Ca Dao Tục Ngữ Về Đạo Lí Làm Người Hay Nhất

--- Bài mới hơn ---

  • Bàn Về Thành Ngữ, Tục Ngữ Hiện Có Ở Cà Mau
  • Tổng Hợp Vài Điều Về Y Đức (Sưu Tầm)
  • Thuyết Minh Về Cây Lúa Việt Nam
  • Ca Dao Về Con Người Hay ❤️ Tục Ngữ Lòng Dạ Con Người
  • Phong Cảnh Việt Qua Tục Ngữ, Ca Dao, Thơ Ca
  • Mỗi người đều có một phẩm chất, một tính cách khác nhau, không ai là giống nhau, không ai có những điểm giống nhau hoàn toàn. Mỗi người có một phẩm chất, một tinh thần riêng như: tự trọng, trung thực, kiên cường, kiên trung, tự cao, tự đại, khiêm tốn, thật thàm dũng cảm,… những phẩm chất đó người ta gọi là đạo lí làm người, đạo lí làm người là một lẽ sống, một cuộc sống tốt của mỗi người.

    Mỗi chúng ta đều phài rèn luyện bản thân, sống trên đời phải biến đối nhân xử thế hợp lý kính trên nhường dưới và có hiếu với bố mẹ ông bà

    Đạo lí làm người là những lẽ sống, những đức tính của con người trong cuộc sống. đạo lí làm người của con người được tính những đức tính như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín , trung, hiếu, để, liêm, sỉ, trinh, và công, ngôn, dung, hạnh. Những đạo lí làm người ấy luôn được con người nhắc đên, luôn được mọi người coi trọng. những đạo lí ấy luôn được mọi người coi trọng và kính nể, và được thể hiện trong các câu thơ câu văn. Để hiểu rõ hơn về đạo lí làm người chúng ta cùng đi tìm hiểu về những câu ca dao tục ngữ về đạo lí làm người để hiểu rõ hơn về đạo lí làm người trong cuộc sống của chúng ta.

    Tục ngữ về đạo lí làm người:

    Câu 1:

    Uống nước nhớ nguồn là đạo lí truyền thông của dân tộc ta, đạo lí làm người được nêu trong câu tục ngữ này là nhớ ơn những người đã cho chúng ta thức ăn, ch chúng ta trai ngọt. nhớ ơn cũng là nhớ những người mang lại cho chúng ta cuộc sống này, cuộc sống ấm nó, hạnh phúc và cho chung ta những điều tốt đẹp trong cuộc sống này.

    Câu 2:

      Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa.

    Câu tục ngữ nhắc nhở chúng ta về đạo lí làm người là nhớ ơn công dạy dỗ của thầy cô dạy chúng ta. Thầy cô là người cho chúng ta chữ nghĩa, cho chúng ta kiến thức, chính vì thế mà câu tục ngữ khuyên chúng ta về đạo lí nhớ ơn, nhớ ơn công ơn dạy dỗ của thầy cô.

    Câu 3:

    Câu tục ngữ khuyên chúng ta về lời nói, lời nói khi mình nói ra cần phải giữ lời hứa. lời hứa là một lời rất quan trọng, để nói lên sự quan trọng của lời nói thì câu tục ngữ khuyên chúng ta về lời hứa, lời nói chúng ta nói ra cần phải giữ lời, cần phải coi trọng lời nói.

    Tổng hợp những câu tục ngữ về đạo lí làm người:

    • Uống nước, nhớ kẻ đào giếng.
    • Sống tết, chết giỗ.
    • Uống nước chớ quên người đào mạch.
    • Kính già yêu trẻ.
    • Yêu trẻ, trẻ đến nhà; kính già, già để tuổi cho.
    • Người đừng khinh rẻ người.
    • Vô công bất hưởng lợi.
    • Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.
    • Cái nết đánh chết cái đẹp.
    • Người chết, nết còn.
    • Đói cho sạch, rách cho thơm.
    • Chết trong còn hơn sống đục.
    • Đừng ham nón tốt dột mưa, đừng ham người đẹp mà thưa việc làm.
    • Dù đẹp tám vạn nghìn tư, mà chẳng có nết cũng hư một đời.
    • Ngọc lành hay có vết.
    • Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ.
    • Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại.
    • Điều lành thì nhớ, điều dở thì quên.
    • Đất lành chim đỗ, đất ngỗ chim bay.

    Ca dao về đạo lí làm người:

    Câu 1:

    • Sông sâu còn còn có kẻ dò
    • Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.

    Con người thì có người tốt người xấu, những người tốt thì nhiều nhưng người xấu cũng nhiều không kém. Sông sâu thể hiện như lòng người, nhưng sông sâu thì dễ dò còn lòng người thì khó dò. Chính vì thế mà lòng người con khó dò hơn sông.

    Câu 2:

    • Trăng mờ còn tỏ hơn sao
    • Dẫu rằng núi lở còn cao hơn đồi.

    Đạo lí làm người là một điều mà ít ai có thể làm tốt và ít ai có thể có đử những đức tính tốt và đầy đủ về đạo lí làm người. Đạo lí làm người luôn có một khía cạnh tốt, nhưng không phải ai trong cuộc sống này đều tốt, chúng ta luôn cần có những đức tính tốt trong cuộc sống.

    Tổng hợp ca dao về đạo lí làm người:

      Khúc sông bên lở bên bồi,

    Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm.

      Nước lớn rồi lại nước ròng,

    Đố ai bắt được con còng trong hang.

      Của trời trời lại lấy đi,

    Giương hai con mắt làm chi được trời.

      Gần ba mươi tuổi chớ mừng,

    Khó ba mươi tuổi con đừng vội lo.

      Lên non cho biết non cao,

    Xuống biển cầm sào cho biết cạn sâu.

    Có vôi có gạch mới tô nên nhà.

    Gạo mượn sét chén, xách mo đi đòi.

      Đò dọc phải tránh đò ngang,

    Ngụ cư phải tránh dân làng cho xa.

      Muốn máy thì phải có kim,

    Muốn hay ắt phải đi tìm người xưa.

    Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa.

    Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen.

      Mật ngọt còn tổ chết ruồi

    Những nơi cay đắng là nơi thật thà.

    Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim.

    Thông qua những câu ca dao tục ngữ về đạo lý làm người phía trên chắc hẳn các bạn sẽ biết thêm được nhiều thông tin hữu ích và những đạo lí làm người để ứng xử sao cho hợp lý nhất và biết đối nhân xử thế lễ nghĩa với bố mẹ ông bà và những người đã giúp đỡ nuôi nâng chúng ta lên người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Đức Tính Cần Cù, Tiết Kiệm Qua Tục Ngữ, Ca Dao
  • Chủ Tịch Hồ Chí Minh Nói Về “tài” Và “đức”
  • Danh Ngôn Về Sự Hy Sinh
  • Tổng Hợp Các Câu Ca Dao Về Mẹ, Tục Ngữ Về Tình Mẫu Tử Tình Cảm Nhất Năm 2022
  • Cảm Động Với Tiểu Phẩm Về “mẹ Ghẻ Con Chồng” Của Nhóm Kịch Nắng Trong Tiếu Lâm Nhạc Hội
  • Tục Ngữ, Ca Dao Dân Tộc Thái Và Tục Ngữ, Ca Dao Người Kinh (Cảnh Thụy)

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Lý Giáo Dục Trong Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Câu Nói Chân Thành Cảm Ơn Hay Nhất Cho Cuộc Sống
  • Status Buồn Người Ở Lại Và Người Ra Đi, Đến Một Lúc Nào Đó Nỗi Đau Ngày Xưa Sẽ Dịu Lại
  • Cực “thấm” Với Những Câu Nói Hay Về Du Lịch Bằng Tiếng Anh
  • Sms 8/3, Tin Nhắn Xếp Hình Chúc Mừng 8/3 Độc Đáo Nhất
  • Cộng đồng dân tộc Thái ở Việt Nam có khoảng hơn 1,5 triệu người, cư trú chủ yếu ở các tỉnh thuộc địa bàn Tây Bắc. Theo nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu, người Thái xuất hiện ở Tây Bắc cách đây hàng nghìn năm, qua các đợt di cư của tộc người Thái từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống và từ Thái Lan sang. Dân tộc Thái có truyền thống văn hóa lâu đời, đạt đến trình độ cao. Ngoài chữ viết, người Thái còn bảo tồn được kho tàng văn hóa, lễ hội, luật tục, tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú và đặc sắc.

    Cũng như kho tàng văn hóa các dân tộc khác, tục ngữ, ca dao của dân tộc Thái là một kho kinh nghiệm về sản xuất, đời sống tinh thần; qua đó, thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan, tư tưởng, tình cảm của con người. So sánh tục ngữ, ca dao của người Thái với người Kinh, chúng ta sẽ tìm thấy ở đó có sự tương đồng thú vị, trên cơ sở đó, có những phân tích, đánh giá và đặt ra những vấn đề cần lý giải.

    Trong khuôn khổ giới hạn, bài viết này, xin chỉ trình bày bước đầu so sánh, tìm hiểu những nét tương đồng về nội dung giữa tục ngữ, thành ngữ dân tộc Thái và với thành ngữ, tục ngữ dân tộc Kinh, trong khuôn khổ nguồn tư liệu còn hạn hẹp: “Luật tục Thái ở Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng (NXB Văn hóa dân tộc, 2012) và ” Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái” (Hội Văn nghệ dân gian- NXB Văn hóa dân tộc, 2012)

    Tổ chức xã hội theo truyền thống của người Thái là bản, mường. Bản của người Thái nhỏ nhất vài ba nóc nhà, lớn thì hàng chục, hàng trăm nhà. Trong cộng đồng ấy, con người được gắn kết với nhau bằng tình cảm và những luật tục, nghi lễ. Lễ hội “xên bản, xên mường” của người Thái kết tinh cao giá trị văn hóa, lịch sử và nhân văn. Do vậy, tục ngữ Thái khuyên răn con người ta sống phải biết yêu quý bản mường của mình, gắn kết với nơi ăn, trốn ở nơi mình sinh sống:

    – Rời nơi ăn chốn ở mãi mãi rồi cũng thành ma

    Tương tự như vậy, người Kinh có câu:

    Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn

    – Sểnh nhà ra thất nghiệp

    Tinh thần đoàn kết cộng đồng, muôn người như một, tạo thành sức mạnh được người Thái ví von bằng những hình ảnh rất cụ thể và gần gũi:

    – Chuối đến lúc trĩu buồng phải có cây chạc chống

    – Khỏe một mình làm không được

    Khôn một mình làm không xong

    Tương tự như vậy, tục ngữ người Kinh có những câu:

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

    Trong phạm vi rộng, tục ngữ Thái khuyên con người biết đoàn kết cộng đồng trong bản, trong mường; ở phạm vi hẹp, tục ngữ Thái khuyên con người đoàn kết anh em trong một nhà:

    Không nặng tiếng trái lời

    Để nhắc nhở anh chị em trong một nhà đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau, người Kinh cũng có những câu:

    – Anh em như thể chân tay

    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần

    – Khôn ngoan đá đáp người ngoài

    Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

    Điều thú vị là trong kho tàng ca dao, tục ngữ của người Thái và người Kinh, số lượng ca dao, tục ngữ nói về đoàn kết gia đình, đoàn kết cộng đồng khá phong phú. Qua đó cho thấy, tinh thần đoàn kết được xây dựng từ gia đình- tế bào của xã hội, được người Thái và người Kinh rất coi trọng. Nó là bài học của con người qua đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và chống kẻ thù để bảo vệ cuộc sống bình yên.

    Vượt lên những kinh nghiệm thông thường được con người đúc rút qua thực tiễn, thể hiện nhân sinh quan, mối quan hệ ứng xử giữa người với người, tục ngữ Thái còn có những câu đậm tính triết lý, khái quát những quy luật của tự nhiên, xã hội, thể hiện một trình độ tư duy cao, có tính biện chứng. Đọc những câu sau, ta thấy cái nhìn của người Thái về thế giới không phải là bất biến, trái lại, rất động:

    – Mưa nhiều không cần nắng, cũng nắng

    Nắng nhiều không cần mưa, cũng mưa

    – Không ai gặp xấu cả năm

    – Người ta có gặp vận rủi

    Qua vận rủi rồi cũng phải tới vận may

    Tuy thuộc hai nền văn hóa khác nhau, nhưng người Thái với người kinh lại gần nhau trong quan niệm về thế giới. Cả người Thái và người Kinh đều nhìn thế giới với con mắt “vạn vật hữu linh”. Tục ngữ Thái có câu :

    Một miếng đất bằng cái quạt cũng có chủ

    Cũng giống như câu tục ngữ của người kinh :

    – Đất có thổ công, sông có hà bá

    Nhìn sự thay đổi của tạo hóa theo quy luật, người Thái cũng có những câu thật triết lý :

    Cũng như người Kinh quan niệm :

    Quan niệm của người Thái về khả năng của con người trong nhận thức thế giới khách quan cũng rất gần với triết học hiện đại vì nó thừa nhận thế giới là vô cùng tận, nhận thức của con người về thế giới luôn hữu hạn :

    Những câu tục ngữ trên rất gần với quan niệm của Kinh qua các câu tục ngữ :

    – Không ai nắm tay được đến tối, gối tay được đến sáng

    Nhìn cuộc sống theo quy luật nhân quả, người Thái có cái nhìn rất hướng thiện :

    Làm ác thể nào cũng gặp ác

    Người không đáp thì ma cũng đáp

    Quan niệm đó trùng với quan niệm của người Kinh, tuy người Thái ít chịu ảnh hưởng bởi quan niệm của Phật giáo:

    – Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác

    Khi phát triển về trình độ tư duy, con người ta nhận thức được đúng với sai, thật với giả, mà cao hơn là phân biệt được sự khác nhau giữa hiện tượng và bản chất, hình thức với nội dung. Tục ngữ Thái có nhiều câu chỉ rõ mối quan hệ này:

    – Người đi kẻ lại phải xem biết ai tốt xấu

    Mặc rách rưới, người có lòng nhân nghĩa cũng nên

    Người mặc đẹp, ăn ngon, lòng dối trá cũng có

    Người Kinh cũng có những câu tương tự:

    – Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

    – Mật ngọt thì ruồi chết tươi

    Những nơi cay đắng là nơi thật thà

    Ruột trong thì trắng vỏ ngoài lại đen

    Qua những câu tục ngữ đúc rút kinh nghiệm về nhìn nhận, đánh giá con người, có thể thấy người Thái cũng như người Kinh, đều nhìn nhận con người về thể chất và nhân cách như là sản phẩm của tự nhiên và môi trường xã hội. Cho nên, trong việc chọn vợ gả chồng người Thái khuyên răn người ta phải chọn dòng giống, nhìn vào gia phong:

    Kén vợ, kén chồng không chỉ đi tìm gương mặt bề ngoài

    Chọn con dao chứ không phải chọn vỏ dao

    Phải biết thật kỹ đáy lòng mà nắm bắt được ngay, gian

    Lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống

    Cũng giống như quan niệm của người Kinh:

    – Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh

    – Trứng rồng lại nở ra rồng

    Liu điu lại nở ra dòng liu điu

    – Giỏ nhà ai quai nhà nấy

    Mặc dù đặc điểm và trình độ phát triển xã hội ở hai cộng đồng người Thái và Kinh không giống nhau, nhưng tổng kết, đúc rút về thói đời, người Thái có câu :

    Lúc làm nên thì luôn thấy chín bà vợ

    Khi không làm nên thì chỉ có một em vợ cũng chẳng thấy

    – Anh em rượu đắng khác hẳn với anh em cùng chịu mùi tanh hôi

    (“Anh em rượu đắng” ở đây chỉ những người dưng, chỉ anh anh em em bên chiếu rượu (với người Thái, rượu đắng là rượu ngon). Còn “anh em cùng chịu mùi tanh hôi” là anh em ruột rà, máu mủ. Có thể ngày thường anh em ít gặp nhau, nhưng khi cha mẹ mất (bốc mùi hôi tanh) thì cùng nhau gánh chịu:

    Tương tự như vậy, người Kinh cũng có những câu:

    – Lúc khó thì chẳng ai nhìn

    Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em

    – Bần cư thành thị vô nhân vấn

    Phú tại sơn lâm hữu khách tầm

    (nghèo ở thành thị không có người hỏi, giầu thì ở rừng núi có người tìm đến)

    Trong quan hệ ứng xử, người Thái cũng có cái nhìn tinh tế và sâu sắc:

    – Uống rượu đừng nói chuyện ruộng

    Ngủ với vợ (chồng) không nói chuyện tình cũ

    Để con người sống có nghĩa, có tình, sống hướng thiện, trong kho tàng tục ngữ của người Thái cũng như người Kinh, có nhiều câu đúc rút những kinh nghiệm giáo dục con cháu. Trách nhiệm giáo dục con cháu thuộc về ông bà, cha mẹ. Nếu như người Kinh quan niệm “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, “con dại, cái mang” thì người Thái cũng quan niệm “Con cháu gây tội ác, tất cả bậc cha mẹ đều phải lo”. Việc đề cao giáo dục trong gia đình là bài học quý về giáo dục mà đến nay vẫn còn mang tính thời sự. Người Thái có những câu răn dạy:

    – Người già hãy bảo con cháu

    Để quá thì chúng lớn khó bảo

    Lớn lên tưởng mình cao bằng núi

    Những đỉnh núi cao không vượt gối của người

    Và người Kinh cũng có những câu tương tự:

    – Dạy con từ thưở còn thơ

    Trong nền văn minh nông nghiệp, người Thái cũng như người Kinh rất trọng kinh nghiệm. Tục ngữ Thái có câu:

    Đi nhiều thấy nhiều điều khôn ngoan hơn mình

    Ghi vào lòng để hiểu biết và khôn

    Và tương tự, người Kinh cũng quan niệm:

    – Đi một ngày đàng, học một sàng khôn

    – Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Vì đề cao kinh nghiệm, nên người Thái cũng như người Kinh rất tôn trọng người già. Gìa làng, trưởng bản luôn là người có uy tín, được cộng đồng tôn sùng. Tục ngữ Thái có câu:

    – Cây nhọn không bằng sắt cùn

    Trẻ hiểu biết không bằng già quên

    Cũng giống như quan niệm của người Kinh:

    – Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già

    Có thể nói, người Thái có cả một kho tàng kinh nghiệm rất phong phú, đúc rút từ cuộc sống xã hội, cho thấy cộng đồng người Thái có những mối quan hệ xã hội khá phong phú ở trình độ xã hội đã được tổ chức cao.

    2. Những chuẩn mực đạo đức

    Tục ngữ Thái có rất nhiều câu răn dạy người ta sống theo đạo làm người. Thông qua đó, chúng ta thấy quan niệm nhân sinh của người Thái.

    Các nhà dân tộc học gọi người Thái là người của ” nền văn minh thung lũng “. Tục ngữ Thái có câu : Tsả kin tói phạy, Tay kin tói nặm (Xá ăn theo lửa , Thái ăn theo nước). Vùng đất có sông, suối là nơi người Thái chọn để cư trú. Do vậy, người Thái có tập quán canh tác từ rất sớm : trồng lúa nước ở nơi thung lũng lòng chảo, nơi gần nguồn nước và làm nương rẫy trên sườn núi, đánh bắt cá dưới sông suối, dùng thuyền bè để đi lại, lợi dụng sức nước để sản xuất. Người Thái sớm biết dùng trâu kéo cày, chăn nuôi nhiều gia súc. Người đàn ông Thái nếu không biết phát nương, săn thú, đánh bắt cá sẽ bị chê cười ; người phụ nữ Thái phải biết chăn tằm, ươm tơ, dệt vải, thêu thùa… Bởi thế, trong những chuẩn mực đạo đức, người Thái đặc biệt coi trọng sự chăm chỉ, hay lam hay làm và phê phán thói lười biếng. Tục ngữ Thái có rất nhiều câu khuyên con người phải biết chăm làm, không ngại việc :

    – Đừng chây lười ngại việc

    Đừng tiếc công tiếc sức, gắng lòng làm ăn

    Việc làm được, lớn như đồi núi chưa đủ

    Đổ mồ hôi, cạn kiệt sức mới vừa tầm

    Bởi vì có lao động mới có cái ăn

    – Muốn để bụng đói hãy nằm im

    Muốn ăn ở nghèo khó thì chỉ nói, không làm

    Muốn thành lớn hãy bắt tay từ việc nhỏ

    – Lười biếng bụng trống rỗng

    Người giàu có, nhờ làm ăn liên tục

    Người nghèo khó bởi làm ăn dông dài

    Tất cả mọi của cải trên đời đều từ bàn tay lao động của con người. Không có gì tự dưng sẵn có:

    Trong đó có ít người số may mà được

    Nhìn chung mọi người phải nghĩ, phải lo mới có được

    Nếu không nghĩ, không lo để tìm kiếm thì kho bạc, kho vàng của nhà trời cũng không tự đến

    Cố cùng bạn làm lụng, nó khắc tới mình

    Lao động còn khiến con người thêm hiểu biết, thông minh, tài giỏi. Quan niệm đó rất duy vật và có cơ sở khoa học:

    – Nhẫn được thành người khôn

    Chăm được thành người tài

    Tục ngữ người Kinh cũng khuyên con người chăm chỉ làm ăn:

    Không dưng ai dễ mang phần đến cho

    – Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ

    Người Thái cho rằng nếu không lao động mà chỉ hưởng thụ thì của cải dẫu có bao nhiêu cũng hết:

    – Chẳng làm gì, gác chân ăn, mỏ vàng bằng trái núi cũng hết

    Người Kinh đúc kết điều này trong một câu tương tự:

    Người Thái khuyên con cháu phải biết tự lực, chỉ có của cải do chính mình làm ra mới đảm bảo cuộc sống được ổn định, bền vững; đừng ỷ nại người trên, trông chờ vào của cải ông bà, cha mẹ để lại:

    – Của cải từ tay chân làm ra là nguồn tuôn chảy

    Của cải từ cha mẹ để lại là nước lũ cuốn đi

    Còn người Kinh dặn dò con cháu:

    – Của làm ra là của trong nhà

    Của ông bà là của ngoài sân

    Của phù vân có chân nó chạy

    Do nền sản xuất nông nghiệp còn ở trình độ thấp, thiên tai bất thường, con người phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nên người Thái cũng như người Kinh, đều nhắn nhủ nhau “tích cốc phòng cơ”, đề phòng rủi ro, thiên tai, và phải tiết kiệm. Tục ngữ Thái có câu:

    – Gom của phòng mùa thiếu

    – Vừa ăn lại vừa để, tốt lắm

    Vừa kiệm lại vừa giành, tốt quá

    – Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện

    Khuyên con người phải biết chăm chỉ lao động, tiết kiệm, tục ngữ Thái cũng dạy người ta không tham lam, trộm cắp:

    – Đừng trộm hái rau quả của vườn người

    Cũng như tục ngữ của người Kinh:

    Người Kinh cũng có câu: ” Thật thà là cha quỷ quái ” để đề cao những lời nói thật, lên án những kẻ hay dối trá.

    Còn tục ngữ người Kinh có câu: ” Ăn có nhai, nói có nghĩ

    3. Về kinh nghiệm sản xuất

    Trong lao động, sản xuất cũng như đời sống, thiên tai luôn là nỗi ám ảnh với con người. Người Kinh có câu: “Thủy, hỏa, đạo, tặc” để xếp hạng những yếu tố gây nguy hiểm cho cuộc sống con người. Trong đó, “thủy” đứng ở vị trí đầu tiên. Chắc hẳn những trận lụt kinh hoàng đã thành ám ảnh không phai đối với người Kinh xa xưa. Sau “thủy” là “hỏa”. Nạn lửa chỉ sau nạn cháy, còn nguy hiểm hơn cả trộm cướp và giặc giã. Còn với người Thái thì:

    – Không nạn nào hơn nạn lửa, nạn nước

    Dùng nước phải biết tránh nguồn nước

    Dùng lửa hãy giữ gìn nạn cháy

    – Bừa bãi lửa thường sinh nạn cháy

    Kinh nghiệm sản xuất của người Kinh thiên về cấy trồng, mùa vụ còn kinh nghiệm sản xuất của người Thái ngoài việc trồng trọt, chăn nuôi, còn có săn bắn, hái lượm, cách thức đi rừng, kinh nghiệm khai thác lâm sản…mà ở đề tài này, ca dao tục ngữ của người Kinh không nhiều.

    Đi sâu tìm hiểu ca dao, tục ngữ của người Thái với người Kinh, chúng ta thấy có nhiều nét tương đồng. Sự tương đồng được thể hiện ở nhiều lĩnh vực: từ sản xuất đến đời sống, từ tư tưởng đến tình cảm, thế giới quan đến quan niệm sống, quan niệm về giá trị đạo đức, nhân văn…

    Những nét tương đồng đó là kết quả của nhiều nguyên nhân: do sự tương đồng về tự nhiên, điều kiện sống, trình độ canh tác, hoặc do sự tương đồng trong cách cảm, cách nghĩ và ảnh lẫn nhau trong giao lưu văn hóa…Tuy nhiên, những sự tương đồng này chỉ được đề cập ở phương diện nội dung, tư tưởng. Đi sâu vào tìm hiểu, trong sự tương đồng vẫn có sự khác biệt, kể cả về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật, mà trong bài viết này chưa có dịp đề cập đến.

    Những nét tương đồng đi cùng với sự khác biết, vừa thể hiện nét chung về văn hóa của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam vừa phản ánh bản sắc riêng trong văn hóa của mỗi dân tộc. Bởi thế mà nền văn hóa Việt Nam có sự thống nhất trong đa dạng, mà chúng ta cần giữ gìn và phát huy.

    Tài liệu tham khảo

    1. Hội Văn nghệ dân gian (2012), Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

    2. Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng (2012), Luật tục Thái ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Chúc Ngủ Ngon Bá Đạo, Hài Hước Giành Cho Bạn Bè, Người Yêu
  • Những Lời Chúc Valentine Tiếng Anh Hay Và Ngọt Ngào Nhất
  • Những Câu Nói Truyền Cảm Hứng Trong Các Bộ Phim Về Tình Yêu
  • Những Hình Ảnh Động Chúc Mừng Sinh Nhật Đẹp Và Ý Nghĩa Nhất
  • Người Già Trong Thành Ngữ Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phong Tục Tập Quán Việt Nam Qua Ca Dao Và Tục Ngữ , Trang Điện Tử Www.hovuvovietnam.com
  • Những Vần Thơ Về Đảng
  • Những Vần Thơ Viết Về Đảng, Bác Hồ Và Mùa Xuân
  • Hình Tượng Bác Hồ Trong Ca Dao Việt Nam
  • Thắm Nghĩa Đồng Bào Trong Cuộc Chiến Chống Dịch Covid
  • (Ngày ngày viết chữ) Bài viết này nói về những quan niệm của người Việt đối với người già, tuổi già thể hiện qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao.

    Già là túi khôn, là vốn quý

    Người già có nhiều kinh nghiệm, họ trải qua nhiều nỗi thăng trầm, nhìn thấu mọi lẽ thường lẫn bất thường của xã hội:

    Bà già đeo bị hạt tiêu,

    Sống bao nhiêu tuổi nhiều điều đắng cay.

    Cho nên, từ lâu, người Việt đã xem người già là túi khôn, là vốn quý. Thành ngữ “Kẻ cắp gặp bà già” chính là để nói sự lõi đời của người cao tuổi. Người Việt thường cảm thán (xen chút ngưỡng mộ) rằng “Gừng càng già càng cay” và không quên dặn “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”.

    Nói về mối quan hệ giữa người trẻ với người già, người Việt còn có câu “Khôn đâu tới trẻ, khỏe đâu tới già”, để thấy rằng trẻ và già nên nương tựa nhau, bổ sung cho nhau. Một gia đình có già có trẻ, người trẻ được bảo ban, người già được chăm sóc, đó chính là phúc. Cho nên người Việt xưa rất thích những gia đình tam đại đồng đường, tứ đại đồng đường. Sự tháo vát của người già còn thể hiện ở câu “Một mẹ già bằng ba con ở”.

    Lại nói, dù dân gian có nhiều câu nói thể hiện chuyện cha mẹ già khó khăn, làm duyên con bẽ bàng, nhưng đồng thời cũng có những câu như:

    Canh suông  khéo nấu thì ngon,

    Mẹ già khéo nói  thì con đắt chồng.

    để biểu đạt vai trò quan trọng của bậc sinh thành khi vun vén duyên con.

     

    Hiếu đễ với người già

    Nhìn chung, người Việt kính trọng người già. Câu tục ngữ “Yêu trẻ trẻ đến nhà, kính già già để tuổi cho” hầu như không người Việt nào không biết. Trong gia đình, chuyện hiếu kính với cha mẹ cực kỳ quan trọng. Và những câu ca dao nhắc nhau hiếu thuận với cha mẹ già thực sự rất nhiều.

    Mẹ già hai đứa nuôi chung,

    Đứa lo cơm cháo, đứa giùm thuốc thang.

    Mẹ già đầu bạc như tơ,

    Lưng đau con đỡ, mắt lờ con nuôi.

    Đèo mô cao bằng đèo Cây Cốc?

    Dốc mô ngược bằng dốc Mỹ Cang?

    Một tiếng anh than hai hàng lệ nhỏ,

    Em có mẹ già biết bỏ cho ai.

    Mẹ già như chuối ba hương,

    Như xôi nếp mật, như đường mía lau.

    Đường mía lau càng lâu càng ngát,

    Xôi nếp mật ngào ngạt hương say.

    Ba hương lây lất tháng ngày,

    Gió đưa mẹ rụng, con rày mồ côi.

    Mẹ già như áng mây trôi,

    Như sương trên cỏ, như lời hát ru.

    Lời hát ru vi vu trong gió,

    Sương trên cỏ khó vỡ dễ tan.

    Mây trôi lãng đãng trên ngàn,

    Gió đưa tan, hợp, hợp, tan, nao lòng.

    Trời mưa cho ướt lá dừa,

    Cho tươi luống cải cho vừa lòng em.

    Cho em hái đọt rau dền,

    Nấu tô canh ngọt dâng lên mẹ già.

    Con cá đối  nằm trên cối đá,

    Chim đa đa  đậu nhánh đa đa,

    Chồng gần không lấy, bậu  lấy chồng xa.

    Mai sau cha yếu mẹ già,

    Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà  ai dưng ?

     

    Sợ tuổi già

    Mặc dù xem người già là túi khôn, là đáng kính trọng, nhưng người Việt (và lẽ nhiều dân tộc khác trên thế giới) cũng rất sợ tuổi già. Bởi “Trẻ khôn ra, già lú lại”, ai mong già làm gì.

    Lý do một cô gái thôi chờ đợi một chàng trai thường là:

    Một năm một tuổi một già,

    Ba năm một tuổi chi mà đợi anh.

    “Cái tuổi nó đuổi xuân đi”, nên các cô gái thường mang tâm lý:

    Ai ơi, trẻ mãi ru  mà,

    Càng đo đắn  mãi càng già mất duyên.

    Mướp  già thì mướp có xơ,

    Gái già thì gái nằm trơ một mình.

    Cau già lỡ lứa bán trăm,

    Chị nọ lỡ lứa biết nằm cùng ai?

    Thành ngữ “Già kén kẹn hom” cũng dùng để nói chớ có kén chọn mà lỡ duyên thế này. Kén của con tằm nếu để quá lâu sẽ dính chặt vào hom (những búi rơm, rạ hoặc cây rang, cây bổi…), khó gỡ ra. Ở đây chơi chữ  “kén” trong ‘kén tằm’ đồng âm với “kén’ trong “kén chọn”. Ý của thành ngữ này là nếu quá kén chọn sẽ dễ dẫn đến quá lứa, lỡ thì.

    Trường hợp lứa đã quá, thì đã lỡ, có cô than:

    Cau già dao bén thì ngon,

    Người già trang điểm phấn son cũng già.

    Thế nhưng cũng có cô rất lạc quan:

    Cau già khéo bổ thì non,

    Nạ dòng  trang điểm lại giòn  hơn xưa.

    Gà già khéo ướp lại tơ,

    Nạ dòng trang điểm, gái tơ mất chồng.

    Còn như khi không thể để bản thân lỡ thì mà lo bến đỗ trước, và rồi phải từ chối chàng trai từng ước hẹn, các cô cũng rằng:

    Anh về kiếm vợ kẻo già,

    Kiếm con kẻo muộn, em đà  có đôi.

    Trong cuộc sống, người ta thường dặn nhau lúc còn trẻ khỏe phải biệt lo liệu, đừng để đến già kẻo mà:

    Mỗi năm, mỗi tuổi, mỗi già,

    Chẳng lo liệu trước ắt là lụy  sau.

    Tre già nhiều người chuộng,

    Người già ai chuộng làm chi.

    Thế nhưng, cũng vì sợ tuổi già đến, chưa kịp chơi cho thỏa đã không còn sức, nên mới có câu:

    Ai ơi chơi lấy kẻo già,

    Măng  mọc có lứa người ta có thì.

    Chơi xuân kẻo hết xuân đi,

    Cái già xồng xộc nó thì theo sau.

    Và tâm lý muốn lớn nhanh để chơi ai cũng có, nhưng lại sợ:

    Muốn cho mau lớn mà chơi,

    Mới lớn vừa rồi, già lại theo sau.

     

    Duyên nợ với người già

    Mặc dù người Việt có câu:

    Chồng già vợ trẻ là tiên,

    Vợ già chồng trẻ là duyên ba đời.

    nhưng nhìn chung người Việt thường muốn sánh duyên cùng người có tuổi tác tương xứng.

    Ông già tôi chẳng lấy ông đâu,

    Ông đừng cạo mặt nhổ râu tốn tiền.

    Sở dĩ không muốn lấy chồng già là vì:

    Con gái lấy phải chồng già,

    Cầm bằng con lợn cọp tha vào rừng.

    rồi bị xóm giềng cười nhạo:

    Nhà bà có ngọn mía mưng,

    Có cô gái út mà ưng ông già.

    Chuyện cười nhạo đôi khi thái quá, khiến các cô phải ném hết thẹn thùng mà phản bác:

    Tiếng đồn em lấy chồng già,

    Đêm nằm em thấy ớt cà ra răng ?

    – Tre già còn dẻo hơn măng,

    Ớt cà ra có hột, chớ hơn thằng ớt tơ.

    Nhưng không muốn lấy chồng già chủ yếu là do những chuyện trái khoáy khác:

    Vô duyên lấy phải chồng già,

    Ra đường bạn hỏi rằng cha hay chồng?

    Nói ra đau đớn trong lòng,

    Chính thực là chồng có phải cha đâu.

    Ngày ngày vác cối giã trầu,

    Tay thời rót nước, tay hầu cái tăm.

    Đêm đêm đưa lão đi nằm,

    Thiếp đặt lão xuống, lão nằm trơ trơ.

    Hỡi ông lão ơi! Ông trở dậy cho thiếp tôi nhờ,

    Để thiếp tôi kiếm chút con thơ bế bồng.

    Nữa mai người có thiếp không,

    Xấu hổ với chúng bạn, cực lòng mẹ cha.

    Gà tơ xào với mướp già,

    Vợ hai mươi mốt chồng đà sáu mươi.

    Ra đường, chị giễu  em cười,

    Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng.

    Đêm nằm tưởng cái gối bông,

    Giật mình gối phải râu chồng nằm bên.

    Sụt sùi tủi phận hờn duyên,

    Oán cha trách mẹ tham tiền bán con.

    Ngược lại, các ông cũng không ham gì vợ già:

    Vô duyên lấy phải vợ già,

    Ăn cơm phải đút, xin bà nuốt nhanh.

    Vô phúc lấy phải trẻ ranh,

    Vừa chơi, vừa phá tung hoành tứ tung.

    Thế nhưng, nếu đã vào thế lấy vợ già, các ông cũng cố mà tìm ra điểm tốt:

    Canh bầu  nấu với cá trê,

    Ăn vô cho mát mà mê vợ già.

    Có phúc lấy được vợ già,

    Sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh.

    Vô phúc lấy phải trẻ ranh,

    Nó ăn nó bỏ tan tành nó đi.

    hòng giữ cho gia đạo bình an. Đó có lẽ cũng là một biểu hiện của tinh thần luôn cố gắng lạc quan thường thấy ở người Việt.

    Nếu các cô không ham chồng già thì ngược lại, các ông già cũng không ham gì vợ trẻ, bởi:

    Người già mà lấy vợ tơ,

    Như liều thuốc độc để hờ bên thân.

    Con gái mà lấy chồng già,

    Đêm nằm thỏ thẻ đẻ ra con chồn.

    Thế nhưng, cũng có khi, ông già thương thật, nên khi bị người mình để bụng thương chê, các cụ liền nói đạo lý:

    – Ông già tui chẳng ưa đâu,

    Hàm răng ông rụng, chòm râu ông dài.

    – Con tôm con tép còn râu,

    Huống chi  em bậu  câu mâu  sự đời.

    Thương nhau vừa dặm vừa dài,

    Cắn rứt chi đó mà đòi hàm răng?

    Có khi, các cụ vội vã phân bua, thể hiện:

    Già thì già tóc già râu,

    Đêm ba bảy vợ, già đâu có già!

    Càng già càng dẻo càng dai,

    Càng gãy chân chõng , càng sai chân giường.

     

    Cười nhạo người già

    Cuộc sống muôn màu muôn vẻ, có kính trọng, nể vì thì cũng có chế giễu, nhạo báng. Có khi người ta cất lời chê già khó tính:

    Ai làm cho chuối không cành,

    Cho anh không vợ cắn quanh mẹ già.

    Mẹ già như mẹ người ta,

    Thì anh có vợ trong nhà đã lâu.

    Mẹ anh ác nghiệt cơ cầu,

    Cho nên anh chịu âu sầu đến nay.

    Hoặc càm ràm mấy câu như “Già sinh tật, đất sinh cỏ’, hay “Trẻ đeo hoa, già đeo tật”. Cũng có khi dân gian lên tiếng đánh thẳng vào những thói hư tật xấu, thường là chê trách cái nết không chuyên chính:

    Bà già đã tám mươi tư,

    Ngồi bên cửa sổ đưa thư kén chồng.

    Bà già tuổi tám mươi hai,

    Ngồi trong quan tài hát ghẹo ông sư.

    Bà già đi chợ Cầu Đông,

    Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?

    Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

    Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn!

    Ấy vậy mà, đâu đó vẫn có thể bắt gặp những câu ca dao nửa chê trách, nửa cảm thông:

    Già thì bế cháu ẵm  con,

    Già đâu lại muốn cau non trái mùa.

    – Già thì lễ Phật đi chùa,

    Cau non trái mùa ai cũng muốn ăn.

    “Cau non trái mùa ai cũng muốn ăn” vừa là lời chống chế của người già, vừa là lời bênh vực của dân gian dành cho người già. Rằng thói đó âu cũng là lẽ thường.

    Về cánh các ông già, các nết không đứng đắn cũng không thoát được con mắt tinh tường và cái miệng thẳng thừng của dân gian:

    Ông già bạc phếu râu tôm

    Thấy dâu quét bếp còn lườm mắt dê

    Ông già ông đội nón cời,

    Ông ve  con nít ông Trời đánh ông.

    Điểm qua một vài thành ngữ, tục ngữ, ca dao như thế, mới thấy cái nhìn của dân gian đối với người già, tuổi già vô cùng đa diện, đặc sắc, có khen có chê, có nể có khinh. Điều đó không chỉ cho thấy thái độ của dân gian mà còn biểu hiện khả năng dùng từ, đặt câu biến hóa, lời lẽ khi khen, khi yêu thì chân thành, cảm động, khi chê, khi ghét thì chua chát, sâu cay.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nói Về Nông Nghiệp, Nghề Nghiệp, Công Việc
  • Câu Ca Dao Về Làng Nghề Hà Nội
  • Triết Lý Dân Tộc Việt Nam Qua Tục Ngữ
  • Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá Việt Na…
  • Ca Dao Dân Ca – Nét Đẹp Tâm Hồn Người Việt
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Về Đạo Làm Con

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Tập Stt Viết Cho Những Đôi Yêu Nhau Mà Không Đến Được Với Nhau
  • Tuyển Chọn Những Câu Nói Hay Về Sự Mệt Mỏi Trong Tình Yêu Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Những Stt Đểu Và Chất Nhất Về Con Trai Thời Hiện Đại
  • Những Stt Hay Về Tình Yêu Đẹp Ngọt Ngào Lãng Mạn Khiến Chị Em Sững Sờ Và Vỡ Òa Trong Cảm Xúc
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống Ý Nghĩa Nhất Ai Cũng Phải Nhớ Nếu Muốn Thành Công
  • Ca dao tục ngữ về đạo làm con

    Con người có bố có ông,

    Như cây có cội, như sông có nguồn.

    Vua tôi sẵn có nghĩa dày,

    Cha con thân lắm, đấng người nên trông.

    Khi ấp lạnh, lúc quạt nồng,

    Bữa dâng ngon ngọt, bữa dùng sớm trưa.

    Ở cho thoả chí người xưa,

    Đền ơn trả nghĩa thuở xưa bế bồng.

    Gió mùa thu, mẹ ru con ngủ,

    Năm canh chầy, thức đủ năm canh.

    Ơn cha nặng lắm ai ơi,

    Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang.

    Mẹ nuôi con bấy lâu rồi,

    Nuôi con cho đến thành người mới nghe.

    Ngó lên dàng dạng da trời,

    Thương cha nhớ mẹ biết đời nào nguôi.

    Cha già tuổi đã dư trăm,

    Chạnh lòng nhớ tới, đằm đằm châu sa.

    Nuôi con mới biết sự tình,

    Cảm thương cha mẹ nuôi mình ngày xưa.

    Ngồi buồn thương mẹ nhớ cha,

    Gối loan ai đỡ, kỷ trà ai nâng.

    Đi đâu mà bỏ mẹ già,

    Gối nghiêng ai sửa, chén trà ai dâng?

    Mẹ già ở tấm lều tranh,

    Đói no không biết, rách lành chẳng hay.

    Mẹ già đầu bạc như tơ,

    Lưng đau con đỡ, mắt mờ con nuôi.

    Ngày đêm may vá kiếm tiền,

    Trước nuôi cha mẹ, sau tuyền đạo con.

    Ba tiền một khứa cá buôi,

    Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già.

    Tôm rằn lột vỏ, bỏ đuôi,

    Gạo de An cựu mà nuôi mẹ già.

    Phụ mẫu thiếp cũng như phụ mẫu chàng,

    Hai bên phụ mẫu tạc bốn chữ vàng thờ chung.

    Phụ mẫu tình thâm,

    Phu thê nhân ngãi trọng,

    Một mai anh có xa em rồi, em thờ vọng mẹ cha.

    Anh đi ghe cá cao cờ,

    Ai nuôi cha mẹ, ai thờ tổ tiên?

    Công danh hai chữ tờ mờ,

    Lãy gì khuya sớm phụng thờ tổtiên.

    Chữ rằng: vấn tổ tầm tông,

    Cháu con nỡ bỏ cha ông sao đành.

    Ngó lên nhang tắt, đèn mờ,

    Mẫu thân đâu vắng, bàn thờ lạnh tanh.

    Nhà em có vại cà đày,

    Có ao rau muống, có đày chum tương.

    Dù không mỹ vị cao lương,

    Trên thờ cha mẹ, dưới nhường anh em.

    Một nhà vui vẻ êm đềm,

    Đói no tùy cảnh, không thèm lụy ai.

    Cồng cộc bắt cá dưới bàu,

    Cha mẹ mày giàu, đám giỗ đầu heo.

    Niềm kim thạch, nghĩa cù lao,

    Bên tình bên hiếu, ở sao cho tuyền.

    Chim kêu ải Bắc, non Tần,

    Nửa phần thương mẹ, nửa phần thương em ?

    Đèo nào cao cho bằng đèo Châu đốc,

    Đất nào dốc cho bằng đất Nam vang.

    Một tiếng em than: hai hàng lụy nhỏ,

    Anh có mẹ già biết bỏ ai nuôi.

    Nước chảy xuôi, con cá buôi lội ngược,

    Anh muốn thương nàng, biết được hay không?

    Mẹ già là mẹ già chung,

    Anh lo thang thuốc, em giùm cháo cơm.

    Mẹ già hai đứa nuôi chung,

    Đứa lo cơm cháo, đứa giùm thuốc thang.

    Con lạy cha hai lạy một quỳ,

    Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng.

    Công cha nghĩa mẹ ai đền,

    Mà em ôm áo, ôm mền theo anh?

    Tu đâu cho bằng tu nhà,

    Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu.

    Lên chùa thấy Phật muốn tu,

    Về nhà thấy mẹ công phu chưa đền.

    Có hai Phật sống trong nhà:

    Sớm hôm lễ niệm đi xa đâu cần.

    Cha già là Phật Thích ca,

    Mẹ già đích thị Phật bà Quan âm.

    Đêm đêm thắp ngọn đèn trời,

    Cầu cho cha mẹ sống đời với con

    Một mai bóng xế cội tùng,

    Mũ rơm ai đội, áo thùng ai mang.

