Thành Ngữ Tục Ngữ Lớp 5 ❤️️ Ca Dao Tục Ngữ Hay Nhất

--- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Thơ, Danhh Ngôn, Tục Ngữ Hài Hước Vô Đối
  • Tổng Hợp Những Câu Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa
  • Tổng Hợp Những Câu Tục Ngữ Hay Trong Cuộc Sống
  • Nhói Lòng 40 Câu Thành Ngữ Hay Về Cuộc Sống Hiện Đại
  • Một Số Thành Ngữ Việt Nam Tương Đương Thành Ngữ Trung
  • Ca Dao Tục Ngữ Lớp 5

    • Sai một ly, đi một dặm
    • Sanh nghề tử nghiệp
    • Sông có khúc, người có lúc
    • Sông cạn, đá mòn
    • Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn
    • Tam sao thất bản
    • Tham thì thâm
    • Thân em như giếng giữa đường Người khôn rửa mặt, người thường rửa chân
    • Thân em như hạt mưa sa Hạt rơi xuống giếng, hạt sa cánh đồng
    • Thương cho roi, cho vọt Ghét cho ngọt, cho bùi
    • Thương nhau mấy núi cũng trèo Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua
    • Thương nhau, thương cả tông chi Ghét nhau, ghét cả đường đi lối về
    • Tiên học lễ, hậu học văn
    • Tiếng chào cao hơn cỗ
    • Muốn sang thì bắc cầu kiều. Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.
    • Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
    • Núi cao bởi có đất bồi. Núi chê đất thấp núi ngồi ở đâu.
    • Nực cười châu chấu đá xe. Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng.
    • Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng.
    • Cá không ăn muối cá ươn. Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư.

    🌻 Ngoài Thành Ngữ Tục Ngữ Lớp 5 🌻 Chía sẻ Tục Ngữ Về Thầy Cô, mái trường

    Thành Ngữ, Tục Ngữ Tiểu Học giúp các em có thêm kiến thức về văn học Việt Nam

    Thành ngữ, tục ngữ là những cách nói, những hình ảnh quen thuộc, là sự đúc kết kinh nghiệm của bao nhiêu thế hệ, thể hiện truyền thống đạo lí và tri thức của nhân dân lao động về mọi mặt cuộc sống.

    • Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết: Đề cao sức mạnh đoàn kết trong tập thể.
    • Đồng tâm hiệp lực (Đồng sức đồng lòng): Cùng một lòng, cùng hợp sức để đạt mục đích chung.
    • Gan vàng dạ sắt: Khen người chung thủy, không thay lòng đổi dạ.
    • Kề vai sát cánh: Luôn ở gần nhau và thân thiết với nhau.
    • Lá lành đùm lá rách: Người có nhiều giúp người nghèo túng với tinh thần thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.
    • Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ: Tinh thần đoàn kết, đồng cam cộng khổ với nhau trong một tập thể.
    • Một con sâu bỏ rầu nồi canh: Một người làm bậy ảnh hưởng xấu đến cả tập thể.
    • Một miếng khi đói bằng một gói khi no: Khi người ta cần mà mình giúp thì việc ấy có giá trị hơn rất nhiều những gì khi mình cho mà mình cho người ta không cần.

    Dành tặng cho các em học sinh tiểu học Các Câu Thành Ngữ Tục Ngữ Lớp 5 hay và đặc sắc sau đây

    Các Câu Thành Ngữ Tục Ngữ Lớp 5 Nghĩa của thành ngữ, tục ngữ

    – Nơi quê hương bản quán, nơi tổ tiên, ông cha đã từng sinh sống.

    – Nơi mình sinh ra và gắn bó máu thịt với nó.

    – Chăm chỉ, cần mẫn, tần tảo làm ăn, không quản ngại khó khăn.

    – Mạnh dạn, táo bạo, có nhiều sáng kiến và dám thực hiện sáng kiến.

    – Đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động

    – Quý trọng đạo lí và tình cảm, coi nhẹ tiền của.

    – Biết ơn những người đã đem lại điều tốt đẹp cho mình.

    Thành Ngữ Tục Ngữ Trong Trạng Nguyên Tiếng Việt Lớp 5 được chúng tôi chọn lọc và tổng hợp giúp bạn đọc

    • Ăn kĩ no lâu, cày sâu tốt lúa
    • Ăn chọn nơi, chơi chọn bạn
    • Ăn cá bỏ xương, ăn quả bỏ hột
    • Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau
    • Ăn không nên đọi, nói không nên lời
    • Bách chiến bách thắng
    • Bách niên giai lão
    • Ba chìm bảy nổi, chín lênh đênh
    • Bán anh em xa, mua láng giềng gần
    • Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời
    • Bán tín, bán nghi
    • Cá không ăn muối cá ươn
    • Cái răng cái tóc là góc con người
    • Cầm kì thi họa
    • Cao lương mĩ vị
    • Cầm cân, nảy mực
    • Cành vàng, lá ngọc
    • Cần kiệm liêm chính
    • Đời cha ăn mặn, đời con khát nước
    • Con hơn cha là nhà có phúc
    • Con trâu là đầu cơ nghiệp
    • Chắc như đinh đóng cột
    • Con sâu bỏ rầu nồi canh
    • Cải tà quy chính
    • Cải tử hoàn sinh
    • Cải lão hoàn đồng
    • Bài binh bố trận
    • Ba hoa chính chòe

    🌻 Ngoài Thành Ngữ Tục Ngữ Lớp 5 🌻 Chia sẻ Thành Ngữ Về Cha Mẹ ý nghĩa

    Khám phá thêm các câu Thành Ngữ Tục Ngữ Lớp 5 Hay Nhất được sử dụng nhiều trong đời sống

    Thành Ngữ Tục Ngữ Lớp 5 Hay Nhất Nghĩa của thành ngữ, tục ngữ

    – Đạt được điều mình thường mong mỏi, ước ao.

    – Trải qua nhiều vất vả, khó khăn.

    – Kiên trì, nhẫn nại sẽ thành công.

    – Khó khăn là điều kiện thử thách và rèn luyện con người.

    – Một miếng khi đói bằng một gói khi no.

    – Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết.

    – Thắng không kiêu, bại không nản.

    – Nói lời phải giữ lấy lời

    Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.

    – Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

    Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.

    – Khi thiếu đói hoạn nạn được giúp đỡ kịp thời dù ít dù ít ỏi cũng đáng quý gấp nhiều lần được cho khi đ khi đã no đủ, yên ổn.

    – Khuyên chúng ta phải biết đoàn kết, vì đoàn kết g giúp ta có sức mạnh để bảo vệ cuộc sống, chia rẻ sẻ rẻ làm ta cô độc, yêú ớt, khó bảo tồn được cuộc sống.

    – Không kiêu căng trước những việc mình làm được, không nản chí trước khó khăn, thất bại.- Khuyên mọi người phải biết giữ lời hứa.

    – Đề cao phẩm giá hơn hình thức bên ngoài

    Đoc thêm một vài gợi ý về Thành Ngữ Tục Ngữ Lớp 5 Ngắn Ý Nghĩa mang nhiều giá trị trong cuộc sống

    • Có công mài sắt, có ngày nên kim: Khuyên nên kiên trì, nhẫn nại làm việc, nhất định sẽ có kết quả tốt đẹp.
    • Chớ thấy sóng cả mà rã tay chèo. Khuyên phải cố gắng vượt mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.
    • Chuột gặm chân mèo: Táo bạo làm một việc nguy hiểm.
    • Gan như cóc tía: Khen người dũng cảm không sợ nguy hiểm.
    • Gan lì tướng quân: Khen người gan dạ không sợ nguy hiểm.
    • Gan vàng dạ sắt: Dũng cảm, gan dạ, không nao núng trước khó khăn nguy hiểm.
    • Lửa thử vàng, gian nan thử sức: Khó khăn là điều kiện thử thách và rèn luyện mới biết con người có nghị lực, tài năng.
    • Nước chảy đá mòn: Kiên trì, nhẫn nại sẽ thành công.
    • Có mới nới cũ
    • Xấu gỗ, tốt nước sơn.
    • Mạnh dùng sức, yếu dùng mưu
    • Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng.
    • Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Ăn gạo nhớ đâm xay dần sàng.
    • Lên non mới biết non cao. Lội sông mới biết sông nào cạn sâu.
    • Nói chín thì nên làm mười. Nói mười làm chín, kẻ cười người chê.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Ngày Tết Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Xuân ❤️ Thành Ngữ Mùa Xuân Hay
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Kế Thừa Và Phát Huy Truyền Thống Tốt Đẹp Của Dân Tộc
  • Giáo Dục Đạo Đức Qua Tục Ngữ, Thành Ngữ…
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giàu Nghèo, Đồng Tiền, Sức Mạnh Đồng Tiền Hay Nhất
  • Sưu Tầm Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội Lớp 7 Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Chúc Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Gia Đình Hạnh Phúc Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Nói Xấu Người Khác! Dành Cho Những Kẻ Chuyên Đâm Chọt Sau Lưng Bạn!
  • 105+ Stt Mệt Mỏi, Status Cảm Thấy Mệt Mỏi Với Cuộc Sống Hiện Tại
  • Những Câu Danh Ngôn Nổi Tiếng Về Bia Rượu
  • Sưu tầm những câu ca dao, tục ngữ về con người và xã hội lớp 7 hay nhất? Ca dao, tục ngữ về con người? Ca dao, tục ngữ về xã hội? Ca dao, tục ngữ lớp 7?

    Những câu ca dao, tục ngữ về con người và xã hội lớp 7

    Ca dao, tục ngữ là những lời vàng ý ngọc, kết tinh của trí tuệ dân gian qua bao đời nay.Không chỉ là những kinh nghiệm về thiên nhiên hay lao động sản xuất, mà ca dao tục ngữ còn là những kinh nghiệm xã hội, con người quý báu mà ông cha ta đã để lại. Những lời nhận xét, khuyên nhủ ngắn ngọn nhưng chứa đựng trong đó rất nhiều bài học thiết thực và bổ ích cho chúng ta về cách ứng xử trong cuộc sống. Sau đây vforum sẽ gửi đến các bạn Những câuca dao, tục ngữ về con người và xã hội lớp 7 hay nhất

    Những câu ca dao, tục ngữ về con người và xã hội lớp 7 hay nhất

    CON NGƯỜI

    1.Một mặt người bằng mười mặt của

    Một mặt người là cách nói hoán dụ dung bộ phận để chỉ toàn thể, có nghĩa tương đương như một người. Của là của cải vật chất. Mười mặt của ý nói đến số của cải rất nhiều. Nghĩa của câu tục ngữ là con người quý hơn tiền bạc, và đề cao giá trị của con người

    2. Cái răng, cái tóc là góc con người

    Ý nghĩa của câu tục ngữ là Răng và tóc là các phần thể hiện hình thức, tính nết con người, khuyên mọi người hãy giữ gìn hình thức bên ngoài cho ngọn gang, sạch sẽ vì hình thức bên ngoài thể hiện phần nào tính cách bên trong.

    3. Đói cho sạch, rách cho thơm

    Nghĩa của câu tục ngữ là dù khó khăn về vật chất, vẫn phải trong sạch, không làm điều xấu, dù nghèo khó vẫn phải biết giữ gìn nhân cách tốt đẹp. Khuyên răng chúng ta trong đạo làm người, điều cần giữ gìn nhất là phẩm giá trong sạch, không vì nghèo khổ mà bán rẻ lương tâm, đạo đức.

    4. Học ăn, học nói, học gói, học mở

    Ý nghĩa của câu tục ngữ là cần phải học cách ăn, nói đúng chuẩn mực, cần phải học các hành vi ứng xử văn hoá. Khuyên mỗi người chúng ta cần phải khéo léo, đúng mực trong nói năng giao tiếp với cha mẹ, thầy cô, bề trên, bạn bè, …

    5. Không thầy đố mày làm nên

    Ý nghĩa của câu tục ngữ này là muốn làm được việc gì cũng cần có người hướng dẫn và nó còn có ý nghĩa là đề cao vị thế của người thầy. Câu tục ngữ này khẳng định công ơn to lớn của người thầy, vì vậy chúng ta phải biết tìm thầy mà học và mãi mãi yêu quý, kính trọng, biết ơn thầy.

    6. Học thầy không tày học bạn

    Câu tục ngữ này nói về tầm quan trọng của việc học bạn. Câu tục ngữ trên nhấn mạnh vai trò của người thầy, kèm theo đó là tâm quan trọng của việc học bạn.

    7. Thương người như thể thương thân

    Câu tục ngữ khuyên con người biết yêu người khác như chính bản thân mình, đề cao cách ứng xử nhân văn, nhắc nhở chúng ta cần phải biết giúp đỡ mọi người trong cuộc sống hàng ngày khi có thể, và nhất là những người gặp khó khăn, hoạn nạn

    8. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    Đây là một câu tục ngữ đã quá đổi quen thuộc. Ý nghĩa của nó là khi bạn được hưởng thành quả, phải nhớ ơn người tạo ra thành quả đó, phải biết ơn với người có công lao giúp đỡ, gây dựng, tạo nên thành quả.

    9.

    Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    Câu tục ngữ có ý nghĩa là việc lớn, việc khó không thể do một người làm được, mà phải cần nhiều người hợp sức, một lần nữa khẳng định sức mạnh của tình đoàn kết. Qua đó nhắc nhở chúng ta về tinh thần tập thể trong lối sống và làm việc tránh lối sống cá nhân.

    10.

    Cá không ăn muối cá ươn,

    Con không nghe cha mẹ trăm đường con hư.

    11. Ăn cỗ đi trước,lội nước đi sau.

    12. Người sống đống vàng.

    13. Người là vàng của là ngãi.

    14. Của đi thay người.

    15. Người làm ra của chứ của không làm ra người.

    16. Lấy của che thân chứ không lấy thân che của.

    17.

    Một yêu tóc bỏ đuôi gà

    Hai yêu răng trắng như ngà dễ thương.

    18. Người năm bảy đấng, của ba bảy loài.

    19. Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật.

    20. Chết giả mới biết bụng dạ anh em.

    21. Khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giàu có ba mươi tết mới hay.

    22. Chữ tốt xem tay, người hay xem khoáy.

    23. Người khôn dồn ra mặt.

    24. Trông mặt mà bắt hình dung.

    25. Mỏng môi hay hớt, trớt môi nói thừa,

    26. Con mắt là mặt đồng cân.

    27. Bụng bí rợ ăn như bào, làm như khỉ.

    28. Lòng người như bể khôn dò.

    29. Miệng hỏa lò ăn hết cơ nghiệp.

    30.To mắt hay nói ngang.

    31. Con mắt lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

    32. Người năm bảy đấng, của ba bảy loài.

    33. Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật.

    34. Chết giả mới biết bụng dạ anh em.

    35. Khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giàu có ba mươi tết mới hay.

    36. Chữ tốt xem tay, người hay xem khoáy.

    37. Người khôn dồn ra mặt.

    38 Trông mặt mà bắt hình dung.

    39. Mỏng môi hay hớt, trớt môi nói thừa,

    40. Con mắt là mặt đồng cân.

    41. Bụng bí rợ ăn như bào, làm như khỉ.

    42. Lòng người như bể khôn dò.

    43. Miệng hỏa lò ăn hết cơ nghiệp.

    44. To mắt hay nói ngang.

    45. Con mắt lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

    XÃ HỘI

    1. Nước đổ lá khoai.

    2. Đèn soi ngọn cỏ.

    3. Chó cắn áo rách.

    4. Giơ cao, đánh sẽ.

    5. Giầu điếc, sang đui.

    6. No nên bụi, đói nên ma.

    7.

    Người giầu tham việc

    Thất nghiệp tham ăn.

    8. Tay làm hàm nhai

    9.

    Của người bồ tát

    Của mình lạt buộc

    10. Xa mỏi chân, gần mỏi miệng.

    11. Cáo chết ba năm còn quay đầu về núi.

    12. Bần cùng sinh đạo tặc.

    13. Thượng bất chính, hạ tắc loạn.

    14. Phép vua thua lệ làng.

    15. Đất có lề, quê có thói.

    16. Lá lành đùm lá rách.

    17. Uống nước nhớ nguồn.

    18. Trời sinh voi, trời sinh cỏ.

    19. Ai giàu ba họ, ai khó ba đời.

    20. Khôn ở trại, dại ở nhà

    21. Lạc đàng nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu

    22. Lảm khi lành, để dành khi đau

    23. Lửa thử vàng, gian nan thử sức

    24. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén

    25. Chữ trinh đáng giá ngàn vàng

    26. Đánh bạc quen tay, ngủ ngày quen mắt, ăn vặt quen mồm

    27. Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

    28. Vàng thiệt đâu sợ lửa

    29. Thấy sang bắt quàng làm họ

    30. Nhập gia tùy tục

    Trên đây là bài viết về Sưu tầm những câu ca dao, tục ngữ về con người và xã hội lớp 7 hay nhất? Mong rằng bài viết này sẽ giúp ích các bạn biết thêm nhiều câu ca dao, tục ngữ hay trong kho tàng văn học Việt Nam nhé.

    --- Bài cũ hơn ---

  • [Tổng Hợp] Những Câu Nói Hay Của Khổng Tử Có Giá Trị Muôn Đời
  • Những Câu Nói Hay Trong Reply 1997(Lời Hồi Đáp 1997)
  • Stt Anh Yêu Em Vô Cùng Lãng Mạn Và Ngọt Ngào
  • 19 Lời Chúc Kỷ Niệm Ngày Cưới Hay Ý Nghĩa Nhất Cho Bạn Bè Người Thân
  • Status Dành Cho Những Ai Đi Xa Với Nỗi Nhớ Nhà Khôn Nguôi
  • Đề Tài Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ, Thơ Trong Giảng Dạy Môn Giáo Dục Công Dân Ở Các Lớp 6, 7

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Đoàn Kết Tương Trợ Lẫn Nhau
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Đồng Nai, Đồng Tháp, Đà Nẵng, Đak Lak, Đak Nông, Điện Biên Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Đồng Nai
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Hà Nội (Hay Nhất)
  • Những Câu Tục Ngữ Về Hà Nội, Ca Dao Về Hà Nội
  • Ca dao, tục ngữ, thơ rất gần gũi và gắn bó với con người Việt chúng tôi từ khi mới lọt lòng ca dao, tục ngữ, thơ đã đến với tuổi ấu thơ qua lời ru của mẹ, lớn lên ca dao, tục ngữ, thơ là người thầy răn dạy con người đạo lý tốt đẹp của dân tộc. Ca dao, tục ngữ, thơ là người từ ngữ được chọn lọc chính xác và được gọt giũa qua nhiều thời gian. Qua truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc.

    Chính vì lẽ đó nên trong quá trình giảng dạy môn GDCD theo sách giáo khoa ở các lớp 6, 7.Tôi đã mạnh dạn sử dụng vào trong tiết dạy, để làm gần gũi hơn ca dao, tục ngữ, thơ Việt Nam với các em học sinh, học sinh nhanh chóng nhận biết được các khái niệm của bài và ý nghĩa giáo dục của ca dao tục ngữ,thơ qua bài dạy. Bên cạnh đó học sinh sẽ tiếp xúc bài học hứng thú hơn, giờ học sinh đông hơn.

    MỤC LỤC Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU 2 1. Lý do chọn đề tài 2 2. Mục đích nghiên cứu 2 3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu 2 4. Nhiệm vụ nghiên cứu 2 5. Phương pháp nghiên cứu 2 6. Nội dung đề tài 3 II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI 3 3 1. Cơ sở pháp lý 3 2. Cơ sở lý luận 3 3. Cơ sở thực tiễn 3 Chương II: Thực trạng của đề tài nghiên cứu 4 1. Khái quát phạm vi 4 2. Thực trạng của đề tài nghiên cứu 4 3. Nguyên nhân 4 Chương III: Biện pháp chủ yếu để thực hiện đề tài 4 1. Cơ sở đề xuất các giải pháp 4 2. Các giải pháp chủ yếu 4 2.1. Sử dụng thơ ca để giới thiệu bài 5 2.2. Sử dụng thơ ca, tục ngữ trong hoạt động khai thác kiến thức mới 6 2.3. Sử dụng thơ ca, tục ngữ trong việc củng cố bài học 8 2.4.Hướng dẫn học sinh sưu tầm thơ , ca dao, tục ngữ ở nhà 9 3. Nội dung vận dung ca dao, tục ngữ, thơ qua các bài dạy GDCD lớp 6,7 10-15 III. KẾT LUẬN NGHIÊN CỨU 16 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 16 1. Kết luận 16 2. Kiến nghị 16 IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO 17 Sáng kiến kinh nghiệm Đề tài VẬN DỤNG CA DAO, TỤC NGỮ, THƠ TRONG GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở CÁC LỚP 6,7 I/ PHẦN MỞ ĐẦU: 1. Lí do chọn đề tài: Ca dao, tục ngữ, thơ rất gần gũi và gắn bó với con người Việt chúng tôi từ khi mới lọt lòng ca dao, tục ngữ, thơ đã đến với tuổi ấu thơ qua lời ru của mẹ, lớn lên ca dao, tục ngữ, thơ là người thầy răn dạy con người đạo lý tốt đẹp của dân tộc. Ca dao, tục ngữ, thơ là người từ ngữ được chọn lọc chính xác và được gọt giũa qua nhiều thời gian. Qua truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc. Chính vì lẽ đó nên trong quá trình giảng dạy môn GDCD theo sách giáo khoa ở các lớp 6, 7.Tôi đã mạnh dạn sử dụng vào trong tiết dạy, để làm gần gũi hơn ca dao, tục ngữ, thơ Việt Nam với các em học sinh, học sinh nhanh chóng nhận biết được các khái niệm của bài và ý nghĩa giáo dục của ca dao tục ngữ,thơ qua bài dạy. Bên cạnh đó học sinh sẽ tiếp xúc bài học hứng thú hơn, giờ học sinh đông hơn. 2. Mục đích nghiên cứu: Mục đích: Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo tự học, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, tạo hứng thú học tập cho học sinh. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. - Học sinh học môn GDCD lớp 6, lớp 7 trường THCS Tôn Đức Thắng. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu: Thông qua đối tượng nghiên cứu chúng ta rút ra những giải pháp cần thiết trong quá trình giảng dạy môn GDCD để giúp học sinh lĩnh hội tri thức tốt hơn, vận dụng điều đã học vào thực tế 5. Phương pháp nghiên cứu Để nghiên cứu đề tài này bản thân tôi đã sử dụng những biện pháp sau: - Phương pháp điều tra qua những tiết dự giờ của đồng nghiệp cùng bộ môn, điều tra mức tiếp thu của học sinh và việc đánh giá kết quả của từng tiết dạy - Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu qua tham khảo sách báo. - Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực sáng tạo chủ động của học sinh thông qua những câu hỏi nêu vấn đề. - Phương pháp thực hành thực nghiệm qua những tiết dạy khối 6,7.Bản thân tôi đã thực nghiệm và rút ra kinh nghiệm. 6. Nội dung đề tài nghiên cứu: " Vận dụng ca dao ,tục ngữ ,thơ trong giảng dạy môn GDCD lớp 6,7" II.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI: CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở pháp lý: Như chúng ta đã biết ngành giáo dục đã trải qua rất nhiều cuộc cải cách giáo dục và đã phấn đấu thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ ,đáp ứng phù hợp với yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới . Với mục tiêu giáo dục phổ thông là " giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Đó là cơ sở lí do tôi chọn đề tài này 2. Cơ sở lý luận: Phương pháp vận dụng ca dao tục ngữ ,thơ trong giảng dạy nhằm giúp cho học sinh tham gia chủ động trong quá trình học tập .Học sinh tự biết mình phải nôi theo những tấm gương nào, anh hùng nào, làm điều tốt như thế nào , yêu thương con người cần phải làm gì và có thể nói những câu ca dao,thơ, tục ngữ đã tác động đến tâm lí ,hành vi của các em và từ đó hướng các em đi đúng con đường mà xã hội đang cần và mong muốn. 3. Cơ sở thực tiễn: Môn GDCD phải hoàn thành nhiệm vụ cơ bản là tổ chức giáo dục học sinh hiểu được những chuẩn mực đạo đực và pháp luật cơ bản, phổ thông thiết thực phù hợp với lứa tuổi học sinh THCS. Hình thành cho các em tình cảm, niềm tin đạo đức pháp luật và hành vi thói quen đạo đức và ý thức pháp luật của mỗi học sinh. Hầu hết học sinh THCS còn nhỏ tuổi. Việc hiểu các khái niệm còn trực tiếp, cảm tính cho nên đòi hỏi giáo viên phải có phương pháp giáo dục thích hợp để học sinh cảm nhận và tự nâng lên thành nhận thức và ý thức của bản thân. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1) Khái quát phạm vi nghiên cứu: Đây là đề tài đề cập đến sự vận dụng ca dao, tục ngữ, thơ trong giảng dạy, tức là làm thế nào vận dụng những câu thơ, câu ca dao, câu tục ngữ, thiết thực để học sinh khắc sâu kiến thức, giờ dạy hiệu quả . 2) Thực trạng của đề tài: Đa số học sinh có sự vận dụng tốt, biết vâng lời bố mẹ và thầy cô. Nhưng còn nhiều em học sinh cho rằng đây là môn phụ nên thường ít hứng thú trong học tập . Ở lứa tuổi các em tư duy còn rất cụ thể, nên khi truyền thụ kiến thức cho chúng, ta cần vận dụng tất cả các phương pháp trong dạy học. Đặc biệt là phương pháp vận dụng ca dao,tục ngữ ,thơ . Khi vận dụng những câu ca dao, tục ngữ học sinh say mê nghiên cứu những ngôn ngữ trong ca dao, tục ngữ, thơ trong sáng tinh tuý đã được mài giũa qua thời gian.Hơn thế nữa ca dao, tục ngữ, thơ vừa có sức gần gũi vừa có sức thuyết phục kỳ diệu đối với học sinh đến với bài dạy 3) Nguyên nhân của thực trạng: Trong quá trình dạy học, có một số giáo viên quá đặt nặng kiến thức phần kênh chữ, phần kênh hình nên chỉ sơ lược phần ca dao, tục ngữ, xem nhẹ . Hiện nay, với sự bùng nổ thông tin nên ngoài kênh hình có trong SGK thì tranh ảnh, phim tư liệu phục vụ đắc lực cho việc dạy học lịch sử rất nhiều. do đó bỏ qua những câu thơ, ca dao,câu tục ngữ để rút ra kiến thức mới. Hoặc có khai thác nhưng ít ,nên kết quả không cao. - Ý thức học tập của học sinh chưa cao còn xem nhẹ môn GDCD - Đồ dùng dạy học chưa đầy đủ - Kỉ năng sống của các em còn hạn chế nên chưa biết vận dụng những điều đã học vào cuộc sống. CHƯƠNG III: NHỮNG BIỆN PHÁP ,GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 1.Cơ sở đề xuất: Thực tế cho thấy qua giảng dạy một số bài GDCD lớp 6,7 tôi thấy các em chưa hiểu sâu các khái niệm, biểu hiện và các biện pháp rèn luyện. có nhiều em chưa phân biệt được đâu là ý nghĩa, đâu là biện pháp, các em chưa thực sự hiểu rõ qua thực tế cuộc sống các em đã có đức tính đó hay chưa? Nếu chưa có thì phải làm thế nào?Qua khảo sát kết quả học tập của học sinh tôi thấy các em chỉ mới hiểu được 65% yêu cầu bài học đề ra. 2.Các biện pháp chủ yếu: * Giáo viên lập kế hoạch dạy học, chuẩn bị toàn bộ -Thiết kế bài dạy một cách cụ thể, hơp lí, kết hợp các phương tiện, thiết bị dạy học với các phương pháp dạy học . -Đảm bảo tính hệ thống, liên hệ với thực tiễn -Đặt ra các tình huống học tập vừa sức với học sinh *Học sinh: -Phải có sgk -Sưu tầm ca dao,tục ngữ từ người thân, nười lớn tuổi trong gia đình, tạp chí, sách báo các phương tiện truyền thông đại chúng . 2.1. Sử dụng thơ ca, tục ngữ để giới thiệu bài mới: *Vận dụng thơ ca: " Có gì đẹp trên đời như thế Người yêu người sống để yêu nhau " Rõ ràng con người sống phải biết yêu thương đồng loại của mình. Không ai có thể sống mà không có tình yêu thương, yêu thương là lẽ sống, là sức mạnh giúp con người vượt qua khó khăn, gian khổ. Vậy thế nào là yêu thương con người, làm thế nào để thể hiện lòng yêu thương với mọi người xung quanh, lòng yêu thương có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống chúng ta cùng gước vào bài học này. *Vận dụng ca dao : Trong giao tiếp hằng ngày, để gây thiện cảm với người đối diện, chúng ta phải có cư sử lịch sự, hành vi trang nhã, lời nói tế nhị,cư sử đúng mực vậy nên ông cha ta đã dạy : "Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau " Nói cho vừa lòng người khác là biểu hiện sự tôn trọng, quan tâm, là người có văn hóa, có đạo đức. Hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu một chuẩn mực đạo đức rất cần thiết đó là tính lễ độ . Kho tàng ca dao tục ngữ việt nam rất phong phú về nội dung và cách diễn đạt. Đặt biệt là mảng câu nói về tính cách con người, kể cả những câu mng ý nghĩa tích cực khuyên văn giáo dục hay phê phán thói hư tật xấu .Giáo viên đều có thể vận dụng vào mở đầu bài học sao cho phù hợp. 2.2. Sử dụng thơ ca, tục ngữ trong hoạt động khai thác kiến thức mới: Trong dạy học kiến thức mới, giáo viên phải sáng tạo trong phương pháp dạy học phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác của học sinh. Chú trọng rèn luyện phương pháp tư duy, ... nhặt những lỗi nhỏ của nhau, luôn thông cảm, tôn trọng và biết tha thứ cho nhau thì câu tục ngữ "Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại" đã giúp tôi khẳng định điều đó. Một trong những truyền thống quý báu của dân tộc là lòng biết ơn.Thì ca dao, tục ngữ, thơ đã nêu rõ điều đó cho chúng ta. Uống nước nhớ nguồn Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (Tục ngữ) Vận dụng những câu tục ngữ đó để học sinh dễ hiểu lòng biết ơn là biểu hiện sự trân trọng quá khứ. Những nét đẹp trong truyền thống gia đình, tổ tiên, làng xóm, dân tộc. Nhớ ơn những người đã ngã xuống hoặc hiến một phần xương máu vì độc lập tự do của tổ quốc, nhớ ơn cha mẹ những người đã sinh thành nuôi dưỡng và biết ơn những người đã giúp đỡ mình, và học sinh hiểu đầy đủ hơn "Biết ơn" không phải là một món nợ "Có vay, có trả" mà ý thức được người khác giúp ta nhiều lúc ta không trả ơn được. Ta lại giúp người khác và sống tốt đẹp hơn đó là quy luật của cuộc sống . Đến phần tìm ra những biện pháp rèn luyện "Biết ơn" mà sách giáo khoa chưa nêu rõ, với bài thơ "Mẹ ốm" đã khắc hoạ cho các em hiểu rõ, các em cần có thái độ, cử chỉ làm vui lòng cha mẹ , thầy cô như Trần Đăng khoa đã thể hiện. Mẹ vui con có quản gì Ngâm thơ kể chuyện rồi thi múa ca Rồi con diễn kịch giữa nhà. Một mình con đóng cả ba vai chèo (Trần Đăng Khoa) Trong bài "Tôn sư trọng đạo"lớp 7 tiết 10 bài 7, ca dao,tục ngữ thật quá phong phú khi đưa vào giảng dạy, để nêu bật ý nghĩa quan trọng của"Tôn sư trọng đạo" tôi đưa câu tục ngữ: Không thầy đố mày làm nên Nhất tự vi sư, bán tự vi sư Học sinh sẽ giải thích được không ai có thể trở thành tài giỏi mà không có sự dạy dỗ của các thầy cô giáo. Trong xã hội thầy, cô giáo thực sự là những người đáng kính đáng mang ơn. Một cây làm chẳng lên non Ba cây chum lại nên hòn núi cao. (Ca dao) Qua đó học sinh rút ra được bài học "Đoàn kết tương trợ là sự thông cảm chia sẽ giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn", ý nghĩa của đoàn kết tương trợ cũng là nội dung bài học quan trọng. Vận dụng bài thơ "Hòn đá" của Hồ Chí Minh: Hòn đá to, hòn đá nặng Một người nhấc, nhấc không lên Hòn đá nặng, hòn đá bền Nhiều người nhấc, nhấc lên đặng (Hồ Chí Minh) Học sinh sẽ say mê khi nghiên cứu tìm tòi qua ca dao tục ngữ, thơ và qua bài "Hòn đá" sẽ nêu lên được "Đoàn kết tương trợ là sự thông cảm chia sẽ giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn".Qua ca dao, tục ngữ, thơ đã giúp chúng ta hiểu rõ siêng năng là sự cần cù, tự giác, miệt mài, nhưng nếu ta cần mẫn siêng năng mà không biết tiết kiệm,sử dụng hợp lý thành quả lao động cũng vô ích. Để thấy được mặt trái của tính tiết kiệm tôi cho học sinh tìm các câu ca dao, tục ngữ trái với tiết kiệm. Miệng ăn, núi lỡ Vung tay quá trán Bóc ngắn cắn dài (Tục ngữ) Qua đó học sinh sẽ thấy được trái với tiết kiệm là hoang phí, nếu như ta tiêu phí của cải, thời gian, sức lực quá mức cần thiết thì đến một lúc nào đó ta sẽ không còn gì cả, cuộc sống sẽ trở nên khó khăn, khốn khổ bởi vì không tiết kiệm và phẩm chất tiết kiệm sẽ mãi mãi hằn sâu vào trí thức của các em qua câu ca dao: Tiết kiệm sẵn có đồng tiền Phòng khi túng lỡ không phiền lụy ai Thật là phong phú và thú vị vô cùng nếu như những ai biết vận dụng những câu ca dao, tục ngữ xa xưa của ông cha ta làm sáng tỏ nội dung bài hoc. Những câu ca dao, tục ngữ đã được ông cha ta chắt lọc và trưởng thành qua thực tế, để cho đến bây giờ. Một thời đại mới đã mở ra quá hiện đại với công nghệ thông tin...Nhưng những cái giản dị, chân chất, mộc mạc ấy vẫn còn tồn tại cho đến bây giờ và mai sau. Để cho học sinh hiểu rõ đó cũng là một trong những bản sắc văn hoá của dân tộc. Một trong những bản sắc văn hoá của dân tộc đó là lối sống "Giản dị" lớp 7 của con người việt nam được ca dao tục ngữ đem lại cho chúng ta vô số những ví dụ dẫn chứng lý thú, chính xác.Bởi ngôn ngữ trong ca dao, tục ngữ, thơ trong sáng tinh tuý đã được mài giũa qua thời gian.Hơn thế nữa ca dao, tục ngữ, thơ vừa có sức gần gũi vùa có sức thuyết phục kỳ diệu đối với học sinh. Đến với bài dạy "Giản dị"lớp 7, để hình thành khái niệm "Giản dị" qua mẫu chuyện sách giáo khoa nêu lên đức tính giản dị của Bác Hồ để làm sống lại và toả sáng hơn dức tính đó của Bác Hồ kính yêu, tôi đã minh hoạ thêm các câu thơ của Tố hữu. Nhà gác đơn sơ một góc vườn Gỗ thường mộc mạc chẳng mùi sơn Giường mây chiếu cói đơn chăn gối Tủ nhỏ vừa treo mấy áo sờn Qua hình ảnh của Bác các em sẽ hình thành được người sống giản dị "không sống xa hoa, lãng phí, không cầu kỳ kiểu cách" các em học sinh sẽ phân biệt được cái đẹp thực chất với sự phô trương bề ngoài bằng các câu tục ngữ. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn (Tục ngữ) Giảng dạy môn GDCD nếu như người giáo viên không sáng kiến tìm tòi các ví dụ các câu thơ, ca dao,tục ngữ thì giờ học sẽ không gây hưng phấn cho học sinh. Bởi có nhiều người quan niệm môn học quá khô khan cứng nhắc. Nhưng đối với người dạy sẽ cảm nhận môn học quan trọng biết bao nhiêu bởi nhân cách học sinh tốt hay xấu cũng phụ thuộc một phần quan trọng ở kết quả giáo dục của môn GDCD. Để khi ra đời làm con người của xã hội, của tổ quốc, sắn sàng làm tất cả những gì cho đất nước thân yêu, những người công dân tương lai này hành trang trên vai là những tri thức khoa học, là những phảm chất "Lễ độ" "Biết ơn", "Yêu thương con người", "Khoan dung", "Tiết kiệm"....... không thể thiếu được trong tâm hồn của mỗi người, để sau này các em những người "Sống chan hoà với mọi người" và "Biết tôn trọng Kỉ luật" trong bất cứ lĩnh vực nào. Học sinh không chỉ trao dồi tri thức mà còn rèn luyện phẩm chất đạo đức theo chuẩn mực chung của xã hội . Sau này lớn lên, có đủ tài ,đủ đức để cống hiến cho đất nước, cho nhân dân. Tiết 6 bài 5 lớp 6. Có thể đức tính "Tôn trọng Kỉ luật " là rất quan trọng đối với mỗi con người khi đang còn là học sinh hay làm ở các cơ quan, nhà máy.... thì việc tôn trọng kỷ luật cũng rất cần thiết. Để nhấn mạnh thêm về điều quan trọng, khi dạy bài "Tôn trọng kỉ luật" lớp 6 trước khi kết thúc bài học, để giúp học sinh nhớ mãivà lâu hơn đức tính này tôi đã dùng câu tục ngữ Đất có lề, quê có thói Nước có Vua, chùa có bụt Và học sinh hiểu nhiều hơn, bất cứ lĩnh vực nào? Ở đâu, lúc nàocũng có luật lệ phép tắc mà mọi người tuân theo. *Kết luận : Ca dao, tục ngữ, thơ Việt Nam như những phép màu, có thể sử dụng bất kỳ trong lĩnh vực nào của khoa học, xã hội. Đó là sức sống mãnh liệt trong từng câu, tững chữ, trong bài giảng dạy môn GDCD ca dao, tục ngữ, thơ làm phong phú hấp dẫn hơn qua mỗi bài học . Giờ học GDCD không còn như trước đây "Khô khốc khó nuốt"mà bài học giờ đây để lại ấn tượng sâu sắc và học sinh cũng sẽ cảm nhận được môn GDCD cũng đầy hấp dẫn và lý thú. Đó cũng là nhờ sự vận dụng tài tình của giáo viên qua ca dao tục ngữ thơ, đó là một công cụ, một phương pháp sắc bén để bài dạy mãi mãi sống động, cô động trong trí nhớ của học sinh. III.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: Qua sử dụng ca dao tục ngữ và kết hợp với những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh.Tôi thấy rằng học sinh dễ hiểu hơn hứng thú say sưa học hỏi hơn, bài học sinh động dễ hiểu hơn. Kết quả so với trứớc học sinh nắm, hiểu bài cao hơn 92% học sinh tiếp thu tốt. Qua nhiều năm giảng dạy môn GDCD ở trung học cơ sở bằng sự nỗ lực học hỏi, bằng nhận thức của bản thân. Tiếp thu tinh thần đổi mới phương pháp dạy học kết hợp qua các giờ dạy của bạn bè đồng nghiệp đã giúp tôi thành công trong nhiều bài dạy. Kết quả về bộ môn giảng dạy năm 2010- 2011 đạt Loại giỏi: 35% Khá: 55% Trung bình:10% IV.KẾT LUẬN,KIẾN NGHỊ 1.Kết luận 2. Kiến nghị: Mọi hoạt động vật chất lẫn tinh thần của con người luôn hướng đến mục tiêu mang lại hiệu quả cao nhất. Việc dạy môn GDCD cũng thế. Tuy nhiên việc tìm ra phương pháp dạy học hay tạo sự hứng thú, phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập là điều quan trọng. Vì vậy tôi có một số kiến nghị sau: - Đề nghị phòng giáo dục cung cấp thêm sách bài tập GDCD lớp 6, 7 8 các sách tham khảo cho GV và học sinh về bộ môn. - Về phía nhà trường: Quan tâm đặc biệt đến môn học này đó là hỗ trợ kinh phí để có một phần thiết bị đồ dùng dạy học phù hợp với bộ môn Hòa Thành, ngày 20 tháng 10 năm 2011 Người Viết Võ Thị Ngọc Kim DANH MỤC THAM KHẢO - SGK, SGV môn Giáo dục công dân - Sách chuẩn kiến thức, kỷ năng môn GDCD - Lí luận dạy học của trường phổ thông NXBGD - 1980 - Sách rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh . - Sách ca dao việt nam của NXB Trẻ. - Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD trung học cơ sở

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa, Hạt Gạo, Nông Dân Ruộng
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Cối, Câu Dừa, Cây Tre, Cây Bưởi
  • Tục Ngữ, Thành Ngữ, Câu Đố
  • Tục Ngữ Về Tình Yêu Nam Nữ Hay ❤️ 1001 Câu Chế Vui
  • Ca Dao Về Vợ Chồng Hạnh Phúc ❤️ Tục Ngữ Vợ Chồng Hay
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Ca Dao Tục Ngữ Bình Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Hay Nhất
  • ‘Bình Định nón Gò Găng

    Bún Song thần An Thái

    Lụa Đậu tư Nhơn Ngãi

    Xoài Tượng chín Hưng Long

    Mặc ai mơ táo ước hồng

    Tình quê em giữ một lòng trước sau.

    Bình Định có hòn Vọng Phu

    Có đầm Thị Nai có Cù Lao Xanh.

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa.

    1.Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.

    2.Bình Định có núi Vọng Phu Có Đầm Thị Nại có Cù Lao xanh.

    3.Công đau công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

    4.Mẹ ơi đừng đánh con đau Để con đánh trống hát tuồng mẹ nghe.

    5.Ai về Bịnh Định mà coi Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.

    6.Ai về Bình định thăm bà Ghé vô em gởi lạng trà Ô long. Trà Ô long nước trong vị ngọt Tình đôi mình như đọt mía lau chúng tôi đi bờ lở một mình Phất phơ chéo áo giống hình trò

    Ba Trò Ba đi học trường xa

    Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi

    8.Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cá nghiên anh đồ.

    Tiếng đồn Bình Định tốt nhà Phú Yên tốt lúa, Khánh Hoà tốt trâu

    .Công đâu công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    .Em về Đập Đá quê cha Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê chồng

    13.Anh về Đập Đá , Gò găng Bỏ em kéo vải sáng trăng một mình Tiếng ai than khóc nỉ non Vợ chàng lính thú trèo hòn Cù Mông

    14.Chiều chiều én liệng Truông Mây Cảm thương Chú Lía bị vây trong thành

    15.Non Tây áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

    16.Cây Me cũ, Bến Trầu xưa Dẫu không nên tình nghĩa cũng đón đưa cho trọn niềm

    17.Ngó vô Linh Đỗng mây mờ Nhớ Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây

    18.Hầm Hô cữ nước còn đầy Còn gương phấn dũng , còn ngày vinh quang

    19.Bình Định có đá Vọng Phu Có đầm Thị Nại có Cù lao Xanh Lụa Phú Phong nên duyên nên nợ Nón Gò găng khắp chợ mến thương

    20.Bên kia sông, quê anh An Thái Bên này sông, em gái An Vinh Thương nhau chung dạ chung tình Cầu cha mẹ ưng thuận cho hai đứa mình lấy nhau

    21.Cưới nàng đôi nón Gò Găng Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn Ai về Tuy Phước ăn nem Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm

    22.Rượu ngon Trường Thuế mê li Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi sao đành

    23.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Gi Sông xanh, núi cũng xanh rì Vào Nam, ra Bắc ai cũng đi con đường này Nghìn năm gương cũ còn đây Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu – Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi Dễ chi nhân ngãi mà rời được nhau

    24.Tháp kia còn đứng đủ đôi Cầu còn đủ cặp huống cho tôi với nường ( nàng) Suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Thiếp ngồi dệt vải chỉ mong bóng chàng Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu Ôm đàn gảy khúc Cầu hoàng Thiếp xin gõ nhịp để chàng lựa dây Bao giờ rừng quế hết cây Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình Dừa xanh sừng sững giữa trời Đem thân mà hiến cho đời thuỷ chung

    25.Muốn ăn bánh ít nhân mè Lấy chồng Hòa Đại đạp chè thâu đêm Muốn ăn bánh ít nhân tôm Lấy chồng Hòa Đại ăn cơm củ mì

    26.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di Sông xanh núi cũng xanh rì Vào Nam ra Bắc cũng đi đường này chúng tôi về Phù Mỹ nhắn nhe Nhắn chị bán chè sao vậy chẳng lên?

    Anh về dưới vạn thăm nhà

    Ghé vô em gởi lạng trà Ô Long

    chúng tôi về Bình Định thăm cha Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em

    29.Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông

    30.Khéo khen con tạo trớ trêu

    Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ

    32.Ai về thăm cảnh An Khê

    Sông Ba chồng nhớ vợ nhà Sông Côn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Kho Tàng Ca Dao Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Du Lịch Qua Ca Dao Ở Một Số Tỉnh Miền Tây Nam Bộ Theo Hướng Du Lịch Sinh Thái Hiện Đại
  • Tiếp Cận Kiến Thức Địa Lý Qua Thơ
  • Con Gà Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Cây Lúa Trong Ngôn Ngữ Người Việt
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Văn Hóa Sản Xuất Nông Nghiệp Phần 1
  • 1.Cá bống còn ở trong hang

    Lá rau tập tàng còn ở ruộng dâu

    Ta về, ta sắm cần câu

    Câu lấy cá bống, nấu rau tập tàng

    2. Cá buồn cá lội tung tăng

    Em buồn em biết đãi đằng cùng ai?

    3. Cá kèo mà gặp mắm tươi

    Như nơi đất khách gặp người cố tri

    4. Cá không ăn muối cá ươn

    Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư

    5. Cá nục nấu với dưa hồng

    Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi

    6. Cá tươi xem lấy đôi mang,

    Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai

    Tóc mai sợi vắn sợi dài

    Có đâu mặt rỗ đá mài không trơn

    7. Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Ðỉa lội lềnh như bánh canh

    8. Cả vú lấp miệng em

    9. Cách sông mới phải luỵ thuyền

    Còn như đường liền ai phải luỵ ai

    10. Cái ách giữa đàng, mang vào cổ

    11. Cái cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    12. Cái cò lặn lội bờ sông

    Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền

    13. Cái cò mày đi ăn đêm

    Ðậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

    Ông ơi, ông vớt tôi nao

    Tôi có lòng nào, ông hãy sáo măng

    Có sáo, thì sáo nước trong

    Ðừng sáo nước đục, đau lòng cò con

    14. Cái kiến mày kiện củ khoai

    Chê em tao khó, lấy ai cho giàu

    Nhà tao chín đụn, mười trâu

    Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân

    Cầu này là cầu ái ân

    Một trăm con gái rửa chân cầu này

    Có rửa thì rửa chân tay

    Chớ rửa chân mày, chết cá ao anh

    15. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Ðiền

    Anh thương em cho bạc cho tiền

    Ðừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay!

    16. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

    Anh có thương em, xin sắm một con đò

    Ðể em qua lại mua cò gởi thơ

    17. Cái khó bó cái khôn

    18. Cái nết đánh chết cái đẹp

    19. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Cái ngủ mày ngủ cho say

    Mẹ mày vất vả chân tay suốt ngày

    20. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Bắt được con trắm, con trê

    Xách cổ mang về cho cái ngủ ăn

    Cái ngủ ăn chẳng hết

    Ðể dành đến Tết mồng Ba

    Mèo già ăn vụng

    Mèo ốm phải đòn

    Mèo con phải vạ

    Con quạ có lông

    Nồi đồng có nắp

    21. Cái răng cái tóc là gốc con người

    22. Câm hay ngóng, ngọng hay nói

    23. Câm như hến

    24. Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn

    Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon

    25. Cần tái, cải nhừ

    26. Cầm vàng mà lội qua sông

    Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

    27. Cần Thơ là tỉnh

    Cao Lãnh là quê

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mảng lo buôn bán không về thăm em

    28. Canh khuya gà gáy ó o

    Quân tử thức dậy còn mò đi đâu?

    29. Canh khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, trầm tư một mình

    30. Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng khi về bủng beo

    31. Cao su đi dễ khó về

    Trai đi mất vợ gái về thêm con

    32. Cáo chết ba năm quay đầu về núi

    33. Cát bay, vàng lại ra vàng

    Những người quân tử dạ càng đinh ninh

    Ðinh ninh ta để dạ này

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    34. Cau già, dao bén thì ngon

    Người già trang điểm phấn son cũng già

    35. Cây cao bóng mát không ngồi

    Ra ngồi chỗ nắng, trách trời không mây

    36. Cây đa Chợ Ðũi

    Nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàng

    Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân!

