Top 9 # Xem Nhiều Nhất Ca Dao Tuc Ngu Hai Huoc Vietnam Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Altimofoundation.com

Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập Ca Dao Tuc Ngu Viet Nam Toan Tap Doc

Ca dao tục ngữ Việt Nam toàn tập

21. Cầm vàng mà lội qua sông Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

22. Cần Thơ là tỉnh Cao Lãnh là quê Anh đi lục tỉnh bốn bề Mảng lo buôn bán không về thăm em

23. Cậu cai nón dấu lông gà Cổ tay đeo nhẫn gọi là cậu cai Ba năm được một chuyến sai Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê Cậu cai buông áo em ra Ðể em đi bán kẻo mà chợ trưa

24. Cây cao bóng mát không ngồi Ra ngồi chỗ nắng trách trời không mây

25. Cây da Chợ Đũi nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàn Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân!

26. Cây khô không dễ mọc chồi Mẹ già không thể sống đời với con

27. Cây không trồng nên lòng không tiếc Con không đẻ nên mẹ ghẻ không thương

28. Cây trên rừng hoá kiểng Cá dưới biển hoá long Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong Anh đi lục tỉnh giáp vòng Đến đây trời khiến đem lòng thương em

29. Cây vông đồng không không trồng mà mọc Con gái xóm này chẳng chọc mà theo

30. Cây xanh lá đỏ hoa vàng Hạt đen rễ trắng đố chàng là chi (đố là gì? Cây rau sam)

31. Cây xanh thời lá cũng xanh Cha mẹ hiền lành để đức cho con Mừng cây rồi lại mừng cành Cây đức lắm chồi, người đức lắm con Ba vuông sánh với bảy tròn Đời cha vinh hiển đời con sang giàu

32. Cậu cai buông áo em ra Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa Chợ trưa dưa nó héo đi Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?

33. Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại Bắt anh ra treo tại nhành dương Biểu từ ai, anh từ đặng Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ

34. Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày

35. Chanh chua thì khế cũng chua Chanh bán có muà, khế bán quanh năm

36. Cháu ơi cháu ngủ cho ngon Của dì, dì giữ ai bòn mặc ai

37. Chàng ôi, giận thiếp mà chi Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng

38. Chàng về để áo lại đây Để khuya em đắp gió khuya lạnh lùng

39. Chàng về để áo lại đây Phòng khi em nhớ cầm tay đỡ buồn

40. Chặt không đứt, bứt không rời Phơi không khô, chụm không cháy (Đố là con gì? Con sam)

41. Chẳng tham ruộng cả, ao tiền Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ

42. Chân đi ba bước lại dừng Tuổi em còn bé chưa từng đi buôn Đi buôn cho đáng đi buôn Đi buôn cau héo có buồn hay không

43. Chén tình là chén say sưa Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

44. Chẻ tre bện sáo cho dầy Chận ngang sông Mỹ có ngày gặp em

45. Chê đắng chê hôi Đã chê xôi không dẻo Lại chê kẹo không ngọ

46. Chê đây, lấy đấy sao đành Em chê cam sành , lấy phải quít hôi Quít hôi bán một đồng mười Cam ba đồng một, quít ngồi trơ trơ

47. Chết trước được mồ, được mả Chết sau nằm ngả, nằm nghiêng

48. Chiếc khăn cô đội trên đầu Gió xuân đưa đẩy rơi vào tay tôi Bâng khuâng tôi chẳng muốn rời Trao cô thì tiếc, giữ thời không yên

49. Chiếu bông mà trải góc đền Muốn vô làm bé biết có bền hay không?

50. Chiều chiều, buồn miệng nhai trầu Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ

Đ

1. Đánh bạc quen tay Ngủ ngày quen mắt Ăn vặt quen mồm

2. Đánh chết, mà nết không chừa Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

3. Đàn bà nói có là không Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

4. Đàn bà tốt tóc thì sang Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

5. Đàn đâu mà gảy tai trâu Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

6. Đàn kêu tích tịch tình tang Ai đem công chúa lên thang mà về

7. Đàn ông đi biển có đôi Đàn bà đi biển mồ côi một mình

8. Đàn ông không râu vô nghì Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

9. Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu Anh về học lấy chữ nhu Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

10. Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu Rút gươm đâm họng máu trào Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

11. Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt Lửa nhà máy hết cháy thành than Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn Kể từ khi em biết được chàng Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

12. Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

13. Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

14. Đèn treo ngang quán Tỏ rạng bờ kinh Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

15. Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

16. Đêm khuya ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn trông sao sao mờ Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

17. Đêm khuya thắp chút dầu dư Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

18. Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

19. Đêm khuya trăng dọi lầu son Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng Bển qua đây đàng đã xa đàng Dầu tui có lâm nguy thất thế Hỏi con bạn vàng nó cứu không? Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

20. Đêm nằm tàu chuối có đôi Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

21. Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài Bây giờ chàng đã nghe ai Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung Bây giờ sự đã nhạt nhùn Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua Cá lên mặt nước, cá khô Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

22. Đêm qua nguyệt lặn về Tây Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài Trúc với mai, mai về trúc nhớ Trúc trở về, mai nhớ trúc không Bây giờ kẻ Bắc, người Đông Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

23. Đêm thanh cảnh vắng Thức trắng năm canh Một duyên, hai nợ, ba tình Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

24. Đến đây đất nước lạ lùng Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

25. Đến ta mới biết của ta Trăm nghìn năm trước biết là của ai

26. Đề huề chồng vợ Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

27. Đi chùa lạy Phật cầu chồng Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

28. Đi đâu cho thiếp theo cùng Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

29. Đi đâu mà vội mà vàng Mà vấp phải đá mà quàng phải dây Thủng thỉnh như chúng anh đây Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

30. Đi cho biết đó biết đây Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

31. Đi qua nhà nhỏ Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

32. Đó đây trước lạ sau quen Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

33. Đói lòng ăn đọt chà là Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

Đói lòng ăn nắm lá sung Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

34. Đói lòng ăn nửa trái sim Uống lưng bát nước đi tìm người thương

35. Đói lòng nuốt trái khổ qua Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

36. Đôi ta chẳng được sum vầy Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương Vì sương nên núi bạc đầu Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

37. Đôi ta đã trót lời thề Con dao lá trúc đã kề tóc mai Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

38. Đôi ta như loan với phượng Nỡ lòng nào để phượng lià cây Muốn cho có đó, có đây Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi Thà rằng chẳng biết thì thôi Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

39. Đôi ta như thể con tằm Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong Đôi ta như thể con ong Con quấn con quít, con trong con ngoài Đôi ta như thể con bài Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

40. Đố ai biết luá mấy cây Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng Đố ai quét sạch lá rừng Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây Rung cây, rung cỗi, rung cành Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

41. Đố ai lặn xuống vực sâu Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

42. Đố anh con rít mấy chưn Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người Mấy người bán áo con trai Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

43. Đốt than nướng cá cho vàng Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

44. Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm Muốn ăn bôn súng mắm kho Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

45. Đồng tiền Vạn lịch Thích bốn chữ vàng Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu Bây giờ cô lấy chồng đâủ Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

46. Đổ lửa than nên vàng lộn trấu Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

47. Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ Anh gặp em đây không cửa không nhà Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

48. Đời vua Thái Tổ, Thái Tông Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

49. Đờn cò lên trục kêu vang Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương Chiều nay qua phản bạn hồi hương Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào Ghe tui tới chỗ cắm sào Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

50. Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm Anh thấy em tốt mã anh lầm Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

51. Đưa nhau đổ chén rượu hồng Mai sau em có theo chồng đất xa Qua đò gõ nhịp chèo ca Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

52. Đường trơn trợt gượng đi kẻo té Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

53. Đứt tay một chút còn đau Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

Đặc Điểm Hai: Tục Ngữ Ca Dao Nói Về Kinh Nghiệm Lao Động Sản Xuất Sử Dụng Nhiều

Tải bản đầy đủ – 128trang

2.1.1. Nghề trồng lúa:

Nhƣ trong chƣơng I chúng tôi đã phân tích, trong số những câu tục

ngữ nói về trồng trọt thì những câu nói về kinh nghiệm làm ruộng (gieo

trồng, cày cấy và gặt hái) lại chiếm đa số (có 174 câu trên tổng số 438

câu, chiếm tỷ lệ 39,7%). Còn ca dao thì cũng có tới 99 bài nói về nghề

này (chiếm tỷ lệ 61,87%) mặc dù có những bài ca dao không chỉ nói về

kinh nghiệm về trồng lúa mà còn đề cập cả đến kinh nghiệm khác nữa. Ví

dụ:

Tháng chạp là tháng trồng khoai,

Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà.

Tháng ba cày ruộng vỡ ra,

Tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng.

Tháng năm gặt hái đã xong,

Nhờ Trời một mẫu năm nong thóc đầy.

Năm nong đầu em xay, em giã,

Trấu ủ phân, cám bã nuôi heo.

Sang năm lúa tốt tiền nhiều,

Em đem đóng thuế đóng sưu cho chồng.

Đói no có thiếp có chàng,

Còn hơn chung đỉnh giàu sang một mình.

Có thể nói, cha ông ta đã đúc kết đƣợc những kinh nghiệm hết sức

quý báu và phong phú về nghề làm ruộng.

