Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè

--- Bài mới hơn ---

  • 77 Bài Hát (Ca Dao) Ru Con, Ru Bé Ngủ Rất Hay
  • Người Tày Giáo Dục Con Cháu Qua Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Giáo Dục Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thay Đổi, Cố Gắng, Nỗ Lực, Quyết Tâm, Rèn Luyện Thân Thể
  • Top Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Rượu Bia
  • ai bít các câu ca dao tục ngữ có sử dụng nói quá hok nè

    1) Gánh cực mà đổ lên non

    Còng lưng mà chạy cực còn đuổi theo

    2) Bao giờ cây cải làm đình

    Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ra

    3) Đêm nằm lưng chẳng tới giường

    4) Con rận bằng con ba ba

    Đêm đêm nó ngáy cả nhà thất kinh

    5) Cỏ non xanh tận chân trời

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

    ( Nguyễn Du )

    6) Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn

    7) Tấc đất , tấc vàng

    *********Ca dao có sử dụng biện pháp nói quá :

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    *********Thành ngữ có sử dụng biên pháp tu từ nói quá:

    – Đen như cột nhà cháy

    – Gầy như que củi

    – Đi guốc trong bụng

    – Xoay trời chuyển đất

    – Khoẻ như voi

    – Chậm như rùa

    – Bầm gan tím ruột

    – Mặt xanh nanh vàng

    Thanks giùm tớ cái háh…..post nhìu mỏi tay wá ch0y luz

    1) Đêm thnág năm chưa nằm đã sáng

    Ngày tháng mười chưa cười đã tối.

    2) Cỏ non xanh tận chân trời

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

    (Nguyễn Du)

    3) Gánh cực mà đổ lên non

    Còng lưng mà chạy cực còn đuổi theo

    4) Bao giờ cây cải làm đình

    Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ra

    5) Đêm năm lưng chẳng tới giường

    6) Con rận bằng con ba ba

    Đêm đêm nó gáy cả nhà thất thanh

    ***Ngoài ra bạn có thể vào trang web

    – http://baigiang.**********

    -http://giâon.**********

    Để biết dc thêm trí thức

    THanks giùm mình cái háh…..post mõi cả tay rùi nềh

    Bài này hoàn chỉnh là thế này cơ mà:

    Lỗ mũi mười tám gánh lông

    Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho

    Đêm ngủ thì ngáy o..o

    choongf yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà

    Đi chợ thì hay ăn quà

    Chồng yêu chồn bảo về nhà đỡ cơm

    Tre^n đầu những rác cùng rơm

    Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao,tục Ngữ Về Quảng Nam
  • Những Câu Câu Tục Ngữ Và Thành Ngữ Việt Nam Hay Nhất
  • Cao Dao Quảng Ninh: Đậm Nét Trữ Tình Văn Hoá Dân Gian
  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh
  • 317. Ca Dao, Tục Ngữ Và Lịch Sử Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Nét Đẹp Văn Hóa Từ Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Ở Phú Xuyên
  • Tìm Hiểu Về Tết Việt Nam Qua Ca Dao,tục Ngữ
  • Chùm Ca Dao Dân Ca Hay Và Đặc Sắc Nhất Về Nghi Lễ, Phong Tục Của Dân Tộc
  • Nét Duyên Thầm Của Ẩm Thực Việt Qua Kho Tàng Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ẩm Thực Món Gà Qua Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Ca dao, tục ngữ là tiếng nói của dân gian Việt, trải qua nhiều thời đại, từ thời xưa và đến cả thời nay. Ca dao, tục ngữ phản ảnh tâm tư, tình cảm của người dân trong sinh hoạt hằng ngày, không chỉ ở nơi đồng nội mà còn ở thành thị, kinh đô. Tuy là ngôn ngữ dân gian, nhưng ca dao, tục ngữ không phải là tiếng nói bình thường mà là ngôn ngữ có vần điệu, ngắn gọn và vì ngắn gọn, có vần điệu nên dễ phổ biến rộng rãi trong quần chúng.

    Từ trước, người ta thường có quan niệm rằng ca dao, tục ngữ là văn chương bình dân, phát xuất từ nông thôn, thật sự ca dao tục ngữ là tiếng nói của nhiều tầng lớp dân chúng, và có lẽ phần lớn tác giả là những kẻ sĩ, cư ngụ ở khắp nơi, từ thành thị đến nông thôn.

    Trường hợp này, ca dao, tục ngữ có thể xem là một hình thức ngôn luận của quần chúng ở thời đại xưa, khi xã hội chưa phát triển, chưa có điều kiện phổ biến dư luận của người dân như là báo chí hoặc các hình thức thông tin trong thời đại mới, mặc dù từ trước đã có thư tịch nhưng chỉ là để chuyển tải văn chương, sử liệu, mô phạm (thánh mô hiền phạm) v…v… Bài viết này chỉ đề cập đến phần ca dao, tục ngữ có liên hệ với các vấn đề lịch sử Việt Nam.

    Nho giáo từ Trung Quốc truyền sang đất Việt, qua giới nho sĩ, từ trước thường có quan niệm trọng nam khinh nữ (nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô). Nhưng đối với người dân Việt thì không có quan niệm kỳ thị đó, nhất là đối với hạng anh thư nữ kiệt.

    Muốn coi lên núi mà coi

    Coi bà quản tượng cỡi voi bành vàng

    Rõ ràng câu ca dao này đã ca ngợi công đức chống ngoại xâm của Triệu Nữ Vương (tức là Triệu Thị Trinh – mà sử Tàu miệt thị gọi là Triệu …u : Bà vú Triệu). Sau cuộc nổi dậy chống Tô Ðịnh của Hai Bà Trưng bị thất bại, Bà Triệu noi gương anh dũng đó đã phất cờ khởi nghĩa chống quân Ðông Ngô. Khi Bà đánh giặc, mặc áo giáp vàng cỡi voi xông vào quân địch như vào chỗ không người, xưng danh hiệu là Nhụy Kiều tướng quân. Sau một thời gian dài bị lệ thuộc Trung Hoa, Việt Nam giành được độc lập và Ngô Quyền thiết lập một vương triều tự chủ, sau hơn 10 thế kỷ chịu nhục của người dân dưới ách đô hộ. Nhưng cuối đời nhà Ngô, vì thế lực suy yếu, nên đã có 12 sứ quân nổi dậy, đánh lẫn nhau, làm cho dân tình khổ sở. Các sứ quân đó, trong hơn 20 năm, vẫn xưng hùng xưng bá, không ai chịu phục ai. Kết cuộc, họ phải khuất phục dưới tay Vạn Thắng Vương Ðinh Bộ Lĩnh, tức Ðinh Tiên Hoàng sáng lập ra vương triều nhà Ðinh. Phán xét sự tranh giành quyền lực của các sứ quân và cuộc chiến thắng của Ðinh Bộ Lĩnh, dân gian đã tóm gọn trong câu ca dao:

    Ở đời muôn sự của chung

    Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi

    Thật vậy, ở đời muôn sự của chung, nhưng của chung đó không phải là ai cũng có thể chiếm hữu dễ dàng. Phải có tài năng hay mưu lược quyền biến.

    Ngôi vua cuối cùng của nhà Lý thuộc về Lý Chiêu Hoàng, tức là Chiêu Thánh công chúa, con vua Lý Huệ Tôn, mới lên 7 tuổi. Quyền hành lúc đó ở trong tay Trần Thủ Ðộ. Và Thủ Ðộ đã làm chủ hôn cho cháu là Trần Cảnh lấy Chiêu Hoàng, để chuyển vương quyền qua nhà Trần. Quần chúng có lòng lưu luyến nhà Lý đã tỏ lòng công phẫn và mỉa mai trong câu ca truyền khẩu:

    Trống chùa ai đánh thì thùng

    Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng

    Dưới đời vua Trần Anh Tông, vì lý do chính trị, đã gả em gái là Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân để đổi lấy 2 châu Ô, Lý (tức Ðịa Lý và Bố Chính), sau đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu. Người Việt vẫn có tinh thần kỳ thị chủng tộc, cho người Chiêm là giống man di, lên tiếng phản đối việc làm này của triều đình nhà Trần

    Tiếc thay cây quế giữa rừng

    Ðể cho thằng Mán thằng Mường nó leo

    Quần chúng còn tiếc thương cho thân phận một vị công chúa, lá ngọc cành vàng, phải lấy chồng man rợ ở phương xa, qua ca khúc Nam Bình, vẫn lưu truyền ở cố đô Huế: “Nước non ngàn dặm ra đi”.

    Về sau, Chế Mân chết, vua Trần sai Trần Khắc Chung sang Chiêm tìm cách đưa Huyền Trân về nước để khỏi bị hỏa thiêu theo chồng (theo tục lệ Chiêm). Dư luận quần chúng có vẻ khắc nghiệt khi nghi ngờ về tình cảm của Trần Khắc Chung đối với công chúa Huyền Trân trên chặng đường thủy dài ngày đưa công chúa về nước. Người ta xót xa thân phận Huyền Trân, một lần nữa, qua tay Trần Khắc Chung.

    Tiếc thay hột gạo trắng ngần

    Ðem vò nước đục lại vần lửa rơm

    Nhưng đó chỉ là chuyện đồn đại trong dân gian, không có bằng chứng gì xác thực.

    Khi Lê Lợi dấy binh chống Minh, khởi đầu ở vùng Thanh Hóa, sau chiếm lĩnh Nghệ An để mở rộng khu vực chiến đấu, nhân dân đã phấn khởi ca ngợi vùng đất tự do ấy và cổ võ cuộc di dân vào vùng này:

    Ðường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

    Ai vô xứ Nghệ thì vô

    Các biến cố lịch sử ảnh hưởng rất lớn đến đời sống dân chúng, nhất là loạn lạc. Chiến tranh gây cảnh điêu tàn, chết chóc, nhà tan cửa nát. Nhân dân chỉ biết kêu trời, bày tỏ nỗi oán thán:

    Cái cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

    Em về nuôi cái cùng con

    Ðể anh đi trẩy nước non Cao Bằng

    Ấy là thảm cảnh của người dân phải thi hành nghĩa vụ tòng quân dưới thời Nam Bắc Triều, xảy ra cuộc chiến tranh Trịnh – Mạc. Cao Bằng là căn cứ địa trọng yếu của nhà Mạc. Người lính trong câu ca dao trên thuộc hàng ngũ quân Trịnh, được lệnh lên đường đánh quân Mạc, vỗ về vợ con trong buổi chia ly. Từ khi Trịnh Tùng diệt được nhà Mạc, dù với danh nghĩa phù Lê, nhưng tập trung mọi quyền hành vào tay mình rồi xưng Chúa, vua Lê chỉ còn giữ hư vị.

    Trong lúc họ Trịnh xưng chúa ở miền Bắc, thì Nguyễn Hoàng được Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hóa từ trước, gây dần thế lực, đến lúc vững mạnh cũng xưng chúa ở miền Nam. Rồi đôi bên gây nên cuộc Nam Bắc phân tranh, kéo dài đến non nửa thế kỷ. Họ đánh nhau liên miên, xây thành đắp lũy kiên cố, hiểm trở để phòng chống nhau, nên có câu tục ngữ:

    Hiểm nhất lũy Thầy

    Thứ nhì đồng lầy Võ Xá

    Lũy Thầy tức là lũy Trường Dục, do Ðào Duy Từ chỉ huy xây cất. Nhờ lũy này, quân Nguyễn mới chống cự được lâu dài với quân Trịnh, phải lặn lội đường xa, vất vả nên ở thế bất lợi trong việc tiến quân đánh Nguyễn. Cuộc nội chiến Nam Bắc giữa hai nhà Trịnh – Nguyễn kéo dài, nhưng hai phe cũng liên tục kế truyền nghiệp Chúa. Và cũng vì chiến tranh quá lâu dài nên sau cuộc ngưng chiến, với sông Gianh làm giới hạn hai miền Nam Bắc, họ Trịnh tổ chức một xã hội gần như thanh bình ở Bắc. Các vua chúa cũng như quần thần có mức sống xa xỉ, trụy lạc. Theo tập “Vũ Trung Tùy Bút” của Phạm Ðình Hổ, đời chúa Trịnh thứ 12 là Trịnh Sâm thường tổ chức nhiều cuộc vui chơi ở ly cung trên Tây Hồ, sai người xây cất luôn mãi. Mỗi lần vui chơi thì lại có binh lính hầu quanh hồ, các nội thần thì giả làm đàn bà và dân thì bày bán hàng hóa như ở chợ để vua quan mua sắm.

