Thơ Truyện Mầm Non Đồng Dao Ca Dao Thành Ngữ Tục Ngữ

--- Bài mới hơn ---

  • Lời Phật Dạy Về Sự Khoan Dung
  • 31 Stt Anh Em Hay, Stt Hay Về Anh Em Kết Nghĩa Giang Hồ
  • 8 Lời Chúc Cho Người Mang Bầu
  • Quan Niệm Về Gia Đình Hạnh Phúc Của Người Việt Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • 42 Stt Hay Về Sinh Viên, Status Thời Sinh Viên Ý Nghĩa Nhất
  • Không vứt rác ra đường:

    Cái bánh có lá gói

    Quả chuối cỏ rất trơn Dẫm phải là ngã luôn Nhớ bỏ vào thùng rác. Vũ Thị Minh Tâm

    Chổi ngoan:

    Sáng ra chổi đã quét nhà

    Chiều chiều chổi lại cùng bà quét sân Ước gì bé lơn thật nhanh Để bé cùng chổi quét sân đỡ bà.

    Vũ Thị Minh Tâm

    Hoa kết trái:

    Hoa cà tim tím Hoa mận trắng tinh Hoa mướp vàng vàng Rung rinh trước gió Hoa lựu chói trang Này các bạn nhỏ Đỏ như đốm lửa Đừng hái hoa tươi Hoa vừng nho nhỏ Hoa yêu mọi người Hoa đỗ xinh xinh Nên hoa kết trái.

    Bé quét rác:

    Keng! Keng! Keng Tiếng kẻng rất quen Của bác quét rác Đó là bác nhắc Tất cả mọi nhà Mang hết rác ra Cho bác đi đổ Tối nào cũng nhớ Hễ nghe tiếng kẻng Vội cùng mẹ em Đến bên xe rác Mẹ cùng với bác Chất rác lên xe Xe rác đầy ghê Bác còng lưng đẩy Và em nhìn thấy Bác đẫm mồ hôi Nhưng bác vẫn cười Vì đường phố sạch.

    Hoàng Thị Dân.

    Cây dây leo:

    Ngoài cửa sổ Lên trời cao Ra ngoài trời Tắm nắng gió

    Ghi nhớ:

    Sáng nay chủ nhật Bé không đến trường Mẹ cha yêu thương Cho đi dạo phố Bé vào bách thú Thấy chú khỉ ngồi Vẻ mắt không vui Hai tay bưng trán Bé liền chạy đến Gọi: Chú khỉ ơi? Hôm nay đệp trời Sao không chạy nhảy? Khỉ liền vẫy vẫy Chỉ bé đằng kia Vứt chuối, vứt nho Khắp vườn bừa bãi Lại còn lấy gậy Chọc cả vào người Chắc bé quen rồi Lời cô nhắc nhở Bạn ơi ghi nhớ Làm sạch môi trường Việc làm thường xuyên Hàng ngày của bé. Hoàng Thị Dân.

    Chuyện bé Bin:

    Bin có một cái rác Không biết vứt vào đâu Chỉ cho Bin thùng rác Để Bin vứt vào thùng Không vứt rác lung tung Thi đua làm việc tốt Để giữ sạch môi trường. Trần Bích Hà. – Thỏ bông bị ốm: Thỏ bông bị ốm Chốc chốc kêu la Miệng cứ xuýt xoa: Mẹ ơi đau quá ! Thỏ mẹ vội vã Bé Bông trên tay Đến bệnh viện ngay Nhờ bác sĩ khám Bác sĩ sờ nắn Thỏ Bông thều thào Đau quanh chỗ rốn Bác sĩ liền hỏi Ăn uống gì nào? Thỏ Bông thều thào: Ăn me với sấu Uống nước chưa nấu Múc ở ngoài ao Bụng sôi ào ào Ruột đau như cắt Bác sĩ gật gật Đặt chiếc ống nghe Nghe song liền ghi: Đau vì ăn bậy.

    Tâm sự của bức tường:

    Sân trường em:

    Sân trường mát sạch Nhờ bác lao công Ngày ngày quét dọn Em cũng góp phần Giữ sân trường sạch Này các bạn ơi Cùng ra sân chơi Ta cùng lượm lá.

    Vệ sinh môi trường:

    Chơi ở sân trường Thấy lá vàng rơi Vung vãi khắp nơi Cùng đi nhặt lá Bỏ vào trong giỏ Sạch sẽ sân trường Trong sạch môi trường Em luôn hít thở Cơ thể khỏe mạnh Học giỏi, chăm ngoan.

    Thỏ nâu và thỏ trắng:

    Thỏ Nâu ăn kẹo Vứt giấy khắp nơi Thỏ Trắng nhẹ nhàng Nhặt từng chiếc giấy Thấy mình có lỗi Thỏ Nâu dọn ngay Này các bạn thỏ Đừng như thỏ Nâu Hãy như thỏ Trắng Giữ vệ sinh chung

    Bé tự bảo vệ sức khỏe:

    Mùa hè nóng bức Ra đường bé đội Chiếc nón nhỏ vào Gặp cơn mưa rào Bé dùng ô nhỏ Khi trời trở gió Tiết trời lạnh lên Bé luôn giữ ấm Cho thân thể khỏe.

    Bé ngoan:

    Bé biết giữ vệ sinh Áo quần luôn gọn sạch Tay chân không dơ bẩn Có rác bