Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Và Xã Hội

--- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao
  • ‘một Lần Bất Tín, Vạn Lần Bất Tin’
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Thầy Cô Giáo
  • Ca Dao, Tục Ngữ Chế Về Tình Yêu ( Vào Đọc Ngay Nào)
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em Hay Nhất ❤️ 1001 Câu
  • Gia đình là gì? Tại sao xuất hiện ca dao tục ngữ về gia đình và xã hội

    Gia đình là một cộng đồng nhỏ gồm tập hợp những người có chung huyết thống (hoặc có thể không); ràng buộc và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ mật thiết về mặc tình cảm, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi nuôi dưỡng mỗi con người; có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người. Gia đình đã xuất hiện và trải qua một quá trình phát triển, hoàn thiện lâu dài; có tác động mạnh mẽ đến các chuẩn mực đạo đức, văn hóa, đời sống, xã hội.

    Trong một gia đình có nhiều mối quan hệ xoay quanh và kết nối với nhau thành thể thống nhất. Đó là những người yêu thương nhau một cách trọn vẹn nhất; không vụ lợi, không toan tính hay hơn thua; ở đó chỉ có tình cảm chân thành, sẻ chia và hy sinh cho nhau.

    Và để có một gia đình hạnh phúc mỗi thành viên phải yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau; cùng nhau nuôi dưỡng và xây dựng các mối quan hệ thật bền chặt.

    Ca dao, tục ngữ về gia đình và xã hội hay, ý nghĩa

    Chính vì gia đình là thứ tình cảm thiêng liêng cao đẹp; cần được ca ngợi giữ gìn và nuôi dưỡng nó mỗi ngày. Vậy nên từ xưa ông bà ta đã truyền tai nhau những câu ca dao tục ngữ về gia đình để nhắc nhở, dạy bảo con cháu phải biết quý trọng, yêu thương, đùm bọc, sống chan hòa với nhau.

    Tục ngữ về gia đình

    1. Con có cha như nhà có nóc.
    2. Con dại cái mang.
    3. Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.
    4. Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi.
    5. Mẹ dạy thì con khéo, cha dạy thì con khôn.
    6. Cha mẹ sinh con trời sinh tính.
    7. Ba tháng con sẩy, bảy tháng con sa.
    8. Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh.
    9. Chị ngã em nâng.
    10. Máu chảy, ruột mềm.
    11. Một giọt máu đào hơn ao nước lã.
    12. Anh em như chông như mác.
    13. Anh em hạt máu sẻ đôi.
    14. Anh ngủ em thức, em chực anh nằm.
    15. Anh em trong nhà đóng cửa bảo nhau.
    16. Anh em khinh trước, làng nước khinh sau.
    17. Anh em chém nhau đằng dọng, ai chém đằng lưỡi.
    18. Bán anh em xa, mua láng giềng gần.
    19. Anh em thuận hòa là nhà có phúc.

    Ca dao về gia đình

    1. Đố ai đếm được lá rừng,Đố ai đếm được mấy tầng trời cao.Đố ai đếm được vì sao,

      Đố ai đếm được công lao mẹ già.

    2. Đi đâu mà bỏ mẹ già,Gối nghiêng ai sửa,

      Chén trà ai dâng?

    Tục ngữ về xã hội

    1. Đã nghèo còn mắc cái eo.
    2. Sa cơ lỡ vận.
    3. Ăn thì hơn, hờn thì thiệt.
    4. Ăn tấm trả giặt.
    5. Cao cờ không bằng cao cổ.
    6. Khôn nhà dại chợ.
    7. Mạt cưa mướp đắng.
    8. Có tiền mua tiên cũng được.
    9. Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời.
    10. Trời sinh voi sinh cỏ.
    11. Ăn cơm với bò thì lo ngay ngáy, ăn cơm với cáy thì ngáy o o.
    12. Thượng bất chính, hạ tắc loạn.
    13. Phép vua thua lệ làng.
    14. Đất có lề, quê có thói.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Việt Nam Về Tình Cảm Gia Đình
  • 90+ Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Gia Đình Giúp Bạn Nhận Ra Giá Trị Tình Thân, Ruột Rà
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Hay ❤️ Thành Ngữ Gia Đình
  • Tổng Hợp 100 Câu Tục Ngữ Tiếng Anh Hay Nhất
  • Ma Túy Và Tệ Nạn Xã Hội Ngày Càng Phức Tạp

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Danh Ngôn Hay Nhất Về Sự Dối Trá
  • Những Câu Danh Ngôn Ý Nghĩa Nhất Về Lòng Nhân Ái (Phần 1)
  • Châm Ngôn Về Tình Yêu Hay Nhất
  • Danh Ngôn Tình Yêu Dành Cho Người Mới Yêu Lần Đầu
  • Những Câu Nói Hay Về Bản Chất Con Người: 50+ Danh Ngôn Hay
  • Tệ nạn ma tuý đang là hiểm hoạ của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới; là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS. Những hậu quả do tệ nạn ma tuý gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế – xã hội và an ninh trật tự của đất nước.

    Ma tuý vẫn đang còn là một vấn đề nhức nhối của xã hội. Ma tuý không chỉ huỷ hoại sức khoẻ con người mà còn khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, bần cùng. Ma tuý không chỉ là nguyên nhân của các mối bất hoà trong gia đình mà còn là nguyên nhân dẫn đến phạm tội và gây mất trật tự, an toàn xã hội.

    Có thể nói, nghiện ma tuý là loại tệ nạn đáng quan tâm nhất hiện nay, vì nó thu hút số thanh thiếu niên sa ngã vào con đường nghiện ngập ngày một tăng. Nghiện ma tuý làm suy kiệt trí tuệ, sức khoẻ, giống nòi.

    Nghiện ma tuý cũng là đồng hành với tội phạm và là một trong những con đường ngắn nhất dẫn tới lây nhiễm HIV/AIDS.

    Theo báo cáo của Cục phòng, chống tệ nạn xã hội (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội), trong 10 năm trở lại đây, ở Việt Nam đã có khoảng 10 vạn người nghiện ma tuý, trong đó có tới 70% số người nghiện dưới 30 tuổi, đặc biệt có tới 50% tổng số người nghiện là trẻ em (dưới 16 tuổi). Sa vào ma túy là con đường ngắn nhất dẫn tới sự hủy hoại chính mình ở cả hiện tại và tương lai; mà các em bị hủy hoại, tức là ảnh hưởng đến tương lai của đất nước. Đây là một vấn đề gây bao lo lắng, bức xúc cho các nhà giáo dục và toàn xã hội nói chung.

    Ngoài ra, số liệu của Bộ Y tế cũng cho biết, hiện cả nước có hơn 197.000 người nhiễm HIV, trong đó năm 2011 có hơn 14.000 người xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV và hầu hết ở lứa tuổi khá trẻ, từ 20 – 39 tuổi chiếm 82% và lây truyền qua đường máu (46,7%) và tình dục (41,4%) là chủ yếu. Mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS giảm dần, tuy nhiên, nguy cơ tiềm tàng cao ở nhóm nghiện chích ma tuý vẫn đang là mối nguy cho cả cộng đồng.

    Trong những năm gần đây tệ nạn ma tuý và tội phạm ma tuý ở nước ta diễn biến rất phức tạp. Ma tuý đã vào trường học, rình rập từng nhà, từng ngõ ngách gây ra những cái chết dần chết mòn không những cho người nghiện, mà cả gia đình họ. Nghiện ma tuý cũng là nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội khác. Đa số người nghiện ma tuý, để có tiền mua ma tuý đều phạm tội trộm cắp, cướp giật, lừa đảo. Theo một nguồn thông tin, khoảng 75% các tội phạm hình sự có nguyên nhân bắt nguồn từ những người nghiện ma tuý. Đa số những người bị nhiễm HIV/AIDS là những người nghiện hút.

    Theo ông Tạ Đức Ninh – Trưởng phòng 4- C56, Bộ Công an thì tội phạm về ma túy liên tục thay đổi phương thức, thủ đoạn, địa bàn hoạt động và mang tính quốc tế cao hơn; gắn kết chặt chẽ với các loại tội phạm tham nhũng, rửa tiền và buôn bán vũ khí. Số người sử dụng các loại ma túy tổng hợp, tân dược gây nghiện và các loại ma túy mới có xu hướng gia tăng, tập trung vào đối tượng là thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên ở khu vực đô thị. Nguy cơ tái trồng cây thuốc phiện và cây cần sa còn tiềm ẩn ở nhiều địa phương. Theo ông Tạ Đức Ninh, nếu không có những giải pháp đồng bộ, lâu dài thì tệ nạn ma túy có thể vượt ra khỏi tầm kiểm soát, để lại hậu quả nghiêm trọng, khó lường cho xã hội.

    Tất cả những diễn biến trên đang khiến cho tình hình tội phạm ma túy ngày càng trở nên phức tạp và một điều tất yếu, gia tăng tội phạm ma túy sẽ kéo theo nhiều tệ nạn cũng như các loại hình tội phạm khác, đe dọa đến tình hình an ninh, trật tự quốc gia, đến cuộc sống lành mạnh của người dân và sự băng hoại đạo đức của xã hội.

    Rõ ràng, cần phải sử dụng một hệ thống đồng bộ các giải pháp nhằm trực tiếp vào nguyên nhân của nó và lấy phòng là chính.

    Cần phải củng cố hơn nữa mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và các cơ quan chức năng trong việc giáo dục, phòng ngừa tội phạm ma tuý. Các cấp xã, phường cần gắn kết hơn nữa với các gia đình, với tổ tự quản của khu dân cư để “đề cao vai trò giáo dục của gia đình đối với thanh, thiếu niên về tác hại của ma tuý” như Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã nêu. Có thể tổ chức hình thức “liên gia” nhiều gia đình cũng giúp nhau ngăn chặn tệ nạn ma tuý. Hình thức “liên gia” này có thể là những gia đình làm việc cùng cơ quan; cũng có thể là cùng nơi ở; cũng có thể là trong cùng dòng họ.

    Tiếp tục có những biện pháp tăng cường sự giám sát của nhân dân, tố giác tội phạm ma tuý. Phát động nhiều hơn nữa những phong trào toàn dân phát hiện và tố giác tội phạm ma tuý, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ tự quản.

    Đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền phòng, chống tội phạm ma tuý. Công tác giáo dục, tuyên truyền cần có hình thức phù hợp đối với từng đối tượng, từng vùng miền. Cùng với truyền thông đại chúng, cần tăng cường công tác giáo dục trực tiếp. Đưa nội dung phòng, chống tội phạm ma tuý vào các buổi ngoại khoá của nhà trường, nhà văn hoá, các trung tâm thông tin…

    Tăng cường các hoạt động văn hoá để giải trí, vui chơi lành mạnh, bổ ích đối với từng lứa tuổi, đồng thời quan tâm tạo công ăn việc làm, khắc phục tình trạng thiếu việc làm.

    Nâng cao tố chất của mỗi con người. Một con người khi có một “cơ thể khoẻ mạnh và một tinh thần lành mạnh” thì rất khó có thể trở thành tội phạm ma tuý. Để thực hiện có hiệu quả việc này, vai trò của gia đình rất quan trọng. Mỗi gia đình cần chủ động phối hợp với nhà trường, với các tổ chức xã hội khác để cùng thực hiện.

    Dùng tấm lòng và tình thương yêu để cảm hoá những người đã trót sa ngã vào con đường tội phạm ma tuý. Đương nhiên, với nhiều trường hợp cần có sự nghiêm trị theo hướng “trị một người để cứu muôn người”. Các cơ quan, đoàn thể cần xây dựng một môi trường văn hoá, tạo điều kiện cho mỗi thành viên có được điều kiện yên tâm công tác.

    Nâng cao sự hợp tác phòng, chống ma tuý với các quốc gia. Sự hợp tác này không những chỉ dừng lại ở các vùng miền có biên giới, mà cần nâng tầm hợp tác ở cấp Bộ…

    Có thể thấy, phòng chống tệ nạn ma tuý không phải là trách nhiệm của riêng ai, riêng cơ quan nào. Nó cần trở thành một phong trào quần chúng, phải có tính xã hội cao. Nhà nhà, người người hợp sức chống tệ nạn ma tuý kết hợp với biện pháp hành chính. Nếu chỉ dùng biện pháp hành chính thì khó có thể ngăn ngừa có hiệu quả tệ nạn ma tuý.

    Bên cạnh lực lượng phòng chống tội phạm ma túy thì việc ngăn chặn và đẩy lùi một cách vững chắc tệ nạn ma túy, mại dâm cần phải coi đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó, vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng phải có tính quyết định và cần phải đánh giá đúng thực trạng, nhìn thẳng vào sự thật để có các giải pháp quyết liệt, đồng bộ trong công tác phòng chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm.

    Đoàn Thảo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Châm Ngôn Về Sự Cố Gắng Trong Cuộc Sống (Phần 5)
  • Suy Nghĩ Về Vấn Đề Nhân Sinh Được Đặt Ra Trong Câu Văn: “sự Sống Nảy Sinh Từ Trong Cái Chết, Hạnh Phúc Hiện Hình Từ Trong Những Hy Sinh, Gian Khổ, Ở Đời Này Không Có Con Đường Cùng, Chỉ Có Những Ranh Giới, Điều Cốt Yếu Là Phải Có Sức Mạnh Để Bước Qua Những Ranh Giới Ấy…”
  • Những Câu Danh Ngôn Về Cuộc Sống Của Người Nổi Tiếng
  • Những Câu Danh Ngôn Cuộc Sống
  • 40 Câu Nói Hay Về Nói Xấu Người Khác Ý Nghĩa Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hải Phòng

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Giá Trị Cuộc Sống
  • Tuyển Tập Những Bài Thơ Chúc Mừng Sinh Nhật Hay Hài Hước Và Bá Đạo Nhất
  • 99+ Câu Nói Hay, Stt Hạnh Phúc Về Tình Yêu, Cuộc Sống (Update)
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ 1001 Stt Buồn Đau Đớn Khiến Bất Cứ Ai Cũng Bật Khóc
  • Tổng Hợp Lời Chúc Sinh Nhật Hay Ý Nghĩa Nhất Tặng Người Yêu Bạn Bè
    1. Hải Phòng có bến Sáu Kho

      Có sông Tam Bạc, có lò Xi măng

    2. Đứng trên đỉnh núi ta thề

      Không giết được giặc, không về Núi Voi

    3. Thuốc lào Vĩnh Bảo

      Chồng hút, vợ say

      Thằng con châm đóm

      Lăn quay ra giường

    4. Dù ai buôn đâu, bán đâu

      Mùng chín tháng tám chọi trâu thì về

      Dù ai bận rộn trăm nghề

      Mùng chín tháng tám nhớ về chọi trâu

    5. Sấm động biển Đồ sơn

      Vác nồi rang thóc

      Sấm động bên sóc

      đổ thóc ra phơi

    6. Nhất cao là núi U Bò

      Nhất đông chợ Giá, nhất to sông Rừng

      (Thủy Nguyên)

    7. Chín con theo mẹ ròng ròng.

      Còn một con út nẩy lòng bất nhân

      (Địa hình Đồ Sơn ví như một con Rồng đang chầu về viên ngọc là Hòn Dáu. Sách cổ gọi núi Đồ Sơn là Cửu Long – chín rồng với câu ca trên. Con út ở đây là núi Độc, đứng riêng hẳn ra ở đầu bán đảo. Thực ra có tới 15 điểm cao từ 25m đến 129m trong dãy núi này, cao nhất là Đồn cao. Trên đỉnh núi còn những dãy tường thành, dấu vết đồn luỹ của Phạm Đình Trọng, một tướng Chúa Trịnh đi đàn áp cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu, thế kỷ 18)

    8. Đầu Mè, đuôi Úc

      Giữa khúc Nụ Đăng (Tiên Lãng)

    9. My Sơn bắc ngật văn chương bút

      Triều thủy nam hồi phú quí nguyên

      Dịch nghĩa:

      “Núi My Sơn phía bắc tạo thế văn chương

      Ngọn triều phía nam đem lại nguồn giàu có”

      My Sơn là xã ở Thủy Nguyên.

      — Theo Boxxyno.com

    10. Sâu nhất là sông Bạch Đằng

      Ba lần giặc đến, ba lần giặc tan

    11. Cá rô đầm Sét

      Nước mắm Vạn Vân

      Cam Đồng Dụ

      Cau Văn Ú

      Vú Đồ Sơn

    (Câu cổ đó)

    Văn học mình thấp kém không tìm được nhiều bài cho lắm nhưng nay cũng mạng phép đóng góp 1 vài bài , có gì xin các anh chị đóng góp ý kiến :

    1) Đống Đa ghi để lại đây

    Bên kia Thanh Miếu bên này Bộc An

    2) Sâu nhất là sông Bạch Đằng

    Ba lần giặc đến ba lần giặc tan

    Cao nhất là núi Lam Sơn

    Có ông Lê Lợi trong ngàn tiến ra

    3) Vải Quang , hung Láng , ngổ Đầm

    Cá rô Đầm Sét , sâm cầm Hồ Tây

    4) Đồng Đăng có phố Kì Lừa

    Có nàng Tô Thị , có chùa Tam Thanh

    5) Đông Ba Gia Hội hai cầu

    Ngó lên Diệu Đế bớn lầu hai chuông

    6) Ai về đến huyện Đông Anh

    Ghé thăm phong cảnh Loa Thành Thục Vương

    7) Rồi mùa toóc(a) rã , rơm khô (a) : rạ

    Bạn về quê bạn biết mô(b) mà tìm (b) : Đâu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Về Tình Bạn Hay Ý Nghĩa Sâu Sắc Mãi Không Bao Giờ Quên
  • Những Lời Chúc Ngày Thầy Thuốc Việt Nam Hay Nhất
  • 23 Lời Chúc Thi Tốt Hay Và Ý Nghĩa Nhất Dành Tặng Bạn Bè
  • Những Lời Chúc 14/2 Hay Và Ý Nghĩa Nhất Gửi Đến Người Yêu
  • Tục Ngữ Ca Dao Về Ngày Tết Nguyên Đán
  • Top Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh Yên Bái
  • Yên Bái: Những Tên Gọi Gợi Về Lịch Sử Và Thức Dậy Tiềm Năng
  • Stt Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Dân Ca Hay Và Sâu Sắc Về Tình Nghĩa Vợ Chồng
  • Một Số Câu Thành Ngữ
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Vô Ơn Trong Cuộc Sống Đúng Nhất
  • Ca dao tục ngữ là những câu nói, câu hát có sử dụng cách diễn đạt ngắn gọn, cô đúc nhât để thể hiện những hiện tượng của xã hội, con người, hiện tượng trong cuộc sống. bên cạnh đó các câu ca dao tục ngữ có một cách cấu diễn đạt kiểu đối xứng, nhân quả để khiến cho người đọc cảm thấy hứng thú và nhịp nhàng hơn trong lúc đọc. Câu ca dao tục ngữ còn có ưu điểm là dễ nhớ, dễ vận dụng còn có vần, có nhịp rất linh hoạt và tinh tế giúp chúng ta vận dụng một cách tốt nhất.

    Con người và xã hội mỗi thời kỳ đều có những điểm khác nhau và chúng ta cần phải thích nghi với xu hướng đó. Ví dụ như thời buổi hiện tại xu hướng công nghệ thông tin và toàn cầu hóa rất rộng

    Những câu tục ngữ nói về con người và xã hội:

    Câu 1:

      Một mặt người bằng mười mặt của

    Câu tục ngữ trên sử dụng biện pháp nghệ thuật hoán dụ và so sánh để nói lên phẩm chất và giá trị của con người. Câu tục ngữ thể hiện rằng con người còn quý hơn của cải, còn người quý hơn của cải vì con người làm ra của cải và những thứ khác , chính vì thế mà con người rất quan trọng.

    Câu 2:

      Cái răng, cái tóc là vóc con người

    Đây cũng là một câu tục ngữ nói về sự đề cao phẩm chất và giá trị của con người nhờ vào những hình ảnh quen thuộc và tinh tế của con người. những chi tiết nhỏ như cái răng, cái tóc cũng một phần góp nên tạo vẻ đẹp hình thức của con người. Đề cao vẻ đẹp bên ngoài bởi những hình ảnh nhỏ nhất của con người.

    Câu 3:

      Đói cho sạch, rách cho thơm

    Câu tục ngữ có lời nhắc nhở đến con cháu, mọi người rằng dù trong hoàn cảnh khó khăn như thế nào thì mọi người cũng phải giữ gìn phẩm giá, nhân cách của chính bản thân mình, không làm điều xấu xa.

    Câu 4:

      Học ăn, học nói, học gói, học mở

    Câu tục ngữ trên nói về việc học tập và tu tâm dưỡng tính của con người. câu tục ngữ như lời nhắc nhở mọi người nên rèn luyện, tu dưỡng mình từ những hành động và công việc tưởng như rất nhỏ. Ăn, nói, gói, mở là những hành động nhỏ nhoi nhưng chúng ta cũng cần học tập để có những cách đúng nhất.

    Câu 5:

      Không thầy đố mày làm nên

    Câu tục ngữ trên khẳng định vai trò của người thầy trong công việc học tập của chúng ta. Thầy là một người rất quan trọng tạo nên kết quả học tập cũng như đạo đức của mỗi chúng ta.

    Câu 6:

      Học thầy không tày học bạn

    Đây cũng là câu tục ngữ nói về sự tu tâm dưỡng tính, bên cạnh vai trò quan trọng của người thầy thì chúng ta cũng nên học tập bạn bè. Ngoài việc học thầy thì chúng ta có thể hỏi bạn bè và những người khác, không nên phụ thuộc vào người thầy hoặc không học thầy mà chỉ học bạn.

    Câu 7:

      Thương người như thể thương thân

    Đây là câu tục ngữ về truyền thống tốt đẹp của con người cũng như dân tộc ta, lòng nhân đạo, lòng biết ơn của con người. câu tục ngữ trên khuyên chúng ta phải thương người khác như thương bản thân mình, thương người như thương chính mình. Tình yêu thương con người được đề cao.

    Câu 8:

    Đây cũng là một câu tục ngữ nói tình yêu thương con người, tình cảm của con người. câu tục ngữ nhắc nhở lòng biết ơn những người đã tạo ta thành quả và chúng ta được hưởng. khi chúng ta ăn quả hãy nhớ đến những người trồng cây để chúng ta có quả để ăn thứ quả ấy.

    Câu 9:

    • Một cây làm chẳng nên non
    • Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    Câu tục ngữ sử dụng biên pháp ẩn dụ để thể hiện truyền thống tốt đẹp của con người. câu tục ngữ thể hiện tinh thần đoàn kết, găn bó của con người. thể hiện tinh thần đoàn kết tinh thần gắn bó giữa con người với con người.

    Bên cạnh những câu tục ngữ về con người và xã hội trên, ta còn có những câu tục ngữ về con người và xã hội hay sau:

    • Ăn cỗ đi trước,lội nước đi sau.
    • Người sống đống vàng.
    • Người là vàng của là ngãi.
    • Của đi thay người.
    • Người làm ra của chứ của không làm ra người.
    • Lấy của che thân chứ không lấy thân che của.
    • Một yêu tóc bỏ đuôi gà

    Hai yêu răng trắng như ngà dễ thương.

    • Người năm bảy đấng, của ba bảy loài.
    • Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật.
    • Chết giả mới biết bụng dạ anh em.
    • Khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giàu có ba mươi tết mới hay.
    • Chữ tốt xem tay, người hay xem khoáy.
    • Người khôn dồn ra mặt.
    • Trông mặt mà bắt hình dung.
    • Mỏng môi hay hớt, trớt môi nói thừa,
    • Con mắt là mặt đồng cân.
    • Bụng bí rợ ăn như bào, làm như khỉ.
    • Lòng người như bể khôn dò.
    • Miệng hỏa lò ăn hết cơ nghiệp.
    • To mắt hay nói ngang.
    • Con mắt lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
    • Người năm bảy đấng, của ba bảy loài.
    • Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật.
    • Chết giả mới biết bụng dạ anh em.
    • Khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giàu có ba mươi tết mới hay.
    • Chữ tốt xem tay, người hay xem khoáy.
    • Người khôn dồn ra mặt.
    • Trông mặt mà bắt hình dung.
    • Mỏng môi hay hớt, trớt môi nói thừa,
    • Con mắt là mặt đồng cân.
    • Bụng bí rợ ăn như bào, làm như khỉ.
    • Lòng người như bể khôn dò.
    • Miệng hỏa lò ăn hết cơ nghiệp.
    • To mắt hay nói ngang.
    • Con mắt lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
    • Nước đổ lá khoai.
    • Đèn soi ngọn cỏ.
    • Chó cắn áo rách.
    • Giơ cao, đánh sẽ.
    • Giầu điếc, sang đui.
    • No nên bụi, đói nên ma.
    • Người giầu tham việc

    Thất nghiệp tham ăn.

    • Tay làm hàm nhai
    • Của người bồ tát

    Của mình lạt buộc

    • Xa mỏi chân, gần mỏi miệng.
    • Cáo chết ba năm còn quay đầu về núi.
    • Bần cùng sinh đạo tặc.
    • Thượng bất chính, hạ tắc loạn.
    • Phép vua thua lệ làng.
    • Đất có lề, quê có thói.
    • Lá lành đùm lá rách.
    • Uống nước nhớ nguồn.
    • Trời sinh voi, trời sinh cỏ.
    • Ai giàu ba họ, ai khó ba đời.
    • Khôn ở trại, dại ở nhà
    • Lạc đàng nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu
    • Lảm khi lành, để dành khi đau
    • Lửa thử vàng, gian nan thử sức
    • Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén
    • Chữ trinh đáng giá ngàn vàng
    • Đánh bạc quen tay, ngủ ngày quen mắt, ăn vặt quen mồm
    • Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm
    • Vàng thiệt đâu sợ lửa

    Những câu ca dao nói về con người và xã hội:

    Câu 1:

    • Lỗ mũi em mười tám gánh lông,
    • Chồng yêu, chồng bảo: “Râu rồng trời cho”:
    • Đêm nằm thì ngáy o o,
    • Chồng yêu, chồng bảo: ngáy cho vui nhà”.
    • Đi chợ thì hay ăn quà,
    • Chồng yêu, chồng bảo: “Về nhà đỡ cơm”.
    • Trên đầu những rác cùng rơm,
    • Chồng yêu, chồng bảo: “Hoa thơm rắc đầu’.

    Đây là bài ca dao nói về vẻ đẹp của con người, hình ảnh người phụ nữ qua cách thể hiện dí dỏm, hài hước. những hình ảnh trên nói về hình ảnh người phụ nữ lo làm không chăm sóc đến nhan sắc của bản thân mình.

    Câu 2:

    • Hai nách những lông xồm xồm,
    • Chống yêu chồng bảo mối tơ hồng trời cho.
    • Đêm ngủ thì ngáy o o,
    • Chồng yêu chồng bảo lái đò cầm canh.
    • Ăn vụng bụng to tày thùng,
    • Chồng yêu chồng bảo cái giành đựng cơm.

    Hình ảnh người phụ nữ thể hiện hình ảnh con người, người phụ nữ một hình ảnh không đẹp nhưng thể hiện hình ảnh người phụ nữ không đẹp những rất được chồng yêu thương và quan tâm

    Câu 3:

    • Bà già ra chợ Cầu Đông,
    • Xem một quẻ bói: lấy chồng lợi chăng?
    • Thầy bói xem quẻ, nói rằng:
    • Lợi thì có lợi nhưng răng không còn”.

    Hình ảnh nói về con người và xã hội, những hình ảnh nói về một bà già đi xem bói xem mình có lấy được chồng. sự dí dỏm, hóm hỉnh thể hiện con người rất vui vẻ, dí dỏm và yêu thương nhau.

    Bên cạnh nhưng bài ca dao trên, chúng ta còn có những ca dao về con người và xã hội hay nhất sau:

    Học buôn, học bán cho tày người ta.

    Con đừng học thói chua ngoa,

    Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười.

    Dù no dù đói cho tươi,

    Khoan ăn bớt ngủ là người lo toan.

    Phòng khi đóng góp việc làng,

    Đồng tiền bát gạo lo toan cho chồng.

    Trước là đẹp mặt cho chồng,

    Sau là họ mạc cũng không chê cười.

      Ghi lòng tạc dạ chớ quên,

    Con em phải giữ lấy nền con em.

    Ấy là chữ hiếu, dạy trong luân thường.

    Trai thời trung hiếu đôi vai cho tròn.

    Gái thời trinh trỉnh lòng son,

    Sớm hôm gìn giữ kẻo còn chút sai.

    Trai lành gái tốt ra người,

    Khuyên con trọng bấy nhiêu lời cho chuyên.

      Làm trai nết đủ năm đường,

    Trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay.

    Công cha đức mẹ cao dày,

    Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.

    Nuôi con khó nhọc đến giờ,

    Trưởng thành con phải biết thờ hai thân.

    Thức khuya dậy sớm chuyên cần,

    Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con.

    Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.

    Dạy con, dạy thuở còn thơ,

    Dạy vợ, dạy thuở ban sơ mới về.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tướng Mạo Con Người Qua Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam
  • Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ngân Vang Câu Ca Dao Xứ Quảng
  • Tình Yêu, Hạnh Phúc Trong Ca Dao
  • Quan Niệm Về Miếng Ăn Qua Ca Dao, Tục Ngữ : Miếng Ăn Hay Là Triết Lý Của Cuộc Đời (4)
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Dân Chủ Và Kỷ Luật, Công Bằng Xã Hội Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Thành Ngữ, Tục Ngữ Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Tổng Hợp Thành Ngữ, Tục Ngữ, Ca Dao Theo Chủ Đề
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Gia Đình, Tình Cảm Gia Đình
  • Sưu Tầm Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Con Cái Nuôi Dạy Con Cái, Giáo Dục Con Người
  • Sự công bằng dân chủ và kỷ luật luôn là những tiêu chí hàng đầu trong việc phát triển xã hội ngày càng văn mình hiện đại và giầu đẹp hơn. Con người ngày càng có suy nghĩ và tư duy mở hơn so với ngày xưa. Họ đề cao sự tự do sự công bằng lên hàng đầu. Ca dao tục ngữ về dân chủ và kỷ luật, công bằng xã hội hay và ý nghĩa nhất

    Trong cuộc sống ngày nay thì những quy định về dân chủ, kỷ luật, công bằng xã hội là một yếu tố rất cần thiết đối với con người trong xã hội ngày nay. Những quy định về dân chủ và kỷ luật, công bằng xã hội khiến con người ta có những ý thức và ý nghĩa tốt đẹp đối với cuộc sống ngày nay. Những quy định về kỷ luật làm cho chúng ta có ý thức và sống tốt hơn trong cuộc sống.

    Khi xã hội ngày càng phát triển và tiến bộ hơn thì con người ngày càng tiến tới sự công bằng dân chủ trên nhiều mặt khác nhau. Tuy nhiên thực tế vẫn còn nhiều mặt trái và khoảng cách giấu nghèo ngày càng có vẻ được nới rộng

    Từ bao đời nay, từ thời Vua hùng đến ngày nay thì những quy định về dân chủ, tính dân chủ luôn được đặt lên hàng đầu. những hình thức kỷ luật, những quy định về kỷ luật được đưa ra để tập thể phát triển toàn diện và hùng mạnh hơn. Công bằng xã hội là một yếu tố rất cần thiết trong xã hội, luôn được mọi người quan tâm. Chúng ta cùng đi tìm những câu ca dao tục ngữ về dân chủ và kỷ luật, công bằng xã hội để hiểu rõ thêm về dân chủ và kỷ luật, công bằng xã hội.

    Ca dao tục ngữ về tính dân chủ:

    Tục ngữ về tính dân chủ:

    Câu 1:

      Đói tự do hơn no luồn cúi.

    Câu tục ngữ nói về sự dân chủ, dù no hay hay đói thì cũng cần có những tính dân chủ. Câu tục ngữ nói rằng thà chịu đói nhưng tự do còn hơn no và sống cúi trước người khác. Câu tục ngữ khẳng định tự do luôn được đặt lên trước vật chất.

    Câu 2:

      Bể rộng cá nhảy, trời cao chim bay.

    Câu tục ngữ nói về sự tự o, tự tại của con người trong cuộc sống. con người có được dân chủ cũng giống như cá bơi trong bể rộng, không sợ bị nhốt, bị tù túng. Giống như con chim bay trên trời, bay không có giới hạn, không có diểm dừng. con người cũng cần có những khoảng không gian, sự ân chủ cho chính mình.

    Câu 3:

      Cá kình cá nghê sao chịu vũng nước vừa chân trâu.

    Câu tục ngữ nói về sự dân chủ của con người được thể hiện qua sự chịu đựng của con cá kình và con cá nghệ. Cá kình và cá nghệ là hai con cá lớn nhưng làm sao có thể sống trong vũng nước vừa chân trâu. Qua đó thể hiện sự tự do dân chủ của người.

    Câu 4:

      Không có gì quý hơn độc lập tự do.

    Đúng như thế, khi con người có độc lập tự do thì con quý hơn vàng bạc đá quý. Khi có độc lập tự do thì gì cũng có, gì cũng sẽ không bằng việc tự do, độc lập.

    Ca dao về tính dân chủ:

    Câu 1:

    • Thà làm chim sẻ trên cành
    • Còn hơn sống kiếp hoàng anh trong lồng.

    Câu ca dao mượn hình ảnh con chim sẻ và con chim hoàng anh để nói lên sự tự do của con người. con chim sẻ là một con chim xấu xí, con chim hoàng anh là một con chim đẹp. nhưng khó thay con chim sẻ nó luôn tự do, tự tại sống với cuộc sống tự do, còn con chim hoàng anh dù đẹp nhưng lại bị nhốt trong lồng, không có tự do.

    Ca dao tục ngữ về kỷ luật:

    Tục ngữ về kỷ luật:

    Câu 1:

      Muốn tròn phải có khuôn, muốn vuông phải có thước.

    kỷ luật là một hình thức tạo nên một tổng thể, có kỷ luật thì tập thể mới phát triển, mới vững mạnh. Khi muốn vẽ nên vòng tròn thì chúng ta cần phải có khuôn, muốn tạo nên hình vuông phải có thước, muốn con người phát triển thì cần có kỷ luật.

    Câu 2:

    Câu tục ngữ trên khẳng định vai trò và vị thế của kỷ luật. dù ở đâu nơi đâu thì đất nào cũng có lề, vùng quê nào cũng có thói, bởi những lề thói ấy mà đất nước mới vững mạnh, mới phồng vinh.

    Tổng hợp những câu tục ngữ về kỷ luật:

    • Nước có vua, chùa có bụt.
    • Ở quen thói, nói quen sáo.
    • Người trên đứng đắn, kẻ dưới dám nhờn.
    • Thượng bất chính, hạ tắc loạn.
    • Bề trên ở chẳng kỉ cương

    Cho nên kẻ dưới lập đường mây mưa.

    • Dột từ nóc dột xuống.
    • Nhà dột tại nóc.
    • Đục từ đầu sông đục xuống.
    • Tôn ti trật tự.
    • Phép Vua thua lệ làng
    • Vua phạm tội cũng giống thứ dân.
    • Quốc có quốc pháp, gia có gia quy.
    • Luật pháp bất vị thân.
    • Tha kẻ gian, oan người ngay.
    • Công ai nấy nhớ, tội ai nấy chịu.
    • Chớ dong kẻ gian, chớ oan người ngay.
    • Chí công vô tư.
    • Rõ ràng phải trái phân minh.
    • Cầm cân nảy mực.
    • Bênh lí, không bênh thân.
    • Ăn cho đều, kêu cho sòng.
    • Vay thì trả, chạm thì đền.
    • Làm điều phi pháp việc ác đến ngay.
    • Làm người trông rộng nghe xa

    Biết luật biết lí mới là người tinh.

      Thương em anh để trong lòng

    Việc quan anh cứ phép công anh làm.

    Ca dao về kỷ luật:

    Câu 1:

    • Bề trên ở chẳng kỉ cương
    • Cho nên kẻ dưới lập đường mây mưa

    kỷ luật là một yếu tố rất quan trọng, là một hình thức để quản lí những người ở dưới. câu ca dao nói rắng nếu chúng ta làm xếp, làm lớn mà không kỉ cương thì làm sao cấp dưới noi theo, chúng ta có kỉ cương, đúng đắn thì cấp dưới mới quý trọng và noi theo.

    Câu 2:

    • Thương em anh để trong lòng
    • Việc quan anh cứ phép công anh làm

    Câu ca dao trên khẳng định rằng tình yêu nam nữ cũng không thể vượt qua được lệnh của cấp trên. Dù yêu em, nhớ em nhưng việc quan phép công anh phải làm, tôn trọng kỷ luật.

    Ca dao tục ngữ về công bằng xã hội:

    Câu 1:

    Câu tục ngữ trên nói về sự công bằng, trong cuộc sống thì có những người giàu, cũng có những người nghèo, có những người khó khăn, cũng có những người hạnh phúc. Tuy nhiên, nếu những người giàu có, hạnh phúc giúp đỡ những người khó khăn, nghèo khó thì xã hội sẽ công bằng hơn.

    Câu 2:

      Ăn cho đều, kêu cho sòng.

    Công bằng là một hình thức để phát triển xã hội, công bằng luôn có những điều tốt đẹp, khiến con người sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn, có những sự đối nhân xử thế tốt đẹp hơn.

    Tổng hợp những câu ca dao tục ngữ về công bằng xã hội:

    • Vậy thì trả, chạm thì đền
    • Có vay có trả, mới thỏa lòng nhau.
    • Tiền trao ra, gà bắt lấy.
    • Tiền trao cháo múc.
    • Tiền trả mạ nhổ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thơ, Ca Dao Tục Ngữ Về Hà Nội
  • Những Bài Ca Dao Dành Cho Trẻ Mầm Non Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Ca Dao Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hạnh Hiếu, Tình Cảm Gia Đình, Tình Yêu Thiên Nhiên
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Tuổi Học Trò
  • Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cha Hay ❤️ Những Câu Ý Nghĩa
  • Lớn Lên, Con Hiểu Ra Rằng Hạnh Phúc Của Con Là Nụ Cười Của Mẹ
  • Những Câu Ca Dao Về Tình Mẫu Tử Hay ❤️ Tình Mẹ Con
  • rong văn chương truyền khẩu, ca dao chiếm một địa vị quan trọng, đi sâu vào văn học Việt Nam. Muốn tìm hiểu văn chương phải tìm hiểu về ca dao là một kho tàng văn học phong phú vô tận. Ca dao thường ca tụng tình yêu nam nữ, tình cảm, phong tục con người. Bộ Thi Ca Bình Dân Việt Nam là lâu đài văn hoá dân tộc của Nguyễn Tấn Long và Phan Canh biên soạn. Rất ít tìm thấy những câu ca dao ta thán, châm biếm nhà cầm quyền.

    Nhưng sau ngày 30/04/1975, Văn học dân gian phản ảnh về kinh tế, chính trị qua lời ca phổ biến âm thầm để nói về chế độ CSVN, được lưu truyền qua người này đến người khác. Những câu ca dao xuất hiện vào thời điểm đổi đời, đánh dấu một giai đoạn thi ca truyền khẩu, đã và đang tồn tại với đời sống văn học, dù những đoạn ca dao nầy không được in thành sách ở Việt Nam, đúng là :

    Thành phố Sài Gòn hơn 300 năm đã bị đổi mất tên, nhưng không thể xoá mờ trong tâm hồn của dân tộc cái tên Sài Gòn muôn thuở. Dù đổi tên nhưng người ta nói xuống Sài Gòn chơi, chứ không ai nói xuống TPHCM. Những con đường xưa quen thuộc nhiều thế hệ chúng ta từng đi qua, cũng bị thay đổi tên như đường Công lý và Tự Do:

    Chiến tranh chấm dứt. Niềm vui chưa trọn vẹn. Dân miền Nam bị chới với trước việc đổi đời. Đời sống dân miền Nam sung túc trước kia sau 75 trở nên nghèo đói, phải đăng ký, xếp hàng trước hợp tác xã để mua thực phẩm. Gạo thiếu phải ăn hột bo bo, thức ăn cho ngựa. Nhiều gia đình phải bán dần đồ dùng trong nhà để sống qua ngày, người đi làm lương không đủ sống.

    Lương giáo viên mỗi tháng khoảng 70 đến 80 đô la. Ngày dậy, tối về nhà phải chấm bài vất vả, lại hội họp, phê bình, kiểm điểm, liên tu. Nhưng đồng lương quá thấp, thời kinh tế thị trường “gạo châu củi quế” nên họ phải làm thêm như dậy kèm, chở rau ra chợ vào buổi sáng sớm, trước khi đến trường, có người phải chạy xe ôm …

    Hàng ngày mặt trời chưa ló dạng, đã nghe tiếng phát thanh oang oang kêu gọi nào : Thi đua sản xuất, lao động là vinh quang, gọi đi họp tổ dân phố, biểu tình hoan hô, chào mừng theo lệnh của nhà cầm quyền, dù bụng đói cũng phải thi hành, gọi là ‘hồ hởi’.

    Có những người còn ở trong hoàn cảnh nghiệt ngã, nghe lời nhà nước ra sức lao động, như ở miền Trung mưa nắng khắc nghiệt, mồ hôi đổ xuống mảnh vườn khô cằn trồng mía làm đường; các tỉnh cao nguyên trồng tiêu, điều, café hy vọng bán nông phẩm cải thiện đời sống, nhưng nhà cầm quyền không biết quản lý về kinh tế, thương mãi để cho nông dân gặp trường hợp bế tắc không bán được, gây nên cảnh nợ nần khánh tận.

    Nước Việt Nam chúng ta ngày xưa, phần lớn sống về nông nghiệp, có nhiều giai cấp địa chủ … bóc lột. Dân nghèo thiếu ruộng, thiếu vườn canh tác, phải làm tá điền. Địa vị giai cấp là đối tượng đấu tranh của con người trong xã hội. Phong trào giải phóng dân tộc, đánh đuổi thực dân phong kiến, trở thành cao trào từ năm 1945 mọi người đã hưởng ứng, hy sinh xương máu. Nay hết chiến tranh, Việt Nam độc lập, chỉ còn người Việt cai trị người Việt, nhưng bản chất thật sự của giới lãnh đạo cộng sản đã hiện nguyên hình.

    Khẩu hiệu tuyên truyền của CSVN, đảng là đầy tớ, còn nhân dân làm chủ, chỉ còn là một cái bánh vẽ mà thôi. Trên thực tế ai có quyền thì người đó hưởng phúc lợi giàu sang. Ai nghèo thì vẫn nghèo rớt mồng tơi, còn là nạn nhân bị cưỡng ép đi vùng kinh tế mới.

    Xã hội nào cũng có nạn tham nhũng nhiều hay ít. Trước năm 1975, cũng có phong trào chống tham nhũng, vạch trần 4 tướng tham nhũng trong quân đội VNCH, nhưng ngày nay dưới chế độ cộng sản, tham nhũng đã trở thành quốc nạn. Nếu đọc những báo điện tử trong nước, ngày nào cũng có tin Tổng Giám đốc, Giám đốc quan chức nhà nước lớn nhỏ thường thâm thủng hàng triệu đô la. Báo chí Quốc tế cũng viết Việt Nam là nước tham nhũng, công việc gì đầu tiên phải có tiền hối lộ, đã làm ngưng trệ việc đầu tư và phát triển …

    Cũng có những đoàn thanh tra, để tỏ ra tiến bộ, nhưng chỉ là một hình thức thu tiền bỏ túi.

    Thời chúng ta còn trong nước từng thấy cán bộ, thủ trưởng còn ôm tập đi học bổ túc văn hoá, một năm hai lớp. Nhưng ngày nay nếu chúng ta về thăm quê hương, những người đó trước đây có nhiều bằng cấp đại học ” giảm “, để cầm quyền có cơ hội ” ăn trên ngồi trốc “, nhưng trình độ kiến thức thì chả ra gì.

    Trong sinh hoạt đời sống, áo cơm thường chi phối mọi tình cảm, tình yêu gia đình, tình yêu đôi lứa, bị ảnh hưởng và biến đổi tâm tình đó qua nhiều trạng thái.

    Trong giới bình dân cũng nhận định được khả năng lý trí, không thể đặt tâm tư con người ra ngoài ảnh hưởng đời sống vào thời gian và không gian … một số ít gia đình có con lấy chồng ra ngoại quốc hay vượt biên, may mắn có đời sống khá hơn, đã dành dụm gởi tiền về giúp gia đình.

    Huyền Trân công chúa kết duyên cùng Chế Mân, vua Chiêm Thành, theo lệnh của Phụ Hoàng để có sự bang giao tốt đẹp, thêm đất là 2 Châu Ô và châu Lý, nhưng ca dao thời đó cũng đã thương tiếc cho Huyền Trân công chúa.

    Nhưng ngày nay trong vấn đề hôn nhân, lấy chồng ngoại quốc trở thành một phong trào của những người dân quê bình dân mộc mạc, sống trên thửa ruộng nương dâu. Họ không thể tách rời cuộc sống, được mùa thì ấm no sung túc, ngược lại thiên tai mất mùa, đói khổ ! Không có cơ hội tiếp xúc với thế giới bên ngoài, chỉ nghe những lời đồn đãi của bọn buôn người. Bọn nầy làm trung gian, rao tìm con gái gả cho bọn đàn ông Đài Loan, Đại Hàn. Hạng đàn ông này bên quê hương của họ không thể tìm vợ để xây tổ ấm uyên ương, vì họ ít học, bị tật nguyền, hay là loại sở khanh lường gạt. Họ bỏ tiền mua gái quê trong trắng từ Việt Nam về làm nô lệ, phục vụ tình dục.

    Tệ nạn xã hội lường gạt, đĩ điếm từ thôn quê cho đến thành thị, đều có quán ăn nhậu, bia ôm, đủ thứ ôm để khai thác làm phương tiện sống, thành phố Cần Thơ với sông nước thiên nhiên, ghe thuyền tấp nập nhưng về đêm chúng ta không khỏi chạnh lòng, những cô gái buôn hoa bán phấn, tuổi đời còn non trẻ đã mời chào du khách.

    Muốn phản ảnh tốt về trạng thái xã hội, người làm ca dao cần phải luôn luôn theo sát với cuộc sống, xã hội lệ thuộc nặng về vật chất, thì giá trị tinh thần bị lu mờ. Ngày xưa sống ở trong rừng núi, bưng biền, người ta chia nhau củ sắn miếng dưa, nhưng về thành, mạnh ai nấy sống. Tiền là cứu cánh, là phương tiện tiến thân. Cái huy chương anh hùng dân tộc bán không ai mua.

    Thời toàn dân kháng chiến chống Pháp, Việt Nam Quốc Dân Đảng đã phản đối bọn thực dân và tay sai, đã lợi dụng mộ phu đi làm đồn điền cao su. Nhiều người nghèo tin đi làm, mong đời sống tốt hơn. Họ bỏ nhà cửa ruộng nương, đi lao động ở các vùng thiếu tiện nghi, bị bóc lột đánh đập.

    Ngày nay đất nước Việt Nam thống nhất tài nguyên phong phú, ” rừng vàng bể bạc ” nhưng nhà nước xuất cảng người đi lao động để thu tiền. Các địa phương những ngài chủ tịch còn hơn bọn cường hào ác bá, cướp đoạt đất đai, quốc hữu hoá. Sau đó bán giá đắt hơn để thủ lợi.

    Các nước theo chủ nghĩa xã hội, trước đây thường dựng tượng Lénin ở những công trường, vườn hoa để tôn vinh chủ nghĩa cộng sản. Hơn 15 năm qua, các nước Đông Âu từ bỏ chế độ cộng sản độc tài, thì tượng Lénin bị đập bỏ. Ngày nay, tượng Lénin chỉ còn ở Việt Nam, Bắc Hàn, Cuba và Trung Cộng mà thôi.

    Trong văn học dân gian, giữa nội dung và hình thức có sự tương quan mật thiết, trong quá trình phát triển của xã hội, từ tư tưởng, tình cảm xã hội được phản ảnh qua thi ca. Xưa kia ca dao thường nói về ngoại cảnh ngoại vật, cây đa đầu làng dặm liễu bờ tre, những đêm trăng non trên đồng lúa xanh tươi. Hiện nay ca dao mới bước xa hơn, nói về thực trạng xã hội của 30 năm qua nhiều chuyển biến, ca dao tất nhiên thay đổi nội dung và hình thức nghệ thuật.

    Chúng ta không lạ gì chủ nghĩa cộng sản, lúc nào cũng tuyên truyền những từ ngọt như đường cát, mát như phèn, nhưng đụng vào thực tế đối đầu với chế độ chua hơn dấm. Dưới chế độ CS người dân bị đàn áp, thiếu tự do nên những thập niên về trước, nhiểu người liều chết vượt đại dương ra đi tìm tự do. Nếu chẳng may bị công an bắt, kết án là Việt gian, phản bội tổ quốc ra đi vì kinh tế, bị tống giam đày ải.Tuy nhiên cộng sản không thể chận bắt hết làn sóng người vượt biên hay các địa phương bán bãi lấy tiền, nên nhiều người vượt thoát được. Các quốc gia trên thế giới với lòng nhân đạo đón nhận, người Việt với bản tính cần mẫn, chịu khó học hành đi làm, ổn định đời sống gởi tiền về giúp thân nhân hàng năm lên tới 3, 4 tỷ đô la. Một phúc lợi lớn với chế độ CSVN, nên họ thay đổi chính sách như Nghị quyết 36, kêu gọi Việt kiều về đầu tư. Nhưng Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Michael Marine, cho rằng chính phủ Việt Nam “chưa nỗ lực đủ và cần làm nhiều hơn nữa để hòa giải với cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

    Lịch sử cận đại, đặc biệt là giai đoạn từ năm 1975. Cộng sản Việt Nam hay viện dẫn lịch sử lý luận và tự hào đã có công lao giải phóng dân tộc, chiến thắng thực dân Pháp và Mỹ, giành độc quyền lãnh đạo. Để có nhận xét công minh để các thế hệ sinh sau thấy rõ công và tội của đảng cộng sản Việt Nam, đảng đã tuyên truyền sai lệch về lịch sử, không thể lấy thúng úp voi. 30 năm đã qua nhưng đất nước còn chậm tiến và lạc hậu.

    Lịch sử điạ lý từ ngàn xưa thường nói từ Ải Nam Quan đến mũi Cà mau. Biên giới lãnh thổ lãnh hải Việt Nam, đã bị mất một phần đất biển về phía Trung cộng. Ngày nay mốc biên giới phải sửa lại từ Lạng Sơn, chứ Ải Nam Quan đâu còn nữa! Đời sống người dân đã khổ vì thiên tai, những nạn dịch gia cầm, nhưng người ta chờ đợi và mơ ước cái dịch đảng chết tiệt, may ra đời sống khá hơn.

    Đã 32 năm hòa bình, đất nước có phát triển nhưng còn giới hạn. Xã hội băng hoại. Đạo đức suy đồi. Tham nhũng lan tràn. Mức chênh lệch giàu nghèo càng ngày cách biệt. Đời sống nông dân chân lấm tay bùn, còn bần cùng khốn khổ. Nhiều người bán tài sản, góp tiền xin đi lao động nước ngoài. Gái quê mong lấy chồng ngoại quốc, dù làm tôi tớ nô lệ! Trường học, bệnh viện không xây dựng thêm, nhưng nhà hàng, hộp đêm thì mọc lên như nấm. Chúng ta không ngạc nhiên trước những suy đồi hư đốn trên, tôi chứng kiến được những sự kiện, đời sống hiện nay ở Sài Gòn chỉ làm cho chúng ta bi quan về tương lai đất nước. Đi đâu tôi cũng nghe người ta than thở, chê trách đảng viên, cán bộ cấp cao chiếm một tỷ số không nhỏ, đã tham nhũng hối lộ. Trong bản báo cáo hàng năm về tự do tôn giáo thế giới, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã nêu tên ba nước cộng sản Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Hàn và chính quyền quân nhân Miến Điện vi phạm nặng nề tự do tôn giáo.

    Thành thật tri ân ký giả lão thành Lê L., ngoài 80 tuổi nhưng ông còn minh mẫn, tiếu lâm đọc cho tôi ghi chép những câu ca dao mới, chắc chắn còn thiếu sót. Mong quý vị độc giả đóng góp cho thêm phần phong phú.

    Thi Ca Dao XHCN

    Nguyễn Quý Đại , 12/2007

    --- Bài cũ hơn ---

  • 9 Quyển Sách Hay Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Có Giá Trị Sâu Sắc Nhiều Mặt
  • Ẩm Thực Món Gà Qua Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Nét Duyên Thầm Của Ẩm Thực Việt Qua Kho Tàng Ca Dao, Tục Ngữ
  • Chùm Ca Dao Dân Ca Hay Và Đặc Sắc Nhất Về Nghi Lễ, Phong Tục Của Dân Tộc
  • Tìm Hiểu Về Tết Việt Nam Qua Ca Dao,tục Ngữ
  • Biển Đảo Trong Tục Ngữ, Ca Dao Ở Hội An

    --- Bài mới hơn ---

  • Thơ Ca Về Biển Đảo: Sẵn Sàng Khi Tổ Quốc Gọi Tên!
  • Tuyển Chọn Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca Việt Nam
  • Nguồn Gốc Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Nguồn Gốc Của Tục Ngữ Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Viết Báo Tường Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Ở các địa phương này biển đảo là đối tượng chủ yếu của các đơn vị tục ngữ, ca dao. Biển đảo cũng đã có mặt trong nhiều đơn vị ca dao, tục ngữ sưu tầm được ở các địa bàn khác của Hội An chứng tỏ ảnh hưởng sâu rộng của biển đảo trong đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng cư dân địa phương. Các đơn vị ca dao, tục ngữ về biển đảo đã góp phần quan trọng làm nên sự phong phú, đa dạng và sắc thái riêng có của kho tàng di sản văn nghệ dân gian Hội An nói riêng, xứ Quảng, Đàng Trong nói chung và mặt khác, quan trọng hơn, chúng chứng tỏ rằng từ lâu đời người dân ở đây đã có cuộc sống gắn bó máu thịt với biển đảo, không ngừng vươn ra chiếm lĩnh biển đảo để làm không gian sinh tồn và sáng tạo nên nhiều giá trị văn hóa có giá trị, trong đó có các đơn vị ca dao, tục ngữ về biển đảo.

    Trước hết những câu ca dao, tục ngữ này cho thấy nhận thức, tâm thức của người dân địa phương về biển đảo mà cụ thể ở đây là biển Đông. Đối với họ, biển đảo không phải là nơi ” lạ bến đậu nhờ ” mà là quê hương gần gũi, thân thương, gắn bó:

    – Quê ta biển bạc non vàng

    Biển bạc Đông Hải, non vàng Bồng Miêu

    – Cù Lao đảo nhỏ quê ta

    Dạt dào sóng biển thuyền ra thuyền vào

    Đêm nằm ngữa mặt trông sao

    Trông cho biển lặng cá vào đầy ghe

    – Ra Lao bước tới Mồ Dài

    Gần Khô có Lá gần Tai có Nồm

    Biển bạc có nhiều cá tôm

    Rừng vàng tươi thắm hoa thơm bốn mùa

    Hỏi rằng đây phải Cù Lao

    Thưa rằng Tân Hiệp đã bao nhiêu đời[1]

    Qua các câu ca dao, tục ngữ trên và qua nhiều câu khác không trích dẫn ở đây ta thấy biển đảo hiện ra rất thân thương, gần gũi, gắn bó với con người, biển đảo là quê hương, quê ta, quê mình chứ không hề là môi trường xa lạ, tạm thời, là nơi sống nhờ ở đậu. Đàng sau các câu chữ là một tình yêu mãnh liệt, nồng thắm đối với quê hương, biển đảo. Biển đảo qua các sáng tác dân gian cũng hiện lên rất đỗi tươi thắm, giàu đẹp không thua kém bất cứ một miền quê nào khác. Biển bạc, rừng vàng không hề là những câu hoa ngữ, khoa trương mà rất cụ thể với các nguồn tài nguyên phong phú vốn có của mình. Biển bạc Đông Hải là một hiển hiện thực tế sau những vụ mùa bội thu tôm cá:

    – Được cá làng Gành ghe mành chở gạo

    Hoặc biển bạc hiện ra với những tổ chim yến quý hiếm, được xem là vàng trắng của phương Đông:

    – Lao Chàm nắng đẹp ban mai

    Có đàn chin yến kéo dài mùa xuân

    – Rủ nhau cơm gói ra Hòn

    Muốn ăn được yến phải lòn hang Khô

    Cho dù biển khơi không phải lúc nào cũng trời yên gió lặng mà có lúc trái tính trái nết nhưng không vì thế mà người dân ở đây chối bỏ, xa cách biển. Họ vẫn kiên trì bám biển, dựa vào biển để sống với ước mơ biển đảo sẽ đem lại cho mình nhiều điều tốt đẹp, cuộc sống no đủ:

    – Ra khơi bữa có bữa không

    Lạy trời đừng để tố giông cho mình

    Biển đảo là quê hương đồng thời cũng đã đem lại cho cộng đồng dân cư ở đây một cái nhìn toàn diện về sự rộng lớn, bao la của đất nước, của tổ quốc. Từ rất sớm trong ca dao tực ngữ đã hình thành quan niệm, cách nhìn về phạm vi lãnh thổ của đất nước không chỉ gồm đất đai, rừng núi, sông hồ mà còn có cả biển đảo. Đó là một chỉnh thể không thể chia cắt, tách rời.

    – Sông Thu khúc lỡ, khúc bồi

    Khúc mô lỡ lỡ hết khúc mô bồi bồi luôn

    Trời sinh ra có biển có nguồn

    Có ta có bạn bạn buồn nỗi chi

    Quan niệm, nhận thức này đã được định hình và ăn sâu vào tâm thức của người dân địa phương để khi nói về quê hương họ có cái nhìn kết nối giữa núi rừng và biển đảo:

    Ngó lên trên rừng ngó về dưới biển” là câu nói cửa miệng và là mô típ lặp đi lặp lại ở nhiều đơn vị ca dao, tục ngữ của địa phương. Thật ra, điều này không có gì lạ khi ta đọc lại truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên với 50 người con theo mẹ lên núi và 50 người con theo cha xuống biển. Đó chính là địa bàn cư trú truyền thống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó biển là môi trường mang tính cội nguồn. Có lẽ do tâm thức này mà tại địa phương có tục gát đòn đông nhà phải theo quy định ” Gốc biển ngọn nguồn “, gốc của cây đòn đông phải luôn quay về hướng đông, hướng biển, ngọn quay về hướng Tây, hướng núi.

    Cùng với việc thể hiện tình cảm gắn bó đối với quê hương biển đảo những đơn vị ca dao, tục ngữ nêu trên còn là sự khẳng định tư thế làm chủ của người dân địa phương đối với biển đảo nơi mình sinh sống. Các câu ca dao, tục ngữ với những địa danh cụ thể được xác định là quê mình, quê ta như Đông Hải, biển Đông, Cù Lao, hòn Khô, Lá, Tai, Nồm,… và nhiều địa danh biển đảo khác chứng tỏ chúng là những vùng biển đã được khai phá, chiến lĩnh và có chủ quyền từ lâu đời. Có thể nói đây là những tấm bản đồ xác định chủ quyền biển đảo bằng ca dao, tục ngữ.

    Qua các đơn vị ca dao, tục ngữ sưu tầm được cho ta thấy rằng người dân ở đây có những hiểu biết rất sâu sắc về biển đảo chứ không phải ” xa rừng nhạt biển ” như một số người nhận xét. Sự hiểu biết sâu sắc này là kết quả của quá trình chung sống lâu dài và không ngừng tìm tòi, khám phá để khái quát, tập hợp thành kho trí thức đồ sộ về biển đảo được diễn đạt, thể hiện ở nhiều hình thái, loại hình văn hóa vật thể và phi vật thể, trong đó có ca dao, tục ngữ.

    Trước hết đó là những câu ca dao, tục ngữ ghi lại những kinh nghiệm về thời tiết trên biển, về đặc điểm, tính chất của biển đảo.

    Rõ ràng đây là những nhận xét, tri thức của những người từng chung sống, lặn lội với biển, rất hiểu biết về biển kể cả về đặc điểm, tiềm năng, lợi thế về cả những hiểm nguy, bất trắc do biển mang lại. Các câu ca dao, tục ngữ trên cũng cho thấy để thích ứng với biển ngoài sự đoàn kết, đồng lòng, tính gan dạ, dũng cảm dám đương đầu với sóng gió thì sự hiển biết vể biển, kỹ năng đi biển cũng hết sức quan trọng.

    Đó là những tố chất, đức tính cần thiết để chung sống với biển và trở thành là dân biển thực thụ.

    Ảnh hưởng và sự thâm nhập sâu sắc của biển đảo trong đời sống tinh thần của cư dân địa phương còn được thể hiện ở chỗ hình tượng biển đảo xuất hiện ở nhiều đơn vị ca dao, tục ngữ để chỉ những điều thiêng liêng cao quý, những cung bậc tình cảm; để diễn đạt tình yêu đôi lứa thủy chung cũng như sự chia ly, xa cách…

    Khi nói về công ơn lớn lao của cha mẹ các tác giả dân gian địa phương đã đi từ mô thức truyền thống ” Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” để có cách diễn đạt mới gắn với biển cả:

    – Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng

    Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày

    – Ngó ra ngoài biển dờn dờn

    Cửa tiền chất đống cũng không bằng công ơn cha mẹ già

    Sớm mai cơm, trưa cháo chiều trà

    Ơn Cù Lao chín chữ bạn mà chớ quên

    Biển cả cũng đã cho ta một câu khẩu ngữ để diễn đạt công ơn sinh thành, dưỡng dục là ” công ơn trời biển “. Cách diễn đạt này có chiều sâu và mang tính khái quát hơn. Rõ rang núi, sông còn có giới hạn và có thể xác định nhưng trời biển, biển cả thì thật vô hạn và mang tính thiêng liêng, làm sao có thể xác định được.

    Hoặc khi nói về sự thâm sâu, khó dò của lòng người, các tác giả dân gian ở đây có cách diễn tả rất độc đáo, khác với truyền thống:

    – Dò sông dò biển dễ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người

    Lòng người thăm thẳm mù khơi

    Không bờ không bến biết nơi mô dò

    Lòng người thăm thẳm sao đo

    Ai đo dài ngắn ai dò nông sâu

    Lòng người ở đây không còn được so sánh với sông sâu như truyền thống ( Sông sâu còn có kẻ dò; Nào ai lấy thước mà đo lòng người) mà thay vào đó là biển khơi thăm thẳm. Hiệu quả của cách diễn đạt vì thế được tăng lên rõ rệt. Ở đây cho thấy biển đảo đã tạo nên một bước chuyển biến mới trong suy nghĩ, tâm thức của các lớp cư dân địa phương và thực tế này có thể xác định qua nhiều đơn vị ca dao tục ngữ.

    Biển đảo cũng đã trở thành hình tượng trong nhiểu câu ca dao tục ngữ để diễn tả tình yêu đôi lứa với nhiều cung bậc và trạng thái khác nhau, tạo thành một nét riêng mới:

    Ta thấy phải là những người dân biển thường xuyên hòa nhịp sống của mình với biển mới có cách diễn tả tình cảm sinh động và cụ thể đến như vậy.

    Để diễn tả sự chung thủy, gắn bó trong tình yêu những câu ca dao miền biển cũng có cách diễn đạt mới mẻ, sinh động:

    Bài ca có hai hình ảnh, hình tượng mới mẻ, đó là những chiếc ghe buôn, mà ở đây là ghe buôn biển và những cơn sóng biển được dùng để chỉ sự nhớ thương. Trong kho tàng ca dao truyền thống có câu:

    – Qua đình ngã nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu

    Cấu trúc câu ” Bao nhiêu… bấy nhiêu” vốn phổ biến ở nhiều vùng miền, nhiều đơn vị ca dao, dân ca. Đến Hội An, Quảng Nam và nhiều địa phương có biển cấu trúc này được vận dụng với hình tượng mới là sóng biển, lòng biển để chỉ sự nhớ thương, mức độ sâu đậm của tình yêu đôi lứa. Ta thấy ” đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu“, ” cau bao nhiêu lóng, thương chàng bấy nhiêu“, ” cầu bao nhiêu nhịp, thương nàng bấy nhiêu“, ” Đồng bao nhiêu lúa, thương chồng bấy nhiều “… là những biểu tượng có hạn, có thể xác định. Sóng biển, lòng biển thì vô hạn cả về bề rộng và chiều sâu, lại là hình tượng có tính động thể hiện rõ sự dạt dào, mênh mông của tình yêu đôi lứa.

    Nhìn ý kiến xác đáng khi cho rằng ca dao,tục ngữ là tấm gương phản ảnh chân thực đời sống tình cảm, cách tư duy và thái độ của các cộng đồng dân cư trong những môi trường và điều kiện sống cụ thể. Các đơn vị ca dao, tục ngữ về biển đảo cũng vậy, chúng cho ta thấy rõ diện mạo những người dân biển chân chất, bộc trực, ăn sóng nói gió nhưng rất đổi nghĩa tình, gan dạ, sẵn sàng đương đầu với sóng gió, với hiểm nguy bất trắc để sinh tồn và phát triển. Cũng qua các đơn vị ca dao, tục ngữ này ra thấy biển đảo đã thâm nhập thực sự sâu sắc vào đời sống vật chất và tinh thần hàng ngày của cư dân địa phương tạo thành một truyền thống bền chắc về tương tác và thích ứng với biển đảo gồm nhiều sắc thái phong phú và đa dạng³

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Về Ngày 20/11 Đầy Đủ Và Ý Nghĩa
  • Danh Sách Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Một Số Câu Ca Dao, Tục Ngữ Thường Được Vận Dụng Trong Hòa Giải Ở Cơ Sở
  • Tổng Hợp Những Câu Danh Ngôn Về Ngành Y
  • Tình Yêu Quê Hương, Đất Nước Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Bài Viết Số 7 Lớp 8 Đề 3: Hãy Nói Không Với Các Tệ Nạn Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Nói Hay Về Trung Thu, Stt Về Trung Thu Hay
  • 99+ Những Câu Nói Hay Về Thanh Xuân Đắt Giá Nhất
  • Điều Ít Biết Về Thứ 6 Ngày 13
  • Stt Những Câu Nói Hay Về Tiền Bạc Và Gia Đình, Cuộc Sống, Bạn Bè
  • #100 Stt Về Tiền Giang Hay, Ý Nghĩa
  • Ngữ văn lớp 8 Hãy nói không với các tệ nạn

    Bài viết số 7 lớp 8: Văn nghị luận – Hãy nói Không với các tệ nạn xã hội

    Dàn ý Bài viết số 7 lớp 8 đề 3: Hãy nói Không với các tệ nạn xã hội

    I. Mở bài:

    Nêu khái quát vấn đề để dẫn vào bài (VD: Đất nước chúng ta đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hóa để tiến tới một xã hội công bằng dân chủ văn minh. Để làm được điều đó, chúng ta phải vượt qua các trở ngại, khó khăn. Một trong những trở ngại đó là các tệ nạn xã hội. Và đáng sợ nhất chính là ma tuý, mối nguy hiểm không của riêng ai).

    II. Thân bài

    1. Giải thích thuật ngữ

    – Tệ nạn xã hội: Tệ nạn xã hội là những hành vi sai trái, không đúng với chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức, pháp luật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng. Tệ nạn xã hội là mối nguy hiểm, phá vỡ hệ thống xã hội văn minh, tiến bộ, lành mạnh. Các tệ xã hội thường gặp là: Tệ nạn ma tuý, mại dâm, đua xe trái phép…và trong đó ma túy là hiện tượng đáng lo ngại nhất, không chỉ cho nước ta mà còn cho cả thế giới.

    – Ma tuý: Là một chất gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp. Khi ngấm vào cơ thể con người, nó sẽ làm thay đổi trạng thái, ý thức, trí tuệ và tâm trạng của người đó, khiến người sử dụng có cảm giác lâng lâng, không tự chủ được mọi hành vi hoạt động của mình, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ.

    – Ma tuý tồn tại ở rất nhiều dạng như hồng phiến, bạch phiến, thuốc, lắc … dưới nhiều hình thức tinh vi khác nhau như uống, chích, kẹo…

    2. Làm rõ tác hại của ma tuý

    a. Đối với cá nhân người nghiện (có thể trình bày theo ba vấn đề: Sức khoẻ, tinh thần, thể chất)

    – Gây suy giảm hệ miễn dịch, giảm khả năng đề kháng làm cho người bệnh dễ mắc các bệnh khác;

    – Ma tuý chính là con đường dễ dàng đi đến những căn bệnh nguy hiểm dễ lây lan đặc biệt là HIV/AIDS;

    – Người nghiện ma tuý sức khoẻ yếu dần, không có khả năng lao động, trở thành gánh nặng cho gia đình, xã hội.

    – Nghiện ma tuý khiến cho con người u mê, tăm tối; từ người khoẻ mạnh trở nên bệnh tật, từ đứa con ngoan trong gia đình trở nên hư hỏng, từ công dân tốt của xã hội trở thành đối tượng cho luật pháp. Khi đói thuốc, con nghiện sẽ làm bất cứ điều gì kể cả tội ác: Cướp giật, trộm cắp, giết người…

    b. Đối với gia đình

    – Làm cho kinh tế gia đình suy sụp

    – Làm tan vỡ hạnh phúc gia đình …

    c. Đối với xã hội

    – Là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác như trộm cắp, cướp giật, mại dâm … làm cho an ninh xã hội bất ổn.

    – Làm hao tiền tốn của của quốc gia (do phải phòng chống, lập trại cai nghiện, …)

    – Những con nghiện mà không được gia đình chấp nhận sẽ đi lang làm mất vẻ mỹ quan, văn minh lịch sự, vật vờ trên những con đường của xã hội.

    – Làm suy giảm giống nòi …

    3. Từ việc nêu và phân tích tác hại cần khẳng định: Phải nói “không” với ma tuý

    4. Biện pháp (Sau khi khẳng định nói “không” cần dẫn để nêu lên biện pháp phòng chống ma tuý):

    – Có kiến thức về tác hại, cách phòng trách ma tuý, từ đó tuyên truyền cho mọi người về tác hại của nó.

    – Hãy tránh xa với ma tuý bằng mọi cách, mọi người nên có ý thức sống lối sống lành mạnh, trong sạch, không xa hoa, luôn tỉnh táo, đủ bản lĩnh để chống lại mọi thử thách, cám dỗ của xã hội.

    – Nhà nước cần phải có những hình thức xử phạt nghiêm khắc, triệt để đối với những hành vi tàng trữ, buôn bán vận chuyển trái phép ma tuý.

    – Đồng thời cũng phải đưa những người nghiện vào trường cai nghiện, tạo công ăn việc làm cho họ, tránh những cảnh “nhàn cư vi bất thiện”, giúp họ nhanh chóng hoà nhập với cuộc sống cộng đồng, không xa lánh, kì thị họ.

    – Tham gia các hoạt động truyền thống tệ nạn xã hội …

    III. Kết bài:

    Rút ra kết luận: Ma túy kinh khủng là thế nên mỗi chúng ta phải biết tự bảo vệ mình, tránh xa những tệ nạn xã hội, tránh xa ma túy.

    Bài viết số 7 lớp 8 đề 3: Hãy nói không với các tệ nạn xã hội mẫu 1

    Tuổi thanh thiếu niên chúng em là lứa tuổi đẹp nhất của đời người. Có nhiều thành ngữ, tục ngữ ca ngợi tuổi này như “Tuổi trăng tròn”, “Tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu”. Đó là lứa tuổi mà thể lực phát triển đến mức tối đa, đầu óc chứa đầy những ước mơ cao đẹp, khao khát cống hiến, hi sinh.

    Tuổi chúng em cũng là lứa tuổi có sức tiếp thu nhạy bén, ham tìm hiểu khoa học kĩ thuật nước ngoài, thích cái mới. Nhưng ngược lại, tuổi thanh niên cũng có những khuyết điểm như ham vui, dễ sa ngã, thân thiết với bạn bè, nhưng không biết phân biệt kẻ tốt người xấu.

    Chính vì thế mà có những nguy cơ đang rình rập, nhiều cạm bẫy đang chờ đợi chúng em. Đó là hiểm họa cờ bạc, ma tuý, và văn hóa phẩm không lành mạnh. Vậy, chúng ta hãy thử đi vào tìm hiểu vấn đề này!

    Cờ bạc là những trò chơi dựa vào sự may rủi, người chơi cờ bạc ban đẩu xuất phát từ giải trí nhưng sau đỏ bị “máu tham” nổi lên,không thể nào dừng lại được nữa! Hình thức của cờ bạc là sử dụng những lá bài tây, hoặc dựa vào xổ số để ghi đề, có người lại dựa vào những trận bóng đá hay những trận đua ngựa để “cá cược”. Tất cả đều là những hình thức khác nhau của cờ bạc mà thôi! Cờ bạc ngày xưa có hình thức đơn giản hơn, nhưng cũng làm cho bao người khánh kiệt, nhà tan cửa nát. Con mất cha, vợ mất chòng, cổ tích Việt Nam còn kể về những người đàn ông mê cờ bạc, mất hết tiền của, nhà đất rồi còn đem vợ đẹp ra mà đánh bạc!! Xem thế mới thấy cờ bạc có một “ma lực” thật đáng sợ! Người xưa có câu:

    “Cờ bạc là bác thằng bần Áo quần bán hết, tra chân vào cùm”

    Các học sinh, thanh niên chúng em nên lánh xa trò cờ bạc, vì trong giới này còn những tay chơi chuyên nghiệp, luôn lừa gạt những người mới vào để lấy tiền kẻ ngây thơ. Đó là loại người “cờ gian bạc lận” mà không thể nào chúng ta thắng nổi họ!

    Gần đây, thanh niên lại phải đối đầu với nguy cơ mới trên toàn thế giới: Ma túy!

    “Ma” là cây gai, nghĩa bóng còn chỉ thói quen không thể chừa được. “Tuý” là say. Ma tuý là chất gây say, gây nghiện, không thể chừa bỏ được khi đã vướng vào. Nó là một danh từ chỉ chung các chất: cần sa, cocain, á phiện, hêrôin và các chất kích thích khác như xì cọt, bồ đà, thuốc lắc… Theo lời những nạn nhân đã mắc vào ma túy thì nó có sức hấp dẫn một cách đáng sợ vì khi hút vào, nó làm người hút có một cảm giác lâng lâng kì lạ. Nhưng cạm bẫy tai hại của ma túy là khi đã hút vài lần thì không thể nào bỏ được nữa. Con nghiện bị cồn cào, cơn nghiện hành hạ thể xác đến độ mất hết lương tri, bằng mọi cách, người nghiện phải có thuốc, dù cho phải ăn cắp, cướp giựt hay là giết người, lừa gạt thân nhân để kiếm tiền hút chích! Họ có thể hành hung nhưng người xung quanh, người thân của chính mình mà không có ý thức. Căn bệnh ghiền ma túy ấy đã làm mất đi lí trí của người con ngoan, người anh tốt trong cộng đồng để trờ thành con nghiện nguy hiểm.

    Trong lúc chính quyền các nước và bao tổ chức an ninh chống buôn bán ma túy thì các con buôn thế giới sẵn sàng bỏ bao nhiêu tỉ đô la và súng đạn, giết bao nhiêu người để buôn ma túy, vì số tiền lời là khổng lồ!

    Con nghiện thường dùng nó dưới hình thức hút, chích để thỏa mãn cơn nghiện. Những kẻ khi đã nghiện thì đê mê, mất tỉnh táo về tinh thần, làm mất những kháng thể trong cơ thể, từ đó cơ thể suy nhược chỉ vì những chứng bệnh rất thông thường. Sự thiếu thuốc làm cho con nghiện mất hết lí trí, bị vật vã dữ dội và phải tìm mọi cách có tiền để thỏa mãn cơn nghiện bằng cách xin, mượn, lừa đảo, ăn cắp. Các thanh niên, học sinh khi đã đi vào con đường nghiện ngập sẽ đi cướp giật của người khác, thậm chí không ngần ngại hành hung người thân quen quanh mình để có được tiền đi hút. Việt Nam ta là một nước đang phát triển nên ma túy vẫn còn hoành hành khắp Bắc Nam… Mới đây ở Thị Nghè một thanh niên đang trong cơn nghiện đòi tiền của mẹ để đi hút, người mẹ không cho, con nghiện đã đốt nhà và trong lúc sơ sảy hắn đã bị điện giật chết trên nóc nhà mình. Đó là một trường hợp đau lòng đã xảy ra.

    Trong thời gian tiêm chích người bệnh sẽ bị suy nhược cơ thể, đánh mất nhân cách đạo đức và nguy hiểm nhất là có khả năng lây nhiễm cho người khác, làm lây lan dịch AIDS. Đối tượng học sinh là mục tiêu hàng đầu của những kẻ dụ dỗ buôn bán ma túy. Và cũng vì tính tò mò hiếu kì mà các em rất dễ sa ngã.

    Các lí do khác khiến thanh niên dễ sa vào ma tuý là họ có một lối sống thiếu lí tưởng, thừa tiền bạc, cha mẹ nuông chiều, thả lỏng, giải trí không lành mạnh và cặp kè với bạn xấu. Vì vậy Nhà nước ta cũng đã tuyên truyền, giáo dục học sinh và thực hiện các biện pháp nghiêm khắc với những học sính có hành vi tuyên truyền buồn bán ma tuý.