    Bông hồng màu trắng con đặt trên mộ mẹ Món quà muộn màng cho mẹ ngày lễ Vu Lan Danh ngôn về gia đình hay và ý nghĩa (P.1)

    --- Bài cũ hơn ---

  • #222 Stt Đơn Phương Người Yêu Cũ Buồn Não Nề Sâu Sắc Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Cô Đơn
  • Châm Ngôn Tiếng Anh Ngắn & Cực Kỳ Ý Nghĩa
  • Lời Phật Dạy Về Sự Tha Thứ
  • Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Chị Gái Hài Hước Bá Đạo Và Ý Nghĩa
  • Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tướng Mạo Con Người Qua Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam
  • Top Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội Hay Nhất
  • Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh Yên Bái
  • Yên Bái: Những Tên Gọi Gợi Về Lịch Sử Và Thức Dậy Tiềm Năng
  • Stt Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Dân Ca Hay Và Sâu Sắc Về Tình Nghĩa Vợ Chồng
  • Tướng mạo con người qua ca dao, tục ngữ

    Người xưa đã có những câu ví von rất thú vị về tướng mạo con người qua ca dao, tục ngữ. Vũ Thị Hương Mai sưu tầm, giới thiệu để bạn đọc trang Đặng Xuân Xuyến cùng đọc và suy ngẫm:

    2. Ăn uống khoan thai là người thanh cao

    Ăn uống nhồm nhoàn là người thô tục

    Ăn uống nhồm nhoàm là phàm phu tục tử

    4. Bàn tay ngang lại lắm lông

    Là người nhục dục ắt không phải vừa

    6. Bước chân thình thịch, cúi đầu

    Bôn ba đây đó, dãi dầu nắng mưa

    8. Cái sọ trọc như không có tóc

    Kém công danh lao lực về sau

    10. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

    Bóng trăng ngả lộn bóng tre

    Chàng ơi, đứng lại mà nghe em thề.

    Vườn đào, vườn lựu, vườn lê

    Con ong vô hút nhụy, con bướm xê ra ngoài.

    Tâm tình em ở, gương nào soi cho bằng?

    12. Chữ tốt xem tay, người hay xem khoáy

    14. Con lợn mắt trắng thì nuôi

    Những người mắt trắng đánh rồi đuổi đi

    16. Cực chi da diết diết da

    Áo em hai vạt trải ra anh nằm.

    18. Dái tai như hột châu thòng

    Có thành, có quách, dày, hồng sắc tươi

    Thiệt người phú quý thảnh thơi

    Phong lưu tao nhã trên đời chẳng sai

    20. Đàn bà chưa nói đã cười

    Lương duyên vất vả, cuộc đời truân chuyên

    22. Đàn bà lanh lãnh tiếng đồng

    Một là sát chồng, hai là hại con

    24. Đàn bà vú lép, to hông

    Đít teo bụng ỏng, cho không chẳng cầu

    26. Đàn ông gân trán nổi cao

    Tánh tình nóng nảy, dạt dào ái ân

    28. Đàn ông ít tóc: an nhàn

    Đàn bà ít tóc: dở dang duyên tình

    30. Đàn ông mà kém bộ râu

    Văn chương cũng dở, công hầu đừng mong

    32. Đàn ông rộng miệng thì tài

    Đàn bà rộng miệng, điếc tai xóm giềng

    Người khôn con mắt dịu hiền

    Người dại con mắt láo liên nhìn trời!

    34. Đàn ông tuổi tý thì tài,

    Đàn bà tuổi tý thì hai đời chồng.

    36. Dữ như tê giác, ác như bà một mắt

    38. Giọng nói răm rắp tiếng dư

    Trai thì can đảm, gái ư gan lỳ

    40. Hai môi không giữ kín răng

    Là người yểu tướng, nói năng hỗn hào

    42. Kẻ nào trống giữa bàn chưn

    Hổng không đụng đất thì đừng chơi xa

    44. Lờ đờ như người say rượu

    Mắt đỏ hoe, phải liệu mà chơi

    46. Lỗ mũi mỏng, đầu cong, nhọn hoắc

    Ắc lòng tham, hiểm độc gian phi

    Nếu không tu thiện, hậu thì khó toan

    48. Má bánh bầu xem lâu muốn chửi

    Mặt chữ điền tiền rưỡi muốn mua

    50. Má miếng bầu coi lâu càng thắm

    Mặt chữ điền xấu lắm ai ơi

    52. Mặt dài tuy nhỏ: vui chơi

    Tai to mặt ngắn: chịu lời đắng cay

    54. Mặt đỏ như lửa, thấy bụng chửa cũng sợ

    56. Mắt ngước, chân bước nhẹ nhàng

    Tướng đi khang nhã, rõ ràng hiền nhân

    58. Mắt tròn dưới mí láng sưng

    Là tên tửu bác, Không ngừng chơi đêm

    60. Miệng mà môi dưới trề ra

    Trai thì chung thủy, gái là đào hoa

    62. Miệng tu hú, ăn lở rú lở rí

    64. Môi mỏng hay hớt, môi trớt hay thừa

    66. Móng tay mỏng, nhọn: cơ cầu

    Tâm tư hiểm độc, hay xâu của người

    68. Ngồi khòm đầu gối quá tai

    Là người cực khổ chẳng sai chút nào

    70. Ngón tay thon thỏn búp măng

    Tánh tình khoan nhã, thơ văn đủ mùi

    Đây người dưng đó cũng người dưng,

    Cớ chi nước mắt rưng rưng nhỏ hoài

    Chậm lên con mắt, chậm hoài không khô.

    72. Người hiền tại mạo trắng gạo tại cơm

    74. Người mồ hôi nhờn lại khét

    Đời phần nhiều lao lực về sau

    76. Nhất lé nhì lùn tam hô tứ sún

    78. Nhơn trung sâu tợ như đào

    Thung dung trần thế, ai nào dám đương

    80. Những người béo trục béo tròn

    Ăn vụng như chớp đánh con cả ngày

    82. Những người con mắt lá răm

    Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền

    84. Những người mặt nặng như mo

    Chân đi bậm bịch, có cho chẳng màng (thèm)

    86. Những người tai mỏng mà mềm

    Là phường xấc láo, lại thêm gian tà

    88. Những người thành thật môi dày

    Lại thêm ít nói lòng đầy nghĩa nhân

    90. Những người ti hí mắt lươn

    Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người

    92. Quân tử lắm lông chân, tiểu nhân nhiều lông rốn

    94. Răng cao, miệng nhỏ: điêu ngoa

    Răng thấp môi kín: thương cha nhớ chồng

    96. Răng thưa, da trắng: gái hay

    Răng thưa, mặt sẫm: đổi thay chuyện tình

    98. Tai quặp về trước bủm tròn

    Không cháu tể tướng cũng con anh tài

    100. Thông minh, học giỏi, anh tài

    Ngón (tay) nhỏ mà dài tựa đọt hành non

    102. Tiếng nói rít qua kẽ răng

    Là người nham hiểm sánh bằng hổ lang

    104. Tóc mai dài xuống mang tai

    Là người khó tánh ít ai vừa lòng

    106. Tốt tóc nặng đầu, tốt râu nặng cằm

    108. Trai mà nói giọng đàn bà

    Tánh tình nhu nhược, còn là long đong

    110. Trán cao có cái đầu vuông

    Văn chương, khoa bảng có nhường ai đâu

    112. Trán cao, miệng rộng, mũi dài

    Có khoa ăn nói, ít ai sánh bằng

    114. Tướng đi chân bước hai hàng

    Nàng thì rộng lượng, còn chàng tiểu tâm

    116. Vật có thúi mới sinh dòi

    Người có dạ xấu mới ăn lời dèm pha

    118. Xoáy trâu: không giàu cũng sướng

    Xoáy ngựa hiện tượng: là tướng điêu ngoa

    VŨ THỊ HƯƠNG MAI sưu tầm và giới thiệu

    …………………………………………………………………………

    – Cập nhật theo nguyên bản tác giả gửi qua email ngày 19.07.2019.

    – Bài viết không thể hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến.

    – Vui lòng ghi rõ nguồn chúng tôi khi trích đăng lại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngân Vang Câu Ca Dao Xứ Quảng
  • Tình Yêu, Hạnh Phúc Trong Ca Dao
  • Quan Niệm Về Miếng Ăn Qua Ca Dao, Tục Ngữ : Miếng Ăn Hay Là Triết Lý Của Cuộc Đời (4)
  • Văn Hoá Ẩm Thựccủa Người Việt Đồng Bằng Bắc Bộ Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Suy Nghĩ Về Câu Tục Ngữ: Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tôn Trọng Người Khác

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Stt Cảm Động Viết Cho Người Yêu Cũ
  • Nghị Luận Xã Hội Nói Lời Hay Làm Việc Tốt
  • Stt Du Lịch, Những Câu Nói Hay Về Du Lịch Với Bạn Bè, Người Thân
  • Những Lời Chúc Valentine Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Lời Chúc Tốt Đẹp Cho Ngày Mới Tốt Lành, Hạnh Phúc, Thành Công
  • Ca dao tục ngữ về tôn trọng người khác.

    Ca dao tục ngữ Việt Nam

    Những câu ca dao tục ngữ tôn trọng người khác

    Tục ngữ:

    1.

    Ý muốn nói chúng ta phải kính trọng người lớn tuổi.

    2.

    Phải biết tôn trọng lễ phép với người lớn tuổi và nhường nhịn đối với người nhỏ tuổi.

    3.

    Trọng thầy mới được làm thầy

    Muốn nhắc nhở chúng ta muốn sau này làm thầy cô giáo thì trước tiên phải tôn trọng thầy cô.

    4.

    Tôn trọng những người đã dạy dỗ mình (thầy, cô giáo)

    5.

    Không thầy đố mày làm nên

    Muốn nhắc nhở chúng ta phải tôn trọng những người đã có công dưỡng dục dạy dỗ, nếu không có thầy cô dạy dỗ thì chắc rằng bạn sẽ không làm được gì

    6.

    Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.

    Dù dạy có nhiều hay ít vẫn là thầy chúng ta, cho nên phải luôn luôn tôn trọng thầy cô giáo.

    7.

    Tức là tôn trọng những người có nghĩa, người có tài mà không có nghĩa cũng vô dụng. Sống tình nghĩa là mục tiêu đặt ra đầu tiên.

    8.

    Khi đến nhà ai đó thì phải tôn trọng những gì mà nhà người đó thực hiện.

    9.

    Tiếng chào, cao hơn mâm cỗ.

    Khi gặp ai đó phải chào hỏi, để thể hiện sự tôn trọng người khác.

    10.

    Yêu trẻ, trẻ đến nhà; kính già, già để tuổi cho.

    Ý muốn nói yêu quý trẻ con thì sau này chắc chắn nó sẽ đến tiếp

    Ca dao

    1.

    Nói lời, thì giữ lấy lời

    Đừng như con bướm đậu rồi lại bay

    Ở đây muốn nói, khi đã hứa với ai một điều gì đó thì bắt buộc phải thực hiện nhằm mục đích tôn trọng người khác.

    2.

    Kim vàng, ai nỡ uốn câu

    Người không ai nỡ nói nhau nặng lời

    Tức nên tôn trọng lẫn nhau, không nên nói những lời lẽ không hay dành cho nhau.

    3.

    Nói chin thì nên làm mười

    Nói mười làm chin, kẻ cười người chê

    Tức là đã nói thì phải làm, nói ít làm nhiều, nói mà không làm tức là bạn không giữ lời hứa và không tôn trọng người khác.

    4.

    Biết thì thưa thốt,

    Không biết, dựa cột mà nghe.

    Nếu không biết thì thôi đừng nói, đừng có kiểu khi người ta đang nói mà tỏ ra nguy hiểm nhảy vào mồm người khác.

    5.

