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội,gắn bó với nhau thông qua quan hệ hôn nhân, thân tình và dòng máu để đápứng nhu cầu về tình cảm, bảo tồn nòi giống, giữ gìn và phát huy những giá trịvăn hóa của cộng đồng và tộc người, góp phần nuôi dưỡng nhân cách conngười, phát triển kinh tế – xã hội, phản ánh sự vận động của cộng đồng và quốcgia trong tiến trình lịch sử. 1.2. Gia đình Việt Nam truyền thống Gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu về văn hóaViệt Nam. Mỗi tác giả tìm cách tiếp cận khác nhau về gia đình. Phan Kế Bínhtrong Việt Nam phong tục khảo sát gia đình thông qua phong tục trong gia tộc,gồm các mục: Cha mẹ với con, anh em, chị em, thân thuộc, phụng sự tổ tông,đạo làm con, thượng thọ, sinh nhật, thần hoàng, tang ma, cải táng, kỵ nhựt, tứthời tiết lập, giá thú, vợ chồng, vợ lẽ, cầu tự, nuôi nghĩa tử. Đáng chú ý làtrong khi giới thiệu phong tục tập quán, tác giả thường dẫn tục ngữ để minhchứng. Phan Kế Bính đã đưa ra nhận xét như sau: trong quan hệ gia đình ngườiViệt, hòa mục là điều hết sức quan trọng, đạo làm con phải trọng chữ hiếu, vợchồng phải giữ chữ tiết nghĩa với nhau. Ông cũng phê phán một số biểu hiệntiêu cực đã thành tập tục trong quan hệ gia đình như trọng nam khinh nữ, đathê… Trong Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua nếp cũ gia đình, tác giả ToanÁnh đi sâu vào đời sống gia đình, theo cách hiểu của học giả Đào Duy Anh:Gia đình chỉ “những người thân thuộc trong một nhà.” . Ở góc độ tiếp cận khác, Phó giáo sư Trần Đình Hượu đã xem xét Giađình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng Nho giáo và viết: 14
    7. 15. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình “Gia đình truyền thống Việt Nam chịu ảnh hưởng Nho giáo sâu sắc, nhưng tìm ảnh hưởng đó không nên chỉ căn cứ vào lý thuyết Nho giáo, mà nên nhìn gia đình trong thể chế chính trị – kinh tế – xã hội tổ chức và quản lý theo Nho giáo, bị điều kiện hoá trong thể chế đó mà vận động phát triển. Theo chúng tôi, những điều kiện đó là: – Chế độ chuyên chế với quyền vương hữu, quyền thần dân hoá toàn thể với nền kinh tế cống nạp. – Trật tự trên dưới theo phân vị. – Tổ chức làng – họ. – Cuộc sống nông thôn và cung đình. – Sự giáo hoá sâu rộng về trách nhiệm với vua với nước, về tình nghĩa gia đình, họ hàng, về lí tưởng sống êm ấm, trên kính dưới nhường, về quyền người đàn ông, người cha, người chồng”. Tác giả đã phân tích các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của nước tatrước đây để chỉ ra có bốn hạng người trong dân là sĩ, nông, công, thương,nhưng quan trọng nhất là nông và sĩ. Từ đó, ông “Phân biệt gia đình truyềnthống Việt Nam thành hai loại lớn: quan hộ và dân hộ.”. PGS. Nguyễn Từ Chi nghiên cứu sâu vào cơ cấu tổ chức làng xóm vànhận xét bước đầu về gia đình người Việt, mà địa bàn chủ yếu là vùng đồngbằng và trung du Bắc Bộ. Với gia đình người Việt cổ truyền, Nguyễn Từ Chinhấn mạnh đến loại mô hình gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân: “Gia tộc Việt, từnông thôn đến thành thị, ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, cả trên khắp đấtnước, từ lâu cũng đã giải thể đến mức gia đình nhỏ rồi, thậm chí trong tuyệt 15
    8. 17. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhthất thế, Vũ Đình Liên với bài thơ Ông Đồ chia sẻ tâm trạng của cả xã hội ViệtNam đối với tầng lớp Nho sĩ thất thế. Xã hội Việt Nam xuất hiện nhiều giaitầng mới, trong đó có viên chức và công nhân. Ngày nay, từ kết quả của các công trình nghiên cứu về Nho giáo, chúngta không phủ nhận ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo đối với văn hóa giađình ở Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế và xã hội cho nên mẫu hìnhtruyền thống của gia đình Việt Nam có những nét rất khác với gia đình truyềnthống ở Trung Quốc. Cũng vì vậy, tư tưởng về gia đình của Nho giáo đã bịkhúc xạ trong gia đình truyền thống ở Việt Nam. Ví dụ gia đình truyền thốngcủa Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh vai trò, quyền lợi và trách nhiệm của họtộc và thường gia đình phát triển theo hướng gia đình nhỏ thành đại tộc. Trongxưng hô, người Trung Quốc đưa họ lên vị trí chủ yếu (Lưu tiên sinh, Trần đạinhân…), tên người là phụ. Trong khi đó, ở Việt Nam, gia đình thường ở quymô nhỏ, cách xưng hô thân mật hơn, nhấn mạnh tên người, đề cao tính cộngđồng “tối lửa tắt đèn có nhau”, “bán anh em xa mua láng giềng gần” chứkhông đề cao tuyệt đối tộc họ, coi đó như là một đẳng cấp phân biệt trong xãhội. Những đặc tính nói trên được phản ánh rõ trong các mối quan hệ tronggia đình mà chúng tôi sẽ phân tích ở các chương sau qua tục ngữ, ca dao. 2. KHÁI NIỆM TỤC NGỮ, CA DAO, PHONG TỤC, TẬP QUÁN Đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm về tục ngữ, ca dao,phong tục tập quán. Tuỳ từng góc độ chuyên môn, mỗi nhà nghiên cứu quantâm đến những đặc tính này hay đặc tính khác của đối tượng để định nghĩakhái niệm, nhưng nói chung đã tương đối thống nhất ở những điểm cơ bản. Kếthừa quan niệm của các nhà khoa học đi trước, chúng tôi nêu lên những kháiniệm sát với hướng nghiên cứu của chúng tôi như sau: 2.1. Khái niệm tục ngữ Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian, được hình thành và sử dụngtrong lời nói hàng ngày, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống, thường ngắn gọn,có vần điệu, thành câu hoàn chỉnh, có chức năng thông báo, được phổ biếnrộng rãi trong nhân dân. 2.2. Khái niệm ca dao Ca dao là một thể loại văn học dân gian, có tính trữ tình, có vần điệu(phần lớn là thể lục bát hoặc lục bát biến thể) do nhân dân sáng tạo và lưutruyền qua nhiều thế hệ, dùng để miêu tả, tự sự, ngụ ý và chủ yếu diễn đạt tìnhcảm. Nhiều câu ca dao vốn là lời của những bài dân ca. Vào giai đoạn muộn vềsau, ca dao cũng được sáng tác độc lập. 17
    9. 20. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình “Đứa con không là gì hết, người đàn bà không là gì hết, con người không là gì hết. Cha là tất cả, chồng là tất cả, đàn ông là tất cả. Đó là chân lý phụ quyền của Nho giáo, mà giai cấp sĩ phu vẫn muốn dùng làm luân lý nền tảng của xã hội Việt Nam cũ, bởi nó rất thích hợp với chế độ quân quyền và kinh tế nông nghiệp, hai nguồn quyền lợi của giai cấp ấy. Nhưng chế độ quân quyền với trạng thái nông nghiệp ở xứ ta cũng mang một hình thức đặc biệt không giống xã hội Trung Quốc. Cho nên chế độ gia tộc Việt Nam chỉ tiến được đến khuôn khổ phụ hệ là ngừng lại, không đủ điều kiện chuyển sang khuôn khổ phụ quyền tuyệt đối như ở Trung Hoa. Vì thế mà ở trong dân gian luôn luôn lưu hành một sức chống nam quyền, chống phụ quyền, chống Nho giáo rất là mạnh mẽ.” . Tác giả nêu lên những nội dung có tính chất chống đối trong ca daolà: – Những nỗi lo âu và đau khổ của nam nữ thanh niên thời xưa. – Cưỡng ép hôn nhân. – Tảo hôn. – Đa thê – Cảnh góa bụa. – Mẹ chồng nàng dâu, mẹ ghẻ con chồng. – Không dân chủ trong gia đình. Vào năm 1960, viết như trong tiểu luận thể hiện một tinh thần chống đốiphong kiến đáng trân trọng. Công trình nghiên cứu tuy còn sơ lược nhưngcũng đã nêu lên diện mạo phía trái của gia đình Việt Nam; tuy nhiên, nếukhông nhìn sang phía phải, thì e rằng sẽ không tìm ra những truyền thống quýbáu trong quan hệ gia đình người Việt để gìn giữ và phát huy. Nguyễn Nghĩa Dân chia tục ngữ, ca dao về đạo làm người thành hai loại:một loại về lao động, học tập, tu dưỡng rèn luyện bản thân, và loại về đạo làmngười trong quan hệ gia đình. Tác giả viết: “Tục ngữ, ca dao nêu bật truyền thống hiếu thảo của con đối với cha mẹ,”… “Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đạo hiếu được xem như một chuẩn mực bao trùm để định giá đạo đức của một con người.”. “Quan hệ vợ chồng chủ yếu là tình yêu và hòa thuận.” . “Nhưng ca dao Việt Nam đã chứng tỏ rằng trong quần chúng nhân dân, tư tưởng chống đối giai cấp phong kiến vẫn là tư tưởng chủ đạo. Cho nên trong hôn nhân khi họ đã không ưng thuận, thì họ cũng không kể gì giàu sang phú quý, và cũng không tin gì ở số mệnh:” . Nguyễn Tấn Long và Phan Canh nhấn mạnh đến luật pháp của phongtục, nó khiến cho chế độ cai trị phải tôn trọng lề thói của địa phương. Các tácgiả liên hệ: Trong thi ca bình dân, những tầng lớp phụ nữ đã nối tiếp nhau quanhiều thế hệ, nói lên ý thức chống đối của họ, cho nên, ngoài sự phát triển mứcsống của hệ thống kinh tế, sự chống đối giữa ý thức cai trị và ý thức tục lệchính là mầm mống phân chia trong hệ thống chính trị.” . Các tác giả nhận xét rằng người đàn bà bình dân đã chống lại chế độ phụ quyền bằng cách lật đổ hình tượng người đàn ông, chỉ rõ những thứ xấu xa của người đàn ông, phủ nhận ý thức tôn thờ người đàn ông: “Cho nên, nếu người đàn ông đem giá trị người đàn bà hạ nhục để khống trị9, thì người đàn bà cũng đem giá trị người đàn ông hạ nhục để chống lại. Trạng thái ấy phản ứng rất rõ rệt trong ca dao Việt Nam, …” . …”Tóm lại, giáo lý “tam tòng” của Khổng Mạnh đã bị đổ nát. Dòng lịch sử đấu tranh chống phụ quyền của người đàn bà chiến thắng, phá vỡ hoàn toàn cái hình tượng tôn thờ đàn ông. Trong khi chống phụ quyền, họ đã tỏ ra một thái độ cương quyết cực đoan, trắng trợn. Họ đòi bình quyền với đàn ông về mọi phương diện. Nhưng, cương quyết và cực đoan chưa phải là lợi khí mầu nhiệm trong lịch sử đấu tranh của họ. Điều thành công là họ đã khéo lôi cuốn đàn ông, lớp người tân tiến, cùng đứng chung trong ý thức chống đối của họ để tạo thành một phong trào giải phóng phụ nữ.” . Về những khắc khoải của tình yêu qua tập tục lễ giáo, có những ý chínhnhư sau: “Quyền cha mẹ định đoạt số phận yêu đương của con chính là nguyên nhân phát sinh những tâm hồn khắc khoải của nam nữ thanh niên thời bấy giờ.” . Về tình vợ chồng, các tác giả viết: “Trước nhất, chúng ta thường thấytrong ca dao Việt Nam, người bình dân quan niệm sự sống chung giữa vợchồng là một cái “đạo”. . Nói về gia đình nhà nho, Phó giáo sư Trần Đình Hượu đã nhận xét: “Tuy thế, trong những gia đình gia thế, tay hòm chìa khoá lại là ở người đàn bà, người chồng giao hết tiền nong cho vợ và không bao giờ kiểm soát sự chi tiêu của vợ. Người đàn bà được coi là nội tướng, chủ phụ, tuy về danh nghĩa là nghe theo lời chồng, giúp chồng, nhưng thực tế thì là người chủ trì việc nhà.”. Nhà giáo Nguyễn Nghĩa Dân nghiên cứu một cách tổng thể tục ngữ, ca dao theo phương pháp nghiên cứu văn học dân gian, và đặc biệt là phương pháp quy nạp, để luận bàn về đạo làm người được thể hiện qua tục ngữ, ca dao: “Kinh tế nước ta chủ yếu là nông nghiệp, gia đình vừa là đơn vị lao động vừa là tế bào của tổ chức xã hội, lại đề cao phụ quyền nên ở gia đình có nhiều “công thức” về đạo làm người do giai cấp phong kiến thống trị áp đặt như phụ: từ, tử: hiếu, phu: xướng, phụ: tùy, tam tòng, tứ đức; trọng nam, khinh nữ. Trong gia đình cũng có những thành kiến về “bà gia10 nàng dâu”, về “dì ghẻ con chồng”, về “anh em rể, chị em dâu”, về “ông chú mụ o”… làm cho quan hệ gia đình thêm phức tạp. Gia đình rồi dòng họ trở thành cơ sở vững chắc ở nông thôn, từ đó có những quan hệ hẹp hòi “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”, “Chín đời họ mẹ còn hơn người dưng”. Tục ngữ về đạo làm người một mặt làm nhiệm10 Từ bà gia do tác giả viết theo phương ngữ, có nghĩa là mẹ chồng. 25
    10. 26. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình vụ phản ánh, mặt khác đấu tranh chống lại những tập tục thành kiến nói trên” . “Cho nên, trước kia cũng như hiện nay, trong đạo làm người của Việt Nam vẫn tồn tại những tư tưởng nhân văn của đạo đức Á Đông nhưng điều cần xác định là qua tục ngữ hoặc ca dao về đạo làm người, những tư tưởng đó đã được Việt hóa, hòa vào bản sắc dân tộc, vào tinh hoa văn hóa chung về dựng nước và giữ nước hình thành từ hàng nghìn năm qua.” . “Nếp sống cộng đồng, tình nghĩa nói trên của dân tộc ta bắt nguồn từ những điều kiện kinh tế nông nghiệp lâu đời, đồng thời cũng bắt nguồn từ hoàn cảnh xã hội thường xuyên phải đối phó với thiên tai và ngoại xâm”. . “…trong quan hệ nếp sống cộng đồng ta cũng có những hạn chế như gia trưởng, cục bộ địa phương, hủ tục, mê tín dị đoan… là những nhược điểm cần loại trừ khỏi đời sống hiện nay.” . “Tục ngữ, ca dao cũng không quên phê phán những hiện tượng bất hiếu được lưu truyền như kinh nghiệm xấu…” 26
    11. 29. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình + Những nét chung nhất là: Tương thân tương ái. Muốn tạo hoà khí giađình thì cách ứng xử phổ biến là nhịn nhục, nhưng chỉ có phụ nữ nhịn nhục.Không lấy tình yêu trai gái làm yếu tố chính cho tình cảm gia đình, mà lấy tìnhcảm sinh hoạt làm căn bản. Gia đình là cơ sở giáo dục con người. Người dânViệt đã bảo vệ phong tục lễ giáo, nhờ thế mà ngày nay ta còn được những mầusắc dân tộc. Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đạo hiếu được xem nhưmột chuẩn mực bao trùm để định giá đạo đức của một con người. Ngày nay,đạo thờ cúng tổ tiên còn được duy trì và tồn tại chính là nhờ ý thức hiếu đạocủa người bình dân. Gia đình rồi dòng họ trở thành cơ sở vững chắc ở nôngthôn, từ đó có những quan hệ hẹp hòi. Trong đạo làm người của Việt Nam vẫnlưu giữ những tư tưởng nhân văn của đạo đức Á Đông nhưng điều cần xácđịnh là qua tục ngữ, ca dao, những tư tưởng đó đã được Việt hóa, hòa vào bảnsắc dân tộc, góp phần tạo ra tinh hoa văn hóa chung từ thời dựng nước, trải quahàng nghìn năm hình thành và phát triển. Tục ngữ, ca dao Việt Nam thể hiệnkhông chỉ tư tưởng, đạo đức mà còn thể hiện đậm nét lối sống, trong đó nổi lênnếp sống cộng đồng, tình nghĩa của dân tộc với tinh thần khoan dung, gắn bóđoàn kết, tạo nên sức mạnh to lớn để dựng nước và giữ nước. Quan hệ dọctrong gia đình là chữ hiếu, quan hệ ngang là chữ đễ, quan hệ vợ chồng là chữthuận, quan hệ con cháu đối với ông bà tổ tiên là thờ kính, “Uống nước nhớnguồn”. Cách xử lý trong gia đình bắt nguồn từ sự thương yêu, hòa hợp. Tìnhnghĩa là chất keo sơn gắn bó mọi thành viên trong một gia đình, một địaphương và trong cả nước, tạo nên sự cố kết vững chắc. “Nghĩa” là một giá trịđạo đức có trong luân lý Khổng Mạnh nhưng “nghĩa tình” lại là sáng tạo mangbản sắc dân tộc Việt. Tình nghĩa làm cho quan hệ giữa người với người ViệtNam bền chặt trong từng cộng đồng, từ gia đình đến xã hội. Nếp sống cộngđồng, tình nghĩa nói trên của dân tộc ta bắt nguồn từ những điều kiện kinh tếnông nghiệp lâu đời, đồng thời cũng bắt nguồn từ hoàn cảnh xã hội thườngxuyên phải đối phó với thiên tai và ngoại xâm. Trong quan hệ nếp sống cộngđồng Việt cũng có những hạn chế như gia trưởng, cục bộ địa phương, hủ tục,mê tín dị đoan… Cùng với xu hướng phản phong của văn học dân gian ViệtNam, tục ngữ, ca dao về đạo làm người chống lại những thói hư tật xấu,những hành vi vô đạo đức, phê phán những hiện tượng bất hiếu được lưutruyền như kinh nghiệm xấu, cần phải khắc phục… + Về mối quan hệ cha mẹ con: Tục ngữ, ca dao nhấn mạnh quan hệ mẹcon, ghi lại thiên chức và tình cảm của người mẹ. Tục ngữ, ca dao cũng nêuđược truyền thống hiếu thảo của con đối với cha mẹ. Có tác giả khẳng địnhrằng qua tục ngữ, ca dao thấy quyền cha mẹ định đoạt số phận yêu đương của 29
    12. 30. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhcon. Tục ngữ, ca dao phê phán những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ của conđối với mẹ. + Về mối quan hệ vợ chồng: Tục ngữ, ca dao cho ta thấy rằng trong quanniệm của người Việt, chung sống vợ chồng là một đạo lý. Vì vậy quyền hạngiữa người chồng và người vợ không phải chỉ có một chiều mà phải đặt trêntính chất tương ứng và bình đẳng. Quan hệ vợ chồng chủ yếu là tình yêu vàhòa thuận. Người phụ nữ Việt theo chồng, nhưng không theo kiểu “tòng phu”của Nho giáo, không phải theo để hầu hạ, mà để chia sẻ niềm vui, là nghĩa vụtương thân tương ái và bình đẳng xây dựng trên ý thức đồng lao cộng lực,chung thủy, khác với đạo “tam tòng” của Khổng Mạnh. Người phụ nữ ViệtNam thương chồng và theo chồng trên căn bản, không phải bị áp bức, bắtbuộc, mà phát xuất từ tình thương, từ lòng mong mỏi xây dựng gia đình. Trongluật lệ của triều đình phong kiến, có một số trường hợp, như Lê triều hìnhluật có những điều khoản tỏ ra coi trọng phụ nữ. + Về mối quan hệ anh chị em: Trong tục ngữ, ca dao, tình anh em đượcnói tới ít, nhưng cũng thiết tha. Quan hệ anh em có khi bị ý thức tư hữu chiphối, nhưng tình huyết thống vẫn giữ một vai trò thiêng liêng. 4. NHÂN TỐ TÁC GIẢ CỦA TỤC NGỮ, CA DAO VỀ QUAN HỆ GIAĐÌNH. Tác giả của tục ngữ, ca dao chủ yếu là nông dân. Xã hội Việt Nam trướctháng 8 năm 1945 có tới 95% dân chúng mù chữ. Người được học chữ Hán haychữ quốc ngữ thời ấy không nhiều, hay nói đúng là quá ít ở nông thôn ViệtNam. Phương thức sáng tác ngẫu hứng, truyền miệng trong môi trường sinhhoạt dân dã sản sinh những câu ca dao chan chứa tình cảm và hàm chứa nhiềutâm sự. Phương thức canh tác nông nghiệp cổ truyền, những luật tục của họtộc, làng quê trong một xã hội tiến triển chậm chạp là môi trường nẩy sinhnhững câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm của con người đối với tự nhiên, xã hộivà gia đình để truyền lại các các thế hệ kế tiếp. Tuy nhiên, nếu khảo sát hàng nghìn câu ca dao, tục ngữ còn lưu giữ đếnhôm nay, chúng ta dễ dàng nhận ra vai trò của những nhà nho trong việc sángtác và phổ biến những câu ca dao, tục ngữ. Cũng cần nói thêm rằng ở một sốbài viết về tác giả của tục ngữ và ca dao, một số nhà nghiên cứu đã minh chứngvề sự hiện diện của tầng lớp nho sĩ trong các cuộc hát ví phường vải, những bàidiễn ca tế thần, hát trống quân… Cũng không là ngoại lệ trong số 730 câu tục ngữ và 1.179 câu ca dao nóivề gia đình có ghi dấu ấn của nhà nho. Điều này thể hiện ở chỗ họ đã đưanhững câu tục ngữ, thành ngữ của Trung Quốc, những châm ngôn của Nho 30