    Cai nghiện hêrôin không phải là dễ dàng vì ý chí con người dễ bị tàn lụi, không thể chống lại những cơn vật vã khổ cực của cơn đói thuốc (vã mồ hôi, co giật, cảm thấy như ngàn mũi kim đâm vào thịt, như triệu con giòi bò lúc nhúc trong thịt). Những người cai nghiện được sáu tháng, một năm, biết sự nguy hiểm của hêroin đã làm khổ mình, gia đình mình hết sức, nhưng về nhà lại tái nghiện vì ý chí bị suy sụp.

    Tác hại lớn nhất của hêrôin là dẫn đến HIV/AIDS: bao nhiêu người dùng một ống tiêm (chích) chỉ cần một người nhiễm HIV chích chung sẽ làm lây nhiễm qua đường máu cho kẻ khác một cách dễ dàng. Tuổi thọ của người nghiện hêrôin chỉ đếm được trên mấy đầu ngón tay, có người chích xong lăn đùng ra chết. Làm sao mà không chết khi đưa chất độc với những tạp chất (pha chế thêm) vào mình. Nếu người nghiện hêrôin nhiễm HIV thì sẽ nhanh chóng chuyển sang giai đoạn AIDS vì cơ thể suy sụp. HIV nhân bản mỗi ngày 10 tỉ siêu vi khuẩn, chỉ cần vài tuần con người đã trở thành “con vật HIV”. Nếu có thời gian theo dõi báo chí, chúng ta sẽ lo sợ biết bao trước hiểm họa của ma túy. Những số liệu thanh niên nghiện hút ngày càng tăng. Nhiều tội phạm buôn bán ma tuý đã bị bắt. Nhiều tổ chức tốt hướng dẫn; giúp đỡ thanh thiếu niên đã được lập ra như: trung tâm cai nghiện Bình Triệu, trung tâm tư vấn sức khỏe cộng đồng, những tổ chức y tế dự phòng.

    Điều nguy hiểm hơn nữa là các văn hóa phẩm không lành mạnh như những phim ảnh thiếu đạo đức, nhiều án mạng hoặc nhiều kích thích về bản năng thấp hèn đang được lưu truyền rộng rãi. Trước nó lan truyền vào việt Nam bằng những cuộn băng đĩa xách tay từ nước ngoài, bây giờ lan truyền bằng con đường Internet!

    Ngay cả nhưng trò chơi có vẻ hết sức “lành mạnh” là game online, nếu các học sinh biết sử dụng đúng mức là một sự thư giãn vui vẻ, tập cho trí tuệ sắc sảo. Nhưng nếu các học sinh nhịn tiền quà bánh, trốn thầy cô, cha mẹ vào một tiệm “game online” thường xuyên, mỗi ngày hai đến bốn giờ đồng hồ, thì kết quả học tập sẽ thế nào? Sức khỏe các em ấy sẽ ra sao nếu không phải là những gương mặt tiều tụy thiếu trí nhớ lúc kiểm tra bài và thiếu, ngủ thường xuyên?

    Mong sao em và các bạn của mình tránh xa được các tệ nạn cờ bạc, ma túy AIDS và những văn hóa phẩm tồi tệ! Hãy nói không với các tệ nạn xã hội! Ước gì các học sinh chúng ta luôn yêu thích giải trí lành mạnh như là thể thao ca nhạc, du lịch, xem phim hoặc đọc sách. Những thứ giải trí ấy vừa hấp dẫn, vừa bổ ích, vừa nâng cao kiến thức và đưa em đến những chân trời tuyệt diệu.

    Bài viết số 7 lớp 8 đề 3: Hãy nói không với các tệ nạn xã hội mẫu 2

    Không thể phủ nhận sự phát triển về mọi mặt của đất nước nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, xã hội phát triển đã kéo theo biết bao tệ nạn xã hội. Vậy chúng ta phải làm gì trước mối lo của toàn gia đình và xã hội? Là công dân của bất kì đất nước nào trên thế giới, đặc biệt là học sinh dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, chúng ta hãy kiên quyết nói “không” với các tệ nạn xã hội.

    Ma tuý là một chất gây nghiện, nó vắt kiệt sức khỏe và tha hoá đạo đức của người dùng. Một người, khi đã nghiện thì khó có thể dứt ra được, cuộc sống của anh ta sẽ lệ thuộc vào thuốc, và chính vì sự lệ thuộc ấy, anh ta sẵn sàng làm cả những điều phi nhân tính để có tiền mua thuốc. Sức khoẻ cũng suy giảm một cách nhanh chóng, người nghiện trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.

    Còn về thuốc lá, khác với ma tuý, thuốc lá cũng có mặt tích cực. Nếu hút ít, thuốc lá sẽ giúp con người tỉnh táo, hưng phấn khi suy nghĩ, làm việc. Nhưng nhiều người lại quá lạm dụng điều đó, hút quá nhiều dẫn đến tiêu cực. Hút thuốc nhiều sẽ huỷ hoại sức khỏe con người. Nghiện thuốc làm suy giảm hoạt động của hệ hô hấp dẫn đến nhiều bệnh tật như lao, ung thư phổi. Khói thuốc do người hút thải ra sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của những người xung quanh, đặc biệt với những bà mẹ đang mang thai. Và đương nhiên, hút thuốc cũng sẽ ảnh hưởng phần nào đến kinh tế gia đình.

    Chúng ta cũng không thể không nói tới cờ bạc, “bác của thằng bần”. Trong cờ bạc luôn có kẻ thắng người thua. Thua thì đương nhiên bị mất tiền nhưng điều nguy hại hơn là tâm lí “gỡ gạc”, chính tâm lí này đã kéo người thua ngày càng sa vào vũng lầy không thể rút chân ra được. Người thắng tuy có được tiền nhưng đã tốn biết bao thời gian và công sức mà lẽ ra nên để dành cho việc khác có ích hơn. Hiện nay, tệ cờ bạc hay còn gọi là “nạn đỏ đen” xuất hiện tràn lan, biến tướng dưới hình thức các trò chơi được giải. Thật đáng lo ngại. Chúng ta hãy mạnh tay với tệ nạn này.

    Còn rượu, nó không chỉ ảnh hưởng đến sức khoẻ người uống mà còn ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Uống nhiều rượu sẽ ảnh hưởng đến thần kinh, làm giảm trí nhớ, mất thăng bằng cơ thể, và quan trọng hơn, không kiểm soát được mọi hành vi của mình, có thể dẫn đến những hành động nguy hiểm cho mọi người xung quanh.

    Nguyễn Thanh Hương

    (Trường THCS Đông Thái)

    Bài viết số 7 lớp 8 đề 3: Hãy nói không với các tệ nạn xã hội mẫu 3

    Ngày nay, đất nước Việt Nam của chúng ta đang là một trong những quốc gia trên đà phát triển trong khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là sau khi chính thức gia nhập vào tổ chức kinh tế thế giới WTO và tháng 11 năm 2008. Đời sống của mọi người dân đã và đang ngày càng được cải thiện; mức thu nhập bình quân đầu người cũng đang được tăng dần lên trong những năm gần đây và đặc biệt là tỉ lệ số người thất nghiệp cũng đã được giảm đến mức thấp nhất… Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu về kinh tế sau khi mở cửa thị trường với các nước phương Tây thì ta cũng phải đương đầu với những cơn lốc tệ nạn xã hội vốn là hệ quả của quá trình phát triển kinh tế. Một trong số những tệ nạn xã hội đó là tệ nạn tiêm chích và buôn bán ma túy. Đây là một trong những tệ nạn nguy hiểm nhất trong các loại tệ nạn.

    Ma túy là một danh từ dùng để chỉ chung cho tất cả các chất gây nghiện, tác động lên thần kinh trung ương tạo ra ảo giác. Ma túy vốn là một loại dược phẩm được sử dụng hợp pháp trong các bệnh viện để phục vụ cho việc chữa bệnh và đặc biệt là làm thuốc giảm đau sau những ca mổ lớn. Ma tuý có nguồn gốc tự nhiên như thuốc phiện, cần sa tinh chế lại thành He – ro – in, Co – ca – in hay tổng hợp từ những loại dược chất có độc tố gây ảo giác như estasy, seduxen. Đặc điểm nổi bật nhất của ma túy là làm người sử dụng nó bị tê liệt hệ thần kinh đến mất đi tri giác, không còn biết đau đớn, cho dù bị lửa đốt hay kim châm đến chảy máu.

    Ngoài ra, người sử dụng ma túy dù chỉ một lần cũng sẽ trở nên bị nghiện ngập. Nếu chúng ta cứ vô tư sử dụng chất ma túy một cách tuỳ tiện thì chúng ta sẽ tự biến mình thành nô lệ của nó. Nếu hằng ngày mà không tiêm chích ma túy thì người nghiện sẽ trở nên đau đớn vô cùng, đau vật vã, dữ dội đến mức mất lí trí tự cấu xé thể xác mình mà không hề cảm thấy đau đớn, thậm chí có thể giết người, cướp của, trộm cắp, tham gia tàng trữ buôn bán ma tuý… miễn sao có tiền để thỏa mãn được cơn nghiện. Vì vậy khi sử dụng ma túy, con người rất dễ vi phạm pháp luật và trở thành một mối nguy hiểm lớn cho xã hội cộng đồng. Việc tiêm chích ma túy còn là nguyên nhân chính phát sinh những căn bệnh nguy hiểm của thời đại như: HIV/AIDS.

    Ma túy đã và đang trở thành một mối nguy hiểm đối với mỗi cá nhân. Ma túy là một tệ nạn ảnh hướng xấu đến môi trường sống, xã hội cộng đồng. Báo chí đã từng đưa tin có biết bao nhiêu bi kịch gia đình đã xảy ra mà nguyên nhân bắt nguồn từ chất ma túy gây nghiện. Những người thân trong gia đình cũng trở thành nạn nhân của những con nghiện khi đói thuốc. Nó làm tan vỡ hạnh phúc của biết bao gia đình. Người nghiện ma tuý sức khoẻ sẽ trở nên yếu dần, mất khả năng lao động tư duy và từ đó họ trở thành gánh nặng cho gia đình, xã hội. Hãy tưởng tượng một thành phố về đêm với những con nghiện lang thang vật vờ như những bóng ma sẽ tạo tâm lý bất ổn thế nào cho người khác, nhất là những du khách nước ngoài.

    So sánh với các loại tệ nạn xã hội khác như cờ bạc, tiếp xúc với văn hóa phẩm đồi truỵ, ma tuý chính là mối lo ngại hàng đầu trong xã hội. Nó góp phần làm mục rỗng xã hội, băng hoại cả một thế hệ trẻ, suy giảm giống nòi …

    Vậy, chúng ta phải cần phải làm gì để bài trừ loại tệ nạn nguy hiểm nói trên?

    Nói tóm lại, xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống ngày càng Tây hóa thì cường độ ảnh hưởng của những tệ nạn xã hội đối với lớp trẻ cũng ngày một gia tăng. Vì vậy, là một công dân tốt, nhiệm vụ của chúng ta là phải biết “gạn đục, khơi trong” nghĩa là phải biết tiếp thu nhận cái hay, cái tốt và đồng thời cần bài trừ những cái xấu như tệ nạn ma túy đang lan tràn khắp nơi. Để làm được việc đó, chúng ta phải không ngừng học tập và rèn luyện theo lời dạy của Bác Hồ kính yêu!

    Bài viết số 7 lớp 8 đề 3: Hãy nói không với các tệ nạn xã hội mẫu 4

    Ở nước ta hiện nay xã hội đang ngày càng phát triển, sự giao lưu văn hóa với các nước đang ngày càng mạnh mẽ. Chính vì thế chúng ta có điều kiện nâng cao đời sống về vật chất lẫn tinh thần; tiếp thu những cái hay, cái đẹp của các nền văn hóa khác nhau. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển và hội nhập đó cũng không thể không có những mặt trái của nó, đặc biệt là đối với giới trẻ hiện nay. Như chúng ta đã biết, tệ nạn xã hội đang là một vấn đề nan giải hiện nay.

    Vậy tệ nạn xã hội là gì? Tệ nạn xã hội là hiện tượng xã hội bao gồm những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức và pháp luật, gây ra hậu quả xấu về mọi mặt đối với đời sống xã hội. Có rất nhiều tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma túy, mại dâm, …trong đó tiêm chích ma túy là tệ nạn gây ra nhiều tác hại nhất đối với cá nhân, gia đình và xã hội.

    Ma túy ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con người, khi đã mắc phải. Trước hết là ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân người nghiện ma túy. Cơ thể của họ sẽ ngày một suy yếu, thân thể gầy gò, … và ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, học tập, công việc. Tinh thần bị suy sụp do trong ma túy có nhiều chất tác động lên hệ thần kinh. Con người buồn, vui, nóng nảy, giận dữ bất cứ lúc nào. Khi đã nghiện ma túy thì người nghiện có nguy cơ bị các bệnh khác tấn công do hệ miễn dịch bị suy yếu. Khi đã nghiện nặng thì con người mất dần khả năng lao động và có thể dẫn đến cái chết. Khi lên cơn nghiện họ sẽ không còn làm chủ được bản thân, mất kiểm soát, điều đó sẽ dễ dẫn đến tấn công người khác. Không chỉ vậy, người nghiện ma túy còn làm ảnh hưởng đến gia đình, xã hội.

    Những gia đình có người nghiện sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần, có khi làm cho gia đình tan vỡ. Nếu cha mẹ nghiện thì con cái sẽ không được chăm sóc, học hành đến nới đến chốn. Từ đó những người con này có thể sẽ là gánh nặng cho xã hội. Nếu con cái nghiện ngập thì cha mẹ không được sống yên ổn, mất danh dự gia đình…

    Ma túy không chỉ gây tác hại đói với cá nhân, gia đình mà còn ảnh hưởng đến xã hội. Một đất nước có nhiều người nghiện thì sức lao động sẽ bị giảm. Nòi giống bị suy thoái, sinh ra những đứa con tật nguyền, quái thai. Nhà nước lại phải bỏ tiền ra chăm lo. Ma túy cũng là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn, nhiều loại tội phạm khác như mại dâm, cướp đật, trộm cắp, … làm mất trật tự xã hội. Hàng năm đất nước phải bỏ ra một nguồn tiền khổng lồ để duy trì pháp luật, duy trì cuộc sống cho những người này làm ảnh hưởng đến ngân sách cũng như các chế độ phúc lợi khác.

    Để phòng, chống nạn ma túy, pháp luật nước ta quy định: nghiêm cấm sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng, cưỡng bức, lôi kéo sử dụng các chất ma túy trái phép; những người nghiện ma túy bắt buộc phải cai nghiện. Mỗi chúng ta phải biết sống giản dị, lành mạnh, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội để đất nước ngày càng phát triển, gia đình hạnh phúc, bản thân khỏe mạnh.

    Bài viết số 7 lớp 8 đề 3: Hãy nói không với các tệ nạn xã hội mẫu 5

    Hiện nay, Việt nam chúng ta đang trên đà phát triển công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước.Mỗi công dân đều phải có trách nhiệm đối với bản thân cũng như đối với đất nước để góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của nước nhà,song song đó việc đẩy lùi tệ nạn xã hội cũng là một trong những tiêu chí phát triển hàng đầu. Một đất nước càng văn minh, hiện đại thì tệ nạn xã hội lại càng phức tạp, càng đáng phải lên án gay gắt.

    Cho đến ngày nay,tệ nạn xã hội vẫn được hiểu là những vấn nạn,những việc làm sai trái gay nguy hiểm cho xã hội như: ma tuý, mại dâm, tội phạm… Nó không chỉ làm ảnh hưởng đến sự an nguy của Việt Nam mà còn là mối đe doạ khủng khiếp của toàn nhân loại. Ai trong chúng ta cũng đều có thể là nạn nhân của những tệ nạn trên. Vì thế, ta cần tự chủ bản thân. Kiên quyết bài trừ và tiêu diệt “con quỷ giết người không dao này”. Nếu mọi người trên Trái Đất này cùng chung tay góp sức với nhau, cùng nhau tuyên truyền những biện pháp khống chế thì tệ nạn xã hội sẽ không còn là một vấn đề nan giải nữa. Điển hình như tệ nạn ma tuý,mỗi ngày nó có thể cướp đi mạng sống của hàng chục triệu người trên thế giới.

    Thay vì cam chịu đứng nhìn,chúng ta hãy làm những việc làm tốt nhất có thể như: đưa người nghiện ma tuý đi cai nghiện,tạo điều kiện để họ vui sống,lạc quan và hoà nhập tốt hơn với cộng đồng. Nghiêm khắc trừng trị những kẻ buôn bán ma tuý, những “má mì”chăn dắt gái mại dâm để góp phần chặn đứng lưỡi hái của “nàng tiên nâu”. Nhưng hơn bao giờ hết,tệ nạn xã hội có thể bị tiêu diệt còn tuỳ thuộc vào ý thức của chính bản thân mỗi người. Vì thế, ai trong số chúng ta cũng phải làm chủ bản thân, nói “Không” với những lời lẽ khiêu khích, những trò ăn chơi sa đoạ. Tuy một ngày,chúng có thể không gây ra hậu quả gì nghiêm trọng. Nhưng theo thời gian, chúng sẽ lôi kéo ta ngày càng lún sâu vào vũng bùn nhơ của tệ nạn xã hội.

    Trong xã hội này, có nhiều người luôn sống theo phương châm:” Vui có chừng-Dừng đúng lúc ” thì cũng có không ít người từng ngày tiếp tay, làm lan truyền tệ nạn xã hội ra cộng đồng. Những người cả tin, sống ăn chơi, đua đòi để rồi cũng trở thành nạn nhân của tệ nạn xã hội thật đáng phê phán. Đặc biệt nguy hiểm là nhiều người có hành vi chủ mưu, lôi kéo giới trẻ sa vào tệ nạn xã hội. Họ không ý thức được hậu quả mà mình gay ra đã tạo nên một lỗ hổng đen vào thế hệ trẻ mà chỉ biết hưởng lợi cho riêng mình. Những con người ích kỉ như vậy đáng phải chịu vô số những hình phạt nghiêm khắc nhất của pháp luật và sự cắn rứt giày vò của toà án lương tâm.

    Trên thế giới cũng có hàng vạn tấm gương sáng bước ra từ tệ nạn xã hội để sống tốt đẹp hơn và là người có ích cho cộng đồng. Họ xứng đáng nhận được sự thương yêu và trân trọng của mọi người.Biết đứng lên để làm lại từ đầu sau những vấp ngã mới là điều đáng quý nhất.Từ đó, chúng ta hãy gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh mọi người về những tác hại của tệ nạn xã hội và làm những biện pháp thiết thực nhất để tệ nạn xã hội không còn là nỗi ám ảnh chung của toàn nhân loại.

    Bài viết số 7 lớp 8 đề 3: Hãy nói không với các tệ nạn xã hội mẫu 6

    Để phòng chống một tệ nạn thì chúng ta cần biết rõ về tệ nạn đó. Ma túy là một loại chất kích thích, gây nghiện có nguồn gốc từ cây túc anh hoặc nhựa cây thuốc phiện được trồng ở 12 tỉnh miền núi phía Bắc Việt nam hay từ lá, hoa, quả cây cần sa được trồng ở các tỉnh giáp ranh biên giới Việt Nam – Campuchia. Đặc biệt là ma túy có một ma lực dẫn dụ ghê gớm, khiến người bị dính vào không thể cưỡng lại được, chẳng khác gì “ma đưa lối, quỷ đưa đường”. Ma túy tồn tại ở nhiều dạng như tép, nước, bột, hồng phiến, bạch phiến, thuốc…và được sử dụng bằng nhiều hình thức hút, chích, hít…Nó được coi là tệ nạn đáng sợ nhất vì sức dẫn dụ con người không kể tuổi tác và khả năng gây nghiện nhanh chóng. Hơn thế nữa, ma túy còn là ngọn nguồn của những tệ nạn xã hội khác.

