Người Già Trong Thành Ngữ Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Phong Tục Tập Quán Việt Nam Qua Ca Dao Và Tục Ngữ , Trang Điện Tử Www.hovuvovietnam.com
  • Những Vần Thơ Về Đảng
  • Những Vần Thơ Viết Về Đảng, Bác Hồ Và Mùa Xuân
  • Hình Tượng Bác Hồ Trong Ca Dao Việt Nam
  • Thắm Nghĩa Đồng Bào Trong Cuộc Chiến Chống Dịch Covid
  • (Ngày ngày viết chữ) Bài viết này nói về những quan niệm của người Việt đối với người già, tuổi già thể hiện qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao.

    Già là túi khôn, là vốn quý

    Người già có nhiều kinh nghiệm, họ trải qua nhiều nỗi thăng trầm, nhìn thấu mọi lẽ thường lẫn bất thường của xã hội:

    Bà già đeo bị hạt tiêu,

    Sống bao nhiêu tuổi nhiều điều đắng cay.

    Cho nên, từ lâu, người Việt đã xem người già là túi khôn, là vốn quý. Thành ngữ “Kẻ cắp gặp bà già” chính là để nói sự lõi đời của người cao tuổi. Người Việt thường cảm thán (xen chút ngưỡng mộ) rằng “Gừng càng già càng cay” và không quên dặn “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”.

    Nói về mối quan hệ giữa người trẻ với người già, người Việt còn có câu “Khôn đâu tới trẻ, khỏe đâu tới già”, để thấy rằng trẻ và già nên nương tựa nhau, bổ sung cho nhau. Một gia đình có già có trẻ, người trẻ được bảo ban, người già được chăm sóc, đó chính là phúc. Cho nên người Việt xưa rất thích những gia đình tam đại đồng đường, tứ đại đồng đường. Sự tháo vát của người già còn thể hiện ở câu “Một mẹ già bằng ba con ở”.

    Lại nói, dù dân gian có nhiều câu nói thể hiện chuyện cha mẹ già khó khăn, làm duyên con bẽ bàng, nhưng đồng thời cũng có những câu như:

    Canh suông  khéo nấu thì ngon,

    Mẹ già khéo nói  thì con đắt chồng.

    để biểu đạt vai trò quan trọng của bậc sinh thành khi vun vén duyên con.

     

    Hiếu đễ với người già

    Nhìn chung, người Việt kính trọng người già. Câu tục ngữ “Yêu trẻ trẻ đến nhà, kính già già để tuổi cho” hầu như không người Việt nào không biết. Trong gia đình, chuyện hiếu kính với cha mẹ cực kỳ quan trọng. Và những câu ca dao nhắc nhau hiếu thuận với cha mẹ già thực sự rất nhiều.

    Mẹ già hai đứa nuôi chung,

    Đứa lo cơm cháo, đứa giùm thuốc thang.

    Mẹ già đầu bạc như tơ,

    Lưng đau con đỡ, mắt lờ con nuôi.

    Đèo mô cao bằng đèo Cây Cốc?

    Dốc mô ngược bằng dốc Mỹ Cang?

    Một tiếng anh than hai hàng lệ nhỏ,

    Em có mẹ già biết bỏ cho ai.

    Mẹ già như chuối ba hương,

    Như xôi nếp mật, như đường mía lau.

    Đường mía lau càng lâu càng ngát,

    Xôi nếp mật ngào ngạt hương say.

    Ba hương lây lất tháng ngày,

    Gió đưa mẹ rụng, con rày mồ côi.

    Mẹ già như áng mây trôi,

    Như sương trên cỏ, như lời hát ru.

    Lời hát ru vi vu trong gió,

    Sương trên cỏ khó vỡ dễ tan.

    Mây trôi lãng đãng trên ngàn,

    Gió đưa tan, hợp, hợp, tan, nao lòng.

    Trời mưa cho ướt lá dừa,

    Cho tươi luống cải cho vừa lòng em.

    Cho em hái đọt rau dền,

    Nấu tô canh ngọt dâng lên mẹ già.

    Con cá đối  nằm trên cối đá,

    Chim đa đa  đậu nhánh đa đa,

    Chồng gần không lấy, bậu  lấy chồng xa.

    Mai sau cha yếu mẹ già,

    Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà  ai dưng ?

     

    Sợ tuổi già

    Mặc dù xem người già là túi khôn, là đáng kính trọng, nhưng người Việt (và lẽ nhiều dân tộc khác trên thế giới) cũng rất sợ tuổi già. Bởi “Trẻ khôn ra, già lú lại”, ai mong già làm gì.

    Lý do một cô gái thôi chờ đợi một chàng trai thường là:

    Một năm một tuổi một già,

    Ba năm một tuổi chi mà đợi anh.

    “Cái tuổi nó đuổi xuân đi”, nên các cô gái thường mang tâm lý:

    Ai ơi, trẻ mãi ru  mà,

    Càng đo đắn  mãi càng già mất duyên.

    Mướp  già thì mướp có xơ,

    Gái già thì gái nằm trơ một mình.

    Cau già lỡ lứa bán trăm,

    Chị nọ lỡ lứa biết nằm cùng ai?

    Thành ngữ “Già kén kẹn hom” cũng dùng để nói chớ có kén chọn mà lỡ duyên thế này. Kén của con tằm nếu để quá lâu sẽ dính chặt vào hom (những búi rơm, rạ hoặc cây rang, cây bổi…), khó gỡ ra. Ở đây chơi chữ  “kén” trong ‘kén tằm’ đồng âm với “kén’ trong “kén chọn”. Ý của thành ngữ này là nếu quá kén chọn sẽ dễ dẫn đến quá lứa, lỡ thì.

    Trường hợp lứa đã quá, thì đã lỡ, có cô than:

    Cau già dao bén thì ngon,

    Người già trang điểm phấn son cũng già.

    Thế nhưng cũng có cô rất lạc quan:

    Cau già khéo bổ thì non,

    Nạ dòng  trang điểm lại giòn  hơn xưa.

    Gà già khéo ướp lại tơ,

    Nạ dòng trang điểm, gái tơ mất chồng.

    Còn như khi không thể để bản thân lỡ thì mà lo bến đỗ trước, và rồi phải từ chối chàng trai từng ước hẹn, các cô cũng rằng:

    Anh về kiếm vợ kẻo già,

    Kiếm con kẻo muộn, em đà  có đôi.

    Trong cuộc sống, người ta thường dặn nhau lúc còn trẻ khỏe phải biệt lo liệu, đừng để đến già kẻo mà:

    Mỗi năm, mỗi tuổi, mỗi già,

    Chẳng lo liệu trước ắt là lụy  sau.

    Tre già nhiều người chuộng,

    Người già ai chuộng làm chi.

    Thế nhưng, cũng vì sợ tuổi già đến, chưa kịp chơi cho thỏa đã không còn sức, nên mới có câu:

    Ai ơi chơi lấy kẻo già,

    Măng  mọc có lứa người ta có thì.

    Chơi xuân kẻo hết xuân đi,

    Cái già xồng xộc nó thì theo sau.

    Và tâm lý muốn lớn nhanh để chơi ai cũng có, nhưng lại sợ:

    Muốn cho mau lớn mà chơi,

    Mới lớn vừa rồi, già lại theo sau.

     

    Duyên nợ với người già

    Mặc dù người Việt có câu:

    Chồng già vợ trẻ là tiên,

    Vợ già chồng trẻ là duyên ba đời.

    nhưng nhìn chung người Việt thường muốn sánh duyên cùng người có tuổi tác tương xứng.

    Ông già tôi chẳng lấy ông đâu,

    Ông đừng cạo mặt nhổ râu tốn tiền.

    Sở dĩ không muốn lấy chồng già là vì:

    Con gái lấy phải chồng già,

    Cầm bằng con lợn cọp tha vào rừng.

    rồi bị xóm giềng cười nhạo:

    Nhà bà có ngọn mía mưng,

    Có cô gái út mà ưng ông già.

    Chuyện cười nhạo đôi khi thái quá, khiến các cô phải ném hết thẹn thùng mà phản bác:

    Tiếng đồn em lấy chồng già,

    Đêm nằm em thấy ớt cà ra răng ?

    – Tre già còn dẻo hơn măng,

    Ớt cà ra có hột, chớ hơn thằng ớt tơ.

    Nhưng không muốn lấy chồng già chủ yếu là do những chuyện trái khoáy khác:

    Vô duyên lấy phải chồng già,

    Ra đường bạn hỏi rằng cha hay chồng?

    Nói ra đau đớn trong lòng,

    Chính thực là chồng có phải cha đâu.

    Ngày ngày vác cối giã trầu,

    Tay thời rót nước, tay hầu cái tăm.

    Đêm đêm đưa lão đi nằm,

    Thiếp đặt lão xuống, lão nằm trơ trơ.

    Hỡi ông lão ơi! Ông trở dậy cho thiếp tôi nhờ,

    Để thiếp tôi kiếm chút con thơ bế bồng.

    Nữa mai người có thiếp không,

    Xấu hổ với chúng bạn, cực lòng mẹ cha.

    Gà tơ xào với mướp già,

    Vợ hai mươi mốt chồng đà sáu mươi.

    Ra đường, chị giễu  em cười,

    Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng.

    Đêm nằm tưởng cái gối bông,

    Giật mình gối phải râu chồng nằm bên.

    Sụt sùi tủi phận hờn duyên,

    Oán cha trách mẹ tham tiền bán con.

    Ngược lại, các ông cũng không ham gì vợ già:

    Vô duyên lấy phải vợ già,

    Ăn cơm phải đút, xin bà nuốt nhanh.

    Vô phúc lấy phải trẻ ranh,

    Vừa chơi, vừa phá tung hoành tứ tung.

    Thế nhưng, nếu đã vào thế lấy vợ già, các ông cũng cố mà tìm ra điểm tốt:

    Canh bầu  nấu với cá trê,

    Ăn vô cho mát mà mê vợ già.

    Có phúc lấy được vợ già,

    Sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh.

    Vô phúc lấy phải trẻ ranh,

    Nó ăn nó bỏ tan tành nó đi.

    hòng giữ cho gia đạo bình an. Đó có lẽ cũng là một biểu hiện của tinh thần luôn cố gắng lạc quan thường thấy ở người Việt.

    Nếu các cô không ham chồng già thì ngược lại, các ông già cũng không ham gì vợ trẻ, bởi:

    Người già mà lấy vợ tơ,

    Như liều thuốc độc để hờ bên thân.

    Con gái mà lấy chồng già,

    Đêm nằm thỏ thẻ đẻ ra con chồn.

    Thế nhưng, cũng có khi, ông già thương thật, nên khi bị người mình để bụng thương chê, các cụ liền nói đạo lý:

    – Ông già tui chẳng ưa đâu,

    Hàm răng ông rụng, chòm râu ông dài.

    – Con tôm con tép còn râu,

    Huống chi  em bậu  câu mâu  sự đời.

    Thương nhau vừa dặm vừa dài,

    Cắn rứt chi đó mà đòi hàm răng?

    Có khi, các cụ vội vã phân bua, thể hiện:

    Già thì già tóc già râu,

    Đêm ba bảy vợ, già đâu có già!

    Càng già càng dẻo càng dai,

    Càng gãy chân chõng , càng sai chân giường.

     

    Cười nhạo người già

    Cuộc sống muôn màu muôn vẻ, có kính trọng, nể vì thì cũng có chế giễu, nhạo báng. Có khi người ta cất lời chê già khó tính:

    Ai làm cho chuối không cành,

    Cho anh không vợ cắn quanh mẹ già.

    Mẹ già như mẹ người ta,

    Thì anh có vợ trong nhà đã lâu.

    Mẹ anh ác nghiệt cơ cầu,

    Cho nên anh chịu âu sầu đến nay.

    Hoặc càm ràm mấy câu như “Già sinh tật, đất sinh cỏ’, hay “Trẻ đeo hoa, già đeo tật”. Cũng có khi dân gian lên tiếng đánh thẳng vào những thói hư tật xấu, thường là chê trách cái nết không chuyên chính:

    Bà già đã tám mươi tư,

    Ngồi bên cửa sổ đưa thư kén chồng.

    Bà già tuổi tám mươi hai,

    Ngồi trong quan tài hát ghẹo ông sư.

    Bà già đi chợ Cầu Đông,

    Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?

    Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

    Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn!

    Ấy vậy mà, đâu đó vẫn có thể bắt gặp những câu ca dao nửa chê trách, nửa cảm thông:

    Già thì bế cháu ẵm  con,

    Già đâu lại muốn cau non trái mùa.

    – Già thì lễ Phật đi chùa,

    Cau non trái mùa ai cũng muốn ăn.

    “Cau non trái mùa ai cũng muốn ăn” vừa là lời chống chế của người già, vừa là lời bênh vực của dân gian dành cho người già. Rằng thói đó âu cũng là lẽ thường.

    Về cánh các ông già, các nết không đứng đắn cũng không thoát được con mắt tinh tường và cái miệng thẳng thừng của dân gian:

    Ông già bạc phếu râu tôm

    Thấy dâu quét bếp còn lườm mắt dê

    Ông già ông đội nón cời,

    Ông ve  con nít ông Trời đánh ông.

    Điểm qua một vài thành ngữ, tục ngữ, ca dao như thế, mới thấy cái nhìn của dân gian đối với người già, tuổi già vô cùng đa diện, đặc sắc, có khen có chê, có nể có khinh. Điều đó không chỉ cho thấy thái độ của dân gian mà còn biểu hiện khả năng dùng từ, đặt câu biến hóa, lời lẽ khi khen, khi yêu thì chân thành, cảm động, khi chê, khi ghét thì chua chát, sâu cay.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nói Về Nông Nghiệp, Nghề Nghiệp, Công Việc
  • Câu Ca Dao Về Làng Nghề Hà Nội
  • Triết Lý Dân Tộc Việt Nam Qua Tục Ngữ
  • Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá Việt Na…
  • Ca Dao Dân Ca – Nét Đẹp Tâm Hồn Người Việt
  • Người Việt Nam Thương Mẹ, Kính Cha Qua Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Biển, Biển Đảo, Biển Vũng Tàu Nha Trang Hay Nhất
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Câu Hỏi Của Nguyễn Thị Thu Nga
  • Tài Liệu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Chị Em Doc
  • Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá
  • Mùa

    Vu-lan đối với người Việt Nam, nhất là người Phật tử,

    là một mùa báo Hiếu, một mùa mà các người con nhớ đến

    công ơn sanh thành của mẹ cha và muốn làm một cái gì tết

    đẹp để đền đáp công ơn dưỡng dục của mẹ cha.

    Nhớ

    ơn cha mẹ và báo hiếu là những cảm giác, những suy tư,

    những việc làm đã in sâu đậm trong lòng người Việt Nam,

    đã được thể hiện linh động và triền miên, ngang qua các

    câu ca dao tục ngữ mà chúng ta tìm thấy tràn ngập trong các

    thôn quê vườn xóm.

    Đâu

    đâu cũng đề cao công cha như núi cao, nghĩa mẹ như biển

    cả .

    “Công

    cha như núi Thái Sơn,

    Nghĩa

    mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    Một

    lòng thờ mẹ kính cha,

    Cho

    tròn chữ hiếu, mới là đạo con”.

    Hay:

    “Công

    cha nghĩa mẹ cao vời,

    Nhọc

    nhằn chẳng quản suốt đời vì ta.

    Nên

    người con phải xót xa,

    Đáp

    đền nghĩa nặng như là trời cao.

    Đội

    ơn chín chữ cù lao,

    Sanh

    thành kể mấy non cao cho vừa”.

    Hay

    là:

    “Tu

    đâu cho bằng tu nhà,

    Thờ

    cha kính mẹ mới chân tu”.

    “Công

    cha đức mẹ cao dày,

    Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.

    Nuôi

    con khó nhọc đến giờ,

    Trưởng

    thành con phải biết thờ song thân”.

    “Mẹ

    già ở tấm lều tranh,

    Sớm

    thăm tối viếng mới đành dạ con” .

    Lòng

    thương cha mến mẹ của người Việt Nam thường hay gắn liền

    với hiện tượng thiên nhiên, nên chúng ta không thấy làm

    lạ nhiều câu ca dao đã dùng mặt trời để nói lên lòng

    thương mến cha mẹ:

    “Đêm

    khuya trăng rụng xuống cầu,

    Cảm

    thương cha mẹ dãi dầu ruột đau”.

    Hay

    là:

    “Biển

    Đông còn lúc đầy vơi,

    Chớ

    lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng”.

    Cũng

    vì thương cha mẹ, nên người con không bao giờ quên cầu khẩn

    Phật Trời cho cha mẹ luôn được sống gần mình:

    “Đêm

    đêm khấn nguyện Phật Trời,

    Cầu

    cho cha mẹ sống đời với con”.

    “Ngó

    lên trời thấy cặp cu đang đá,

    Ngó

    ra ngoài biển, thấy cặp cá đang đua.

    Đi

    về lập miếu thờ vua,

    Lập

    trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha”.

    Cha

    mẹ săn sóc con cho từng miếng cơm manh áo, thời những người

    con khi cha mẹ về già cũng phải sáng viếng tối thăm, tìm

    của ngon vật lạ phụng dưỡng cha mẹ:

    “Muốn

    cho gần mẹ gần cha,

    Khi

    vào thúng thóc, khi ra quan tiền”.

    “Ai

    về tôi gởi buồng cau,

    Buồng

    trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.

    Ai

    về tôi gởi đôi giày,

    Phòng

    khi mưa gió để thầy mẹ đi”.

    Thỉnh

    thoảng, chúng ta chứng kiến cảnh những người con gái không

    chịu đi lấy chồng, vì không muốn xa cha mẹ:

    “Ơn

    hoài thai, to như bể!

    Công

    dưỡng dục, lớn tựa sông!

    Em

    nguyện ở vậy không chồng,

    Lo

    nuôi cha mẹ, hết lòng làm con”.

    Người

    con gái đi lấy chồng xa cũng bị quở trách:

    “Chim

    đa đa đậu nhánh đa đa,

    Chồng

    gần không lấy, để lấy chồng xa.

    Mai

    sau cha yếu mẹ già,

    Bát

    cơm đôi đũa, chén trà ai dâng?”.

    Mình

    có hiếu với mẹ cha, thời con cháu mình sẽ có hiếu với

    mình. Đây là luật đáp ứng thường tình và không vì vậy

    làm giảm bớt lòng thương mẹ kính cha của người Việt Nam:

    “Nếu

    mình hiếu với mẹ cha,

    Chắc

    con cũng hiếu với ta khác gì?

    Nếu

    mình ăn ở vô nghì,

    Đừng

    mong con hiếu làm gì uổng công?”.

    Hay

    là:

    “Hiếu

    thuận sinh ra con hiếu thuận,

    Ngỗ

    nghịch nào con có khác chi!

    Xem

    thử trước thềm mưa xối nước,

    Giọt

    sau, giọt trước chẳng sai gì”.

    “Ở

    đời ai cũng có lần,

    Làm

    cha mẹ mới biết ơn sinh thành.

    Người

    xưa khó nhọc nuôi mình,

    Khác

    gì mình đã hết tình nuôi con”.

    Người

    con cũng biết cha mẹ thương con không phải giống nhau, cha

    có lòng thương của cha, mẹ có lòng thương của người mẹ,

    nên người con cũng có thể phân biệt:

    “Mẹ

    dạy thì con khéo,

    Bố

    dạy thì con khôn”.

    “Mồ

    côi cha, ăn cơm với cá

    Mồ

    côi mẹ lót lá mà nằm”.

    Trong

    cao dao này, chúng ta đã nhận thấy sự phân biệt của người

    con về cảm tình đối với cha khác, đối với mẹ khác. Nếu

    như cha mất thì đã có mẹ săn sóc cho con, cho ăn cơm ăn cá

    đầy đủ, nhưng chẳng may mẹ mất đi người con mới thật

    khốn khổ, phảị đi lót lá mà nằm. Và vì vậy nên chúng

    ta không có lạ gì, khi người con gần mẹ hơn cha, thương

    mẹ hơn thương cha. Chúng ta cũng đọc rất nhiều câu ca dao

    và bài thơ tán dương lòng mẹ thương con, lòng con nhớ mẹ

    :

    “Lên

    non mới biết non cao

    Nuôi

    con mới biết công lao mẫu từ”.

    “Ai

    rằng công mẹ như non,

    Thật

    ra công mẹ lại càng lớn hơn”.

    “Lòng

    mẹ như bát nước đầy,

    Mai

    này khôn lớn, ơn này tính sao “.

    “Nhớ

    ơn chín chữ cù lao,

    Ba

    năm nhũ bộ biết bao thân tình”.

    “Con

    ho lòng mẹ tan tành,

    Con

    sốt lòng mẹ như bình nước sôi”.

    “Nuôi

    con chẳng quản chi thân,

    Chỗ

    ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn”.

    “Mẹ

    ngoảnh đi, con dại,

    Mẹ

    ngoảnh lại, con khôn”.

    “Mẹ

    giàu con có, mẹ khó con không”.

    “Mẹ

    già như chuối ba hương,

    Như

    xôi nếp một, như đường mía lau” .

    “Bồng

    cho con bú một hồi,

    Mẹ

    đã hết sữa, con vòi con la”.

    “Nuôi

    con buôn tảo bán tần,

    Chỉ

    mong con lớn nên thân với đời.

    Những

    khi trái nắng trở trời,

    Con

    đau là mẹ đứng ngồi không yên.

    Trọn

    đời vất vả triền miên,

    Chăm

    lo bát gạo đồng tiền nuôi con”.

    lòng thương mẹ dạt dào, vì nhớ đến công ơn bú mớm sinh

    thành, nuôi nấng, nên người con luôn luôn tưởng nhớ đến

    mẹ :

    “Chiều

    chiều ra đứng ngõ sau,

    Ngó

    về quê mẹ ruột đau chín chiều”.

    “Giữa

    đêm ra đứng giữa trời,

    Cầm

    tờ giấy bạch chờ lời mẹ răn”.

    “Trải

    bao gian khổ không sờn,

    Muôn

    đời con vẫn nhớ ơn mẹ hiền”.

    Đối

    với công ơn trời biển của cha mẹ, các người con luôn tìm

    cách báo đáp ơn nghĩa nặng và làm tất cả những gì có

    thể làm được để đền ơn mẹ:

    “Mẹ

    già ở túp lều tranh,

    Sớm

    thăm tối viếng mới đành dạ con”.

    “Tôm

    càng lột vỏ bỏ đuôi,

    Giã

    gạo cho trắng mà nuôi mẹ già”.

    “Đói

    lòng ăn đọt chà là,

    Nhịn

    cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”.

    “Đói

    lòng ăn trái ổi non,

    Nhịn

    cơm cho mẹ, cho tròn nghĩa xưa”.

    “Dấn

    mình gánh nước làm thuê,

    Miễn

    nuôi được mẹ quản gì là thân”.

    “Vô

    Chùa thấy Phật muốn tu,

    Về

    nhà thấy mẹ, công phu chưa đành”.

    “Nuôi

    con chẳng quản chi thân,

    Bên

    ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,

    Lấý

    gì đền nghĩa khó khăn,

    Lên

    non xắn đá, xây lăng phụng thờ”.

    “Đây

    bát cơm đầy nặng ước mong,

    Mẹ

    ôi, đây ngọc với dây lòng.

    Đây

    tình con nặng trong tha thiết,

    Ơn

    nghĩa sanh thành, chưa trả xong”.

    Ai

    không làm tròn bổn phận người con đối với mẹ, thời bị

    nghe lời trách móc:

    “Đi

    đâu bỏ mẹ ở nhà,

    Gối

    nghiêng ai sửa, chén trà ai dâng”.

    Người

    con hiểu được tình thương của mẹ đối với con, nhưng

    công lao mẹ đã trải qua để nuôi con khôn lớn nhất là những

    hy sinh lo lắng của mẹ chiều chuộng con, săn sóc con, chịu

    cực chịu khổ vì con, chẳng may người mẹ đã qua đời thì

    người con đau khổ xót thương là chừng nào.

    người con thương cha không bằng mẹ, nhưng không phải vậy

    mà người con quên công ơn của người cha, vì vai trò của

    người cha rất đặc biệt trong gia đình:

    “Con

    có cha như nhà có nóc,

    Con

    không cha như nòng nọc đứt đuôi”.

    “Khôn

    ngoan nhờ ấm ông cha,

    Làm

    nên phải đoát tổ tông phụng thờ”.

    “Đạo

    làm con chớ hững hờ,

    Phải

    đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm”.

    “Còn

    cha gót đỏ như son,

    Một

    mai cha chết gót con đen sì”.

    Hình

    ảnh người cha đã già nhưng vẫn làm lụng nuôi con, cũng

    để lại trong tâm trí người con một nỗi biết ơn vô hạn:

    “Cha

    tôi tuy đã già rồi,

    Nhưng

    còn làm lụng để nuôi cả nhà.

    Sớm

    hôm vừa dấy tiếng gà,

    Cha

    tôi đã dậy để ra đi làm”.

    Đó

    là hình ảnh cảm động, khi mẹ mất rồi, người cha đóng

    vai gà trống nuôi con lo cho con uống sữa:

    “Nghiêng

    bình mở hộp nút ra,

    Con

    ơi con bú cho cha yên lòng”.

    Tuy

    vậy, vai trò giáo dục trong gia đình, người cha đặt nặng

    hơn, và giáo dục thường hay nghiêm khắc hơn như vậy ảnh

    hưởng tốt đẹp cho người con, khi được một người cha

    nghiêm minh dạy bảo, có tác dụng hơn người mẹ nhiều :

    “Mẹ

    đánh một trăm, không bằng cha ngăm một tiếng” .

    Ngang

    các câu ca dao, các câu cách ngôn, các mẩu chuyện, chúng ta

    đã thấy lòng người Việt Nam đối với cha mẹ như thế

    nào. Lòng thương cha mến mẹ của người Việt Nam đã được

    truyền thống dân tộc Việt Nam hun đúc, tác thành, ăn sâu

    vào tâm khảm của người Việt Nam. Ngoài ra, người Phật

    tử Việt Nam lại được đạo Phật dạy thêm nhiều về chữ

    Hiếu, soi sáng thêm nghĩa vụ làm cho mẹ, nghĩa vụ làm con,

    và nhờ vậy chữ Hiếu lại càng ảnh hưởng sâu đậm vào

    người Phật tử Việt Nam, vào tâm tư hành động của người

    Việt Nam.

    “Tâm

    Hiếu là tâm Phật,

    Hạnh

    Hiếu là hạnh Phật”.

    Chúng

    ta được biết đức Phật là một vị đã đạt được Pháp

    nhãn, đã chứng ngộ trí tuệ, nên cái nhìn của Ngài rất

    khác lạ đối với hành động con người và sự liên hệ

    giữa người và người. Khi thấy Singàla (thi-ca-la-việt) mỗi

    buổi sáng, dậy sớm đảnh lễ sáu phương (Kinh Giáo Thọ

    Thi-ca-la-việt), (Trường Bộ IV, 188 B), đúng theo lời dặn

    của người cha để lại, đức Phật thấy rõ sự vô ích

    của lễ nghi và Ngài đã giải thích theo hướng chuyển thành

    hành động đúng bổn phận của mình. Phương Đông chỉ cho

    cha mẹ và con cái, phương Nam chỉ cho sư đệ; phương Tây

    chỉ cho vợ chồng; phương Bắc chỉ cho bạn bè; phương Dưới

    chỉ cho kẻ phục vụ và phương Trên chỉ cho Sa-môn, Bà-la-môn.

    Và hành động ở đây có nghĩa là bổn phận của người

    con đối với cha mẹ, cha mẹ đối với con, chỉ cho phương

    Đông; bổn phận thầy đối với trò, trò đối với thầy,

    chỉ phương Nam v.v. . . Như vậy, người con có năm bổn phận

    đối với cha mẹ: “Nuôi dưỡng cha mẹ (khi cha mẹ già yếu);

    giữ gìn gia đình với truyền thống, bảo vệ tài sản thừa

    tự; và làm tang lễ khi cha mẹ qua đời”. Cha mẹ cũng có

    năm trách nhiệm đối với con cái: “Ngăn chận con làm điều

    ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con nghề nghiệp;

    cưới vợ xứng đáng cho con; đúng thời trao của thừa tự

    cho con”. Đây rõ ràng là một thông điệp trách nhiệm, một

    trách nhiệm hỗ tương không phải một chiều. Con có năm bổn

    phận đối với cha mẹ. Cha mẹ cũng có năm bổn phận đối

    với con cái. Khi cha mẹ và con cái làm trọn bổn phận mình,

    thời phương Đông được an lành hạnh phúc. Nói cho rõ hơn,

    vận may chỉ đến với gia đình nào, khi trong gia đình ấy

    cha mẹ trọn tình đối với con cái và con cái trọn đạo

    với mẹ cha. Trong kinh Mangalasutta (Hạnh Phúc Kinh), khi được

    một Thiên nhân hỏi làm sao được vận may (Mangala), với hy

    vọng đức Phật sẽ dạy cho một hình thức lễ nghi lễ cầu

    may cầu phước, đức Phật lại dạy cho ba mươi tám hành

    động phải làm để được may mắn và một trong những hành

    động ấy là phụng dưỡng mẹ cha:

    “Màtàpitu

    upatthànan …

    Etam

    mangalamuttamam ”

    “Phụng

    dưỡng cha và mẹ …

    vận may tối thượng”

    Hiếu

    không phải là những gì nói suông bằng miệng, bằng những

    nghi lễ cầu may cầu phước. Hiếu phải được cô đọng

    bằng những việc làm cụ thể và ở đây là phải hầu hạ

    và phụng dưỡng mẹ cha.

    Trong

    kinh Tăng Chi tập I, trang 74, cha mẹ được ví như ngọn lửa

    đáng cung kính, vì chính người cha người mẹ đã đem lại

    sự sống cho các người con, như ngọn lửa đem lại nguồn

    nóng, sức sống cho loài Người.

    “Thế

    nào là lửa đáng cung kính? Ở đây, này Bà-la-môn, những

    người mẹ những người cha của người ấy. Này Bà-la-môn,

    đây gọi là lửa đáng cung kính. Vì cớ sao?”.

    “Từ

    đấy, này Bà-la-môn, khiến cho mang lại, khiến cho sanh ra (Ato

    yam àhùto sambhùto). Do vậy, lửa đáng cung kính, được tôn

    trọng, được cúng dường, phải đem lại chánh lạc”.

    “Và

    này Mahànamà, với một thiện nam tử được cha mẹ thương

    tưởng, chờ đợi là sự tăng trưởng không phải là sự

    giảm thiểu. Và này thật sự là vậy, người con hiếu dưỡng

    cha mẹ được hưởng rất nhiều hạnh phúc”.

    Trong

    kinh Tương ưng tập I, trang 225, Bà-la-môn Màtaposaka đến hỏi

    đức Phật:

    “Thưa

    Tôn giả Gotama, tôi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp.

    Sau khi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp, tôi nuôi dưỡng

    mẹ cha. Thưa Tôn giả Gotama, tôi làm như vậy, tôi có làm

    đúng trách nhiệm không?”

    “-

    Này Bà-la-môn, người như vậy là có làm đúng trách nhiệm.

    Này Bà-la-môn, ai tìm đồ ăn thiết thực theo thường pháp,

    lại nuôi dưỡng mẹ cha, người ấy được nhiều công đức”.

    “Người

    nào theo thường pháp,

    Nuôi

    dưỡng mẹ và cha,

    Chính

    do công hạnh này,

    Đối

    với cha và mẹ,

    Nhờ

    vậy bậc Hiền Thánh,

    Trọn

    đời này tán thán,

    Sau

    khi chết, được sanh

    Hưởng

    an lạc chư Thiên”.

    Khi

    Bà-la-môn Manatthaddba hỏi đức Phật nên cung kính cúng dường

    ai là tốt lành, đức Phật khuyên (Tương ưng tập I, trang

    221):

    “Với

    mẹ và với cha,

    Với

    anh tuổi nhiều hơn,

    Với

    thầy là thứ tư

    Không

    nên sanh kiêu mạn,

    Nên

    kính trọng vị ấy,

    Nên

    tôn kính vị ấy,

    Cúng

    duớng chúng tốt lành”.

    Phụng

    dưỡng cha mẹ đúng pháp, được hưởng quả tốt lành như

    kệ số 404 sau đây trong kinh Sut-tanipàta (Kinh Tập) đã nêu

    rõ:

    “Dhammena

    màtàpitaro Bhareyya,

    Payojage

    dhammikam so vàmjìam

    Etam

    gihì vattayam appamatto

    Sayam

    pabhe nàma upetit pe”.

    “Thờ

    mẹ cha đúngpháp,

    Buôn

    bán đúng, thật thà,

    Gia

    chủ không phóng dật,

    Được

    sanh Tự Quang thiên”.

    Bước

    thêm một bước nữa, đức Phật trong kinh Tăng Chi tập I,

    trang 147, dùng một hình ảnh táo bạo hơn, nhưng rất linh động

    và chính xác để tán dương các gia đình có những người

    con có hiếu. Những gia đình ấy được xem ngang bằng với

    Phạm thiên, ngang bằng với các bậc Đạo sư thời xưa, gia

    đình ấy đáng được cúng dường, tôn trọng. Nói một cách

    rõ rệt hơn, là gia đình nào có con cháu biết hiếu dưỡng

    cha mẹ, những gia dình ấy là những gia đình đáng được

    cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được chắp tay, ngang

    bằng với Phạm thiên, là những vị Thiên cao nhất ở Dục

    giới và Sắc giới, ngang bằng với các bậc Đạo sư thời

    xưa, là những vị đáng được tôn trọng nhất từ xưa đến

    nay.

    “Những

    gia đình nào, này các Tỳ kheo, trong ấy các con cái kính lễ

    (Pùjittà) mẹ cha ở nhà, những gia đình ấy được chấp

    nhận ngang bằng với Phạm thiên. Những gia đình nào, này

    các Tỳ kheo, trong ấy các con cái kính lễ cha mẹ ở trong

    nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các Đạo sư

    thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỳ kheo, trong ấy các

    con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được

    chấp nhận là đáng được cúng dường (Sàhuneyykàni)”.

    “Phạm

    thiên, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Các Đạo

    sư ngày xưa, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha.

    Đáng được cúng dường, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa

    với mẹ cha. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỳ

    kheo, là mẹ cha đối vớì con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng

    dục chúng, giới thiệu cho chúng vào đời”.

    “Cha

    mẹ là Phạm thiên,

    Bậc

    Đạo sư thời trước,

    Xứng

    đáng được cúng dường,

    thương đến con cháu.

    Do

    vậy bậc Hiền trí,

    Đảnh

    lễ và tôn trọng,

    Dâng

    đồ ăn và uống,

    Vải

    mặc và giường nằm,

    Thoa

    bóp (cả thân mình),

    Tắm

    rửa cả chân tay,

    Với

    sở hành như vậy,

    Đối

    với mẹ và cha,

    Đời

    này người hiền khen,

    Đời

    sau hưởng Thiên lạc”.

    (Tăng Chi II A, trang 94)

    Trong

    mùa Vu-lan báo hiếu chúng ta đã được nghe những câu ca dao

    tục ngữ nói lên công lao trời biển của mẹ cha và tấm

    lòng hiếu thảo thương mẹ kính cha của người Phật tử

    Việt Nam; chúng ta cũng được nghe những lời Phật dạy về

    trách nhiệm báo hiếu đối với các người con Phật. Như

    vậy có thể nói Phật tử Việt Nam luôn được các câu ca

    dao tục ngữ ăn sâu vào tâm trí của người dân Việt từ

    nhiều thế hệ nối tiếp. Do chịu ảnh hưởng của các truyền

    thống một cách tự nhiên và tất nhiên ấy, nên người Phật

    tử Việt Nam không những tham dự các buổi lễ Báo Hiếu đông

    đủ và tích cực mà còn áp dụng hạnh hiếu thảo của mình

    đối với cha mẹ hiện tiền cũng như quá khứ trong bảy đời

    một cách trọn vẹn nữa.

    (Bài

    giảng Đại lễ Vu-Lan PL. 2539 – 1995 tại Thiền Viện Vạn

    Hạnh)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Danh Nhân, Anh Hùng Dân Tộc
  • Những Câu Nói Hay Về Atgt, Ca Dao Tục Ngữ Câu Nói Về An Toàn Giao Thông Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Giao Thông, An Toàn Giao Thông
  • Thành Ngữ Tiếng Trung Hay Và Thâm Thuý ( P 1 )
  • Mái Tóc Trong Tục Ngữ, Ca Dao Việt Nguyễn Xuân Kính Viện Nghiên Cứu Văn Hoá

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Tập Stt Hay Về Nghề Giáo Viên Ý Nghĩa Và Cảm Động Nhất Thời Đại
  • #99 Tus Thả Thính Bằng Nghề Nghiệp Cực Độc, Cực Chất
  • Stt Hay Về Mưa Đêm Buồn Trên Facebook Mang Nhiều Cảm Xúc
  • Top 20 Câu Stt Hay Về Mưa Đêm Khiến Lòng Ai Bỗng Tê Tái, Hiu Quạnh
  • Tổng Hợp Những Stt Hợp Cảnh Ngày Mưa Hay Cho Cơn “bão Lòng”
  • Bốn cô anh lạ cả bốn biết là quen ai?

    Anh chỉ quen một cô da trắng tóc dài

    Miệng cười như cánh hoa nhài nở nang.

    (B11, B là vần chữ cái, 11 là số thứ tự)

    + Chân mày vòng nguyệt có duyên

    Tóc mây dợn sóng đẹp duyên tơ hồng.

    Nắm đuôi giật lại hỏi nhà chị đâu.

    Ở sau đám bắp, đầu cầu ngó qua.

    Tóc dài, tóc xanh, tóc mây gợn sóng, tóc đuôi gà, tốt tóc xanh non là mái tóc đẹp của người phụ nữ xưa. Mái tóc đẹp ấy được chăm sóc kĩ càng:

    + Mài dừa đạp cám cho nhanh

    Ép dầu mà chải tóc anh tóc nàng

    Mài dừa dưới ánh trăng vàng

    Ép dầu mà chải tóc nàng tóc anh.

    Miệng em cười có ý anh thương.

    Tục ngữ rất ít khi nói về vẻ đẹp của mái tóc người phụ nữ, nhưng đã truyền lại kinh nghiệm chăm sóc tóc: ” Tốt tóc gội cỏ mần trầu, sạch đầu thì gội lá sả “. Mần trầu là thứ cỏ có hoa mọc thành bông gồm năm, bảy nhánh dài mọc tỏa tròn đều ở đầu cuống chung; sả là thứ cây cùng họ với lúa, mọc thành bụi, lá dài, hẹp và thơm. Muốn tóc tốt thì gội bằng nước đun với cỏ mần trầu, muốn đầu thơm sạch thì dùng nước đun với lá sả.

    Nói chung, tóc của phụ nữ thường dài hơn tóc nam giới. Mái tóc của cô thanh nữ đã làm biết bao chàng trai ngơ ngẩn:

    Tóc đến lưng vừa chừng em bối (búi)

    Trong các nước ở khu vực văn hoá Đông Á, thời phong kiến, con trai 20 tuổi, con gái 15 tuổi mới kết tóc để đội mũ hoặc để cài trâm. Lúc kết tóc ấy là vào tuổi lấy vợ lấy chồng. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du (1765 – 1820) viết:

    Đã buồn cả ruột mà dơ cả đời.

    Trong thơ ca dân gian, hơn một lần người bình dân sử dụng điển “kết tóc”:

    + Anh đố em đếm hết sao trời

    Đây anh kết tóc ở đời với em

    Trên trời biết mấy muôn sao

    Biết dạ anh ở thế nào mà mong.

    + Bao giờ sum hiệp trước (trúc) mai

    Lòng nguyền kết tóc lâu dài trăm năm.

    Khi xưa, lúc thề non hẹn biển, các đôi trai gái thường cắt tóc thề bồi hoặc trao cho nhau làm kỷ vật:

    Lời thề nước biếc non xanh

    Nhện giăng sóng dợn sao đành bỏ nhau.

    + Đã thương cắt tóc trao tay

    Tha hồ én liệng nhàn (nhạn) bay mái ngoài.

    Mái tóc cũng là một nội dung trong các cuộc hát đối đáp nam nữ có tính chất đùa vui:

    Đàn ông tốt tóc những mang nặng đầu.

    Đàn bà tốt tóc nằm liền với ma.

    Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai.

    Quăn quăn tóc trước là người hay ghen.

    Em đi khắp bốn phương trời

    Chẳng đâu lịch sự bằng người ở đây

    Răng đen rưng rức tóc mây rườm rà.

    Câu này trong dân ca quan họ Bắc Ninh, các nghệ nhân nói năng bao giờ cũng lịch sự, nhún nhường, bên nam xưng là em và gọi những người bên nữ là liền chị, còn bên nữ thì cũng xưng là em và gọi bên nam là liền anh.

    Mái tóc của người phụ nữ quý giá như vậy, nhưng dân ta đã kể rằng, ở một nhà kia, khi bạn của chồng đến nhà, không có tiền đãi khách, người vợ đã bán mái tóc của mình để cho chồng có thể thù tiếp bạn tri âm. Người vợ hiền thảo ngày xưa đã tận tụy với chồng con như thế đấy! Người dân xưa quan niệm rằng, cái đẹp không tách rời giá trị đạo đức, người phụ nữ đẹp phải là người biết nữ công gia chánh, chuyên cần lao động, sống có đạo đức:

    + Tóc dài những búi mà trưa

    Ham chi người đẹp mà thưa việc làm.

    Tham người có nghĩa tham chi tóc dài.

    + Tóc dài thì tốn tiền chanh

    Nào ai bán tóc nuôi anh bao giờ.

    Nói chung, mái tóc đẹp thường gắn với tuổi trẻ còn khi tuổi già thì ” tóc bạc da mồi“, ” tóc bạc mình gày“, ” tóc bạc lưng gù“, ” tóc bạc răng long “, thí dụ:

    Ai vong thiếp cũng không vong

    Ôm lòng chờ đợi dầu tóc bạc răng long cũng đành.

    Có nhiều câu tục ngữ, lời ca dao nếu không chịu khó tìm thì nhiều bạn trẻ ngày nay không giải thích được. Thí dụ, tại sao lại có câu tục ngữ: ” Tốt tóc nhọc cột nhà “? Ngày trước, các bà, các cô tóc dài mỗi khi gội đầu, muốn cho tóc chóng khô để quấn tóc hay vấn khăn, thường có thói quen quật mái tóc nhiều lần vào cột nhà.

    Hà Nội, ngày 29 tháng 3 năm 2010

    --- Bài cũ hơn ---

  • 1000+ Stt Hay Khi Đăng Ảnh Đi Chơi, Thả Thính Thu Hút Triệu Like
  • Stt Hay Chất Tổng Hợp Về Tình Yêu, Cuộc Sống Ấn Tượng Nhất
  • 999+ ❤️❤️❤️ Stt Chất Về Tình Yêu, Cuộc Sống, Tình Bạn
  • Top 40 Những Stt Vui Độc Chất Về Tình Yêu, Cuộc Sống Hay Nhất Trên Facebook
  • Những Stt Đểu Chất Rất Thấm
  • ‘sốc’ Với Ca Dao, Tục Ngữ Tự Chế Của Giới Trẻ

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Dân Ca Việt Nam (Vần B)
  • Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Hay Và Ý Nghĩa
  • Danh Ngôn Về Âm Nhạc
  • Danh Ngôn Về Lòng Vị Tha
  • Những Câu Nói Hay Trong Tiếng Anh Về Tình Bạn
  • Một nữ SV hí hửng khoe áo của mình với dòng chữ “Yêu anh mấy núi cũng trèo – Mấy sông cũng lội, thấy anh nghèo thì thôi”.

    Một nữ SV hí hửng khoe áo của mình với dòng chữ “Yêu anh mấy núi cũng trèo – Mấy sông cũng lội, thấy anh nghèo thì thôi”.

    Sử dụng những câu ca dao tục ngữ bị biến dạng, những câu danh ngôn, câu nói nổi tiếng bị cắt xén… đang là “mốt” của giới trẻ hiện nay.

    “Lúc đầu mình mới nhìn áo của hai cô nàng mình cứ nghĩ đó là “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền…”, thế nhưng nhìn kỹ thì mới ngỡ ngàng khi lời Bác Hồ dạy đã được thay bằng “Không có việc gì khó – chỉ sợ mình không liều – Không có việc gì khó, chỉ sợ tiền không nhiều”, Lan Anh, nữ SV trường ĐH Tài chính Marketing kể.

    Lan Anh cho biết “Đây là hiện tượng rất đáng báo động của giới trẻ. Các bạn có thể thỏa sức sáng tạo, tuy nhiên làm biến dạng những câu nói nổi tiếng, những câu danh ngôn hay ca dao tục ngữ là điều không nên”.

    Huy Tuấn, SV trường ĐH quốc tế RMIT thì không khỏi bất ngờ trước nhóm bạn cùng lớp thường đồng phục đến lớp với quần jean và áo thun in dòng chữ trước ngực: “Học, học nữa, học mãi. Đuối thì nghỉ”. “Chẳng hiểu các bạn ấy nghĩ gì nữa, một câu nói nổi tiếng của một vị lãnh tụ như Lê Nin lại trở thành như vậy”, Tuấn thở dài.

    “Đúng là áo có chất lượng vải không tốt tí nào, nhưng chúng mình vẫn rất thích vì có in những câu nói độc đáo như vậy. Những câu “ca-rao” tục ngữ được “chế biến” như vậy nghe thật vui”, một nữ SV hí hửng khoe áo của mình với dòng chữ “Yêu anh mấy núi cũng trèo – Mấy sông cũng lội, thấy anh nghèo thì thôi”.

    Theo SV này, hiện có rất nhiều bạn trẻ sử dụng những loại áo in ca dao tục ngữ bị biến dạng kiểu này. “Mình mặc, mấy bạn thấy hay hay thế là mua theo, ở lớp mình hiện nay nhiều bạn khoái những dòng chữ như thế này lắm”, nữ SV này cho biết thêm.

    …Và trên mạng xã hội

    Cộng đồng mạng chính là nơi tập trung nhiều nhất những câu nói dạng này. Thử truy cập trên hơn 500 trang Facebook khác nhau của các thành viên là những bạn trẻ, không khỏi bất ngờ khi hầu hết đều chế những câu tục ngữ, ca dao đăng tải trên trang cá nhân của mình. Có thể kể những câu đại loại như “Yêu em mấy núi cũng trèo – Khi em mang bụng mấy đèo anh cũng dông”, “Ta về ta tắm ao ta – Sảy chân chết đuối có người nhà vớt lên”, “Cá không ăn muối cá ươn – Không có xe xịn thôi đừng yêu em”…

    “Những câu ca dao được chế lại như thế này nghe ngồ ngộ rất hay, nhờ vậy mà lượt truy cập cũng như bạn bè vào “thăm” trang của mình càng nhiều”, chủ blog cá nhân này cho biết. Bạn cũng khoe còn rất nhiều câu ca dao, tục ngữ “độc” hơn nhiều, nào là “Bầu ơi thương lấy bí cùng – Mai sau có lúc nấu chung một nồi”, “Môi hở…vì răng hô”, “Thuận vợ thuận chồng – Con đông mệt quá”, “Một tay làm chẳng nên non – Bốn đứa tụ lại nên sòng tiến lên”…

    Theo tìm hiểu, đây cũng chính là “chiêu độc” để thu hút bạn bè trên mạng xã hội, không chỉ riêng N.T. mà rất đông bạn khác cũng áp dụng hiện nay, dựa trên những câu ca dao, tục ngữ có sẵn, chế tác lại và đăng lên mạng xã hội.

    Hiện, chỉ cần tìm kiếm trên trang Google với từ khóa “ca dao tục ngữ chế”, “ca dao thời @”… là xuất hiện hàng trăm ngàn kết quả trên nhiều trang website, diễn đàn khác nhau. “Đây là kho tàng ca dao tục ngữ độc đáo, mình có thể lựa chọn để thay đổi tình trạng mạng xã hội hàng ngày”, Hải Hà, một SV trường ĐH Văn Lang cho biết.

    Nguyễn Thanh Nam

    Theo Bưu Điện Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Xuân, Tục Ngữ Tết
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Và Thâ
  • Xem Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Tự Trọng
  • 28 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái Dạy Chúng Ta Sống Ở Đời Phải Biết ‘nhường Cơm Sẻ Áo’
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Ca Dao Tục Ngữ Bình Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Hay Nhất
  • ‘Bình Định nón Gò Găng

    Bún Song thần An Thái

    Lụa Đậu tư Nhơn Ngãi

    Xoài Tượng chín Hưng Long

    Mặc ai mơ táo ước hồng

    Tình quê em giữ một lòng trước sau.

    Bình Định có hòn Vọng Phu

    Có đầm Thị Nai có Cù Lao Xanh.

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa.

    1.Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.

    2.Bình Định có núi Vọng Phu Có Đầm Thị Nại có Cù Lao xanh.

    3.Công đau công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

    4.Mẹ ơi đừng đánh con đau Để con đánh trống hát tuồng mẹ nghe.

    5.Ai về Bịnh Định mà coi Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.

    6.Ai về Bình định thăm bà Ghé vô em gởi lạng trà Ô long. Trà Ô long nước trong vị ngọt Tình đôi mình như đọt mía lau chúng tôi đi bờ lở một mình Phất phơ chéo áo giống hình trò

    Ba Trò Ba đi học trường xa

    Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi

    8.Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cá nghiên anh đồ.

    Tiếng đồn Bình Định tốt nhà Phú Yên tốt lúa, Khánh Hoà tốt trâu

    .Công đâu công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    .Em về Đập Đá quê cha Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê chồng

    13.Anh về Đập Đá , Gò găng Bỏ em kéo vải sáng trăng một mình Tiếng ai than khóc nỉ non Vợ chàng lính thú trèo hòn Cù Mông

    14.Chiều chiều én liệng Truông Mây Cảm thương Chú Lía bị vây trong thành

    15.Non Tây áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

    16.Cây Me cũ, Bến Trầu xưa Dẫu không nên tình nghĩa cũng đón đưa cho trọn niềm

    17.Ngó vô Linh Đỗng mây mờ Nhớ Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây

    18.Hầm Hô cữ nước còn đầy Còn gương phấn dũng , còn ngày vinh quang

    19.Bình Định có đá Vọng Phu Có đầm Thị Nại có Cù lao Xanh Lụa Phú Phong nên duyên nên nợ Nón Gò găng khắp chợ mến thương

    20.Bên kia sông, quê anh An Thái Bên này sông, em gái An Vinh Thương nhau chung dạ chung tình Cầu cha mẹ ưng thuận cho hai đứa mình lấy nhau

    21.Cưới nàng đôi nón Gò Găng Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn Ai về Tuy Phước ăn nem Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm

    22.Rượu ngon Trường Thuế mê li Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi sao đành

    23.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Gi Sông xanh, núi cũng xanh rì Vào Nam, ra Bắc ai cũng đi con đường này Nghìn năm gương cũ còn đây Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu – Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi Dễ chi nhân ngãi mà rời được nhau

    24.Tháp kia còn đứng đủ đôi Cầu còn đủ cặp huống cho tôi với nường ( nàng) Suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Thiếp ngồi dệt vải chỉ mong bóng chàng Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu Ôm đàn gảy khúc Cầu hoàng Thiếp xin gõ nhịp để chàng lựa dây Bao giờ rừng quế hết cây Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình Dừa xanh sừng sững giữa trời Đem thân mà hiến cho đời thuỷ chung

    25.Muốn ăn bánh ít nhân mè Lấy chồng Hòa Đại đạp chè thâu đêm Muốn ăn bánh ít nhân tôm Lấy chồng Hòa Đại ăn cơm củ mì

    26.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di Sông xanh núi cũng xanh rì Vào Nam ra Bắc cũng đi đường này chúng tôi về Phù Mỹ nhắn nhe Nhắn chị bán chè sao vậy chẳng lên?