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lời Chúc Tết Hay Và Độc Đáo Nhất Dành Cho Vợ/chồng
  • Stt Về Hoa Hồng, Những Câu Nói Hay Về Loài Hoa Tình Yêu Bất Tử
  • Những Lời Chúc Tết Dương Lịch Tặng Bố Mẹ
  • Top 200 Stt Du Lịch Hay Và Ý Nghĩa Nhất Tháng 9 2022
  • Những Câu Status Hay Ý Nghĩa Cảm Động Nhất Về Tình Yêu Nhất Định Sẽ Khiến Bạn Rơi Lệ
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Duy Tâm Chủ Quan

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Chúc Valentine Tặng Bạn Trai, Lời Chúc 14/2 Tặng Bạn Trai Hay Nhất
  • Lời Chúc Valentine 14/2 Tặng Bạn Trai Cảm Động Ngọt Ngào Lãng Mạn
  • Những Câu Stt Hay Về Tình Bạn Thân Ngắn
  • Top Những Câu Nói Hay Về Thời Gian Khiến Bạn Phải Giật Mình Suy Ngẫm
  • Danh Ngôn Tiếng Anh Về Sự Thành Công Và Thất Bại
  • Ca doa tục ngữ là một kho tàn vô cùng quý giá, là những kinh nghiệm ông bà ta đúc kết qua bao đời nay. Ca dạo tục ngữ thường được sử dụng nhiều trong lao động sản xuất và có một vai trò nhất định trong lao động sản xuất của con người. những hoạt động khắc họa nên cuộc sống lao động sản xuất con người như thể hiện thiên tai, bão lũ, đồng thời khơi dậy tinh thần đoàn kết, và bên cạnh đó ca dao tục ngữ còn góp phần tạo nên nhân cách con người.

    Cho đến nay, cuộc sống hiện đại nên những câu ca dao tục ngữ được cho là lỗi thời, lạc hậu. tuy nhiên, những câu ca dao tục ngữ vẫn giữ nguyên giá trị nhân văn, giá trị tinh thần của nó đối với cuộc sống lao động sản xuất. để thể hiện giá trị của những câu ca dao tục ngữ trong cuộc sống, trong duy tâm chủ quan, chúng ta cùng đi tìm hiểu các câu ca dao tục ngữ về duy tâm chủ quan.

    Câu 1:

    • Tục ngữ về duy tâm chủ quan:
    • Ai là người sinh ra mặt đất?
    • Ai là người tạo ra bầu trời?
    • Bà Chày sinh ra trời đất
    • Ông Chày sinh ra bầu trời

    Đây là một câu tục ngữ nói về quan niệm duy vật mà ông bà ra đã thể hiện rõ điều ấy. quan niệm suy vật được thể hiện qua sự khắc họa nguồn gốc của trời đất, của muôn loài. Chính vì thế mag quan niệm của ông bà ta mang tính duy tâm chủ quan sâu sắc và mang yếu tố tâm linh thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa trời đất, con người.

    Câu 2:

      Mệnh do ngã lập, khúc do kỷ cầu.

    Những quan niệm về duy tâm chủ quan của con người xưa rất chất phát, bên cạnh những tính chất phát ấy thì những quan niệm ấy cũng mang tính thần thánh hóa trời. câu tục ngữ trên khẳng định việc làm chủ bản thân làm chủ vận mệnh của chính bản thân mình. Khẳng định rằng số mệnh của mình do mình tạo ra, hạnh phúc của mình o mình tự tìm đến.

    Tổng hợp những câu tục ngữ về duy tâm chủ quan:

    • Người sang tại phận.
    • Cha mẹ sinh con trời sinh tính.
    • Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời.
    • Nhập giang tuỳ khúc,
    • Một người làm nên cả họ được cậy,
    • Gần lửa rát mặt.
    • Ngắn tay với chẳng tới trời.
    • Xấu chữ nhưng lành nghĩa.
    • Nguồn đục, dòng cũng đục.
    • Nước chảy chỗ trũng.
    • Tiên trách kỷ, hậu trách nhân.
    • Hậu sinh khả úy.
    • Tre già măng mọc.
    • Không thầy đố mày làm nên;
    • Dốt đến đâu học lâu cũng biết.
    • Thánh cũng có khi nhầm.
    • Học hay cày giỏi
    • Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.
    • Muốn ăn cá cả, phải thả câu dài.
    • Tre già, măng mọc.
    • Rắn già rắn lột, người già, người tọt vô xăng.
    • Người là hoa của đất.
    • Năm ngón tay, có ngón ngắn, ngón dài.
    • Người mà vô lễ khác gì muông dê.
    • Tứ hải giai huynh đệ.
    • Quan nhất thời, dân vạn đại.

    Ca dao về duy tâm chủ quan:

    Câu 1:

    • Non cao ai đắp mà cao?
    • Sông kia ai bới, ai đào mà sâu?
    • Nước non là nước non trời
    • Ai ngăn được nước ai dời được sông?

    Con người chưa lý giải được nguồn gốc của con người, của vũ trụ, nhưng con người đã có quan niệm cho rằng sự tồn tại của vũ trụ là khách quan, không phải do thần linh tạo ra, cũng không do một yếu tố tâm linh tạo nên, những yếu tố đó được độc lập với ý thức của con người.

    Câu 3:

    • Thức đêm mới biết đêm dài
    • Lội sông mới biết sông nào cạn sâu.

    Câu tục ngữ nói lên ý thức tự làm chủ cuộc sống, tự làm chủ thời gian của bản thận mình. Câu tục ngữ còn khuyên con người sống phải bám sát thực tiễn, chuyện gì cũng phải xuất phát từ thực tế bản thân.

    Tổng hợp những câu ca dao về duy tâm chủ quan:

    Thì trời giáng họa cây khoai giữa đồng.

    Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo.

    Có cột có kèo mới có đòn tay.

      Người có lúc vinh lúc nhục,

    Nước có lúc đục lúc trong.

    Thân ai nấy lo, phận ai nấy giữ.

    Đèn nhà ai nấy rạng.

    Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.

    Như cây có cội như sông có nguồn.

    Kiến tha lâu đầy tổ;

    Có công mài sắt có ngày nên kim;

    Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại thành hòn núi cao.

    Con giun xéo lắm cũng oằn.

      Được người mua, thua người bán;

    Được lòng ta xót xa lòng người.

      Trách người một, trách ta mười,

    Bởi ta tệ trước nên người bạc sau.

      Anh tưởng giếng nước sâu,

    Anh nối sợi gầu dài,

    Ai ngờ giếng nước cạn,

    Anh tiếc hoài sợi dây.

      Học khôn học đến chết, học nết học đến già;

    Ông bảy mươi học ông bảy mốt.

      Non cao cũng có người trèo,

    Đường dẫu hiểm nghèo cũng có lối đi.

    Đã đẵn thì vác cả cành lẫn cây.

      Lên non mới biết non cao,

    Lội sống mới biết sông nào cạn sâu.

      Có thực mới vực được đạo;

    Có bột mới gột nên hồ.

      Trăm hay không bằng tay quen;

    Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.

    Không dưng ai dễ đem phần đến cho.

      Khi khó thì chẳng ai nhìn,

    Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em.

      Giàu nhân nghĩa hãy giữ cho giàu, khó tiền bạc chớ cho rằng khó;

    Hai chữ tài sắc thì để dưới đất, hai chữ than nghĩa thì cất lên tra.

    Trên đây là Ca dao, tục ngữ, câu nói về duy tâm chủ quan hay nhất, hi vọng bài viết đã đáp ứng được những kiến thức mà bạn cần. xin chân thành cảm ơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 16 Lời Chúc Giáng Sinh Noel Cho Bạn Bè Hay, Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống, Câu Nói Hay Về Cuộc Sống Thường Ngày
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống Khiến Bạn Vô Cùng Tâm Đắc
  • Những Câu Nói, Status Về Cuộc Sống Gia Đình Rất Hay
  • Tổng Hợp Câu Nói, Status Hay Về Tình Yêu Tuổi Học Trò
  • Sưu Tầm Ca Dao Tục Ngữ Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Vận Dụng Đặc Điểm, Cấu Tạo Và Ngữ Nghĩa Của Thành Ngữ Địa Phương Thanh Hóa Vào Tiết Học Ngữ Văn Lớp
  • Hãy Nêu Các Câu Ca Dao , Tục Ngữ Nói Về Đoàn Kết , Tương Trợ Câu Hỏi 42214
  • Phân Biệt Thành Ngữ, Tục Ngữ
  • 105 Thành Ngữ Thông Dụng Trong Tiếng Anh
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Giàu Nghèo, Nợ Nần, Sự Nghèo Khó
  • Sưu tầm ca dao tục ngữ địa phương? Ca dao tục ngữ địa phương miền nam? Ca dao tục ngữ địa phương miền trung? Ca dao tục ngữ địa phương miền bắc?

    Có những câu ca dao, tục ngữ địa phương nào hay nhỉ?

    Ai lên làng Quỷnh hái chè

    Hái dăm ba lá xuống khe ta ngồi!

    Muốn ăn cơm trắng cá mè

    Thì lên làng Quỷnh hái chè với anh

    Muốn ăn cơm trắng cá rô

    Thì lên làng Quỷnh quẩy bồ cho anh!

    Hà Nội:

    1.

    2.

    3. Chùa Hương

    4.

    5. Đường phố Hà Nội

    Hà Nội ba mươi sáu phố phường

    Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh

    Từ ngày ta phải lòng mình

    Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen

    Làm quen chẳng được nên quen

    Làm bạn mất bạn ai đền công cho

    Bắc Ninh:

    Chiều trên cánh đồng Bắc Ninh

    Trên trời có đám mây xanh

    Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng

    Ước gì anh lấy được nàng

    Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

    Xây dọc rồi lại xây ngang

    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

    Miền Trung

    Thanh Hóa:

    Ai về nhớ vải Đinh Hòa

    Nhớ cau Hổ Bái, nhớ cà Đan Nê

    Nhớ dừa Quảng Hán, Lựu khê

    Nhớ cơm chợ Bản, thịt dê Quán Lào

    Nghệ An:

    1.

    2.

    Ra đi anh nhớ Nghệ An

    Nhớ Thanh Chương ngon nhút

    Nhớ Nam Đàn thơm tương…

    “Tiếng đồn cá mát sông Găng

    Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Cồn.”

    Hà Tĩnh:

    Quảng Bình:

    Quảng Trị:

    Thừa Thiên – Huế:

    1.

    2.

    3. Sông Hương – Núi Ngự

    “Quít giấy Hương Cần

    Cam đường Mỹ Lợi

    Vải trắng Cung Viên

    Nhãn lồng phụng tiêu

    Đào tiên Thế miếu

    Thanh trà Nguyệt biếu

    dâu da làng Truồi

    Hạt sen Hồ Trịnh…”

    Quảng Nam:

    Nem chả Hòa Vang

    Bánh tổ Hội An

    Khoai lang Trà Kiệu

    Rượu thơm Tam kỳ…

    Cô gái làng Son

    Không bằng tô don Vạn Tường.