    Trước tiên, nó gây hại trực tiếp đến người nghiện. Về sức khỏe, ma túy gây ra các bệnh khôn lường cho cơ thể. Người nghiện sẽ bị hư hại niêm mạc mũi nếu dùng ma túy theo dạng hít, có khả năng ngưng thở đột ngột, gây nguy hiểm tính mạng. Còn dùng theo chúng ta thường nghe nói ma túy rất có hại nhưng mấy ai hiểu được tác hại thật sự của nó! Bạn hút thì cơ quan chịu ảnh hưởng là phổi. Phổi sẽ bị tổn thương nghiêm trọng, gây ung thư phổi, viêm đường hô hấp, nhiễm trùng phổi…Và nguy hiểm nhất là dùng ma túy dạng chích, đây là con đường ngắn nhất dẫn đến AIDS. Người tiêm đâu có biết rằng trên mũi kim là hàng vạn quả cầu gai gây căn bệnh thế kỉ hiểm nghèo, cứ thế họ truyền tay nhau tiêm chúng, đưa virus vào máu của mình. Ở những tụ điểm tiêm chích, họ còn pha thêm các chất bẩn gây áp-phê, hậu quả là các con nghiện phải cưa cụt tay chân hay nhiễm trùng máu. Ấy là chưa kể đến tình trạng bị chết do sốc thuốc. Câu chuyện “cái chết trắng” của nhà tỉ phú trẻ Raphael, chết ngay bên đường do dùng bạch phiến quá liều. Những người nghiện lâu ngày rất dễ nhận ra, người gầy gò, da xám, tóc xơ xác. Hệ thần kinh bị tổn thương nặng do ảnh hưởng của thuốc, kém tập trung, suy nghĩ, chán nản và thiếu ý chí vươn lên nên việc cai nghiện cũng khó khăn. Không chỉ dừng ở đó, tiêm chích ma túy còn hủy hoại con đường công danh, sự nghiệp của người nghiện. Đã có bao bài học, biết bao câu chuyện kể về những công nhân, kĩ sư… đã gục ngã trước ma túy, để rồi bị bạn bè, đồng nghiệp xa lánh, con đường tương lai tươi sáng bỗng vụt tắt, tối tăm. Và nhất là những bạn học sinh, tuổi đời còn quá dài mà chỉ vì một phút nông nỗi, bị bạn bè rủ rê đã đánh mất tương lai. Thật đáng thương!

    Ma túy không những gây hại cho người dùng nó mà còn cho cả gia đình của họ, khiến họ trở mất dần khả năng lao động, trở thành gánh nặng cho gia đình. Những gia đình có người nghiện ma túy bầu không khí lúc nào cũng lãnh đạm, buồn khổ. Công việc làm ăn bị giảm sút do không được tín nhiệm. Nền kinh tế cũng theo đó mà suy sụp. Bởi những người một khi đã nghiện thì luôn có nhu cầu hơn nữa về ma túy, đồng nghĩa với việc họ phải có tiền, mà tiền thì lấy từ đâu? Từ chính gia đình của họ chứ không đâu xa. Rồi những người vợ, người mẹ sẽ ra sao khi thấy chồng, con mình vật vã khi thiếu thuốc, khi lìa bỏ cõi đời vì mặc cảm, vì bệnh tình đã tới giai đoạn cuối? Thật đau xót cho những gia đình bất hạnh có người nghiện ma túy.

    Không dừng lại ở đó, ma túy còn như một con sâu đục khoét xã hội. Khiến cho an ninh, trật tử, quốc phòng bất ổn. Khi muốn thỏa mãn cơn ghiền, con nghiện không từ một thủ đoạn, hành vi trộm cắp, giết người nào để có tiền mua heroin, hoặc nổi máu anh hùng xa lộ, đua xe, lạng lách. Những con nghiện mà không được gia đình chấp nhận sẽ đi lang thang làm mất vẻ mỹ quan,văn minh lịch sự của xã hội,vật vờ trên những con đường. Không chỉ thế, nhà nước, xã hội còn phải tốn tiền để tổ chức lực lượng phòng chống và giải quyết những thiệt hại do con nghiện gây ra. Mất tiền xây dựng các trại cải tạo, giáo dục, điều trị cho người nghiện. Một thiệt hại lớn mà ma túy gây ra cho nền kinh tế quốc gia là ngành du lịch bị giảm sút. Các bạn thử nghĩ xem, có ai dám đi du lịch sang một đất nước, một thành phố mà toàn người bị HIV/AIDS. Rồi họ sẽ nghĩ gì về nước ta, họ sẽ nhìn nước ta với ánh mắt khinh thường, chẳng ai dám đầu tư vào đây nữa. Quả là một mất mát, thiệt hại cho nước nhà!

    Nhưng các bạn đừng lo, nếu chúng ta biết cách phòng chống thì những mối nguy ngại trên sẽ được giải quyết, sẽ không còn tệ nạn ma túy nữa. Mỗi người phải có trách nhiệm, tích cực tuyên truyền, giáo dục cho người thân mình sự nguy hiểm của ma túy để không ai bị chết vì thiếu hiểu biết. Luôn tránh xa với ma tuý bằng mọi cách, mọi người nên có ý thức sống lối sống lành mạnh, trong sạch, không xa hoa, luôn tỉnh táo, đủ bản lĩnh để chống lại mọi thử thách, cám dỗ của xã hội. Đồng thời cũng lên án, dẹp bỏ tệ nạn bằng cách không tiếp tay cho chúng. Nếu lỡ vướng vào thì phải dùng nghị lực, quyết tâm, vượt lên chính mình để từ bỏ con đường sai trái. Bên cạnh đó nhà nước cũng phải đưa những người nghiện vào trường cai nghiện, tạo công ăn việc làm cho họ, tránh những cảnh ” nhàn cư vi bất thiện”, giúp họ nhanh chóng hoà nhập với cuộc sống cộng đồng, không xa lánh, kì thị họ.

    Ma túy quả là một con quỷ khủng khiếp nhất của gia đình và xã hội, còn hơn cả bệnh tật và đói khát. Chúng ta vẫn có thể phòng trừ nanh vuốt của con quỷ dữ này. Mỗi chúng ta phải nêu cao cảnh giác, chung tay ngăn chặn nó, mở rộng vòng tay đỡ lấy những người nghiện, đừng để họ lún quá sâu vào bóng tối. Đặc biệt là học sinh chúng ta phải kiên quyết nói không với ma túy, xây dựng một mái trường, một xã hội không có ma túy.

    Bài viết số 7 lớp 8 đề 3: Hãy nói không với các tệ nạn xã hội mẫu 7

    Ma túy là bệnh, là hệ quả của cả một nền văn minh lấy kỹ thuật và thị trường làm gốc, là triệu chứng của một cuộc “tổng khủng hoảng”. Khi con người đâm ra nghiện một chất gì thì đó là triệu chứng của một tâm trạng gồm ít hay nhiều yếu tố thất tình, thất thế, thất nghiệp, thất chí, thất sủng, thất vọng (tất cả những từ này đều hiểu theo nghĩa rộng).

    Khác với chứng nghiện ngày xưa thường xảy ra trong một thiểu số trung niên, có tiền, có vai vế trong xã hội, những người nghiện ma túy ngày nay phần lớn là thanh thiếu niên. Xu hướng chung là chúng tự tách mình ra khỏi xã hội của người lớn, tập hợp với nhau tạo ra một nền văn hóa xã hội đối nghịch”. Đó là đặc điểm nổi bật của nạn ma túy cuối thế kỷ 20, cả một thế hệ thanh thiếu niên để tự khẳng định minh, đồng thời phủ định và phủ nhận cả một nền xã hội, văn hóa mà cha anh đã dựng nên. Có thể nhận ra ở đám thanh thiếu niên ấy một hội chứng tâm lý gồm những yếu tố sau:

    • Tình cảm gia đình bị sứt mẻ, gia đình không còn là tổ ấm nữa.
    • Hẫng hụt về tình cảm gia đình, thất thế ở nhà trường, từ 8 – 9 tuổi trở đi, trẻ em đã bắt đầu bỏ nhà đi la cà đường phố – một môi trường hết sức phong phú, đầy rẫy cám dỗ. Để tự khẳng định, để làm ra vẻ “người lớn”, chúng sa vào những kiểu tiêu xài “chơi sang”. Bước đầu thường từ điếu thuốc lá, dù cho điếu thuốc đầu tiên ấy gây ra sự chóng mặt, nôn ọe cũng cố gắng hút cho được để tự khẳng định, để được hòa nhập vào các nhóm bạn bè, sau đó là ma túy chỉ trong gang tấc…
    • Những nhóm bạn bè chung quanh điếu thuốc cốc bia, cờ bạc tạo ra tư tưởng đối nghịch với xã hội văn hóa của người lớn, rồi tập hợp thành băng nhóm, chấp nhận một thủ lĩnh có quyền lực tuyệt đối! Một mình thì nhút nhát rụt rè, nhưng một khi đã nhập băng thì bất chấp pháp luật, luân lý, có thể dẫn đến những tội phạm nặng nhất như cướp của giết người.
    • Một đặc điểm tâm lý chung của thanh thiếu niên là không chịu được sự hẫng hụt, ấm ức, không tự kiềm chế được đòi hỏi giải tỏa ấm ức bằng cách hoặc thông qua một hành vi hung bạo, hoặc nhờ một chất ma túy.

    Bệnh chứng nào cũng vậy, chăm chữa lúc mới chớm nở bao giờ cũng dễ hơn là để lâu năm ăn sâu vào con người. Cải tạo được một thanh niên nghiên ma túy hay phạm pháp đòi hỏi rất nhiều công phu, tiền bạc mà không mấy khi thành công. Ngăn ngừa một em bé 9 – 10 tuổi đừng hút thuốc lá là cách phòng ngừa phạm pháp có lẽ là hay nhất. Ngăn ngừa không có nghĩa là trừng phạt, cấm đoán mà làm sao cho em bé đó hết mặc cảm “thất tình” trong gia đình, không còn “thất thế” ở trường học, không thấy cần phải la cà đường phố mới có dịp tự khẳng định. Câu chuyện quả là không đơn giản.

    Tệ nạn xã hội là gì?

    Tệ nạn xã hội là các hiện tượng phổ biến trong xã hội có giai cấp và cấp độ. Chúng thường được biểu hiện ở những hành vi sai lệch với chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức và pháp luật, gây hậu quả xấu về mọi mặt đối với đời sống xã hội, cản trở tiến bộ xã hội của nền văn hóa lành mạnh. Vậy nên, hãy nói không với các tệ nạn xã hội!

    Mời các bạn tham khảo Dàn ý mẫu: Lập dàn ý cho bài Văn nghị luận “Nói không với tệ nạn xã hội”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 365 Stt Ngắn Tâm Trạng Buồn Hay Nhất Tháng 11 2022
  • Top Stt Hay Về Sự Vấp Ngã Tự Đứng Lên Trong Cuộc Sống
  • Stt Câu Nói Hay Về Sự Thất Vọng Trong Cuộc Sống & Tình Yêu Mà Ai Cũng Đồng Cảm
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Mất Mát, Ra Đi: 50+ Danh Ngôn Hay
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Mệt Mỏi Trong Cuộc Sống Đáng Suy Ngẫm
  • Ca Dao Thời Đại Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Sắc Tục Ngữ, Ca Dao Cao Lan
  • Cuộc Thi “Nét Chữ Từ Trái Tim”: “Em Yêu Tổ Quốc” Là Bài Thơ Được Các Em Thiếu Nhi Viết Nhiều Nhất
  • Americans Missing In Action In Southeast Asia
  • Chọn Lọc Những Câu Cao Dao Việt Nam Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Hoa Và Mùa Xuân Trong Thi Ca Việt
  •  Vũ Bá Hoan   

    Có lẽ từ ngày lập quốc tới nay, chưa có thời đại nào có nhiều ca dao được truyền tụng trong dân gian để chỉ trích những người cầm quyền và chính sách cai trị đất nước, như thời đại Xã Hội Chủ Nghĩa do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Kể từ ngày 30-4-1975 , VC xâm chiếm miền Nam tới nay, Sàigòn và Hà Nội có lẽ là nơi xuất phát nhiều ca dao chỉ trích chế độ VC nhất.

    Người dân sống dưới chế độ độc tài đảng trị bị đàn áp và tước đoạt những quyền căn bản của con người như quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận và tự do đi laị.  Những  bloggers và thanh niên, thiếu nữ bầy tỏ lòng yêu nước qua việc chống Trung Cộng chiếm đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hoặc bầy tỏ bất đồng chính kiến một cách ôn hòa về chính sách đảng trị, cũng đều bị Việt Cộng trấn áp dã man bằng cách kết án tù nhiều năm. Để tránh bạo quyền VC áp đặt cảnh tù tội khi công khai chỉ trích chính quyền, người dân đã dùng thể thức ca dao (một loại văn chương bình dân được lưu truyền trong dân gian mà tác giả những câu ca dao ấy không ai biết rõ tên tuổi) làm phương tiện đấu tranh chống lại bạo quyền Việt-Cộng. Người dân sáng tác những câu ca dao thời đại để chỉ trích và phản đối chính sách độc tài đảng trị của Cộng-Sản VN, đồng thời còn là một hình thức để họ xả nỗi uất ức, bất bình trước bạo quyền.

    • Châm biếm và chỉ trích lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam

    Có thể nói trong lịch sử VN, kể từ ngày dựng nước tới nay, chưa có một lãnh tụ nào bị người dân khinh miệt và thù oán như Hồ Chí Minh. Vào những năm đầu chiếm được miền Nam, người dân bị kiểm soát dưới hình thức hộ khẩu, họ thiếu ăn, thiếu mặc; vì thế họ căm tức chế độ VC, nên đã miệt thị HCM, ví ông ta như bộ phận sinh dục của họ, một hình thức sỉ nhục mà giới bình dân khi khinh ghét ai, thường đem ra  nhục mạ :

    Một năm hai thước vải thô,

    Nếu đem may áo cụ Hồ ló ra.

    May áo thì hở lá đa,

    Chị em thiếu vải hoá ra lõa lồ.

    Vội đem cất ảnh bác Hồ,

    Sợ rằng bác thấy tô hô bác thèm.

    hoặc :

    Ngày xưa tem phiếu vải thô,

    Em mặc không đủ, Bác Hồ lòi ra.

    Bây giờ tơ nét thả ga,

    Bác Hồ cũng bị lòi ra ào ào.

    Người dân oán hận  HCM đến độ trách cứ cả cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh HCM:

    Trách ai sinh thứ họ Hồ,

    Để cho cả nước như đồ vất đi .

    Đảng Cộng Sản VN luôn luôn thần thánh hóa HCM là người vì dân, vì nước, đã hy sinh hạnh phúc cá nhân của mình, suốt đời không biết đến đàn bà. Chúng ta hãy nghe người dân vạch trần mặt nạ đạo đức giả của HCM :

    Bác Hồ đại trí, đaị hiền,

    Chơi Minh Khai chán, gá liền Hồng Phong.

    Minh Khai phận gái chữ tòng,

    Bác Hồ sái nhất, Hồng Phong sái nhì.

    Câu ca dao sau đây có lẽ được sáng tác và lưu truyền tại miền Bắc trong những năm đầu thập niên 1950, ngay sau khi VN bị chia đôi đất nước, cho ta thấy người dân miền Bắc chế diễu HCM như một ông già nhà quê, khi uống rượu vào thì ăn nói khoác lác :

    Việt Nam có một ông già,

    Râu dài, tóc bạc tên là Chí Minh.

    Ông hay uống rượu một mình,

    Khi buồn lại rủ Trường Chinh uống cùng.

    Say sưa ông nói lung tung,

    Việt Nam mình sẽ sánh cùng năm châu.

    Nghe thấy vậy, người dân miền Bắc liền chỉ mặt ông, khẳng định :

    — Này ông, chuyện ấy còn lâu !!!

    Thế rồi bỗng nhiên vào năm 1969 thì :

    Bác Hồ ta thật vẻ vang,

    Đang từ khỏe mạnh, chuyển sang …. từ trần !

    Sau khi HCM chết, xác được ướp và phô bày tại lăng Ba Đình, Hà Nội. Người dân mỗi khi đi qua lăng, lại hậm hực đổ tội lên đầu bác :

    Vũ trường là chốn ăn chơi,

    Chí  Hòa là chỗ nghỉ ngơi giang hồ,

    Lăng kia là của giặc Hồ,

    Cho nên dân Việt cơ đồ nát tan .

    Sau khi kể tội HCM, người đứng đầu đảng Cộng Sản VN, người dân cũng không quên kể tội đồng đảng là những tên chóp bu tội đồ của dân tộc: Phạm Văn Đồng, Lê Duẫn và Trường  Chinh, bằng những lời tố cáo sau đây :

    Tên Đồng, tên Duẫn, tên Chinh,

    Vì ba tên ấy, dân mình lầm than,

    Hoặc :

    Trường Chinh, Lê Duẫn, Văn Đồng,

    Cả ba đồng lòng giết chết con tao.

    Sau cùng là nỗi căm phẫn đến cực độ của người dân, muốn “làm thịt” cả ba tên  :

    Trường Chinh, Lê Duẫn, Văn Đồng,

    Ba thằng cùng béo, vặt lông thằng nào ?

    Vặt lông cả đám cho tao !

    Người đứng đầu quân đội VC là Võ Nguyên Giáp, được HCM phong quân hàm Đại Tướng, khởi đầu chỉ huy 34 vệ quốc quân (sic) khi mới thành lập quân đội nhân dân, cũng bị người dân mỉa mai bằng giọng khinh miệt, chua chát, vì thấy Lê Duẫn hạ nhục Võ Nguyên Giáp mà vì hèn, không dám hé môi :

    Ngày xưa đại tướng anh hùng,

    Ngày nay đại tướng ngập ngừng phân vân.

    Cầm quân, rồi lại cầm quần,

    Đẻ vô kế hoạch, anh Văn mất nhờ.

    Hoặc :

    Ngày xưa đại tướng cầm quân,

    Ngày nay đại tướng canh  l… chị  em.

    Sau khi HCM, Phạm Văn Đồng, Lê Duần, Trường Chinh đã đi theo Lenin, Stalin về  bên kia thế giới, bốn tên VC đàn em lên cầm quyền, đã bị người dân thù ghét, chỉ mặt, gọi tên, và  kêu gọi ai đó hãy ra tay trừ khử chúng để nhân dân VN ăn mừng :

    Đố ai đếm được lá rừng,

    Đố ai giết được Trọng, Hùng, Dũng, Sang.

    Bốn thằng tứ trụ Việt gian,

    Để dân nước Việt hân hoan ăn mừng.

    Người dân Việt tin rằng Nông Đức Mạnh là con rơi của HCM, nên mới có câu ca dao sau đây :

    Thu đi để lại lá vàng,

    Bác đi để lại một thằng họ Nông,

    Thằng này quả thật chơi ngông,

    Bảy mươi lấy vợ má hồng đẹp xinh.

    Đám lãnh đạo VC đàn em Bác cũng học theo gương “đạo đức” của bác khi bác còn sinh thời :

    Ba cô nhập học đầu năm,

    Một cô bị bắt hầu Sầm Đức Xương.

    Mười ba đảng cũng làm luôn,

    Học theo gương bác, chẳng buông em nào.

    Đỗ Mười xuất thân là tên hoạn lợn ( thiến heo), nên người dân VN đã chế nhạo dòng dõi xuất thân của hắn :

    Bất kể hoạn lợn, chăn trâu,

    Hễ cứ vào đảng ở lâu làm trùm .