    Cũng dưới triều Trịnh Sâm, phế bỏ con cả là Trịnh Khải, lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử (con của sủng phi Ðặng Thị Huệ, thường gọi là Bà Chúa Chè), giao cho Huy Quận Công Hoàng Ðình Bảo làm phụ chính. Khi Trịnh Sâm mất, đảng Trịnh Khải mưu với quân tam phủ nổi loạn, giết Quận Huy và được tam quân (thường gọi là loạn kiêu binh – hạng lính được ưu đãi, tuyển mộ ở Thanh Nghệ = Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần) lập lên làm Chúa, tức là Ðoan Nam Vương. Khi Trịnh Sâm còn sống, ham vui thú ăn chơi, nên mọi quyền hành ở tay Quận Huy. Ông này tự do ra vào cung cấm và có mối liên hệ bất chính với Tuyên phi Ðặng Thị Huê Việc này không tránh khỏi búa rìu của dư luận quần chúng:

    Ba quân có mắt như mờ

    Ðể cho Huy Quận vào sờ chính cung

    Khi viết tập “Vũ Trung Tùy Bút”, về việc chúa Trịnh ham mê hưởng lạc, bày cảnh vui chơi làm khổ dân với nhiều sai dịch, Phạm Ðình Hổ đã cho là có sự bất tường. Cho nên hết đời Trịnh Sâm, các con ông là Trịnh Khải và Trịnh Cán vì tranh quyền đã gây rối loạn ở kinh thành. Trịnh Cán (con Tuyên phi Ðặng Thị Huệ) mới được lập lên, với sự hỗ trợ của Quận Huy, chưa được hai tháng, thì bị anh là Trịnh Khải trừ diệt. Và các chúa Trịnh từ đó về sau cũng vì lý do nữ họa mà mất nghiệp:

    Sự này chỉ tại Bà Chè

    Cho Chúa mất nước cho Nghè làng xiêu

    Về chuyện hai anh em họ Trịnh tương tàn, dân gian đã cố lời bàn tán:

    Ðục cùn thì giữ lấy tông

    Ðục long cán gãy còn mong nỗi gì

    “Tông” ám chỉ tước hiệu của Trịnh Cán (Tông Ðô Vương). “Ðục long cán gãy” là nghiệp chúa của Trịnh Cán không tồn tại bao lâu.

    Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ thứ 17 đến đầu thế kỷ thứ 19, suốt 200 năm là một chuỗi biến cố đẫm máu. Hết cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn, đến cuộc tương tranh Nguyễn – Tây Sơn. Từ lúc anh em Tây Sơn khởi nghĩa, chủ yếu là vua Quang Trung, lập nên một triều đại huy hoàng với nhiều võ công oanh liệt, nhưng khá ngắn ngủi:

    Ðầu cha lấy làm đuôi con

    Mười bốn năm tròn hết số thì thôi

    Tương truyền đây là một câu sấm ứng vào việc triều Tây Sơn mất nghiệp sau 14 năm. Ðầu chữ Quang (- Quang Trung) lấy làm đuôi chữ Cảnh ( – Cảnh Thịnh).

    Một câu ca dao khác, cũng cùng ý nghĩa:

    Cha nhỏ đầu con nhỏ chân

    Ðến năm Nhâm Tuất (1802) thì thân chẳng còn

    Chữ “tiểu” ở trên đầu chữ Quang, ở chân chữ Cảnh. Trong xã hội Việt Nam ngày trước, có hạng sĩ phu, ở lẫn trong dân chúng, thường nhận định về các hoạt động của giới cầm quyền đương thời và đề xuất những câu sấm để tuyên truyền cho một phe phái nào đó. Câu sấm được truyền trong dân gian bằng cách dạy cho trẻ con hát khi nô đùa ở các nơi công cộng. Chẳng hạn câu sấm sau đây, dưới hình thức ca dao, được truyền là của các cựu thần nhà Mạc tổ chức chống Trịnh làm ra để liên lạc với các đồng chí tìm đến cơ sở ở mạn Bắc:

    Ai lên Phố Cát Ðại Ðồng

    Hỏi thăm cô Tú có chồng hay chưa?

    Có chồng năm ngoái năm xưa

    Năm nay chồng bỏ như chưa có chồng

    Dù chiến tranh xảy ra giữa hai miền Nam Bắc hết sức khốc liệt, nhưng hai họ Trịnh Nguyễn vẫn thực hiện những công cuộc phúc lợi ở vùng họ cai trị.

    Ở Nam, các chúa Nguyễn nhiều đời trấn thủ, mưu cầu an cư lạc nghiệp cho dân chúng. Dưới đời chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu, đường đi qua vùng Hồ Xá – Quảng Trị (tức truông nhà Hồ) thường có bọn cướp ẩn núp, cướp bóc kẻ qua đường. Năm 1722, Chúa sai ông Nguyễn Khoa Ðăng, làm Nội Tán, đi đánh dẹp bọn cướp đó. Người dân ca tụng việc ấy, qua câu ca dao quen thuộc:

    Nhớ em anh cũng muốn vô

    Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang

    Phá Tam Giang ngày rày đã cạn

    Truông nhà Hồ, Nội Tán cấm nghiêm

    Phá Tam Giang ở huyện Quảng Ðiền, tỉnh Thừa Thiên, nơi có 3 sông lớn của Huế (sông Ô Lâu, sông Bồ,sông Hương) chảy về rồi đổ ra cửa biển Thuận An. Phá này nhiều sóng lớn, thuyền bè qua lại khó khăn, về sau cạn đi.

    Sau một thời gian dài, suốt 25 năm, đấu tranh gian khổ, Chúa Nguyễn Ánh đã có thế vững mạnh, tiến quân ra Trung để chiến thắng Tây Sơn. Nhân dân miền Nam vốn có cảm tình với nhà Nguyễn đã truyền câu hát:

    Lạy trời cho chóng gió nồm

    Ðể cho Chúa Nguyễn giong buồm thẳng ra

    Khi Chúa Nguyễn còn ở trong Nam, tổ chức cuộc Nam tiến vào đất Gia Ðịnh, khẩn hoang lập ấp. Dân chúng đồng lòng cổ võ:

    Nhà Bè nước chảy rẽ hai

    Ai về Gia Ðịnh Ðồng Nai thì về

    Vua Gia Long thống nhất sơn hà, lập nên triều Nguyễn, truyền được 13 đời vua. Kế tục sự nghiệp mở nước của Thế Tổ Gia Long, vua Minh Mạng đã có công dẹp các vụ nổi loạn ở Bắc và Nam, cũng như chống cự ngoại xâm (Xiêm), chiếm Chân Lạp, bảo hộ Ai Lao.

    Về nội trị, vua chấn chỉnh luật pháp, chế độ, làm thành một nước có kỷ cương, văn hiến. Trong việc bảo vệ phong tục, vua đã chạm đến tinh thần bảo thủ của người dân miền Bắc, tức là cấm đàn bà mặc váy:

    Tháng sáu có chiếu vua ra

    Cấm quần không đáy người ta hãi hùng

    Không đi thì chợ không đông

    Ði thì phải lột quần chồng sao đang?

    Dưới triều vua Tự Ðức, nhiều biến cố trọng đại đã xảy ra. Từ những vụ nổi loạn ở miền Bắc, chủ trương phù Lê, như giặc Châu Chấu (có Cao Bá Quát làm quốc sư), Cai Tổng Vàng ở Bắc Ninh, giặc Khách ở Cao Bằng. Ở triều đình, có người anh vua Tự Ðức là Hồng Bảo, âm mưu đoạt ngôi nhưng thất bại. Năm 1886, nhân dịp vua Tự Ðức cho xây Khiêm Lăng ở Vạn Niên (Huế), ba anh em họ Ðoàn (Ðoàn Trưng, Ðoàn Trực, Ðoàn Ái) khai thác nỗi oán hận của người dân phải đi làm phu gian lao vất vả, nổi dậy chống triều đình. Họ khích động dân bằng câu ca dao:

    Vạn niên là Vạn niên nào

    Thành xây xương lính, hào đào máu dân.

    Trong cuộc khởi nghĩa nầy, họ Ðoàn tôn Ðinh Ðạo (con của Hồng Bảo – cải họ Ðinh, sau khi Hồng Bảo bị tội, tự thắt cổ chết) làm minh chụ Vụ này cũng không thành công. Ngoài các vụ nổi loạn, triều vua Tự Ðức còn phải đối phó với cuộc xâm lăng của người Pháp.

    Tự Ðức là ông vua có tinh thần bảo thủ, từ khước đề nghị canh tân của các sĩ phu, nhất là Nguyễn Trường Tộ, nên vận nước có chiều suy vong. Vua Tự Ðức chỉ là một nho sĩ thuần túy, có tiếng hay chữ nhất triều Nguyễn, ưa thích thi văn, ngâm vịnh. Dưới triều vua, có ông Lê Ngô Cát là một danh sĩ, đã soạn một bộ sử bằng văn vần là “Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca”. Soạn xong, ông dâng lên vua Tự Ðức ngự lãm. Vua xem rồi ban thưởng cho ông Cát:

    Vua khen thằng Cát nó tài

    Ban một cái khố với hai đồng tiền

    Việc ban thưởng này, có lẽ do chuyện bàn tán giữa các đồng liêu với ông Cát ở triều đình, nhưng lại lọt ra ngoài, nên dân gian đã có lời phẩm bình mỉa mai trên, cho rằng vua Tự Ðức không quí trọng văn tài của người khác.

    Sau khi vua Tự Ðức mất, quyền hành ở triều đình Huế thuộc về hai ông Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. Hai ông này trong bốn tháng đã phế và lập 3 vua: Dục Ðức, Hiệp Hòa và Kiến Phúc. Cho nên thời đó, trong dân gian có câu, giữa lúc có sự tranh chấp giữa Pháp và Việt:

    Nhất giang lưỡng quốc nan phân THUYẾT

    Tứ nguyệt tam vương triệu bất TƯỜNG

    Nghĩa là: Một sông hai nước (Việt – Pháp) không thể thương thuyết, bốn tháng ba vua điềm chẳng lành. (cuối 2 câu có tên hai ông Thuyết và Tường).

    Thời gian triều đình Huế khởi xướng công cuộc chống Pháp với các đại thần và các tướng lãnh, dù có tâm huyết nhưng thiếu kinh nghiệm lãnh đạo chiến tranh, nên dân chúng đã có lời bình phẩm có phần khắc nghiệt:

    Nước Nam có bốn anh hùng

    Tường gian Viêm dối Khiêm khùng Thuyết ngu

    Tường là Nguyễn Văn Tường, trước sát cánh với Tôn Thất Thuyết chống Pháp, sau ra hàng. Viêm là Hoàng Kế Viêm, trước cũng chống Pháp, sau được vua Ðồng Khánh phục chức và sai đi dụ hàng vua Hàm Nghị Khiêm là Ông Ích Khiêm, một vị quan thời Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường chuyên quyền, vì tính khẳng khái, không luồn cúi cấp trên, làm phật ý hai ông Tường, Thuyết nên bị giam vào ngục. Dân gian nói ông Khiêm “khùng vì có tính khí khác thường, ngang bướng, không chịu khuất phục cường quyền. Và “Thuyết ngu”, ngụ ý cho rằng ông Thuyết là một kẻ “hữu dũng vô mưu”. Dù sao, dư luận quần chúng cũng chê hai kẻ gian dối và khen hai người trung can, nghĩa khí.

    Thời Pháp xâm lược nước ta, người dân không khỏi buồn lòng nhìn thế sự rối reng:

    Ðêm đêm chớp bể mưa nguồn

    Hỏi người quân tử có buồn chăng ai?

    Nhất là cảnh quốc phá gia vong với một triều đại suy tàn:

    Một nhà sinh đặng ba vua

    Vua còn (Ðồng Khánh) vua mất (Kiến Phúc) vua thua chạy dài (Hàm Nghi)

    Tuy thua chạy dài, nhưng vua Hàm Nghi với sự phù trợ của Tôn Thất Thuyết và các trung thần, nghĩa sĩ đã phát hịch kêu gọi nhân dân hưởng ứng chống Pháp, khởi xướng phong trào Cần Vương ở khắp nơị Tình trạng trong nước Việt lúc bấy giờ đã phân hóa làm hai:

    Gẫm xem thế sự thêm rầu

    Ở giữa Ðồng Khánh, hai đầu Hàm Nghi

    Ở giữa, tức là kinh đô Huế, hai đầu là Nghệ Tĩnh và Nam Ngãi, nơi phát triển phong trào Cần Vương.

    Tinh thần ái quốc của người Việt vẫn liên tục sôi nổị Dù công cuộc chống Pháp của vua Hàm Nghi bị thất bại, nhưng đến đời vua Thành Thái, âm mưu chống Pháp vẫn âm thầm trong trí vị vua đã từng giả điên giả cuồng để tránh mắt dò xét của người Pháp.Dân gian phát hiện một hành động của vị vua yêu nước này, mà người ta tưởng lầm là hành vi bất chính, khi vua vốn mang tiếng điên khùng:

    Kim Long có gái mỹ miều

    Trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi

    Tương truyền vua Thành Thái có tổ chức một đội nữ binh ở ngoại thành, một địa điểm bí mật ở vùng Kim Long và giao cho một vị tướng phụ trách huấn luyện để chờ dịp khởi nghĩa. Nhiều đêm vua xuất cung vi hành để đến xem xét kết quả của việc huấn luyện đó.

    Vua Duy Tân lên làm vua lúc mới 8 tuổi, nhưng lớn lên có chí khí và có lòng yêu nước mãnh liệt. Cũng như vua Thành Thái, vua Duy Tân có ý chống Pháp. Vua thường ra ngoài cung điện để xem xét dân tình và tìm cách liên lạc với các nhân sĩ. Ði dạo chơi trên bãi biển, tay vấy cát, người hầu lấy nước cho vua rửa. Vua nói: “Tay nhớp (bẩn) lấy nước rửa, thế nước nhớp lấy gì mà rửa?”.

    Phong trào Văn Thân bí mật liên lạc với vua để tìm phương cứu quốc. Năm 1915, đảng Việt Nam Quang Phục cử Trần Cao Vân và Thái Phiên hợp tác với vua mưu đồ khởi sư Họ hẹn gặp nhau trên bờ sông Ngự Hà, giả làm người đi câu để tránh tai mắt địch. Rồi mưu đồ phục quốc của vua Duy Tân cũng bị thất bại và vua phải đi đàỵ Người dân Huế thương tiếc vua cùng các nghĩa sĩ Trần Cao Vân và Thái Phiên đã hiến thân vì nước:

    Chiều chiều ông Ngự ra câu

    Cái ve cái chén cái bầu sau lưng

    Và trên dòng Hương Giang, nhiều năm sau, trên các chuyến đò dọc, người ta còn nghe mấy câu hò trầm thống, bi đát, đầy tâm sự của kẻ mang hoài bão cứu nước không thành:

    Trước bến Văn Lâu

    Ai ngồi ai câu

    Ai sầu ai thảm

    Ai thương ai cảm

    Ai nhớ ai mong

    Thuyền ai thấp thoáng bên sông

    Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non.

    °°°

    Như trên đã nói, ca dao là phản ảnh một phần nào dư luận của quần chúng Việt Nam đối với các hiện tượng trong xã hội ở thời kỳ các phương tiện truyền thông bằng văn tự chưa phát triển.

    Với người dân, các hành vi của giới cầm quyền, cũng như hành động của các nhân vật trong nước, đều phải chịu sự bình phẩm, phán xét của công luận. Những hành vi có đạo đức, thiện tâm được khen ngợi, ca tụng, trái lại xấu xa, đê tiện đều bị chê bai, nguyền rủa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Viết Báo Tường Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Nguồn Gốc Của Tục Ngữ Ca Dao
  • Nguồn Gốc Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Tuyển Chọn Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca Việt Nam
  • Thơ Ca Về Biển Đảo: Sẵn Sàng Khi Tổ Quốc Gọi Tên!
  • Đặc Điểm Hai: Tục Ngữ Ca Dao Nói Về Kinh Nghiệm Lao Động Sản Xuất Sử Dụng Nhiều

    --- Bài mới hơn ---

  • Stt Tết, Status Chúc Tết & Năm Mới Hạnh Phúc Sum Vầy Thật Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Hay Về Ngành Y: 52+ Danh Ngôn Hay
  • Những Lời Chúc Về Ngày Của Mẹ (Mother’s Day) Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Tổng Hợp Những Danh Ngôn Tiếng Anh Hay Nhất Về Tình Yêu Và Tình Bạn
  • Chúc Tết Chính Mình Và Để Vào Mùa Chay
  • Tải bản đầy đủ – 128trang

    2.1.1. Nghề trồng lúa:

    Nhƣ trong chƣơng I chúng tôi đã phân tích, trong số những câu tục

    ngữ nói về trồng trọt thì những câu nói về kinh nghiệm làm ruộng (gieo

    trồng, cày cấy và gặt hái) lại chiếm đa số (có 174 câu trên tổng số 438

    câu, chiếm tỷ lệ 39,7%). Còn ca dao thì cũng có tới 99 bài nói về nghề

    này (chiếm tỷ lệ 61,87%) mặc dù có những bài ca dao không chỉ nói về

    kinh nghiệm về trồng lúa mà còn đề cập cả đến kinh nghiệm khác nữa. Ví

    dụ:

    Tháng chạp là tháng trồng khoai,

    Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà.

    Tháng ba cày ruộng vỡ ra,

    Tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng.

    Tháng năm gặt hái đã xong,

    Nhờ Trời một mẫu năm nong thóc đầy.

    Năm nong đầu em xay, em giã,

    Trấu ủ phân, cám bã nuôi heo.

    Sang năm lúa tốt tiền nhiều,

    Em đem đóng thuế đóng sưu cho chồng.

    Đói no có thiếp có chàng,

    Còn hơn chung đỉnh giàu sang một mình.

    Có thể nói, cha ông ta đã đúc kết đƣợc những kinh nghiệm hết sức

    quý báu và phong phú về nghề làm ruộng.

    Nói đến trồng trọt thì từ xƣa tới nay trồng lúa đã và đang là một

    trong những nghề chủ đạo sản xuất ra lúa gạo. Nếu nhƣ trƣớc đây, sản

    xuất ra lúa gạo trƣớc hết là nhằm phục vụ cho nhu cầu trong nƣớc thì khoảng

    một thập kỷ trở lại đây, ngƣời nông dân Việt Nam không chỉ sản xuất ra lúa

    gạo cho nhu cầu nội địa mà còn để xuất khẩu. Và gạo đã trở thành một trong

    những mặt hàng nông sản xuất khẩu nhiều nhất của Việt Nam.

    Về trồng lúa, ca dao có rất nhiều bài:

    82

    Bao giờ Mang hiện đến ngày,

    Cày bừa cho chín, mạ này đem gieo.

    Bao giờ nắng rữa bàng trôi,

    Tua Rua quặt lại, thời thôi cấy mùa.

    Tua Rua thì mặc Tua Rua,

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    Cày nông xấu lúa, xấu màu

    Thiệt mình, thiệt cả con trâu kéo cày.

    Và tục ngữ cũng vậy:

    – Cấy thưa hơn bừa kỹ.

    – Cấy thưa thừa thóc, cấy mau dốc bồ.

    – Cấy thưa thừa thóc, cấy dầy cóc được ăn.

    – Cơm quanh rá, mạ quanh bờ.

    – Chiêm cấy to tẽ, mùa cấy nhẻ con.

    – Làm ruộng tháng năm, coi chăm tháng mười.

    Có thể nói, trong ca dao cũng nhƣ trong tục ngữ nói về kinh nghiệm trồng

    lúa, chúng ta có thể thấy xuất hiện rất nhiều từ mà hễ chỉ cần nghe nhắc

    đến những từ đó là ngƣời đọc hay ngƣời nghe có thể nhận diện ngay lớp

    từ đó nói về ngành nghề gì. Chẳng hạn nhƣ tên của rất nhiều loại lúa mạ

    cũng nhƣ những đặc điểm của chúng : lúa chiêm, lúa mùa, lúa dé, lúa

    von, lúa bông vang, mạ, mạ chiêm, mạ mùa, chiêm gon, chiêm hoa

    ngâu,…trong các câu tục ngữ sau đây:

    – Chiêm cấy to tẽ, mùa cấy nhẻ con.

    – Chiêm cứng, ré mềm.

    – Lúa bông vang thì vàng con mắt.

    – Lúa chín hoa ngâu đi đâu chẳng gặt.

    – Lúa ré là mẹ lúa chiêm

    – Mạ chiêm đào sâu chôn chặt, Mạ mùa vừa đặt vừa đi.

    83

    – Mạ chiêm tháng ba không già, Mạ mùa tháng rưỡi ắt là không non.

    ra đây là những từ chuyên dùng trong gieo trồng và cấy lúa dù có thể họ

    không thể biết hết về đặc tính của các loại mạ, các loại lúa, không rõ thời

    gian nào thì ngƣời nông dân bắt đầu gieo trồng trên những loại ruộng,

    loại đất nhƣ thế nào và với kỹ thuật cày ra sao cấy cũng nhƣ thời điểm

    nào thì họ cấy gặt. Nhƣ vậy, trong nghề trồng lúa, từ xa xƣa, bao thế hệ

    nông dân đã đúc kết nên một hệ thống từ khá phong phú. Có thể liệt kê sơ

    bộ ra ở đây nhƣ sau:

    – Lớp danh từ: giống, giống lúa, lúa, vụ lúa, vụ chiêm, vụ mùa, lúa

    chiêm, lúa mùa, lúa dé, lúa gon, lúa bông vang, ruộng, đồng ruộng,

    bờ ruộng, ruộng ngấu, mạ già, mạ úa, mạ mùa, mạ chiêm, mạ non,

    thóc gạo, ruộng cao, ruộng thấp, ruộng khô, ruộng sâu (cấy trước),

    ruộng gò (cấy sau), ruộng góc, hàng sông, hàng con, bụi lúa, …

    – Lớp động từ: cấy, cày, bừa, gặt hái, làm ruộng, làm mùa, làm mạ, gặt

    chiêm, cấy trốc, cấy lúa, cấy thưa, cấy mau, vãi lúa, đi cày, cày sâu bừa

    kỹ, bừa cạn, cày sâu, cày nông, cắt rạ, trỗ (lúa, ngô bắt đầu ra hoa)…

    Có thể, nhiều từ thuộc lớp từ này sẽ đƣợc sử dụng trong nhiều ngữ

    cảnh, nhiều loại văn bản khác nhau. Ví dụ nhƣ từ cấy có thể đƣợc coi là

    một thuật ngữ trong y sinh học (cấy phôi) với ý nghĩa là gieo, cấy tế bào

    vào cơ thể. Nhìn chung, lớp từ này dù đƣợc dùng trong ngữ cảnh nào, loại

    văn bản nào thì ngƣời đọc lẫn ngừi nghe có thể xác định ngay: đó là

    những từ chuyên dùng trong một nghề mà hiện nay có tới khoảng 75%

    dân số Việt Nam theo làm – nghề trồng lúa.

    Thêm vào đó, một hệ thống từ vựng về gieo trồng cày cấy nhƣ nêu

    trên xuất hiện từ rất xa xƣa và tồn tại cho đến nay trong kho tàng văn hoá

    dân gian Việt Nam có thể coi là một trong những bằng chứng sống động,

    và quan trọng để chứng minh Việt Nam là một trong những cái nôi đầu

    tiên của nền văn hóa văn minh lúa nƣớc trong khu vực và trên thế giới.