    37. Cây khô không có lộc

    Người độc không có con

    38. Cây khô không thể mọc chồi

    Mẹ già không dễ sống đời với con

    39. Cây khô không trái, gái độc không con

    40. Cây không trồng nên lòng không tiếc

    Con không đẻ nên mẹ ghẻ không thương

    41. Cây muốn lặng, gió chẳng muốn ngừng

    42. Cây trên rừng hoá kiểng

    Cá dưới biển hoá long

    Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong

    Anh đi lục tỉnh giáp vòng

    Ðến đây trời khiến đem lòng thương em

    43. Cây vông đồng không không trồng mà mọc

    Con gái xóm này chẳng chọc mà theo

    44. Cây xanh thời lá cũng xanh

    Cha mẹ hiền lành để đức cho con

    Mừng cây rồi lại mừng cành

    Cây tốt lắm chồi, người đức lắm con

    Ba vuông sánh với bảy tròn

    Ðời cha vinh hiển, đời con sang giàu

    45. Cậu cai buông áo em ra

    Ðể em đi chợ kẻo mà chợ trưa

    Chợ trưa dưa nó héo đi

    Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?

    46. Cha chung chẳng ai khóc

    47. Cha đời cái áo rách này

    Mất chúng, mất bạn vì mày áo ơi!

    48. Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại

    Bắt anh ra treo tại nhành dương

    Biểu từ ai, anh từ đặng

    Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ

    49. Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển

    Con nuôi chạ mẹ, con tính từng ngày

    50. Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng

    Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày

    51. Cha nào con nấy, rau nào sâu nấy

    52. Chanh chua thì khế cũng chua

    Chanh bán có muà, khế bán quanh năm

    53. Cháo nóng, liếm quanh

    54. Cháu ơi, cháu ngủ cho ngon

    Của dì, dì giữ ai bò mặc ai

    55. Chàng về cho thiếp theo cùng

    Ðói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam

    56. Chàng ôi, giận thiếp mà chi

    Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng

    57. Chàng về để áo lại đây

    Ðể khuya em đắp gió khuya lạnh lùng

    58. Chàng về để áo lại đây

    Phòng khi em nhớ cầm tay đỡ buồn

    59. Cháy nhà ra mặt chuột

    60. Chặt không đứt, bứt không rời

    Phơi không khô, chụm không cháy

    (Ðố là con gì? Con sam)

    61. Chẳng ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời

    62. Chẳng ốm, chẳng đau làm giàu mấy chốc

    63. Chẳng tham ruộng cả, ao tiền

    Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ

    64. Chân cứng, đá mềm

    65. Chân đi ba bước lại dừng

    Tuổi em còn bé chưa từng đi buôn

    Ði buôn cho đáng đi buôn

    Ði buôn cau héo có buồn hay không

    66. Chân trời, góc biển

    67. Chập chập rồi lại cheng cheng

    Con gà sống thiến để riêng cho thầy

    Ðơm sôi thì đơm cho đầy

    Ðơm mà vơi đĩa thì thầy không ưng

    68. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    69. Chẻ tre bện sáo cho dầy

    Chận ngang sông Mỹ có ngày gặp em

    70. Chê đắng chê hôi

    Ðã chê xôi không dẻo

    Lại chê kẹo không ngọt

    71. Chê đây, lấy đấy sao đành

    Em chê cam sành, lấy phải quít hôi

    Quít hôi bán một đồng mười

    Cam ba đồng một, quít ngồi trơ trơ

    72. Chết trước được mồ, được mả

    Chết sau nằm ngả, nằm nghiêng

    73. Chì khoe chì nặng hơn đồng

    Sao chì chẳng đúc nên cồng, nên chuông

    74. Chị em dâu như bầu nước lã

    75. Chị kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu?

    Nhà tui ở dưới đám dâu

    Ở trên đám đậu đầu cầu ngó qua

    76. Chị lấy chồng, em gặm giò heo

    Giò heo chị để chị treo

    Em lấy giò mèo, em gặm em chơi

    77. Chị ngã, em nâng

    78. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Thuốc đâu mà chữa con người lẳng lơ

    79. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Tay đâu mà bụm miệng người thế gian

    80. Chiếc khăn cô đội trên đầu

    Gió xuân đưa đẩy rơi vào tay tôi

    Bâng khuâng tôi chẳng muốn rời

    Trao cô thì tiếc, giữ thời không yên

    81. Chiếc tàu lặn chạy mau đường gió

    Cái xe hơi chạy lẹ như dông

    82. Chiếu bông mà trải góc đền

    Muốn vô làm bé biết có bền hay không?

    83. Chiều chiều, buồn miệng nhai trầu

    Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ

    84. Chiều chiều chim vịt kêu chiều

    Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau

    85. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Nhớ người aó trắng khăn điều vắt vai

    86. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Trông về quê mẹ chín chiều ruột đau

    87. Chiều chiều, ông chánh về Tây

    Cô Ba ở lại lấy thầy Thông Ngôn

    Thông ngôn, ký lục, bạc chục không màng

    Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay

    88. Chiều chiều ông Lã Ðông Tân

    Vai mang bầu rượu, tay cầm chiếc nem

    89. Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

    90. Chiều chiều tui buồn tui ra sông cái, tự ải cho rồi

    Sống làm chi mà chia ly thục nữ

    Thác cho rồi đặng chữ thủy chung

    91. Chiều chiều trước bến Văn Lâu

    Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm

    Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông

    Thuyền ai thấp thoáng bên sông

    Ðưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non

    92. Chiều chiều vịt lội, cò bay

    Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng

    Vô rừng bứt một sợi mây

    Ðem về thắt gióng cho nàng đi buôn

    93. Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc

    Cá bãi trầu lội tuốt mương cau

    94. Chim đa đa đậu nhánh đa đa

    Chồng gần không lấy, đi lấy chồng xa

    Một mai cha yếu mẹ già

    Chén cơm, đôi đũa, tách trà ai dâng

    95. Chim khỏi lồng không mong trở lại

    96. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

    97. Chim khôn lựa cành mà đậu

    98. Chim khôn mắc phải lưới hồng

    Hễ ai gỡ được, đền công bạc vàng

    Anh rằng anh chẳng lấy vàng

    Hễ anh gỡ được, thì nàng lấy anh

    99. Chim quyên ăn trái nhãn lồng

    Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi

    100. Chim quyên xuống đất ăn trùn

    Anh hùng lỡ vận, lên rừng đốt than

    101. Chim trời ai dễ đếm lông

    Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày

    102. Chim trời cá nước, ai bắt được nấy ăn

    103. Chim lìa cành còn thương nhớ cội

    Người xa người tội lắm người ơi!

    Chẳng thà không gặp thì thôi

    Gặp rồi mỗi đứa một nơi sao đành

    104. Chính chuyên chết cũng ra ma

    Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng

    105. Cho em trở lại đường xưa

    Ðể em tìm lại gốc dừa cạnh ao

    Lời anh âu yếm chiều nào

    Thoảng vang trong gió rì rào chớm thu

    106. Chó ăn đá, gà ăn muối

    107. Chó cậy gần nhà, gà cậy cần chuồng

    108. Chó treo, mèo đậy

    109. Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ

    Ðóa hải đường thức ngủ xuân tiêu

    110. Chồng chài, vợ lưới, con câu

    Thằng rể đóng đáy, con dâu đi nò

    111. Chồng chung chồng chạ

    Ai khéo hầu hạ thì được chồng riêng

    112. Chồng chung, vợ chạ

    113. Chồng em áo rách em thương

    Chồng người áo gấm, xông hương mặc người

    114. Chồng em vốn kẻ đa tình

    Già không bỏ, nhỏ không tha

    Xấu như ma hắn cũng hú hí

    Xấu như quỉ hắn cũng ăn nằm

    115. Chồng già vợ trẻ là duyên

    Vợ già, chồng trẻ là tiên ba đời

    116. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già, chồng trẻ là duyên trên đời

    117. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già chồng trẻ là duyên nợ trần

    118. Chồng giận thì vợ làm lành

    Miệng cười chúm chím: Thưa anh giận gì?

    Thưa anh, anh giận em chi

    Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho

    119. Chồng nóng thì vợ bớt lời

    Cơm sôi bớt lửa chẳng rơi hột nào

    120. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa

    121. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Như đôi đũa lệch so sao cho bằng

    122. Chơi hoa cho biết mùi hoa

    Cầm cân cho biết cân già, cân non

    123. Chuối non giú ép, chát ngầm

    Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm

    124. Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

    Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm

    125. Chuồn chuồn có cánh thì bay

    Có thằng bé tí thò tay bắt mày

    126. Chuột kêu chút chít trong rương

    Em đi cho kheó đụng giường mẹ hay

    127. Chuột sa chĩnh gạo

    128. Chuyện đời chẳng ít thì nhiều

    Không dưng, ai dễ đặt điều cho ai

    129. Chuyện đời, vợ vợ chồng chồng

    Thương nhau cũng vội, dứt lòng cũng mau

    130. Chuyện người mặc kệ người lo

    Hơi đâu đáy nước, mình mò bóng trăng

    131. Chữ trinh đáng giá ngàn vàng

    Từ anh chồng cũ đến chàng là năm

    Còn như yêu vụng nhớ thầm

    Họp chợ trên bụng hàng trăm sá gì

    132. Chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng

    133. Chưa học bò, đã lo học chạy

    134. Chưa làm giàu, đã lo ăn cướp

    135. Chừng nào đá nổi rong chìm

    Muối chua, chanh mặn anh tìm được em

    136. Chửa đui, chửa què, đừng khoe rằng tốt

    137. Có bột mới gột nên hồ

    138. Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo

    Có đứa nào xạo bằng thằng út Gò Công

    139. Có cây mới có dây leo

    Có cột có kèo, mới có đòn tay

    140. Có công mài sắt, có ngày nên kim

    141. Có cha, có mẹ thì hơn

    Không cha, không mẹ như đờn đứt dây

    142. Có chí làm quan, có gan làm giàu

    143. Có chí thì nên

    144. Có chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ

    Ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh

    Có chồng say như trong chay ngoài hội

    Ngó vô nhà như hội tầm vu

    145. Có chồng nghiền như ông tiên nho nhỏ

    Thắp ngọn đèn sáng tỏ như sao

    Tay cầm tiêm như phò mã múa đao

    Chân vắt chéo như Khổng Minh xem sách

    146. Có chồng mà chẳng có con

    Khác gì hoa nở trên non một mình

    147. Có chum cá mới ở đìa

    Có em anh mới sớm khuya chốn này

    148. Có con mà gả chồng gần

    Nửa đêm đốt đuốc đem phần cho cha

    Có con mà gả chồng xa

    Ba phần ruộng rẻo chẳng ma nào cày

    149. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng

    150. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay

    151. Có công mài sắt có ngày nên kim

    152. Có của thì có mẹ nàng

    Có bạc có vàng thì có kẻ ưa

    Chị là con gái nhà giầu

    Ăn mặc tốt đẹp vào chầu tòa sen

    Em là con gái nhà hèn

    Ăn mặc rách rưới mon men ngoài hè

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cà Mau Xưa Qua Các Câu Thơ & Ca Dao
  • Thành Ngữ Và Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ A, Chữ Ă, Â ?
  • Lịch Sử Khai Phá Bình Dương Qua Dân Ca, Thơ Ca Dân Gian Làng Tương Bình Hiệp
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Hò Vè Bình Định
  • Tiếng Trung Nghiêm Thùy Trang
  • Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Những Câu Danh Ngôn Bất Hủ
  • {Đọc} Stt Hay Về Sự Thay Đổi Bản Thân Giúp Mình Cố Gắng Nhiều Hơn
  • Stt Hay Về Tình Yêu Buồn Bằng Tiếng Anh Trên Facebook
  • Những Câu Stt Hay Bằng Tiếng Trung Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Từ Ngữ Địa Phương
  • 10:36:14 AM, Sep 07, 2022 * Số lần xem: 854101

    * Cập nhật

    * đăng lúc 11:22:41 AM, Jan 26, 2009 Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam Ca dao là gì?

    Trước hết là Ca dao, là những câu thơ ca dân gian Việt Nam. Được truyền miệng dưới dạng những câu hát không thể một điệu nhất định. Và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc.

    Và đặc biệt hơn đó chính là ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao được hiểu ý nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ ông cha ta để lại.

    Tục ngữ là gì?

    Khác với ca dao, thì tục ngữ lại thể hiện những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian. Về mọi mặt trong cuộc sống như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn…

    Với ý nghĩa ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh thường gieo vần lưng. Và đây cũng là một thể loại văn học dân gian Việt Nam. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn của con người. Trong đó gữa hình thức và nội dung, tục ngữ có một sự gắn bó chặt chẽ. Thông thường trong một câu tục ngữ có 2 nghĩa: nghĩa đen nghĩa bóng.

    Khác với ca dao, tục ngữ thường có vần, gồm 2 loại chính là: vần liềnvần cách.

