Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Từ Ngữ Địa Phương

--- Bài mới hơn ---

  • Thư Chúc Tết Công Ty Dành Cho Lãnh Đạo, Cán Bộ Quản Lý
  • Những Câu Chửi Khéo Người Yêu Cũ Bằng Tiếng Anh Cực Hay Và Thâm Thúy
  • Những Câu Châm Ngôn Nổi Tiếng Không Thể Bỏ Qua Bằng Tiếng Anh
  • Hướng Dẫn Cách Chạy Xe Xipo Lướt Nhanh Trong Gió
  • Stt Lời Chúc Noel Vui Vẻ Tuyển Chọn Hay Nhất
  • Ca dao tục ngữ có từ ngữ địa phương không phải ai cũng biết

    Ca dao có từ ngữ địa phương

    1. Chồng chèo thì vợ cũng chèo

    Hai đứa cùng nghèo lại đụng với nhau.

    2. Ngó lên hòn Kẽm đá dừng ,

    Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi !

    3. Thương em anh cũng muốn ,

    Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.

    4. Thân em như cá trong lờ

    Hết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu.

    5. Bên dưới có sông, bên trên có chợ

    Hai đứa mình kết vợ chồng nghen.

    6. Trời mưa cóc nhái chết sầu

    Ễnh ương đi cưới nhái bầu không ưng

    Chàng hiu đứng dựa sau lưng

    Khều khều móc móc cứ ưng cho rồi.

    8. Anh tưởng giếng sâu anh nối sợi dây cụt

    Ai dè giếng cạn nó hụt sợi dây

    Qua tới đây không cưới được cô hai mày

    Qua chèo ghe ra biển đợi nước đầy qua chèo trở .

    9. Đời cơ cực như ri

    Đồng Khánh ở giữa, Hàm nghi hai đầu.

    11. Đôi ta như chỉ xe đôi

    Khi săn săn rứa, khi lơi lơi chùng.

    12. Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Đĩa lội lềnh như bánh canh.

    13. Rau đắng nấu với cá trê

    Ai đến đất Mũi thì không về!

    15. Vịt nằm bờ mía rỉa lông

    Cám cảnh thương chồng đi thú Hà Tiên.

    16. Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

    Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu.

    17. Cần Thơ gạo trắng nước trong

    Ai đi đến đó thời không muốn về.

    18. Ai ơi về miệt Tháp Mười

    Cá tôm sẳn bắt, lúa trời sẳn ăn.

    19. Muốn ăn bông súng mắm kho

    Thì Đồng Tháp ăn no đã thèm.

    20. Bến Tre trai lịch, gái thanh

    Nói năng duyên dáng ai nhìn cũng ưa.

    21. Muối khô ở Gảnh mặn nồng

    Giồng Trôm, Phong Nẫm dưa đồng giăng giăng.

    22. Hết gạo thì có Đồng Nai

    Hết củi thì có Tân Sài chở vô.

    24. Ăn bưởi thì hãy đến đây

    Vào mùa bưởi chín, vàng cây trĩu cành

    Ngọt hơn quít mật, cam sành

    Biên Hòa có bưởi trứ danh tiếng đồn.

    25. Anh ngồi quạt quán Bến Thành

    Nghe em có chốn anh đành quăng om!

    Anh ngồi quạt quán Bà Hom

    Hành khách chẳng có, đá om quăng lò.

    26. Đi đâu mà chẳng biết ta

    Ta ở Thủ Đức vốn nhà làm nem.

    27. Đường Sài Gòn cong cong quẹo quẹo

    Gái Sài Gòn khó ghẹo lắm anh ơi.

    28. Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai

    Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường.

    33. Công đâu công uổng công thừa

    Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

    35. Ai về Nhượng Bạn thì về

    Gạo nhiều, cá lắm, dễ bề làm ăn.

    36. Bắc Cạn có suối đãi vàng

    Có hồ Ba Bể có nàng áo xanh.

    38. Em về thưa mẹ cùng thầy,

    Cho anh cưới tháng này anh ra.

    Anh về thưa mẹ cùng cha,

    Bắt lợn sang cưới, bắt gà sang cheo.

    40. Ru em em théc cho muồi

    Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

    Mua vôi chợ quán chợ Cầu

    Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.

    Tục ngữ có từ ngữ địa phương

    1. Chình ình như cái đình La Qua.

    2. Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa.

    3. Ăn trên, ngồi trốc.

    4. Ăn như xáng múc, làm như lục bình trôi.

    5. Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau.

    6. Bênh lý không bênh thân.

    7. Ăn cây nào, rào cây đó.

    8. Cái khó cái khôn.

    9. Chết vinh còn hơn sống nhục.

    10. Đi một ngày đàng học một sàng khôn.

    11. Ghét của nào trời trao của nấy.

    12. Lá rụng về cội.

    13. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén.

    14. Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ.

    15. Mất lòng trước, đặng lòng sau.

    16. Muốn ăn thì lăn vào bếp.

    17. Mũi dại, lái phải chịu đòn.

    18. Nói có sách, mách có chứng.

    19. Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm.

    20. Nghèo sinh bệnh, giàu sinh tật.

    21. Oan oan tương báo , dỉ hận miên miên.

    22. Phú quý sinh lễ nghĩa , bần cùng sinh đạo tặc.

    23. Quả báo nhãn tiền.

    25. Sông sâu sóng cả chớ ngã tay chèo.

    26. Tai vách mạch rừng.

    27. Tham giàu phụ khó, tham sang phụ bần.

    28. Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm.

    29. Xa mặt cách lòng.

    30. Yêu nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Stt Hay Bằng Tiếng Trung Ý Nghĩa Nhất
  • Stt Hay Về Tình Yêu Buồn Bằng Tiếng Anh Trên Facebook
  • {Đọc} Stt Hay Về Sự Thay Đổi Bản Thân Giúp Mình Cố Gắng Nhiều Hơn
  • Sách Những Câu Danh Ngôn Bất Hủ
  • Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam
  • Sưu Tầm Ca Dao Tục Ngữ Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Vận Dụng Đặc Điểm, Cấu Tạo Và Ngữ Nghĩa Của Thành Ngữ Địa Phương Thanh Hóa Vào Tiết Học Ngữ Văn Lớp
  • Hãy Nêu Các Câu Ca Dao , Tục Ngữ Nói Về Đoàn Kết , Tương Trợ Câu Hỏi 42214
  • Phân Biệt Thành Ngữ, Tục Ngữ
  • 105 Thành Ngữ Thông Dụng Trong Tiếng Anh
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Giàu Nghèo, Nợ Nần, Sự Nghèo Khó
  • Sưu tầm ca dao tục ngữ địa phương? Ca dao tục ngữ địa phương miền nam? Ca dao tục ngữ địa phương miền trung? Ca dao tục ngữ địa phương miền bắc?

    Có những câu ca dao, tục ngữ địa phương nào hay nhỉ?

    Ai lên làng Quỷnh hái chè

    Hái dăm ba lá xuống khe ta ngồi!

    Muốn ăn cơm trắng cá mè

    Thì lên làng Quỷnh hái chè với anh

    Muốn ăn cơm trắng cá rô

    Thì lên làng Quỷnh quẩy bồ cho anh!

    Hà Nội:

    1.

    2.

    3. Chùa Hương

    4.

    5. Đường phố Hà Nội

    Hà Nội ba mươi sáu phố phường

    Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh

    Từ ngày ta phải lòng mình

    Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen

    Làm quen chẳng được nên quen

    Làm bạn mất bạn ai đền công cho

    Bắc Ninh:

    Chiều trên cánh đồng Bắc Ninh

    Trên trời có đám mây xanh

    Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng

    Ước gì anh lấy được nàng

    Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

    Xây dọc rồi lại xây ngang

    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

    Miền Trung

    Thanh Hóa:

    Ai về nhớ vải Đinh Hòa

    Nhớ cau Hổ Bái, nhớ cà Đan Nê

    Nhớ dừa Quảng Hán, Lựu khê

    Nhớ cơm chợ Bản, thịt dê Quán Lào

    Nghệ An:

    1.

    2.

    Ra đi anh nhớ Nghệ An

    Nhớ Thanh Chương ngon nhút

    Nhớ Nam Đàn thơm tương…

    “Tiếng đồn cá mát sông Găng

    Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Cồn.”

    Hà Tĩnh:

    Quảng Bình:

    Quảng Trị:

    Thừa Thiên – Huế:

    1.

    2.

    3. Sông Hương – Núi Ngự

    “Quít giấy Hương Cần

    Cam đường Mỹ Lợi

    Vải trắng Cung Viên

    Nhãn lồng phụng tiêu

    Đào tiên Thế miếu

    Thanh trà Nguyệt biếu

    dâu da làng Truồi

    Hạt sen Hồ Trịnh…”

    Quảng Nam:

    Nem chả Hòa Vang

    Bánh tổ Hội An

    Khoai lang Trà Kiệu

    Rượu thơm Tam kỳ…

    Cô gái làng Son

    Không bằng tô don Vạn Tường.

    Quảng Ngãi:

    Ai về Quảng Ngãi quê ta

    Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà dễ ăn

    Mạch nha, đường phổi, đường phèn

    Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền

    “Mứt gừng Đức Phổ

    Bánh nổ Nghĩa Hành

    Đậu xanh Sơn Tịnh”.

    Mạch nha Thi Phổ

    Bánh nổ Thu Xà

    Muốn ăn chà là

    Lên núi Định Cương

    Bình Định:

    1.

    2.

    3.

    4.

    5.

    Bình Định có núi Vọng Phu

    Có đầm Thị Nại, có cù lao Xanh

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa

    Phú Yên:

    1.

    2.

    Khánh Hòa:

    Yến xào Hòn Nội

    Vịt lộn Ninh Hòa

    Tôm hùm Đinh Ba

    Nai khô Diên Khánh

    Cá tràu Võ cạnh

    Sò huyết Thủy Triều…

    Phan Rí, Phan Thiết (Bình Thuận) :

    Cô kia bới tóc cánh tiên

    Ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi

    Chẳng tin giở thử ra coi

    Rau răm ở dưới cá mòi ở trên

    Miền Nam

    Sài Gòn:

    1.

    2.

    3.

    4.

    5. Sài Gòn về đêm

    6.

    7.

    8.

    9.

    10.

    11.

    Bình Dương:

    Cây trái Bình Dương

    Đất Bình Dương vốn thật quê chàng

    Lánh nơi thành thị tìm đàng du sơn

    Xuân xanh hai tám tuổi tròn

    Hoa còn ẩn nhụy, chờ bình đơm bông.

    Đồng Nai:

    1.

    2.

    3.

    4.

    5.

    6.

    7.

    8.

    9.

    10.

    Long An:

    1.

    2.

    3.

    Bến Tre:

    1.

    Bến tre dừa ngọt sông dài

    Nơi chợ Mõ Cày có kẹo nổi danh

    Kẹo Mõ Cày vừa thơm vừa béo

    Gái Mõ Cày vừa khéo vừa ngoan

    Anh đây muốn hỏi thiệt nàng

    Là trai Thạnh Phú cưới nàng được chăng?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Công Tác Quản Lý Chỉ Đạo Lồng Ghép Đồng Dao, Ca Dao, Tục Ngữ Vào Chương Trình Giáo Dục Mầm Non
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Con Cái Nuôi Dạy Con Cái, Giáo Dục Con Người
  • Sưu Tầm Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Gia Đình, Tình Cảm Gia Đình
  • Tổng Hợp Thành Ngữ, Tục Ngữ, Ca Dao Theo Chủ Đề
  • 20 Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Tục Ngữ Hay Về Lòng Yêu Nước
  • Thăng Long Hà Nội Trong Ca Dao Ngạn Ngữ
  • Xuất Xứ Một Số Câu Ca Dao Ở Tiền Giang
  • Muôn Vàn Kiểu Đón Tết Của Giới Trẻ Việt
  • Ca Dao Tục Ngữ Thời Hiện Đại
  • Tiêu đề: 20 câu ca dao tục ngữ về địa phương

    Xin chào toàn thể cư dân lớp 712! Chắc các bạn cũng đã học qua bài Chương trình Địa Phương rồi nhỉ ? :-/ Và hôm nay, tớ xin đưa ra 20 câu ca dao tục ngữ về địa phương nhằm giúp các bạn tham khảo :

    1. Ai lên làng Quỷnh hái chè,

    Hái dăm ba lá xuống khe ta ngồi!

    2. Muốn ăn cơm trắng cá mè,

    Thì lên làng Quỷnh hái chè với anh.

    Muốn ăn cơm trắng cá rô,

    Thì lên làng Quỷnh quẩy bồ cho anh!

    3. Hà Nội ba mươi sáu phố phường

    Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh.

    Từ ngày ta phải lòng mình

    Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen.

    Làm quen chẳng được nên quen

    Làm bạn mất bạn ai đền công cho

    4. Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng

    5. Ai về Hà nội ngược nước Hồng Hà

    Buồm giong ba ngọn vui đà nên vui

    Đường về xứ Lạng mù xa..

    Có về Hà nội với ta thì về

    Trên trời có đám mây xanh,

    Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng,

    6. Ai đi trẩy hội chùa Hương

    Làm ơn gặp khách thập phương hỏi giùm

    Mớ rau sắng, quả mơ non

    Mơ chua sắng ngọt, biết còn thương chăng?