    84

    đồng thời, nó cũng minh chứng cho lịch sử lâu đời của dân tộc Việt Nam

    từ thuở khai sinh.

    2.1.2. Trồng trọt các loại cây khác

    Ngoài cây lúa là loại cây lƣơng thực chủ đạo, ngƣời nông dân Việt

    Nam còn trồng trọt khá nhiều loại cây khác. Do vậy, căn cứ vào những

    sản xuất, chúng ta cũng sẽ gặp hàng loạt tên các loại cây trồng, trong số

    đó, có cả những cây lƣơng thực nhƣ khoai, đậu, ngô, đỗ, cà, bầu, bí nhƣ:

    Đất đập nhỏ, luống đánh to,

    Xung quanh rắc đậu, trồng ngô xen vào.

    Phân tro chăm bón cho nhiều,

    Đậu ngô hai gánh một sào không sai.

    Tháng chạp là tiết trồng khoai,

    Tháng giêng tưới đậu, tháng hai cấy cà

    Bên cạnh đó, ngƣời nông dân còn trồng cả các loại cây ăn quả nhƣ

    chanh, mít, dừa, chanh, cam, quýt…:

    – Cảnh cau, màu chuối

    – Mít chạm cành, Chanh chạm rễ

    – Mít tròn, dưa vẹo, thị méo trôn…

    2.2. Về những từ chuyên dùng nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm

    Cũng nhƣ trong chƣơng một chúng tôi đã phân tích, ở nƣớc ta,

    cùng với nghề trồng trọt (mà chủ yếu là trồng lúa) thì nghề chăn nuôi,

    đánh cá, trồng dâu nuôi tằm… cũng chiếm vị trí rất quan trọng trong lao

    động sản xuất nông nghiệp.

    Trong nghề chăn nuôi, từ xƣa chăn nuôi gia súc và gia cầm đã trở

    thành ngành chủ đạo. Đặc biệt là trong chăn nuôi các loại gia súc, chúng

    tôi nhận thấy con trâu là loại gia súc đƣợc ngƣời nông dân dành cho nhiều

    tình cảm nhất. Tổng số câu tục ngữ nói về kinh nghiệm chọn giống và

    chăn nuôi trâu mà chúng tôi thống kê đƣợc là 35 câu còn, ca dao là 6 bài.

    85

    Trƣớc hết, có thể thấy trong các loại gia súc, con trâu là con vật

    quen thuộc và gần gũi nhất đối với ngƣời nông dân. Hơn thế nữa, đối với

    họ thì “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Vì vậy, ngƣời dân lao động Việt

    Nam đã đƣa hình ảnh con trâu vào trong nhiều bài ca dao. Xuất hiện ở đó,

    con trâu dƣờng nhƣ đƣợc coi nhƣ là bạn cần mẫn của ngƣời nông dân

    trong lao động sản xuất:

    Trâu ơi! Ta bảo trâu này!

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

    Cấy cầy vốn nghiệp nông gia,

    Ta đây, trâu đấy ai mà quản công!

    Bao giờ cây lúa còn bông,

    Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

    Tiếng gọi Trâu ơi thật gần gũi. Ngƣời ta là ai thì trâu cũng là ai, thật bình

    đẳng, thân thiết. Và cũng chính vì đƣợc tình cảm gần gũi đối với con trâu

    nhƣ vậy nên ngƣời nông dân Việt Nam rất hiểu và cũng rất có kinh

    nghiệm trong việc chọn giống khi mua để có con trâu nhƣ ý cũng nhƣ rất

    có kinh nghiệm trong việc chăm nuôi để chúng có thể giúp ích tối đa cho

    mình trong sản xuất. Điều này thể hiện qua cách chọn và sử dụng từ của

    ngƣời sáng tác.

    Khi chọn giống mua trâu thì những con đƣợc việc sẽ là những con

    mà tóc chóp, hoa tai:

    – Trâu hoa tai, bò gai sừng.

    – Trâu tóc chóp, bò mũ chấn.

    Còn những con mà: tóc tạng, khoang nạng, vang trừng thì không nên

    mua vì đó là những con trâu rất phàm ăn mà lại dữ, rất nguy hiểm. Vì

    vậy khi quyết mua thì cần phải xem xét kỹ lƣỡng và nên lựa nái, xem vó,

    xem sừng:

    – Mua trâu lựa nái, mua gái lựa dòng.

    – Mua trâu xem sừng, mua chó xem chân.

    86

    – Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi.

    Và nên:

    – Cày trâu loạn, bán trâu đồ.

    Và trong quá trình chăn nuôi thì họ cũng rút ra nhiều kinh nghiệm với

    những con trâu nhƣ trâu he, trâu trắng, trâu hay, trâu gầy, trâu chậm,

    trâu ngơ… thì sẽ có những đặc điểm gì cần chú ý. Phải nói rằng, để tìm

    từ ngữ và cách diễn đạt thích hợp để nêu lên đặc điểm của từng loại nhƣ

    vậy quả là linh hoạt:

    – Trâu chậm uống nước dơ, Trâu ngơ ăn cỏ héo.

    – Trâu hay không ngại cày trưa.

    – Trâu thịt thì gầy, trâu cầy thì béo.

    – Trâu trắng đi đến đâu, mất mùa đến đấy.

    Đó là một loạt kinh nghiệm về chăn nuôi trâu – con vật đƣợc coi là gần

    gũi nhất với ngƣời nông dân. Qua tục ngữ cũng nhƣ ca dao nói về kinh

    nghiệm chọn giống và chăn nuôi trâu, bằng cách diễn đạt giản dị và

    những từ ngữ phong phú, chính xác, ngƣời đọc cảm nhận thấy ngƣời

    nông dân Việt Nam dƣờng nhƣ đã dành cho con trâu một tình cảm thân

    thiết, dƣờng nhƣ đã coi con trâu nhƣ một ngƣời bạn thực sự của mình

    trong công việc và dƣờng nhƣ đã hiểu khá rõ về tính cách cũng nhƣ đặc

    điểm của chúng.

    Bên cạnh đó, những gia súc đƣợc nhắc đến trong ca dao tục ngữ

    nói về kinh nghiệm chăn nuôi còn có con lợn (ca dao có 1 bài chiếm tỷ lệ

    0,66%, tục ngữ có 13 câu chiếm tỷ lệ 5.25%) và con bò (ca dao: 3 bài

    chiếm tỷ lệ 2%, tục ngữ 15 bài chiếm tỷ lệ 3,42%). Tuy nhiên có thể thấy,

    trong quan niệm và cách đối xử, bò lợn hay cả những gia cầm nhƣ gà vịt

    đều ở địa vị thấp hơn trâu rất nhiều vì nhiều khi bò, lợn đƣợc nhắc tới thì

    bị coi nhƣ thức ăn và bị có thành kiến là dốt nát.

    Trong những câu tục ngữ nói về kinh nghiệm chăn nuôi lợn, các

    tác giả cũng đƣa ra một loạt từ để chỉ đặc điểm cũng nhƣ tính chất của nó

    87

    nhƣ lợn đực là những con chuộng phệ, lợn sề là những con chuộng chỗm,

    lợn đói một bữa bằng người đói nửa năm, lợn đói một năm không bằng

    tằm đói một bữa…

    Còn trong kinh nghiệm chăn nuôi bò thì:

    – Bò đẻ tháng năm, nỏ bằm thì hư.

    – Bắt lợn tóm giò, bắt bò tóm mũi.

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá bò dò làm sao?

    Bên cạnh chọn giống và chăn nuôi gia súc, kinh nghiệm chọn

    giống, chăn nuôi gà, vịt và đánh bắt, nuôi thả cá cũng nhƣ nghề trồng dâu

    nuôi tằm cũng đƣợc ngƣời xƣa đã đúc kết lại khá súc tích bằng cách chọn

    lựa từ vựng sao cho hợp lý mà lại hàm chứa đƣợc đầy đủ thông tin muốn

    truyền đạt. Ở những nghề này, có thể liệt kê một loạt từ vựng khá điển

    hình mà khi tiếp nhận là ngƣời đọc có thể phần nào nhận diện nó liên

    quan đến lĩnh vực nào. Sở dĩ chúng tôi nói phần nào là bởi vì nếu những

    từ và cụm từ này đứng một mình và tách ra khỏi văn cảnh là câu tục ngữ

    hay bài ca dao thì cũng rất có thể ngƣời đọc hay ngƣời nghe liên tƣởng

    tới một lĩnh vực nào đó chứ không hẳn là liên tƣởng đến kinh nghiệm về

    các nghề mà chúng tôi đang đề cập đến. Ví dụ:

    – Nghề trồng dâu nuôi tằm ( tục ngữ có 18 bài chiếm tỷ lệ 4,1%, ca dao

    có 23 bài chiếm tỷ lệ 15,33%): chăn tằm, ươm tơ, dâu, tằm xuân, nong

    tằm, nong kén, nén tơ, nuôi tằm, tằm đỏ cổ, vỗ dâu vào, chăn tằm lấy

    tơ, dâu cỏ lá nhỏ, dâu tàu to lá, giống dâu ưa nước…

    – Nghề chọn giống và chăn nuôi gà, vịt (tục ngữ có 11 câu chiếm tỷ lệ

    2,51%, ca dao có 2 bài chiếm tỷ lệ 1,33%): gà cỏ, gà cựa dài (thì rắn),

    gà cựa ngắn (thì mềm), gà đen chân trắng, gà trắng chân chì, gà ri,

    gà nâu, nuôi gà…

    – Nghề nuôi thả và đánh bắt cá (tục ngữ có 23 câu chiếm tỷ lệ 5,25%, ca

    dao có 4 bài chiếm tỷ lệ 2,66%): ao sâu tốt cá, cá mè, cá chép, vãi

    88

    chài, làm nghề chài cá, cầm chài, vãi cá, vào lộng ra khơi, đi biển làm

    nghề, giong câu, …

    3. TIỂU KẾT

    Nói tóm lại, ca dao tục ngữ truyền đạt kinh nghiệm lao động sản

    xuất bên cạnh những đặc điểm khá đặc sắc về ngữ âm, thì những đặc

    điểm về từ vựng lại khá đơn giản.

    Thứ nhất, về cơ bản, ca dao tục ngữ nói về kinh nghiệm sản xuất

    trong nông nghiệp nên hệ thống từ vựng đƣợc lựa chọn sử dụng bao gồm

    một tỷ lệ khá nhiều từ chuyên dùng trong trồng trọt (đặc biệt là gieo trồng

    và cày cấy lúa, cũng nhƣ là trồng trọt các loại cây nông nghiệp và các loại

    cây ăn quả) và chăn nuôi (những loài gia súc phục vụ trực tiếp cho công

    việc cày bừa của nhà nông nhƣ trâu bò, và các loài gia cầm nhằm cải

    thiện kinh tế nhƣ gà vịt). Đây những từ mà chúng tôi tạm gọi là từ thƣờng

    gặp trong sản xuất nông nghiệp: trong trồng trọt và chăn nuôi. Chúng tôi

    tạm gọi nhƣ vậy vì đây là hệ thống từ vựng mà khi nhắc tới thì phần lớn

    ngƣời ta sẽ liên tƣởng tới nghề nông.

    Thứ hai, trong ca dao và tục ngữ nói về kinh nghiệm sản xuất, các

    tác giả chủ yếu sử dụng từ thuần Việt với cách diễn đạt giản dị không khó

    hiểu. Số lƣợng từ Hán Việt chiếm tỷ lệ thấp, đặc biệt là trong ca dao; còn

    từ địa phƣơng đƣợc dùng rất ít, trong ca dao hầu nhƣ không xuất hiện.

    Sở dĩ, các tác giả từ thời xƣa đã rất quan tâm và chú trọng trong

    việc lựa chọn từ ngữ để đúc kết lại những kinh nghiệm quý báu trong ca

    dao và tục ngữ nói về kinh nghiệm lao động sản xuất hoàn toàn không có

    gì khó hiểu. Trái lại, điều đó đƣợc giải thích bằng những lý do xác đáng

    và hợp lý. Lý do chính là đối tƣợng hƣớng tới của tục ngữ ca dao nói về

    kinh nghiệm sản xuất là đại đa số những ngƣời thuộc tầng lớp nông dân.