    Ca Dao Tục Ngữ Phần II từ H tới L Ca Dao Tục Ngữ Phần III từ M tới Y :: ::

    Xin bấm vào các links sau đây để đọc tiếp :

    1. Ai ai cũng tưởng bậu hiền

    A

    Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai

    2. Ai đem con sáo sang song

    Để cho con sáo sổ lồng bay cao

    3. Ai đi bờ đắp một mình

    Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân

    4. Ai đi đâu đấy hỡi ai

    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

    Ai đi muôn dặm non song

    Để ai chứa chất sầu đong vời đầy

    5. Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa

    Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào

    Ai đi sục sịch ngoài hàng rào

    Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa

    6. Ai kêu là rạch, em gọi là song

    Phù sa theo nước chảy mênh mông

    Sông ơi, thấm mát đời con gái

    Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng

    7. Ai làm cho bướm lìa hoa

    Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng

    8. Ai làm Nam Bắc phân kỳ

    Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương

    9. Ai mà nói dối cùng ai

    Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng

    Ai mà nói dối cùng chồng

    Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao

    10. Ai nhứt thì tôi đứng nhì

    Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba

    11. Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

    12. Ai ơi chơi lấy kẻo già

    Măng mọc có lứa người ta có thì

    Chơi xuân kẻo hết xuân đi

    Cái già sòng sọc nó thì theo sau

    Phần I từ A tới G

    100. Áo anh đứt chỉ đường tà

    Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

    B

    Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừBuồn về một nỗi tháng tưCon mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ănBuồn về một nỗi tháng nămChửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêuLựu xa đào, lựu xéo đào xiênVàng cầm trên tay rớt xuống không phiềnChỉ phiền một nỗi nợ với duyên không trònChờ con bạn ngọc thở than đôi lờianh hai vật đổi sao dờiTính sao nàng tính trọn đời thủy chungCanh ba cờ phất trống rungMặc ai ai thẳng ai dùn mặc aiCanh tư hạc đậu cành maiSương sa lác đác khói bay mịt mờCanh chầy tơ tưởng tưởng tơChiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu khôngAi làm lỡ chuyến đò ngangCho loan với phượng đôi hàng biệt ly

    C

    78. Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm

    Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu

    80. Bực mình chẳng muốn nói ra

    Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời

    79. Bước xuống ruộng sâu, em mảng sầu tấc dạ

    75. Bươm bướm mà đậu cành bong

    Đã dê con chị, lại bồng con em

    76. Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng

    Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai

    77. Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng

    73. Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt

    Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon

    74. Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo

    Tay em ôm bó mạ, luỵ ứa hai hàng

    C

    Đi buôn cau héo có buồn hay không

    43. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    VẦN D VẦN Đ

    Đánh bạc quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn vặt quen mồm

    Đánh chết, mà nết không chừa

    Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

    Đàn bà nói có là không

    Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

    Đàn bà tốt tóc thì sang

    Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Đàn kêu tích tịch tình tang

    Ai đem công chúa lên thang mà về

    Đàn ông đi biển có đôi

    Đàn bà đi biển mồ côi một mình

    Đàn ông không râu vô nghì

    Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

    Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ

    Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu

    Rút gươm đâm họng máu trào

    Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

    Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt

    Lửa nhà máy hết cháy thành than

    Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn

    Kể từ khi em biết được chàng

    Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

    Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

    Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang

    Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc

    Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

    Đèn treo ngang quán

    Tỏ rạng bờ kinh

    Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình

    Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

    Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn

    Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

    Đêm khuya ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Đêm khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

    Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng

    Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

    Đêm khuya trăng dọi lầu son

    Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng

    Bển qua đây đàng đã xa đàng

    Dầu tui có lâm nguy thất thế

    Hỏi con bạn vàng nó cứu không?

    Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông

    Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

    Đêm nằm tàu chuối có đôi

    Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

    Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng

    Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài

    Bây giờ chàng đã nghe ai

    Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung

    Bây giờ sự đã nhạt nhùn

    Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua

    Cá lên mặt nước, cá khô

    Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

    Đêm qua nguyệt lặn về Tây

    Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài

    Trúc với mai, mai về trúc nhớ

    Trúc trở về, mai nhớ trúc không

    Bây giờ kẻ Bắc, người Đông

    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

    Đêm thanh cảnh vắng

    Thức trắng năm canh

    Một duyên, hai nợ, ba tình

    Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

    Đến đây đất nước lạ lùng

    Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

    Đến ta mới biết của ta

    Trăm nghìn năm trước biết là của ai

    Đề huề chồng vợ

    Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang

    Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

    Đi chùa lạy Phật cầu chồng

    Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

    Đi đâu cho thiếp theo cùng

    Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

    Đi đâu mà vội mà vàng

    Mà vấp phải đá mà quàng phải dây

    Thủng thỉnh như chúng anh đây

    Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

    Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Đi qua nhà nhỏ

    Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng

    Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

    Đó đây trước lạ sau quen

    Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

    Đói lòng ăn đọt chà là

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

    Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    Đói lòng ăn nửa trái sim

    Uống lưng bát nước đi tìm người thương

    Đói lòng nuốt trái khổ qua

    Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

    Đôi ta chẳng được sum vầy

    Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương

    Vì sương nên núi bạc đầu

    Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

    Đôi ta đã trót lời thề

    Con dao lá trúc đã kề tóc mai

    Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

    Đôi ta như loan với phượng

    Nỡ lòng nào để phượng lià cây

    Muốn cho có đó, có đây

    Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi

    Thà rằng chẳng biết thì thôi

    Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

    Đôi ta như thể con tằm

    Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong

    Đôi ta như thể con ong

    Con quấn con quít, con trong con ngoài

    Đôi ta như thể con bài

    Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

    Đố ai biết luá mấy cây

    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

    Đố ai quét sạch lá rừng

    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

    Rung cây, rung cỗi, rung cành

    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

    Đố ai lặn xuống vực sâu

    Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

    Đố anh con rít mấy chưn

    Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người

    Mấy người bán áo con trai

    Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

    Đốt than nướng cá cho vàng

    Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

    Muốn ăn bôn súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đồng tiền Vạn lịch

    Thích bốn chữ vàng

    Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu

    Bây giờ cô lấy chồng đâủ

    Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

    Đổ lửa than nên vàng lộn trấu

    Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

    Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ

    Anh gặp em đây không cửa không nhà

    Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

    Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

    Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    Đờn cò lên trục kêu vang

    Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng

    Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng

    Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương

    Chiều nay qua phản bạn hồi hương

    Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào

    Ghe tui tới chỗ cắm sào

    Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

    Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá

    Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm

    Anh thấy em tốt mã anh lầm

    Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

    Đưa nhau đổ chén rượu hồng

    Mai sau em có theo chồng đất xa

    Qua đò gõ nhịp chèo ca

    Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

    Đường trơn trợt gượng đi kẻo té

    Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng

    Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi

    Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

    Đứt tay một chút còn đau

    Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

    Đ Đất lành chim đậu.

    E

    VẦN E

    Em có chồng sao em không nói?

    Để anh theo anh chọc em hoài

    Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay!

    Em đeo chiếc kim hườn

    Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến

    Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!

    Em liều một cái bánh bò

    Còn nào chót chét, cặp giò em chặt hai

    Em liều một chén dầu chanh

    Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền

    Em liều một trái sầu giêng

    Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro

    Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi

    Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?

    Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác

    Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?

    Em ơi, anh bảo em này

    Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi

    Em ơi, em có thương anh

    Em ra canh lính cho anh leo tường!

    Em ơi em ở lại nhà

    Vườn dâu em hái mẹ già em thương

    Mẹ già một nắng hai sương

    Chị đi một bước trăm đường xót xa

    Cậy em em ở lại nhà

    Em thấy anh em cũng muốn chào

    Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông

    Em chấy anh em cũng muốn chào

    Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình

    Dao trong mình, gươm anh cặp nách

    Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi

    Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu

    Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi

    Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi

    Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra

    Em về hỏi mẹ cùng cha

    Có cho em lấy chồng xa hay đừng

    Én bay thấp, mưa ngập bờ ao

    Én bay cao, mưa rào lại tạnh

    Em nghe tiếng hát đâu xa

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ê

    Êm như ru

    Ếch ngồi đáy giếng

    VẦN G

    Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng

    Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua

    Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng

    Trai bạc tình một cẳng về quê

    Gái lấy trai đứng là gái dại

    Trai lấy rồi trai lại bán rao

    Gái đâu có thứ hỗn hào

    Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu

    Gà đẻ, gà cục tác

    Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

    Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

    Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi

    Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi

    Saigon vui lắm em ơi

    Lấy chồng về đó một đời sướng thân

    Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất

    Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ

    Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông

    Gẫm xem sự thế nực cười

    Một con cá lội mấy người buông câu

    Gần mực thì đen gần đèn thì sáng

    Gập ghềnh nước chảy qua đèo

    Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng

    Ghe anh đỏ mũi xanh lườn

    Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em

    Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo

    Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em

    Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ

    Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn

    Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời

    Mật đường dù chẳng đi đôi

    Chút hương rớt lại, một đời chưa quên

    Ghe lên ghe xuống dầm dề

    Sao anh không gởi thơ về thăm em?

    Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ

    Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi

    Già thì đặc bí bì bì

    Con gái đương thì rỗng toác toàng toang

    Ngoài xanh trong trắng như ngà

    Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu

    (Đố là gì? – cau dầy)

    Giàu cha giàu mẹ thì ham

    Giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn

    Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa

    Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

    Giàu từ trong trứng giàu ra

    Giàu út ăn, khó út chịu

    Giả đò mua khế bán chanh

    Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn

    Giặc Tây đánh tới Cần Giờ

    Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công

    Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh

    Giấy hồng đơn bán mấy

    Cho anh mua lấy một tờ

    Viết thơ quốc ngữ

    Dán trên trái bưởi

    Thả xuống giang hà

    Bớ cô gánh nước bên bờ

    Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ

    Giận chồng xách gói ra đi

    Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về

    Gieo gió gặp bão

    **************************************

    Toàn bộ từ vần A đến Y

    -B-

    -C-

    Ca Li đi dễ khó về

    Câu nguyên gốc là..nói về những người đi trồng cao su

    Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng, khi về bủng beo

    ================================================== =======

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    ================================================== ========

    Chân cứng đá mềm

    ================================================== ========

    Có chí thì nên

    ================================================== ========

    Cô kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi kéo lại hỏi nhà ở đâu ?

    Nhà tôi ở trước đám dâu

    Ở sau đám cải đầu cầu ngó qua

    Cái câu này còn có khác hơn một tí đó là..

    Đ-

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ếch ngồi đáy giếng

    ================================================== ========

    -G-

    -H-

    -I-

    ================================================== ========

    -K-

    -L-

    -M-

    -N-

    Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ

    ================================================== ========

    Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

    ================================================== ========

    Nhất quỷ nhì ma

    Thứ ba học trò …. )

    ================================================== ========

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    ================================================== ========

    No bụng đói con mắt

    ================================================== ========

    -O-

    Ở đâu cũng có anh hùng

    Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên

    ================================================== ========

    Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

    ================================================== ========

    Ớt nào là ớt chẳng cay,

    Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

    Vôi nào là vôi chẳng nồng

    Gái nào là gái có chồng chẳng ghen !

    ================================================== ========

    Ở hiền gặp lành

    ================================================== ========

    -Q-

    Quả cau nho nhỏ

    Cái vỏ vân vân

    Nay anh học gần

    Mai anh học xa

    Tiền, gạo là của mẹ cha

    Bút nghiên, kinh sách thì là của anh

    Lấy chàng từ thuở mười ba

    Đến năm mười tám thiếp đà năm con

    Ra đường thiếp hãy còn son

    Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng

    ================================================== ========

    -R-

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    ================================================== ========

    -S-

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người

    ================================================== ========

    Sá gì một nải chuối xanh

    Năm bảy người giành cho mủ dính tay

    ================================================== ========

    -T-

    -U-

    ================================================== ========

    -V-

    Vì sông nên phải lụy thuyền

    Chứ như đường liền ai phải lụy ai

    ================================================== ========

    Vải thưa che mắt thánh

    ================================================== ========

    -X-

    ========

    -Y-

    Yêu nhau cởi áo cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

    ========

    Yêu nhau thì ném miếng trầu

    Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra

    Yêu nhau cau bổ làm ba

    Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười

    Xem Thêm Cập nhật 2022:

      Mèo khen mèo dài đuôi.

      N Năm nắng mười mưa

    --- Bài cũ hơn ---

  • 500 Stt Buồn: Hay, Cảm Xúc, Tâm Trạng, Chất Và Độc Đáo Nhất 2022
  • Chia Sẻ Những Stt Hay Về Tình Bạn Trên Facebook Độc Đáo Nhất
  • Tổng Hợp Những Lời Chúc Buổi Tối Ngọt Ngào Nhất
  • Những Lời Chúc Buổi Sáng Ngọt Ngào, Ý Nghĩa Nhất
  • Con Gái Ế Thì Đã Sao?
  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Về Chữ Ăn
  • Ẩm Thực Xa Xưa Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Ca Dao
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Hay Nhất
  • 2. Ca dao và dân ca:

    Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta

    tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta

    thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Có thể nói, ranh giới giữ ca dao và

    dân ca không rõ.

    Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu. Còn dùng một bài ca dao để hát, thì bài

    ca dao sẽ biến thành dân ca. Vì hát yêu cầu phải có khúc điệu, và như vậy phải có thêm tiếng đệm.

    Vậy có thể nói, ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác

    và có thể xây dựng thành các điệu ca dao.

    Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định,

    nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nó là nhạc do tiếng của con người đưa ra từ cổ họng.

    Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn

    cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương,

    còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể nào,

    thì nó vẫn đươc phổ biến rộng rãi

    “Đồng đăng có phố Kỳ Lừa

    Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

    Hay:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga.

    Còn dân ca thì nhiều khi chỉ có dân địa phương mới biết, và mới hát được..

    Nội dung của dân ca cũng nhue nội dung của ca dao, chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện

    cái nội tâm của tác giả trước ngoại cảnh.

    Cũng như tục ngữ, ca dao – dân ca là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể,

    được lưu truyền bằng miệng và / được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Trong tất cả

    những tính chất chung của văn học dân gian (trong đó có tục ngữ – ca dao – dân ca) :

    tính nhân dân, tính hiện thực, tính lãng mãn, tính phổ biến, tính khuyết danh,

    tính truyền miệng, tính tập thể ….thì tính tập thể là tính chất cơ bản nhất

    B. Thời kỳ xuất hiện:

    So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ tưởng như mới hơn. Nhưng theo kết quả nghiên cứu, tục ngữ, ca dao cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Trong quá trình lao động, xuất hiện những câu hò, kiểu như “Dô ta”, như vậy ca hát đã có từ rất sớm, nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ, và được sửa đổi qua các thế hệ của loài người.

    Xét nội dung những câu ” Năm cha, ba mẹ“, hay ” Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông“, ” Con dại, cái mang”, “con mống, sống mang“.. ta có thể biết được thời điểm xuất hiện câu đó, đólà thời kỳ tạp giao, hay tình trạng chồng chung vợ chạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ, rồi đến Phụ hệ…

    Ca dao, tục ngữ cũng mang ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền và phản ánh đời sống kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ.

    C. Nội dung và hình thức của tục ngữ – ca dao – dân ca:

    1. Nội dung của tục ngữ:

    Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý trí nhiều hơn là do xúc cảm. tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bén, rút ở cuộc đời. Ở tục ngữ, tính chất phản phong là mạnh hơn cả.

    Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người.

    VD:

    Quá mù ra mưa

    Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa

    Vỏ quýt dày có móng tay nhọn

    Cái sảy nảy cái ung

    Cõng rắn cắn gà nhà

    2. Hình thức của tục ngữ:

    Tục ngữ ban đầu chỉ là những câu nói xuôi ta, hợp lý, sau dần mới trở thành những câu đối có vần vè, gọn gàng hơn

    Làm phúc phải tội

    Gà què ăn quẩn cối xay

    Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận

    Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm

    Tục ngữ không nhất thiết, nhưng phần lớn đều có vần vè, hay có đối

    No nên bụt, đói nên ma

    Bút sa, gà chết

    Có tật giật mình

    Còn có những câu vần cách, cách hai chữ, ba chữ

    May tay hơn hay thuốc

    Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão

    Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm

    Hoặc thể lục bát

    Cá tươi thì xem lấy mang

    Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai

    Tóm lại xét về sự phong phú cả về mặt nội dung cũng như hình thức, ta có thể thấy tục ngữ đã phát triển trước ca da rất nhiều. Còn nữa, ca dao thiên về tình cảm, biểu lộ tính tình của con người…nên chỉ có thể phát triển khi mà đời sống xã hội đã phức tạp.

    3. Nội dung của ca dao:

    Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắ m thiết và sâu sắc đến cỡ nào…thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được.

    Ca dao Việt nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta.

    Ca dao thể hiện tình yêu: tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên, hoà bình…

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    Gió đưa cành trúc la đà

    Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương

    Tuyệt mù khói toả ngàn sương

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…

    Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên, với xã hội.

    Có thể nói nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình. Tìm hiểu được cái tình trong ca dao chúng ta sẽ thấy được tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa chứa đựng trong ca dao.

    4. Hình thức nghệ thuật của ca dao:

    Ca dao thường là những bài ngắn, hai, bốn, sáu, hoặc tám câu., âm điệu lưu loát và phong phú.

    Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị, và tươi tắn. Nghe có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Có thể nói về mặt tả cảnh , tả tình không có một hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao.

    Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt, nhưng cũng có khi để nói về những cái xấu, nhưng không nói thẳng. Nhờ phương pháp hình tượng hoá, nên lời của ca dao tuy giản dị, mà rất hàm súc.

    Người con gái không được chủ động trong việc hôn nhân, đã ví mình như hạt mưa:

    Thân em như hạt mưa rào

    Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

    Hay để tả một tình yêu trong trắng mới chớm nở của đôi lứa, ca dao noi:

    Đôi ta như lửa mới nhen

    Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

    Đến như tả hạng người ngu đần, ca dao cũng đã đưa ra những hình ảnh táo bạo:

    Mặt nạc đóm dày

    Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn Cơm trắng ăn với chả chim

    Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no

    Trên trời có đám mây vàng

    Bên sông nước chảy có nàng quay tơ

    Nàng buồn nàng bỏ quay tơ

    Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành

    MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA NGHỆ TĨNH

    Tiếng giặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào một chỗ thiếu….xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba , bốn trăm năm.

    Về nội dung, có nhiều bài hát giặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến.

    Về hình thức, phần nhiều các bài hát dặm đều gồm những câu năm chữ và cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lại lấy một ý, điệp cả về ý, lẫn lời:

    vd:

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    hay:

    Thấy những lời kêu trách

    Nghe những lời kêu trách

    Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát, nólàm nổi ý của câu hát, của cả bài.

    Hát giặm cũng có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung, và hình thức đều được trau chuốt.

    Hát giặm Nghệ Tĩnh không hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được nhân dân ưa thích và phổ biến rộng rãi

    VD:

    Trai:

    Tiết thanh nhàn thong thả

    Muốn thăm hỏi vài câu

    Cuốc thánh thót kêu sầu

    Gió phảng phất mùa sâu

    Nhớ trong sách đã lâu:

    Chuyện “Tư mã phượng cầu”

    Thương thì mũi tìm trâu

    Trâu đâu tìm chạc mũi

    Gái:

    Trời mở rộng phong quang

    Giã ơn trời mở rộng phong quang

    Em đánh tiếng đua sang

    Đêm tàn canh vò võ

    Tay em cầm con bấc đỏ

    Mong bỏ đĩa dầu đầy

    Mời bạn ở lại đây

    Đôi ta giở lời rày

    Tình đó với nghĩa đây

    Trai:

    Giống như đọi nác đầy

    Bưng nhẩn nhẩn trên tay

    Không khuy sơ một hột

    Gió nỏ triềng một hột

    Công đôi ta thề thốt

    Kể đã mấy niên rồi

    Lòng đã quyết lứa đôi

    Ngãi đã quyết thề bồi

    Nhất ngôn nói hẳn lời

    Đừng bốn chốn ba nơi

    Đừng trăn gió chào mời

    Trăng nhiều trăng rạng rỡ

    Trăn nhiều đèn rạng rỡ

    Gái:

    Em đã có chồng rồi

    Em đã có lứa rồi

    Vung úp đã vừa nồi

    Đũa ghép đã thành đôi

    Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    Trai:

    Têm một quả trầu không

    Bỏ vô hộp con rồng

    Đi băng nội băng đồng

    Qua năm bảy khúc sông

    Qua chín mười đỗi đồng

    Nghe tin em đã có chồng

    Anh quăng lắc vô bụi

    Bạn gạt tùa vô bụi.

    Anh thương em một tháng hai kỳ

    Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày

    Năm rộn mà chầy

    Có hai mươi bốn miện (Miện = kỳ)

    Xuân qua rồi hè /đến

    Thu đã muộn, đông rồi

    Nhớ bạn cũ chưa nguôi,

    Sang lập xuân vũ thuỷ

    Đêm em nằm em nghĩ

    Nghĩ kinh trập, xuân phân,

    Lòng tưởng sự ái ân

    Sang thanh minh, cốc vũ

    Đêm dêm nằm nỏ ngủ

    Nhớ bạn mãi thường thường

    Tiết lập hạ nhớ thương

    Bước sang tuần tiểu mãn

    Trông ra ngoài chán chán

    Tiết mang hiện lại gần

    Người đập đất, gánh phân

    Để mùa màng gặt hái

    Anh thương em mãi mãi

    Sang hạ chí tiết hè

    Em nghe tiếng sầu ve

    Em buồn trong gia sự

    Bạn buồn trong gia sự

    ***

    Tiết tiểu thử, đại thử

    Trời nắng sốt lắm thay!

    Ra ngồi tựa cột cây

    Anh với em than thở

    Bạn với mình than thở

    ***

    Tiết lập thu, xử thử

    Ai diều sáo mặc ai

    Vàng lác đác giếng tây

    Ta thương người bạn cộ (Cộ = cũ)

    Nhớ mãi người bạn cộ

    ***

    Vừa đến tiết bạch lộ

    Bầy chim trắng bay sang

    Cây heo hắt lá vàng

    Sang thu phân hàn lộ.

    ***

    Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy)

    Tiết sương giáng lại kề

    Trông bạn cũ ta về

    Sang lập đông giá rét

    Tiết tiểu tuyết, đại tuyết

    Trời giá rét lắm thay

    Sang đông chí cấy cày

    Dạ bồi hồi nhớ bạn

    Tiết tiểu hàn chưa dạn

    Đã bước sang đại hàn

    Dạ tưởng nhớ người ngoan

    Vừa năm cùng tháng tận

    Vừa cuối mùa cuối tận.

    ***

    Phận lại ngồi trách phận

    Phận nỏ giám trách phận

    Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp

    6. Hát ví Nghệ Tĩnh:

    Hát Ví Nghệ Tĩnh là những loại dân ca xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Có nhiều điệu hát ví như: hát phường vải, hát phường cấy, hát đò đưa, hát phường buôn…. Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả.

    1. Hát phường vải:Giai đoạn 1:

    Những câu hát phường vải là những câu biểu lộ tâm tình của hai bên trai gái, hoặc là những ước mơ về yêu đương, hoặc là những lời oán trách kẻ chia rẽ tình duyên, và bao giờ cũng lạc quan, tin tưởng.

    Hat phường vải gồm có bốn giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: hát dạo, hát mừng, hát chào và hát hỏi. Giai đoạn thứ hai: hát đố và hát đối. Giai đoạn thứ ba: hát mời và hát xe kết. Giai đoạn thứ tư: hát tiễn.

    Hát dạo

    Bấy lâu thức nhắp mơ màng

    Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng

    *

    Bấy lâu nghe hết tiếng nàng

    Bên anh nức tiếng đồn vang đã lừng

    Nghe tin anh cũng vội mừng

    Vậy nên chẳng quản suối rừng anh sang

    *

    Bấy lâu anh mức chi nhà

    Để em dệt gấm thêu hoa thêm sầu

    *

    Đồn rằng cá uốn thân vây

    Đồn em hay hát, hát hay anh tìm

    *

    Chốn này vui vẻ, tưng bừng

    Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới nơi

    *

    Đêm khuya trời tạnh sương im

    Tai nghe tiếng nhạc, chàng Kim tới gần.

    *

    Dừng xa, khoan kéo, ơi phường!

    Hình như có khách viễn phương tới nhà

    *

    Đi qua nghe tiếng em reo,

    Nghe xa em kéo, muốn đeo em về.

    *

    Đi ngang trước cửa nàng Kiều,

    Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu

    *

    Đi ngang thấy búp hoa đa`o

    Muốn vào mà bẻ, sợ bờ rào lắm gai

    *

    Đồn đây là chốn Đao` Nguyên

    Trăng thanh gió mát, cắm thuyền dạo chơi

    *

    Lạ lùng anh mới tới đây,

    Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng

    *

    Đến đây vàng cũng như son

    Ai ai thời cũng như con một nhà

    Khi nháy mắt, khi nhện sa

    Khi chuột rích trong nhà

    Khi khách kêu ngoài ngõ

    Tay em đưa go đủng đỉnh

    Tay em chìa khoá động đào

    Bước năm lần cửa, ra chào bạn quen

    *

    Mừng rằng bạn đến chơi nhà

    Cam lòng thục nữ gọi là trao tay

    Hát hỏi

    Em có chồng rồi, em nói rằng chưa

    Tội riêng em đó, nỏ lừa được anh

    *

    Em chưa có chồng, em mới đến đây

    Chồng rồi chiếu trải, màn vây ở nhà Anh về chẻ lạt bó tro

    Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.