    7. Ngày xuân cái én xôn xao

    Con công cái bán ra vào chùa Hương.

    Chim đón lối, vượn đưa đường

    Nam mô đức Phật bốn phương chùa này.

    8. Ra đi anh nhớ Nghệ An,

    Nhớ Thanh Chương ngon nhút, nhớ Nam đàn thơm tương.

    9. “Yến sào Vinh Sơn

    Cửu khổng cửa Ròn

    Nam sâm Bố Trạch

    Cua gạch Quảng Khê

    Sò nghêu quán Hàn…

    Rượu dâu Thuận Lý…”

    10. Ước gì anh lấy được nàng,

    Để anh mua gạch Bát Tràng về xây.

    Xây dọc rồi lại xây ngang,

    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

    Đừng thủy thì tiện thuyền bè

    Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang

    11. Bắc Cạn có suối đãi vàng

    Có hồ Ba Bể có nàng áo xanh

    12. Bình Định có núi Vọng Phu

    Có đầm Thị Nại, có cù lao Xanh

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa

    13. Bóng đèn là bóng đèn hoa

    Ai về vùng Bưởi với ta thì về

    Vùng Bưởi có lịch có lề

    Có sông tắm mát cò nghề seo can

    14. Cát Chính có cây đa xanh

    Có đường cái lớn chạy quanh trong làng

    Cát Chính có giếng rìa làng

    Vừa trong vừa ngọt cả làng chắt chiu.

    15. Cổ Đô tốt đất cao nền

    Ai đi đến đó cũng quên ngày về

    16. Cổ Đô thực chốn giang hồ

    Ai đi đến đất Cổ Đô cũng nhìn

    Trên bờ gió thổi rung rinh

    Dưới sông sóng đánh rập rình thêm vui

    Thuyền bè lên ngược xuống xuôi

    Tiện đường buôn bán, tiện nơi đi về.

    17. Cổ Loa là đất Đế Kinh

    Trông ra lại thấy tòa thành Tiên xây.

    18. Ai về Bình Ðịnh mà coi

    Con gái Bình Ðịnh múa roi, đi quyền

    19. Đường vô xứ Huế quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

    Thương em anh cũng muốn vô

    Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang

    Xe hơi đã tới Đèo Ngang

    Ấy qua Hà Tĩnh, đường sang Quảng Bình

    20. Cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp,

    Em đi không kịp tội lắm anh ơi

    Cảm ơn các bạn đã tham khảo !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Thiếu Nhi (Phần 1)
  • Bô Sưu Tập Ca Dao Đồng Dao Cho Bé
  • Thổ Âm Thổ Ngữ Của Người Thanh Hóa
  • Sóc Trăng Bên Bờ Biển Lớn
  • Tìm Hiểu Đôi Câu Ca Dao, Tục Ngữ Trên Quê Biển Bình Thuận…
  • Những Câu Ca Dao,tục Ngữ Lưu Hành Ở Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Stt, Quotes & 75+ Câu Nói Về Gia Đình Buồn Tan Vỡ, Nghèo & Bất Hạnh
  • 300 Câu Stt Buồn, Tus Buồn Nhất Tháng 9 2022
  • Danh Ngôn Về Lòng Nhân Ái
  • 40 Lời Stt Chúc Sinh Nhật Em Trai Vui, Hài Hước, Bá Đạo, Ý Nghĩa
  • Lời Chúc Valentine Cho Vợ Hay Nhất Trong Ngày 14/2
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Chúc Mừng Năm Mới Ý Nghĩa Cho Người Yêu
  • Danh Ngôn Về Sự Tự Tin
  • Lời Chúc Tết Cho Người Công Giáo, Cha Sứ Canh Tý 2022 Hay Ý Nghĩa
  • Lời Chúc Giáo Viên Cuối Năm Học
  • # Những Câu Nói Hay Về Sự Im Lặng Giết Chết Tình Yêu Đôi Trẻ
  • Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè

    --- Bài mới hơn ---

  • 77 Bài Hát (Ca Dao) Ru Con, Ru Bé Ngủ Rất Hay
  • Người Tày Giáo Dục Con Cháu Qua Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Giáo Dục Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thay Đổi, Cố Gắng, Nỗ Lực, Quyết Tâm, Rèn Luyện Thân Thể
  • Top Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Rượu Bia
  • ai bít các câu ca dao tục ngữ có sử dụng nói quá hok nè

    1) Gánh cực mà đổ lên non

    Còng lưng mà chạy cực còn đuổi theo

    2) Bao giờ cây cải làm đình

    Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ra

    3) Đêm nằm lưng chẳng tới giường

    4) Con rận bằng con ba ba

    Đêm đêm nó ngáy cả nhà thất kinh

    5) Cỏ non xanh tận chân trời

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

    ( Nguyễn Du )

    6) Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn

    7) Tấc đất , tấc vàng

    *********Ca dao có sử dụng biện pháp nói quá :

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    *********Thành ngữ có sử dụng biên pháp tu từ nói quá:

    – Đen như cột nhà cháy

    – Gầy như que củi

    – Đi guốc trong bụng

    – Xoay trời chuyển đất

    – Khoẻ như voi

    – Chậm như rùa

    – Bầm gan tím ruột

    – Mặt xanh nanh vàng

    Thanks giùm tớ cái háh…..post nhìu mỏi tay wá ch0y luz

    1) Đêm thnág năm chưa nằm đã sáng

    Ngày tháng mười chưa cười đã tối.

    2) Cỏ non xanh tận chân trời

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

    (Nguyễn Du)

    3) Gánh cực mà đổ lên non

    Còng lưng mà chạy cực còn đuổi theo

    4) Bao giờ cây cải làm đình

    Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ra

    5) Đêm năm lưng chẳng tới giường

    6) Con rận bằng con ba ba

    Đêm đêm nó gáy cả nhà thất thanh

    ***Ngoài ra bạn có thể vào trang web

    – http://baigiang.**********

    -http://giâon.**********

    Để biết dc thêm trí thức

    THanks giùm mình cái háh…..post mõi cả tay rùi nềh

    Bài này hoàn chỉnh là thế này cơ mà:

    Lỗ mũi mười tám gánh lông

    Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho

    Đêm ngủ thì ngáy o..o

    choongf yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà

    Đi chợ thì hay ăn quà

    Chồng yêu chồn bảo về nhà đỡ cơm

    Tre^n đầu những rác cùng rơm

    Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao,tục Ngữ Về Quảng Nam
  • Những Câu Câu Tục Ngữ Và Thành Ngữ Việt Nam Hay Nhất
  • Cao Dao Quảng Ninh: Đậm Nét Trữ Tình Văn Hoá Dân Gian
  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh3 Miền.

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh 3 Miền
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tính Tự Lập
  • Các Bài Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa
  • 1001 Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Cảm Gia Đình
  • Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Gia Đình, Tình Cảm Gia Đình Hay Nhất Ý Nghĩa
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh3 Miền.

    Trầu Bà Điểm xẻ ra nửa lá

    Thuốc Gò Vấp hút đã một hơi

    Buồn tình gá nghĩa mà chơi

    Hay là anh quyết ở đời với em?

    Chị Hươu đi chợ Đồng Nai

    Bước qua Bến Nghé ngồi nhai thịt bò

    Đường Sài Gòn cong cong quẹo quẹo

    Gái Sài Gòn khó ghẹo lắm anh ơi

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ.

    Nhà Bè nước chảy chia hai

    Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về

    Biên Hòa có bưởi Thanh Trà

    Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh.

    Ai qua Phú Hội, Phước Thiền (Thành)

    Bâng khuâng nhớ mãi sầu riêng Long Thành

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cưỡi ngựa xuống mua

    Bến Tre:

    Bến tre dừa ngọt sông dài

    Nơi chợ Mõ Cày có kẹo nổi danh

    Kẹo Mõ Cày vừa thơm vừa béo

    Gái Mõ Cày vừa khéo vừa ngoan

    Anh đây muốn hỏi thiệt nàng

    Là trai Thạnh Phú cưới nàng được chăng?

    Gò Công giáp biển nổi tiếng mắm tôm chà

    Mắm tôm chua ai ai cũng chắc lưỡi hít hà

    Sài Gòn, chợ Mỹ ai mà không hay.

    Sông vàm Cỏ nước trong thấy đáy

    Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng

    Ai về Mỹ Thuận, Tiền Giang

    Có thương nhớ gã đánh đàn năm xưa?

    Muốn ăn bông súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    Thương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run.

    Hoa Sa Đéc

    Cần Thơ:

    Bến Ninh Kiều

    Cần Thơ gạo trắng nước trong

    Ai đi đến đó thời không muốn về

    Đất Cần Thơ nam thanh nữ tú

    Đất Rạch Giá vượn hú chim kêu

    Quản chi nắng sớm mưa chiều

    Lên voi xuống vịnh cũng trèo thăm em.

    Cần Thơ là tỉnh, Cao Lãnh là quê

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mãi lo buôn bán không về thăm em.

    Bạc Liêu:

    Sông nước Bạc Liêu

    Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

    Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu.

    Kiên Giang:

    Trai nào khôn bằng trai Long Mỹ

    Gái nào mủ mỉ bằng gái Hà Tiên.

    U Minh, Rạch Giá thị hóa Sơn Trường

    Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua.

    Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Đĩa lội lềnh như bánh canh.

    Rừng U Minh là nơi trú ngụ của nhiều loài thú rừng, chim muông.

    Rừng quốc gia U Minh Hạ

    Bắc Cạn có suối đãi vàng

    Có hồ Ba Bể có nàng áo xanh.

    Con cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    Nàng về nuôi cái cùng con

    Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng

    Ngày mùa Cao BằngBắc Giang:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng

    Ai về Hà Nội ngược nước Hồng Hà

    Bườm giong ba ngọn vui đà nên vui

    Đường về xứ Lạng mù xa…

    Có về Hà Nội với ta thì về

    Đường thủy thì tiện thuyền bè

    Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang

    Ai đi trẩy hội chùa Hương

    Làm ơn gặp khách thập phương hỏi giùm

    Mớ rau sắn, quả mơ non

    Mơ chua sắn ngọt, biết còn thương chăng?

    Đường phố Hà Nộ i

    Hà Nội ba mươi sáu phố phường

    Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh

    Từ ngày ta phải lòng mình

    Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen

    Làm quen chẳng được nên quen

    Làm bạn mất bạn ai đền công cho

    Chiều trên cánh đồng Bắc Ninh

    Trên trời có đám mây xanh

    Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng

    Ước gì anh lấy được nàng

    Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

    Xây dọc rồi lại xây ngang

    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

    Ai về nhớ vải Đinh Hòa

    Nhớ cau Hổ Bái, nhớ cà Đan Nê

    Nhớ dừa Quảng Hán, Lựu khê

    Nhớ cơm chợ Bản, thịt dê Quán Lào

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Cầu bắc qua sông Lam

    Nhớ Thanh Chương ngon nhútNhớ Nam Đàn thơm tương…

    Tiếng đồn cá mát sông Găng

    Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Cồn.

    Gạo nhiều, cá lắm, dễ bề làm ăn

    .

    Hoành Sơn Quan

    Đèo Ngang

    Quảng Bình:

    Phong Nha Kẻ Bàng

    Yến sào Vinh Sơn

    Cửu khổng cửa ròn

    Nam sâm Bố Trạch

    Cua gạch Quảng Khê

    Sò nghêu quán Hàn

    Rượu dâu Thuận Lý…

    Mẹ bồng con ra ngồi ái Tử

    Gái trông chồng đứng núi Vọng Phu

    Bao giờ nguyệt xế, trăng lu

    Nghe con chim kêu mùa hạ, biết mấy thu gặp chàng.

    Cổng thành Quảng Trị

    Ngọ Môn năm cửa chín lầu

    Cột cờ ba bậc, Phú Văn Lâu hai tầng.

    Đi mô cũng nhớ quê mình

    Nhớ Hương Giang gió mát, nhớ Ngự Bình trăng thanh.

    Sông Hương Núi Ngự

    Hạt sen Hồ Trịnh…

    Quảng Nam

    :

    Cù Lao Chàm

    Không bằng tô don Vạn Tường.

    Quảng Ngãi

    :

    Ai về Quảng Ngãi quê ta

    Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà dễ ăn

    Mạch nha, đường phổi, đường phèn

    Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền

    Đậu xanh

    Sơn Tịnh

    .

    Mạch nha Thi Phổ

    Nem chua chợ Huyện

    Công đâu công uổng công thừa

    Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi…

    Quảng Nam nổi tiếng bòn bon

    Chả viên Bình Định vừa ngon vừa lành

    Mùi thơm cơm nếp, vị thanh đường phèn…

    Bình Định có núi Vọng Phu

    Có đầm Thị Nại, có cù lao Xanh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa

    Núi Vọng Phu

    Phú Yên:

    Xoài đá trắng

    Sắn Phương lụa

    Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai

    Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường.

    Yến xào Hòn Nội

    Vịt lộn Ninh Hòa

    Tôm hùm Đinh Ba

    Nai khô Diên Khánh

    Cá tràu Võ cạnh

    Sò huyết Thủy Triều

    Phan Rí, Phan Thiết (Bình Thuận) :

    Cô kia bới tóc cánh tiên

    Ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi

    Chẳng tin giở thử ra coi

    Rau răm ở dưới cá mòi ở trên

    --- Bài cũ hơn ---

  • 15 Thành Ngữ Tiếng Anh Về Sức Khỏe Bạn Nên Biết
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Răng, Tóc, Các Bộ Phận Cơ Thể Người
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Cờ Bạc
  • Quan Niệm Về Miếng Ăn Qua Ca Dao, Tục Ngữ Vn
  • Cách Làm Ớt Ngâm Giấm Ngon
  • 317. Ca Dao, Tục Ngữ Và Lịch Sử Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Nét Đẹp Văn Hóa Từ Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Ở Phú Xuyên
  • Tìm Hiểu Về Tết Việt Nam Qua Ca Dao,tục Ngữ
  • Chùm Ca Dao Dân Ca Hay Và Đặc Sắc Nhất Về Nghi Lễ, Phong Tục Của Dân Tộc
  • Nét Duyên Thầm Của Ẩm Thực Việt Qua Kho Tàng Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ẩm Thực Món Gà Qua Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Ca dao, tục ngữ là tiếng nói của dân gian Việt, trải qua nhiều thời đại, từ thời xưa và đến cả thời nay. Ca dao, tục ngữ phản ảnh tâm tư, tình cảm của người dân trong sinh hoạt hằng ngày, không chỉ ở nơi đồng nội mà còn ở thành thị, kinh đô. Tuy là ngôn ngữ dân gian, nhưng ca dao, tục ngữ không phải là tiếng nói bình thường mà là ngôn ngữ có vần điệu, ngắn gọn và vì ngắn gọn, có vần điệu nên dễ phổ biến rộng rãi trong quần chúng.

    Từ trước, người ta thường có quan niệm rằng ca dao, tục ngữ là văn chương bình dân, phát xuất từ nông thôn, thật sự ca dao tục ngữ là tiếng nói của nhiều tầng lớp dân chúng, và có lẽ phần lớn tác giả là những kẻ sĩ, cư ngụ ở khắp nơi, từ thành thị đến nông thôn.

    Trường hợp này, ca dao, tục ngữ có thể xem là một hình thức ngôn luận của quần chúng ở thời đại xưa, khi xã hội chưa phát triển, chưa có điều kiện phổ biến dư luận của người dân như là báo chí hoặc các hình thức thông tin trong thời đại mới, mặc dù từ trước đã có thư tịch nhưng chỉ là để chuyển tải văn chương, sử liệu, mô phạm (thánh mô hiền phạm) v…v… Bài viết này chỉ đề cập đến phần ca dao, tục ngữ có liên hệ với các vấn đề lịch sử Việt Nam.

    Nho giáo từ Trung Quốc truyền sang đất Việt, qua giới nho sĩ, từ trước thường có quan niệm trọng nam khinh nữ (nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô). Nhưng đối với người dân Việt thì không có quan niệm kỳ thị đó, nhất là đối với hạng anh thư nữ kiệt.

    Muốn coi lên núi mà coi

    Coi bà quản tượng cỡi voi bành vàng

    Rõ ràng câu ca dao này đã ca ngợi công đức chống ngoại xâm của Triệu Nữ Vương (tức là Triệu Thị Trinh – mà sử Tàu miệt thị gọi là Triệu …u : Bà vú Triệu). Sau cuộc nổi dậy chống Tô Ðịnh của Hai Bà Trưng bị thất bại, Bà Triệu noi gương anh dũng đó đã phất cờ khởi nghĩa chống quân Ðông Ngô. Khi Bà đánh giặc, mặc áo giáp vàng cỡi voi xông vào quân địch như vào chỗ không người, xưng danh hiệu là Nhụy Kiều tướng quân. Sau một thời gian dài bị lệ thuộc Trung Hoa, Việt Nam giành được độc lập và Ngô Quyền thiết lập một vương triều tự chủ, sau hơn 10 thế kỷ chịu nhục của người dân dưới ách đô hộ. Nhưng cuối đời nhà Ngô, vì thế lực suy yếu, nên đã có 12 sứ quân nổi dậy, đánh lẫn nhau, làm cho dân tình khổ sở. Các sứ quân đó, trong hơn 20 năm, vẫn xưng hùng xưng bá, không ai chịu phục ai. Kết cuộc, họ phải khuất phục dưới tay Vạn Thắng Vương Ðinh Bộ Lĩnh, tức Ðinh Tiên Hoàng sáng lập ra vương triều nhà Ðinh. Phán xét sự tranh giành quyền lực của các sứ quân và cuộc chiến thắng của Ðinh Bộ Lĩnh, dân gian đã tóm gọn trong câu ca dao:

    Ở đời muôn sự của chung

    Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi

    Thật vậy, ở đời muôn sự của chung, nhưng của chung đó không phải là ai cũng có thể chiếm hữu dễ dàng. Phải có tài năng hay mưu lược quyền biến.

    Ngôi vua cuối cùng của nhà Lý thuộc về Lý Chiêu Hoàng, tức là Chiêu Thánh công chúa, con vua Lý Huệ Tôn, mới lên 7 tuổi. Quyền hành lúc đó ở trong tay Trần Thủ Ðộ. Và Thủ Ðộ đã làm chủ hôn cho cháu là Trần Cảnh lấy Chiêu Hoàng, để chuyển vương quyền qua nhà Trần. Quần chúng có lòng lưu luyến nhà Lý đã tỏ lòng công phẫn và mỉa mai trong câu ca truyền khẩu:

    Trống chùa ai đánh thì thùng

    Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng

    Dưới đời vua Trần Anh Tông, vì lý do chính trị, đã gả em gái là Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân để đổi lấy 2 châu Ô, Lý (tức Ðịa Lý và Bố Chính), sau đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu. Người Việt vẫn có tinh thần kỳ thị chủng tộc, cho người Chiêm là giống man di, lên tiếng phản đối việc làm này của triều đình nhà Trần

    Tiếc thay cây quế giữa rừng

    Ðể cho thằng Mán thằng Mường nó leo

    Quần chúng còn tiếc thương cho thân phận một vị công chúa, lá ngọc cành vàng, phải lấy chồng man rợ ở phương xa, qua ca khúc Nam Bình, vẫn lưu truyền ở cố đô Huế: “Nước non ngàn dặm ra đi”.

    Về sau, Chế Mân chết, vua Trần sai Trần Khắc Chung sang Chiêm tìm cách đưa Huyền Trân về nước để khỏi bị hỏa thiêu theo chồng (theo tục lệ Chiêm). Dư luận quần chúng có vẻ khắc nghiệt khi nghi ngờ về tình cảm của Trần Khắc Chung đối với công chúa Huyền Trân trên chặng đường thủy dài ngày đưa công chúa về nước. Người ta xót xa thân phận Huyền Trân, một lần nữa, qua tay Trần Khắc Chung.

    Tiếc thay hột gạo trắng ngần

    Ðem vò nước đục lại vần lửa rơm

    Nhưng đó chỉ là chuyện đồn đại trong dân gian, không có bằng chứng gì xác thực.

    Khi Lê Lợi dấy binh chống Minh, khởi đầu ở vùng Thanh Hóa, sau chiếm lĩnh Nghệ An để mở rộng khu vực chiến đấu, nhân dân đã phấn khởi ca ngợi vùng đất tự do ấy và cổ võ cuộc di dân vào vùng này:

    Ðường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

    Ai vô xứ Nghệ thì vô

    Các biến cố lịch sử ảnh hưởng rất lớn đến đời sống dân chúng, nhất là loạn lạc. Chiến tranh gây cảnh điêu tàn, chết chóc, nhà tan cửa nát. Nhân dân chỉ biết kêu trời, bày tỏ nỗi oán thán:

    Cái cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

    Em về nuôi cái cùng con

    Ðể anh đi trẩy nước non Cao Bằng

    Ấy là thảm cảnh của người dân phải thi hành nghĩa vụ tòng quân dưới thời Nam Bắc Triều, xảy ra cuộc chiến tranh Trịnh – Mạc. Cao Bằng là căn cứ địa trọng yếu của nhà Mạc. Người lính trong câu ca dao trên thuộc hàng ngũ quân Trịnh, được lệnh lên đường đánh quân Mạc, vỗ về vợ con trong buổi chia ly. Từ khi Trịnh Tùng diệt được nhà Mạc, dù với danh nghĩa phù Lê, nhưng tập trung mọi quyền hành vào tay mình rồi xưng Chúa, vua Lê chỉ còn giữ hư vị.

    Trong lúc họ Trịnh xưng chúa ở miền Bắc, thì Nguyễn Hoàng được Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hóa từ trước, gây dần thế lực, đến lúc vững mạnh cũng xưng chúa ở miền Nam. Rồi đôi bên gây nên cuộc Nam Bắc phân tranh, kéo dài đến non nửa thế kỷ. Họ đánh nhau liên miên, xây thành đắp lũy kiên cố, hiểm trở để phòng chống nhau, nên có câu tục ngữ:

    Hiểm nhất lũy Thầy

    Thứ nhì đồng lầy Võ Xá

    Lũy Thầy tức là lũy Trường Dục, do Ðào Duy Từ chỉ huy xây cất. Nhờ lũy này, quân Nguyễn mới chống cự được lâu dài với quân Trịnh, phải lặn lội đường xa, vất vả nên ở thế bất lợi trong việc tiến quân đánh Nguyễn. Cuộc nội chiến Nam Bắc giữa hai nhà Trịnh – Nguyễn kéo dài, nhưng hai phe cũng liên tục kế truyền nghiệp Chúa. Và cũng vì chiến tranh quá lâu dài nên sau cuộc ngưng chiến, với sông Gianh làm giới hạn hai miền Nam Bắc, họ Trịnh tổ chức một xã hội gần như thanh bình ở Bắc. Các vua chúa cũng như quần thần có mức sống xa xỉ, trụy lạc. Theo tập “Vũ Trung Tùy Bút” của Phạm Ðình Hổ, đời chúa Trịnh thứ 12 là Trịnh Sâm thường tổ chức nhiều cuộc vui chơi ở ly cung trên Tây Hồ, sai người xây cất luôn mãi. Mỗi lần vui chơi thì lại có binh lính hầu quanh hồ, các nội thần thì giả làm đàn bà và dân thì bày bán hàng hóa như ở chợ để vua quan mua sắm.

    Cũng dưới triều Trịnh Sâm, phế bỏ con cả là Trịnh Khải, lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử (con của sủng phi Ðặng Thị Huệ, thường gọi là Bà Chúa Chè), giao cho Huy Quận Công Hoàng Ðình Bảo làm phụ chính. Khi Trịnh Sâm mất, đảng Trịnh Khải mưu với quân tam phủ nổi loạn, giết Quận Huy và được tam quân (thường gọi là loạn kiêu binh – hạng lính được ưu đãi, tuyển mộ ở Thanh Nghệ = Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần) lập lên làm Chúa, tức là Ðoan Nam Vương. Khi Trịnh Sâm còn sống, ham vui thú ăn chơi, nên mọi quyền hành ở tay Quận Huy. Ông này tự do ra vào cung cấm và có mối liên hệ bất chính với Tuyên phi Ðặng Thị Huê Việc này không tránh khỏi búa rìu của dư luận quần chúng:

    Ba quân có mắt như mờ

    Ðể cho Huy Quận vào sờ chính cung

    Khi viết tập “Vũ Trung Tùy Bút”, về việc chúa Trịnh ham mê hưởng lạc, bày cảnh vui chơi làm khổ dân với nhiều sai dịch, Phạm Ðình Hổ đã cho là có sự bất tường. Cho nên hết đời Trịnh Sâm, các con ông là Trịnh Khải và Trịnh Cán vì tranh quyền đã gây rối loạn ở kinh thành. Trịnh Cán (con Tuyên phi Ðặng Thị Huệ) mới được lập lên, với sự hỗ trợ của Quận Huy, chưa được hai tháng, thì bị anh là Trịnh Khải trừ diệt. Và các chúa Trịnh từ đó về sau cũng vì lý do nữ họa mà mất nghiệp:

    Sự này chỉ tại Bà Chè

    Cho Chúa mất nước cho Nghè làng xiêu

    Về chuyện hai anh em họ Trịnh tương tàn, dân gian đã cố lời bàn tán:

    Ðục cùn thì giữ lấy tông

    Ðục long cán gãy còn mong nỗi gì

    “Tông” ám chỉ tước hiệu của Trịnh Cán (Tông Ðô Vương). “Ðục long cán gãy” là nghiệp chúa của Trịnh Cán không tồn tại bao lâu.

    Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ thứ 17 đến đầu thế kỷ thứ 19, suốt 200 năm là một chuỗi biến cố đẫm máu. Hết cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn, đến cuộc tương tranh Nguyễn – Tây Sơn. Từ lúc anh em Tây Sơn khởi nghĩa, chủ yếu là vua Quang Trung, lập nên một triều đại huy hoàng với nhiều võ công oanh liệt, nhưng khá ngắn ngủi:

    Ðầu cha lấy làm đuôi con

    Mười bốn năm tròn hết số thì thôi

    Tương truyền đây là một câu sấm ứng vào việc triều Tây Sơn mất nghiệp sau 14 năm. Ðầu chữ Quang (- Quang Trung) lấy làm đuôi chữ Cảnh ( – Cảnh Thịnh).