Nói đến trồng trọt thì từ xƣa tới nay trồng lúa đã và đang là một

trong những nghề chủ đạo sản xuất ra lúa gạo. Nếu nhƣ trƣớc đây, sản

xuất ra lúa gạo trƣớc hết là nhằm phục vụ cho nhu cầu trong nƣớc thì khoảng

một thập kỷ trở lại đây, ngƣời nông dân Việt Nam không chỉ sản xuất ra lúa

gạo cho nhu cầu nội địa mà còn để xuất khẩu. Và gạo đã trở thành một trong

những mặt hàng nông sản xuất khẩu nhiều nhất của Việt Nam.

Về trồng lúa, ca dao có rất nhiều bài:

82

Bao giờ Mang hiện đến ngày,

Cày bừa cho chín, mạ này đem gieo.

Bao giờ nắng rữa bàng trôi,

Tua Rua quặt lại, thời thôi cấy mùa.

Tua Rua thì mặc Tua Rua,

Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

Cày nông xấu lúa, xấu màu

Thiệt mình, thiệt cả con trâu kéo cày.

Và tục ngữ cũng vậy:

– Cấy thưa hơn bừa kỹ.

– Cấy thưa thừa thóc, cấy mau dốc bồ.

– Cấy thưa thừa thóc, cấy dầy cóc được ăn.

– Cơm quanh rá, mạ quanh bờ.

– Chiêm cấy to tẽ, mùa cấy nhẻ con.

– Làm ruộng tháng năm, coi chăm tháng mười.

Có thể nói, trong ca dao cũng nhƣ trong tục ngữ nói về kinh nghiệm trồng

lúa, chúng ta có thể thấy xuất hiện rất nhiều từ mà hễ chỉ cần nghe nhắc

đến những từ đó là ngƣời đọc hay ngƣời nghe có thể nhận diện ngay lớp

từ đó nói về ngành nghề gì. Chẳng hạn nhƣ tên của rất nhiều loại lúa mạ

cũng nhƣ những đặc điểm của chúng : lúa chiêm, lúa mùa, lúa dé, lúa

von, lúa bông vang, mạ, mạ chiêm, mạ mùa, chiêm gon, chiêm hoa

ngâu,…trong các câu tục ngữ sau đây:

– Chiêm cấy to tẽ, mùa cấy nhẻ con.

– Chiêm cứng, ré mềm.

– Lúa bông vang thì vàng con mắt.

– Lúa chín hoa ngâu đi đâu chẳng gặt.

– Lúa ré là mẹ lúa chiêm

– Mạ chiêm đào sâu chôn chặt, Mạ mùa vừa đặt vừa đi.

83

– Mạ chiêm tháng ba không già, Mạ mùa tháng rưỡi ắt là không non.

Chắc chắn khi nghe hay đọc đƣợc những từ trên đây ai cũng sẽ nhận ngay

ra đây là những từ chuyên dùng trong gieo trồng và cấy lúa dù có thể họ

không thể biết hết về đặc tính của các loại mạ, các loại lúa, không rõ thời

gian nào thì ngƣời nông dân bắt đầu gieo trồng trên những loại ruộng,

loại đất nhƣ thế nào và với kỹ thuật cày ra sao cấy cũng nhƣ thời điểm

nào thì họ cấy gặt. Nhƣ vậy, trong nghề trồng lúa, từ xa xƣa, bao thế hệ

nông dân đã đúc kết nên một hệ thống từ khá phong phú. Có thể liệt kê sơ

bộ ra ở đây nhƣ sau:

– Lớp danh từ: giống, giống lúa, lúa, vụ lúa, vụ chiêm, vụ mùa, lúa

chiêm, lúa mùa, lúa dé, lúa gon, lúa bông vang, ruộng, đồng ruộng,

bờ ruộng, ruộng ngấu, mạ già, mạ úa, mạ mùa, mạ chiêm, mạ non,

thóc gạo, ruộng cao, ruộng thấp, ruộng khô, ruộng sâu (cấy trước),

ruộng gò (cấy sau), ruộng góc, hàng sông, hàng con, bụi lúa, …

– Lớp động từ: cấy, cày, bừa, gặt hái, làm ruộng, làm mùa, làm mạ, gặt

chiêm, cấy trốc, cấy lúa, cấy thưa, cấy mau, vãi lúa, đi cày, cày sâu bừa

kỹ, bừa cạn, cày sâu, cày nông, cắt rạ, trỗ (lúa, ngô bắt đầu ra hoa)…

Có thể, nhiều từ thuộc lớp từ này sẽ đƣợc sử dụng trong nhiều ngữ

cảnh, nhiều loại văn bản khác nhau. Ví dụ nhƣ từ cấy có thể đƣợc coi là

một thuật ngữ trong y sinh học (cấy phôi) với ý nghĩa là gieo, cấy tế bào

vào cơ thể. Nhìn chung, lớp từ này dù đƣợc dùng trong ngữ cảnh nào, loại

văn bản nào thì ngƣời đọc lẫn ngừi nghe có thể xác định ngay: đó là

những từ chuyên dùng trong một nghề mà hiện nay có tới khoảng 75%

dân số Việt Nam theo làm – nghề trồng lúa.

Thêm vào đó, một hệ thống từ vựng về gieo trồng cày cấy nhƣ nêu

trên xuất hiện từ rất xa xƣa và tồn tại cho đến nay trong kho tàng văn hoá

dân gian Việt Nam có thể coi là một trong những bằng chứng sống động,

và quan trọng để chứng minh Việt Nam là một trong những cái nôi đầu

tiên của nền văn hóa văn minh lúa nƣớc trong khu vực và trên thế giới.

84

đồng thời, nó cũng minh chứng cho lịch sử lâu đời của dân tộc Việt Nam

từ thuở khai sinh.

2.1.2. Trồng trọt các loại cây khác

Ngoài cây lúa là loại cây lƣơng thực chủ đạo, ngƣời nông dân Việt

Nam còn trồng trọt khá nhiều loại cây khác. Do vậy, căn cứ vào những

câu tục ngữ, những bài ca dao mang chủ đề kinh nghiệm trong lao động

sản xuất, chúng ta cũng sẽ gặp hàng loạt tên các loại cây trồng, trong số

đó, có cả những cây lƣơng thực nhƣ khoai, đậu, ngô, đỗ, cà, bầu, bí nhƣ:

Đất đập nhỏ, luống đánh to,

Xung quanh rắc đậu, trồng ngô xen vào.

Phân tro chăm bón cho nhiều,

Đậu ngô hai gánh một sào không sai.

Tháng chạp là tiết trồng khoai,

Tháng giêng tưới đậu, tháng hai cấy cà

Bên cạnh đó, ngƣời nông dân còn trồng cả các loại cây ăn quả nhƣ

chanh, mít, dừa, chanh, cam, quýt…:

– Cảnh cau, màu chuối

– Mít chạm cành, Chanh chạm rễ

– Mít tròn, dưa vẹo, thị méo trôn…

2.2. Về những từ chuyên dùng nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm

Cũng nhƣ trong chƣơng một chúng tôi đã phân tích, ở nƣớc ta,

cùng với nghề trồng trọt (mà chủ yếu là trồng lúa) thì nghề chăn nuôi,

đánh cá, trồng dâu nuôi tằm… cũng chiếm vị trí rất quan trọng trong lao

động sản xuất nông nghiệp.

Trong nghề chăn nuôi, từ xƣa chăn nuôi gia súc và gia cầm đã trở

thành ngành chủ đạo. Đặc biệt là trong chăn nuôi các loại gia súc, chúng

tôi nhận thấy con trâu là loại gia súc đƣợc ngƣời nông dân dành cho nhiều

tình cảm nhất. Tổng số câu tục ngữ nói về kinh nghiệm chọn giống và

chăn nuôi trâu mà chúng tôi thống kê đƣợc là 35 câu còn, ca dao là 6 bài.

85

Trƣớc hết, có thể thấy trong các loại gia súc, con trâu là con vật

quen thuộc và gần gũi nhất đối với ngƣời nông dân. Hơn thế nữa, đối với

họ thì “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Vì vậy, ngƣời dân lao động Việt

Nam đã đƣa hình ảnh con trâu vào trong nhiều bài ca dao. Xuất hiện ở đó,

con trâu dƣờng nhƣ đƣợc coi nhƣ là bạn cần mẫn của ngƣời nông dân

trong lao động sản xuất:

Trâu ơi! Ta bảo trâu này!

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

Cấy cầy vốn nghiệp nông gia,

Ta đây, trâu đấy ai mà quản công!

Bao giờ cây lúa còn bông,

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

Tiếng gọi Trâu ơi thật gần gũi. Ngƣời ta là ai thì trâu cũng là ai, thật bình

đẳng, thân thiết. Và cũng chính vì đƣợc tình cảm gần gũi đối với con trâu

nhƣ vậy nên ngƣời nông dân Việt Nam rất hiểu và cũng rất có kinh

nghiệm trong việc chọn giống khi mua để có con trâu nhƣ ý cũng nhƣ rất

có kinh nghiệm trong việc chăm nuôi để chúng có thể giúp ích tối đa cho

mình trong sản xuất. Điều này thể hiện qua cách chọn và sử dụng từ của

ngƣời sáng tác.

Khi chọn giống mua trâu thì những con đƣợc việc sẽ là những con

mà tóc chóp, hoa tai:

– Trâu hoa tai, bò gai sừng.

– Trâu tóc chóp, bò mũ chấn.

Còn những con mà: tóc tạng, khoang nạng, vang trừng thì không nên

mua vì đó là những con trâu rất phàm ăn mà lại dữ, rất nguy hiểm. Vì

vậy khi quyết mua thì cần phải xem xét kỹ lƣỡng và nên lựa nái, xem vó,

xem sừng:

– Mua trâu lựa nái, mua gái lựa dòng.

– Mua trâu xem sừng, mua chó xem chân.

86

– Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi.

Và nên:

– Cày trâu loạn, bán trâu đồ.

Và trong quá trình chăn nuôi thì họ cũng rút ra nhiều kinh nghiệm với

những con trâu nhƣ trâu he, trâu trắng, trâu hay, trâu gầy, trâu chậm,

trâu ngơ… thì sẽ có những đặc điểm gì cần chú ý. Phải nói rằng, để tìm

từ ngữ và cách diễn đạt thích hợp để nêu lên đặc điểm của từng loại nhƣ

vậy quả là linh hoạt:

– Trâu chậm uống nước dơ, Trâu ngơ ăn cỏ héo.

– Trâu hay không ngại cày trưa.

– Trâu thịt thì gầy, trâu cầy thì béo.

– Trâu trắng đi đến đâu, mất mùa đến đấy.

Đó là một loạt kinh nghiệm về chăn nuôi trâu – con vật đƣợc coi là gần

gũi nhất với ngƣời nông dân. Qua tục ngữ cũng nhƣ ca dao nói về kinh

nghiệm chọn giống và chăn nuôi trâu, bằng cách diễn đạt giản dị và

những từ ngữ phong phú, chính xác, ngƣời đọc cảm nhận thấy ngƣời

nông dân Việt Nam dƣờng nhƣ đã dành cho con trâu một tình cảm thân

thiết, dƣờng nhƣ đã coi con trâu nhƣ một ngƣời bạn thực sự của mình

trong công việc và dƣờng nhƣ đã hiểu khá rõ về tính cách cũng nhƣ đặc

điểm của chúng.

Bên cạnh đó, những gia súc đƣợc nhắc đến trong ca dao tục ngữ

nói về kinh nghiệm chăn nuôi còn có con lợn (ca dao có 1 bài chiếm tỷ lệ

0,66%, tục ngữ có 13 câu chiếm tỷ lệ 5.25%) và con bò (ca dao: 3 bài

chiếm tỷ lệ 2%, tục ngữ 15 bài chiếm tỷ lệ 3,42%). Tuy nhiên có thể thấy,

trong quan niệm và cách đối xử, bò lợn hay cả những gia cầm nhƣ gà vịt

đều ở địa vị thấp hơn trâu rất nhiều vì nhiều khi bò, lợn đƣợc nhắc tới thì

bị coi nhƣ thức ăn và bị có thành kiến là dốt nát.

Trong những câu tục ngữ nói về kinh nghiệm chăn nuôi lợn, các

tác giả cũng đƣa ra một loạt từ để chỉ đặc điểm cũng nhƣ tính chất của nó

87

nhƣ lợn đực là những con chuộng phệ, lợn sề là những con chuộng chỗm,

lợn đói một bữa bằng người đói nửa năm, lợn đói một năm không bằng

tằm đói một bữa…

Còn trong kinh nghiệm chăn nuôi bò thì:

– Bò đẻ tháng năm, nỏ bằm thì hư.

– Bắt lợn tóm giò, bắt bò tóm mũi.

Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

Mùa đông tháng giá bò dò làm sao?

Bên cạnh chọn giống và chăn nuôi gia súc, kinh nghiệm chọn

giống, chăn nuôi gà, vịt và đánh bắt, nuôi thả cá cũng nhƣ nghề trồng dâu

nuôi tằm cũng đƣợc ngƣời xƣa đã đúc kết lại khá súc tích bằng cách chọn

lựa từ vựng sao cho hợp lý mà lại hàm chứa đƣợc đầy đủ thông tin muốn

truyền đạt. Ở những nghề này, có thể liệt kê một loạt từ vựng khá điển

hình mà khi tiếp nhận là ngƣời đọc có thể phần nào nhận diện nó liên

quan đến lĩnh vực nào. Sở dĩ chúng tôi nói phần nào là bởi vì nếu những

từ và cụm từ này đứng một mình và tách ra khỏi văn cảnh là câu tục ngữ

hay bài ca dao thì cũng rất có thể ngƣời đọc hay ngƣời nghe liên tƣởng

tới một lĩnh vực nào đó chứ không hẳn là liên tƣởng đến kinh nghiệm về

các nghề mà chúng tôi đang đề cập đến. Ví dụ:

– Nghề trồng dâu nuôi tằm ( tục ngữ có 18 bài chiếm tỷ lệ 4,1%, ca dao

có 23 bài chiếm tỷ lệ 15,33%): chăn tằm, ươm tơ, dâu, tằm xuân, nong

tằm, nong kén, nén tơ, nuôi tằm, tằm đỏ cổ, vỗ dâu vào, chăn tằm lấy

tơ, dâu cỏ lá nhỏ, dâu tàu to lá, giống dâu ưa nước…

– Nghề chọn giống và chăn nuôi gà, vịt (tục ngữ có 11 câu chiếm tỷ lệ

2,51%, ca dao có 2 bài chiếm tỷ lệ 1,33%): gà cỏ, gà cựa dài (thì rắn),

gà cựa ngắn (thì mềm), gà đen chân trắng, gà trắng chân chì, gà ri,

gà nâu, nuôi gà…

– Nghề nuôi thả và đánh bắt cá (tục ngữ có 23 câu chiếm tỷ lệ 5,25%, ca

dao có 4 bài chiếm tỷ lệ 2,66%): ao sâu tốt cá, cá mè, cá chép, vãi

88

chài, làm nghề chài cá, cầm chài, vãi cá, vào lộng ra khơi, đi biển làm

nghề, giong câu, …

3. TIỂU KẾT

Nói tóm lại, ca dao tục ngữ truyền đạt kinh nghiệm lao động sản

xuất bên cạnh những đặc điểm khá đặc sắc về ngữ âm, thì những đặc

điểm về từ vựng lại khá đơn giản.

Thứ nhất, về cơ bản, ca dao tục ngữ nói về kinh nghiệm sản xuất

trong nông nghiệp nên hệ thống từ vựng đƣợc lựa chọn sử dụng bao gồm

một tỷ lệ khá nhiều từ chuyên dùng trong trồng trọt (đặc biệt là gieo trồng

và cày cấy lúa, cũng nhƣ là trồng trọt các loại cây nông nghiệp và các loại

cây ăn quả) và chăn nuôi (những loài gia súc phục vụ trực tiếp cho công

việc cày bừa của nhà nông nhƣ trâu bò, và các loài gia cầm nhằm cải

thiện kinh tế nhƣ gà vịt). Đây những từ mà chúng tôi tạm gọi là từ thƣờng

gặp trong sản xuất nông nghiệp: trong trồng trọt và chăn nuôi. Chúng tôi

tạm gọi nhƣ vậy vì đây là hệ thống từ vựng mà khi nhắc tới thì phần lớn

ngƣời ta sẽ liên tƣởng tới nghề nông.

Thứ hai, trong ca dao và tục ngữ nói về kinh nghiệm sản xuất, các

tác giả chủ yếu sử dụng từ thuần Việt với cách diễn đạt giản dị không khó

hiểu. Số lƣợng từ Hán Việt chiếm tỷ lệ thấp, đặc biệt là trong ca dao; còn

từ địa phƣơng đƣợc dùng rất ít, trong ca dao hầu nhƣ không xuất hiện.

Sở dĩ, các tác giả từ thời xƣa đã rất quan tâm và chú trọng trong

việc lựa chọn từ ngữ để đúc kết lại những kinh nghiệm quý báu trong ca

dao và tục ngữ nói về kinh nghiệm lao động sản xuất hoàn toàn không có

gì khó hiểu. Trái lại, điều đó đƣợc giải thích bằng những lý do xác đáng

và hợp lý. Lý do chính là đối tƣợng hƣớng tới của tục ngữ ca dao nói về

kinh nghiệm sản xuất là đại đa số những ngƣời thuộc tầng lớp nông dân.