    Mặc dù, ngày nay, nông dân Việt Nam đã có sự khác biệt rất lớn so với

    nông dân Việt Nam cách nay chỉ khoảng hai mƣơi, ba mƣơi năm nhƣng

    nhìn chung, nông dân là những ngƣời quanh năm vất vả, “bán mặt cho

    89

    đất, bán lưng cho trời”, những ngƣời ít có điều kiện học hành. Hơn thế

    nữa, nhiều ngƣời trong số họ có khi cả đời không bƣớc chân ra khỏi cổng

    làng do vậy cũng không có cơ hội tiếp xúc thế giới bên ngoài và mở

    mang kiến thức… Với những đối tƣợng này, việc không sử dụng nhiều từ

    Hán Việt cũng nhƣ từ địa phƣơng là hoàn toàn có lý và dễ hiểu. Vì nếu

    một câu tục ngữ, một bài ca dao muốn đi vào tâm thức ngƣời đọc, ngƣời

    nghe thì trƣớc hết nó không thể đƣợc tạo nên bằng nhiều từ ngữ xa lạ và

    khó hiểu mà từ Hán Việt cũng nhƣ từ địa phƣơng đƣợc coi là lớp từ mà ai

    ai khi gặp cũng có thể hiểu ngay và hiểu một cách chính xác.Thậm chí có

    khá nhiều từ Hán Việt nhiều khi còn gây khó hiểu hoặc hiểu sai nghĩa cho

    ngay cả những ngƣời có chút học vấn.

    Vì vậy, để cho tất cả những ngƣời nông dân suốt ngày, suốt tháng

    đầu tắt mặt tối có thể tiếp thu những kinh nghiệm quý báu, các tác giả từ

    thời xƣa đã cố gắng sử dụng ít những lớp từ gây khó hiểu mà chú trọng

    sử dụng nhiều từ thuần Việt cũng nhƣ cách diễn đạt dễ hiểu, dễ nhớ đối

    với ngƣời đọc. Và kết quả của việc chọn lựa cách sử dụng từ vựng đó

    chính là những thành quả mà ngƣời nông dân đạt đƣợc. Nhiều kinh

    nghiệm mà bao đời truyền lại đã trở thành những bài học ăn sâu vào tâm

    thức biết bao thế hệ nông dân. Những kinh nghiệm đó đã giúp cho ngƣời

    nông dân đỡ vất vả hơn, chủ động hơn sáng tạo hơn trong công việc của

    mình cũng nhƣ có đƣợc nhiều vụ mùa bội thu hơn, đời sống ngày càng

    đƣợc cải thiện và trở nên khấm khá hơn.

    Cuối cùng, từ vựng trong câu ca dao tục ngữ nói về kinh nghiệm

    sản xuất đƣợc lƣu truyền trong bao thế hệ ngƣời Việt là một trong những

    bằng chứng quan trọng chứng minh một hiện thực rằng Việt Nam là một

    trong những cái nôi đầu tiên của nền văn minh nông nghiệp lúa nƣớc

    trong khu vực và trên thế giới.

    90

    PHẦN KẾT LUẬN

    ao động là quá trình mà con ngƣời phát triển lý trí cũng nhƣ tôi

    L

    luyện cảm quan thẩm mỹ. Do đó, quá trình lao động là quá trình

    phát triển khoa học và văn nghệ. Những sáng tác dân gian trong mỗi thời

    kỳ lịch sử đều có liên hệ chặt chẽ với lao động và ngƣợc lại, những sản

    phẩm trong quá trình lao động ấy, những sáng tác truyền miệng lại cũng

    có mối liên hệ chặt chẽ với lao động sản xuất, đƣợc sản sinh trên cơ sở

    của lao động sản xuất. Cũng nhƣ các loại văn học truyền miệng khác,

    hiện thời chúng ta chƣa thể biết đƣợc tục ngữ và ca dao đã xuất hiện vào

    một thời kỳ nhất định nào trong lịch sử tồn tại của con ngƣời. Nhƣng

    chúng ta có thể tin đƣợc loại tục ngữ nói về kinh nghiệm lao động của

    ngƣời Việt và nói về các hiện tƣợng tự nhiên chắc đã phải ra đời từ rất

    sớm, tƣơng ứng với sự phát triển rất sớm của nền kinh tế nông nghiệp của

    nƣớc ta. Chính vì vậy, chúng tôi quyết định chọn ca dao, tục ngữ nói về kinh

    nghiệm sản xuất trong nông nghiệp làm đối tƣợng chính của đề tài.

    Nội dung chính của luận văn:

    * Về nội dung: Kinh nghiệm trong lao động sản xuất đƣợc đúc kết

    lại trong ca dao và tục ngữ trong hai mảng nội dung lớn là trồng trọt và

    chăn nuôi. Đây là hai nghề chính trong sản xuất lao động nông nghiệp

    của Việt Nam tự bao năm nay. Và cũng chính bởi lẽ đó mà có thể nói,

    những câu tục ngữ ca dao đúc kết những kinh nghiệm trong lao động sản

    xuất cũng chiếm một vị trí quan trọng trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt

    Nam.

    * Về đặc điểm ngữ âm: ca dao cũng nhƣ tục ngữ Việt Nam mang

    chủ đề kinh nghiệm lao động sản xuất đều là những đơn vị mang đặc

    trƣng chung của thơ ca Việt Nam là có vần và có nhịp. Đây có thể nói là

    91

    hai đặc điểm nổi bật của của ca dao tục ngữ nói chung và ca dao tục ngữ

    nói về kinh nghiệm lao động sản xuất nói riêng.

    đƣợc sáng tác theo thể lục bát và tuân thủ nghiêm chỉnh hiệp vần chung

    của thể thơ lục bát: chữ cuối câu trên phải vần với chữ thứ 6 câu dƣới và

    mỗi hai câu mỗi đổi vần, và vần luôn là vần bằng. Nhờ có vần, mỗi dòng

    ca dao không chỉ trở nên hài hoà, dễ nhớ, có nhạc điệu mà nó còn có thể

    truyền tải thông tin một cách đầy đủ và trọn vẹn hơn.

    Về nhịp điệu, ca dao nói về kinh nghiệm sản xuất rất đa dạng và

    linh hoạt. Nhờ vậy, những bài ca dao truyền đạt kinh nghiệm quý báu

    trong lao động sản xuất trở nên không đơn điệu, tẻ nhạt, cứng nhắc mà

    trái lại, nhờ có sự đan xen của các cách ngắt nhịp khác nhau ấy mà những

    kinh nghiệm quý báu ấy đƣợc truyền tải một cách trọn vẹn theo đúng tâm

    nguyện của những ngƣời đi trƣớc.

    – Về đặc điểm ngữ âm của tục ngữ nói về kinh nghiệm lao động:

    Tục ngữ đúc kết kinh nghiệm lao động sản xuất gồm hai loại: Loại câu

    không gieo vần và loại câu có gieo vần

    + Loại câu không gieo vần có thể là những tuy không vần vè nhƣng

    đƣợc chia làm hai vế rất cân đối nhau về ý tứ những cũng có thể là những

    câu không cân đối nhƣng khi đọc lên nghe rất xuôi tai. Ở những câu tục

    ngữ thuộc loại không gieo vần và cũng đặt không đối, ngƣời sáng tác có

    mục đích duy nhất là truyền lại kinh nghiệm của mình nên chỉ cốt sao cho

    ý đúng, lời gọn mà thôi.

    + Loại câu có gieo vần: nhìn chung, vị trí hiệp vần của tục ngữ Việt

    Nam nói chung và tục ngữ nói về kinh nghiệm sản xuất rất đa dạng vần

    rất phong phú với các loại vần khác nhau nhƣ vần lƣng, vần liền, vần

    cách tiếng. Nhìn chung, các kiểu vần này không tồn tại riêng rẽ mà luôn

    kết hợp một cách linh hoạt trong các đơn vị tục ngữ.

    92

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Status Con Gái Hay Dành Cho Các Cô Nàng Alone
  • 999+ Lời Chúc Sinh Nhật Bằng Tiếng Anh Cảm Động, Sâu Lắng Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Dối Trá Đang Suy Ngẫm Nhất Đời Người
  • Stt Tình Yêu Buồn Dành Cho Người Cô Đơn
  • Cảm Nhận Những Stt Về Hoa Quỳnh, Loài Hoa Lặng Lẽ Và Thanh Khiết Nhất Thế Gian
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Từ Ngữ Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Thư Chúc Tết Công Ty Dành Cho Lãnh Đạo, Cán Bộ Quản Lý
  • Những Câu Chửi Khéo Người Yêu Cũ Bằng Tiếng Anh Cực Hay Và Thâm Thúy
  • Những Câu Châm Ngôn Nổi Tiếng Không Thể Bỏ Qua Bằng Tiếng Anh
  • Hướng Dẫn Cách Chạy Xe Xipo Lướt Nhanh Trong Gió
  • Stt Lời Chúc Noel Vui Vẻ Tuyển Chọn Hay Nhất
  • Ca dao tục ngữ có từ ngữ địa phương không phải ai cũng biết

    Ca dao có từ ngữ địa phương

    1. Chồng chèo thì vợ cũng chèo

    Hai đứa cùng nghèo lại đụng với nhau.

    2. Ngó lên hòn Kẽm đá dừng ,

    Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi !

    3. Thương em anh cũng muốn ,

    Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.

    4. Thân em như cá trong lờ

    Hết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu.

    5. Bên dưới có sông, bên trên có chợ

    Hai đứa mình kết vợ chồng nghen.

    6. Trời mưa cóc nhái chết sầu

    Ễnh ương đi cưới nhái bầu không ưng

    Chàng hiu đứng dựa sau lưng

    Khều khều móc móc cứ ưng cho rồi.

    8. Anh tưởng giếng sâu anh nối sợi dây cụt

    Ai dè giếng cạn nó hụt sợi dây

    Qua tới đây không cưới được cô hai mày

    Qua chèo ghe ra biển đợi nước đầy qua chèo trở .

    9. Đời cơ cực như ri

    Đồng Khánh ở giữa, Hàm nghi hai đầu.

    11. Đôi ta như chỉ xe đôi

    Khi săn săn rứa, khi lơi lơi chùng.

    12. Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Đĩa lội lềnh như bánh canh.

    13. Rau đắng nấu với cá trê

    Ai đến đất Mũi thì không về!

    15. Vịt nằm bờ mía rỉa lông

    Cám cảnh thương chồng đi thú Hà Tiên.

    16. Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

    Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu.

    17. Cần Thơ gạo trắng nước trong

    Ai đi đến đó thời không muốn về.

    18. Ai ơi về miệt Tháp Mười

    Cá tôm sẳn bắt, lúa trời sẳn ăn.

    19. Muốn ăn bông súng mắm kho

    Thì Đồng Tháp ăn no đã thèm.

    20. Bến Tre trai lịch, gái thanh

    Nói năng duyên dáng ai nhìn cũng ưa.

    21. Muối khô ở Gảnh mặn nồng

    Giồng Trôm, Phong Nẫm dưa đồng giăng giăng.

    22. Hết gạo thì có Đồng Nai

    Hết củi thì có Tân Sài chở vô.

    24. Ăn bưởi thì hãy đến đây

    Vào mùa bưởi chín, vàng cây trĩu cành

    Ngọt hơn quít mật, cam sành

    Biên Hòa có bưởi trứ danh tiếng đồn.

    25. Anh ngồi quạt quán Bến Thành

    Nghe em có chốn anh đành quăng om!

    Anh ngồi quạt quán Bà Hom

    Hành khách chẳng có, đá om quăng lò.

    26. Đi đâu mà chẳng biết ta

    Ta ở Thủ Đức vốn nhà làm nem.

    27. Đường Sài Gòn cong cong quẹo quẹo

    Gái Sài Gòn khó ghẹo lắm anh ơi.

    28. Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai

    Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường.

    33. Công đâu công uổng công thừa

    Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

    35. Ai về Nhượng Bạn thì về

    Gạo nhiều, cá lắm, dễ bề làm ăn.