    Một câu ca dao khác, cũng cùng ý nghĩa:

    Cha nhỏ đầu con nhỏ chân

    Ðến năm Nhâm Tuất (1802) thì thân chẳng còn

    Chữ “tiểu” ở trên đầu chữ Quang, ở chân chữ Cảnh. Trong xã hội Việt Nam ngày trước, có hạng sĩ phu, ở lẫn trong dân chúng, thường nhận định về các hoạt động của giới cầm quyền đương thời và đề xuất những câu sấm để tuyên truyền cho một phe phái nào đó. Câu sấm được truyền trong dân gian bằng cách dạy cho trẻ con hát khi nô đùa ở các nơi công cộng. Chẳng hạn câu sấm sau đây, dưới hình thức ca dao, được truyền là của các cựu thần nhà Mạc tổ chức chống Trịnh làm ra để liên lạc với các đồng chí tìm đến cơ sở ở mạn Bắc:

    Ai lên Phố Cát Ðại Ðồng

    Hỏi thăm cô Tú có chồng hay chưa?

    Có chồng năm ngoái năm xưa

    Năm nay chồng bỏ như chưa có chồng

    Dù chiến tranh xảy ra giữa hai miền Nam Bắc hết sức khốc liệt, nhưng hai họ Trịnh Nguyễn vẫn thực hiện những công cuộc phúc lợi ở vùng họ cai trị.

    Ở Nam, các chúa Nguyễn nhiều đời trấn thủ, mưu cầu an cư lạc nghiệp cho dân chúng. Dưới đời chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu, đường đi qua vùng Hồ Xá – Quảng Trị (tức truông nhà Hồ) thường có bọn cướp ẩn núp, cướp bóc kẻ qua đường. Năm 1722, Chúa sai ông Nguyễn Khoa Ðăng, làm Nội Tán, đi đánh dẹp bọn cướp đó. Người dân ca tụng việc ấy, qua câu ca dao quen thuộc:

    Nhớ em anh cũng muốn vô

    Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang

    Phá Tam Giang ngày rày đã cạn

    Truông nhà Hồ, Nội Tán cấm nghiêm

    Phá Tam Giang ở huyện Quảng Ðiền, tỉnh Thừa Thiên, nơi có 3 sông lớn của Huế (sông Ô Lâu, sông Bồ,sông Hương) chảy về rồi đổ ra cửa biển Thuận An. Phá này nhiều sóng lớn, thuyền bè qua lại khó khăn, về sau cạn đi.

    Sau một thời gian dài, suốt 25 năm, đấu tranh gian khổ, Chúa Nguyễn Ánh đã có thế vững mạnh, tiến quân ra Trung để chiến thắng Tây Sơn. Nhân dân miền Nam vốn có cảm tình với nhà Nguyễn đã truyền câu hát:

    Lạy trời cho chóng gió nồm

    Ðể cho Chúa Nguyễn giong buồm thẳng ra

    Khi Chúa Nguyễn còn ở trong Nam, tổ chức cuộc Nam tiến vào đất Gia Ðịnh, khẩn hoang lập ấp. Dân chúng đồng lòng cổ võ:

    Nhà Bè nước chảy rẽ hai

    Ai về Gia Ðịnh Ðồng Nai thì về

    Vua Gia Long thống nhất sơn hà, lập nên triều Nguyễn, truyền được 13 đời vua. Kế tục sự nghiệp mở nước của Thế Tổ Gia Long, vua Minh Mạng đã có công dẹp các vụ nổi loạn ở Bắc và Nam, cũng như chống cự ngoại xâm (Xiêm), chiếm Chân Lạp, bảo hộ Ai Lao.

    Về nội trị, vua chấn chỉnh luật pháp, chế độ, làm thành một nước có kỷ cương, văn hiến. Trong việc bảo vệ phong tục, vua đã chạm đến tinh thần bảo thủ của người dân miền Bắc, tức là cấm đàn bà mặc váy:

    Tháng sáu có chiếu vua ra

    Cấm quần không đáy người ta hãi hùng

    Không đi thì chợ không đông

    Ði thì phải lột quần chồng sao đang?

    Dưới triều vua Tự Ðức, nhiều biến cố trọng đại đã xảy ra. Từ những vụ nổi loạn ở miền Bắc, chủ trương phù Lê, như giặc Châu Chấu (có Cao Bá Quát làm quốc sư), Cai Tổng Vàng ở Bắc Ninh, giặc Khách ở Cao Bằng. Ở triều đình, có người anh vua Tự Ðức là Hồng Bảo, âm mưu đoạt ngôi nhưng thất bại. Năm 1886, nhân dịp vua Tự Ðức cho xây Khiêm Lăng ở Vạn Niên (Huế), ba anh em họ Ðoàn (Ðoàn Trưng, Ðoàn Trực, Ðoàn Ái) khai thác nỗi oán hận của người dân phải đi làm phu gian lao vất vả, nổi dậy chống triều đình. Họ khích động dân bằng câu ca dao:

    Vạn niên là Vạn niên nào

    Thành xây xương lính, hào đào máu dân.

    Trong cuộc khởi nghĩa nầy, họ Ðoàn tôn Ðinh Ðạo (con của Hồng Bảo – cải họ Ðinh, sau khi Hồng Bảo bị tội, tự thắt cổ chết) làm minh chụ Vụ này cũng không thành công. Ngoài các vụ nổi loạn, triều vua Tự Ðức còn phải đối phó với cuộc xâm lăng của người Pháp.

    Tự Ðức là ông vua có tinh thần bảo thủ, từ khước đề nghị canh tân của các sĩ phu, nhất là Nguyễn Trường Tộ, nên vận nước có chiều suy vong. Vua Tự Ðức chỉ là một nho sĩ thuần túy, có tiếng hay chữ nhất triều Nguyễn, ưa thích thi văn, ngâm vịnh. Dưới triều vua, có ông Lê Ngô Cát là một danh sĩ, đã soạn một bộ sử bằng văn vần là “Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca”. Soạn xong, ông dâng lên vua Tự Ðức ngự lãm. Vua xem rồi ban thưởng cho ông Cát:

    Vua khen thằng Cát nó tài

    Ban một cái khố với hai đồng tiền

    Việc ban thưởng này, có lẽ do chuyện bàn tán giữa các đồng liêu với ông Cát ở triều đình, nhưng lại lọt ra ngoài, nên dân gian đã có lời phẩm bình mỉa mai trên, cho rằng vua Tự Ðức không quí trọng văn tài của người khác.

    Sau khi vua Tự Ðức mất, quyền hành ở triều đình Huế thuộc về hai ông Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. Hai ông này trong bốn tháng đã phế và lập 3 vua: Dục Ðức, Hiệp Hòa và Kiến Phúc. Cho nên thời đó, trong dân gian có câu, giữa lúc có sự tranh chấp giữa Pháp và Việt:

    Nhất giang lưỡng quốc nan phân THUYẾT

    Tứ nguyệt tam vương triệu bất TƯỜNG

    Nghĩa là: Một sông hai nước (Việt – Pháp) không thể thương thuyết, bốn tháng ba vua điềm chẳng lành. (cuối 2 câu có tên hai ông Thuyết và Tường).

    Thời gian triều đình Huế khởi xướng công cuộc chống Pháp với các đại thần và các tướng lãnh, dù có tâm huyết nhưng thiếu kinh nghiệm lãnh đạo chiến tranh, nên dân chúng đã có lời bình phẩm có phần khắc nghiệt:

    Nước Nam có bốn anh hùng

    Tường gian Viêm dối Khiêm khùng Thuyết ngu

    Tường là Nguyễn Văn Tường, trước sát cánh với Tôn Thất Thuyết chống Pháp, sau ra hàng. Viêm là Hoàng Kế Viêm, trước cũng chống Pháp, sau được vua Ðồng Khánh phục chức và sai đi dụ hàng vua Hàm Nghị Khiêm là Ông Ích Khiêm, một vị quan thời Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường chuyên quyền, vì tính khẳng khái, không luồn cúi cấp trên, làm phật ý hai ông Tường, Thuyết nên bị giam vào ngục. Dân gian nói ông Khiêm “khùng vì có tính khí khác thường, ngang bướng, không chịu khuất phục cường quyền. Và “Thuyết ngu”, ngụ ý cho rằng ông Thuyết là một kẻ “hữu dũng vô mưu”. Dù sao, dư luận quần chúng cũng chê hai kẻ gian dối và khen hai người trung can, nghĩa khí.

    Thời Pháp xâm lược nước ta, người dân không khỏi buồn lòng nhìn thế sự rối reng:

    Ðêm đêm chớp bể mưa nguồn

    Hỏi người quân tử có buồn chăng ai?

    Nhất là cảnh quốc phá gia vong với một triều đại suy tàn:

    Một nhà sinh đặng ba vua

    Vua còn (Ðồng Khánh) vua mất (Kiến Phúc) vua thua chạy dài (Hàm Nghi)

    Tuy thua chạy dài, nhưng vua Hàm Nghi với sự phù trợ của Tôn Thất Thuyết và các trung thần, nghĩa sĩ đã phát hịch kêu gọi nhân dân hưởng ứng chống Pháp, khởi xướng phong trào Cần Vương ở khắp nơị Tình trạng trong nước Việt lúc bấy giờ đã phân hóa làm hai:

    Gẫm xem thế sự thêm rầu

    Ở giữa Ðồng Khánh, hai đầu Hàm Nghi

    Ở giữa, tức là kinh đô Huế, hai đầu là Nghệ Tĩnh và Nam Ngãi, nơi phát triển phong trào Cần Vương.

    Tinh thần ái quốc của người Việt vẫn liên tục sôi nổị Dù công cuộc chống Pháp của vua Hàm Nghi bị thất bại, nhưng đến đời vua Thành Thái, âm mưu chống Pháp vẫn âm thầm trong trí vị vua đã từng giả điên giả cuồng để tránh mắt dò xét của người Pháp.Dân gian phát hiện một hành động của vị vua yêu nước này, mà người ta tưởng lầm là hành vi bất chính, khi vua vốn mang tiếng điên khùng:

    Kim Long có gái mỹ miều

    Trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi

    Tương truyền vua Thành Thái có tổ chức một đội nữ binh ở ngoại thành, một địa điểm bí mật ở vùng Kim Long và giao cho một vị tướng phụ trách huấn luyện để chờ dịp khởi nghĩa. Nhiều đêm vua xuất cung vi hành để đến xem xét kết quả của việc huấn luyện đó.

    Vua Duy Tân lên làm vua lúc mới 8 tuổi, nhưng lớn lên có chí khí và có lòng yêu nước mãnh liệt. Cũng như vua Thành Thái, vua Duy Tân có ý chống Pháp. Vua thường ra ngoài cung điện để xem xét dân tình và tìm cách liên lạc với các nhân sĩ. Ði dạo chơi trên bãi biển, tay vấy cát, người hầu lấy nước cho vua rửa. Vua nói: “Tay nhớp (bẩn) lấy nước rửa, thế nước nhớp lấy gì mà rửa?”.

    Phong trào Văn Thân bí mật liên lạc với vua để tìm phương cứu quốc. Năm 1915, đảng Việt Nam Quang Phục cử Trần Cao Vân và Thái Phiên hợp tác với vua mưu đồ khởi sư Họ hẹn gặp nhau trên bờ sông Ngự Hà, giả làm người đi câu để tránh tai mắt địch. Rồi mưu đồ phục quốc của vua Duy Tân cũng bị thất bại và vua phải đi đàỵ Người dân Huế thương tiếc vua cùng các nghĩa sĩ Trần Cao Vân và Thái Phiên đã hiến thân vì nước:

    Chiều chiều ông Ngự ra câu

    Cái ve cái chén cái bầu sau lưng

    Và trên dòng Hương Giang, nhiều năm sau, trên các chuyến đò dọc, người ta còn nghe mấy câu hò trầm thống, bi đát, đầy tâm sự của kẻ mang hoài bão cứu nước không thành:

    Trước bến Văn Lâu

    Ai ngồi ai câu

    Ai sầu ai thảm

    Ai thương ai cảm

    Ai nhớ ai mong

    Thuyền ai thấp thoáng bên sông

    Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non.

    °°°

    Như trên đã nói, ca dao là phản ảnh một phần nào dư luận của quần chúng Việt Nam đối với các hiện tượng trong xã hội ở thời kỳ các phương tiện truyền thông bằng văn tự chưa phát triển.

    Với người dân, các hành vi của giới cầm quyền, cũng như hành động của các nhân vật trong nước, đều phải chịu sự bình phẩm, phán xét của công luận. Những hành vi có đạo đức, thiện tâm được khen ngợi, ca tụng, trái lại xấu xa, đê tiện đều bị chê bai, nguyền rủa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Viết Báo Tường Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Nguồn Gốc Của Tục Ngữ Ca Dao
  • Nguồn Gốc Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Tuyển Chọn Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca Việt Nam
  • Thơ Ca Về Biển Đảo: Sẵn Sàng Khi Tổ Quốc Gọi Tên!
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh 3 Miền

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tính Tự Lập
  • Các Bài Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa
  • 1001 Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Cảm Gia Đình
  • Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Gia Đình, Tình Cảm Gia Đình Hay Nhất Ý Nghĩa
  • Suy Nghĩ Về Câu Tục Ngữ: Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh 3 Miền

    Miền Nam Sài Gòn:

    Trầu Bà Điểm xẻ ra nửa lá

    Thuốc Gò Vấp hút đã một hơi

    Buồn tình gá nghĩa mà chơi

    Hay là anh quyết ở đời với em?