Mặc dù, ngày nay, nông dân Việt Nam đã có sự khác biệt rất lớn so với

nông dân Việt Nam cách nay chỉ khoảng hai mƣơi, ba mƣơi năm nhƣng

nhìn chung, nông dân là những ngƣời quanh năm vất vả, “bán mặt cho

89

đất, bán lưng cho trời”, những ngƣời ít có điều kiện học hành. Hơn thế

nữa, nhiều ngƣời trong số họ có khi cả đời không bƣớc chân ra khỏi cổng

làng do vậy cũng không có cơ hội tiếp xúc thế giới bên ngoài và mở

mang kiến thức… Với những đối tƣợng này, việc không sử dụng nhiều từ

Hán Việt cũng nhƣ từ địa phƣơng là hoàn toàn có lý và dễ hiểu. Vì nếu

một câu tục ngữ, một bài ca dao muốn đi vào tâm thức ngƣời đọc, ngƣời

nghe thì trƣớc hết nó không thể đƣợc tạo nên bằng nhiều từ ngữ xa lạ và

khó hiểu mà từ Hán Việt cũng nhƣ từ địa phƣơng đƣợc coi là lớp từ mà ai

ai khi gặp cũng có thể hiểu ngay và hiểu một cách chính xác.Thậm chí có

khá nhiều từ Hán Việt nhiều khi còn gây khó hiểu hoặc hiểu sai nghĩa cho

ngay cả những ngƣời có chút học vấn.

Vì vậy, để cho tất cả những ngƣời nông dân suốt ngày, suốt tháng

đầu tắt mặt tối có thể tiếp thu những kinh nghiệm quý báu, các tác giả từ

thời xƣa đã cố gắng sử dụng ít những lớp từ gây khó hiểu mà chú trọng

sử dụng nhiều từ thuần Việt cũng nhƣ cách diễn đạt dễ hiểu, dễ nhớ đối

với ngƣời đọc. Và kết quả của việc chọn lựa cách sử dụng từ vựng đó

chính là những thành quả mà ngƣời nông dân đạt đƣợc. Nhiều kinh

nghiệm mà bao đời truyền lại đã trở thành những bài học ăn sâu vào tâm

thức biết bao thế hệ nông dân. Những kinh nghiệm đó đã giúp cho ngƣời

nông dân đỡ vất vả hơn, chủ động hơn sáng tạo hơn trong công việc của

mình cũng nhƣ có đƣợc nhiều vụ mùa bội thu hơn, đời sống ngày càng

đƣợc cải thiện và trở nên khấm khá hơn.

Cuối cùng, từ vựng trong câu ca dao tục ngữ nói về kinh nghiệm

sản xuất đƣợc lƣu truyền trong bao thế hệ ngƣời Việt là một trong những

bằng chứng quan trọng chứng minh một hiện thực rằng Việt Nam là một

trong những cái nôi đầu tiên của nền văn minh nông nghiệp lúa nƣớc

trong khu vực và trên thế giới.

90

PHẦN KẾT LUẬN

ao động là quá trình mà con ngƣời phát triển lý trí cũng nhƣ tôi

L

luyện cảm quan thẩm mỹ. Do đó, quá trình lao động là quá trình

phát triển khoa học và văn nghệ. Những sáng tác dân gian trong mỗi thời

kỳ lịch sử đều có liên hệ chặt chẽ với lao động và ngƣợc lại, những sản

phẩm trong quá trình lao động ấy, những sáng tác truyền miệng lại cũng

có mối liên hệ chặt chẽ với lao động sản xuất, đƣợc sản sinh trên cơ sở

của lao động sản xuất. Cũng nhƣ các loại văn học truyền miệng khác,

hiện thời chúng ta chƣa thể biết đƣợc tục ngữ và ca dao đã xuất hiện vào

một thời kỳ nhất định nào trong lịch sử tồn tại của con ngƣời. Nhƣng

chúng ta có thể tin đƣợc loại tục ngữ nói về kinh nghiệm lao động của

ngƣời Việt và nói về các hiện tƣợng tự nhiên chắc đã phải ra đời từ rất

sớm, tƣơng ứng với sự phát triển rất sớm của nền kinh tế nông nghiệp của

nƣớc ta. Chính vì vậy, chúng tôi quyết định chọn ca dao, tục ngữ nói về kinh

nghiệm sản xuất trong nông nghiệp làm đối tƣợng chính của đề tài.

Nội dung chính của luận văn:

* Về nội dung: Kinh nghiệm trong lao động sản xuất đƣợc đúc kết

lại trong ca dao và tục ngữ trong hai mảng nội dung lớn là trồng trọt và

chăn nuôi. Đây là hai nghề chính trong sản xuất lao động nông nghiệp

của Việt Nam tự bao năm nay. Và cũng chính bởi lẽ đó mà có thể nói,

những câu tục ngữ ca dao đúc kết những kinh nghiệm trong lao động sản

xuất cũng chiếm một vị trí quan trọng trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt

Nam.

* Về đặc điểm ngữ âm: ca dao cũng nhƣ tục ngữ Việt Nam mang

chủ đề kinh nghiệm lao động sản xuất đều là những đơn vị mang đặc

trƣng chung của thơ ca Việt Nam là có vần và có nhịp. Đây có thể nói là

91

hai đặc điểm nổi bật của của ca dao tục ngữ nói chung và ca dao tục ngữ

nói về kinh nghiệm lao động sản xuất nói riêng.

– Ca dao mang chủ đề kinh nghiệm lao động sản xuất chủ yếu

đƣợc sáng tác theo thể lục bát và tuân thủ nghiêm chỉnh hiệp vần chung

của thể thơ lục bát: chữ cuối câu trên phải vần với chữ thứ 6 câu dƣới và

mỗi hai câu mỗi đổi vần, và vần luôn là vần bằng. Nhờ có vần, mỗi dòng

ca dao không chỉ trở nên hài hoà, dễ nhớ, có nhạc điệu mà nó còn có thể

truyền tải thông tin một cách đầy đủ và trọn vẹn hơn.

Về nhịp điệu, ca dao nói về kinh nghiệm sản xuất rất đa dạng và

linh hoạt. Nhờ vậy, những bài ca dao truyền đạt kinh nghiệm quý báu

trong lao động sản xuất trở nên không đơn điệu, tẻ nhạt, cứng nhắc mà

trái lại, nhờ có sự đan xen của các cách ngắt nhịp khác nhau ấy mà những

kinh nghiệm quý báu ấy đƣợc truyền tải một cách trọn vẹn theo đúng tâm

nguyện của những ngƣời đi trƣớc.

– Về đặc điểm ngữ âm của tục ngữ nói về kinh nghiệm lao động:

Tục ngữ đúc kết kinh nghiệm lao động sản xuất gồm hai loại: Loại câu

không gieo vần và loại câu có gieo vần

+ Loại câu không gieo vần có thể là những tuy không vần vè nhƣng

đƣợc chia làm hai vế rất cân đối nhau về ý tứ những cũng có thể là những

câu không cân đối nhƣng khi đọc lên nghe rất xuôi tai. Ở những câu tục

ngữ thuộc loại không gieo vần và cũng đặt không đối, ngƣời sáng tác có

mục đích duy nhất là truyền lại kinh nghiệm của mình nên chỉ cốt sao cho

ý đúng, lời gọn mà thôi.

+ Loại câu có gieo vần: nhìn chung, vị trí hiệp vần của tục ngữ Việt

Nam nói chung và tục ngữ nói về kinh nghiệm sản xuất rất đa dạng vần

rất phong phú với các loại vần khác nhau nhƣ vần lƣng, vần liền, vần

cách tiếng. Nhìn chung, các kiểu vần này không tồn tại riêng rẽ mà luôn

kết hợp một cách linh hoạt trong các đơn vị tục ngữ.

92

Tổng Hợp Những Câu Ca Dao

[ 5 bài ]

01.12.2015, 22:00

[Sưu tầm]Tổng hợp những câu ca dao – tục ngữ về học tập hay nhất – Điểm: 9

01.12.2015, 22:06

Re: (sưu tầm)Tổng hợp những câu ca dao – tục ngữ về học tập hay nhất – Điểm: 10

[b]DANH NGÔN:

– Không những phải học ở sách, mà còn phải học ở cuộc sống nữa. ( N. CRÚP-XCAI-A ) – Học, học nữa, học mãi. ( V.I.LÊ-NIN ) – Bất kì người nào tôi gặp cũng có chỗ hơn tôi, đáng cho tôi học. ( PA-SCAN ) – Chúng ta phải tiếp thu và học tập ở những người đi trước chúng ta và cả những người đồng thời với chúng ta. Ngay cả thiên tài cực kì vĩ đại cũng không thể tiến xa được nếu chỉ muốn lấy mọi thứ từ thế giới nội tâm của riêng mình. ( G. GỚT )– Con người phải suốt đời trau dồi cho mình có kiến thức ngày càng rộng thêm. ( A. LU-NA-SÁC-XKI ) – Người học trò mà không định vượt thầy thì thật đáng thương. ( LÊ-Ô-NA ) – Người hỏi về điều mình chưa biết là nhà bác học; người xấu hổ không dám hỏi là kẻ thù của chính mình. ( A. NA-VÔI )– Trường học có thể hô biến những người thắng và người bại, nhưng cuộc sống thì không. ( Bill Gate)

– Nhiệm vụ của một trường đại học tiến bộ không phải là cung cấp những câu trả lời thích hợp, mà chính phải là đặt ra các câu hỏi thích hợp .

101 DANH NGÔN VỀ GIÁO DỤC, HỌC TẬP, ĐỌC SÁCH !1. Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để làm người và để tự khẳng định mình.UNESCO2.Kiến thức càng tăng, hoài nghi càng lắm.Gớt-tơ3. Không có bóng tối, chỉ có sự ngu dốt thôi.Sếch-xpia4.Người khôn học được nhiều điều ở người ngu hơn là người ngu học được ở người khôn.Xen-xô5.Kẻ không biết mà không biết mình không biết, hắn là thằng điên.A.Pô-tơ6.Hãy tự biết mình.Xô-cơ-rát7.Thà không biết gì còn hơn là biết nhiều thứ nửa vời.Nít-xơ8.Sự giáo dục bắt đầu từ lòng mẹ, mỗi lời thốt ra cho đứa trẻ nghe dẫn tới việc tạo thành tính khí của chúng.H.Bal-lau9.Thà đừng sinh ra đời còn hơn là bị thất học.J.Hơ-uốt10.Không học một cái gì thì khỏi quên một cái gì cả.C.D.Pa-nát11.Không có gì ngu bằng một người có giáo dục, nếu bạn loại bỏ những điều mà anh ta được giáo dục.W.Rô-gơ12.Có những người cao quý do việc học hơn là thiên nhiên.Xi-xê-rô13.Giáo dục là một điều đáng kính trọng, nhưng nên nhớ rằng đôi khi những điều được dạy là những cái không đáng biết.Uyn-đơ14.Ba nền tảng của học vấn là: nhận xét nhiều,từng trải nhiều và học tập nhiều.Ca-tơ-ran15.Những gì được dạy ở các trường học không phải là giáo dục mà chỉ là phương tiện của giáo dục.Ê-mê-sơn16.Một người muốn dạy dỗ kẻ khác thì trước hết phải tự điều khiển được mình.Bất-hơ17.Người thầy giáo dạy học trò và cũng được học trò dạy lại nhìều điều.Ê-pic-tơ18.Người thầy giáo thông minh luôn nghĩ rằng học trò thông minh, người thầy ngu dốt luôn nghĩ rằng học trò ngu dốt.Na-ga-giu-na19.Không có môn học nào buồn tẻ, mà chỉ có những người thầy buồn tẻ.Lốc-cơ20.Giáo dục học trò khác với chia kẹo cho tre con.Săm-pho21.Điều nực cười nhất là ai đó cứ tưởng giáo dục giống như một trò chơi rao bán những chân lí nhất thành bất biến.Gra-si-an22.Người thầy hoàn hảo là người thầy biết rõ những chỗ chưa hoàn hảo của mình.Ô-gu-stanh23.Giáo dục là công cụ biến con số không của lcịh sử thành một tượng đài nhân văn giàu cảm xúc.An-tô-min24.Người ta có thể không có nhu cầu thưởng thức thi ca, nhạc hoạ…;nhưng một khi đã không có nhu cầu hiểu biết thì không nên bàn chuyện đúng, sai.Plu-tác25.Muốn giáo dục có kết quả, xét cho cùng, cần phải trả lời được câu hỏi:Ai giáo dục ai?Tun-li26.Trở nên thấp kém hơn bản thân mình không phải là cái gì khác ngoài sự ngu dốt, trở nên cao cả hơn bản thân mình không phải là cái gì khác ngoài sự thông thái.Xô-crát27.Không phải thời gian mà sự giáo dục thích hợp và tự nhiên sẽ dạy dỗ trí tuệ.Đê-mô-crít28.Giáo dục là nguồn dự trữ lớn nhất cho tuổi già.A-ri-xtốt29.Giáo dục là một kiểu sinh đẻ.Lích-ten-béc30. Nền giáo dục tốt nhất là biến học trò thành dân của một dân tốcco tổ chức tốt nhất.Hê-ghen31.Người học trò hay nhất của tôi là người không bao giờ đồng ý với tôi.Le-mây-trơ32.Mỗi người đều phải nhận hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền lại,một thứ do chính mình tạo nên.Gíp-bông33.Dốt nát là đêm tối của tâm hồn.Xi-xê-rông34.Thật vô cùng may mắn cho ai được học cách học.Mê-na-đrơ35. Người giáo viên bình thường mang chân lí đến cho trò, người giáo viên giỏi biết dạy học trò đi tìm chân lí.Đi-xtéc-véc36.Giáo dục một người đàn ông được một người đàn ông, giáo dục một người đàn bà được một gia đình. Giáo dục một người thầy đươc cả một xã hội.Ta-go37.Giáo dục là một nghệ thuật làm cho con người trở thành những người có đạo đức.Hê-ghen38.Nhà giáo dục cảm thấy mình là một mắt xích sinh động giữa quá khứ và tương lai…Sự nghiệp của họ bình dị nhuưg là môth trong những sự nghiệp vĩ đại nhất của lịch sử.U-sin-xki39.Sau bánh mì, giáo dục là nhu cầu đầu tiên của một dân tộc.La-xơ-xphu-cô40.Tất cả trẻ con đều bịt tai trước những lời khuyên răn dạy bảo của bạn, nhuưg chúng sẽ mở mắt thật to xem bạn làm gì.Ta-lét.41.Tri thức chỉ là tri thức khi nó có sự nỗ lực suy nghĩ của người học, chứ nó không phải là trí nhớ.L.Tôn-xtôi42.Dạy học không phải chỉ là một nghề kiếm sống thuần tuý, nó đòi hỏi những hi sinh thầm lặng vô bờ bến.Xu-khô-lôm-xki43.Người thầy giáo nào cũng vừa làm thầy của học trò, vừa làm trò của những người đã dạy dỗ mìnhMa-ka-ren-kô44.Quên kiến thức thì có thể bị điểm kém, nhuưg còn cơ hội giành điểm tốt.Quên bạn thì có thể trở thành kẻ ích kỉ, nhưng vẫn có cơ may sửa chữa lỗi lầm.Quên thầy thì không còn lí do gì khiến con người có thể chùn tay trước tội ác.M.Go-rơ-ki45.Có nhiều tiền cũng là hạnh phúc.Có tiếng tăm càng hạnh phúc hơn.Nhưng có nhiều học trò cũ nhớ đến mình thì niềm hạnh phúc ấy mới là vô giá.S.Bally46.Thầy giáo không chỉ là người dạy học trò cách viết chính tả,mà còn phải dạy học trò cách viết hoa hai chữ “con người”.A.Sê-sê-hai-rơ47.Càng tôn trọng con người bao nhiêu, càng yêu cầu con người cao bấy nhiêu.Ma-ka-ren-kô48.Giáo dục đạo đức mà không trở thành thói quen chẳng khác gì xây lâu đài trên cát.Ma-ka-ren-kô49.Dạy học tức là học hai lần.G.Giu-be50.Về thực chất, con người bắt đầu già khi mất năng lực học tập.A-Gráp51.Người học trò mà không định vượt thầy thì thật đáng thương.Lê-ô-na52.Hiều biết và chỉ có hiểu biết mới làm cho con người tự do và đem lại cho con người sự vĩ đại.D.Đi-đo-rô53.Giáo dục con người là đào luyện cho họ có thể đối đầu với mọi hoàn cảnh.C.H.Ri-vê54.Dạy học trò mà không khơi dậy cho họ khát vọng ham hiểu biết thì chỉ là việc đập búa lên sắt nguội mà thôi.Hô-ra-xơ-man55.Tiêu chuẩn đánh giá con người là khát vọng vươn tới sự hoàn chỉnh.W.Gớt56.Thiên tài gồm một phần trăm cảm hứng và chín mươi phần trăm mồ hôi.T.E.-đi-xơn57.Gieo hành vi, bạn sẽ gặt thói quen, gieo thói quen, bạn sẽ gặt tính cách, gieo tính cách, bạn sẽ gặt số phận.V.Téc-ke-rây58.Trẻ em khóc chào đời giống nhau ở khắp mọi nới. Khi lớn lên, chúng có thói quen khác nhau. Đó là do kết qủa của giáo dục.Tuân Tử59.Đạo học không có đường tắt.Nguyễn Siêu60.Giáo dục cũng phải có nhiều phương pháp(Giáo diệc đa thuật hĩ)Mạnh Tử61.Giáo dục không phân biệt các thứ hạng người khác nhau.(Hữu giáo vô loại)Khổng Tử62.Người không bao giờ đặt câu hỏi:”Tại sao? Như thế nào?