    Quảng Ngãi:

    Ai về Quảng Ngãi quê ta

    Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà dễ ăn

    Mạch nha, đường phổi, đường phèn

    Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền

    “Mứt gừng Đức Phổ

    Bánh nổ Nghĩa Hành

    Đậu xanh Sơn Tịnh”.

    Mạch nha Thi Phổ

    Bánh nổ Thu Xà

    Muốn ăn chà là

    Lên núi Định Cương

    Bình Định:

    1.

    2.

    3.

    4.

    5.

    Bình Định có núi Vọng Phu

    Có đầm Thị Nại, có cù lao Xanh

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa

    Phú Yên:

    1.

    2.

    Khánh Hòa:

    Yến xào Hòn Nội

    Vịt lộn Ninh Hòa

    Tôm hùm Đinh Ba

    Nai khô Diên Khánh

    Cá tràu Võ cạnh

    Sò huyết Thủy Triều…

    Phan Rí, Phan Thiết (Bình Thuận) :

    Cô kia bới tóc cánh tiên

    Ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi

    Chẳng tin giở thử ra coi

    Rau răm ở dưới cá mòi ở trên

    Miền Nam

    Sài Gòn:

    1.

    2.

    3.

    4.

    5. Sài Gòn về đêm

    6.

    7.

    8.

    9.

    10.

    11.

    Bình Dương:

    Cây trái Bình Dương

    Đất Bình Dương vốn thật quê chàng

    Lánh nơi thành thị tìm đàng du sơn

    Xuân xanh hai tám tuổi tròn

    Hoa còn ẩn nhụy, chờ bình đơm bông.

    Đồng Nai:

    1.

    2.

    3.

    4.

    5.

    6.

    7.

    8.

    9.

    10.

    Long An:

    1.

    2.

    3.

    Bến Tre:

    1.

    Bến tre dừa ngọt sông dài

    Nơi chợ Mõ Cày có kẹo nổi danh

    Kẹo Mõ Cày vừa thơm vừa béo

    Gái Mõ Cày vừa khéo vừa ngoan

    Anh đây muốn hỏi thiệt nàng

    Là trai Thạnh Phú cưới nàng được chăng?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Công Tác Quản Lý Chỉ Đạo Lồng Ghép Đồng Dao, Ca Dao, Tục Ngữ Vào Chương Trình Giáo Dục Mầm Non
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Con Cái Nuôi Dạy Con Cái, Giáo Dục Con Người
  • Sưu Tầm Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Gia Đình, Tình Cảm Gia Đình
  • Tổng Hợp Thành Ngữ, Tục Ngữ, Ca Dao Theo Chủ Đề
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Từ Ngữ Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Thư Chúc Tết Công Ty Dành Cho Lãnh Đạo, Cán Bộ Quản Lý
  • Những Câu Chửi Khéo Người Yêu Cũ Bằng Tiếng Anh Cực Hay Và Thâm Thúy
  • Những Câu Châm Ngôn Nổi Tiếng Không Thể Bỏ Qua Bằng Tiếng Anh
  • Hướng Dẫn Cách Chạy Xe Xipo Lướt Nhanh Trong Gió
  • Stt Lời Chúc Noel Vui Vẻ Tuyển Chọn Hay Nhất
  • Ca dao tục ngữ có từ ngữ địa phương không phải ai cũng biết

    Ca dao có từ ngữ địa phương

    1. Chồng chèo thì vợ cũng chèo

    Hai đứa cùng nghèo lại đụng với nhau.

    2. Ngó lên hòn Kẽm đá dừng ,

    Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi !

    3. Thương em anh cũng muốn ,

    Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.

    4. Thân em như cá trong lờ

    Hết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu.

    5. Bên dưới có sông, bên trên có chợ

    Hai đứa mình kết vợ chồng nghen.

    6. Trời mưa cóc nhái chết sầu

    Ễnh ương đi cưới nhái bầu không ưng

    Chàng hiu đứng dựa sau lưng

    Khều khều móc móc cứ ưng cho rồi.

    8. Anh tưởng giếng sâu anh nối sợi dây cụt

    Ai dè giếng cạn nó hụt sợi dây

    Qua tới đây không cưới được cô hai mày

    Qua chèo ghe ra biển đợi nước đầy qua chèo trở .

    9. Đời cơ cực như ri

    Đồng Khánh ở giữa, Hàm nghi hai đầu.

    11. Đôi ta như chỉ xe đôi

    Khi săn săn rứa, khi lơi lơi chùng.

    12. Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Đĩa lội lềnh như bánh canh.

    13. Rau đắng nấu với cá trê

    Ai đến đất Mũi thì không về!

    15. Vịt nằm bờ mía rỉa lông

    Cám cảnh thương chồng đi thú Hà Tiên.

    16. Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

    Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu.

    17. Cần Thơ gạo trắng nước trong

    Ai đi đến đó thời không muốn về.

    18. Ai ơi về miệt Tháp Mười

    Cá tôm sẳn bắt, lúa trời sẳn ăn.

    19. Muốn ăn bông súng mắm kho

    Thì Đồng Tháp ăn no đã thèm.

    20. Bến Tre trai lịch, gái thanh

    Nói năng duyên dáng ai nhìn cũng ưa.

    21. Muối khô ở Gảnh mặn nồng

    Giồng Trôm, Phong Nẫm dưa đồng giăng giăng.

    22. Hết gạo thì có Đồng Nai

    Hết củi thì có Tân Sài chở vô.

    24. Ăn bưởi thì hãy đến đây

    Vào mùa bưởi chín, vàng cây trĩu cành

    Ngọt hơn quít mật, cam sành

    Biên Hòa có bưởi trứ danh tiếng đồn.

    25. Anh ngồi quạt quán Bến Thành

    Nghe em có chốn anh đành quăng om!

    Anh ngồi quạt quán Bà Hom

    Hành khách chẳng có, đá om quăng lò.

    26. Đi đâu mà chẳng biết ta

    Ta ở Thủ Đức vốn nhà làm nem.

    27. Đường Sài Gòn cong cong quẹo quẹo

    Gái Sài Gòn khó ghẹo lắm anh ơi.

    28. Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai

    Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường.

    33. Công đâu công uổng công thừa

    Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

    35. Ai về Nhượng Bạn thì về

    Gạo nhiều, cá lắm, dễ bề làm ăn.

    36. Bắc Cạn có suối đãi vàng

    Có hồ Ba Bể có nàng áo xanh.

    38. Em về thưa mẹ cùng thầy,

    Cho anh cưới tháng này anh ra.

    Anh về thưa mẹ cùng cha,

    Bắt lợn sang cưới, bắt gà sang cheo.

    40. Ru em em théc cho muồi

    Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

    Mua vôi chợ quán chợ Cầu

    Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.

    Tục ngữ có từ ngữ địa phương

    1. Chình ình như cái đình La Qua.

    2. Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa.

    3. Ăn trên, ngồi trốc.

    4. Ăn như xáng múc, làm như lục bình trôi.

    5. Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau.

    6. Bênh lý không bênh thân.

    7. Ăn cây nào, rào cây đó.

    8. Cái khó cái khôn.

    9. Chết vinh còn hơn sống nhục.

    10. Đi một ngày đàng học một sàng khôn.

    11. Ghét của nào trời trao của nấy.

    12. Lá rụng về cội.

    13. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén.

    14. Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ.

    15. Mất lòng trước, đặng lòng sau.

    16. Muốn ăn thì lăn vào bếp.

    17. Mũi dại, lái phải chịu đòn.

    18. Nói có sách, mách có chứng.

    19. Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm.

    20. Nghèo sinh bệnh, giàu sinh tật.

    21. Oan oan tương báo , dỉ hận miên miên.

    22. Phú quý sinh lễ nghĩa , bần cùng sinh đạo tặc.

    23. Quả báo nhãn tiền.

    25. Sông sâu sóng cả chớ ngã tay chèo.

    26. Tai vách mạch rừng.

    27. Tham giàu phụ khó, tham sang phụ bần.

    28. Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm.

    29. Xa mặt cách lòng.

    30. Yêu nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Stt Hay Bằng Tiếng Trung Ý Nghĩa Nhất
  • Stt Hay Về Tình Yêu Buồn Bằng Tiếng Anh Trên Facebook
  • {Đọc} Stt Hay Về Sự Thay Đổi Bản Thân Giúp Mình Cố Gắng Nhiều Hơn
  • Sách Những Câu Danh Ngôn Bất Hủ
  • Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam
  • 20 Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Tục Ngữ Hay Về Lòng Yêu Nước
  • Thăng Long Hà Nội Trong Ca Dao Ngạn Ngữ
  • Xuất Xứ Một Số Câu Ca Dao Ở Tiền Giang
  • Muôn Vàn Kiểu Đón Tết Của Giới Trẻ Việt
  • Ca Dao Tục Ngữ Thời Hiện Đại
  • Tiêu đề: 20 câu ca dao tục ngữ về địa phương

    Xin chào toàn thể cư dân lớp 712! Chắc các bạn cũng đã học qua bài Chương trình Địa Phương rồi nhỉ ? :-/ Và hôm nay, tớ xin đưa ra 20 câu ca dao tục ngữ về địa phương nhằm giúp các bạn tham khảo :

    1. Ai lên làng Quỷnh hái chè,

    Hái dăm ba lá xuống khe ta ngồi!

    2. Muốn ăn cơm trắng cá mè,

    Thì lên làng Quỷnh hái chè với anh.

    Muốn ăn cơm trắng cá rô,

    Thì lên làng Quỷnh quẩy bồ cho anh!

    3. Hà Nội ba mươi sáu phố phường

    Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh.

    Từ ngày ta phải lòng mình

    Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen.

    Làm quen chẳng được nên quen

    Làm bạn mất bạn ai đền công cho

    4. Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng

    5. Ai về Hà nội ngược nước Hồng Hà

    Buồm giong ba ngọn vui đà nên vui

    Đường về xứ Lạng mù xa..

    Có về Hà nội với ta thì về

    Trên trời có đám mây xanh,

    Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng,

    6. Ai đi trẩy hội chùa Hương

    Làm ơn gặp khách thập phương hỏi giùm

    Mớ rau sắng, quả mơ non

    Mơ chua sắng ngọt, biết còn thương chăng?

    7. Ngày xuân cái én xôn xao

    Con công cái bán ra vào chùa Hương.

    Chim đón lối, vượn đưa đường

    Nam mô đức Phật bốn phương chùa này.

    8. Ra đi anh nhớ Nghệ An,

    Nhớ Thanh Chương ngon nhút, nhớ Nam đàn thơm tương.

    9. “Yến sào Vinh Sơn

    Cửu khổng cửa Ròn

    Nam sâm Bố Trạch

    Cua gạch Quảng Khê

    Sò nghêu quán Hàn…

    Rượu dâu Thuận Lý…”

    10. Ước gì anh lấy được nàng,

    Để anh mua gạch Bát Tràng về xây.

    Xây dọc rồi lại xây ngang,

    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

    Đừng thủy thì tiện thuyền bè

    Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang

    11. Bắc Cạn có suối đãi vàng

    Có hồ Ba Bể có nàng áo xanh

    12. Bình Định có núi Vọng Phu

    Có đầm Thị Nại, có cù lao Xanh

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa

    13. Bóng đèn là bóng đèn hoa

    Ai về vùng Bưởi với ta thì về

    Vùng Bưởi có lịch có lề

    Có sông tắm mát cò nghề seo can

    14. Cát Chính có cây đa xanh

    Có đường cái lớn chạy quanh trong làng

    Cát Chính có giếng rìa làng

    Vừa trong vừa ngọt cả làng chắt chiu.

    15. Cổ Đô tốt đất cao nền

    Ai đi đến đó cũng quên ngày về

    16. Cổ Đô thực chốn giang hồ

    Ai đi đến đất Cổ Đô cũng nhìn

    Trên bờ gió thổi rung rinh

    Dưới sông sóng đánh rập rình thêm vui

    Thuyền bè lên ngược xuống xuôi

    Tiện đường buôn bán, tiện nơi đi về.

    17. Cổ Loa là đất Đế Kinh

    Trông ra lại thấy tòa thành Tiên xây.

    18. Ai về Bình Ðịnh mà coi

    Con gái Bình Ðịnh múa roi, đi quyền

    19. Đường vô xứ Huế quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

    Thương em anh cũng muốn vô

    Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang

    Xe hơi đã tới Đèo Ngang

    Ấy qua Hà Tĩnh, đường sang Quảng Bình

    20. Cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp,

    Em đi không kịp tội lắm anh ơi

    Cảm ơn các bạn đã tham khảo !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Thiếu Nhi (Phần 1)
  • Bô Sưu Tập Ca Dao Đồng Dao Cho Bé
  • Thổ Âm Thổ Ngữ Của Người Thanh Hóa
  • Sóc Trăng Bên Bờ Biển Lớn
  • Tìm Hiểu Đôi Câu Ca Dao, Tục Ngữ Trên Quê Biển Bình Thuận…
  • Những Câu Ca Dao,tục Ngữ Lưu Hành Ở Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Stt, Quotes & 75+ Câu Nói Về Gia Đình Buồn Tan Vỡ, Nghèo & Bất Hạnh
  • 300 Câu Stt Buồn, Tus Buồn Nhất Tháng 9 2022
  • Danh Ngôn Về Lòng Nhân Ái
  • 40 Lời Stt Chúc Sinh Nhật Em Trai Vui, Hài Hước, Bá Đạo, Ý Nghĩa
  • Lời Chúc Valentine Cho Vợ Hay Nhất Trong Ngày 14/2
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Chúc Mừng Năm Mới Ý Nghĩa Cho Người Yêu
  • Danh Ngôn Về Sự Tự Tin
  • Lời Chúc Tết Cho Người Công Giáo, Cha Sứ Canh Tý 2022 Hay Ý Nghĩa
  • Lời Chúc Giáo Viên Cuối Năm Học
  • # Những Câu Nói Hay Về Sự Im Lặng Giết Chết Tình Yêu Đôi Trẻ
  • Quan Niệm Về Miếng Ăn Qua Ca Dao, Tục Ngữ Vn

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Cờ Bạc
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Răng, Tóc, Các Bộ Phận Cơ Thể Người
  • 15 Thành Ngữ Tiếng Anh Về Sức Khỏe Bạn Nên Biết
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh3 Miền.
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh 3 Miền
  • 1. Dĩ thực vi tiên Ngày xưa, có người đã nhận thấy cái tánh cách tối quan trọng của miếng ăn trong đời sống con người nên đã chủ trương “Dĩ thực vi tiên”. Phải ăn đã, rồi muốn gì hãy hay. Văn nghệ, triết lý, tôn giáo, v.v… đều phải đứng sau cái ăn. Chẳng thế mà có người nhất định đòi hỏi ngay sự thỏa mãn cái bao tử trước khi bắt tay vào một việc đã cả gan hô hào: “Có thực mới vực được đạo”. Câu triết lý vị nhân sinh trên kéo người về thực tại, đặt trước những vấn đề cần phải giải quyết hàng ngày. Dù cho kẻ sĩ đã khuyên “Thực bất cầu bão”, nghĩa là ăn chẳng cần no, nhưng trước sự dày vò mãnh liệt của cái nhu cầu số một thì con người đạo lý cũng không thể làm gì khác hơn như thầy đồ sau đây :

    Cái cười vừa trào lộng, vừa thiết thực trên đã hé cho ta thấy được một phần cái nhân sinh quan của người bình dân. Tuy nhiên, ăn thì cũng có năm bảy đường ăn. Và nghệ thuật ăn cũng đòi hỏi lắm công phu. Ăn phải thế nào? Trong một xã hội xô bồ, giữa những ý nghĩ phiền toái về nhân sinh thì miếng ăn phải được đánh giá thế nào cho hợp lý? Ta hãy thử tìm hiểu quan niệm về miếng ăn trên lãnh vực ca dao, tục ngữ.

    2. Miếng ăn mang tính dân tộc

    Mỗi lần nghĩ đến một địa phương nói hẹp hay một dân tộc nói rộng ra là người ta nghĩ ngay đến những món ăn của địa phương hay của dân tộc ấy. Ai lại không hay nhắc nhở đến món gỏi cá sống của người Nhật, món ca-ry cay của người Ấn, món mỳ sợi của người Ý, các thứ phô-mách của người Pháp và các món mắm đặc biệt của người Việt Nam. Trong ca dao, tục ngữ, ta thấy nhiều địa danh được nhắc nhở đến bên cạnh tên những món ăn được nêu ra. Trong nỗi nhớ thương sâu đậm quê hương, chứa đựng cái tình quyến luyến mặn nồng những món ăn địa phương, hạp với khẩu vị người từng vùng, người miền Nam thấy món canh chua cá lóc thích khẩu cũng như người miền Bắc tha thiết với món thịt nấu đông trong ba ngày Tết. Cho nên, đồng bào miền Bắc khi lìa làng mạc chẳng đã than thở :

    Nào những món ăn cố hữu, nào cảnh, nào người đúc lại, rồi cô đọng thành hình ảnh lưu luyến nặng niềm nhớ quê hương. Nếu có lìa làng xa xứ, thì lòng người dân cũng ngập ngừng, xót xa : Ở đất Bắc, ai lại không nhớ mãi hương vị đặc biệt : Còn những người sành ăn thì bao giờ cũng thích :

    Nhất béo, nhì bùi là cá rô câu. Trăm đám cưới chẳng bằng hàm dưới con cá trê. Đầu chép, mép trôi, môi mè, lườn trắm.

    Chắc hẳn, những món ăn đặc biệt nấu với những bộ phận của mỗi thứ cá trên đã làm khoái khẩu thực khách. Lẽ dĩ nhiên, thực khách cũng khó mà quên địa phương đã cung cấp “đồ nhắm” ấy cho mình. Rồi khách du rời miền Bắc, vào đến xứ Trung thì làm sao quên được :

    Cái chất giải khát ủ bằng dâu rừng chua chua, ngọt ngọt của miền này đã hơn một lần đắm say lòng người trai: Rượu ở đây thật đã lấn át cả ảnh hưởng của tình ái, đã làm khách rượu quên hẳn hình ảnh yểu điệu của người thục nữ. Vô tới Huế, đất Đế đô, ta thưởng thức :

    Tất cả các món ăn trên đã làm cho khách khó quên được hình ảnh duyên dáng của các tỉnh đã vượt qua. Nhưng kìa, những tỉnh bên kia đèo Hải Vân như ân cần mời mọc khách. Dù lòng khách đã bâng khuâng khi trèo núi vượt đèo, nhưng cùng khuây khỏa phần nào nếu được nếm các món ăn xứ Quảng :

    Ở đây, trên eo đất hẹp lách mình giữa dãy Hoành Sơn cao ngất và biển cả mênh mông, người dân cần thấy sự phối hợp chặt chẽ giữa hai miền sơn cước và đồng bằng hơn đâu hết để chống lại thiên nhiên khắc nghiệt. Tình đoàn kết cần thiết cho sự sống còn của người miền Trung được biểu hiện trong câu ca dao :

    Đất hẹp người đông, nếu bành trướng ra phía Đông thì gặp trở ngại của biển cả, nên đành quay lên rừng vỡ đất, làm quen với vùng sơn cước : Măng giang nấu cá ngạch nguồn Đến đây nên phải bán buồn mua vui.

    Thật ra, món ăn của núi rừng có làm khuây được nỗi sầu muộn không? Coi chừng đấy, người ta không phải chỉ dùng những nét quyến rũ của một nhan sắc để nhen một

    mối tình, mà còn dùng hương vị của một món ăn mộc mạc để cám dỗ người trai xa xứ : Hay là : Vào đến Quảng Ngãi, ta thưởng thức : Đến Quy Nhơn, ta nếm được hương vị đậm đà của món bánh ít lá gai : Vào tới Khánh Hòa, ta được dịp thưởng thức các món sơn hào hải vị :

    Lòng khách cảm thấy thoải mái, thơ thới khi đặt chân đến miền Nam phì nhiêu, dân cư yên vui và ai lại không biết tiếng:

    Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc.

    Ngoài ra, đất ở đây thì rộng, dân thì thưa thớt, cái xứ ruộng cò bay thẳng cánh, có tiếng là nơi hưởng được đời sống tương đối sung túc vì thực phẩm dồi dào :

    Ở các đảo ven bờ biển trong vịnh Thái Lan có những khu rừng sác trù mật mà các loại chim biển thường về trú ngụ, làm tổ : Mỗi miền lại sản xuất một món ăn mang hương vị đặc biệt :

    Cá, tôm, cua, còng dồi dào đã nuôi sống người dân, nhưng vật thực cần phải thêm các loại rau cải để các món ăn đưỡc cải thiện cho thích với khẩu vị : Cho đến gia vị thêm thắt vào nồi canh cá để cho món ăn đậm đà, quyến rũ hơn cũng được ca tụng : Miền Nam cũng có nhiều món ăn đặc biệt như món hầm gà sau đây : Và các tay rượu thì không thích gì bằng:

    Thứ nhất phao câu, thứ nhì đầu cánh.

    ♦♦♦

    1. Tập quán, lễ nghi qua mỗi món ăn

    Các món ăn được nhắc nhở đến như thế vì đã liên hệ đến tính chất của mỗi địa phương. Cho nên, trong lễ nghi cưới xin, miếng ăn biến thành lễ vật, thay đổi tùy theo từng vùng. Sau mối tình khắn khít thì người con trai phải nhờ đến lễ nghi để hợp thức hóa cuộc sống chung tương lai.

    Hay là lễ vật đơn sơ:

    Mâm trầu hũ rượu đàng hoàng

    Cậy mai đến nói phụ mẫu nàng thì xong.