    Anh về dưới vạn thăm nhà

    Ghé vô em gởi lạng trà Ô Long

    chúng tôi về Bình Định thăm cha Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em

    29.Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông

    30.Khéo khen con tạo trớ trêu

    Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ

    32.Ai về thăm cảnh An Khê

    Sông Ba chồng nhớ vợ nhà Sông Côn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Kho Tàng Ca Dao Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Du Lịch Qua Ca Dao Ở Một Số Tỉnh Miền Tây Nam Bộ Theo Hướng Du Lịch Sinh Thái Hiện Đại
  • Tiếp Cận Kiến Thức Địa Lý Qua Thơ
  • Con Gà Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Cây Lúa Trong Ngôn Ngữ Người Việt
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Văn Hóa Sản Xuất Nông Nghiệp Phần 1
  • 1.Cá bống còn ở trong hang

    Lá rau tập tàng còn ở ruộng dâu

    Ta về, ta sắm cần câu

    Câu lấy cá bống, nấu rau tập tàng

    2. Cá buồn cá lội tung tăng

    Em buồn em biết đãi đằng cùng ai?

    3. Cá kèo mà gặp mắm tươi

    Như nơi đất khách gặp người cố tri

    4. Cá không ăn muối cá ươn

    Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư

    5. Cá nục nấu với dưa hồng

    Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi

    6. Cá tươi xem lấy đôi mang,

    Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai

    Tóc mai sợi vắn sợi dài

    Có đâu mặt rỗ đá mài không trơn

    7. Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Ðỉa lội lềnh như bánh canh

    8. Cả vú lấp miệng em

    9. Cách sông mới phải luỵ thuyền

    Còn như đường liền ai phải luỵ ai

    10. Cái ách giữa đàng, mang vào cổ

    11. Cái cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    12. Cái cò lặn lội bờ sông

    Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền

    13. Cái cò mày đi ăn đêm

    Ðậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

    Ông ơi, ông vớt tôi nao

    Tôi có lòng nào, ông hãy sáo măng

    Có sáo, thì sáo nước trong

    Ðừng sáo nước đục, đau lòng cò con

    14. Cái kiến mày kiện củ khoai

    Chê em tao khó, lấy ai cho giàu

    Nhà tao chín đụn, mười trâu

    Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân

    Cầu này là cầu ái ân

    Một trăm con gái rửa chân cầu này

    Có rửa thì rửa chân tay

    Chớ rửa chân mày, chết cá ao anh

    15. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Ðiền

    Anh thương em cho bạc cho tiền

    Ðừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay!

    16. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

    Anh có thương em, xin sắm một con đò

    Ðể em qua lại mua cò gởi thơ

    17. Cái khó bó cái khôn

    18. Cái nết đánh chết cái đẹp

    19. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Cái ngủ mày ngủ cho say

    Mẹ mày vất vả chân tay suốt ngày

    20. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Bắt được con trắm, con trê

    Xách cổ mang về cho cái ngủ ăn

    Cái ngủ ăn chẳng hết

    Ðể dành đến Tết mồng Ba

    Mèo già ăn vụng

    Mèo ốm phải đòn

    Mèo con phải vạ

    Con quạ có lông

    Nồi đồng có nắp

    21. Cái răng cái tóc là gốc con người

    22. Câm hay ngóng, ngọng hay nói

    23. Câm như hến

    24. Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn

    Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon

    25. Cần tái, cải nhừ

    26. Cầm vàng mà lội qua sông

    Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

    27. Cần Thơ là tỉnh

    Cao Lãnh là quê

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mảng lo buôn bán không về thăm em

    28. Canh khuya gà gáy ó o

    Quân tử thức dậy còn mò đi đâu?

    29. Canh khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, trầm tư một mình

    30. Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng khi về bủng beo

    31. Cao su đi dễ khó về

    Trai đi mất vợ gái về thêm con

    32. Cáo chết ba năm quay đầu về núi

    33. Cát bay, vàng lại ra vàng

    Những người quân tử dạ càng đinh ninh

    Ðinh ninh ta để dạ này

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    34. Cau già, dao bén thì ngon

    Người già trang điểm phấn son cũng già

    35. Cây cao bóng mát không ngồi

    Ra ngồi chỗ nắng, trách trời không mây

    36. Cây đa Chợ Ðũi

    Nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàng

    Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân!

    37. Cây khô không có lộc

    Người độc không có con

    38. Cây khô không thể mọc chồi

    Mẹ già không dễ sống đời với con

    39. Cây khô không trái, gái độc không con

    40. Cây không trồng nên lòng không tiếc

    Con không đẻ nên mẹ ghẻ không thương

    41. Cây muốn lặng, gió chẳng muốn ngừng

    42. Cây trên rừng hoá kiểng

    Cá dưới biển hoá long

    Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong

    Anh đi lục tỉnh giáp vòng

    Ðến đây trời khiến đem lòng thương em

    43. Cây vông đồng không không trồng mà mọc

    Con gái xóm này chẳng chọc mà theo

    44. Cây xanh thời lá cũng xanh

    Cha mẹ hiền lành để đức cho con

    Mừng cây rồi lại mừng cành

    Cây tốt lắm chồi, người đức lắm con

    Ba vuông sánh với bảy tròn

    Ðời cha vinh hiển, đời con sang giàu

    45. Cậu cai buông áo em ra

    Ðể em đi chợ kẻo mà chợ trưa

    Chợ trưa dưa nó héo đi

    Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?

    46. Cha chung chẳng ai khóc

    47. Cha đời cái áo rách này

    Mất chúng, mất bạn vì mày áo ơi!

    48. Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại

    Bắt anh ra treo tại nhành dương

    Biểu từ ai, anh từ đặng

    Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ

    49. Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển

    Con nuôi chạ mẹ, con tính từng ngày

    50. Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng

    Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày

    51. Cha nào con nấy, rau nào sâu nấy

    52. Chanh chua thì khế cũng chua

    Chanh bán có muà, khế bán quanh năm

    53. Cháo nóng, liếm quanh

    54. Cháu ơi, cháu ngủ cho ngon

    Của dì, dì giữ ai bò mặc ai

    55. Chàng về cho thiếp theo cùng

    Ðói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam

    56. Chàng ôi, giận thiếp mà chi

    Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng

    57. Chàng về để áo lại đây

    Ðể khuya em đắp gió khuya lạnh lùng

    58. Chàng về để áo lại đây

    Phòng khi em nhớ cầm tay đỡ buồn

    59. Cháy nhà ra mặt chuột

    60. Chặt không đứt, bứt không rời

    Phơi không khô, chụm không cháy

    (Ðố là con gì? Con sam)

    61. Chẳng ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời

    62. Chẳng ốm, chẳng đau làm giàu mấy chốc

    63. Chẳng tham ruộng cả, ao tiền

    Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ

    64. Chân cứng, đá mềm

    65. Chân đi ba bước lại dừng

    Tuổi em còn bé chưa từng đi buôn

    Ði buôn cho đáng đi buôn

    Ði buôn cau héo có buồn hay không

    66. Chân trời, góc biển

    67. Chập chập rồi lại cheng cheng

    Con gà sống thiến để riêng cho thầy

    Ðơm sôi thì đơm cho đầy

    Ðơm mà vơi đĩa thì thầy không ưng

    68. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    69. Chẻ tre bện sáo cho dầy

    Chận ngang sông Mỹ có ngày gặp em

    70. Chê đắng chê hôi

    Ðã chê xôi không dẻo

    Lại chê kẹo không ngọt

    71. Chê đây, lấy đấy sao đành

    Em chê cam sành, lấy phải quít hôi

    Quít hôi bán một đồng mười

    Cam ba đồng một, quít ngồi trơ trơ

    72. Chết trước được mồ, được mả

    Chết sau nằm ngả, nằm nghiêng

    73. Chì khoe chì nặng hơn đồng

    Sao chì chẳng đúc nên cồng, nên chuông

    74. Chị em dâu như bầu nước lã

    75. Chị kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu?

    Nhà tui ở dưới đám dâu

    Ở trên đám đậu đầu cầu ngó qua

    76. Chị lấy chồng, em gặm giò heo

    Giò heo chị để chị treo

    Em lấy giò mèo, em gặm em chơi

    77. Chị ngã, em nâng

    78. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Thuốc đâu mà chữa con người lẳng lơ

    79. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Tay đâu mà bụm miệng người thế gian

    80. Chiếc khăn cô đội trên đầu

    Gió xuân đưa đẩy rơi vào tay tôi

    Bâng khuâng tôi chẳng muốn rời

    Trao cô thì tiếc, giữ thời không yên

    81. Chiếc tàu lặn chạy mau đường gió

    Cái xe hơi chạy lẹ như dông

    82. Chiếu bông mà trải góc đền

    Muốn vô làm bé biết có bền hay không?

    83. Chiều chiều, buồn miệng nhai trầu

    Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ

    84. Chiều chiều chim vịt kêu chiều

    Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau

    85. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Nhớ người aó trắng khăn điều vắt vai

    86. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Trông về quê mẹ chín chiều ruột đau

    87. Chiều chiều, ông chánh về Tây

    Cô Ba ở lại lấy thầy Thông Ngôn

    Thông ngôn, ký lục, bạc chục không màng

    Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay

    88. Chiều chiều ông Lã Ðông Tân

    Vai mang bầu rượu, tay cầm chiếc nem

    89. Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

    90. Chiều chiều tui buồn tui ra sông cái, tự ải cho rồi

    Sống làm chi mà chia ly thục nữ

    Thác cho rồi đặng chữ thủy chung

    91. Chiều chiều trước bến Văn Lâu

    Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm

    Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông

    Thuyền ai thấp thoáng bên sông

    Ðưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non

    92. Chiều chiều vịt lội, cò bay

    Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng

    Vô rừng bứt một sợi mây

    Ðem về thắt gióng cho nàng đi buôn

    93. Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc

    Cá bãi trầu lội tuốt mương cau

    94. Chim đa đa đậu nhánh đa đa

    Chồng gần không lấy, đi lấy chồng xa

    Một mai cha yếu mẹ già

    Chén cơm, đôi đũa, tách trà ai dâng

    95. Chim khỏi lồng không mong trở lại

    96. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

    97. Chim khôn lựa cành mà đậu

    98. Chim khôn mắc phải lưới hồng

    Hễ ai gỡ được, đền công bạc vàng

    Anh rằng anh chẳng lấy vàng

    Hễ anh gỡ được, thì nàng lấy anh

    99. Chim quyên ăn trái nhãn lồng

    Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi

    100. Chim quyên xuống đất ăn trùn

    Anh hùng lỡ vận, lên rừng đốt than

    101. Chim trời ai dễ đếm lông

    Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày

    102. Chim trời cá nước, ai bắt được nấy ăn

    103. Chim lìa cành còn thương nhớ cội

    Người xa người tội lắm người ơi!

    Chẳng thà không gặp thì thôi

    Gặp rồi mỗi đứa một nơi sao đành

    104. Chính chuyên chết cũng ra ma

    Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng

    105. Cho em trở lại đường xưa

    Ðể em tìm lại gốc dừa cạnh ao

    Lời anh âu yếm chiều nào

    Thoảng vang trong gió rì rào chớm thu

    106. Chó ăn đá, gà ăn muối

    107. Chó cậy gần nhà, gà cậy cần chuồng

    108. Chó treo, mèo đậy

    109. Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ

    Ðóa hải đường thức ngủ xuân tiêu

    110. Chồng chài, vợ lưới, con câu

    Thằng rể đóng đáy, con dâu đi nò

    111. Chồng chung chồng chạ

    Ai khéo hầu hạ thì được chồng riêng

    112. Chồng chung, vợ chạ

    113. Chồng em áo rách em thương

    Chồng người áo gấm, xông hương mặc người

    114. Chồng em vốn kẻ đa tình

    Già không bỏ, nhỏ không tha

    Xấu như ma hắn cũng hú hí

    Xấu như quỉ hắn cũng ăn nằm

    115. Chồng già vợ trẻ là duyên

    Vợ già, chồng trẻ là tiên ba đời

    116. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già, chồng trẻ là duyên trên đời

    117. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già chồng trẻ là duyên nợ trần

    118. Chồng giận thì vợ làm lành

    Miệng cười chúm chím: Thưa anh giận gì?

    Thưa anh, anh giận em chi

    Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho

    119. Chồng nóng thì vợ bớt lời

    Cơm sôi bớt lửa chẳng rơi hột nào

    120. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa

    121. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Như đôi đũa lệch so sao cho bằng

    122. Chơi hoa cho biết mùi hoa

    Cầm cân cho biết cân già, cân non

    123. Chuối non giú ép, chát ngầm

    Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm

    124. Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

    Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm

    125. Chuồn chuồn có cánh thì bay

    Có thằng bé tí thò tay bắt mày

    126. Chuột kêu chút chít trong rương

    Em đi cho kheó đụng giường mẹ hay

    127. Chuột sa chĩnh gạo

    128. Chuyện đời chẳng ít thì nhiều

    Không dưng, ai dễ đặt điều cho ai

    129. Chuyện đời, vợ vợ chồng chồng

    Thương nhau cũng vội, dứt lòng cũng mau

    130. Chuyện người mặc kệ người lo

    Hơi đâu đáy nước, mình mò bóng trăng

    131. Chữ trinh đáng giá ngàn vàng

    Từ anh chồng cũ đến chàng là năm

    Còn như yêu vụng nhớ thầm

    Họp chợ trên bụng hàng trăm sá gì

    132. Chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng

    133. Chưa học bò, đã lo học chạy

    134. Chưa làm giàu, đã lo ăn cướp

    135. Chừng nào đá nổi rong chìm

    Muối chua, chanh mặn anh tìm được em

    136. Chửa đui, chửa què, đừng khoe rằng tốt

    137. Có bột mới gột nên hồ

    138. Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo

    Có đứa nào xạo bằng thằng út Gò Công

    139. Có cây mới có dây leo

    Có cột có kèo, mới có đòn tay

    140. Có công mài sắt, có ngày nên kim

    141. Có cha, có mẹ thì hơn

    Không cha, không mẹ như đờn đứt dây

    142. Có chí làm quan, có gan làm giàu

    143. Có chí thì nên

    144. Có chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ

    Ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh

    Có chồng say như trong chay ngoài hội

    Ngó vô nhà như hội tầm vu

    145. Có chồng nghiền như ông tiên nho nhỏ

    Thắp ngọn đèn sáng tỏ như sao

    Tay cầm tiêm như phò mã múa đao

    Chân vắt chéo như Khổng Minh xem sách

    146. Có chồng mà chẳng có con

    Khác gì hoa nở trên non một mình

    147. Có chum cá mới ở đìa

    Có em anh mới sớm khuya chốn này

    148. Có con mà gả chồng gần

    Nửa đêm đốt đuốc đem phần cho cha

    Có con mà gả chồng xa

    Ba phần ruộng rẻo chẳng ma nào cày

    149. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng

    150. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay

    151. Có công mài sắt có ngày nên kim

    152. Có của thì có mẹ nàng

    Có bạc có vàng thì có kẻ ưa

    Chị là con gái nhà giầu

    Ăn mặc tốt đẹp vào chầu tòa sen

    Em là con gái nhà hèn

    Ăn mặc rách rưới mon men ngoài hè

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cà Mau Xưa Qua Các Câu Thơ & Ca Dao
  • Thành Ngữ Và Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ A, Chữ Ă, Â ?
  • Lịch Sử Khai Phá Bình Dương Qua Dân Ca, Thơ Ca Dân Gian Làng Tương Bình Hiệp
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Hò Vè Bình Định
  • Tiếng Trung Nghiêm Thùy Trang
  • Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Những Câu Danh Ngôn Bất Hủ
  • {Đọc} Stt Hay Về Sự Thay Đổi Bản Thân Giúp Mình Cố Gắng Nhiều Hơn
  • Stt Hay Về Tình Yêu Buồn Bằng Tiếng Anh Trên Facebook
  • Những Câu Stt Hay Bằng Tiếng Trung Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Từ Ngữ Địa Phương
  • 10:36:14 AM, Sep 07, 2022 * Số lần xem: 854101

    * Cập nhật

    * đăng lúc 11:22:41 AM, Jan 26, 2009 Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam Ca dao là gì?

    Trước hết là Ca dao, là những câu thơ ca dân gian Việt Nam. Được truyền miệng dưới dạng những câu hát không thể một điệu nhất định. Và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc.

    Và đặc biệt hơn đó chính là ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao được hiểu ý nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ ông cha ta để lại.

    Tục ngữ là gì?

    Khác với ca dao, thì tục ngữ lại thể hiện những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian. Về mọi mặt trong cuộc sống như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn…

    Với ý nghĩa ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh thường gieo vần lưng. Và đây cũng là một thể loại văn học dân gian Việt Nam. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn của con người. Trong đó gữa hình thức và nội dung, tục ngữ có một sự gắn bó chặt chẽ. Thông thường trong một câu tục ngữ có 2 nghĩa: nghĩa đen nghĩa bóng.

    Khác với ca dao, tục ngữ thường có vần, gồm 2 loại chính là: vần liềnvần cách.

    Ca Dao Tục Ngữ Phần II từ H tới L Ca Dao Tục Ngữ Phần III từ M tới Y :: ::

    Xin bấm vào các links sau đây để đọc tiếp :

    1. Ai ai cũng tưởng bậu hiền

    A

    Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai

    2. Ai đem con sáo sang song

    Để cho con sáo sổ lồng bay cao

    3. Ai đi bờ đắp một mình

    Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân

    4. Ai đi đâu đấy hỡi ai

    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

    Ai đi muôn dặm non song

    Để ai chứa chất sầu đong vời đầy

    5. Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa

    Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào

    Ai đi sục sịch ngoài hàng rào

    Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa

    6. Ai kêu là rạch, em gọi là song

    Phù sa theo nước chảy mênh mông

    Sông ơi, thấm mát đời con gái

    Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng

    7. Ai làm cho bướm lìa hoa

    Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng

    8. Ai làm Nam Bắc phân kỳ

    Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương

    9. Ai mà nói dối cùng ai

    Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng

    Ai mà nói dối cùng chồng

    Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao

    10. Ai nhứt thì tôi đứng nhì

    Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba

    11. Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

    12. Ai ơi chơi lấy kẻo già

    Măng mọc có lứa người ta có thì

    Chơi xuân kẻo hết xuân đi

    Cái già sòng sọc nó thì theo sau

    Phần I từ A tới G

    100. Áo anh đứt chỉ đường tà

    Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

    B

    Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừBuồn về một nỗi tháng tưCon mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ănBuồn về một nỗi tháng nămChửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêuLựu xa đào, lựu xéo đào xiênVàng cầm trên tay rớt xuống không phiềnChỉ phiền một nỗi nợ với duyên không trònChờ con bạn ngọc thở than đôi lờianh hai vật đổi sao dờiTính sao nàng tính trọn đời thủy chungCanh ba cờ phất trống rungMặc ai ai thẳng ai dùn mặc aiCanh tư hạc đậu cành maiSương sa lác đác khói bay mịt mờCanh chầy tơ tưởng tưởng tơChiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu khôngAi làm lỡ chuyến đò ngangCho loan với phượng đôi hàng biệt ly

    C

    78. Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm

    Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu

    80. Bực mình chẳng muốn nói ra

    Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời

    79. Bước xuống ruộng sâu, em mảng sầu tấc dạ

    75. Bươm bướm mà đậu cành bong

    Đã dê con chị, lại bồng con em

    76. Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng

    Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai

    77. Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng

    73. Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt

    Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon

    74. Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo

    Tay em ôm bó mạ, luỵ ứa hai hàng

    C

    Đi buôn cau héo có buồn hay không

    43. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    VẦN D VẦN Đ

    Đánh bạc quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn vặt quen mồm

    Đánh chết, mà nết không chừa

    Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

    Đàn bà nói có là không

    Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

    Đàn bà tốt tóc thì sang

    Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Đàn kêu tích tịch tình tang

    Ai đem công chúa lên thang mà về

    Đàn ông đi biển có đôi

    Đàn bà đi biển mồ côi một mình

    Đàn ông không râu vô nghì

    Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

    Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ

    Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu

    Rút gươm đâm họng máu trào

    Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

    Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt

    Lửa nhà máy hết cháy thành than

    Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn

    Kể từ khi em biết được chàng

    Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

    Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

    Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang

    Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc

    Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

    Đèn treo ngang quán

    Tỏ rạng bờ kinh

    Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình

    Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

    Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn

    Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

    Đêm khuya ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Đêm khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

    Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng

    Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

    Đêm khuya trăng dọi lầu son

    Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng

    Bển qua đây đàng đã xa đàng

    Dầu tui có lâm nguy thất thế

    Hỏi con bạn vàng nó cứu không?

    Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông

    Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

    Đêm nằm tàu chuối có đôi

    Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

    Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng

    Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài

    Bây giờ chàng đã nghe ai

    Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung

    Bây giờ sự đã nhạt nhùn

    Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua

    Cá lên mặt nước, cá khô

    Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

    Đêm qua nguyệt lặn về Tây

    Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài

    Trúc với mai, mai về trúc nhớ

    Trúc trở về, mai nhớ trúc không

    Bây giờ kẻ Bắc, người Đông

    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

    Đêm thanh cảnh vắng

    Thức trắng năm canh

    Một duyên, hai nợ, ba tình

    Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

    Đến đây đất nước lạ lùng

    Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

    Đến ta mới biết của ta

    Trăm nghìn năm trước biết là của ai

    Đề huề chồng vợ

    Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang

    Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

    Đi chùa lạy Phật cầu chồng

    Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

    Đi đâu cho thiếp theo cùng

    Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

    Đi đâu mà vội mà vàng

    Mà vấp phải đá mà quàng phải dây

    Thủng thỉnh như chúng anh đây

    Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

    Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Đi qua nhà nhỏ

    Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng

    Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

    Đó đây trước lạ sau quen

    Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

    Đói lòng ăn đọt chà là

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

    Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    Đói lòng ăn nửa trái sim

    Uống lưng bát nước đi tìm người thương

    Đói lòng nuốt trái khổ qua

    Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

    Đôi ta chẳng được sum vầy

    Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương

    Vì sương nên núi bạc đầu

    Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

    Đôi ta đã trót lời thề

    Con dao lá trúc đã kề tóc mai

    Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

    Đôi ta như loan với phượng

    Nỡ lòng nào để phượng lià cây

    Muốn cho có đó, có đây

    Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi

    Thà rằng chẳng biết thì thôi

    Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

    Đôi ta như thể con tằm

    Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong

    Đôi ta như thể con ong

    Con quấn con quít, con trong con ngoài

    Đôi ta như thể con bài

    Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

    Đố ai biết luá mấy cây

    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

    Đố ai quét sạch lá rừng

    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

    Rung cây, rung cỗi, rung cành

    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

    Đố ai lặn xuống vực sâu

    Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

    Đố anh con rít mấy chưn

    Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người

    Mấy người bán áo con trai

    Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

    Đốt than nướng cá cho vàng

    Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

    Muốn ăn bôn súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đồng tiền Vạn lịch

    Thích bốn chữ vàng

    Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu

    Bây giờ cô lấy chồng đâủ

    Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

    Đổ lửa than nên vàng lộn trấu

    Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

    Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ

    Anh gặp em đây không cửa không nhà

    Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

    Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

    Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    Đờn cò lên trục kêu vang

    Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng

    Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng

    Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương

    Chiều nay qua phản bạn hồi hương

    Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào

    Ghe tui tới chỗ cắm sào

    Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

    Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá

    Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm

    Anh thấy em tốt mã anh lầm

    Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

    Đưa nhau đổ chén rượu hồng

    Mai sau em có theo chồng đất xa

    Qua đò gõ nhịp chèo ca

    Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

    Đường trơn trợt gượng đi kẻo té

    Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng

    Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi

    Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

    Đứt tay một chút còn đau

    Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

    Đ Đất lành chim đậu.

    E

    VẦN E

    Em có chồng sao em không nói?

    Để anh theo anh chọc em hoài

    Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay!

    Em đeo chiếc kim hườn

    Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến

    Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!

    Em liều một cái bánh bò

    Còn nào chót chét, cặp giò em chặt hai

    Em liều một chén dầu chanh

    Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền

    Em liều một trái sầu giêng

    Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro

    Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi

    Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?

    Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác

    Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?

    Em ơi, anh bảo em này

    Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi

    Em ơi, em có thương anh

    Em ra canh lính cho anh leo tường!