…” là người không thể giáo dục được (Bất viết “như ti hà, như tri hà” giả, ngô mạt như tri hà dã dĩ hĩ)Khổng Tử63.Con người tuy có đạo lí, nhưng cứ ăn no mặc ấm và rong chơi mãi mà không được giáo dục thì cũng gần như loài cầm thú (Nhân chi hữu đạo dã, bão thực noãn y, dật cư nhi vo giáo, tắc cận như cầm thú)Mạnh Tử64.Chỗ mà con người khác với loài cầm thứ thật mong manh (Nhân chi sở dĩ dị ư cầm thú giả cơ hi)Mạnh Tử65.Sau khi làm xong các công việc xã hội thf hãy học văn(đọc sách) (Hành hữu dư lạc, tắc dĩ học văn)Khổng Tử66.học khẩn trương như sợ không kịp với thời gian(lạc hậu) và còn sợ cả sự rơi rụng, mất mát nữa (Học như bất cập, do khủng bất chi)Khổng Tử67. Phấn khởi nhờ học Kinh Thi, biết cư xử đẻ tồn tại trong xã hội là nhờ KInh Lễ, thành đạt trọn vẹn là nhờ Kinh Nhạc(Hưng ư Thi, lập ư Lễ, thành ư Nhạc)Khổng Tử68.Kẻ ham học sẽ có trí tụê, kẻ sau mê thực hành sẽ nên người, kẻ biết hổ then sẽ có dũng khí(Hiếu học cận hồ tri, lực hành cận hồ nhân, tri sỉ cận hồ dũng).Trung Dung69.Người chê ta mà chê đúng tức là thầy ta, người khen ta mà khen đúng tức là bạn ta, còn người nịnh hót ta chính là kẻ thù của ta đó (Cố phi ngã nhi đáng giả, ngô sư dã; thị ngã nhi đáng giả, ngô hữu dã; xiểm du ngã giả, ngô tạc dã)Tuân Tử70.Người ta có ba cái biết: sinh ra đã biết, học mà biết và rơi vào cảnh khốn cùng cũng sẽ biết (Nhân hữu tam tri ư dã : sinh nhi tri, học nhi tri, khốn nhi tri)Tuân Tử71.Người biết một vấn đề nào đó không bằng người yêu thích nó, người yêu thích nó, người yêu thích nó không bằng người say mê nó (Tri chi giả bất hiếu chi giả, hiếu chi giả bất như lạc chi giả)Khổng Tử72.Biết thì nói là biết, không biết nói là không biết, như vậy tức là người hiểu biết (Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã)Khổng Tử73.Biết mình dốt nát mà có thể không lo lắng được ư? Biết mình học nhưng không hành mà có thể yên tâm được ư? (Tri nhi bất học, khả dĩ vô ưu dư? Học nhi bất hành, khả dĩ vô ưu dư)Hân Anh74.Có đi học mới biết mình còn kém cỏi, có lam thầy mới biết mình còn nông cạn (Học nhiên hâu tri bất lúc, giáo nhiên hâu tri khốn)Lễ kí75.Giáo dục chính là cách làm cho con người phát huy được ưu điếm và sửa chữa được sai lầm (Giáo dã giả, trưởng thiện nhi cứu kì thất giả dã)Lẽ kí76.Hiểu qua lời giảng của thầy là có hạn, hiểu biết do tự học là vô hạn (Giảng chi công hữu hạn, tập chi công vô dĩ)Nhan Uyên77.Học là gì? Học là hiểu rộng, hỏi cặn kẽ, suy nghĩ kĩ, phân biệt rõ ràng, thực hành kịp thời (Học như hà? Bác học chi, thẩm vấn chi, thận tư chi, minh biện chi, đốc hành chi)Trung dung78. Người khác học một lần, ta học trăm lần, người khác học mười lần, ta học ngàn lần;… như thế dù là người kém cỏi cũng phải tiến bộ (Nhân thất năng chi, kỉ bách chi, nhân thập năng chi, kỉ thiên chi;… tuy nhu tất cường)79.Bắn trăm phát, trượt một phát, không thể gọi là thiện xạ:… người học thấy khó mà bỏ giữa chừng, không thể gọi là có chí (Bách phát, thất nhất, bất túc vị thiện xạ,…. học dã giả, cố học nhất chi dã)Tuân Tử80. Học cái cơ bản sẽ nắm được các tiểu tiết, không có ai sa vào tiểu tiết mà có thể nắm được cái căn bản (Đắc kì đại giả khả dĩ kiêm kì tiểu, vị hữu học kì tiểu nhi năng chi kì đại giả dã)Âu Dương Tu81.Cùng một vấn đề mà người khác không thấy gì, nhưng ta phát hiện điều cần hỏi, đó mới là học tập tiến bộ (Ư bất nghi xứ hữu nghi, phương thị tiến hĩ )Trương Tái82.Nếu biết dốt nát là khuyết tật thì sẽ coi tri thức là sự hoàn thiện (Dĩ bất tri vi khiếm, tác dĩ tri vi thái)Lục Cửu Uyên83.Học mà không suy nghĩ thì hiểu biết hời hợt chỉ nghĩ (vẩn vơ) mà không chịu học thì đầu có trống rỗng mông lung (Học nhi bất tư tắc võng tư nhi bất học tắc đãi )Khổng Tử84.Ngọc không mài giũa không thành vật báu, người không học không hiểu đạo lí (Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lí)Lễ kí85.Cái đích lớn lao của sự học không gì khác hơn là tìm lại cái tâm đã mất (Học vấn chi đạo vô tha, cầu kì phóng tâm nhi dĩ hĩ)Mạnh Tử86.Đời ta thì cso hạn mà sự hiểu biết thì vô hạn (Ngã sinh dã hữu nhai, nhi tri dã vô nhai)Trang Tử87.Người bỏ học giữa chừng giống như bù nhìn, lay thì rung rinh, buông tay ra thì cứng đờ (Học giả hữu tức thì, mất như mộc ngẫu, nhân khiên súc tắc động, xả chi tắc tức )Trương Hoành Cừ88.Người hiếu học dẫ chết vẫn như còn. Người không học nếu có sống chẳng qua cũng chỉ là thây đi thịt chạy mà thôi (Hiếu học tuy tử nhược tổn. Bất học giả hành thi tâủ nhục nhĩ )Nhiễm Mạt89.Mỗĩ ngày biết thêm nhiều điều mình chưa biết, mỗi tháng chẳng quên những điều mình đã biết, như vậy mới đáng gọi là người ham học (Nhật tri kì sở vô, nguỵệt vô vong kì sở năng, khả vi hiếu học giả dĩ hĩ)Tử Hạ90.Người không hiểu biết việc xưa nay (lịch sử và hiện tại) thì chẳng khác gì ngựa trâu mà mặc áo vậy (Nhân bất thông cổ kim, mã ngưu nhi khâm cư)Hân Văn Công91.Cong người không thể không biết xấu hổ , khi đã biết xấu hổ tức là (cái điều sai trái) không còn đáng xáu hổ nữa (Nhân bất khả dĩ vô sỉ, vô sỉ chi sỉ, vô sỉ hĩ)Mạnh Tử92.Ba người cùng đi, chắc chắn có một người đáng là thầy ta (Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư yên)Khổng Tử93.Tai hoạ của con người là ở chỗ thích làm thầy người khác (Nhân chi hoại tại hiếu vi nhân sư)94.Người quân tử học văn để mở rộng kiến thức, học lễ để tự kiếm chế mình cho đúng mực (Quân tử bác học ư vân, ước chi di lễ)Khổng Tử95.Học không biết chán là người trí( Học bất yếm trí dã)Mạnh Tử96.Người ta sinh ra vốn giống nhau, nhưng do nhiễm những thói quen khác nhau mà thành ra khác nhau ( Tính tương cận dã, tập tương viễn dã)Khổng Tử97.Ai đọc sách mà không biết được nhiều hơn những điều viết trong sách thì người đó mới sử dụng sách có một nửa.G.Lét-xinh98.Người mù chữ của thế kỉ XXI không phải là người không biết đọc, mà là người không biết cách đọc.Khuyết danh99.Tin sách một cách mù quáng, máy móc thì coi như chẳng đọc gì cả (Tận tín thư bất như vô thư)Mạnh Tử100.Người đi học xem sách , mỗi lần xem lại hiểu ra một điều mới mẻ, đó chính là sự tiến bộ đấy (Học giả quan thư, mỗi kiến mỗi tri tân ý đắc, học tiến hĩ )Trương Tái101.Cứ tưởng đọc sách là đã hiểu biết hết, đến khi vấp ngã trong đời mới biết là chưa đủ (Đọc thư vị dĩ đa, phủ sự tri bất túc )Vương An Thạch.