    Chị Hươu đi chợ Đồng Nai

    Bước qua Bến Nghé ngồi nhai thịt bò

    Đường Sài Gòn cong cong quẹo quẹo

    Gái Sài Gòn khó ghẹo lắm anh ơi

    Sài Gòn về đêm

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ.

    Nhà Bè nước chảy chia hai

    Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về

    Biên Hòa có bưởi Thanh Trà

    Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh.

    Bình Dương:

    Cây trái Bình Dương

    Đồng Nai:

    Ai qua Phú Hội, Phước Thiền (Thành)

    Bâng khuâng nhớ mãi sầu riêng Long Thành

    Long An:

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cưỡi ngựa xuống mua

    Sông Vàm Cỏ

    Bến Tre:

    Bến tre dừa ngọt sông dài

    Nơi chợ Mõ Cày có kẹo nổi danh

    Kẹo Mõ Cày vừa thơm vừa béo

    Gái Mõ Cày vừa khéo vừa ngoan

    Anh đây muốn hỏi thiệt nàng

    Là trai Thạnh Phú cưới nàng được chăng?

    Tiền Giang:

    Gò Công giáp biển nổi tiếng mắm tôm chà

    Mắm tôm chua ai ai cũng chắc lưỡi hít hà

    Sài Gòn, chợ Mỹ ai mà không hay.

    Sông vàm Cỏ nước trong thấy đáy

    Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng

    Ai về Mỹ Thuận, Tiền Giang

    Có thương nhớ gã đánh đàn năm xưa?

    Đồng Tháp:

    Muốn ăn bông súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    Thương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run.

    Hoa Sa Đéc

    Cần Thơ:

    Bến Ninh Kiều

    Cần Thơ gạo trắng nước trong

    Ai đi đến đó thời không muốn về

    Đất Cần Thơ nam thanh nữ tú

    Đất Rạch Giá vượn hú chim kêu

    Quản chi nắng sớm mưa chiều

    Lên voi xuống vịnh cũng trèo thăm em.

    Cần Thơ là tỉnh, Cao Lãnh là quê

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mãi lo buôn bán không về thăm em.

    Bạc Liêu:

    Sông nước Bạc Liêu

    Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

    Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu.

    Kiên Giang:

    Trai nào khôn bằng trai Long Mỹ

    Gái nào mủ mỉ bằng gái Hà Tiên.

    U Minh, Rạch Giá thị hóa Sơn Trường

    Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua.

    Cà Mau:

    Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Đĩa lội lềnh như bánh canh.

    Rừng U Minh là nơi trú ngụ của nhiều loài thú rừng, chim muông.

    Rừng quốc gia U Minh Hạ

    Miền Bắc

    Lũng Cậu

    Bắc Cạn có suối đãi vàng

    Có hồ Ba Bể có nàng áo xanh.

    Hồ Ba Bể Cao Bằng:

    Con cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    Nàng về nuôi cái cùng con

    Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng

    Ngày mùa – Cao Bằng -Bắc Giang:

    Làng quê

    Hà Nội:

    Mùa đông Hà Nội

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng

    Ai về Hà Nội ngược nước Hồng Hà

    Bườm giong ba ngọn vui đà nên vui

    Đường về xứ Lạng mù xa…

    Có về Hà Nội với ta thì về

    Đường thủy thì tiện thuyền bè

    Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang

    Chùa Hương

    Ai đi trẩy hội chùa Hương

    Làm ơn gặp khách thập phương hỏi giùm

    Mớ rau sắn, quả mơ non

    Mơ chua sắn ngọt, biết còn thương chăng?

    Đường phố Hà Nội

    Hà Nội ba mươi sáu phố phường

    Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh

    Từ ngày ta phải lòng mình

    Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen

    Làm quen chẳng được nên quen

    Làm bạn mất bạn ai đền công cho

    Bắc Ninh:

    Chiều trên cánh đồng Bắc Ninh

    Trên trời có đám mây xanh

    Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng

    Ước gì anh lấy được nàng

    Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

    Xây dọc rồi lại xây ngang

    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

    Ai về nhớ vải Đinh Hòa

    Nhớ cau Hổ Bái, nhớ cà Đan Nê

    Nhớ dừa Quảng Hán, Lựu khê

    Nhớ cơm chợ Bản, thịt dê Quán Lào

    Nghệ An:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Cầu bắc qua sông Lam

    Ra đi anh nhớ Nghệ An

    Nhớ Thanh Chương ngon nhútNhớ Nam Đàn thơm tương…

    “Tiếng đồn cá mát sông Găng

    Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Cồn.

    Hà Tĩnh:

    Ai về Nhượng Bạn thì về

    Gạo nhiều, cá lắm, dễ bề làm ăn

    Hoành Sơn Quan

    Đèo Ngang

    Quảng Bình:

    Phong Nha – Kẻ Bàng

    ” Yến sào Vinh Sơn

    Cửu khổng cửa ròn

    Nam sâm Bố Trạch

    Cua gạch Quảng Khê

    Sò nghêu quán Hàn

    Rượu dâu Thuận Lý…”

    Quảng Trị:

    Mẹ bồng con ra ngồi ái Tử

    Gái trông chồng đứng núi Vọng Phu

    Bao giờ nguyệt xế, trăng lu

    Nghe con chim kêu mùa hạ, biết mấy thu gặp chàng.

    Cổng thành Quảng Trị

    Thừa Thiên – Huế:

    Ngọ Môn năm cửa chín lầu

    Cột cờ ba bậc, Phú Văn Lâu hai tầng.

    Đi mô cũng nhớ quê mình

    Nhớ Hương Giang gió mát, nhớ Ngự Bình trăng thanh

    Núi Ngự Bình

    Sông Hương – Núi Ngự

    “Quít giấy Hương Cần

    Cam đường Mỹ Lợi

    Vải trắng Cung Viên

    Nhãn lồng phụng tiêu

    Đào tiên Thế miếu

    Thanh trà Nguyệt biếu

    dâu da làng Truồi

    Hạt sen Hồ Trịnh…

    Quảng Nam

    Cù Lao Chàm

    Nem chả Hòa Vang

    Bánh tổ Hội An

    Khoai lang Trà Kiệu

    Rượu thơm Tam kỳ…

    Cô gái làng Son

    Không bằng tô don Vạn Tường.

    Quảng Ngãi

    Ai về Quảng Ngãi quê ta

    Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà dễ ăn

    Mạch nha, đường phổi, đường phèn

    Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền

    “Mứt gừng Đức Phổ

    Bánh nổ Nghĩa Hành

    Đậu xanh

    Sơn Tịnh”

    Mạch nha Thi Phổ

    Bánh nổ Thu Xà

    Muốn ăn chà là

    Lên núi Định Cương

    Bình Định:

    “Gỏi chính Châu Trúc

    Bánh tráng Tam quan

    Nón lá Gò Găng

    Nem chua chợ Huyện

    Công đâu công uổng công thừa

    Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi…

    Quảng Nam nổi tiếng bòn bon

    Chả viên Bình Định vừa ngon vừa lành

    Chín mùi da vẫn còn xanh

    Mùi thơm cơm nếp, vị thanh đường phèn…

    Bình Định có núi Vọng Phu

    Có đầm Thị Nại, có cù lao Xanh

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa

    Núi Vọng Phu

    Phú Yên:

    “Xoài đá trắng

    Sắn Phương lụa”

    Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai

    Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường.

    Khánh Hòa:

    Yến xào Hòn Nội

    Vịt lộn Ninh Hòa

    Tôm hùm Đinh Ba

    Nai khô Diên Khánh

    Cá tràu Võ cạnh

    Sò huyết Thủy Triều

    Phan Rí, Phan Thiết (Bình Thuận) :

    Cô kia bới tóc cánh tiên

    Ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi

    Chẳng tin giở thử ra coi

    Rau răm ở dưới cá mòi ở trên

    Đinh công Đức

    Phuơng Mai sưu tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh3 Miền.
  • 15 Thành Ngữ Tiếng Anh Về Sức Khỏe Bạn Nên Biết
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Răng, Tóc, Các Bộ Phận Cơ Thể Người
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Cờ Bạc
  • Quan Niệm Về Miếng Ăn Qua Ca Dao, Tục Ngữ Vn
  • Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Địa Danh

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hạnh Phúc, Bất Hạnh, Hiếu Thảo, Có Hiếu
  • 35 Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Quê Hương Đất Nước Bình Định Câu Hỏi 194294
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mưa Nắng Bão Lụt, Thời Tiết, Dự Báo Thời Tiết
  • Chứng Minh Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ngày đăng: 29/10/2013, 21:11

    1. Tổng hợp thơ về những địa danh quê hương Việt Nam Kiên Giang KIÊN trung mãnh đất anh hùng. GIANG cuồn cuồn chảy về nguồn quê hương. * “Hoả hồng Nhật Tảo oanh thiên địa Kiếm bạc KIÊN GIANG khắp quỹ thần.” *Hai câu thơ của nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt viết về người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Cần Giờ Quê tôi tên gọi Cần Giờ Trời xanh vời vợi xa mờ chân mây. Bốn bề nước mặn vơi đầy Mặn mà con sóng ngất ngây lòng người Quê tôi nhớ lắm ai ơi! Mờ xa khuất nữa bầu trời yêu thương Ra đi lòng vẫn vấn vương Từng bờ cát .từng con đường dấu yêu Hà Thành Ngày mùa thu, chiều sương mù Hơi heo may lạnh, sương thu giăng đầy. Ngập ngừng dạo gót quanh đây. Hà thành phố cũ vẫn đầy rêu phong. Quê mẹ ở phố Hàng Bông. Quê cha Hải Phòng, chẳng ngại đường xa. Bồi hồi về chốn quê nhà. Chợt hồn tỉnh giấc, ngỡ là chiêm bao Hai hàng phượng đỏ cao cao. Nhớ đến thuở nào cha kể tôi nghe. Bên đời giòng chảy u mê. Xuôi theo ghềnh thác ta về chốn xưa. Dù lòng quạnh quẽ chiều mưa. Vẳng nghe câu hát xa đưa chân tình Sài Gòn hoa nắng lung linh Nuôi tôi khôn lớn hành trình thóat thai Cuộc đời là những chuỗi dài Thương thương, nhớ nhớ, u hòai trăm năm Buôn Mê Thuột Biết mấy thuở Bạn mới tới Ban mê tôi Banmê tôi bốn mùa thơ bóng mây trời buông mái tóc Banmê tôi bao mến thương buồn muôn thuở bụi mù trời bạn mà tới bạn mới thấy banmê tôi bao món tuyệt bò mồng tơi búm mắm tôm bánh mỳ thịt bê mềm thui bạn mà tới bạn mới thích bụi mới thú buồn mới thơ Banmê tôi . “Thở vào, tâm tĩnh lặng Thở ra, miệng mỉm cười An trú trong hiện tại Giờ phút thật tuyệt vời” 1. Quê em, hàng dừa xanh, cát trắng. Làng quê nghèo đạm bạc đơn sơ Hoa Lê ki ma nở vài đóa hững hờ Chiều chiều ngắm hòang hôn trên biển vắng Ôi chiều biển cả một vùng xanh thẳm Gío ngút ngàn, nhớ tuổi trẻ dần trôi Nhưng quê hương vẫn còn mãi trong đời. Là rạng rỡ cánh hoa thơm: chị Sáu. Dân thôn dã, cần cù hai mùa mưa nắng. Biển ngọt ngào nhưng bàng bạc lòng ai Dù ra đi, nhưng lòng chẳng nhạt phai. Em còn vọng ngày xưa lòng biển cả 2. Đà Lạt Đêm Sương QUÁCH TẤN Bóng trăng lóng lánh mặt hồ im, Thời khắc theo nhau lải rải chìm. Đứng dựa non sao bờ suối ngọc, Hồn say dịu dịu, mộng êm êm. Một luồng sương bạc bỗng từ mô, Lẻn cuốn vầng trăng cuốn mặt hồ, Cuốn cả non sao bờ suối ngọc: Người lơ lửng đứng giữa hư vô. Trời đất tan ra thành thuỷ tinh, Một bàn tay ngọc đẫm hương trinh, Âm thầm mơn trớn bên đôi má, Hơi mát đê mê chạy khắp mình. “Đà Lạt Trăng Mờ” của Hàn Mặc Tử: Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu, Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ, Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt, Như đón từ xa một ý thơ. Ai hãy làm thinh, chớ nói nhiều! Để nghe dưới đáy nước hồ reo, Để nghe tơ liễu run trong gió, Và để xem trời giải nghĩa yêu. Hàng thông lấp loáng đứng trong im, Cành lá in như đã lặng chìm, Hư, thực làm sao phân biệt được? Sông Ngân Hà nổi giữa màn đêm. Cả trời say nhuộm một màu trăng, Và cả lòng tôi cũng nói rằng: Không một tiếng gì nghe động chạm, Dẫu là tiếng vỡ của sao băng! Đây là một bài thơ nổi tiếng trong làng Thiền, tương truyền là của Tô Đông Pha: 盧盧盧盧盧盧盧 盧盧盧盧盧盧盧 盧盧盧盧盧盧盧 盧盧盧盧盧盧盧 Lô Sơn yên tỏa Chiết Giang triều, Vị đáo sinh bình hận bất tiêu, Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự, Lô Sơn yên tỏa Chiết Giang triều. Mù toả Lô Sơn sóng Chiết Giang, Khi chưa đến đó hận muôn vàn, Đến rồi về lại không gì lạ, Mù toả Lô Sơn sóng Chiết Giang. Chợ Cái Răng xứ hào hoa Phố lầu hai dãy xinh đà quá xinh Có trường hát cất rộng thinh Để khi hứng cảnh thích tình xướng ca Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No Có thương em, anh mua cho một chiếc đò Để em lên xuống thăm dò ý anh! Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền Anh có thương em thì cho bạc cho tiền, đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê Ai về Hà Nội ngược nước Hồng Hà, Buồm dong ba ngọn vui đà nên vui, Đường về xứ Lạng mù xa, Có về Hà Nội với ta thì về. Đường thuỷ thì tiện thuyền bè, Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang. . 1. Tổng hợp thơ về những địa danh quê hương Việt Nam Kiên Giang KIÊN trung mãnh đất anh hùng. GIANG cuồn cuồn chảy về nguồn quê hương. * “Hoả. xóm giềng cười chê Ai về Hà Nội ngược nước Hồng Hà, Buồm dong ba ngọn vui đà nên vui, Đường về xứ Lạng mù xa, Có về Hà Nội với ta thì về. Đường thuỷ thì tiện