    Hay là : Cũng có vùng lấy sản phẩm địa phương làm lễ vật : Cũng đôi khi cuộc tình duyên ép uổng đã làm khổ sở người con gái phải ngậm ngùi phục tùng lễ giáo, vâng lời tuyệt đối người trên, cha mẹ “đặt đâu thì ngồi đó”. Cái tập quán “ép uổng duyên con” ấy thường đi theo với sự ham muốn “môn đăng hộ đối”, sự tham lam lễ vật quá ư linh đình của nhà trai :

    Mẹ tôi tham thúng xôi rền

    Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng

    Tôi đã bảo mẹ rằng: “Đừng!”

    Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào

    Bây giờ kẻ thấp người cao

    Như đôi đũa lệch so sao cho bằng.

    Lời than thân trách phận của người đàn bà bị ép duyên với người chồng không cân xứng nghe thật xót xa, não nùng. Và đây, cũng ở trong vòng tập quán, khi nghe tiếng cu kêu báo hiệu mùa hoa nở đến, ta lại liên tưởng đến Tết, đến những ngày đầu xuân rảnh rang đầy những bữa ăn ngon, bao giờ cũng có nồi chè dân tộc : Cu kêu ba tiếng, cu kêu

    Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè.

    Hồi trước, ở nhà quê, lúc chế độ xôi thịt còn đang thịnh hành thì được làng chia cho một phần thịt thật là cả một vinh dự : “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”.

    Bồng em đi dạo vườn cà

    Cà non chấm mắm, cà già làm dưa

    Làm dưa ba bữa dưa chua…

    Có phải hình ảnh nhàn hạ ở đồng quê yên vui đã giữ chặt con người với nơi chôn nhau cắt rốn :

    ♦♦♦

    PHẦN 03: MIẾNG ĂN THỂ HIỆN TÌNH CẢM CON NGƯỜI

    Thu hẹp lại trong phạm vi cá nhân, mỗi món ăn tiêu biểu cho sở thích của con người thì thế nào cũng tố giác được tình cảm, tánh tình của người ấy. Ta thử tìm hiểu tình cảm con người phát lộ trong miếng ăn như thế nào.

    1. Lòng hiếu thảo

    Đầu tiên, ta đề cập đến lòng hiếu thảo. Người con phải tận tâm săn sóc cha mẹ già, cố gắng tìm món ngon vật lạ để dâng cho song thân :

    Hay là : Dù cho bà mẹ có nghiêm khắc đến đâu, phận con cũng phải cố phụng dưỡng cho chu đáo : Hay là : Gặp những năm đói kém thì lòng hiếu thảo càng được tỏ rõ. Người con chịu sống kham khổ, ăn quơ quào để đánh lừa cái đói, miễn là mẹ già được no ấm :

    2. Tình yêu trai gái

    Giữa trai và gái, món ăn là một mối dây nối kết. Để thể hiện một mối tình chớm nở, để nói lên được niềm nhớ nhung người yêu, không gì bằng câu ca dao sau đây :

    Tình ái như một vị hương ngào ngạt làm đắm say lòng người, kẻ được yêu cảm thấy ngây ngất như được thưởng thức món ăn ngon vật lạ :

    Lòng nhớ thương của người con trai được thể hiện trong câu : Ví von như thế thật là vừa thực tế và cũng vừa ngộ nghĩnh… Tuy nhiên, người con gái dùng hình ảnh cụ thể qua những lời thâm thúy và thanh nhã để nói lên được một cách kín đáo lòng trong trắng của mình : Hay là : Hay là :

    3. Tình vợ chồng

    Khi trai gái đã thành gia thất thì mối tình kia lắng xuống đậm đà hơn để đương đầu với bao thử thách đắng cay :

    Vì đã lấy nhau vì tình thì đâu có ngại cảnh sống nghèo khó, đâu có sờn lòng trước gian khổ : Lên non thiếp cũng lên theo Tay vịn chân trèo, hái trái nuôi nhau.

    Yêu thương như thế thật là gắn bó keo sơn, thật là một bài học thiết thực cảnh tỉnh những người hèn hạ đã từng “Giàu đổi bạn, sang đổi vợ”. Và đây là một hình ảnh ấm cúng, cảnh vợ chồng hòa thuận, tâm đầu ý hợp trong bữa ăn đạm bạc : Tình thương chồng được phát lộ trong cách thức săn sóc chồng từng bữa ăn, lúc bình thường cũng như khi đau yếu : Hay là :

    Tuy nhiên, đôi khi gặp cảnh tình lạt, nghĩa phai, người vợ hiền đau khổ và thở than :

    4. Tình bác ái trong miếng ăn

    Khi quyền lợt cá nhân đã được thỏa đáng, khi bản thân đã ấm no thì thói thường con người hay nghĩ đến những người bất hạnh khác, những người sống đời đói rét, đương đau khổ hay đương kéo dài đời sống cô đơn :

    Tình bác ái được nêu rõ với một lập luận vừa cụ thể, vừa hợp lý. Hình ảnh người giàu thóc đối xứng với kẻ chạy ăn hằng bữa, hình ảnh đầm ấm của đời sống lứa đôi làm nổi bật cảnh lạnh lùng của kẻ cô đơn. Nhưng tình thương người không phải chỉ nằm trong vòng lý thuyết, nghĩa là chỉ là tình thương hại suông thôi. Lòng nhân từ phải cần được thi hành đúng đắn, nghĩa là phải thiết thực cứu giúp người, trong lúc người còn đương hoạn nạn, đau khổ :

    Một miếng khi đói bằng một gói khi no.

    Tương trợ như vậy mới tránh được tình cảm thiên vị, khỏi phải mang tiếng là vì quyền lợi cá nhân hay vì hiếu danh, hiếu thắng

    ♦♦♦

    PHẦN 04: MIẾNG ĂN HAY LÀ TRIẾT LÝ CỦA CUỘC ĐỜI

    1. Thói đời qua miếng ăn

    Có người quần quật suốt ngày cũng vì miếng ăn. Có người ty tiện, bán cả danh cả tiếng, cầu cạnh cho được bả vinh hoa, mồi phú quý. Hạng người này có biết đâu “Miếng thịt là miếng nhục”. Suốt đời chạy theo miếng ăn, sống chết vì miếng ăn, coi miếng ăn là tuyệt đích:

    Trái lại cũng có người trước danh lợi vẫn giữ được nếp sống trắng trong. Họ quan niệm đời một cách khác, vì họ cho đời lẫn lộn đắng cay, ngọt bùi. Sở dĩ người ta giành giật, xâu xé nhau vì đời là trường tranh đấu : Trong thiên hạ, nhiều người tranh nhau từng miếng ăn, nói xấu, hãm hại nhau, tìm cách dìm người khác xuống : Hơn nữa, ngoài chợ đời thì thiếu chi người gian trá, bịp đời, sống trên lưng người, thuộc vào phường “treo đầu dê, bán thịt chó”. Họ còn lắm mồm lắm miệng, nói ngược nói xuôi, chê khen vô lối : Tuy nhiên, có khi tranh giành nhau đến trầy vi tróc vảy mà chung quy vẫn hoài công, vì kết quả thu được chẳng là bao : Thật là một chuỗi cười trào lộng pha vị chua chát, như chửi vào mặt bọn buôn danh bán tiếng, suốt đời chạy theo cái bóng hư danh? Ý tưởng này nhắc ta nhớ đến quan niệm về cuộc đời của nhà thơ Lý Bạch cho rằng, đời chỉ là một giấc mộng lớn, cần gì phải lao đao, lận đận (Xử thế nhược đại mông/ Hồ vi lao kỳ sinh?). Câu ca dao sau đây cũng giúp ta suy nghĩ nhiều về thái độ giả dối của những người chỉ tha thiết nghĩ đến quyền lợi của bản thân mình thôi : Cuối cùng, qua miếng ăn, ta thấy ca dao tục ngữ cũng bày ra hạng người vong bổn, chỉ biết mới chuộng cũ vong, chẳng khác chi :

    Ăn cháo đá bát. 2. Thái độ đối phó

    Cuộc đời quả thật phiền toái và đắng cay. Cho nên, dựa trên kinh nghiệm, chúng ta phải có thái độ đối phó như thế nào, phải khôn ngoan xử thế làm sao cho hợp lý. Ca dao tục ngữ dạy ta sống là phải đấu tranh, phải chịu đựng gian khổ mới có thể mưu sinh dễ dàng.

    Muốn ăn phải lăn vào bếp.

    Làm sao mà ăn không, ở vì được trong khi mọi người đếu lấy “bát mồ hôi đổi bát cơm”? Thành thử, khi ra đời, phải tập luyện cho cơ thể quen thuộc với nắng mưa, chịu đựng gian khổ : Nếu có gặp được cảnh sống thư thả, sung túc thì phải nghĩ đến những lúc thiếu thốn và một ngày mai có thể bị sa cơ thất thế : Thái độ có hậu, chung thủy như trên rất hợp với tinh thần nhân nghĩa của người Á Đông. Còn muốn đảm bảo thành công ở đời thì ta phải khôn ngoan xử sự, có óc thiết thực, không bao giờ chuộng những cái gì hão huyền : Cái lối sống thiết thực ấy phải là lối sống có điều độ, hợp với lẽ phải : Tuy rằng phải tùy cơ ứng biến, phải “Ăn theo thuở, ở theo thì”, nhưng con người trung nghĩa thì bao giờ cũng phải chuộng sự thật, tránh thái độ gian tham, giả dối :

    Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối.

    Những câu phương ngôn trên diễn tả những món ăn, vật uống đã là những lý luận mẫu mực, xác đáng dạy ta phép xử thế thực tiễn.

    3. Bổn phận trong miếng ăn

    Tuy là phải “vắt đầu cá, vá đầu tôm”, một nắng hai sương để chạy từng bữa ăn, nhưng con người còn có cái gì quý hóa, thiêng liêng hơn, đó là bổn phận :

    Người con trai ra đi, vẫy vùng bốn phương cho phỉ chí nam nhi, cũng yên tâm vì có được người vợ hiền ở nhà chăm sóc gia thất, phụng dưỡng cha mẹ già, nuôi dạy con thơ. Món ăn thanh đạm muối dưa nói lên được cái tình nghĩa sắt son của người đàn bà. Hơn nữa, người con gái còn mang nặng bổn phận hiếu thảo đối với cha mẹ, kính nhường anh em, giữ hòa khí trong gia đình :

    Nhà em có vại cà đồng

    Có ao rau muống, có đầy chĩnh tương

    Dẫu không mỹ vị cao lương

    Trên thờ cha mẹ, dưới nhường anh em

    Một nhà vui vẻ êm đềm

    Đói no trong cảnh không thèm lụy ai.

    Đối với người thân ta phải có bổn phận đã đành rồi, còn đối với vô số người vô danh trong xã hội đã góp phần vào đời sống công cộng, thì hết lòng tri ân :

    Thái độ biết ơn trên cũng là thái độ cố hữu của người Việt, là bổn phận của người dân được hưởng thụ, vẫn ghi nhớ công đức đối với các bậc tiền bối đã khai sáng đất nước.