07.12.2015, 15:11

Re: (sưu tầm)Tổng hợp những câu ca dao – tục ngữ về học tập hay nhất – Điểm: 1

Học thầy không tày học bạnkhông cày không có thóc, không học không có chữ… …… …… …… …… …… …… …… …… …… ……..

1 thành viên đã gởi lời cảm ơn Nguyễn Bá Tây về bài viết trên: thiên_lazy

07.12.2015, 15:52

Re: (sưu tầm)Tổng hợp những câu ca dao – tục ngữ về học tập hay nhất – Điểm: 6

1/ Học đi đôi với hành

2/ Luyện mãi thành tài, miệt mài tất giỏi

3/ Học tài thi phận

4/ Học một biết mười

5/ Tiên học lễ, hậu học văn

6/ Học thầy học bạn, vô hạn phong lưu

7/ Dao có mài mới sắc, người có học mới nên

8/ Học không đi lính, học tính đi buôn

9/ Cần cù bù thông minh

10/ Đi một ngày đàng học một sàng khôn

11/ Muốn lành nghề chớ nề học hỏi

12/ Người không học như ngọc không mài

13/ Nhỏ còn thơ dại biết chiLớn thì đi học, học thì phải siêng

14/ Dốt đến đâu học lâu cũng biết

15/ Dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng

1 thành viên đã gởi lời cảm ơn copy về bài viết trên: thiên_lazy

26.12.2015, 12:08

Re: (sưu tầm)Tổng hợp những câu ca dao – tục ngữ về học tập hay nhất – Điểm: 9

Một số câu tục ngữ – ca dao về học tập Liêu Tuấn Vũ Thơ ca – Châm ngôn 1:19:00 CH

TỤC NGỮ: – Luyện mãi thành tài, miệt mài tất giỏi. – Học ăn học nói, học gói học mở. – Học hay cày biết. – Học một biết mười. – Học thầy chẳng tầy học bạn. – Học thầy học bạn, vô vạn phong lưu.– Ăn vóc học hay. – Bảy mươi còn học bảy mươi mốt. – Có cày có thóc, có học có chữ. – Có học, có khôn. – Dao có mài mới sắc, người có học mới nên. – Dẫu rằng thông hoạt, chẳng học cũng hư đời, tài chí bằng trời, chẳng học cũng là phải khổ. – Dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng. – Dốt đến đâu học lâu cũng biết. – Đi một ngày đàng học một sàng khôn. – Hay học thì sang, hay làm thì có. – Học để làm người. – Học hành vất vả kết quả ngọt bùi. – Học khôn đến chết, học nết đến già.

CA DAO: – Học là học biết giữ giàng Biết điều nhân nghĩa biết đàng hiếu trung. – Làm người mà được khôn ngoan Cũng nhờ học tập mọi đường mọi hay Nghề gì đã có trong tay Mai sau rồi cũng có ngày ích to. – Học là học để làm người Biết điều hơn thiệt biết lời thị phi. – Học trò học hiếu học trung Học cho đến mực anh hùng mới thôi. – Học là học để mà hành Vừa hành vừa học mới thành người khôn. – Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài Cũng thành vô dụng cũng hoài ngọc đi.

[ 5 bài ]

Thành viên đang xem chuyên mục này: jacobcak545 và 29 khách

Bạn không thể tạo đề tài mớiBạn không thể viết bài trả lờiBạn không thể sửa bài của mìnhBạn không thể xoá bài của mìnhBạn không thể gởi tập tin kèm

Ca Dao Chế, Tục Ngữ Chế, Thơ Chế Hài Hước, Ca Dao Chế Hài Hước, Ca Dao Vui, Thơ Chế Vui

Ca dao chế, tục ngữ chế, thơ chế hài hước, ca dao chế hài hước, ca dao vui, thơ chế vui

Bầu ơi thương lấy bí cùng Mai sau có lúc nấu chung một nồi

Trừi mưa bong bóng fặp fòng Má đi lấy chồng con ở dzí … boy(friends)

Đường về đêm tối canh thâu Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười

Đi đâu cho thiếp theo cùng No thì thiếp ở, lạnh lùng thiếp … bye

Thương anh chín đợi mười chờ Đến khi mười một em lờ bỏ anh

Cô kia cắt cỏ một mình Cớ sao không rủ người tình cắt chung ?

Má ơi cứ gả con xa Chàng mà nổi giận, chổi chà con quơ

Buồn buồn ra đứng bờ ao Ai ngờ chó cắn buồn ơi là buồn

Má ơi đừng gả con gần Con qua xúc gạo nhiều lần má … hao

Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

Trông nhìn ông bụt hiền từ Ngó mặt em cái , ôi như bà chằn

Mấy đời bánh đúc có xương Mấy đời chơi net k0 vương tơ tình

Trúc xinh trúc mọc đầu đình Em xinh em hút thuốc lào cũng xinh

Còn thời lên ngựa bắn cung Hết thời xuống ngựa lấy thun bắn ruồi

Lên cao mới biết non cao Có ghẹ mới biết rất là hao đô (ghẹ là girlfriend tiếng xì goòng)

Đàn ông tập tạ thì đô Đàn bà không tập vẫn đô như thường

Má ơi đừng gả con xa Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu Thôi má hãy gả nhà giàu Có tiền chỉnh mặt, làm đầu cho con

Cánh cò bay lả bay la Anh cầm cây súng, bay qua anh “bùm”

Đói lòng ăn sạch thịt gà Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

Đời là cái đinh Tình là cái que Em là con ngan què Loe ngoe anh đập chết

Sáng trăng chiếu trải hai hàng Bên anh”xập xám”, bên nàng “tiến lên”

Tháp mười đẹp nhất bông xen Thân em đẹp nhất tòng teng lắc vàng

Một cây làm chảng lên non Ba cô chụm lại mỏi mòn … lỗ tai Ầu ơ Gió mùa thu mẹ ru con ngủ Năm canh dài cha nhậu đủ cả năm canh

Đường dài mới biết ngựa hay Ở lâu mới biết anh này … ít tắm ghê

Mấy đời bánh đúc có xương Mấy đời gái chảnh mà thương trai nghèo

Cá không ăn muối cá ươn Em nghe lời dụ bụng trương chình bình

Đậu xanh, đậu đỏ, đậu nành Riêng tôi chúc bạn đậu vào kỳ thi

Một thương em trăng như Miên Hai thương miệng móm có duyên vô cùng Ba thương ngáo ngáo khùng khùng Bốn thương vừa mập vừa lùn rất xinh Năm thương 2 má em phình Sáu thương mắt hí đa tình làm sao Bày thương răng tựu hàng rào Tàm thương đôi mắt giận nhau cả ngày Chín thương nải chuối bàn tay Mười thương mũi xẹp cả hai như mèo

Em yêu anh như bác Hồ yêu nước Mất anh rồi như Pháp mất Đông Dương (chắc con nhà chính trị)

Yêu em hổng phải vì ham Mà là anh hổng chịu cam cảnh nghèo

Khi thương anh nói anh cười Hết thương anh giống như người điếc câm (hehe)

Gió đưa bụi chuối la đà Lỡ mê vợ bé vợ nhà vẫn thương

Còn duyên kén cá chọn canh Hết duyên ếch đực, cua kềnh cũng vơ Còn duyên kén những trai tơ Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng

Thức đêm mới biết đêm dài Hai vợ mới biết thế nào là ghen

Nếu hết sữa, ấy thì cho bú Hết vú này đến vú bên kia Sữa nhiều ta phải phân chia Hôm này vú nọ, hôm kia vú này

Ước gì em biến thành trâu Để anh là đỉa anh bâu vào đùi Ước gì anh biến thành chầy Để em làm cối anh Giã ngày Giã đêm

THƠ CHẾ VUI MỚI Tác giả: Nghiêm Văn Thư

Ra đi anh nhớ sông Hương Nhớ cô em gái cưởi truồng tắm sông Chiều chiều anh hoài ngóng trông Xem cô con gái xuống sông cởi truồng Xuống sông em tắm cưởi truồng Cưởi truồng đi tắm tôi thường núp xem Ngu sao mà chẳng núp xem Người con gái tắm không xem cũng hoài.

Nếu biết rằng mai em có bầu Anh về tìm đường trốn cho mau Không cần suy tính gì thêm nữa Muốn kết thúc ngay mối tình đầu.

Yêu em anh biết để đâu Yêu em anh để cầu tiêu trong nhà Môi ngày vài bận vào ra Vẫn nguyên trong đó em là cầu tiêu.

Một người đi, một người ở lại Một người ở lại, một người đi Một người đi, một người đi mãi Người ở lại mãi nhớ một người đi.

Giang hồ một kiếp phong ba Đội trời đạp đất tỏ ra anh hùng Anh hùng thì mặc anh hùng Tòa tuyên bản án một khung tử hình.

Ra sân cầm chổi quét nhà Thấy con chuột nhắt bò qua bên mình Giơ tay đập chổi cái thình Chuột chạy đi mất tay mình còn đau.

Ngồi buồn chẳng có một ai Soi gương mình thấy đẹp trai vô cùng Đẹp trai nhưng lại bi khùng Bị khùng mới ngỡ vô cùng đẹp trai.

Ra đường bỗng thấy anh cười Thấy đầu anh trọc tưởng người “làng chơi” Tưởng đâu gặp được ý trời Lẳng lơ em muốn cùng người giải khuây Làm ngơ anh vội dãi bầy A di đà phật…! tôi đây thầy chùa, Mong cô đừng có đong đưa Kẻo người ta thấy lại chua xót lòng Ban ngày kẻ thấy người trông Thôi thì ta hãy mặn nồng về đêm.

Ai đưa con sáo sang sông Để người nấu nước vật lông nó rồi Người ta làm một dĩa mồi 1 2… zo chén ly bôi hữu tình.

Ai đưa em đến sài thành Để giờ em đã trở thành cave.

Một cây làm chẳng nên non 3 cây mới đủ mua con Dyland (SH).

Giường thơm đã phủ kín mùng Ban đêm chỉ có T(inh) trùng mà thôi.

Dòng sông phong cảnh hữu tình Bờ sông một khúc cho mình nên thơ Trăng tròn ánh sáng vàng mơ Hưu hưu gió thổi lững lờ trong đêm Dòng sông một khúc êm êm Anh thả cục “Cut” lênh đênh theo dòng “Cut” vàng trôi nhẹ trên sông Bao ngày lãng mạng bỗng dâng tuôn trào Trăng kia treo ở trên cao Có thấy cục “Cut” hao hao giống chì Xả xong anh bỏ ra đi Để em lẻ bóng như ni giữa dòng

Khi đi trúc chửa mọc măng Khi về em chửa nhọc nhằn lắm thay.