    Ai ơi chớ vội cười nhau

    Cười người hôm trước hôm sau người cười

    1 nụ cười bằng 10 thang thuốc bổ, cười không đúng chỗ lấy rỗ hứng răng. Tức là đừng vội cười người ta sau này bạn cũng sẽ gặp quả báo sau đó người ta cười lại bạn. Vì vậy nên tôn trọng người khác.

    6.

    Tự trọng người lại trọng thân

    Khinh đi khinh lại, như lần trôn quang

    Muốn được người khác tôn trọng thì bạn phải tôn trọng người khác trước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Stt Hay, Ý Nghĩa Về Ngày Giáng Sinh An Lành, Hạnh Phúc
  • Những Câu Danh Ngôn Hay Và Ý Nghĩa Về Thầy Cô Ngày 20/11
  • Mỗi Ngày Một (1) Câu Nói Hay Và Ý Nghĩa Về Tình Yêu, Cuộc Sống
  • Những Lời Chúc Mừng Tốt Nghiệp Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Những Lời Chúc Sinh Nhật Bằng Tiếng Anh Hay Nhất 2022 (Sưu Tầm 10 Năm Qua)
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Ca Dao Tục Ngữ Bình Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Hay Nhất
  • ‘Bình Định nón Gò Găng

    Bún Song thần An Thái

    Lụa Đậu tư Nhơn Ngãi

    Xoài Tượng chín Hưng Long

    Mặc ai mơ táo ước hồng

    Tình quê em giữ một lòng trước sau.

    Bình Định có hòn Vọng Phu

    Có đầm Thị Nai có Cù Lao Xanh.

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa.

    1.Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.

    2.Bình Định có núi Vọng Phu Có Đầm Thị Nại có Cù Lao xanh.

    3.Công đau công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

    4.Mẹ ơi đừng đánh con đau Để con đánh trống hát tuồng mẹ nghe.

    5.Ai về Bịnh Định mà coi Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.

    6.Ai về Bình định thăm bà Ghé vô em gởi lạng trà Ô long. Trà Ô long nước trong vị ngọt Tình đôi mình như đọt mía lau chúng tôi đi bờ lở một mình Phất phơ chéo áo giống hình trò

    Ba Trò Ba đi học trường xa

    Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi

    8.Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cá nghiên anh đồ.

    Tiếng đồn Bình Định tốt nhà Phú Yên tốt lúa, Khánh Hoà tốt trâu

    .Công đâu công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    .Em về Đập Đá quê cha Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê chồng

    13.Anh về Đập Đá , Gò găng Bỏ em kéo vải sáng trăng một mình Tiếng ai than khóc nỉ non Vợ chàng lính thú trèo hòn Cù Mông

    14.Chiều chiều én liệng Truông Mây Cảm thương Chú Lía bị vây trong thành

    15.Non Tây áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

    16.Cây Me cũ, Bến Trầu xưa Dẫu không nên tình nghĩa cũng đón đưa cho trọn niềm

    17.Ngó vô Linh Đỗng mây mờ Nhớ Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây

    18.Hầm Hô cữ nước còn đầy Còn gương phấn dũng , còn ngày vinh quang

    19.Bình Định có đá Vọng Phu Có đầm Thị Nại có Cù lao Xanh Lụa Phú Phong nên duyên nên nợ Nón Gò găng khắp chợ mến thương

    20.Bên kia sông, quê anh An Thái Bên này sông, em gái An Vinh Thương nhau chung dạ chung tình Cầu cha mẹ ưng thuận cho hai đứa mình lấy nhau

    21.Cưới nàng đôi nón Gò Găng Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn Ai về Tuy Phước ăn nem Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm

    22.Rượu ngon Trường Thuế mê li Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi sao đành

    23.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Gi Sông xanh, núi cũng xanh rì Vào Nam, ra Bắc ai cũng đi con đường này Nghìn năm gương cũ còn đây Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu – Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi Dễ chi nhân ngãi mà rời được nhau

    24.Tháp kia còn đứng đủ đôi Cầu còn đủ cặp huống cho tôi với nường ( nàng) Suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Thiếp ngồi dệt vải chỉ mong bóng chàng Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu Ôm đàn gảy khúc Cầu hoàng Thiếp xin gõ nhịp để chàng lựa dây Bao giờ rừng quế hết cây Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình Dừa xanh sừng sững giữa trời Đem thân mà hiến cho đời thuỷ chung

    25.Muốn ăn bánh ít nhân mè Lấy chồng Hòa Đại đạp chè thâu đêm Muốn ăn bánh ít nhân tôm Lấy chồng Hòa Đại ăn cơm củ mì

    26.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di Sông xanh núi cũng xanh rì Vào Nam ra Bắc cũng đi đường này chúng tôi về Phù Mỹ nhắn nhe Nhắn chị bán chè sao vậy chẳng lên?

    Anh về dưới vạn thăm nhà

    Ghé vô em gởi lạng trà Ô Long

    chúng tôi về Bình Định thăm cha Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em

    29.Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông

    30.Khéo khen con tạo trớ trêu

    Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ

    32.Ai về thăm cảnh An Khê

    Sông Ba chồng nhớ vợ nhà Sông Côn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Kho Tàng Ca Dao Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Du Lịch Qua Ca Dao Ở Một Số Tỉnh Miền Tây Nam Bộ Theo Hướng Du Lịch Sinh Thái Hiện Đại
  • Tiếp Cận Kiến Thức Địa Lý Qua Thơ
  • Con Gà Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Cây Lúa Trong Ngôn Ngữ Người Việt
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Văn Hóa Sản Xuất Nông Nghiệp Phần 1
  • 1.Cá bống còn ở trong hang

    Lá rau tập tàng còn ở ruộng dâu

    Ta về, ta sắm cần câu

    Câu lấy cá bống, nấu rau tập tàng

    2. Cá buồn cá lội tung tăng

    Em buồn em biết đãi đằng cùng ai?

    3. Cá kèo mà gặp mắm tươi

    Như nơi đất khách gặp người cố tri

    4. Cá không ăn muối cá ươn

    Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư

    5. Cá nục nấu với dưa hồng

    Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi

    6. Cá tươi xem lấy đôi mang,

    Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai

    Tóc mai sợi vắn sợi dài

    Có đâu mặt rỗ đá mài không trơn

    7. Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Ðỉa lội lềnh như bánh canh

    8. Cả vú lấp miệng em

    9. Cách sông mới phải luỵ thuyền

    Còn như đường liền ai phải luỵ ai

    10. Cái ách giữa đàng, mang vào cổ

    11. Cái cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    12. Cái cò lặn lội bờ sông

    Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền

    13. Cái cò mày đi ăn đêm

    Ðậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

    Ông ơi, ông vớt tôi nao

    Tôi có lòng nào, ông hãy sáo măng

    Có sáo, thì sáo nước trong

    Ðừng sáo nước đục, đau lòng cò con

    14. Cái kiến mày kiện củ khoai

    Chê em tao khó, lấy ai cho giàu

    Nhà tao chín đụn, mười trâu

    Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân

    Cầu này là cầu ái ân

    Một trăm con gái rửa chân cầu này

    Có rửa thì rửa chân tay

    Chớ rửa chân mày, chết cá ao anh

    15. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Ðiền

    Anh thương em cho bạc cho tiền

    Ðừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay!

    16. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

    Anh có thương em, xin sắm một con đò

    Ðể em qua lại mua cò gởi thơ

    17. Cái khó bó cái khôn

    18. Cái nết đánh chết cái đẹp

    19. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Cái ngủ mày ngủ cho say

    Mẹ mày vất vả chân tay suốt ngày

    20. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Bắt được con trắm, con trê

    Xách cổ mang về cho cái ngủ ăn

    Cái ngủ ăn chẳng hết

    Ðể dành đến Tết mồng Ba

    Mèo già ăn vụng

    Mèo ốm phải đòn

    Mèo con phải vạ

    Con quạ có lông

    Nồi đồng có nắp

    21. Cái răng cái tóc là gốc con người

    22. Câm hay ngóng, ngọng hay nói

    23. Câm như hến

    24. Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn

    Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon

    25. Cần tái, cải nhừ

    26. Cầm vàng mà lội qua sông

    Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

    27. Cần Thơ là tỉnh

    Cao Lãnh là quê

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mảng lo buôn bán không về thăm em

    28. Canh khuya gà gáy ó o

    Quân tử thức dậy còn mò đi đâu?

    29. Canh khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, trầm tư một mình

    30. Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng khi về bủng beo

    31. Cao su đi dễ khó về

    Trai đi mất vợ gái về thêm con

    32. Cáo chết ba năm quay đầu về núi

    33. Cát bay, vàng lại ra vàng

    Những người quân tử dạ càng đinh ninh

    Ðinh ninh ta để dạ này

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    34. Cau già, dao bén thì ngon

    Người già trang điểm phấn son cũng già

    35. Cây cao bóng mát không ngồi

    Ra ngồi chỗ nắng, trách trời không mây

    36. Cây đa Chợ Ðũi

    Nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàng

    Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân!

    37. Cây khô không có lộc

    Người độc không có con

    38. Cây khô không thể mọc chồi

    Mẹ già không dễ sống đời với con

    39. Cây khô không trái, gái độc không con

    40. Cây không trồng nên lòng không tiếc

    Con không đẻ nên mẹ ghẻ không thương

    41. Cây muốn lặng, gió chẳng muốn ngừng

    42. Cây trên rừng hoá kiểng

    Cá dưới biển hoá long

    Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong

    Anh đi lục tỉnh giáp vòng

    Ðến đây trời khiến đem lòng thương em

    43. Cây vông đồng không không trồng mà mọc

    Con gái xóm này chẳng chọc mà theo

    44. Cây xanh thời lá cũng xanh

    Cha mẹ hiền lành để đức cho con

    Mừng cây rồi lại mừng cành

    Cây tốt lắm chồi, người đức lắm con

    Ba vuông sánh với bảy tròn

    Ðời cha vinh hiển, đời con sang giàu

    45. Cậu cai buông áo em ra

    Ðể em đi chợ kẻo mà chợ trưa

    Chợ trưa dưa nó héo đi

    Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?

    46. Cha chung chẳng ai khóc

    47. Cha đời cái áo rách này

    Mất chúng, mất bạn vì mày áo ơi!

    48. Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại

    Bắt anh ra treo tại nhành dương

    Biểu từ ai, anh từ đặng

    Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ

    49. Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển

    Con nuôi chạ mẹ, con tính từng ngày

    50. Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng

    Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày

    51. Cha nào con nấy, rau nào sâu nấy

    52. Chanh chua thì khế cũng chua

    Chanh bán có muà, khế bán quanh năm

    53. Cháo nóng, liếm quanh

    54. Cháu ơi, cháu ngủ cho ngon

    Của dì, dì giữ ai bò mặc ai

    55. Chàng về cho thiếp theo cùng

    Ðói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam

    56. Chàng ôi, giận thiếp mà chi

    Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng

    57. Chàng về để áo lại đây

    Ðể khuya em đắp gió khuya lạnh lùng

    58. Chàng về để áo lại đây

    Phòng khi em nhớ cầm tay đỡ buồn

    59. Cháy nhà ra mặt chuột

    60. Chặt không đứt, bứt không rời

    Phơi không khô, chụm không cháy

    (Ðố là con gì? Con sam)

    61. Chẳng ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời

    62. Chẳng ốm, chẳng đau làm giàu mấy chốc

    63. Chẳng tham ruộng cả, ao tiền

    Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ

    64. Chân cứng, đá mềm

    65. Chân đi ba bước lại dừng

    Tuổi em còn bé chưa từng đi buôn

    Ði buôn cho đáng đi buôn

    Ði buôn cau héo có buồn hay không

    66. Chân trời, góc biển

    67. Chập chập rồi lại cheng cheng

    Con gà sống thiến để riêng cho thầy

    Ðơm sôi thì đơm cho đầy

    Ðơm mà vơi đĩa thì thầy không ưng

    68. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    69. Chẻ tre bện sáo cho dầy

    Chận ngang sông Mỹ có ngày gặp em

    70. Chê đắng chê hôi

    Ðã chê xôi không dẻo

    Lại chê kẹo không ngọt

    71. Chê đây, lấy đấy sao đành

    Em chê cam sành, lấy phải quít hôi

    Quít hôi bán một đồng mười

    Cam ba đồng một, quít ngồi trơ trơ

    72. Chết trước được mồ, được mả

    Chết sau nằm ngả, nằm nghiêng

    73. Chì khoe chì nặng hơn đồng

    Sao chì chẳng đúc nên cồng, nên chuông

    74. Chị em dâu như bầu nước lã

    75. Chị kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu?

    Nhà tui ở dưới đám dâu

    Ở trên đám đậu đầu cầu ngó qua

    76. Chị lấy chồng, em gặm giò heo

    Giò heo chị để chị treo

    Em lấy giò mèo, em gặm em chơi

    77. Chị ngã, em nâng

    78. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Thuốc đâu mà chữa con người lẳng lơ

    79. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Tay đâu mà bụm miệng người thế gian

    80. Chiếc khăn cô đội trên đầu

    Gió xuân đưa đẩy rơi vào tay tôi

    Bâng khuâng tôi chẳng muốn rời

    Trao cô thì tiếc, giữ thời không yên

    81. Chiếc tàu lặn chạy mau đường gió

    Cái xe hơi chạy lẹ như dông

    82. Chiếu bông mà trải góc đền

    Muốn vô làm bé biết có bền hay không?

    83. Chiều chiều, buồn miệng nhai trầu

    Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ

    84. Chiều chiều chim vịt kêu chiều

    Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau

    85. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Nhớ người aó trắng khăn điều vắt vai

    86. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Trông về quê mẹ chín chiều ruột đau

    87. Chiều chiều, ông chánh về Tây

    Cô Ba ở lại lấy thầy Thông Ngôn

    Thông ngôn, ký lục, bạc chục không màng

    Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay

    88. Chiều chiều ông Lã Ðông Tân

    Vai mang bầu rượu, tay cầm chiếc nem

    89. Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

    90. Chiều chiều tui buồn tui ra sông cái, tự ải cho rồi

    Sống làm chi mà chia ly thục nữ

    Thác cho rồi đặng chữ thủy chung

    91. Chiều chiều trước bến Văn Lâu

    Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm

    Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông

    Thuyền ai thấp thoáng bên sông

    Ðưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non

    92. Chiều chiều vịt lội, cò bay

    Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng

    Vô rừng bứt một sợi mây

    Ðem về thắt gióng cho nàng đi buôn

    93. Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc

    Cá bãi trầu lội tuốt mương cau

    94. Chim đa đa đậu nhánh đa đa

    Chồng gần không lấy, đi lấy chồng xa

    Một mai cha yếu mẹ già

    Chén cơm, đôi đũa, tách trà ai dâng

    95. Chim khỏi lồng không mong trở lại

    96. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

    97. Chim khôn lựa cành mà đậu

    98. Chim khôn mắc phải lưới hồng

    Hễ ai gỡ được, đền công bạc vàng

    Anh rằng anh chẳng lấy vàng

    Hễ anh gỡ được, thì nàng lấy anh

    99. Chim quyên ăn trái nhãn lồng

    Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi

    100. Chim quyên xuống đất ăn trùn

    Anh hùng lỡ vận, lên rừng đốt than

    101. Chim trời ai dễ đếm lông

    Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày

    102. Chim trời cá nước, ai bắt được nấy ăn

    103. Chim lìa cành còn thương nhớ cội

    Người xa người tội lắm người ơi!

    Chẳng thà không gặp thì thôi

    Gặp rồi mỗi đứa một nơi sao đành

    104. Chính chuyên chết cũng ra ma

    Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng

    105. Cho em trở lại đường xưa

    Ðể em tìm lại gốc dừa cạnh ao

    Lời anh âu yếm chiều nào

    Thoảng vang trong gió rì rào chớm thu

    106. Chó ăn đá, gà ăn muối

    107. Chó cậy gần nhà, gà cậy cần chuồng

    108. Chó treo, mèo đậy

    109. Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ

    Ðóa hải đường thức ngủ xuân tiêu

    110. Chồng chài, vợ lưới, con câu

    Thằng rể đóng đáy, con dâu đi nò

    111. Chồng chung chồng chạ

    Ai khéo hầu hạ thì được chồng riêng

    112. Chồng chung, vợ chạ

    113. Chồng em áo rách em thương

    Chồng người áo gấm, xông hương mặc người

    114. Chồng em vốn kẻ đa tình

    Già không bỏ, nhỏ không tha

    Xấu như ma hắn cũng hú hí

    Xấu như quỉ hắn cũng ăn nằm

    115. Chồng già vợ trẻ là duyên

    Vợ già, chồng trẻ là tiên ba đời

    116. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già, chồng trẻ là duyên trên đời

    117. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già chồng trẻ là duyên nợ trần

    118. Chồng giận thì vợ làm lành

    Miệng cười chúm chím: Thưa anh giận gì?

    Thưa anh, anh giận em chi

    Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho

    119. Chồng nóng thì vợ bớt lời

    Cơm sôi bớt lửa chẳng rơi hột nào

    120. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa

    121. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Như đôi đũa lệch so sao cho bằng

    122. Chơi hoa cho biết mùi hoa

    Cầm cân cho biết cân già, cân non

    123. Chuối non giú ép, chát ngầm

    Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm

    124. Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

    Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm

    125. Chuồn chuồn có cánh thì bay

    Có thằng bé tí thò tay bắt mày

    126. Chuột kêu chút chít trong rương

    Em đi cho kheó đụng giường mẹ hay

    127. Chuột sa chĩnh gạo

    128. Chuyện đời chẳng ít thì nhiều

    Không dưng, ai dễ đặt điều cho ai

    129. Chuyện đời, vợ vợ chồng chồng

    Thương nhau cũng vội, dứt lòng cũng mau

    130. Chuyện người mặc kệ người lo

    Hơi đâu đáy nước, mình mò bóng trăng

    131. Chữ trinh đáng giá ngàn vàng

    Từ anh chồng cũ đến chàng là năm

    Còn như yêu vụng nhớ thầm

    Họp chợ trên bụng hàng trăm sá gì

    132. Chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng

    133. Chưa học bò, đã lo học chạy

    134. Chưa làm giàu, đã lo ăn cướp

    135. Chừng nào đá nổi rong chìm

    Muối chua, chanh mặn anh tìm được em

    136. Chửa đui, chửa què, đừng khoe rằng tốt

    137. Có bột mới gột nên hồ

    138. Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo

    Có đứa nào xạo bằng thằng út Gò Công

    139. Có cây mới có dây leo

    Có cột có kèo, mới có đòn tay

    140. Có công mài sắt, có ngày nên kim

    141. Có cha, có mẹ thì hơn

    Không cha, không mẹ như đờn đứt dây

    142. Có chí làm quan, có gan làm giàu

    143. Có chí thì nên

    144. Có chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ

    Ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh

    Có chồng say như trong chay ngoài hội

    Ngó vô nhà như hội tầm vu

    145. Có chồng nghiền như ông tiên nho nhỏ

    Thắp ngọn đèn sáng tỏ như sao

    Tay cầm tiêm như phò mã múa đao

    Chân vắt chéo như Khổng Minh xem sách

    146. Có chồng mà chẳng có con

    Khác gì hoa nở trên non một mình

    147. Có chum cá mới ở đìa

    Có em anh mới sớm khuya chốn này

    148. Có con mà gả chồng gần

    Nửa đêm đốt đuốc đem phần cho cha

    Có con mà gả chồng xa

    Ba phần ruộng rẻo chẳng ma nào cày

    149. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng

    150. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay

    151. Có công mài sắt có ngày nên kim

    152. Có của thì có mẹ nàng

    Có bạc có vàng thì có kẻ ưa

    Chị là con gái nhà giầu

    Ăn mặc tốt đẹp vào chầu tòa sen

    Em là con gái nhà hèn

    Ăn mặc rách rưới mon men ngoài hè

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cà Mau Xưa Qua Các Câu Thơ & Ca Dao
  • Thành Ngữ Và Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ A, Chữ Ă, Â ?
  • Lịch Sử Khai Phá Bình Dương Qua Dân Ca, Thơ Ca Dân Gian Làng Tương Bình Hiệp
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Hò Vè Bình Định
  • Tiếng Trung Nghiêm Thùy Trang
  • Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Những Câu Danh Ngôn Bất Hủ
  • {Đọc} Stt Hay Về Sự Thay Đổi Bản Thân Giúp Mình Cố Gắng Nhiều Hơn
  • Stt Hay Về Tình Yêu Buồn Bằng Tiếng Anh Trên Facebook
  • Những Câu Stt Hay Bằng Tiếng Trung Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Từ Ngữ Địa Phương
  • 10:36:14 AM, Sep 07, 2022 * Số lần xem: 854101

    * Cập nhật

    * đăng lúc 11:22:41 AM, Jan 26, 2009 Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam Ca dao là gì?

    Trước hết là Ca dao, là những câu thơ ca dân gian Việt Nam. Được truyền miệng dưới dạng những câu hát không thể một điệu nhất định. Và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc.

    Và đặc biệt hơn đó chính là ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao được hiểu ý nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ ông cha ta để lại.

    Tục ngữ là gì?

    Khác với ca dao, thì tục ngữ lại thể hiện những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian. Về mọi mặt trong cuộc sống như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn…

    Với ý nghĩa ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh thường gieo vần lưng. Và đây cũng là một thể loại văn học dân gian Việt Nam. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn của con người. Trong đó gữa hình thức và nội dung, tục ngữ có một sự gắn bó chặt chẽ. Thông thường trong một câu tục ngữ có 2 nghĩa: nghĩa đen nghĩa bóng.

    Khác với ca dao, tục ngữ thường có vần, gồm 2 loại chính là: vần liềnvần cách.