    4. Khí tiết của miếng ăn

    Như vậy, con người lấy nhân nghĩa mà xử sự ở đời, sống phải có trước có sau mặc dầu gặp cảnh nghèo khó, gian khổ phải luôn luôn thủy chung như nhất :

    Cao hơn nữa, cái khí tiết trung nghĩa được phát lộ trong mấy câu ca dao thời thế sau đây. Trước cám dỗ vật chất, trước những miếng ăn thịnh soạn của tân trào mang lại, con người trung nghĩa quyết cam phận thanh bần :

    Văn minh gặp buổi Lang Sa

    Tri âm thì ít, trăng hoa thì nhiều

    Khuyên ai giữ chí về sau

    Đừng còn tập tễnh Tây, Tàu mà no

    Thà rằng chịu đói no rau cháo

    Lấy chồng nghèo giã gạo nấu cơm

    Chẳng hơn thịt cá đầy mâm

    Mà đem thân thế ra thân thế này…

    Những người tiết nghĩa như vậy bao giờ cũng chọn cái gì trong trắng, cao quý và ghét đời ô trọc gian tham :

    Khế rụng bờ ao thanh tao anh lượm

    Ngọt như cam sành héo cuống anh chê.

    Ai lại không thích ăn sung mặc sướng, sống đời vương giả, đầy đủ và tiện nghi? Tuy nhiên, nếu sống được như vậy mà phải nô lệ tân trào thì trở về với đời sống đạm bạc còn hơn : Cũng như người con gái, chống lại chế độ đa thê, thà chịu cảnh nghèo nàn chứ nhất định không chịu lấy chồng chung :

    ♦♦♦

    Để kết luận, ta thấy miếng ăn diễn tả trong câu ca dao tục ngữ thật là quan trọng, có thể chế ngự được tình cảm và lý trí, chi phối cả đời sống con người, có thể hạ phẩm giá con người cũng như gây xô xát ngoài xã hội. Tuy nhiên, miếng ăn không có giá trị tuyệt đối, chưa phải là cứu cánh cao quý nhất của con người, vì ở đời còn có điều nhân nghĩa, còn có niềm thủy chung là giá trị tinh thần cố hữa quý hóa của người dân Việt : Con người phải có hậu, không bắt chước những kẻ “có mới thì nới cũ”, biết trọng nghĩa khinh tài và nhất định không bao giờ :

    Xưa nay ăn đâu ở đâu Bây giờ có bí, chê bầu rằng hôi.

    Lưu Văn – Tạp chí Tiến thủ Ảnh: TL-KV sưu tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Ớt Ngâm Giấm Ngon
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Top Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Rượu Bia
  • Kiến Thức Hay Và Bổ Ích Từ Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Rượu Bia
  • Top Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Rượu Bia
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thay Đổi, Cố Gắng, Nỗ Lực, Quyết Tâm, Rèn Luyện Thân Thể
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Ca Dao Tục Ngữ Bình Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Hay Nhất
  • ‘Bình Định nón Gò Găng

    Bún Song thần An Thái

    Lụa Đậu tư Nhơn Ngãi

    Xoài Tượng chín Hưng Long

    Mặc ai mơ táo ước hồng

    Tình quê em giữ một lòng trước sau.

    Bình Định có hòn Vọng Phu

    Có đầm Thị Nai có Cù Lao Xanh.

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa.

    1.Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.

    2.Bình Định có núi Vọng Phu Có Đầm Thị Nại có Cù Lao xanh.

    3.Công đau công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

    4.Mẹ ơi đừng đánh con đau Để con đánh trống hát tuồng mẹ nghe.

    5.Ai về Bịnh Định mà coi Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.

    6.Ai về Bình định thăm bà Ghé vô em gởi lạng trà Ô long. Trà Ô long nước trong vị ngọt Tình đôi mình như đọt mía lau chúng tôi đi bờ lở một mình Phất phơ chéo áo giống hình trò

    Ba Trò Ba đi học trường xa

    Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi

    8.Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cá nghiên anh đồ.

    Tiếng đồn Bình Định tốt nhà Phú Yên tốt lúa, Khánh Hoà tốt trâu

    .Công đâu công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    .Em về Đập Đá quê cha Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê chồng

    13.Anh về Đập Đá , Gò găng Bỏ em kéo vải sáng trăng một mình Tiếng ai than khóc nỉ non Vợ chàng lính thú trèo hòn Cù Mông

    14.Chiều chiều én liệng Truông Mây Cảm thương Chú Lía bị vây trong thành

    15.Non Tây áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

    16.Cây Me cũ, Bến Trầu xưa Dẫu không nên tình nghĩa cũng đón đưa cho trọn niềm

    17.Ngó vô Linh Đỗng mây mờ Nhớ Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây

    18.Hầm Hô cữ nước còn đầy Còn gương phấn dũng , còn ngày vinh quang

    19.Bình Định có đá Vọng Phu Có đầm Thị Nại có Cù lao Xanh Lụa Phú Phong nên duyên nên nợ Nón Gò găng khắp chợ mến thương

    20.Bên kia sông, quê anh An Thái Bên này sông, em gái An Vinh Thương nhau chung dạ chung tình Cầu cha mẹ ưng thuận cho hai đứa mình lấy nhau

    21.Cưới nàng đôi nón Gò Găng Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn Ai về Tuy Phước ăn nem Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm

    22.Rượu ngon Trường Thuế mê li Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi sao đành

    23.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Gi Sông xanh, núi cũng xanh rì Vào Nam, ra Bắc ai cũng đi con đường này Nghìn năm gương cũ còn đây Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu – Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi Dễ chi nhân ngãi mà rời được nhau

    24.Tháp kia còn đứng đủ đôi Cầu còn đủ cặp huống cho tôi với nường ( nàng) Suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Thiếp ngồi dệt vải chỉ mong bóng chàng Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu Ôm đàn gảy khúc Cầu hoàng Thiếp xin gõ nhịp để chàng lựa dây Bao giờ rừng quế hết cây Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình Dừa xanh sừng sững giữa trời Đem thân mà hiến cho đời thuỷ chung

    25.Muốn ăn bánh ít nhân mè Lấy chồng Hòa Đại đạp chè thâu đêm Muốn ăn bánh ít nhân tôm Lấy chồng Hòa Đại ăn cơm củ mì

    26.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di Sông xanh núi cũng xanh rì Vào Nam ra Bắc cũng đi đường này chúng tôi về Phù Mỹ nhắn nhe Nhắn chị bán chè sao vậy chẳng lên?

    Anh về dưới vạn thăm nhà

    Ghé vô em gởi lạng trà Ô Long

    chúng tôi về Bình Định thăm cha Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em

    29.Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông

    30.Khéo khen con tạo trớ trêu

    Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ

    32.Ai về thăm cảnh An Khê

    Sông Ba chồng nhớ vợ nhà Sông Côn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Kho Tàng Ca Dao Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Du Lịch Qua Ca Dao Ở Một Số Tỉnh Miền Tây Nam Bộ Theo Hướng Du Lịch Sinh Thái Hiện Đại
  • Tiếp Cận Kiến Thức Địa Lý Qua Thơ
  • Con Gà Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Cây Lúa Trong Ngôn Ngữ Người Việt
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Văn Hóa Sản Xuất Nông Nghiệp Phần 1
  • 1.Cá bống còn ở trong hang

    Lá rau tập tàng còn ở ruộng dâu

    Ta về, ta sắm cần câu

    Câu lấy cá bống, nấu rau tập tàng

    2. Cá buồn cá lội tung tăng

    Em buồn em biết đãi đằng cùng ai?

    3. Cá kèo mà gặp mắm tươi

    Như nơi đất khách gặp người cố tri

    4. Cá không ăn muối cá ươn

    Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư

    5. Cá nục nấu với dưa hồng

    Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi

    6. Cá tươi xem lấy đôi mang,

    Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai

    Tóc mai sợi vắn sợi dài

    Có đâu mặt rỗ đá mài không trơn

    7. Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Ðỉa lội lềnh như bánh canh

    8. Cả vú lấp miệng em

    9. Cách sông mới phải luỵ thuyền

    Còn như đường liền ai phải luỵ ai

    10. Cái ách giữa đàng, mang vào cổ

    11. Cái cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    12. Cái cò lặn lội bờ sông

    Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền

    13. Cái cò mày đi ăn đêm

    Ðậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

    Ông ơi, ông vớt tôi nao

    Tôi có lòng nào, ông hãy sáo măng

    Có sáo, thì sáo nước trong

    Ðừng sáo nước đục, đau lòng cò con

    14. Cái kiến mày kiện củ khoai

    Chê em tao khó, lấy ai cho giàu

    Nhà tao chín đụn, mười trâu

    Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân

    Cầu này là cầu ái ân

    Một trăm con gái rửa chân cầu này

    Có rửa thì rửa chân tay

    Chớ rửa chân mày, chết cá ao anh

    15. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Ðiền

    Anh thương em cho bạc cho tiền

    Ðừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay!

    16. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

    Anh có thương em, xin sắm một con đò

    Ðể em qua lại mua cò gởi thơ

    17. Cái khó bó cái khôn

    18. Cái nết đánh chết cái đẹp

    19. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Cái ngủ mày ngủ cho say

    Mẹ mày vất vả chân tay suốt ngày

    20. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Bắt được con trắm, con trê

    Xách cổ mang về cho cái ngủ ăn

    Cái ngủ ăn chẳng hết

    Ðể dành đến Tết mồng Ba

    Mèo già ăn vụng

    Mèo ốm phải đòn

    Mèo con phải vạ

    Con quạ có lông

    Nồi đồng có nắp

    21. Cái răng cái tóc là gốc con người

    22. Câm hay ngóng, ngọng hay nói

    23. Câm như hến

    24. Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn

    Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon

    25. Cần tái, cải nhừ

    26. Cầm vàng mà lội qua sông

    Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

    27. Cần Thơ là tỉnh

    Cao Lãnh là quê

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mảng lo buôn bán không về thăm em

    28. Canh khuya gà gáy ó o

    Quân tử thức dậy còn mò đi đâu?

    29. Canh khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, trầm tư một mình

    30. Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng khi về bủng beo

    31. Cao su đi dễ khó về

    Trai đi mất vợ gái về thêm con

    32. Cáo chết ba năm quay đầu về núi

    33. Cát bay, vàng lại ra vàng

    Những người quân tử dạ càng đinh ninh

    Ðinh ninh ta để dạ này

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    34. Cau già, dao bén thì ngon

    Người già trang điểm phấn son cũng già

    35. Cây cao bóng mát không ngồi

    Ra ngồi chỗ nắng, trách trời không mây

    36. Cây đa Chợ Ðũi

    Nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàng

    Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân!