    Em về đục núi lòn qua,

    Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng

    *

    Trai thanh xuân ngồi hàng thuốc bắc,

    Gái đông sàng cảm bệnh lầu tây

    Hai ta tình nặng nghĩa dày,

    Đối ra đáp được, lúc này tính sao?

    *

    – Đến đây hỏi khác tương phùng

    Chim chi một cánh bay cùng nước non?

    -Tương phùng nhắn với tương tri,

    Lá buồm một cánh bay đi khắp trời

    *

    – Lá gì không nhánh, không ngành?

    Lá gì chỉ có tay mình trao tay?

    – Lá thư không nhánh, không ngành,

    Lá thư chỉ có tay mình trao tay.

    *

    – Nghe tin anh hoc có tài

    Cha thầy Mạnh Tử là ai rứa chàng?

    – Thầy Mạnh, cụ Mạnh sinh ra

    Đù mẹ con hát, tổ cha thằng bày!

    *

    – Người Kim Mã cưỡi co ngựa vàng

    Đất Phù Long rồng nổi, thì chàng đối chi?

    – Người Thanh Thuỷ gặp khách nước trong

    Hoành sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa?

    *

    Nghe anh bôn tẩu bấy lâu

    Nghệ An có mấy chiếc cầu hỡi anh?

    – Nghệ An có ba mươi sáu chiếc cầu

    Phồn hoa đi lại bốn cầu mà thôi

    Cầu danh, cầu lợi, cầu tài

    Cầu cho đây đó làm hai giao hoà

    *

    Nhớ em nhất nhật một ngày

    Đêm tơ tưởng dạ, làng rày nhớ trông

    – Chờ em nửa tháng ni rồi

    Ôm đờn bán nguyệt, dựa ngồi cung trăng

    *

    – Nghe tin anh giỏi, anh tài

    Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?

    – Thiên thai là của nàng Kiều

    Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra

    Lê Thị Thu Hoài @ 12:57 03/03/2012

    Số lượt xem: 21143

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Cuộc Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương Đất Nước ❤️ Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Kháng Chiến Hào Hùng Của Dân Tộc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em Hay Nhất ❤️ 1001 Câu
  • Ca Dao, Tục Ngữ Chế Về Tình Yêu ( Vào Đọc Ngay Nào)
  • Ca Dao Tục Ngữ Thành Ngữ Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Lòng Người Ý Nghĩa, Sâu Sắc!
  • Lời Chúc Sinh Nhật Ngọt Ngào Không Thể Bỏ Qua Gửi Tới Người Thân Yêu
  • Stt Chúc Người Yêu Cũ Hạnh Phúc Bên Người Mới
  • Lời Phật Dạy Về Nghệ Thuật Giữ Gìn Sắc Đẹp
  • Stt Ngày Cuối Tuần Đầy Cô Đơn Và Ảm Đạm
  • Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…

    CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM

    Ca dao là những câu thơ có thể hát thành những làn điệu dân ca, ru con… hoặc ca dao là lời dân ca đã lược bỏ đi những luyến láy khi hát. Ca dao để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ, ngoài ra còn có những nội dung khác của ca dao: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp khác trong xã hội…

    Tục ngữ là những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian về mọi mặt như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn. Nó ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh. Đây là một thể loại văn học dân gian.

    Ca dao, tục ngữ, dân ca truyền miệng của Việt Nam, có sắc thái độc đáo, khó sánh được. Câu 6, câu 8, có vần, có điệu, ý nghĩa và tinh tế và vô danh chẳng biết tác giả là ai. Thuộc giới bình dân hay trí thức, nông dân hay thầy giáo” ? Chỉ biết riêng ca dao mênh mông kỳ thú, phản ánh nếp sống, lối suy nghĩ của dân tộc Việt trải qua 4000 năm văn hiến. Một dân tộc văn minh, nhiều nghị lực, dũng cảm, đầy thi vị.

    Ca dao tục ngữ là một hành trình tìm về cội nguồn của nước Việt Nam mến yêu. Đọc ca dao để thấy khí thiêng sông núi Việt, đọc ca dao để thấy tinh thần hiện hữu, bản sắc dân tộc của dân tộc Việt. Thấy ra ý thức dân tộc và sức mạnh tinh thần của người Việt, thấy cái tinh thần kháng chiến quật cường của người Việt, nhất định không chịu đồng hoá.

    Ca dao tục ngữ là niềm tự hào to lớn của dân tộc Việt Nam. Không phải dân tộc nào cũng có được văn chương và thi sĩ tính như thế. Non nước Việt Nam đẹp nghìn thu, vô song. Người nước Việt cũng khác thường. Trải qua nhiều thời đại, kho tàng văn chương bình dân Việt Nam càng phong phú, súc tích với biết bao câu tục ngữ, ca dao, những câu hát điệu hò muôn hình muôn vẻ. Dân ca là ca dao đã được dân gian hát và hò qua nhiều thể điệu đặc thù của từng địa phương.

    THÀNH NGỮ

    Trong ngôn ngữ Việt có hẳn một kho thành ngữ, trong đó phải kể đến những câu, những lời bình nghị sinh động về phẩm cách con người, về đạo lý ở đời, về nhân tình thế thái. Chỉ kể những câu có bốn từ, bốn tiếng đăng đối giàu biểu cảm người ta đã có thể liệt kê ra rất nhiều. Xin viện dẫn: “Xấu người đẹp nết”, “Giấu đầu hở đuôi”, “Cười thuê khóc mướn”, “Nước chảy đá mòn”, “Giận cá chém thớt”, “Bóc ngắn cắn dài”, “Bòn tro đãi sạn”, “Chọn đá thử vàng”, “Dẻ cùi tốt mã”, “Văn mình vợ người”, “Ma chê cưới trách”, “Quýt làm cam chịu”, “Con dại cái mang”, “Chị ngã em nâng”, “Công cha nghĩa mẹ”, “Môi hở răng lạnh”…

    Ðặc điểm của loại thành ngữ này là bốn từ đều là từ đơn, đứng độc lập, có nghĩa riêng; chia thành hai cặp đối xứng nhau. Ví như câu “Xấu người đẹp nết” thì xấu, người, đẹp, nết; bốn từ đơn mang hàm nghĩa riêng, độc lập, không cần liên kết hoặc phụ thuộc vào từ khác; chia thành hai cặp đối xứng là xấu người đối với đẹp nết; đối cả ý lẫn lời; xấu đối với đẹp, người đối với nết.

    Thành ngữtục ngữ được dùng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân ta. Tuy nhiên, để hiểu đúng nghĩa một câu tục ngữ hay một thành ngữ, nhất là phân biệt đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ cũng không mấy dễ dàng với khá nhiều người. Muốn phân biệt được đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ thì phải có căn cứ, có cơ sở khoa học và tiêu chí để phân định.

    Về vấn đề này, mục “Diễn đàn nói và viết” của Tạp chí Ngôn ngữ học Việt Nam (số 8 năm 2006) đã nêu như sau: Tục ngữ là một câu nói hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý (ví dụ: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng); còn thành ngữ chỉ là một cụm từ, một thành phần câu, diễn đạt một khái niệm có hình ảnh (ví dụ: Mẹ tròn con vuông).

    Nội dung của tục ngữ thuộc về đúc rút những kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử – xã hội của nhân dân (ví dụ: Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa/ Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm). Thành ngữ lại mang tính biểu trưng, khái quát và giàu hình tượng nên thường dùng nghệ thuật tu từ ẩn dụ hoặc nghệ thuật tu từ hoán dụ. Chẳng hạn “Chân cứng đá mềm”. Chính vì vậy, thành ngữ dễ gây được ấn tượng mạnh mẽ với người nghe, người đọc, hiệu quả biểu đạt và biểu cảm rất cao nên nhân dân thường dùng xen vào lời ăn tiếng nói (ví dụ: Tôi chúc anh đi “chân cứng đá mềm”)…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngày Của Mẹ Mother’s Day 2022 Ở Việt Nam Là Ngày Nào? Quà Tặng Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Hay Về Con Gái Thời Nay Được Dân Mạng Chia Sẻ Nhiều Nhất
  • Lời Chúc Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Cho Đồng Nghiệp Hay, Ý Nghĩa Nhất 2
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Giao Thương
  • Nslide Những Câu Nói Nổi Tiếng Trong Tam Quốc
  • Tục Ngữ Ca Dao Chế, Vui

    --- Bài mới hơn ---

  • Chia Sẻ 500 Câu Ca Dao Tục Ngữ Chế Lời Phổ Biến Nhất Hiện Nay
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Bạn
  • 50 Câu Thành Ngữ, Tục Ngữ Tiếng Anh Hay Dùng Nhất
  • Tổng Hợp 100 Câu Tục Ngữ Tiếng Anh Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Hay ❤️ Thành Ngữ Gia Đình
  • Dưới trăng nâng chén tiêu sầu.

    Một câu thơ vịnh, hết hai đĩa mồi.

    Con người càng lúc càng đông.

    Thạch Sanh thì ít, Lý thông thì nhiều.

    Dạy con từ thuở còn thơ.

    Dạy vợ từ thuở nó chưa dạy mình.

    Đi xa con nhớ mẹ hiền.

    Con về thăm mẹ, lấy tiền con đi.

    Trúc xinh trúc mọc đầu đình.

    Em xinh em đứng vũng sình cũng xinh.

    Ông Tiền, ông Tiến, ông Tiên

    Trong ba ông ấy ông Tiền đẹp trai

    Khi thương anh nói anh cười.

    Hết thương anh giống như người điếc câm.

    Có con chớ gả chồng gần.

    Có bát canh cần nó cũng ăn tranh.

    Thân em như giẻ lau nhà.

    Thân anh như cái sàn nhà em lau.

    Má ơi cứ gả con xa.

    Để con còn có đô la gửi về.

    Cưới vợ thì cưới liền tay.

    Chớ để lâu ngày thành vợ người ta.

    Khôn ba năm dại một giờ.

    Biết vậy dại sớm khỏi chờ ba năm.

    Nhà cao em cũng chẳng thèm.

    Chỉ cần vàng bạc cộng thêm hột xoàn.

    Tô canh lạnh lẽo nước trong veo.

    Một miếng thịt heo bé tẻo teo.

    Bốn thằng to béo tranh nhau vớt.

    Một đứa nhanh tay hớt cái vèo.

    Thịt heo trôi nổi giờ đâu mất

    Ba thằng không được mặt như heo

    Tựa gối ôm thìa lâu chẳng được

    Thịt đâu còn nữa dưới nước lèo.

    Gọt xoài đừng để xoài chua.

    Chọn bạn đừng để bạn cua bồ mình.

    Gió đưa mây khói về trời.

    Em ưa trăng gió tơi bời lòng anh.

    Làm trai cho đáng thân trai.

    Đi đâu cũng phải bộ bài giắt lưng.

    Người ta đi cấy lấy công.

    Tôi đây đi cấy chỉ trông đền bù.

    Yêu anh không kể giàu nghèo.

    Chỉ cần anh có vài căn mặt tiền.

    Bàn tay ta làm nên tất cả.

    Có sức người, nấu nếp cũng thành xôi.

    Áo anh sứt chỉ đường tà.

    Vứt ngay làm giẻ lau nhà, khỏi mua.

    Cá không ăn muối cá ươn.

    Không có xe đẹp thôi đừng yêu em.

    Râu tôm nấu với ruột bầu.

    Chồng ăn đau bụng lầu bầu nằm rên!

    Không có em đời buồn như chó cắn.

    Có em rồi thà chó cắn còn hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Thả Thính Chế Bằng Thơ Hài ❤️ 1001 Câu Tục Ngữ
  • 775 Câu Thành Ngữ, Tục Ngữ Việt Nam Quý Giá Dạy Bạn Điều Hay, Lẽ Phải Trong Cuộc Sống
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Nhất Về Mẹ
  • Ca Dao Về Mẹ Hay ❤️ Những Câu Tục Ngữ Về Mẹ Ý Nghĩa
  • Ca Dao Việt Nam Về Tình Yêu
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100