    Hoặc:

    Giỏi a đồng chí Đỗ Mười,

    Lớp ba chưa đỗ đã ngồi bí thư .

    Trương Tấn Sang là Chủ Tịch nhà nước CSVN, đã qua Mỹ vào tháng 7/2013 để “xin xỏ, cầu may”, nhưng không được chính quyền Mỹ tiếp đón với nghi lễ dành cho một quốc trưởng, đó là một điều sỉ nhục cho CSVN, người dân bèn chế diễu Sang :

    Tư Sang đi Mỹ cầu may,

    Ai dè thành đám ăn mày vô duyên .

    Ăn nhậu là chuyện của tao,

    Việc gì khó nghĩ, tao giao cho màỵ

    Đi Tầu, đi Nhật đi Tây,

    Mở mang tầm mắt, việc này  của tao.

    Lên rừng, xuống biển lao đao,

    Suy đi tính lại tao giao cho mày.

    Thư ký trẻ đẹp chân dài,

    Nếu mày tuyển được thì mày giao tao.

    Ăn ốc là việc của tao,

    Còn chân đổ vỏ tao giao cho mày.

    Phong bì quà cáp hằng ngày,

    Mày đừng động tới thì mày chẳng sao.

    Phê bình lãnh đạo cấp cao,

    Điều gì khó nói tao giao cho mày.

    Lại đây tao bảo điều này:

    Đừng bao giờ nghĩ rằng mày chống tao,

    Chống tao, tao chẳng làm sao,

    Còn mày thì sẽ lao đao cả đời .

    Đói no là chuyện của trời,

    Thanh tra có hỏi trả lời thay tao.

    Trên trời triệu triệu vì sao,

    Cũng không thấu hiểu tình tao với mày.

    Phân công cho rõ thế này,

    Để mày đừng tưởng rằng …mày hơn tao ..

    • Cuộc sống người dân dưới XHCN.

    Sau khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm được Sàigòn, chúng đổi tên một số đường phố .Đường Công Lý được đổi thành Nam Kỳ  Khởi Nghĩa, và đường Tự Do được đổi thành Đồng Khởi. Nhân cơ hội này, người dân Sàigòn đã làm 2 câu sau đây với hàm ý nói về Tự Do và Công Lý sẽ không có trong chế độ cộng sản VN :

    Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu Công Lý,

    Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do .

    Công lý và tự do nay đã không còn, thì tuổi trẻ VN, nhất là con của các quân nhân chế độ Saigòn cũ, không hy vọng gì sẽ có được cuộc sống tốt đẹp ở tuơng lai :

    Dép râu dẫm nát đời son trẻ ,

    Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai .

    Và người dân thương xót cho thân phận mình vì biết cảnh khổ sẽ đến, khi thấy Việt Cộng tràn vào các thành phố miền Nam ngày 30-4-1975 :

    Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội,

    Việt cộng về thành làm tội dân ta .

    Sau khi chiếm được miền Nam, VC đã trả thù quân cán chính VNCH, bằng cách đánh lừa họ, ra thông cáo nói rằng   phải đem theo tiền ăn đi học tập cải tạo trong 30 ngày, nhưng thực sự là  lừa họ , để nhốt họ vào tù mà không cho biết ngày về. Rồi tiếp theo là việc đổi tiền, với mục đích làm dân miền Nam nghèo như dân miền Bắc :

    Năm đồng đổi lấy một xu,

    Thằng khôn đi học, thằng ngu làm thầy.

    Đổi tiền là một hình thức ăn cướp của người dân, vì thế nhiều người trở thành nghèo đói, trắng tay, không đủ cơm ăn áo mặc :

    Từ khi ta có bác Hồ,

    Nhân dân chẳng được ăn no ngày nào.

    Nhiều người vì quá nghèo túng, mang đồ đạc, quần áo trong nhà đem bán ngoài chợ trời để kiếm chút tiền mua ít mắm rau qua ngày :

    Việt Nam dân chủ cộng hòa,

    Đồ đạc bán trước, cửa nhà bán sau.

    Ăn cơm chỉ có mắm, rau,

    Chớ ăn thịt cá mà đau dạ dày.

    Mắm và rau muống là thức ăn chính của người dân, nhưng vì lạm phát, tiền mất giá, khiến người dân không đủ tiền để mua nổi một bó rau muống, họ đã “chất vấn” ba tên chóp bu VC.

    Anh Đồng , anh Duẫn, anh Chinh,

    Ba anh có biết dân tình cho không ?

    Rau muống nửa bó một đồng,

    Con ăn bố nhịn, đau lòng thằng dân.

    Và :

    Lương chồng, lương vợ, lương con,

    Đi ba buổi chợ chỉ còn lương tâm,

    Lương tâm đem chặt ra hầm,

    Với rau muống luộc khen thầm là ngon.

    Việt Cộng chỉ chuyên giỏi việc chém giết, luôn luôn chủ trương hồng hơn chuyên.  Những chức vụ lãnh đạo đều do những đảng viên không có khả năng chuyên môn nắm giữ,và do đó nền kinh tế trở nên kiệt quệ. Mặc dầu VC đã thống nhất được đất nước và chiến tranh đã chấm dứt, nhưng người dân vẫn không đủ gạo ăn hằng ngày, họ phải ăn bằng bo bo , cho nên họ đã mỉa mai chế độ :

    Hoan hô độc lập tự do,

    Để cho tớ nhá bo bo sái hàm.

    Hoặc :

    Nước nhà mãi mãi khó khăn,

    Dân mình mãi mãi phải ăn củ mì .

    Trong khi đó thì :

    Đảng béo mà dân thì gầy,

    Độn bắp, độn sắn biết ngày nào thôi ?

    Hoặc :

    Nhà nước gồm một bầy sâu,

    Như giòi lúc nhúc ngoảnh râu nó bò.

    Nó ăn nó nhậu thật no,

    Hỏi sao dân đói ? Mặc cho chúng mày.

    Đang thiếu ăn, thiếu mặc, thấy việc VC gửi người sang Nga để lên vũ trụ, một việc  làm không cần thiết trong lúc cả nước đang đói khổ, vì thế có người bực tức hạch hỏi :

    Nhân dân thiếu gạo thiếu mì,

    Mày vào vũ trụ làm gì hở Tuân ?

    Nhưng lại có người thực tế, coi việc lên vũ trụ dửng dưng, không quan trọng bằng việc ghi tên để lo cho cái dạ dày của mình :

    Ai lên vũ trụ thì lên,

    Còn tôi ở lại ghi tên mua mì.

    Viêt Cộng đặt ra chế độ tem phiếu để kiểm soát hộ khẩu người dân, từ cây đinh, điếu thuốc, đều phải ghi danh, xếp hàng mới mua  được :

    Ở với Hồ Chí Minh,

    Cây đinh phải đăng ký,

    Trái bí cũng xếp hàng,

    Khoai lang cần tem phiếu,

    Thuốc điếu phải mua bông,

    Lấy chồng nên cai đẻ,

    Bán lẻ chạy công an,

    Lang thang đi cải tạo,

    Hết gạo ăn bo bo,

    Học trò không có tập,

    Độc Lập với Tự Do,

    nằm co mà  Hạnh Phúc!

    Người  dân sống dưới chế độ VC thiếu đủ thứ, không những vật chất mà cả về quyền tự do căn bản tối thiểu, như quyền tự do đi lại của con người. Đảng Cộng Sản VN đã biến cả nước thành một nhà tù khổng lồ, kiểm soát việc đi lại của người dân. Ai muốn đi từ địa phương này qua địa phương khác, phải có giấy phép của chính quyền nơi cư ngụ :

    Mang danh Dân chủ Cộng Hòa,

    Đi ra khỏi tỉnh phải qua cửa quyền.

    Xuất trình giấy phép liên miên,

    Chứng từ thị thực ở miền nào qua.

    Sống trong tình trạng bị hạn chế tự do đi lại, người dân cảm thấy gò bó, bực bội, nên họ đã làm bài ca dao sau đây để so sánh việc đi lại ở VN với việc đi lại tự do ở một số quốc gia khác trên thế  giới :

    Trăm năm trong cõi người ta,

    Ở đâu cũng được đi ra đi vào.

    Xa xôi như xứ Bồ Đào,

    Người ta cũng được đi vào đi ra.

    Đen đủi như Ăng Gô La,

    Người ta cũng được đi ra đi vào.

    Chậm tiến như ở nước Lào,

    Người ta cũng được đi vào đi ra.

    Chỉ riêng có ở nước ta,

    Người ta không được đi ra đi vào.

    • Tham nhũng.

    Hiện nay tệ trạng tham nhũng trong các cấp lãnh đạo cộng sản VN lan tràn từ cấp cao nhất xuống tới cấp thấp nhất: lớn ăn theo lớn, nhỏ ăn theo nhỏ. Nhiều đảng viên trở thành những nhà tư bản đỏ, sống trong các biệt thự xa hoa lộng lẫy, tài sản lên tới hàng trăm triệu đô la, ăn chơi vung tiền như nước :

    Nhà ai giầu bằng nhà cán bộ ?

    Hộ nào sang bằng hộ đảng viên ?

    Dân tình thất đảo bát điên,

    Đảng viên mặc sức vung tiền vui chơi .

    Rồi người dân thắc mắc, đặt câu hỏi, nhưng hỏi để mà hỏi, họ đã biết câu trả lời :

    Non kia ai đắp mà cao

    Lương cộng sản ít cớ sao nó giàu ?

    Đảng Cộng sản VN mỵ dân với chiêu bài “nhân dân làm chủ, đảng là đầy tớ”. Nhưng những tên đầy tớ lại sống xa hoa trong nhà cao cửa rộng, trong khi ông chủ phải sống cảnh nghèo nàn, không đủ cơm ăn áo mặc hằng ngày, phải sống trong những căn nhà ổ chuột. Vì thế “ông chủ” mới mỉa mai  gọi  hỏi những tên đầy tớ của mình :

    Ai về qua tỉnh Nam Hà,

    Xem lũ đầy tớ xây nhà bê tông.

    Tớ ơi, mày có biết không ?

    Chúng ông làm chủ mà không bằng mày !

    Hiện nay tại VN, mỗi khi người dân đến các cơ quan VC để xin giấy tờ hoặc làm các thủ tục hành chánh, hoặc bất cứ một việc gì cần phải có sự chấp thuận của chính quyền, họ phải biết thủ tục “đầu tiên” là phải có “ phong bì “ nộp kèm với đơn xin. Do dó dân gian mới có ca dao rằng :

    Phong lan, phong chức, phong bì,

    Trong ba thứ ấy, thứ gì quí hơn?

    Phong lan ngắm mãi cũng buồn,

    Phong chức thì phải cúi luồn vào ra,

    Chỉ còn cái phong thứ ba,

    Mở ra thơm phức cả nhà cùng vui.

    Người dân Việt đã chơi chữ đồng âm “Thanh Tra” với “Thanh Cha” trong câu ca dao duới đây, xen lẫn cả tiếng Anh đầy nghệ thuật dí dỏm, để mô tả tệ trạng tham nhũng của những tên VC giữ chức vụ thanh tra.

    Thanh “cha” thanh mẹ, thanh gì ?

    Hễ có phong bì thì nó “thanh kiu” (thank you).

    hoặc :

    Đảng ta là đảng thần tiên,

    Đa lô thì được, đa nguyên thì đừng.

    Xin đọc lái : “thần tiên” là “thân tiền” và “đa lô” thành “đô la”, chúng ta thấy câu ca dao thật độc đáo, sâu sắc : nói lên lòng tham lam của những tên VC trong đảng CS VN.

    Đảng Cộng Sản VN nói một đàng, làm một nẻo. Miệng hô chống tham nhũng, nhưng khi người trẻ chống Tầu và tố cáo tham nhũng, thì bị bắt bỏ tù:

    Tham nhũng kìm hãm ngày mai,

    Phương Uyên chống để tuơng lai nước giầu.

    Tham nhũng gồm cả đảng tao,

    Đứa nào muốn chống thì mau vô tù.

    • Xã hội xuống cấp và tệ trạng xã hội.

    Những tên VC ngồi trong  Bắc Phủ Bộ tại Hà Nội hiện nay, đa số là những kẻ ít học, theo VC vào rừng từ năm 12 hoặc 15 tuổi. Nguyễn Tấn Dũng là trường hợp điển hình: Dũng sinh năm 1949, theo VC vào rừng từ năm 12 tuổi, làm liên lạc viên và trợ y- tá, rồi được kết nạp vào đảng Cộng Sản năm 1967, khi ấy mới 18 tuổi, (theo Wikipedia ), như vậy Dũng chỉ mới học hết bậc tiểu học. Vì trình độ học vấn của những lãnh đạo VC thấp kém, nên việc quản trị đất nước không hữu hiệu, khiến nền kinh tế không phát triển được, và nhân dân trở nên nghèo đói, nhất là ở nông thôn, các thôn nữ không có việc làm, bỏ làng xóm ra tỉnh mong kiếm được việc làm để giúp đỡ gia đình trong lúc đói khổ. Nhiều cô vì ngây thơ và khờ khạo nên bị kẻ bất lương dụ dỗ vào ổ mãi dâm hoặc đem bán làm cô dâu cho các thanh niên nước ngoài.

    Chiều chiều ra bến Ninh Kiều (Cần Thơ)

    Dưới chân tượng Bác, đĩ nhiều hơn dân.

                       &

    Tiếc thay cây quế còn soan,

    Để cho đám mọi Đài Loan nó trèo .

                       &

    Tìm em như thể tìm chim,

    Chim bay biển Bắc, anh tìm biển Đông .

    Tìm chi cho phải mất công,

    Đài Loan, Hàn Quốc em dông mất rồi .

    Theo truyền thống văn hóa VN, nghề dạy học được kính trọng. Các cụ ngày xưa có câu ”Mùng một tết cha, mùng hai tết chú, mùng ba tết thầy”. Vì thế, trong chế độ VN Cộng Hoà cũ, các giáo chức được kính trọng và được trả lương đủ sống, họ không phải làm thêm công việc khác, mà dành hết thì giờ chú tâm vào việc dậy học để đào tạo mầm non cho đất nước. Ngược lại, VC hất hủi giáo chức và coi thường việc dậy học. Giáo chức trong chế độ VC được trả lương không đủ sống, khiến họ phải đi làm thêm.  Do đó nhiều cảnh  dở khóc, dở cười, đã xẩy ra trong xã hội cộng sản VN:

    Thầy giáo lương lãnh ba đồng,

    Làm sao sống nổi mà không đi thồ ,

    Nhiều thầy phải đạp xích lô ,

    Làm sao xây dựng tiền đồ học sinh ?

    Và nhục nhã thê thảm cho cô giáo khi :

    Cô giáo phải bán bia ôm,

    Ôm phải học trò, ăn nói sao đây ?

    • Người Việt bỏ nước ra đi .

    Đa số người VN theo đạo Khổng, kể cả những người Công Giáo (điều răn thứ 4 của Chúa: thảo kính cha mẹ ) nên họ coi việc ngày giỗ ông bà, tổ tiên và trông coi mồ mả những người trong gia tộc đã khuất bóng là việc rất quan trọng. Ngày xưa  các cụ có câu : “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại (bất hiếu có ba điều; điều không có con trai để nối dõi tông đường, cúng giỗ tổ tiên ông bà là điều bất hiếu lớn nhất ). Sống mạnh với tư tưởng Khổng gíáo như vậy, người dân VN vô cùng  quyến luyến quê cha đất tổ-làng mạc với lũy tre xanh – Họ rất ít khi bỏ nơi chôn nhau cắt rốn đi phương xa sinh sống- mà người ta gọi là tha phương cầu thực. Trong lịch sử di dân cận đại, VN có hai cuộc di dân lớn nhất—hai cuộc di dân này đều là cuộc chạy trốn Công Sản — cuộc di dân thứ nhất vào năm 1954, hơn 1 triệu người miền Bắc đã phải gạt nước mắt từ bỏ quê cha đất tổ để vào Nam lánh nạn CS,– cuộc di dân thứ hai bắt đầu từ 30/ 4/1975 hàng triệu người, trong đó có cả một số người miền Bắc, đã buộc lòng phải bỏ nước ra đi để tỵ nạn Cộng Sản ở các quốc gia tự do trên thế giới. Trên đường chạy trốn CS, nhiều cảnh tang thương  diễn ra: chồng lìa vợ, con xa  mẹ xa cha, kể sao cho xiết những đau đớn của sinh ly, tử biệt trên đường vượt biên: cướp biển, chết đói, chết chìm ngoài khơi v..v. Người dân đã làm câu ca dao để qui trách tất cả tội lỗi do HCM gây ra :

    Bác Hồ chết phải giờ trùng ,

    Nên bầy con cháu giở khùng giở điên .

    Thằng tỉnh thì đã vượt biên,

    Những đứa ở lại chẳng điên cũng khùng.

    Thưở xa xưa, trong kho tàng ca dao VN, chúng ta có câu ca dao nói về tình tự gia đình nơi thôn quê :

    Có con mà gả chồng gần,

    Có bát canh cần nó cũng mang qua.

    Có con  mà gả chồng xa,

    Một là mất giỗ, hai là mất con.

    Có con mà gả chồng gần ,

    Nửa đêm xe đạp mang phần cho cha.

    Có con mà  gả chồng xa ,

    Tháng tháng nó gửi đô la kìn kìn.

    Bản chất người Cộng Sản là dối trá, lươn lẹo và tráo trở. Những người chạy trốn VC, bỏ nước ra đi bị VC nhục mạ là đĩ điếm, phản quốc, việt  gian, tay sai cho Mỹ v..v.. Dân vượt biên bị bắt được là bị tống vào nhà tù hoặc bị đầy vào trại cải tạo. Thậm chí có người còn  bị công an xử bắn ngay tại nơi bị bắt. Sau này, bắt chước Liên Xô, VC đề ra chính sách đổi mớị, đã trơ trẽn thay hẳn thái độ với những người đã bỏ nước ra đi, khi người Việt ở ngoại quốc gửi đô la về cứu đói thân nhân với số tiền lên tới hàng tỉ đô la mỗi năm, thi` VC ” hồ hỡi ” chiêu dụ người Việt ở nước ngoài về thăm quê hương, kêu gọi bỏ vốn đầu tư tại Việt Nam. Đảng Cộng Sản VN còn “thân thương” gọi đồng bào hải ngoại là “khúc ruột ngàn dặm của tổ quốc”. Những câu ca dao sau đây nói về sự tráo trở và lật lọng của đảng Cộng Sản VN:

    Ngày đi, đảng gọi “Việt gian”

    Ngày về thì đảng chuyển sang “Việt kiều”

    Chưa đi : phản động trăm chiều

    Đi rồi : thành khúc ruột yêu ngàn trùng .

                            &

    Việt Minh, Việt Cộng, Việt Kiều,

    Trong ba Việt ấy, Đảng yêu Việt nào ?

    Việt Minh thì tuổi đãcao !

    Việt Công ốm yếu, xanh xao gầy còm !

    Việt Kiều thì vẫn còn son,

    Đảng yêu, đảng quý như con trong nhà !

    Chỉ cần một ít đô la,

    Việt gian phản quốc hóa ra Việt kiều !