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mái Đình Làng Trong Văn Hóa Việt
  • Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Rượu
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa Việt Nam
  • Tục Ngữ, Ca Dao Địa Danh Ninh Bình (Lv Thạc Sĩ)
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nhất Về Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Tục Ngữ, Ca Dao Địa Danh Ninh Bình (Lv Thạc Sĩ)

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa Việt Nam
  • Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Rượu
  • Mái Đình Làng Trong Văn Hóa Việt
  • Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Địa Danh
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hạnh Phúc, Bất Hạnh, Hiếu Thảo, Có Hiếu
  • ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

    BÙI CÔNG ĐOẠT

    TỤC NGỮ, CA DAO ĐỊA DANH NINH BÌNH

    LUẬN VĂN THẠC SĨ

    NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

    Thái Nguyên – 2022

    ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

    BÙI CÔNG ĐOẠT

    TỤC NGỮ, CA DAO ĐỊA DANH NINH BÌNH

    Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

    Mã số: 8220121

    LUẬN VĂN THẠC SĨ

    NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

    Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Huế

    Thái Nguyên – 2022

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu

    trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều

    trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác.

    Thái Nguyên, tháng 4 năm 2022

    Tác giả luận văn

    Bùi Công Đoạt

    LỜI CẢM ƠN

    Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn

    Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học,

    Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực

    tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập.

    Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng

    dẫn PGS. TS. Nguyễn Thị Huế đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời

    gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

    Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp

    đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn.

    Thái Nguyên, tháng 4 năm 2022

    Tác giả luận văn

    Bùi Công Đoạt

    MỤC LỤC

    MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………………….. 1

    1. Tính cấp thiết của đề tài ………………………………………………………………….. 1

    2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu …………………………………………………………… 2

    3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu …………………………………………………….. 3

    4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu ………………………………………………. 4

    5. Phạm vi nghiên cứu …………………………………………………………………………. 5

    6. Cấu trúc của luận văn ………………………………………………………………………. 5

    7. Đóng góp của luận văn …………………………………………………………………….. 6

    NỘI DUNG……………………………………………………………………………………….. 7

    Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

    ĐẾN ĐỀ TÀI ……………………………………………………………………………………. 7

    1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, đời sống văn hóa,

    con người Ninh Bình …………………………………………………………………………… 7

    1.2. Đời sống văn hóa, con người Ninh Bình …………………………………………. 10

    1.3. Khái niệm Tục ngữ, Ca dao, Địa danh …………………………………………….. 15

    1.4. Văn học dân gian Ninh Bình và tục ngữ, ca dao Ninh Bình ……………….. 18

    1.5. Tục ngữ, ca dao Ninh Bình …………………………………………………………… 20

    Tiểu kết chương 1……………………………………………………………………………….. 23

    Chương 2: TỤC NGỮ, CA DAO ĐỊA DANH NINH BÌNH VỀ MẢNH

    ĐẤT CON NGƯỜI VÀ SẢN VẬT ……………………………………………………. 25

    2.1. Tục ngữ, ca dao địa danh về đất Ninh Bình …………………………………….. 25

    2.2. Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình về người Ninh Bình …………………. 31

    2.3. Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình giới thiệu sản vật, nghề nghiệp

    và phong tục. …………………………………………………………………………………….. 39

    2.4. Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình giới thiệu về phong tục, lễ hội …… 49

    Tiểu kết chương 2……………………………………………………………………………….. 53

    Chương 3: TỤC NGỮ CA DAO ĐỊA DANH NINH BÌNH VỀ KINH

    NGHIỆM SẢN XUẤT, QUAN HỆ XÃ HỘI……………………………………………. 55

    3.1.Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình về kinh nghiệm sản xuất ……………. 55

    3.2. Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình về các quan hệ xã hội ……………….. 61

    3.3. Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình thể hiện tinh thần lạc quan,

    Yêu đời …………………………………………………………………………………………….. 80

    Tiểu kết chương 3……………………………………………………………………………….. 82

    KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………………. 84

    TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………. 86

    PHỤ LỤC ………………………………………………………………………………………… 90

    MỞ ĐẦU

    1. Tính cấp thiết của đề tài (Lý do chọn đề tài)

    Có thể nói rằng Văn học dân gian là một phần không thể tách rời nền văn

    học dân tộc . Ra đời rất sớm (từ khi con người chưa có chữ viết) bộ phận văn học

    này đã góp phần nuôi dưỡng, vun đắp nền văn học Việt Nam. Trong dòng chảy

    của lịch sử, văn học dân gian Ninh Bình đặc biệt là tục ngữ, ca dao đã là những

    mạch nguồn trong mát nuôi dưỡng tâm hồn biết bao người con Ninh Bình để rồi

    “Ăn đâu, làm đâu” mọi người con Ninh Bình đều hướng về quê hương, nguồn cội

    với tấm lòng thành kính, tri ân và khát vọng cống hiến xây dựng quê hương Ninh

    Bình ngày càng văn minh, giầu đẹp.

    Tìm hiểu địa danh qua tục ngữ, ca dao Ninh Bình giúp chúng ta hiểu thêm

    về diện mạo và đặc trưng của Văn học dân gian Ninh Bình nói chung và tục ngữ,

    ca dao Ninh Bình nói riêng. Ninh Bình, mảnh đất ngàn năm văn hiến mà ở đó mỗi

    tên làng, tên xã, mỗi ngọn núi, dòng sông đều mang “bóng dáng ông cha”, mang

    “dáng hình xứ sở” được ghi lại qua những câu tục ngữ, ca dao để rồi trường tồn

    cùng quê hương, đất nước.

    Đến với Ninh Bình hôm nay, chúng ta cảm nhận về một vùng quê đang

    từng ngày thay đổi trong xu thế đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, có nhiều địa danh

    mới xuất hiện và không ít những địa danh cũ mất đi hoặc thay đổi tên gọi. Tìm

    hiểu những địa danh của Ninh Bình qua những câu tục ngữ, ca dao sẽ giúp chúng

    ta bảo tồn và lưu giữ những giá trị văn hóa vô cùng quí báu của cha ông, để từ đó

    chúng ta thêm tự hào và thấy được trách nhiệm của mình trong việc quảng bá, gìn

    giữ kho tàng tục ngữ, ca dao Ninh Bình cho thế hệ mai sau.

    Từ những mong muốn trên, tôi chọn đề tài luận văn của mình là: “Tục ngữ,

    ca dao địa danh Ninh Bình”. Hy vọng rằng công trình là sự hệ thống những câu

    tục ngữ, ca dao có nói tới những địa danh của tỉnh Ninh Bình với những tên gọi,

    sự tích đầy thú vị, gợi mở cho giáo viên và học sinh Ninh Bình trong quá trình

    tiếp nhận tục ngữ, ca dao địa phương (Ngữ văn lớp 7). Luận văn cũng là món quà

    nhỏ mà người viết tri ân quê hương Ninh Bình yêu dấu.

    2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

    2.1.Việc sưu tầm và giới thiệu tục ngữ, ca dao nói chung đã được tiến hành từ lâu

    (thế kỷ XVIII). Đó là công trình Nam phong giải trào của Trần Danh Án, Ngô

    Hạo Phu, Trần Doãn Giác, soạn vào năm 1788 – 1789 đến nửa thế kỷ XIX; Tục

    ngữ, cổ ngữ gia ngôn của Huỳnh Tịnh Của, xuất bản năm 1897; Việt Nam phong

    sử của Nguyễn Văn Mại, soạn năm 1914; Tục ngữ và cách ngôn của Hàn Thái

    Dương, 1920; An Nam tục ngữ của Vũ Như Lâm và Nguyễn Đa Gia, 1933; Phong

    giao, ca dao, phương ngôn, tục ngữ của Nguyễn Văn Chiểu, năm 1936; Ngạn ngữ

    phong dao của nguyễn Can Mộng, 1941; Đặc biệt là công trình Tục ngữ phong

    dao của Nguyễn Văn Ngọc (Nhà xuất bản Vĩnh Hưng Long), 1928, đã có tới 6

    500 câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao, được sưu tầm và giới thiệu. Tuy nhiên công

    trình này chưa có sự nghiên cứu chuyên sâu.

    Từ sau năm 1975 việc sưu tầm và giới thiệu tục ngữ, ca dao, dân ca đã có

    những thuận lợi hơn, thời kỳ này phải kể tới công trình của Vũ Ngọc Phan đó là

    cuốn Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, (Xuất bản lần đầu năm 1955 đến nay đã

    tái bản nhiều lần). Công trình là một tập hợp tương đối đầy đủ và hệ thống tục

    ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam ở cả ba miền đất nước. Ở ấn phẩm này tác giả đã

    sưu tầm và giới thiệu được một số câu ca dao Ninh Bình về những địa danh nổi

    tiếng như núi Phi Diên (núi Cánh Diều), cửa biển Thần Phù (nay thuộc xã Yên

    Lâm, Yên Mô)…

    Trong khoảng gần 30 năm trở lại đây các nhà nghiên cứu đã tập trung

    nghiên cứu tục ngữ, ca dao theo chuyên đề, đáng chú ý là các công trình nghiên

    cứu sau:

    – Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp của Nguyễn Thái Hòa, Nhà xuất

    bản Khoa học xã hội, năm 1997…

    – Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam của Phan Thị Đào, Nhà xuất bản

    Thuận Hóa, năm 1999

    – Tiếp cận ca dao bằng phương thức xâu chuỗi theo mô hình cấu trúc của

    Triều Nguyên, Nhà xuất bản Thuận Hóa, năm 2003

    – Thi pháp ca dao, do Nguyễn Xuân Kính chủ biên, Nhà xuất bản Đại học

    Quốc gia Hà Nội năm 2006

    2.2. Giới thiệu về tục ngữ, ca dao Ninh Bình cho đến nay còn có ở trong các công

    trình của Ninh Bình: Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình, do Trương Đình Tưởng

    chủ biên, Nhà xuất bản Thế giới, năm 2004;

    Địa chí Ninh Bình, do Tỉnh ủy Ninh Bình – Viện khoa học xã hội Việt

    Nam chịu trách nhiệm nội dung, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, năm 2010;

    Chùa Dầu di tích lịch sử văn hóa, do Thích Minh Đức, Lã Đăng Bật chủ

    biên, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc, năm 2008;

    Tục ngữ ca dao, dân ca Yên Mô, do Trần Đình Hồng chủ biên, Nhà xuất

    bản vãn hóa thông tin, nãm 2012. Bên cạnh ðó còn có các tác giả: Đặng Hữu Vân,

    Phạm Thị Ánh Nguyệt, biên tập phần tục ngữ, ca dao giảng dạy trong chương

    trình ngữ văn địa phương trong các trường THCS tỉnh Ninh Bình.

    Tất cả những công trình trên là những tài liệu quí báu, định hướng cho tôi có

    được cái nhìn sâu sắc về địa danh Ninh Bình qua những câu tục ngữ, ca dao. Tuy

    nhiên một số công trình nghiên cứu trên chỉ giới thiệu tục ngữ, ca dao Ninh Bình qua

    dư địa chí, hoặc nghiên cứu tục ngữ, ca dao Ninh Bình trong dòng chảy của văn học

    dân gian nói chung, hoặc nghiên cứu tục ngữ, ca dao của một huyện, một vùng, nên

    chưa có được cái nhìn thật khái quát, đầy đủ về tục ngữ, ca dao Ninh Bình đặc biệt

    là những câu tục ngữ, ca dao gắn với các địa danh trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Từ lý

    do đó tôi mạnh dạn chọn đề tài Tục ngữ, ca dao về địa danh Ninh Bình, nhằm nối

    dài những nghiên cứu về tục ngữ ca dao Ninh Bình đặc biệt là tìm hiểu những địa

    danh của tỉnh được nhắc tới trong tục ngữ, ca dao, những tên gọi, sự tích, ý nghĩa của

    mỗi địa danh đều có sức hấp dẫn riêng mà mỗi người con Ninh Bình nhất là thế hệ

    trẻ cần phải hiểu biết và gìn giữ.