    36. Bắc Cạn có suối đãi vàng

    Có hồ Ba Bể có nàng áo xanh.

    38. Em về thưa mẹ cùng thầy,

    Cho anh cưới tháng này anh ra.

    Anh về thưa mẹ cùng cha,

    Bắt lợn sang cưới, bắt gà sang cheo.

    40. Ru em em théc cho muồi

    Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

    Mua vôi chợ quán chợ Cầu

    Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.

    Tục ngữ có từ ngữ địa phương

    1. Chình ình như cái đình La Qua.

    2. Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa.

    3. Ăn trên, ngồi trốc.

    4. Ăn như xáng múc, làm như lục bình trôi.

    5. Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau.

    6. Bênh lý không bênh thân.

    7. Ăn cây nào, rào cây đó.

    8. Cái khó cái khôn.

    9. Chết vinh còn hơn sống nhục.

    10. Đi một ngày đàng học một sàng khôn.

    11. Ghét của nào trời trao của nấy.

    12. Lá rụng về cội.

    13. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén.

    14. Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ.

    15. Mất lòng trước, đặng lòng sau.

    16. Muốn ăn thì lăn vào bếp.

    17. Mũi dại, lái phải chịu đòn.

    18. Nói có sách, mách có chứng.

    19. Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm.

    20. Nghèo sinh bệnh, giàu sinh tật.

    21. Oan oan tương báo , dỉ hận miên miên.

    22. Phú quý sinh lễ nghĩa , bần cùng sinh đạo tặc.

    23. Quả báo nhãn tiền.

    25. Sông sâu sóng cả chớ ngã tay chèo.

    26. Tai vách mạch rừng.

    27. Tham giàu phụ khó, tham sang phụ bần.

    28. Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm.

    29. Xa mặt cách lòng.

    30. Yêu nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Stt Hay Bằng Tiếng Trung Ý Nghĩa Nhất
  • Stt Hay Về Tình Yêu Buồn Bằng Tiếng Anh Trên Facebook
  • {Đọc} Stt Hay Về Sự Thay Đổi Bản Thân Giúp Mình Cố Gắng Nhiều Hơn
  • Sách Những Câu Danh Ngôn Bất Hủ
  • Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam
  • Lựa Chọn Và Sử Dụng Tục Ngữ, Ca Dao Trong Giảng Dạy Học Phần Tâm Lý Học Đại Cương

    --- Bài mới hơn ---

  • Tính Cách Bẩm Sinh Hay Do Nuôi Dạy Và Môi Trường?
  • Khoa Nội Tiết – Chuyển Hóa – Di Truyền
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ, Ngạn Ngữ Làng Cao Lao Hạ
  • Một Số Câu Thành Ngữ – Tục Ngữ Về Thời Tiết
  • Dự Báo Thời Tiết Qua Ca Dao, Tục Ngữ Của Người Việt Đồng Bằng Bắc Bộ
  • Nguyễn Thị Phương Loan

    Trường CĐSP Lạng Sơn

    Chủ nhật – 24/04/2016 02:36

    •  
    •  
    •  

    Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Phương Loan

    Nguồn tin: Phòng QLKH – CTĐN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Thày Không Bao Giờ Dạy Mà Sẽ Nhớ Suôt Đời
  • Tâm Tình Con Gái Miền Tây Qua Ca Dao Và Thi Ca
  • Dấu Ấn Thời Mở Đất Qua Ca Dao Nam Bộ
  • Cổng Chào Mừng Đảng
  • Tục Ngữ Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của
  • Con Trâu Trong Văn Học Dân Gian
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu
  • Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu
  • Ngày Xuân, Tản Mạn Về “Con Trâu” Trong Ca Dao Tục Ngữ
  • (Trần Thị Minh Thu, In trong ”

    Những vấn đề ngữ văn

    ” (Tuyển tập 40 năm nghiên cứu khoa học của Khoa VH&NN)

    Ngôn ngữ và văn hoá: “mối quan hệ biện chứng lẫn nhau”

    Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu âm thanh đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người; ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hóa – lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nghiên cứu ngôn ngữ nói chung dưới góc độ văn hóa đã trở nên phổ biến trong giới ngôn ngữ học hiện nay, hướng tiếp cận ngôn ngữ – văn hóa không chỉ có ý nghĩa về mặt nghiên cứu, khoa học mà nó còn đem lại nhiều giá trị về mặt nhận thức, thực tiễn.

    Ca dao là một trong những thể loại tiêu biểu của văn học dân gian Việt Nam. Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt, trước đây, người ta còn gọi ca dao là phong dao bởi vì có nhiều bài ca dao đã phản ánh những phong tục, tập quán của từng địa phương, của từng thời đại lịch sử. Có nhiều định nghĩa khác nhau về ca dao nhưng tựu trung lại, chúng ta có thể định nghĩa ca dao như sau: Ca dao là những bài văn vần do nhân dân sang tác tập thể, được lưu truyền bằng miệng và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân.

    Trong khi lao động vất vả, thấy đàn cò trắng cùng nhau sum họp, người nông dân lại cất lên những câu ca dao trữ tình, thắm thiết:

    Một đàn cò trắng bay quanh

    Cho loan nhớ phượng, cho mình nhớ ta

    Mình nhớ ta như cà nhớ muối

    Ta nhớ mình như Cuội nhớ trăng.

    Sự đoàn tụ của đàn cò là hình ảnh ẩn dụ cho niềm mong ước được gần gũi và tâm tình với nhau của những người lao động chất phác, hiền lành. Trong con mắt của người lao động thời xưa, con cò và những con chim đồng loại với nó như con bồ nông, con hạc, con vạc có tình bạn thắm thiết với nhau, chúng túm tụm sum họp với nhau đều có sự gần gũi với cảnh tình của người nông dân. Số phận “con cò lặn lội bờ sông” cũng tựa như số phận những con người lao động ngày đêm vất vả lao động để làm ra hạt thóc hạt gạo thế nhưng lại hẩm hiu, bèo bọt

    Con cò mày đi ăn đêm,

    Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao,

    -Ông ơi ông vớt tôi nao,

    Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

    Có xáo thì xáo nước trong,

    Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

     

    Nước non lận đận một mình,

    Thân cò lên thác, xuống ghềnh bấy nay.

    Những câu cao dao trên đều rất kín đáo, ý nhị, tác giả dân gian không hề đả động gì đến con người và cũng không nhắc đến giá trị lao động của học nhưng chúng ta đều ngầm hiểu cái “thân cò” ấy chính là than phận người nông dân sớm nắng chiều mưa, đầu tắt mặt tối. Hình ảnh “con cò” không gì khác ấy chính là hình ảnh những người nông dân Việt Nam muôn đời, những con người cần cù, chăm chỉ, chất phác, kiên cường, luôn bền bỉ nhẫn nại cả trong lao động sản xuất lẫn trong đấu tranh chống những thế lực đàn áp mình.

    Ai làm cho bể kia đầy,

    Cho ao kia cạn, cho gầy cò con.

    Cái cò là cái cò con,

    Mẹ đi xúc tép, để con ở nhà,

    Mẹ đi một quãng đồng xa,

    Mẹ sà chân xuống, phải mà con lươn,

    Ông kia có chiếc thuyền nan,

    Chở vào ao rậm, xem lươn bắt cò..

    Ông kia chống gậy lò dò,

    Con lươn tụt xuống, con cò bay lên…

    Trong xã hội phong kiến Việt Nam, ngoài nghề nông, người dân còn làm nghề buôn, nghề thủ công. Không kể người dân ở bất kỳ ngành nghề gì, bọn giai cấp thống trị tham lam, độc ác, chúng không vơ vét, bóc lột tận xương những người dân khốn khổ.

    Cái cò cái vạc cái nông

    Ba cái cùng béo, vặt lông cái nào!

    Vặt lông cái vạc cho tao!

    Hành, răm, nước mắm bỏ vào mà thuôn.

    Chúng sẵn sàng bóc lột, tra tấn thậm chí là giết chóc nhẫn tâm có khi chỉ vì một lí do cỏn con

    Cái cò cái vạc cái nông

    Sao mày dẫm lúa nhà ông, hỡi cò?

    Không không tôi đức trên bờ

    Mẹ con các diệc đổ ngờ cho tôi!

    Chẳng tin ông đứng mà coi

    Mẹ con nhà nó còn ngồi ở kia.

                Người dân lao động trong cái xã hội ấy bị rẻ rúm đến mức chết cũng chẳng nguyên vẹn, toàn thây. Cái chết tang thương ấy có khi lại thành trò, món béo bở cho bọn nanh độc.

    Con cò chết rũ trên cây,

    Bồ cu mở lịch xem ngày làm ma.

    Cà cuống uống rượu la đà,

    Bao nhiêu cóc nhái nhảy ra chia phần,

    Chào mào thì đánh trống quân,

    Chim chích mặc quần vác mõ đi rao…

    Nhưng trong các bài ca dao của mình, không phải lúc nào hình ảnh “con cò” cũng dung để ví von với những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân mà các tác giả dân gia cũng có khi dung “con cò” để nói về những kẻ xấu như: những kẻ hay ăn quà như “con cò kỳ”; những kẻ hay đánh vợ như “con cò quăm”. Chẳng hạn như trong câu ca dao sau:

    Cái cò là cái cò quăm,

    Mày hay đánh vợ, mày nằm với ai?

    -Có đánh thì đánh sớm mai

    Chớ đánh chập tối, chẳng ai cho nằm!

    Lời ca dao tuy để châm biếm, trách móc, giễu cợt nhưng cũng dí dỏm, hài hước nhẹ nhàng; đúng tinh thần nhân ái của người dân Việt

    -Có đánh thì đánh sớm mai

    Chớ đánh chập tối, chẳng ai cho nằm!

    Như vậy, qua những câu ca dao trên, chúng ta thấy rằng người dân lao động thời xưa đã mượn hình ảnh con cò để nói về cuộc sống của chính mình, dùng hình ảnh con cò để “gợi hứng, để tỏ sự mong muốn của mình, nói lên những đức tính của mình, nông nỗi khổ cực của mình và cả những thói xấu của mình nữa”. Tiêu biểu như những câu ca dao như sau:

    Cái bống cõng chồng đi chơi

    Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng.

    Chú lái ơi, cho tôi mượn cỗ gầu sòng,

    Tôi tát nước cạn cho chồng tôi lên.

     

    Cái bống mặc xống ngang chân

    Lấy chồng kẻ chợ cho gần xem voi

    Các con vật khác

    Trong ca dao Việt Nam, ngoài hình ảnh con cò, cái bống là những hình ảnh tiêu biểu, chúng ta còn bắt gặp những hình ảnh của các con vật khác – những hình ảnh ẩn dụ cho người dân lao động thời xưa như: con nhện, con tằm, con tép, con tôm, con tép, con cua, con cóc,con gà, con rùa, con tò vò, con cá, con chim, ong, bướm, loan phượng… Mượn những hình ảnh quen thuộc của làng quê, người dân muốn gửi gắm vào trong những tôm tép, con tằm, con nhện.. ấy những tâm tư, tình cảm của chính mình. Chẳng hạn như những câu ca dao như sau:

    Thương thay thân phận con rùa

    Trên đình đội hạc, dưới chùa đội bia.

     

    Lươn ngắn lại chê trạch dài

    Thờn bơn méo miệng, chê trai lệch mồm.

     

    Xa xôi dịch lại cho gần,

    Làm thân con nhện mấy lần vương tơ.

    Chuồn chuồn mắc phải tơ vương,

    Nào ai quấn quýt thì thương cho cùng.

     

    Có nên thì nói là nên

    Chẳng nên sao để đấy quên đây đừng

    Làm chi cho dạ ngập ngừng,

    Đã có cà cuống thì đừng hạt tiêu.

     

    Cá trong lờ đỏ hoe con mắt,

    Cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô.

    Tung tăng như cá trong lờ,

    Trong ra không được ngoài ngờ là vui.

    3. Biểu tượng “CÂY”

    Cây trúc, cây mai

    Hình ảnh trúc, mai là những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt và cũng xuất hiện rất nhiều lần trong ca dao. Tác giả dân gian nhắc đến trúc, mai; nhưng không phải để tả thực cây trúc cây mai, cũng không phải bàn chuyện trúc mai phong cảnh, mà họ mượn mai, trúc để nói về con người.