    37. Cây khô không có lộc

    Người độc không có con

    38. Cây khô không thể mọc chồi

    Mẹ già không dễ sống đời với con

    39. Cây khô không trái, gái độc không con

    40. Cây không trồng nên lòng không tiếc

    Con không đẻ nên mẹ ghẻ không thương

    41. Cây muốn lặng, gió chẳng muốn ngừng

    42. Cây trên rừng hoá kiểng

    Cá dưới biển hoá long

    Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong

    Anh đi lục tỉnh giáp vòng

    Ðến đây trời khiến đem lòng thương em

    43. Cây vông đồng không không trồng mà mọc

    Con gái xóm này chẳng chọc mà theo

    44. Cây xanh thời lá cũng xanh

    Cha mẹ hiền lành để đức cho con

    Mừng cây rồi lại mừng cành

    Cây tốt lắm chồi, người đức lắm con

    Ba vuông sánh với bảy tròn

    Ðời cha vinh hiển, đời con sang giàu

    45. Cậu cai buông áo em ra

    Ðể em đi chợ kẻo mà chợ trưa

    Chợ trưa dưa nó héo đi

    Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?

    46. Cha chung chẳng ai khóc

    47. Cha đời cái áo rách này

    Mất chúng, mất bạn vì mày áo ơi!

    48. Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại

    Bắt anh ra treo tại nhành dương

    Biểu từ ai, anh từ đặng

    Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ

    49. Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển

    Con nuôi chạ mẹ, con tính từng ngày

    50. Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng

    Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày

    51. Cha nào con nấy, rau nào sâu nấy

    52. Chanh chua thì khế cũng chua

    Chanh bán có muà, khế bán quanh năm

    53. Cháo nóng, liếm quanh

    54. Cháu ơi, cháu ngủ cho ngon

    Của dì, dì giữ ai bò mặc ai

    55. Chàng về cho thiếp theo cùng

    Ðói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam

    56. Chàng ôi, giận thiếp mà chi

    Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng

    57. Chàng về để áo lại đây

    Ðể khuya em đắp gió khuya lạnh lùng

    58. Chàng về để áo lại đây

    Phòng khi em nhớ cầm tay đỡ buồn

    59. Cháy nhà ra mặt chuột

    60. Chặt không đứt, bứt không rời

    Phơi không khô, chụm không cháy

    (Ðố là con gì? Con sam)

    61. Chẳng ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời

    62. Chẳng ốm, chẳng đau làm giàu mấy chốc

    63. Chẳng tham ruộng cả, ao tiền

    Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ

    64. Chân cứng, đá mềm

    65. Chân đi ba bước lại dừng

    Tuổi em còn bé chưa từng đi buôn

    Ði buôn cho đáng đi buôn

    Ði buôn cau héo có buồn hay không

    66. Chân trời, góc biển

    67. Chập chập rồi lại cheng cheng

    Con gà sống thiến để riêng cho thầy

    Ðơm sôi thì đơm cho đầy

    Ðơm mà vơi đĩa thì thầy không ưng

    68. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    69. Chẻ tre bện sáo cho dầy

    Chận ngang sông Mỹ có ngày gặp em

    70. Chê đắng chê hôi

    Ðã chê xôi không dẻo

    Lại chê kẹo không ngọt

    71. Chê đây, lấy đấy sao đành

    Em chê cam sành, lấy phải quít hôi

    Quít hôi bán một đồng mười

    Cam ba đồng một, quít ngồi trơ trơ

    72. Chết trước được mồ, được mả

    Chết sau nằm ngả, nằm nghiêng

    73. Chì khoe chì nặng hơn đồng

    Sao chì chẳng đúc nên cồng, nên chuông

    74. Chị em dâu như bầu nước lã

    75. Chị kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu?

    Nhà tui ở dưới đám dâu

    Ở trên đám đậu đầu cầu ngó qua

    76. Chị lấy chồng, em gặm giò heo

    Giò heo chị để chị treo

    Em lấy giò mèo, em gặm em chơi

    77. Chị ngã, em nâng

    78. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Thuốc đâu mà chữa con người lẳng lơ

    79. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Tay đâu mà bụm miệng người thế gian

    80. Chiếc khăn cô đội trên đầu

    Gió xuân đưa đẩy rơi vào tay tôi

    Bâng khuâng tôi chẳng muốn rời

    Trao cô thì tiếc, giữ thời không yên

    81. Chiếc tàu lặn chạy mau đường gió

    Cái xe hơi chạy lẹ như dông

    82. Chiếu bông mà trải góc đền

    Muốn vô làm bé biết có bền hay không?

    83. Chiều chiều, buồn miệng nhai trầu

    Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ

    84. Chiều chiều chim vịt kêu chiều

    Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau

    85. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Nhớ người aó trắng khăn điều vắt vai

    86. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Trông về quê mẹ chín chiều ruột đau

    87. Chiều chiều, ông chánh về Tây

    Cô Ba ở lại lấy thầy Thông Ngôn

    Thông ngôn, ký lục, bạc chục không màng

    Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay

    88. Chiều chiều ông Lã Ðông Tân

    Vai mang bầu rượu, tay cầm chiếc nem

    89. Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

    90. Chiều chiều tui buồn tui ra sông cái, tự ải cho rồi

    Sống làm chi mà chia ly thục nữ

    Thác cho rồi đặng chữ thủy chung

    91. Chiều chiều trước bến Văn Lâu

    Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm

    Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông

    Thuyền ai thấp thoáng bên sông

    Ðưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non

    92. Chiều chiều vịt lội, cò bay

    Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng

    Vô rừng bứt một sợi mây

    Ðem về thắt gióng cho nàng đi buôn

    93. Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc

    Cá bãi trầu lội tuốt mương cau

    94. Chim đa đa đậu nhánh đa đa

    Chồng gần không lấy, đi lấy chồng xa

    Một mai cha yếu mẹ già

    Chén cơm, đôi đũa, tách trà ai dâng

    95. Chim khỏi lồng không mong trở lại

    96. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

    97. Chim khôn lựa cành mà đậu

    98. Chim khôn mắc phải lưới hồng

    Hễ ai gỡ được, đền công bạc vàng

    Anh rằng anh chẳng lấy vàng

    Hễ anh gỡ được, thì nàng lấy anh

    99. Chim quyên ăn trái nhãn lồng

    Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi

    100. Chim quyên xuống đất ăn trùn

    Anh hùng lỡ vận, lên rừng đốt than

    101. Chim trời ai dễ đếm lông

    Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày

    102. Chim trời cá nước, ai bắt được nấy ăn

    103. Chim lìa cành còn thương nhớ cội

    Người xa người tội lắm người ơi!

    Chẳng thà không gặp thì thôi

    Gặp rồi mỗi đứa một nơi sao đành

    104. Chính chuyên chết cũng ra ma

    Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng

    105. Cho em trở lại đường xưa

    Ðể em tìm lại gốc dừa cạnh ao

    Lời anh âu yếm chiều nào

    Thoảng vang trong gió rì rào chớm thu

    106. Chó ăn đá, gà ăn muối

    107. Chó cậy gần nhà, gà cậy cần chuồng

    108. Chó treo, mèo đậy

    109. Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ

    Ðóa hải đường thức ngủ xuân tiêu

    110. Chồng chài, vợ lưới, con câu

    Thằng rể đóng đáy, con dâu đi nò

    111. Chồng chung chồng chạ

    Ai khéo hầu hạ thì được chồng riêng

    112. Chồng chung, vợ chạ

    113. Chồng em áo rách em thương

    Chồng người áo gấm, xông hương mặc người

    114. Chồng em vốn kẻ đa tình

    Già không bỏ, nhỏ không tha

    Xấu như ma hắn cũng hú hí

    Xấu như quỉ hắn cũng ăn nằm

    115. Chồng già vợ trẻ là duyên

    Vợ già, chồng trẻ là tiên ba đời

    116. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già, chồng trẻ là duyên trên đời

    117. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già chồng trẻ là duyên nợ trần

    118. Chồng giận thì vợ làm lành

    Miệng cười chúm chím: Thưa anh giận gì?

    Thưa anh, anh giận em chi

    Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho

    119. Chồng nóng thì vợ bớt lời

    Cơm sôi bớt lửa chẳng rơi hột nào

    120. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa

    121. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Như đôi đũa lệch so sao cho bằng

    122. Chơi hoa cho biết mùi hoa

    Cầm cân cho biết cân già, cân non

    123. Chuối non giú ép, chát ngầm

    Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm

    124. Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

    Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm

    125. Chuồn chuồn có cánh thì bay

    Có thằng bé tí thò tay bắt mày

    126. Chuột kêu chút chít trong rương

    Em đi cho kheó đụng giường mẹ hay

    127. Chuột sa chĩnh gạo

    128. Chuyện đời chẳng ít thì nhiều

    Không dưng, ai dễ đặt điều cho ai

    129. Chuyện đời, vợ vợ chồng chồng

    Thương nhau cũng vội, dứt lòng cũng mau

    130. Chuyện người mặc kệ người lo

    Hơi đâu đáy nước, mình mò bóng trăng

    131. Chữ trinh đáng giá ngàn vàng

    Từ anh chồng cũ đến chàng là năm

    Còn như yêu vụng nhớ thầm

    Họp chợ trên bụng hàng trăm sá gì

    132. Chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng

    133. Chưa học bò, đã lo học chạy

    134. Chưa làm giàu, đã lo ăn cướp

    135. Chừng nào đá nổi rong chìm

    Muối chua, chanh mặn anh tìm được em

    136. Chửa đui, chửa què, đừng khoe rằng tốt

    137. Có bột mới gột nên hồ

    138. Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo

    Có đứa nào xạo bằng thằng út Gò Công

    139. Có cây mới có dây leo

    Có cột có kèo, mới có đòn tay

    140. Có công mài sắt, có ngày nên kim

    141. Có cha, có mẹ thì hơn

    Không cha, không mẹ như đờn đứt dây

    142. Có chí làm quan, có gan làm giàu

    143. Có chí thì nên

    144. Có chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ

    Ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh

    Có chồng say như trong chay ngoài hội

    Ngó vô nhà như hội tầm vu

    145. Có chồng nghiền như ông tiên nho nhỏ

    Thắp ngọn đèn sáng tỏ như sao

    Tay cầm tiêm như phò mã múa đao

    Chân vắt chéo như Khổng Minh xem sách

    146. Có chồng mà chẳng có con

    Khác gì hoa nở trên non một mình

    147. Có chum cá mới ở đìa

    Có em anh mới sớm khuya chốn này

    148. Có con mà gả chồng gần

    Nửa đêm đốt đuốc đem phần cho cha

    Có con mà gả chồng xa

    Ba phần ruộng rẻo chẳng ma nào cày

    149. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng

    150. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay

    151. Có công mài sắt có ngày nên kim

    152. Có của thì có mẹ nàng

    Có bạc có vàng thì có kẻ ưa

    Chị là con gái nhà giầu

    Ăn mặc tốt đẹp vào chầu tòa sen

    Em là con gái nhà hèn

    Ăn mặc rách rưới mon men ngoài hè

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cà Mau Xưa Qua Các Câu Thơ & Ca Dao
  • Thành Ngữ Và Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ A, Chữ Ă, Â ?
  • Lịch Sử Khai Phá Bình Dương Qua Dân Ca, Thơ Ca Dân Gian Làng Tương Bình Hiệp
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Hò Vè Bình Định
  • Tiếng Trung Nghiêm Thùy Trang
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100