    Ca Dao Tục Ngữ Phần II từ H tới L Ca Dao Tục Ngữ Phần III từ M tới Y :: ::

    Xin bấm vào các links sau đây để đọc tiếp :

    1. Ai ai cũng tưởng bậu hiền

    A

    Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai

    2. Ai đem con sáo sang song

    Để cho con sáo sổ lồng bay cao

    3. Ai đi bờ đắp một mình

    Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân

    4. Ai đi đâu đấy hỡi ai

    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

    Ai đi muôn dặm non song

    Để ai chứa chất sầu đong vời đầy

    5. Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa

    Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào

    Ai đi sục sịch ngoài hàng rào

    Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa

    6. Ai kêu là rạch, em gọi là song

    Phù sa theo nước chảy mênh mông

    Sông ơi, thấm mát đời con gái

    Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng

    7. Ai làm cho bướm lìa hoa

    Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng

    8. Ai làm Nam Bắc phân kỳ

    Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương

    9. Ai mà nói dối cùng ai

    Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng

    Ai mà nói dối cùng chồng

    Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao

    10. Ai nhứt thì tôi đứng nhì

    Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba

    11. Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

    12. Ai ơi chơi lấy kẻo già

    Măng mọc có lứa người ta có thì

    Chơi xuân kẻo hết xuân đi

    Cái già sòng sọc nó thì theo sau

    Phần I từ A tới G

    100. Áo anh đứt chỉ đường tà

    Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

    B

    Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừBuồn về một nỗi tháng tưCon mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ănBuồn về một nỗi tháng nămChửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêuLựu xa đào, lựu xéo đào xiênVàng cầm trên tay rớt xuống không phiềnChỉ phiền một nỗi nợ với duyên không trònChờ con bạn ngọc thở than đôi lờianh hai vật đổi sao dờiTính sao nàng tính trọn đời thủy chungCanh ba cờ phất trống rungMặc ai ai thẳng ai dùn mặc aiCanh tư hạc đậu cành maiSương sa lác đác khói bay mịt mờCanh chầy tơ tưởng tưởng tơChiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu khôngAi làm lỡ chuyến đò ngangCho loan với phượng đôi hàng biệt ly

    C

    78. Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm

    Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu

    80. Bực mình chẳng muốn nói ra

    Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời

    79. Bước xuống ruộng sâu, em mảng sầu tấc dạ

    75. Bươm bướm mà đậu cành bong

    Đã dê con chị, lại bồng con em

    76. Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng

    Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai

    77. Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng

    73. Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt

    Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon

    74. Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo

    Tay em ôm bó mạ, luỵ ứa hai hàng

    C

    Đi buôn cau héo có buồn hay không

    43. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    VẦN D VẦN Đ

    Đánh bạc quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn vặt quen mồm

    Đánh chết, mà nết không chừa

    Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

    Đàn bà nói có là không

    Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

    Đàn bà tốt tóc thì sang

    Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Đàn kêu tích tịch tình tang

    Ai đem công chúa lên thang mà về

    Đàn ông đi biển có đôi

    Đàn bà đi biển mồ côi một mình

    Đàn ông không râu vô nghì

    Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

    Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ

    Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu

    Rút gươm đâm họng máu trào

    Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

    Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt

    Lửa nhà máy hết cháy thành than

    Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn

    Kể từ khi em biết được chàng

    Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

    Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

    Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang

    Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc

    Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

    Đèn treo ngang quán

    Tỏ rạng bờ kinh

    Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình

    Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

    Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn

    Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

    Đêm khuya ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Đêm khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

    Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng

    Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

    Đêm khuya trăng dọi lầu son

    Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng

    Bển qua đây đàng đã xa đàng

    Dầu tui có lâm nguy thất thế

    Hỏi con bạn vàng nó cứu không?

    Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông

    Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

    Đêm nằm tàu chuối có đôi

    Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

    Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng

    Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài

    Bây giờ chàng đã nghe ai

    Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung

    Bây giờ sự đã nhạt nhùn

    Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua

    Cá lên mặt nước, cá khô

    Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

    Đêm qua nguyệt lặn về Tây

    Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài

    Trúc với mai, mai về trúc nhớ

    Trúc trở về, mai nhớ trúc không

    Bây giờ kẻ Bắc, người Đông

    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

    Đêm thanh cảnh vắng

    Thức trắng năm canh

    Một duyên, hai nợ, ba tình

    Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

    Đến đây đất nước lạ lùng

    Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

    Đến ta mới biết của ta

    Trăm nghìn năm trước biết là của ai

    Đề huề chồng vợ

    Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang

    Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

    Đi chùa lạy Phật cầu chồng

    Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

    Đi đâu cho thiếp theo cùng

    Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

    Đi đâu mà vội mà vàng

    Mà vấp phải đá mà quàng phải dây

    Thủng thỉnh như chúng anh đây

    Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

    Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Đi qua nhà nhỏ

    Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng

    Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

    Đó đây trước lạ sau quen

    Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

    Đói lòng ăn đọt chà là

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

    Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    Đói lòng ăn nửa trái sim

    Uống lưng bát nước đi tìm người thương

    Đói lòng nuốt trái khổ qua

    Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

    Đôi ta chẳng được sum vầy

    Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương

    Vì sương nên núi bạc đầu

    Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

    Đôi ta đã trót lời thề

    Con dao lá trúc đã kề tóc mai

    Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

    Đôi ta như loan với phượng

    Nỡ lòng nào để phượng lià cây

    Muốn cho có đó, có đây

    Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi

    Thà rằng chẳng biết thì thôi

    Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

    Đôi ta như thể con tằm

    Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong

    Đôi ta như thể con ong

    Con quấn con quít, con trong con ngoài

    Đôi ta như thể con bài

    Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

    Đố ai biết luá mấy cây

    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

    Đố ai quét sạch lá rừng

    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

    Rung cây, rung cỗi, rung cành

    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

    Đố ai lặn xuống vực sâu

    Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

    Đố anh con rít mấy chưn

    Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người

    Mấy người bán áo con trai

    Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

    Đốt than nướng cá cho vàng

    Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

    Muốn ăn bôn súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đồng tiền Vạn lịch

    Thích bốn chữ vàng

    Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu

    Bây giờ cô lấy chồng đâủ

    Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

    Đổ lửa than nên vàng lộn trấu

    Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

    Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ

    Anh gặp em đây không cửa không nhà

    Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

    Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

    Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    Đờn cò lên trục kêu vang

    Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng

    Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng

    Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương

    Chiều nay qua phản bạn hồi hương

    Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào

    Ghe tui tới chỗ cắm sào

    Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

    Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá

    Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm

    Anh thấy em tốt mã anh lầm

    Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

    Đưa nhau đổ chén rượu hồng

    Mai sau em có theo chồng đất xa

    Qua đò gõ nhịp chèo ca

    Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

    Đường trơn trợt gượng đi kẻo té

    Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng

    Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi

    Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

    Đứt tay một chút còn đau

    Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

    Đ Đất lành chim đậu.

    E

    VẦN E

    Em có chồng sao em không nói?

    Để anh theo anh chọc em hoài

    Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay!

    Em đeo chiếc kim hườn

    Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến

    Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!

    Em liều một cái bánh bò

    Còn nào chót chét, cặp giò em chặt hai

    Em liều một chén dầu chanh

    Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền

    Em liều một trái sầu giêng

    Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro

    Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi

    Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?

    Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác

    Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?

    Em ơi, anh bảo em này

    Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi

    Em ơi, em có thương anh

    Em ra canh lính cho anh leo tường!

    Em ơi em ở lại nhà

    Vườn dâu em hái mẹ già em thương

    Mẹ già một nắng hai sương

    Chị đi một bước trăm đường xót xa

    Cậy em em ở lại nhà

    Em thấy anh em cũng muốn chào

    Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông

    Em chấy anh em cũng muốn chào

    Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình

    Dao trong mình, gươm anh cặp nách

    Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi

    Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu

    Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi

    Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi

    Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra

    Em về hỏi mẹ cùng cha

    Có cho em lấy chồng xa hay đừng

    Én bay thấp, mưa ngập bờ ao

    Én bay cao, mưa rào lại tạnh

    Em nghe tiếng hát đâu xa

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ê

    Êm như ru

    Ếch ngồi đáy giếng

    VẦN G

    Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng

    Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua

    Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng

    Trai bạc tình một cẳng về quê

    Gái lấy trai đứng là gái dại

    Trai lấy rồi trai lại bán rao

    Gái đâu có thứ hỗn hào

    Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu

    Gà đẻ, gà cục tác

    Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

    Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

    Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi

    Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi

    Saigon vui lắm em ơi

    Lấy chồng về đó một đời sướng thân

    Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất

    Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ

    Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông

    Gẫm xem sự thế nực cười

    Một con cá lội mấy người buông câu

    Gần mực thì đen gần đèn thì sáng

    Gập ghềnh nước chảy qua đèo

    Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng

    Ghe anh đỏ mũi xanh lườn

    Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em

    Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo

    Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em

    Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ

    Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn

    Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời

    Mật đường dù chẳng đi đôi

    Chút hương rớt lại, một đời chưa quên

    Ghe lên ghe xuống dầm dề

    Sao anh không gởi thơ về thăm em?

    Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ

    Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi

    Già thì đặc bí bì bì

    Con gái đương thì rỗng toác toàng toang

    Ngoài xanh trong trắng như ngà

    Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu

    (Đố là gì? – cau dầy)

    Giàu cha giàu mẹ thì ham

    Giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn

    Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa

    Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

    Giàu từ trong trứng giàu ra

    Giàu út ăn, khó út chịu

    Giả đò mua khế bán chanh

    Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn

    Giặc Tây đánh tới Cần Giờ

    Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công

    Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh

    Giấy hồng đơn bán mấy

    Cho anh mua lấy một tờ

    Viết thơ quốc ngữ

    Dán trên trái bưởi

    Thả xuống giang hà

    Bớ cô gánh nước bên bờ

    Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ

    Giận chồng xách gói ra đi

    Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về

    Gieo gió gặp bão

    **************************************

    Toàn bộ từ vần A đến Y

    -B-

    -C-

    Ca Li đi dễ khó về

    Câu nguyên gốc là..nói về những người đi trồng cao su

    Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng, khi về bủng beo

    ================================================== =======

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    ================================================== ========

    Chân cứng đá mềm

    ================================================== ========

    Có chí thì nên

    ================================================== ========

    Cô kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi kéo lại hỏi nhà ở đâu ?

    Nhà tôi ở trước đám dâu

    Ở sau đám cải đầu cầu ngó qua

    Cái câu này còn có khác hơn một tí đó là..

    Đ-

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ếch ngồi đáy giếng

    ================================================== ========

    -G-

    -H-

    -I-

    ================================================== ========

    -K-

    -L-

    -M-

    -N-

    Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ

    ================================================== ========

    Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

    ================================================== ========

    Nhất quỷ nhì ma

    Thứ ba học trò …. )

    ================================================== ========

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    ================================================== ========

    No bụng đói con mắt

    ================================================== ========

    -O-

    Ở đâu cũng có anh hùng

    Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên

    ================================================== ========

    Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

    ================================================== ========

    Ớt nào là ớt chẳng cay,

    Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

    Vôi nào là vôi chẳng nồng

    Gái nào là gái có chồng chẳng ghen !

    ================================================== ========

    Ở hiền gặp lành

    ================================================== ========

    -Q-

    Quả cau nho nhỏ

    Cái vỏ vân vân

    Nay anh học gần

    Mai anh học xa

    Tiền, gạo là của mẹ cha

    Bút nghiên, kinh sách thì là của anh

    Lấy chàng từ thuở mười ba

    Đến năm mười tám thiếp đà năm con

    Ra đường thiếp hãy còn son

    Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng

    ================================================== ========

    -R-

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    ================================================== ========

    -S-

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người

    ================================================== ========

    Sá gì một nải chuối xanh

    Năm bảy người giành cho mủ dính tay

    ================================================== ========

    -T-

    -U-

    ================================================== ========

    -V-

    Vì sông nên phải lụy thuyền

    Chứ như đường liền ai phải lụy ai

    ================================================== ========

    Vải thưa che mắt thánh

    ================================================== ========

    -X-

    ========

    -Y-

    Yêu nhau cởi áo cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

    ========

    Yêu nhau thì ném miếng trầu

    Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra

    Yêu nhau cau bổ làm ba

    Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười

    Xem Thêm Cập nhật 2022:

      Mèo khen mèo dài đuôi.

      N Năm nắng mười mưa

    --- Bài cũ hơn ---

  • 500 Stt Buồn: Hay, Cảm Xúc, Tâm Trạng, Chất Và Độc Đáo Nhất 2022
  • Chia Sẻ Những Stt Hay Về Tình Bạn Trên Facebook Độc Đáo Nhất
  • Tổng Hợp Những Lời Chúc Buổi Tối Ngọt Ngào Nhất
  • Những Lời Chúc Buổi Sáng Ngọt Ngào, Ý Nghĩa Nhất
  • Con Gái Ế Thì Đã Sao?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100