    Em ơi em ở lại nhà

    Vườn dâu em hái mẹ già em thương

    Mẹ già một nắng hai sương

    Chị đi một bước trăm đường xót xa

    Cậy em em ở lại nhà

    Em thấy anh em cũng muốn chào

    Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông

    Em chấy anh em cũng muốn chào

    Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình

    Dao trong mình, gươm anh cặp nách

    Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi

    Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu

    Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi

    Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi

    Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra

    Em về hỏi mẹ cùng cha

    Có cho em lấy chồng xa hay đừng

    Én bay thấp, mưa ngập bờ ao

    Én bay cao, mưa rào lại tạnh

    Em nghe tiếng hát đâu xa

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ê

    Êm như ru

    Ếch ngồi đáy giếng

    VẦN G

    Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng

    Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua

    Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng

    Trai bạc tình một cẳng về quê

    Gái lấy trai đứng là gái dại

    Trai lấy rồi trai lại bán rao

    Gái đâu có thứ hỗn hào

    Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu

    Gà đẻ, gà cục tác

    Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

    Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

    Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi

    Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi

    Saigon vui lắm em ơi

    Lấy chồng về đó một đời sướng thân

    Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất

    Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ

    Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông

    Gẫm xem sự thế nực cười

    Một con cá lội mấy người buông câu

    Gần mực thì đen gần đèn thì sáng

    Gập ghềnh nước chảy qua đèo

    Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng

    Ghe anh đỏ mũi xanh lườn

    Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em

    Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo

    Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em

    Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ

    Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn

    Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời

    Mật đường dù chẳng đi đôi

    Chút hương rớt lại, một đời chưa quên

    Ghe lên ghe xuống dầm dề

    Sao anh không gởi thơ về thăm em?

    Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ

    Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi

    Già thì đặc bí bì bì

    Con gái đương thì rỗng toác toàng toang

    Ngoài xanh trong trắng như ngà

    Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu

    (Đố là gì? – cau dầy)

    Giàu cha giàu mẹ thì ham

    Giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn

    Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa

    Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

    Giàu từ trong trứng giàu ra

    Giàu út ăn, khó út chịu

    Giả đò mua khế bán chanh

    Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn

    Giặc Tây đánh tới Cần Giờ

    Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công

    Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh

    Giấy hồng đơn bán mấy

    Cho anh mua lấy một tờ

    Viết thơ quốc ngữ

    Dán trên trái bưởi

    Thả xuống giang hà

    Bớ cô gánh nước bên bờ

    Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ

    Giận chồng xách gói ra đi

    Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về

    Gieo gió gặp bão

    **************************************

    Toàn bộ từ vần A đến Y

    -B-

    -C-

    Ca Li đi dễ khó về

    Câu nguyên gốc là..nói về những người đi trồng cao su

    Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng, khi về bủng beo

    ================================================== =======

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    ================================================== ========

    Chân cứng đá mềm

    ================================================== ========

    Có chí thì nên

    ================================================== ========

    Cô kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi kéo lại hỏi nhà ở đâu ?

    Nhà tôi ở trước đám dâu

    Ở sau đám cải đầu cầu ngó qua

    Cái câu này còn có khác hơn một tí đó là..

    Đ-

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ếch ngồi đáy giếng

    ================================================== ========

    -G-

    -H-

    -I-

    ================================================== ========

    -K-

    -L-

    -M-

    -N-

    Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ

    ================================================== ========

    Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

    ================================================== ========

    Nhất quỷ nhì ma

    Thứ ba học trò …. )

    ================================================== ========

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    ================================================== ========

    No bụng đói con mắt

    ================================================== ========

    -O-

    Ở đâu cũng có anh hùng

    Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên

    ================================================== ========

    Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

    ================================================== ========

    Ớt nào là ớt chẳng cay,

    Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

    Vôi nào là vôi chẳng nồng

    Gái nào là gái có chồng chẳng ghen !

    ================================================== ========

    Ở hiền gặp lành

    ================================================== ========

    -Q-

    Quả cau nho nhỏ

    Cái vỏ vân vân

    Nay anh học gần

    Mai anh học xa

    Tiền, gạo là của mẹ cha

    Bút nghiên, kinh sách thì là của anh

    Lấy chàng từ thuở mười ba

    Đến năm mười tám thiếp đà năm con

    Ra đường thiếp hãy còn son

    Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng

    ================================================== ========

    -R-

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    ================================================== ========

    -S-

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người

    ================================================== ========

    Sá gì một nải chuối xanh

    Năm bảy người giành cho mủ dính tay

    ================================================== ========

    -T-

    -U-

    ================================================== ========

    -V-

    Vì sông nên phải lụy thuyền

    Chứ như đường liền ai phải lụy ai

    ================================================== ========

    Vải thưa che mắt thánh

    ================================================== ========

    -X-

    ========

    -Y-

    Yêu nhau cởi áo cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

    ========

    Yêu nhau thì ném miếng trầu

    Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra

    Yêu nhau cau bổ làm ba

    Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười

    Xem Thêm Cập nhật 2022:

      Mèo khen mèo dài đuôi.

      N Năm nắng mười mưa

    --- Bài cũ hơn ---

  • 500 Stt Buồn: Hay, Cảm Xúc, Tâm Trạng, Chất Và Độc Đáo Nhất 2022
  • Chia Sẻ Những Stt Hay Về Tình Bạn Trên Facebook Độc Đáo Nhất
  • Tổng Hợp Những Lời Chúc Buổi Tối Ngọt Ngào Nhất
  • Những Lời Chúc Buổi Sáng Ngọt Ngào, Ý Nghĩa Nhất
  • Con Gái Ế Thì Đã Sao?
  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Về Chữ Ăn
  • Ẩm Thực Xa Xưa Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Ca Dao
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Hay Nhất
  • 2. Ca dao và dân ca:

    Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta

    tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta

    thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Có thể nói, ranh giới giữ ca dao và

    dân ca không rõ.

    Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu. Còn dùng một bài ca dao để hát, thì bài

    ca dao sẽ biến thành dân ca. Vì hát yêu cầu phải có khúc điệu, và như vậy phải có thêm tiếng đệm.

    Vậy có thể nói, ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác

    và có thể xây dựng thành các điệu ca dao.

    Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định,

    nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nó là nhạc do tiếng của con người đưa ra từ cổ họng.

    Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn

    cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương,

    còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể nào,

    thì nó vẫn đươc phổ biến rộng rãi

    “Đồng đăng có phố Kỳ Lừa

    Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

    Hay:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga.

    Còn dân ca thì nhiều khi chỉ có dân địa phương mới biết, và mới hát được..

    Nội dung của dân ca cũng nhue nội dung của ca dao, chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện

    cái nội tâm của tác giả trước ngoại cảnh.

    Cũng như tục ngữ, ca dao – dân ca là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể,

    được lưu truyền bằng miệng và / được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Trong tất cả

    những tính chất chung của văn học dân gian (trong đó có tục ngữ – ca dao – dân ca) :

    tính nhân dân, tính hiện thực, tính lãng mãn, tính phổ biến, tính khuyết danh,

    tính truyền miệng, tính tập thể ….thì tính tập thể là tính chất cơ bản nhất

    B. Thời kỳ xuất hiện:

    So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ tưởng như mới hơn. Nhưng theo kết quả nghiên cứu, tục ngữ, ca dao cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Trong quá trình lao động, xuất hiện những câu hò, kiểu như “Dô ta”, như vậy ca hát đã có từ rất sớm, nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ, và được sửa đổi qua các thế hệ của loài người.

    Xét nội dung những câu ” Năm cha, ba mẹ“, hay ” Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông“, ” Con dại, cái mang”, “con mống, sống mang“.. ta có thể biết được thời điểm xuất hiện câu đó, đólà thời kỳ tạp giao, hay tình trạng chồng chung vợ chạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ, rồi đến Phụ hệ…

    Ca dao, tục ngữ cũng mang ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền và phản ánh đời sống kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ.

    C. Nội dung và hình thức của tục ngữ – ca dao – dân ca:

    1. Nội dung của tục ngữ:

    Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý trí nhiều hơn là do xúc cảm. tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bén, rút ở cuộc đời. Ở tục ngữ, tính chất phản phong là mạnh hơn cả.

    Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người.

    VD:

    Quá mù ra mưa

    Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa

    Vỏ quýt dày có móng tay nhọn

    Cái sảy nảy cái ung

    Cõng rắn cắn gà nhà

    2. Hình thức của tục ngữ:

    Tục ngữ ban đầu chỉ là những câu nói xuôi ta, hợp lý, sau dần mới trở thành những câu đối có vần vè, gọn gàng hơn

    Làm phúc phải tội

    Gà què ăn quẩn cối xay

    Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận

    Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm

    Tục ngữ không nhất thiết, nhưng phần lớn đều có vần vè, hay có đối

    No nên bụt, đói nên ma

    Bút sa, gà chết

    Có tật giật mình

    Còn có những câu vần cách, cách hai chữ, ba chữ

    May tay hơn hay thuốc

    Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão

    Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm

    Hoặc thể lục bát

    Cá tươi thì xem lấy mang

    Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai

    Tóm lại xét về sự phong phú cả về mặt nội dung cũng như hình thức, ta có thể thấy tục ngữ đã phát triển trước ca da rất nhiều. Còn nữa, ca dao thiên về tình cảm, biểu lộ tính tình của con người…nên chỉ có thể phát triển khi mà đời sống xã hội đã phức tạp.

    3. Nội dung của ca dao:

    Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắ m thiết và sâu sắc đến cỡ nào…thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được.

    Ca dao Việt nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta.

    Ca dao thể hiện tình yêu: tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên, hoà bình…

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    Gió đưa cành trúc la đà

    Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương

    Tuyệt mù khói toả ngàn sương

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…

    Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên, với xã hội.

    Có thể nói nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình. Tìm hiểu được cái tình trong ca dao chúng ta sẽ thấy được tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa chứa đựng trong ca dao.

    4. Hình thức nghệ thuật của ca dao:

    Ca dao thường là những bài ngắn, hai, bốn, sáu, hoặc tám câu., âm điệu lưu loát và phong phú.

    Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị, và tươi tắn. Nghe có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Có thể nói về mặt tả cảnh , tả tình không có một hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao.

    Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt, nhưng cũng có khi để nói về những cái xấu, nhưng không nói thẳng. Nhờ phương pháp hình tượng hoá, nên lời của ca dao tuy giản dị, mà rất hàm súc.

    Người con gái không được chủ động trong việc hôn nhân, đã ví mình như hạt mưa:

    Thân em như hạt mưa rào

    Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

    Hay để tả một tình yêu trong trắng mới chớm nở của đôi lứa, ca dao noi:

    Đôi ta như lửa mới nhen

    Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

    Đến như tả hạng người ngu đần, ca dao cũng đã đưa ra những hình ảnh táo bạo:

    Mặt nạc đóm dày

    Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn Cơm trắng ăn với chả chim

    Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no

    Trên trời có đám mây vàng

    Bên sông nước chảy có nàng quay tơ

    Nàng buồn nàng bỏ quay tơ

    Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành

    MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA NGHỆ TĨNH

    Tiếng giặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào một chỗ thiếu….xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba , bốn trăm năm.

    Về nội dung, có nhiều bài hát giặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến.

    Về hình thức, phần nhiều các bài hát dặm đều gồm những câu năm chữ và cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lại lấy một ý, điệp cả về ý, lẫn lời:

    vd:

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    hay:

    Thấy những lời kêu trách

    Nghe những lời kêu trách

    Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát, nólàm nổi ý của câu hát, của cả bài.

    Hát giặm cũng có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung, và hình thức đều được trau chuốt.

    Hát giặm Nghệ Tĩnh không hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được nhân dân ưa thích và phổ biến rộng rãi

    VD:

    Trai:

    Tiết thanh nhàn thong thả

    Muốn thăm hỏi vài câu

    Cuốc thánh thót kêu sầu

    Gió phảng phất mùa sâu

    Nhớ trong sách đã lâu:

    Chuyện “Tư mã phượng cầu”

    Thương thì mũi tìm trâu

    Trâu đâu tìm chạc mũi

    Gái:

    Trời mở rộng phong quang

    Giã ơn trời mở rộng phong quang

    Em đánh tiếng đua sang

    Đêm tàn canh vò võ

    Tay em cầm con bấc đỏ

    Mong bỏ đĩa dầu đầy

    Mời bạn ở lại đây

    Đôi ta giở lời rày

    Tình đó với nghĩa đây

    Trai:

    Giống như đọi nác đầy

    Bưng nhẩn nhẩn trên tay

    Không khuy sơ một hột

    Gió nỏ triềng một hột

    Công đôi ta thề thốt

    Kể đã mấy niên rồi

    Lòng đã quyết lứa đôi

    Ngãi đã quyết thề bồi

    Nhất ngôn nói hẳn lời

    Đừng bốn chốn ba nơi

    Đừng trăn gió chào mời

    Trăng nhiều trăng rạng rỡ

    Trăn nhiều đèn rạng rỡ

    Gái:

    Em đã có chồng rồi

    Em đã có lứa rồi

    Vung úp đã vừa nồi

    Đũa ghép đã thành đôi

    Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    Trai:

    Têm một quả trầu không

    Bỏ vô hộp con rồng

    Đi băng nội băng đồng

    Qua năm bảy khúc sông

    Qua chín mười đỗi đồng

    Nghe tin em đã có chồng

    Anh quăng lắc vô bụi

    Bạn gạt tùa vô bụi.