    3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

    3.1. Đối tượng nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là tục ngữ, ca dao về địa danh

    Ninh Bình, trong đó tập trung làm rõ một số vấn đề sau:

    7. Đóng góp của luận văn

    – Luận văn lần đầu tiên là một tập hợp những câu tục ngữ, những bài ca dao

    về địa danh Ninh Bình.

    – Luận văn lần đầu tiên đi sâu tìm hiểu nội dung phản ánh, giá trị và ý nghĩa

    tên gọi của mỗi địa danh trong các câu tục ngữ, ca dao của Ninh Bình. Qua đó

    giúp chúng ta thấy được một phần diện mạo của văn hóa dân gian Ninh Bình, thấy

    được vẻ đẹp tiềm ẩn trong mỗi cảnh vật nơi đây, và đặc biệt là chúng ta cảm nhận

    được tâm hồn tình cảm của mỗi người con Ninh Bình đối với quê hương, đất nước.

    – Luận văn góp phần cung cấp tài liệu cho giáo viên và học sinh tỉnh Ninh

    Bình nói riêng và các địa phương khác nói chung trong các tiết Ngữ văn địa

    phương.

    NỘI DUNG

    Khí hậu: Ninh Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, chịu ảnh

    hưởng của khí hậu ven biển. Thời tiết trong năm chia làm hai mùa khá rõ: mùa

    khô từ tháng 11-12 năm trước đến tháng 4 năm sau; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng

    10. Lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1.860 – 1.950 mm nhưng phân bố

    không đều, tập trung 70% lượng mưa vào mùa hạ.

    Dân cư: Dân số Ninh Bình tính đến năm 2022 là 952 509 người, đại bộ phận

    dân cư Ninh Bình là dân tộc Kinh và có khoảng 20 000 người là đồng bào dân tộc ít

    người, chủ yếu là dân tộc Mường sinh sống ở một số xã miền núi huyện Nho Quan.

    Có hai tôn giao chính: phật giáo và công giáo. Phật giáo chiếm khoảng 5,18% và

    công giáo chiếm 16,3% dân số (chủ yếu ở huyện Kim Sơn)

    Ninh Bình là nơi những dấu tích của con người tồn tại từ hàng vạn năm trở

    về trước vẫn còn lưu lại; là cố đô Hoa Lư một thời sáng chói, như một minh chứng

    về một vùng đất cổ “địa linh, nhân kiệt”. Truyền thống, hiện đại luôn hoà quyện

    với nhau để làm nên một Ninh Bình giàu bản sắc văn hoá, giàu truyền thống yêu

    nước và cách mạng, là cội nguồn sức mạnh của người dân Ninh Bình trong kháng

    chiến chống giặc ngoại xâm cũng như trong thời kỳ hội nhập và phát triển cùng

    đất nước.

    Về tài nguyên thiên nhiên, đây là mảnh đất có rất nhiều tiềm năng và thế

    mạnh, cụ thể:

    Đất đai: Ninh Bình có tổng diện tích đất tự nhiên là 139.011 ha. Trong đó

    đất cho sản xuất nông nghiệp là 61.959 ha (chiếm 44,57%). Các loại đất phù sa

    được bồi và phù sa không được bồi tạo điều kiện cho nuôi trồng thuỷ sản và cây

    công nghiệp; đất phù sa cũ chua, nghèo…thích hợp cho thâm canh lúa, hoa màu;

    đất feranit thích hợp phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp, cây dược liệu.

    Sinh vật: Ninh Bình có thảm thực vật rừng phong phú, tập trung ở vườn

    Quốc gia Cúc Phương. Rừng Cúc Phương thuộc loại rừng mưa nhiệt đới điển hình

    với cấu trúc thảm thực vật nhiều tầng, phong phú về thành phần loài. Một số loài

    thực vật điển hình là Chò xanh, cây Lê, cây Chân chim…Động vật ở đây cũng

    rất phong phú. Hiện đã phát hiện 233 loài động vật có xương sống, nhiều loài

    chim và 24 bộ côn trùng trong số 30 bộ côn trùng thường gặp ở nước ta.

    Tài nguyên khoáng sản: Ninh Bình có nhiều loại khoáng sản nhưng đáng

    kể nhất là đá vôi với diện tích 1,2 vạn ha, trữ lượng hàng chục tỷ mét khối và hàng

    chục triệu tấn đôlômit, chất lượng tốt. Đây là nguồn nguyên liệu lớn cho sản xuất

    vật liệu xây dựng. Ngoài ra, đất sét phân bố rải rác ở các vùng đồi núi thấp dùng

    để sản xuất gạch ngói và là nguyên liệu cho ngành đúc. Than bùn có trữ lượng

    2triệu tấn/năm dùng để sản xuất phân vi sinh. Nước suối Kênh Gà, Nước khoáng

    Cúc Phương cũng là những nguồn lợi lớn trong việc chữa bệnh và phát triển du

    lịch…

    1.2. Đời sống văn hóa, con người Ninh Bình

    1.2.1. Ninh Bình – nơi in đậm dấu ấn văn hoá của cư dân Việt cổ

    Dấu vết khảo cổ học: Ninh Bình là vùng đất có con người cư trú từ rất sớm.

    Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trầm tích có xương răng đười ươi và các động

    vật trên cạn ở Núi Ba (Tam Điệp) thuộc sơ kỳ đồ đá cũ, cách ta khoảng ba mươi

    vạn năm; ở Thung Lang (Tam Điệp) có niên đại cách ta khoảng ba mươi nghìn

    năm; động ngưòi xưa (Cúc Phương) có di chỉ cư trú của con người thời văn hoá

    Hoà Bình cách ta khoảng 7.580 + 100 năm. Di chỉ của con người văn hoá Hoà

    Bình còn tìm thấy ở một số hang động ở Tam Điệp, Nho Quan. Sau thời kỳ văn

    hoá Hoà Bình, các nhà khảo cổ cho rằng, vùng đồng bằng ven biển Thanh Hoá,

    Ninh Bình là nơi định cư của con ngưòi thời đại đồ đá mới Việt Nam. Di chỉ Đồng

    Vườn (Yên Thành, Yên Mô) đã được định niên đại muộn hơn di chỉ Gò Trũng (di

    chỉ Gò Trũng có niên đại C14: 4700 + 50 năm cách ngày nay). Cư dân cổ di chỉ

    Đồng Vườn đã phát triển lên cư dân cổ di chỉ Mán Bạc (Yên Thành, Yên Mô) ở

    giai đoạn văn hoá đồ đồng từ cuối Phùng Nguyên đến đầu Đồng Đậu, cách đây

    3.300 – 3700 năm.

    1.2.2. Ninh Bình – ” văn hoá mới” của cư dân ven biển

    Ninh Bình là một trong những tỉnh điển hình về sự mở rộng không gian

    văn hoá Việt xuống biển Đông. Trong quá trình kiến tạo địa chất, biển lùi dần tạo

    ra đồng bằng vùng hạ lưu sông Đáy. Con người tiến dần ra chiếm lĩnh vùng đồng

    bằng ven biển và tạo ra những trung tâm văn hóa như Hoa Lư, sau là kinh đô của

    cả nước trong 42 năm (968-1010). Vùng ven sông Vân sau là trung tâm của đạo,

    trấn, rồi tỉnh Ninh Bình. Dấu ấn về biển còn in đậm trên đất Ninh Bình. Những

    địa danh: cửa biển Phúc Thành (thành phố Ninh Bình), cửa biển Đại An (nay là

    ngã ba Độc Bộ), nơi tiếp giáp giữa yên Khánh và Nghĩa Hưng (Nam Định), cửa

    biển Con Mèo (Yên Thành, Yên Mô), cửa Biển Thần Phù (Yên Lâm, Yên Mô)

    làm cho chúng ta có cảm tưởng một thời biển còn ở đâu đây. Cùng với các địa

    danh về các cửa biển là các con đê lịch sử như đê Hồng Đức (1471), đê Hồng Lĩnh

    (1773) do Nguyễn Nghiễm – thân phụ Nguyễn Du đắp, đê Đường Quan(1830), đê

    Hồng Ân (1899), đê Hoàng Trực (1927), đê Văn Hải (1933-1934), đê Bình Minh

    I (1959-1960), đê Bình Minh II (1981). Cho đến nay, Ninh Bình vẫn tiến ra biển

    mỗi năm gần 100m. Như vậy, từ ngàn xưa, ngưòi dân Ninh Bình đã hướng ra

    biển, khát vọng chinh phục biển, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hoá

    từ Bắc vào Nam, từ biển vào. Kinh tế biển còn in đậm các di chỉ văn hoá thời kỳ

    đồ đồng. Cho đến nay, kinh tế biển còn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế

    của tỉnh. Khai thác kinh tế biển như nghề đánh bắt cá biển, nuôi tôm sú, tôm rảo,

    nuôi cua…vẫn là hướng phát triển quan trọng. Cùng với phát triển kinh tế tỉnh

    Ninh Bình cũng rất chú trọng đến công tác đảm bảo an ninh quốc phòng cũng như

    môi trường sinh thái biển để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của nền kinh tế

    quan trọng này.

    1.2 3. Hệ thống di tích văn hoá, lịch sử và những danh lam thắng cảnh nổi tiếng

    của Ninh Bình

    Trước khi đi sâu tìm hiểu giới thiệu về tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình

    chúng tôi muốn giới thiệu về hệ thống di tích lịch sử văn hóa những danh lam

    thắng cảnh nổi tiếng của Ninh Bình để độc giả hình dung ra một Ninh Bình “Địa

    linh nhân kiệt”.

    Ninh Bình cùng với Hạ Long là 2 đỉnh cạnh đáy của tam giác châu thổ sông

    Hồng với địa hình Karst được các biến đổi địa chất theo thời gian và phù sa bồi

    đắp tạo cho Ninh Bình một “Hạ Long trên cạn” với vô số các hang động, đầm hồ

    ngập nước có giá trị phát triển du lịch. Ninh Bình, vùng đất “địa linh” là nơi chứa

    những vật báu của trời”(Nguyễn Tử Mẫn), nơi hội tụ đầy đủ các yếu tố của một

    Việt Nam thu nhỏ: có rừng, núi, sông, với các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc

    gia, khu dự trữ sinh quyển thế giới, khu du lịch quốc gia…

    Nói đến Ninh Bình là nói đến một mảnh đất có mật độ dày đặc các di tích

    văn hoá – lịch sử. Theo thống kê, Ninh Bình có 795 di tích lịch sử, văn hoá với

    225 ngôi chùa, 242 đình làng…Ngoài ra còn có 280 nhà thờ, trong đó có 73 nhà

    thờ giáo xứ, 207 nhà thờ họ.

    1.2.3.1. Những di tích lịch sử, văn hoá

    Ninh Bình có khu di tích lịch sử văn hoá cố đô Hoa Lư được công nhận là

    di tích đặc biệt quan trọng cấp quốc gia, với 47 di tích trong đó nổi bật là: Đền

    thờ vua Đinh Tiên Hoàng, lăng mộ vua Đinh; đền thờ và lăng mộ vua Lê Đại

    Hành; nhà bia tưởng niệm vua Lý Thái Tổ; đền thờ công chúa Phất Kim; miếu

    thờ công chúa Phù Dung; đền Trần Quý Minh; phủ Khổng; phủ Đột; động Hoa

    Sơn; động Hoa Lư; núi Mã Tiên; bia Cầu Dền; sông Sào Khê; đền Vực Vông…

    Khu văn hoá tâm linh núi chùa Bái Đính với chùa Bái Đính cổ (có đền thánh

    Nguyễn Minh Không, các hang động thờ Mẫu, thờ Phật, thờ thần Núi…) và khu

    chùa Bái Đính mới với 5 toà lớn dọc theo sườn núi. Bảo tháp với chiều cao 100

    m, 13 tầng, có thang máy và 72 bậc leo, là nơi trưng bày xá lợi Phật từ Ấn Độ

    cũng là một điểm nhấn của khu du lịch tâm linh này.

    Quần thể nhà thờ Phát Diệm là kỳ quan Thiên chúa giáo, một công trình

    kiến trúc có một không hai ở Việt Nam. Các công trình kiến trúc nguy nga, tráng

    lệ nhưng hài hoà giữa truyền thống và hiện đại bao gồm: Ao hồ, Phương Đình,

    nhà thờ lớn và 4 nhà thờ ở 2 bên, 3 hang đá nhân tạo. Nhà thờ đá Phát Diệm được

    thiết kế độc đáo, thể hiện sự giao hòa giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo, cũng là

    nét kết hợp văn hóa Đông – Tây đậm nét nhất.