Làm thân con gái phải lo Chỉnh chu sắc đẹp khỏi cho ế chồng.

Cô kia sao đứng u sầu Đưa tay lên gãi trên đầu rận rơi.

Không chồng mà vẫn đông con Thử hỏi trên đời ai còn tài hơn.

Đứng ngoài bờ rào đái vào bờ rào Cho nhà em ở biến thành ao.

Không chồng mà vẫn đông con Thử hỏi trên đời ai còn tài hơn.

Đứng ngoài bờ rào đái vào bờ rào Cho nhà em ở biến thành ao.

Dấu chân khắp chốn giang hồ Mà sao tôi vẫn ngây ngô đường tình

Ớt nào là ớt chẳng cay Gái nào mà gái chẳng hay phụ bần.

Người khôn ăn nói dở chừng Văn cùn kẻ dại làm khùng người khôn.

Đi qua thấy ngọn đèn chông Thấy bóng em nhỏ, anh rông trộm gà.

Đầu lòng hai ả Tố Nga Lậy trời đứa kế sẽ là thằng cu.

Từ khi ta hết yêu nhau Lòng anh bỗng thấy nhẹ sầu là bao Yêu em anh đã tổn hao Gầy gò ốm yếu khác nào con ma.

Chồng người áo gấm đeo gươm Chồng em áo rách em thương chồng người.

Yêu là tiền mất một tí Xem nàng cho mình một tí gì đây. Một tí thì chỉ cầm tay Vàng mười mà có mỗi ngày một đêm.

Vợ tôi như ngọn trúc đào Lao xao trước gió ồn ào điếc tai.

Yêu nhau cởi áo cho nhau Về nhà mẹ hỏi mang bầu thì sao?

Chim khôn hót tiếng nhẹ nhàng Người khôn hỏi mượn được vàng mới khôn.

Yêu nhau cởi nhẫn trao nhau Về nhà mẹ hỏi, gối đầu tình yêu.

Nhớ em anh nhớ hột xoàng Nhớ em anh nhớ lượng vàng em đeo.

Ra về anh nhớ rất nhiều Nhớ em thì ít, nhớ nhiều rượu ngon.

Còn duyên làm chảnh má hồng Hết duyên làm gái cho ông quan làng.

Còn duyên làm chảnh má hồng Hết duyên thành gái chưa chồng lỡ duyên.

Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ cô em nhỏ gần nhà tắm sông Nhớ cô em chửa có chồng Xuống sông em tắm mà không mặc đồ.

Ba năm quân đội anh về Cô chị đi mất, anh kề cô em.

Hỡi cô em gái má hồng Cho ông hỏi nhỏ, bỏ chồng hay chưa?

Nếu biêt rằng mai em lấy chồng Anh về thay nước một con sông Dòng nước đen hôi không ai tắm Em giống nước sông lại có chồng.

Nếu biết rằng mai em lấy chồng Anh về anh đánh giấc say nồng Ngày mai tắm gội thăm bồ mới Hết cảnh ghen tuông đỡ thẹn lòng.

Nếu biết rằng mai em lấy chồng Chúc em hạnh phúc có được không? Mai kia nếu lỡ chồng em mắng Hãy đến tìm anh ta mặn nồng

Yêu anh mấy núi cũng trèo Mấy sông cũng lội thấy anh nghèo..lại thôi

Yêm em mấy núi cũng trèo Khi em mang bụng mấy đèo anh cũng dông!!!

***

Xa quê con nhớ mẹ hiền Con về gặp mẹ….lấy tiền xong con lại xa quê

***

Râu tôm nấu với ruột bầu, Chồng chan vợ ngó, lắc đầu hổng ăn.

(version 2)

Râu tôm nấu với ruột bầu Chồng chan vợ húp lắc đầu chê tanh

***

Ta về ta tắm ao ta Sảy chân chết đuối có người nhà vớt lên

(version 2)

Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục vẫn là cái ao

***

Bình tĩnh tự tin không cay cú Âm thầm chịu đựng trả thù sau.

***

Má ơi đừng gả con xa Gả con qua Úc,Canada được rồI

Má ơi đừng gã con xa Chim kêu vươn hú biết nhà má đâu Má ơi đừng gã con gần Con qua mượn gạo nhiều lần má la

***

Tình chỉ đẹp khi còn dang dở Cưới nhau về tắt thở càng nhanh

***

Vẽ hình em lên cát Rồi hôn em môt phát Ôi cuôc đời chua chát Toàn là đất với cát

***

Cười người chớ dại cười lâu Cười hết hôm trước hôm sau lấy gì cười

***

Thấy người sang bắt quàng làm họ Thấy người khó bỏ mặc đi luôn

***

Không tham lam không phải quan huyện Không nhìu chiện không phải….Ziệt Nam

***

Lên chùa thấy bụt muốn tu, Về nhà ngó vợ, muốn xù em ngay

***

Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu…..đi dzìa (về)

***

Không có cuộc tình nào khó Chỉ sợ mình không liều Đạp xe và quốc bộ Quyết chí ắt được yêu

***

Đêm nằm ở dưới bóng trăng Thương cha nhớ mẹ không bằng nhớ em

***

Ước gì em hoá thành trâu Để anh là đỉa anh bâu lấy đùi

*** Hồng nào hồng chẳng có gai Gái nào gái chẳng yêu 2,3 thằng

Hoa hồng thì phải có gai Con gái thì phải phá thai đôi lần

*** Trên trời có đám mây xanh, Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng. Nếu mà anh lấy phải nàng, Anh thà thắt cổ cho nàng ở không.

***

Cá không ăn muối cá ươn Không có xe đẹp thôi đừng yêu em

*** Ước gì môi em là đít bút Anh ngồi học bài cắn đít bút hun em

***

Người đi một nửa hồn tôi mất!! Một nửa hồn kia …… đứng chửi thề

Người đi một nửa hồn tôi mất!! Một nửa hồn kia …… sửa lại xài

***

Bánh mì phải có patê Làm trai phải có máu dê trong người!!!

***

Làm trai cho đáng nên trai Lang beng cũng trải giang mai cũng từng!!!

***

Gió mùa thu anh ru em ngủ Em ngủ rồi……anh cạy tủ anh đi!!!!

***

Chọn xoài đừng để xoài chua Chọn bạn đừng để bạn cua bồ mình

***

Những đêm dài ngồi chơi vi tính Bỗng bàng hoàng khi nhìn thấy roi mây

***

Thân heo vừa béo lại vừa ù Bảy nổi ba chìm với nước lu Chết đuối quẫy chân không ai cứu Đứa nào mà cứu, đứa ấy ngu

***

Ngồi học hồn để lên mây Ông tiên ổng hỏi: “Lên đây làm gì?” Thưa rằng lên hỏi đề thi Ông tiên ổng chửi : “Về đi, con mẹ mày…!!”

***

Hôm nay nhân dzợ đi xa Còn cô em dzợ, dzê ra khỏi chuồng !

***

Trước mắt em anh là thằng hai lúa Sau lưng em anh là chúa giang hồ

***

Nhớ quá khứ buồn rơi nước mắt Nhìn tương lai lạnh toát mồ hôi

***

Nhận được thư em lúc nhá nhem Mừng mừng tủi tủi mở ra xem Trong thư em viết dăm ba chữ “Anh ơi ngày mai nó lấy em”

***

Nắng mưa là chuyện do trời Cúp cua là chuyện ở đơì học sinh Cúp cua đừng cúp một mình Rủ thêm vài đứa tâm tình cho vui

***

Hôm qua anh đến nhà em Ra về mới nhớ để quên 5000 Anh quay trở lại vội vàng Em còn ngồi đó, 5000 …mất tiêu

***

(Suy ngẫm)

Chị tôi lớn tuổi hơn tôi . Mẹ tôi lớn tuổi hơn tôi rất nhiều .

Ô Kiaaàa có một cánh diều . Diều mà có gió thì diều sẽ bay

***

Đời là… cái đinh Tình là… cái que Bố vợ là… con gà què Ngo nghoe anh đập chết

Đường Sài Gòn vừa dài vừa hẹp Gái Sài Gòn vừa đẹp vừa dê

***

Ai vô xứ Huế thì vô Còn tao.. tao cứ thủ đô tao dzìa!

***

Chiều chiều ra đứng ngỏ sau Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều Chờ hoài chờ mãi chẳng thấy mẹ yêu Sao giờ chưa thấy mẹ yêu gửi tiền.

Chiều chiều lại đứng ngỏ sau, Mẹ yêu mẹ hỡi mau mau gửi tiền. Đang xem:Ca dao chế, tục ngữ chế, thơ chế hài hước Trong chuyên mục Cùng chủ đề:● Thơ tình Đến bao giờ em mới hết yêu anh?● Thơ tình Chia tay rồi không làm bạn đâu anh● Thơ tình Hay là mình bất chấp hết yêu nhau đi● Thơ tình Đông về rồi, anh đang ở nơi đâu