    Anh thương em một tháng hai kỳ

    Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày

    Năm rộn mà chầy

    Có hai mươi bốn miện (Miện = kỳ)

    Xuân qua rồi hè /đến

    Thu đã muộn, đông rồi

    Nhớ bạn cũ chưa nguôi,

    Sang lập xuân vũ thuỷ

    Đêm em nằm em nghĩ

    Nghĩ kinh trập, xuân phân,

    Lòng tưởng sự ái ân

    Sang thanh minh, cốc vũ

    Đêm dêm nằm nỏ ngủ

    Nhớ bạn mãi thường thường

    Tiết lập hạ nhớ thương

    Bước sang tuần tiểu mãn

    Trông ra ngoài chán chán

    Tiết mang hiện lại gần

    Người đập đất, gánh phân

    Để mùa màng gặt hái

    Anh thương em mãi mãi

    Sang hạ chí tiết hè

    Em nghe tiếng sầu ve

    Em buồn trong gia sự

    Bạn buồn trong gia sự

    ***

    Tiết tiểu thử, đại thử

    Trời nắng sốt lắm thay!

    Ra ngồi tựa cột cây

    Anh với em than thở

    Bạn với mình than thở

    ***

    Tiết lập thu, xử thử

    Ai diều sáo mặc ai

    Vàng lác đác giếng tây

    Ta thương người bạn cộ (Cộ = cũ)

    Nhớ mãi người bạn cộ

    ***

    Vừa đến tiết bạch lộ

    Bầy chim trắng bay sang

    Cây heo hắt lá vàng

    Sang thu phân hàn lộ.

    ***

    Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy)

    Tiết sương giáng lại kề

    Trông bạn cũ ta về

    Sang lập đông giá rét

    Tiết tiểu tuyết, đại tuyết

    Trời giá rét lắm thay

    Sang đông chí cấy cày

    Dạ bồi hồi nhớ bạn

    Tiết tiểu hàn chưa dạn

    Đã bước sang đại hàn

    Dạ tưởng nhớ người ngoan

    Vừa năm cùng tháng tận

    Vừa cuối mùa cuối tận.

    ***

    Phận lại ngồi trách phận

    Phận nỏ giám trách phận

    Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp

    6. Hát ví Nghệ Tĩnh:

    Hát Ví Nghệ Tĩnh là những loại dân ca xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Có nhiều điệu hát ví như: hát phường vải, hát phường cấy, hát đò đưa, hát phường buôn…. Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả.

    1. Hát phường vải:Giai đoạn 1:

    Những câu hát phường vải là những câu biểu lộ tâm tình của hai bên trai gái, hoặc là những ước mơ về yêu đương, hoặc là những lời oán trách kẻ chia rẽ tình duyên, và bao giờ cũng lạc quan, tin tưởng.

    Hat phường vải gồm có bốn giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: hát dạo, hát mừng, hát chào và hát hỏi. Giai đoạn thứ hai: hát đố và hát đối. Giai đoạn thứ ba: hát mời và hát xe kết. Giai đoạn thứ tư: hát tiễn.

    Hát dạo

    Bấy lâu thức nhắp mơ màng

    Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng

    *

    Bấy lâu nghe hết tiếng nàng

    Bên anh nức tiếng đồn vang đã lừng

    Nghe tin anh cũng vội mừng

    Vậy nên chẳng quản suối rừng anh sang

    *

    Bấy lâu anh mức chi nhà

    Để em dệt gấm thêu hoa thêm sầu

    *

    Đồn rằng cá uốn thân vây

    Đồn em hay hát, hát hay anh tìm

    *

    Chốn này vui vẻ, tưng bừng

    Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới nơi

    *

    Đêm khuya trời tạnh sương im

    Tai nghe tiếng nhạc, chàng Kim tới gần.

    *

    Dừng xa, khoan kéo, ơi phường!

    Hình như có khách viễn phương tới nhà

    *

    Đi qua nghe tiếng em reo,

    Nghe xa em kéo, muốn đeo em về.

    *

    Đi ngang trước cửa nàng Kiều,

    Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu

    *

    Đi ngang thấy búp hoa đa`o

    Muốn vào mà bẻ, sợ bờ rào lắm gai

    *

    Đồn đây là chốn Đao` Nguyên

    Trăng thanh gió mát, cắm thuyền dạo chơi

    *

    Lạ lùng anh mới tới đây,

    Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng

    *

    Đến đây vàng cũng như son

    Ai ai thời cũng như con một nhà

    Khi nháy mắt, khi nhện sa

    Khi chuột rích trong nhà

    Khi khách kêu ngoài ngõ

    Tay em đưa go đủng đỉnh

    Tay em chìa khoá động đào

    Bước năm lần cửa, ra chào bạn quen

    *

    Mừng rằng bạn đến chơi nhà

    Cam lòng thục nữ gọi là trao tay

    Hát hỏi

    Em có chồng rồi, em nói rằng chưa

    Tội riêng em đó, nỏ lừa được anh

    *

    Em chưa có chồng, em mới đến đây

    Chồng rồi chiếu trải, màn vây ở nhà Anh về chẻ lạt bó tro

    Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.

    Em về đục núi lòn qua,

    Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng

    *

    Trai thanh xuân ngồi hàng thuốc bắc,

    Gái đông sàng cảm bệnh lầu tây

    Hai ta tình nặng nghĩa dày,

    Đối ra đáp được, lúc này tính sao?

    *

    – Đến đây hỏi khác tương phùng

    Chim chi một cánh bay cùng nước non?

    -Tương phùng nhắn với tương tri,

    Lá buồm một cánh bay đi khắp trời

    *

    – Lá gì không nhánh, không ngành?

    Lá gì chỉ có tay mình trao tay?

    – Lá thư không nhánh, không ngành,

    Lá thư chỉ có tay mình trao tay.

    *

    – Nghe tin anh hoc có tài

    Cha thầy Mạnh Tử là ai rứa chàng?

    – Thầy Mạnh, cụ Mạnh sinh ra

    Đù mẹ con hát, tổ cha thằng bày!

    *

    – Người Kim Mã cưỡi co ngựa vàng

    Đất Phù Long rồng nổi, thì chàng đối chi?

    – Người Thanh Thuỷ gặp khách nước trong

    Hoành sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa?

    *

    Nghe anh bôn tẩu bấy lâu

    Nghệ An có mấy chiếc cầu hỡi anh?

    – Nghệ An có ba mươi sáu chiếc cầu

    Phồn hoa đi lại bốn cầu mà thôi

    Cầu danh, cầu lợi, cầu tài

    Cầu cho đây đó làm hai giao hoà

    *

    Nhớ em nhất nhật một ngày

    Đêm tơ tưởng dạ, làng rày nhớ trông

    – Chờ em nửa tháng ni rồi

    Ôm đờn bán nguyệt, dựa ngồi cung trăng

    *

    – Nghe tin anh giỏi, anh tài

    Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?

    – Thiên thai là của nàng Kiều

    Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra

    Lê Thị Thu Hoài @ 12:57 03/03/2012

    Số lượt xem: 21143

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Cuộc Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương Đất Nước ❤️ Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Kháng Chiến Hào Hùng Của Dân Tộc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em Hay Nhất ❤️ 1001 Câu
  • Ca Dao, Tục Ngữ Chế Về Tình Yêu ( Vào Đọc Ngay Nào)
  • Ca Dao Tục Ngữ Thành Ngữ Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Lòng Người Ý Nghĩa, Sâu Sắc!
  • Lời Chúc Sinh Nhật Ngọt Ngào Không Thể Bỏ Qua Gửi Tới Người Thân Yêu
  • Stt Chúc Người Yêu Cũ Hạnh Phúc Bên Người Mới
  • Lời Phật Dạy Về Nghệ Thuật Giữ Gìn Sắc Đẹp
  • Stt Ngày Cuối Tuần Đầy Cô Đơn Và Ảm Đạm
  • Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…

    CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM

    Ca dao là những câu thơ có thể hát thành những làn điệu dân ca, ru con… hoặc ca dao là lời dân ca đã lược bỏ đi những luyến láy khi hát. Ca dao để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ, ngoài ra còn có những nội dung khác của ca dao: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp khác trong xã hội…

    Tục ngữ là những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian về mọi mặt như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn. Nó ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh. Đây là một thể loại văn học dân gian.

    Ca dao, tục ngữ, dân ca truyền miệng của Việt Nam, có sắc thái độc đáo, khó sánh được. Câu 6, câu 8, có vần, có điệu, ý nghĩa và tinh tế và vô danh chẳng biết tác giả là ai. Thuộc giới bình dân hay trí thức, nông dân hay thầy giáo” ? Chỉ biết riêng ca dao mênh mông kỳ thú, phản ánh nếp sống, lối suy nghĩ của dân tộc Việt trải qua 4000 năm văn hiến. Một dân tộc văn minh, nhiều nghị lực, dũng cảm, đầy thi vị.

    Ca dao tục ngữ là một hành trình tìm về cội nguồn của nước Việt Nam mến yêu. Đọc ca dao để thấy khí thiêng sông núi Việt, đọc ca dao để thấy tinh thần hiện hữu, bản sắc dân tộc của dân tộc Việt. Thấy ra ý thức dân tộc và sức mạnh tinh thần của người Việt, thấy cái tinh thần kháng chiến quật cường của người Việt, nhất định không chịu đồng hoá.

    Ca dao tục ngữ là niềm tự hào to lớn của dân tộc Việt Nam. Không phải dân tộc nào cũng có được văn chương và thi sĩ tính như thế. Non nước Việt Nam đẹp nghìn thu, vô song. Người nước Việt cũng khác thường. Trải qua nhiều thời đại, kho tàng văn chương bình dân Việt Nam càng phong phú, súc tích với biết bao câu tục ngữ, ca dao, những câu hát điệu hò muôn hình muôn vẻ. Dân ca là ca dao đã được dân gian hát và hò qua nhiều thể điệu đặc thù của từng địa phương.

    THÀNH NGỮ

    Trong ngôn ngữ Việt có hẳn một kho thành ngữ, trong đó phải kể đến những câu, những lời bình nghị sinh động về phẩm cách con người, về đạo lý ở đời, về nhân tình thế thái. Chỉ kể những câu có bốn từ, bốn tiếng đăng đối giàu biểu cảm người ta đã có thể liệt kê ra rất nhiều. Xin viện dẫn: “Xấu người đẹp nết”, “Giấu đầu hở đuôi”, “Cười thuê khóc mướn”, “Nước chảy đá mòn”, “Giận cá chém thớt”, “Bóc ngắn cắn dài”, “Bòn tro đãi sạn”, “Chọn đá thử vàng”, “Dẻ cùi tốt mã”, “Văn mình vợ người”, “Ma chê cưới trách”, “Quýt làm cam chịu”, “Con dại cái mang”, “Chị ngã em nâng”, “Công cha nghĩa mẹ”, “Môi hở răng lạnh”…

    Ðặc điểm của loại thành ngữ này là bốn từ đều là từ đơn, đứng độc lập, có nghĩa riêng; chia thành hai cặp đối xứng nhau. Ví như câu “Xấu người đẹp nết” thì xấu, người, đẹp, nết; bốn từ đơn mang hàm nghĩa riêng, độc lập, không cần liên kết hoặc phụ thuộc vào từ khác; chia thành hai cặp đối xứng là xấu người đối với đẹp nết; đối cả ý lẫn lời; xấu đối với đẹp, người đối với nết.

    Thành ngữtục ngữ được dùng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân ta. Tuy nhiên, để hiểu đúng nghĩa một câu tục ngữ hay một thành ngữ, nhất là phân biệt đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ cũng không mấy dễ dàng với khá nhiều người. Muốn phân biệt được đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ thì phải có căn cứ, có cơ sở khoa học và tiêu chí để phân định.

    Về vấn đề này, mục “Diễn đàn nói và viết” của Tạp chí Ngôn ngữ học Việt Nam (số 8 năm 2006) đã nêu như sau: Tục ngữ là một câu nói hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý (ví dụ: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng); còn thành ngữ chỉ là một cụm từ, một thành phần câu, diễn đạt một khái niệm có hình ảnh (ví dụ: Mẹ tròn con vuông).

    Nội dung của tục ngữ thuộc về đúc rút những kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử – xã hội của nhân dân (ví dụ: Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa/ Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm). Thành ngữ lại mang tính biểu trưng, khái quát và giàu hình tượng nên thường dùng nghệ thuật tu từ ẩn dụ hoặc nghệ thuật tu từ hoán dụ. Chẳng hạn “Chân cứng đá mềm”. Chính vì vậy, thành ngữ dễ gây được ấn tượng mạnh mẽ với người nghe, người đọc, hiệu quả biểu đạt và biểu cảm rất cao nên nhân dân thường dùng xen vào lời ăn tiếng nói (ví dụ: Tôi chúc anh đi “chân cứng đá mềm”)…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngày Của Mẹ Mother’s Day 2022 Ở Việt Nam Là Ngày Nào? Quà Tặng Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Hay Về Con Gái Thời Nay Được Dân Mạng Chia Sẻ Nhiều Nhất
  • Lời Chúc Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Cho Đồng Nghiệp Hay, Ý Nghĩa Nhất 2
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Giao Thương
  • Nslide Những Câu Nói Nổi Tiếng Trong Tam Quốc
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100