    Thân em như tấm lụa đào

    Dám đâu xé lẻ vuông nào cho ai

    Em vin cành trúc, em tựa cành mai

    Đông đào tây liễu biết ai bạn cùng.

    Trong ca dao, khi trúc đứng một mình, thường đó là biểu tượng cho người con gái xinh đẹp, thướt tha, duyên dáng:

    Trúc xinh trúc mọc bờ ao

    Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh

    Hình ảnh trúc mai quấn quýt bên nhau chính là ẩn dụ cho tình cảm đôi lứa thắm thiết, mặn nồng của người dân lao động

    Hôm qua sum họp trúc mai

    Tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm.

     

    Đêm qua nguyệt lặn về tây

    Sự tình kẻ đấy, người đây còn dài…

    Trúc với mai, mai về, trúc nhớ

    Trúc trở về, mai nhớ trúc không?

    Bây giờ kẻ Bắc người Đông

    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư!

    Mượn hình ảnh trúc mai, tác giả dân gian khéo léo lột tả nhiều cung bậc cảm xúc, tình cảm của những đôi lứa yêu nhau.

    Có khi đó là lời nhắn nhủ, niềm hy vọng

    Đợi chờ trúc ở với mai,

    Đợi chờ anh ở với ai chưa chồng.

    Cũng có khi đó là tâm trạng vui mừng, hân hoan:

    Trầu này trúc, cúc, mai, đào,

    Trầu này thục nữ anh hào sánh đôi

    Có khi nó thể hiện ước mơ sum họp của tình yêu

    Bao giờ sum họp trúc mai

    Lòng nguyền kết tóc lâu dài trăm năm

    Đó cũng là tâm tình gửi gắm

    Có lòng tạc một chữ vàng

    Thiếp đưa duyên lại đôi đàng cậy anh

    Tìm nơi trúc tốt mai xanh

    Tìm nơi bóng cả lắm ngành dựa nương.

    Lòng lại dặn lòng dù non mòn biển cạn

    Dạ lại dặn dạ dù đá nát vàng phai

    Dù cho trúc mọc thành mai

    Em cũng không xiêu lòng lạc dạ, nghe ai phỉnh phờ

    Cũng có khi mai trúc tượng trưng cho nỗi buồn của con người

    Lênh đênh chiếc bách giữa dòng,

    Thương than góa bụa, phòng khi lỡ thì.

    Gió đưa cây trúc ngã quỳ

    Ba năm trực tiết, còn gì là xuân!

    Cũng có khi đó là những lời trách móc, giận hờn nhau

    Những là lên miếu xuống nghè

    Để tôi đánh trúc, đánh tre về trồng.

    Tưởng rằng nên đạo vợ chồng.

    Nào ngờ nói thế mà không có gì

    Như vậy, hình ảnh trúc, mai trong ca dao Việt Nam thường được dùng để ví với đôi bạn trẻ, cho tình yêu lứa đôi. Mượn hình ảnh trúc, mai, người dân xưa đã khéo léo nói lên tâm trạng của chính mình một cách tinh tế, ý nhị.

    Các loại cây khác

    Bên cạnh hình ảnh cây trúc, cây mai, trong ca dao, ông bà ta còn lấy hình ảnh các loại cây, trái, quả khác để tượng trưng cho người dân lao động như: quế, hương, mận, đào, cây đa, cây tùng, cây xoan đào, cây liễu, chanh, cam, lê lựu, gừng, bòng, cau trầu….

    Hai bên bên liễu bên đào

    Mặc tình ý bạn thương bên nào thì thương.

     

    Bao giờ cho chuối có cành,

    Cho sung có nụ cho cành có hoa.

     

    Già thời bế cháu đỡ con,

    Già đâu lại ước cau non trái mùa.

    – Già nay ước những của chua

    Cau non trái mùa già vẫn muốn ăn

    Quý chi một nải chuối xanh

    Nam bảy người giành cho mủ dính tay

     

    Vên vên cứng, dành dành cũng cứng

    Mù u tròn, trái nhãn cũng tròn.

    Vàng thau tuy lộn một bồn

    Anh là tay thợ lựa lòn phải ra.

    4. Một số hình ảnh  ẩn dụ khác trong ca dao Việt Nam

    Trong ca dao, chúng ta còn bắt gặp rất nhiều hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam được các tác giả dân gian sử dụng rất khéo và tinh tế để tượng trưng cho người dân lao động, để gửi gắm những tâm tư, tình cảm thầm kín của họ vào những câu ca dao mượt mà, đằm thắm, trữ tình.

    Đó có khi là hình ảnh thuyền bến, bờ sông

    Em thương ai nấp bụi nấp bờ

    Sớm trông đò ngược, tối chờ đò xuôi

    Thuyền anh đậu bến lâu rồi

    Sao em chưa xuống mà ngồi thuyền anh.

     

    Một thuyền một bến một dây

    Ngọt bùi ta hưởng đắng cay chịu cùng.

     

    Đói lòng ăn nắm lá sung,

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    Một thuyền một lái chẳng xong

    Một chĩnh đôi gáo còn nong tay vào.

    Có khi đó là hình ảnh của mây, núi, gió, trăng

    Vì mây cho núi lên trời

    Vì cơn gió thổi hoa cười với trăng

    Vì chuôm cho cá bén đăng

    Vì tình nên phải đi trăng về mờ

     

    Chim xanh ăn trái xoài xanh

    Ăn no tắm mát đậu cành cây đa.

    Cực lòng em phải nói ra,

    Chờ trăng, trăng xế, chờ hoa, hoa tàn.

    Có khi đó lại là những hình ảnh rất mộc mạc của hạt gạo, nước cà, bát sứ, bát đàn, của gối chăn, gương lược

    Chăn kia nửa đắp nửa hờ,

    Gối kia nửa đợi nửa chờ duyên em

     

    Tiếc thay hột gạo trắng ngần

    Đã vo nước đục lại vần than rơm

    Tiếc thay hột gạo tám xoan

    Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà.

     

    Có bát sứ tình phụ bát đàn

    Nâng niu bát sứ vỡ tan có ngày

     

    Trách người quân tử bạc tình

    Có gương mà để bên mình biếng soi.

    Có khi ấy là giếng nước, mảnh chĩnh, cái chuông

    Tiếc thay cái giếng nước trong

    Để cho bèo tấm, bèo ong lọt vào.

     

    Khen ai khéo đúc chuông chì,

    Dáng thì có dáng, đánh thì không kêu.

     

    Chuông khánh còn chẳng ăn ai,

    Nữa là mảnh chĩnh bỏ ngoài bờ tre.

    Chuông khánh còn chẳng ăn chè,

    Nữa là mảnh chĩnh rò rè ăn xôi.

    Hình ảnh cây đa, con đò cũng là một biểu tượng cho tình yêu đôi lứa

    Trăm năm đành lỗi hẹn hò

    Cây đa bến cũ con đò khác đưa

    Như vậy, trong ca dao chúng ta thường bắt gặp những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam như trầu, cau, lan, huệ, trúc, mai, nhài… Tác giả dân gian không mấy khi nói đến hình ảnh trúc mai, lan huệ để tả thực cây trúc, cây mai mà ở đây mai, trúc… đã trở thành những biểu tượng thân thương nhằm thể hiện con người – người lao động bình dân với những tình cảm tha thiết, chân thành, mộc mạc mà rất đỗi ân tình. Ẩn dụ này trong ca dao Việt Nam cũng gắn liền với những đặc trưng tiêu biểu của nền văn minh lúa nước. Những hình ảnh rất đỗi quen thuộc và dung dị của làng quê Việt: những thuyền, bến, những cây đa, mái đình, giếng nước; những con cò, cái bống, con trâu, con nghé, con cá, con tằm; những hoa sen, hoa cúc, hoa hồi; những con ong, cánh bướm… đã bước ra từ làng quê mộc mạc, đơn sơ đi vào những câu ca dao đằm thắm và trở thành những hình ảnh ẩn dụ tinh tế – những biểu tượng trữ tình, gợi cảm – cho những con người lao động chất phác, hiền lành mà chan chứa thương yêu, ân tình sâu sắc. Họ đã mượn những hình ảnh gần gũi, quen thuộc để giãi bày, để tâm sự, để gửi gắm và sẻ chia những tâm sự thầm kín trong lòng; tất cả những tình cảm ấy đậm đà qua từng vần ca dao, nó da diết mà vẫn kín đáo, ý nhị; thể hiện rõ nét văn hóa tinh tế trong đời sống tinh thần của người dân Việt.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    A.       SÁCH

    1. Bùi Mạnh Nhị (chủ biên), Văn học Việt Nam văn học dân gian những tác phẩm chọn lọc (Tái bản lần thứ tư), NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2004.
    2. Bùi Mạnh Nhị (chủ biên), Văn học Việt Nam văn học dân gian những công trình nghiên cứu (Tái bản lần thứ tư), NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2003.
    3. Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Phong cách học tiếng Việt (Tái bản lần thứ sáu), NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2006.
    4. Mã Giang Lân (tuyển chọn và giới thiệu), Tục ngữ ca dao Việt Nam, NXB. Văn học, Hà Nội, 2009.
    5. Nguyễn Thiện Giáp, Giáo trình ngôn ngữ học, NXB. ĐHQG Hà Nội, 2008.
    6. Nhiều tác giả, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (Tái bản lần thứ tư), NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2001.
    7. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam (Tái bản lần thứ hai), NXB. Giáo dục, Hà Nội, 1999.
    8. Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (Tái bản lần thứ mười lăm có sửa chữa và bổ sung), NXB. Văn học, Hà Nội, 2007.

    B.       WEBSITES

    1. http://www.vanhoahoc.edu.vn/content/view/1607/37/: Phan Mậu Cảnh

    ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA, CỘI NGUỒN VĂN HÓA VÀ SỰ THỂ HIỆN CHÚNG TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT

    1. www.thivien.net
    2. www.google.com
    3. www.wikipedia.com: ca dao dân ca Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”
  • 36 Cụm Thành Ngữ Tiếng Hàn Dễ Thuộc Nhất
  • Học Tiếng Hàn Qua Những Câu Thành Ngữ, Tục Ngữ Hay
  • Một Số Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô
  • Bắc Ninh Đất Miền Cổ Tích
  • Có Ai Biết Ca Dao Tục Ngữ Về Bà Rịa Không?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Vũng Tàu núi lớn, vũng sâu

    Khoan xuống một cái là dầu trào lên.

    – Đường về đất đỏ miền Đông

    Cao su bao lá hận lòng bấy nhiêu.

    – Trần gian địa ngục là đây

    Đồn điền Đất Đỏ nơi Tây giết người.

    Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Ðiền

    Anh thương em cho bạc cho tiền

    Ðừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay

    Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

    Anh có thương em, xin sắm một con đò

    Ðể em qua lại mua cò gởi thơ

    Con cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    Nàng về nuôi cái cùng con

    Ðể anh đi trẩy nước non Cao Bằng

    Học trò xứ Quảng ra thi

    Thấy cô gái Huế chân đi không đành

    Ðèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Ðèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi mười thu em cũng chờ

    Ðồng Ðăng có phố Kỳ Lừa

    Có nàng Tô thị có chùa Tam Thanh

    Ai lên xứ Lạng cùng anh (Lạng Sơn)

    Bõ công bác mẹ sinh thành ra em

    Tay cầm bầu rượu nắm nem

    Mảng vui quên hết lời em dặn dò

    Ðèn nào sáng bằng đèn Sa Ðéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    Thương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

    Ðồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

    Muốn ăn bôn súng mắm kho

    Thì vô Ðồng Tháp ăn no đã thèm

    Gió đưa cành trúc la đà

    Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương

    Gió đưa tàu chuối la đà

    Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương

    Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

    Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua

    Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng

    Trai bạc tình một cẳng về quê

    Gò Công giáp biển, nổi tiếng mắm tôm chà

    Mắm tôm chua ai ai cũng chắt lưỡi hít hà

    Saigon, chợ Mỹ ai mà không hay

    Sông Vàm Cỏ nước trong thấy đáy

    Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng

    Ai về Mỹ Thuận, Tiền Giang

    Có thương nhớ gã đánh đàn năm xưa ?

    Lục tỉnh có hạt Ba Xuyên

    Bạc Liêu chữ đặt, bình yên dân rày

    Mậu Thìn vốn thiệt năm nay

    Một ngàn hai tám, tiếng rày nổi vang

    Phong Thạnh vốn thiệt tên làng

    Giá Rai là quận, chợ làng kêu chung

    Anh em Mười Chức công khùng

    Bị tranh điền thổ, rùng rùng thác oan…

    Nhà Bè nước chảy chia hai

    Ai về Gia Ðịnh, Ðồng Nai thì về

    Phượng hoàng đậu nhánh vông nem

    Phải dè năm ngoái cưới em cho rồi

    Ngã tư Chợ Gạo nước hồi

    Tui chồng mình vợ còn chờ đợi ai

    Trầu Bà Ðiểm xé ra nửa lá

    Thuốc Gò Vấp hút đã một hơi

    Buồn tình gá nghĩa mà chơi

    Hay là anh quyết ở đời với em?

    Gió nào độc bằng gió Gò Công

    Sông nào nông bằng sông Châu Đốc

    Nhị Hà quanh Bắc sang Đông

    Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này !

    Ngó lên trời mây bay vần vũ,

    Ngó xuống âm phủ đủ mặt bá quan,

    Ngó lên Nam Vang thấy cây trăm thước,

    Nhìn sông Trước thấy sóng bủa lao xao,

    Anh thương em ruột thắt gan bào,

    Biết em có thương lại chút nào hay không?

    Dưa La, cà Láng, nem Bảng, tương Bần, nước nắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét

    Nem Thủ Đức, bưởi Biên Hòa

    Ai vô Quảng Nam cho tôi gửi mua đôi ba lượng quế

    Ai ra ngoài Nghệ cho tôi gởi mua tám chín lượng sâm

    Đem về nuôi dưỡng phụ thân

    Hai ta đền đáp công ơn sinh thành.

    Anh về Bình Định ở lâu

    Chiều chiều em đứng vườn dâu ngó chừng

    Hai hàng nước mắt rưng rưng

    Chàng xa thiếp cách, ngang chừng muốn băng

    Phụ mẫu nhà la dức rầm rầm

    Cơm sao ngơ ngáo, làm không muốn làm

    Bởi vì chưng thiếp bắc chàng nam

    Giơ tay không nổi, còn làm việc chi

    Ra đi anh nhớ Nghệ An,

    Nhớ Thanh Chương ngon nhút, nhớ Nam đàn thơm tương.

    “Yến sào Vinh Sơn

    Cửu khổng cửa Ròn

    Nam sâm Bố Trạch

    Cua gạch Quảng Khê

    Sò nghêu quán Hàn…

    Rượu dâu Thuận Lý…”

    Ước gì anh lấy được nàng,

    Để anh mua gạch Bát Tràng về xây.

    Xây dọc rồi lại xây ngang,

    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

    Đừng thủy thì tiện thuyền bè

    Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang

    --- Bài cũ hơn ---

  • 38 Câu Thành Ngữ Trong Tiếng Anh Dễ Nhớ Nhất Với Người Việt
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Món Ăn, Ăn Uống, Ẩm Thực
  • Ca Dao Tục Ngữ Trong Ẩm Thực Việt Nam Pot
  • Ca Dao, Tục Ngữ 3 Miền Vn
  • Bài Văn Mẫu Nghị Luận Xã Hội: Thời Gian Là Vàng Bạc, Văn Mẫu Lớp 7, Tu
  • Có Ai Có Câu Ca Dao+Tục Ngữ Nào Về Lòng Yêu Nước Không ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Cô Giáo, Thầy Giáo Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Câu Nói Bất Hủ Của 15 Vị Anh Hùng Dân Tộc Qua Các Thời Đại
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Văn Hóa
  • Lời Phật Dạy Về 4 Người Bạn Tốt, Không Phải Dễ Tìm
  • Tuyển Tập 40 Dòng Stt Ý Nghĩa & Danh Ngôn Nói Về Con Người Hay
  • giặc đến nhà đàn bà cũng đánh

    Nhiều lắm bạn ơi. Trâu ta ăn cỏ đồng ta, Đừng ham cỏ tốt ăn qua đồng người. Hàng ta, ta bận cũng tươi, Ham chi hàng ngoại, kẻ cười người chê. Trường Nghĩa Thục đứng đầu dạy dỗ Khắp ba mươi sáu phố Hà Thành Gái trai nô nức học hành Giáo sư mấy lớp, học sinh mấy ngàn Buổi diễn thuyết người xem như hội Kỳ bình văn khách tới như mưa Nôm quốc ngữ, chữ hán thư Bài ca yêu nước, câu thơ hiệp đoàn Trong chín tháng, sóng tràn gió đập Tiếng Đông Kinh lừng khắp Đông Dương Khắp đâu đâu cũng học trường Cùng nhau đua bước lên đường văn minh… … Trời đang buổi nắng mưa tầm tã Dấn thân mình đứng giữa cơn dông Cả gan cho biết anh hùng Hỏi xem mấy mặt trong vòng trần ai. Trăng rằm sáng cả đồng xan, Có chồng nhập ngũ duyên lành đẹp sao. Thà rằng uống nước hố bom, Còn hơn theo giặc, lưng khom, chân quỳ Tay bắt tay, chung lòng chung sức Quyết diệt thù cứu quốc bạn ơi Lòng em khôn tỏ hết lời Kìa gương phấn dũng rạng ngời nước non. Tấc đất tấc vàng, Một góc giang san, Một dòng máu đỏ. Quyết tâm không bỏ Một mảnh đất hoang, Trồng bắp, trồng lang, Tăng nguồn lương thực Ru hời, ru hỡi là ru Cha con còn ở chiến khu chưa về. Con ơi ! Nhớ trọn lời thề Tự do, Độc lập, không nề hy sinh. Ô Loan nước lặng như tờ, Thương người chiến sĩ dựng cờ Cân vương (1) Trải bao gối đất nằm sương, Một lòng vì nước nêu gương anh hùng. Nghèo thì ăn sắn ăn khoai? Ai ơi đừng có theo loài Pháp gian Hải Vân cao ngất từng mây, Giặc đi đến đó bỏ thây không về.

    Các câu ca dao tục ngữ của ta nói về lòng yêu nước rất nhiều, các bạn trên cũng đã nói khá đầy đủ. Một câu ca dao hay tục ngữ khi đọc lên, nó nhắc nhở cho ta nhiều điều, phải không bạn? Xin hơi lạc đề một chút, khi nói về quê hương, về lòng yêu nước, chắc người Việt ai ai cũng nhớ bài thơ Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt, vị anh hùng đời Tống của nước ta, nó dậy lên sôi sục lòng yêu nước, tôi xin chép lại bốn câu thơ đầy khí phách và bất hủ của ông: Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Dịch là: Sông núi nước Nam, vua Nam ở Rành rành định phận tại sách trời Cớ sao bọn giặc sang xâm phạm, Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời

    Nói về lòng yêu nước thì trong Ca Dao Việt Nam có rất nhiều. Tuy nhiên theo bạn hỏi – tôi hiểu là bạn cần câu ấn tượng, hoặc tiêu buểu nhất – Xin mách bạn một câu mà theo tôi là tuyệt vời: “Nhiễu điều phủ lấy giá gươm. Người trong một nước phải thương nhau cùng.” Ngoài ra bạn tìm trong “Ca dao tục ngữ ” của Nguyễn văn Ngọc hoặc của Vũ ngọc Phan.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Cap Hay Về Tình Bạn Hài Hước 2022 Đáng Để Bạn Sưu Tầm
  • Những Câu Nói Hay Bằng Tiếng Anh Về Tình Yêu Đẹp & Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Bá Đạo Của Giới Trẻ Về Tình Yêu Cuộc Sống Hài Hước Nhất Trên Facebook
  • Tải Hình Ảnh Tết Trung Thu Đẹp Về Điện Thoại
  • Stt Buồn Em Nhớ Anh, Em Lại Khóc Rồi
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Ca Dao Tục Ngữ Bình Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Hay Nhất
  • ‘Bình Định nón Gò Găng

    Bún Song thần An Thái

    Lụa Đậu tư Nhơn Ngãi

    Xoài Tượng chín Hưng Long

    Mặc ai mơ táo ước hồng

    Tình quê em giữ một lòng trước sau.

    Bình Định có hòn Vọng Phu

    Có đầm Thị Nai có Cù Lao Xanh.

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa.

    1.Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.

    2.Bình Định có núi Vọng Phu Có Đầm Thị Nại có Cù Lao xanh.

    3.Công đau công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

    4.Mẹ ơi đừng đánh con đau Để con đánh trống hát tuồng mẹ nghe.

    5.Ai về Bịnh Định mà coi Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.

    6.Ai về Bình định thăm bà Ghé vô em gởi lạng trà Ô long. Trà Ô long nước trong vị ngọt Tình đôi mình như đọt mía lau chúng tôi đi bờ lở một mình Phất phơ chéo áo giống hình trò

    Ba Trò Ba đi học trường xa

    Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi

    8.Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cá nghiên anh đồ.

    Tiếng đồn Bình Định tốt nhà Phú Yên tốt lúa, Khánh Hoà tốt trâu

    .Công đâu công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    .Em về Đập Đá quê cha Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê chồng

    13.Anh về Đập Đá , Gò găng Bỏ em kéo vải sáng trăng một mình Tiếng ai than khóc nỉ non Vợ chàng lính thú trèo hòn Cù Mông

    14.Chiều chiều én liệng Truông Mây Cảm thương Chú Lía bị vây trong thành

    15.Non Tây áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

    16.Cây Me cũ, Bến Trầu xưa Dẫu không nên tình nghĩa cũng đón đưa cho trọn niềm

    17.Ngó vô Linh Đỗng mây mờ Nhớ Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây

    18.Hầm Hô cữ nước còn đầy Còn gương phấn dũng , còn ngày vinh quang

    19.Bình Định có đá Vọng Phu Có đầm Thị Nại có Cù lao Xanh Lụa Phú Phong nên duyên nên nợ Nón Gò găng khắp chợ mến thương

    20.Bên kia sông, quê anh An Thái Bên này sông, em gái An Vinh Thương nhau chung dạ chung tình Cầu cha mẹ ưng thuận cho hai đứa mình lấy nhau

    21.Cưới nàng đôi nón Gò Găng Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn Ai về Tuy Phước ăn nem Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm

    22.Rượu ngon Trường Thuế mê li Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi sao đành

    23.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Gi Sông xanh, núi cũng xanh rì Vào Nam, ra Bắc ai cũng đi con đường này Nghìn năm gương cũ còn đây Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu – Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi Dễ chi nhân ngãi mà rời được nhau

    24.Tháp kia còn đứng đủ đôi Cầu còn đủ cặp huống cho tôi với nường ( nàng) Suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Thiếp ngồi dệt vải chỉ mong bóng chàng Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu Ôm đàn gảy khúc Cầu hoàng Thiếp xin gõ nhịp để chàng lựa dây Bao giờ rừng quế hết cây Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình Dừa xanh sừng sững giữa trời Đem thân mà hiến cho đời thuỷ chung

    25.Muốn ăn bánh ít nhân mè Lấy chồng Hòa Đại đạp chè thâu đêm Muốn ăn bánh ít nhân tôm Lấy chồng Hòa Đại ăn cơm củ mì

    26.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di Sông xanh núi cũng xanh rì Vào Nam ra Bắc cũng đi đường này chúng tôi về Phù Mỹ nhắn nhe Nhắn chị bán chè sao vậy chẳng lên?

    Anh về dưới vạn thăm nhà

    Ghé vô em gởi lạng trà Ô Long

    chúng tôi về Bình Định thăm cha Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em

    29.Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông

    30.Khéo khen con tạo trớ trêu

    Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ

    32.Ai về thăm cảnh An Khê

    Sông Ba chồng nhớ vợ nhà Sông Côn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100