    • Đảng Cộng Sản VN bán nước

    Hiện nay trong nước có nhiều chỉ dấu cho thấy đảng Cộng sản VN đã dâng một dải đất rộng lớn bao gồm ải Nam Quan và thác Bản Giốc tại biên giới, giáp ranh với Tầu, cùng hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho đàn anhTầu Cộng, để đổi lấy sự yểm trợ về mặt chính trị; đó là việc bảo đảm những chiếc ghế lãnh đạo tại Bắc Phủ Bộ. (Theo thiển ý người viết, đảng cộng sản VN phải chiều theo những đòi hỏi của Tầu Cộng để trong trường hợp nhân dân VN nổi dậy chống lại đảng cộng sản VN, thì Tầu Cộng sẽ đưa quân đội sang đàn áp cuộc nổi dậy ngay lập tức, giống như CS Tầu đã dùng quân đội dập tắt cuộc nổi dậy của sinh viên Tầu tại Thiên An Môn vào năm 1989). Thủ tướng Việt Cộng Phạm Văn Đồng đã ký công hàm dâng hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho Tầu vào năm 1958, câu ca dao sâu đây nói lên sự kiện lịch sử này :

    Việt nam dân chủ cộng hòa

    Cúi đầu dâng đảo Trường Sa cho Tầu .

    Hoặc:

    Phú Trọng diện kiến thiên triều

    Nó bắt Trọng ký bán tiêu nước nhà .

    Vì bị mất một phần đất nước vào tay kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, người dân VN quá phẫn uất, đã phải thốt lên lời nguyền rủa đảng cộng sản VN :

    Tiên sư cộng sản Việt nam

    Cuối đời bán cả giang san nước nhà !

    Quốc hội Việt cộng là tay sai của đảng Công Sản VN — đảng cử dân bầu :

    Đảng cử là dân không cử, cứ bầu

    Đảng vì dân là đảng cướp của dân

    Đảng yêu dân là dân mất mạng

    Đảng yêu nước, đảng bán nước cho Tầu .

    Và:

    Dân ơi ta bảo dân này

    Dân ra ngoàì ruộng, dân cày mình dân

    Cấy cầy bổn phận con dân

    Quốc hội bận họp bán dần nước non.

    • Nhân dân VN kêu gọi bộ đội yêu nước đứng lên lật đổ đảng Cộng sản VN :

    Trước thảm họa mất nước và nỗi thống khổ của 80 triệu con dân nước Việt sống dưới ách độc tài đảng trị Cộng Sản VN, người dân đã kêu gọi bộ đội và thương binh vì lòng yêu nước, hãy đứng lên lật đổ đảng Cộng Sản VN:

    “Hỡi anh bộ đội, thương binh

    Chắc anh đã thấy dân mình ra sao

    Công lao xương máu năm nào

    Bây gìờ lãnh đạo mang trao cho Tầu

    Nam Quan Bản Giốc còn đâu

    Hoàng Sa biển rộng cúi đầu cống dâng

    Đời anh sống chết bao lần

    Vì lòng yêu nước góp phần dựng xây

    Bây gìờ chính đảng một bầy

    Cướp đêm rồi lại cướp ngày không tha

    Trong tay còn khẩu AK

    Mong anh diệt lũ gian tà lưu manh”

    Sau cùng, người dân đã nhắc nhở các anh bộ đội yêu nước, đồng thời cũng nhắc nhở với chính mình, đừng quên rằng :

    Còn trời còn nước còn non

    Còn thằng cộng sản là còn nát tan

    Và:

    Mấy đời bánh đúc có xương

    Mấy đời cộng sản nó thương dân mình ?

    Đảng CSVN, đứng đầu là HCM, lợi dụng lòng yêu nước của người VN, đã tuyên truyền xảo trá, lừa bịp người dân miền Bắc, phát động cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam Việt Nam, theo chỉ thị của cộng sản Nga -Tầu, từ cuối năm 1960 cho đến ngày 30-4-1975 (sau khi chiếm được miền Nam, Lê Duẫn đã nói:“Chúng ta đánh miền Nam là đánh cho Nga-Tầu” )  Cuộc chiến này đã đưa đến thảm cảnh nồi da xáo thịt giữa anh em hai miền Nam – Bắc,và đã khiến cho đất nước phải chìm đắm ngút ngàn trong bom đạn khói lửa chiến tranh suốt hơn 20 năm , gây ra không biết bao nhiêu cảnh tàn phá tang thương , mà hệ lụy của cuộc chiến tàn khốc này vẫn còn kéo dài cho tới tận ngày nay (chất da cam và thương phế binh là điển hình ). Người ta ước tính số thiệt hại về nhân mạng trong cuộc chiến giữa hai miền Nam – Bắc lên tới khoảng trên 2 triệu, trong đó, không biết bao nhiêu thanh niên ưu tú, nhân tài của đất nước đã phải chết vô tội chỉ vì sự mù quáng và cuồng tín của một cá nhân thèm khát làm lãnh tụ, muốn đem chủ thuyết không tưởng cộng sản áp đặt lên dân tộc VN. Thiệt hại vật chất có thể tái tạo được, nhưng thiệt hại về nhân mạng không thể tái tạo được, đó là một mất mát to lớn cho đất nước. Khi cuộc chiến chấm dứt, VN như một căn nhà hoang phế, tang thương, đổ nát, và dân tộc VN bị thua thiệt, lac hậu so với những nước láng giềng. Ngày nay, trên thực tế, đảng cộng sản VN  trở lại chế độ tư bản mà lúc đầu họ đã cuồng tín cổ võ tiêu diệt. Người dân thường gọi cán bộ CS là những nhà tư bản đỏ, chúng tham nhũng, ăn cắp tiền công quỹ quốc gia, nhiều đảng viên cộng sản có tài sản lên tới hàng trăm triệu mỹ kim, sống xa hoa trên đầu trên cổ người dân đói rách.

    Đảng Cộng Sản VN đã áp dụng nhiều chính sách tàn bạo suốt trong quá trình cai trị đất nước từ 1945 cho tới nay, ( cải cách ruộng đất, đấu tố, trả thù quân cán chính VNCH  v..v.. ) đã gây nên nhiều tội ác chồng chất. Sau khi chiếm được miền Nam vào ngày 30-4-1975, đảng CSVN đã bỏ lỡ một cơ hội bằng vàng mà có lẽ trong lịch sử VN sẽ không bao giờ có lần thứ hai, đó là việc hòa hợp hòa giải dân tộc. Lẽ ra CSVN phải giữ lời hứa là thả hết các quân nhân, công chức của chính quyền cũ sau khi đã học tập một số ngày như đã ấn định trong thông cáo kêu gọi đi trình diện. Nhưng với bản chất dối trá và lừa lọc, đảng CSVN không bao giờ làm những điều đã hứa hoặc đã ký kết với đối phương. Thay vì thả, đảng cộng sản VN đã quỷ quyệt “chơi chữ” (mang theo tiền ăn trong 30 ngày), để lừa hằng trăm ngàn quân cán chinh VNCH vào nhà tù, được cộng sản mỹ từ hóa là trại học tập cải tạo. Cộng Sản đưa họ đến những nơi rừng thiêng nước độc, sương lam chướng khí, bắt làm lao động khổ sai, đau ốm không thuốc men, với mục đích thâm độc là để cho những tù cải tạo phải chết dần chết mòn , mà CSVN không phải mang tiếng với thế giới là kẻ dã man giết người tập thể .

    Nhân dân hai miền Bắc và Nam đã quá mệt mỏi và chán ghét chiến tranh, mặc dù miền Nam phải chiến đấu tự vệ trước sự xâm lăng của cộng sản Bắc Việt được khối cộng sản quốc tế đắc lực yểm trợ, cũng đều khao khát mong mỏi hòa bình đến với quê hương., để mọi người được sống trong cảnh thanh bình, lo làm ăn để tái thiết đất nước sau 2 cuộc chiến kéo dài trên 20 năm (cuộc chiến chống Pháp từ 1946-1954 và cuộc chiến Quốc-Cộng từ 12/1960 – 4/1975), mà dân tộc nhỏ bé Việt Nam đã là nạn nhân của thực dân Pháp và của việc tranh giành ảnh hưởng ý thức hệ giữa các cường quốc tư bản và cộng sản .

    Cộng sản VN đã có cơ may thắng được cuộc chiến -chứ không hề thắng được trận chiến- do “chó ngáp phải ruồi”, đã thống nhất được đất nước hơn 38 năm qua. Nhưng họ đã không “thống nhất” được lòng  người Việt, vì đảng CS VN đã áp đặt sự thống trị với đường lối độc tài đảng trị, đi ngược lại nguyện vọng của toàn dân VN . Bao lâu đảng CS VN còn tồn tại, thì bấy lâu nhân dân VN vẫn kiên trì chiến đấu chống lại, không phải bằng súng đạn như trước đây được người bạn đồng minh Hoa Kỳ còn “mặn nồng” sống chết bên nhau giúp đỡ, mà bằng hành động (biểu tình, đả đảo v..v..) và văn chương, chữ nghĩa, dưới hình thức những “viên đạn ca dao”, để bắn vào bộ chính trị đảng CS VN cho tới khi chúng tan rã.

    Người viết tin rằng nếu CSVN thực hiện chính sách hòa hợp hòa giải dân tộc vào sau ngày 30-4 1975, thì sẽ không phát sinh ra cảnh vượt biên, sẽ không có quân cán chính VNCH phải chết tức tưởi trong các trại tù học tập cải tạo, sẽ không có câu nói bất hủ “nếu cột đèn biết đi, nó cũng vượt biên”. Tiếc thay, đảng cộng sản VN đã không thi  hành việc hòa hợp hòa giải vào thời điểm nói trên. Sau khi đã hành hạ dã man và đối xử với những người thuộc chính quyền VNCH trong các trại cải tạo không bằng con vật, ngày  nay đảng cộng sản VN mới kêu gọi hòa hợp, hòa giải dân tộc, thì lời kêu gọi bịp bợm nầy đã quá muộn và không tin cậy được .

    Cuối cùng, ngườì viết mong ước những vị thiết tha với văn hóa dân tộc, sẽ thâu thập đầy đủ các câu ca dao, bài vè, đã lưu truyền trong dân chúng suốt thời gian Việt Nam bị áp đặt dưới ách độc tài đảng trị cộng sản, để xuất bản thành sách tại hải ngoại. Những câu ca dao trong sách ấy sẽ là chứng tích hùng hồn ghi dấu một quãng thời gian đen tối nhất trong trang sử VN .

    Mong lắm thay

    Vũ Bá Hoan

    Hits: 3156

    --- Bài cũ hơn ---

  • Duyên Dáng Nón Lá Việt Nam
  • Chiếc Nón Lá Trong Đời Sống Văn Hóa Của Người Việt
  • Cảm Thức Của Một Nhà Thơ Về Sự Hi Sinh Cho Tổ Quốc
  • Đề Tài Một Vài Kinh Nghiệm Lồng Ghép Ca Dao, Tục Ngữ Tạo Hứng Thú Học Tập Cho Học Sinh Ở Môn Địa Lí Thcs
  • Đức Tính Giản Dị Của Bác Qua Một Số Bài Thơ
  • Sưu Tầm Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội Lớp 7 Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Chúc Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Gia Đình Hạnh Phúc Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Nói Xấu Người Khác! Dành Cho Những Kẻ Chuyên Đâm Chọt Sau Lưng Bạn!
  • 105+ Stt Mệt Mỏi, Status Cảm Thấy Mệt Mỏi Với Cuộc Sống Hiện Tại
  • Những Câu Danh Ngôn Nổi Tiếng Về Bia Rượu
  • Sưu tầm những câu ca dao, tục ngữ về con người và xã hội lớp 7 hay nhất? Ca dao, tục ngữ về con người? Ca dao, tục ngữ về xã hội? Ca dao, tục ngữ lớp 7?

    Những câu ca dao, tục ngữ về con người và xã hội lớp 7

    Ca dao, tục ngữ là những lời vàng ý ngọc, kết tinh của trí tuệ dân gian qua bao đời nay.Không chỉ là những kinh nghiệm về thiên nhiên hay lao động sản xuất, mà ca dao tục ngữ còn là những kinh nghiệm xã hội, con người quý báu mà ông cha ta đã để lại. Những lời nhận xét, khuyên nhủ ngắn ngọn nhưng chứa đựng trong đó rất nhiều bài học thiết thực và bổ ích cho chúng ta về cách ứng xử trong cuộc sống. Sau đây vforum sẽ gửi đến các bạn Những câuca dao, tục ngữ về con người và xã hội lớp 7 hay nhất

    Những câu ca dao, tục ngữ về con người và xã hội lớp 7 hay nhất

    CON NGƯỜI

    1.Một mặt người bằng mười mặt của

    Một mặt người là cách nói hoán dụ dung bộ phận để chỉ toàn thể, có nghĩa tương đương như một người. Của là của cải vật chất. Mười mặt của ý nói đến số của cải rất nhiều. Nghĩa của câu tục ngữ là con người quý hơn tiền bạc, và đề cao giá trị của con người

    2. Cái răng, cái tóc là góc con người

    Ý nghĩa của câu tục ngữ là Răng và tóc là các phần thể hiện hình thức, tính nết con người, khuyên mọi người hãy giữ gìn hình thức bên ngoài cho ngọn gang, sạch sẽ vì hình thức bên ngoài thể hiện phần nào tính cách bên trong.

    3. Đói cho sạch, rách cho thơm

    Nghĩa của câu tục ngữ là dù khó khăn về vật chất, vẫn phải trong sạch, không làm điều xấu, dù nghèo khó vẫn phải biết giữ gìn nhân cách tốt đẹp. Khuyên răng chúng ta trong đạo làm người, điều cần giữ gìn nhất là phẩm giá trong sạch, không vì nghèo khổ mà bán rẻ lương tâm, đạo đức.

    4. Học ăn, học nói, học gói, học mở

    Ý nghĩa của câu tục ngữ là cần phải học cách ăn, nói đúng chuẩn mực, cần phải học các hành vi ứng xử văn hoá. Khuyên mỗi người chúng ta cần phải khéo léo, đúng mực trong nói năng giao tiếp với cha mẹ, thầy cô, bề trên, bạn bè, …

    5. Không thầy đố mày làm nên

    Ý nghĩa của câu tục ngữ này là muốn làm được việc gì cũng cần có người hướng dẫn và nó còn có ý nghĩa là đề cao vị thế của người thầy. Câu tục ngữ này khẳng định công ơn to lớn của người thầy, vì vậy chúng ta phải biết tìm thầy mà học và mãi mãi yêu quý, kính trọng, biết ơn thầy.

    6. Học thầy không tày học bạn

    Câu tục ngữ này nói về tầm quan trọng của việc học bạn. Câu tục ngữ trên nhấn mạnh vai trò của người thầy, kèm theo đó là tâm quan trọng của việc học bạn.

    7. Thương người như thể thương thân

    Câu tục ngữ khuyên con người biết yêu người khác như chính bản thân mình, đề cao cách ứng xử nhân văn, nhắc nhở chúng ta cần phải biết giúp đỡ mọi người trong cuộc sống hàng ngày khi có thể, và nhất là những người gặp khó khăn, hoạn nạn

    8. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    Đây là một câu tục ngữ đã quá đổi quen thuộc. Ý nghĩa của nó là khi bạn được hưởng thành quả, phải nhớ ơn người tạo ra thành quả đó, phải biết ơn với người có công lao giúp đỡ, gây dựng, tạo nên thành quả.

    9.

    Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    Câu tục ngữ có ý nghĩa là việc lớn, việc khó không thể do một người làm được, mà phải cần nhiều người hợp sức, một lần nữa khẳng định sức mạnh của tình đoàn kết. Qua đó nhắc nhở chúng ta về tinh thần tập thể trong lối sống và làm việc tránh lối sống cá nhân.

    10.

    Cá không ăn muối cá ươn,

    Con không nghe cha mẹ trăm đường con hư.

    11. Ăn cỗ đi trước,lội nước đi sau.

    12. Người sống đống vàng.

    13. Người là vàng của là ngãi.

    14. Của đi thay người.

    15. Người làm ra của chứ của không làm ra người.

    16. Lấy của che thân chứ không lấy thân che của.

    17.

    Một yêu tóc bỏ đuôi gà

    Hai yêu răng trắng như ngà dễ thương.

    18. Người năm bảy đấng, của ba bảy loài.

    19. Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật.

    20. Chết giả mới biết bụng dạ anh em.

    21. Khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giàu có ba mươi tết mới hay.

    22. Chữ tốt xem tay, người hay xem khoáy.

    23. Người khôn dồn ra mặt.

    24. Trông mặt mà bắt hình dung.

    25. Mỏng môi hay hớt, trớt môi nói thừa,

    26. Con mắt là mặt đồng cân.

    27. Bụng bí rợ ăn như bào, làm như khỉ.

    28. Lòng người như bể khôn dò.

    29. Miệng hỏa lò ăn hết cơ nghiệp.

    30.To mắt hay nói ngang.

    31. Con mắt lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

    32. Người năm bảy đấng, của ba bảy loài.

    33. Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật.

    34. Chết giả mới biết bụng dạ anh em.

    35. Khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giàu có ba mươi tết mới hay.

    36. Chữ tốt xem tay, người hay xem khoáy.

    37. Người khôn dồn ra mặt.

    38 Trông mặt mà bắt hình dung.

    39. Mỏng môi hay hớt, trớt môi nói thừa,

    40. Con mắt là mặt đồng cân.

    41. Bụng bí rợ ăn như bào, làm như khỉ.

    42. Lòng người như bể khôn dò.

    43. Miệng hỏa lò ăn hết cơ nghiệp.

    44. To mắt hay nói ngang.

    45. Con mắt lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

    XÃ HỘI

    1. Nước đổ lá khoai.

    2. Đèn soi ngọn cỏ.

    3. Chó cắn áo rách.

    4. Giơ cao, đánh sẽ.

    5. Giầu điếc, sang đui.

    6. No nên bụi, đói nên ma.

    7.

    Người giầu tham việc

    Thất nghiệp tham ăn.

    8. Tay làm hàm nhai

    9.

    Của người bồ tát

    Của mình lạt buộc

    10. Xa mỏi chân, gần mỏi miệng.

    11. Cáo chết ba năm còn quay đầu về núi.

    12. Bần cùng sinh đạo tặc.

    13. Thượng bất chính, hạ tắc loạn.

    14. Phép vua thua lệ làng.

    15. Đất có lề, quê có thói.

    16. Lá lành đùm lá rách.

    17. Uống nước nhớ nguồn.

    18. Trời sinh voi, trời sinh cỏ.

    19. Ai giàu ba họ, ai khó ba đời.

    20. Khôn ở trại, dại ở nhà

    21. Lạc đàng nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu

    22. Lảm khi lành, để dành khi đau

    23. Lửa thử vàng, gian nan thử sức

    24. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén

    25. Chữ trinh đáng giá ngàn vàng

    26. Đánh bạc quen tay, ngủ ngày quen mắt, ăn vặt quen mồm

    27. Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

    28. Vàng thiệt đâu sợ lửa

    29. Thấy sang bắt quàng làm họ

    30. Nhập gia tùy tục

    Trên đây là bài viết về Sưu tầm những câu ca dao, tục ngữ về con người và xã hội lớp 7 hay nhất? Mong rằng bài viết này sẽ giúp ích các bạn biết thêm nhiều câu ca dao, tục ngữ hay trong kho tàng văn học Việt Nam nhé.

    --- Bài cũ hơn ---

  • [Tổng Hợp] Những Câu Nói Hay Của Khổng Tử Có Giá Trị Muôn Đời
  • Những Câu Nói Hay Trong Reply 1997(Lời Hồi Đáp 1997)
  • Stt Anh Yêu Em Vô Cùng Lãng Mạn Và Ngọt Ngào
  • 19 Lời Chúc Kỷ Niệm Ngày Cưới Hay Ý Nghĩa Nhất Cho Bạn Bè Người Thân
  • Status Dành Cho Những Ai Đi Xa Với Nỗi Nhớ Nhà Khôn Nguôi
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100