    Các di tích văn hoá khác như phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn; đồn Gián

    Khẩu; các đền thờ: Trương Hán Siêu, Nguyễn Công Trứ, Triệu Quang Phục, Lý

    Quốc Sư, đền Thái Vi, cửa Thần Phù, Cố Viên Lầu…

    Các di tích tâm linh Nho giáo: Chùa Bích Động, chùa Nhất Trụ, chùa Đồng

    Đắc, chùa Địch Lộng, chùa Bàn Long, chùa Bái Đính, chùa Non Nước…

    Các di tích lịch sử, cách mạng: Khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu, núi Non

    Nước, di tích chiến dịch Hà Nam Ninh…

    1.2.3.2. Những danh lam thắng cảnh nổi tiếng

    Khu du lịch vườn Quốc gia Cúc Phương với các loại hình: sinh thái, môi

    trường, nghiên cứu khoa học, đa dạng sinh học, khảo cổ học, đêm lửa trại và tìm

    hiểu văn hoá Mường…

    Khu du lịch Tam Cốc- Bích động với nhiều tuyến du thuyền trên sông với

    các điểm hang động, di tích lịch sử.

    Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long với các loại hình du lịch trên đầm sinh

    thái cảnh quan ngập nước.

    Khu dự trữ sinh quyển đồng bằng sông Hồng với du lịch sinh thái đồng quê

    và cảnh quan ven biển.

    Các ngọn núi và các hang động đẹp như: núi Ngọc Mỹ Nhân, núi Non Nước

    (núi Thuý), núi Kỳ Lân, động Địch Lộng, động Vân Trình, động Mã Tiên, động

    Bích Động, động Tam Giao, động Thiên Tôn, động Tiên, động Sinh Dược là

    những điểm hấp dẫn khách du lịch với thời gian tham quan ngắn.

    Các hồ nước tự nhiên: Hồ Kỳ Lân, hồ Đồng Chương, Hồ Yên Quang phù

    hợp với loại hình du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần; hồ Yên Thắng, hồ Đồng thái còn

    có thêm loại hình du lịch thể thao.

    Các di tích lịch sử- văn hoá và những danh lam thắng cảnh nổi tiếng trên

    chính là món quà của thiên nhiên ban tặng cho mảnh đất này. Các di tích văn hóa

    hữu thể và phi vật thể ấy đã làm nên nét đặc sắc văn hoá Ninh Bình.

    Ninh Bình còn là vùng đất có vị trí chiến lược trong suốt hàng ngàn năm

    dựng nước, giữ nước của dân tộc. Các cuộc hành quân thần tốc vào Nam hay ra

    Bắc vẫn âm vang trên mặt đất này. Đây còn là vùng đất rút lui chiến lược để vào

    Thanh Hoá của tướng Đô Dương (thời Hai Bà Trưng). Đất phát tích của Đinh Bộ

    Lĩnh, là kinh đô của cả nước trong suốt 42 năm. Đất Ninh Bình ken dày vết chân

    lịch sử. Kinh đô Hoa Lư với ngót nửa thế kỷ của hai vương triều Đinh – Lê dựng

    nền độc lập chính thống. Nơi hoạch định kế sách và phát xuất các đạo hùng binh

    năm 981 – 982 phá Tống, bình Chiêm. Lê Đại Hành đã kiến tạo võ công oanh liệt

    trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Hoa Lư cũng là nơi khai sinh

    ra vương triều Lý với áng văn “Chiếu dời đô” lịch sử.

    Một yếu tố khác vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện

    mạo đa dạng, phong phú của văn hoá Ninh Bình, đó là sự lưu lại dấu vết văn hoá

    của các “tao nhân mặc khách” khi qua vùng sơn thanh, thuỷ tú này. Bao đế vương,

    công hầu, khanh tướng danh nhân văn hoá lớn về đây, xếp gương, đề bút, sông

    núi hoá thành thi ca! Chỉ nói riêng núi Thuý đã có trên 30 bài thơ, văn khắc vào

    và còn đến hàng trăm bài thơ vịnh cảnh của các danh nhân qua các triều đại: Trần

    Anh Tông, Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông,

    Phạm Huy ích, Ngô Thì Nhậm, Ninh Tốn, Cao Bá Quát, Nguyễn khuyến, Phạm

    Văn Nghị…Nhân cách bác học và phẩm cách văn hoá lớn của các danh nhân đó

    đã thấm đẫm vào tầng văn hoá địa phương, được nhân dân tiếp thu, sáng tạo làm

    giàu thêm sắc thái văn hoá Ninh Bình.

    Đất Ninh Bình không chỉ là “địa linh” mà còn là nơi “nhân kiệt”. Biết bao

    danh nhân, danh tướng, danh sỹ sinh ra trên mảnh đất này! Khí thiêng sông núi

    quê hương đã hun đúc nên họ. Thời nào Ninh Bình cũng có những nhân tài như:

    anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh, các danh tướng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh

    Tú, Lưu Cơ, hoàng hậu Dương Vân Nga, Quốc sư Nguyễn Minh Không, nhà thơ

    Trương Hán Siêu, bảng nhãn Vũ Duy Thanh, tiến sĩ Ninh Tốn, nhà văn hóa Vũ

    Phạm Khải, Phạm Thận Duật…Có thể nói, yếu tố “địa linh”,”nhân kiệt”là nhân

    tố quan trọng và chủ yếu nhất làm nên gương mặt lịch sử – văn hoá Ninh Bình

    qua các thời đại.

    1.3. Khái niệm Tục ngữ, Ca dao, Địa danh

    1.3.1. Khái niệm về tục ngữ

    Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian hình thành, phát triển và tồn tại

    trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân.

    Về nội dung: Tục ngữ thường phản ánh những kinh nghiệm về lao động

    sản xuất, ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội, hoặc thể hiện triết lý dân gian

    của nhân dân. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản

    xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác, theo nhà văn hóa

    Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” (Xuất bản lần đầu

    năm 1955 đến nay đã tái bản nhiều lần) thì ” Tục ngữ là một câu tự nó đã diến đạt

    trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi

    nó là một sự phê phán”. Như vậy có thể thấy tục ngữ là

    những câu hoàn chỉnh, có vần, dễ nhớ, dễ thuộc, đặc điểm này giúp chúng ta dễ

    dàng phân biệt tục ngữ với thành ngữ. Bởi cũng theo tác giả Vũ Ngọc Phan trong

    cuốn “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” “Về hình thức ngữ pháp mỗi thành ngữ

    chỉ là một nhóm từ, chưa phải một câu hoàn chỉnh” “[03; 37; 08TLTK]. Từ những

    đặc điểm trên chúng ta có thể thấy tục ngữ là một thể loại văn học dân gian rất dễ

    nhớ, dễ vận dụng, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân,

    Giữa hình thức và nội dung tục ngữ cũng có sự gắn bó chặt chẽ, một câu

    tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc

    kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Hình

    tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so

    sánh, nhân hóa, ẩn dụ…

    Đa số tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt

    nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ

    ca… Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục

    ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán,

    nhưng cũng có thể có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán. Các kiểu suy luận:

    liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ

    phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả.

    1.3.2. Khái niệm ca dao

    Nếu như tục ngữ là một thể loại văn học dân gian ra đời trước ca dao, thiên

    về tổng kết những kinh nghiệm về tự nhiên, xã hội thì ca dao lại thiên về đời sống

    tình cảm của con người. Như vậy có thể thấy ca dao ra đời khi đời sống xã hội

    của con người đã phức tạp hơn. Không chỉ biểu hiện đời sống vật chất, đời sống

    tình cảm ca dao còn thể hiện ý thức của con người trong lao động sản xuất, cải tạo

    thiên nhiên, kinh tế xã hội và tinh thần đấu tranh chống lại áp bức, cường quyền,

    những thói hư tật xấu trong xã hội…Về cơ bản ca dao thể hiện mối quan hệ giữa

    con người với con người trong xã hội, mối quan hệ giữa con người với tự

    nhiên…nên ca dao bao giờ cũng thể hiện cái nhìn chủ quan của con người với thế

    giới khách quan, đó là cái tôi trữ tình mà chúng ta rất dễ nhận ra qua những sáng

    tác dân gian này.

    Là thể loại văn học dân gian tồn tại bằng phương thức truyền miệng ca dao

    đã được nhiều thế hệ lưu truyền với những dị bản khác nhau. Tuy nhiên ca dao

    vẫn giữ được nét mộc mạc, giản dị trong cách thể hiện. Chúng ta có thể bắt gặp

    Quán cháo -Tam Điệp (đền Quán Cháo gắn liền với sự tích tiên nữ dâng cháo cho

    quân lính Tây Sơn trước giờ xung trận), Cầu Lim- cầu bắc qua sông Vân ở trung

    tâm thành phố Ninh Bình (chuyện kể khi xưa cầu được bắc bằng gỗ lim, tên gọi

    này còn mãi đến nay)…

    1.4. Văn học dân gian Ninh Bình và tục ngữ, ca dao Ninh Bình

    1.4.1. Khái quát về văn học dân gian Ninh Bình

    1.4.1.1. Thể loại tự sự

    Thần thoại

    Thần thoại Ninh Bình tập hợp những chuyện kể dân gian về các vị thần,

    các nhân vật anh hùng, các nhân vật sáng tạo văn hóa, sư tổ của nghề; phản ánh

    quan niệm của người thời cổ về nguồn gốc thế giới và đời sống con người…

    Thần thoại Ninh Bình bị truyền thuyết hóa, biến tướng trong phật thoại, tiên

    thoại, truyện cố tích…

    Thần thoại tiêu biểu và phổ biến nhất ở Ninh Bình là thần thoại về ông

    Khổng Lồ (Nguyễn Minh Không 1066 – 1141)

    Truyền thuyết

    Truyền thuyết Ninh Bình kể lại tích các nhân vật lịch sử, giải thích các

    nguồn gốc, các phong vật địa phương theo quan niệm, tưởng tượng của người dân.

    Truyền thuyết dân gian Ninh Bình mang dấu ấn về vùng đất và con người

    Ninh Bình.

    Truyện truyền thuyết Ninh Bình ghi đậm công tích của người Ninh Bình

    trong việc khai khẩn đất hoang, lập làng, lập ấp… và đặc biệt là truyền thuyết về

    các vị vua.

    Cổ tích

    Truyện cổ tích Ninh Bình phản ánh những xung đột, mâu thuẫn trong gia

    đình và xã hội.

    Truyện cổ tích Ninh Bình thể hiện ước mơ về một cuộc sống ấm no, hạnh

    phúc của nhân dân.

    Truyện cổ tích Ninh Bình phản ánh triết lý sống, đạo lý làm người và ước

    mơ công lý của nhân dân.

    Truyện cười

    Truyện cười Ninh Bình là hình thức giải trí, đem lại tiếng cười vui trong

    cuộc sống thường ngày.

    Phê phán những thói hư, tật xấu của con người, lên án các ác, đả kích giai

    cấp thống trị trong xã hội phong kiến.

    Truyện thơ

    Truyện thơ Ninh Bình mang tính tự sự kể về một sự kiện, một hiện tượng

    xã hội như Ký sự nhật trình, Kim Sơn sự tích Doanh điền ca…

    Truyện thơ viết về đề tài lịch sử, danh nhân văn hóa, nhân vật lịch sử:

    Truyện Đinh Tiên Hoàng diễn ca, Thánh Nguyễn…

    1.4.1.2. Thể loại trữ tình và luận lý

    Ca dao, dân ca: Ca dao, dân ca Ninh Bình giản dị, chất phác như đất và

    người Ninh Bình, phản ánh đời sống, tình cảm, tâm hồn của người dân Ninh Bình.

    Tục ngữ: có tính chất đúc kết kinh nghiệm về con người, về lao động sản

    xuất, đấu tranh xã hội, thiên nhiên, về những sản vật của địa phương Ninh Bình.

    1.4.1.3. Khái quát về đặc trưng, đặc điểm của văn học dân gian Ninh Bình

    Là một bộ phận không thể tách rời của văn học dân tộc, văn học dân gian

    Ninh Bình cũng có đầy đủ những đặc điểm chung của văn học dân gian. Tuy nhiên

    được ra đời và phát triển gắn liền với những sinh hoạt văn hóa làng xã của cư dân

    nông nghiệp với đa dạng địa hình nên văn học dân gian Ninh Bình cũng mang

    màu sắc địa phương khá rõ nét đó là:

    * Tính đa dân tộc của văn học dân gian Ninh Bình

    Ninh Bình có hai dân tộc chính là người Kinh và người Mường. Tộc người

    Mường sinh sống chủ yếu ở một số xã vùng núi huyện Nho Quan như: Thạch

    Bình, Xích Thổ, Yên Quang, Văn Phương, Phú Long, Kỳ Phú, Cúc Phương,

    Quảng Lạc…Tộc người Kinh chiếm đa phần, phân bố ở các huyện, thành phố còn

    lại trong tỉnh. Chính vì vậy văn học của người Kinh chiếm số lượng lớn với nhiều

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nhất Về Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Hè, Mùa Xuân, Mùa Thu, Mùa Đông
  • Đặc Sản Miền Trung Qua Ca Dao
  • Cách Nói Của Người Miền Tây Nam Bộ Qua Ca Dao Trần Minh Thương
  • Ca Dao Tục Ngữ Qua 2 Miền Nam Bắc Pptx
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100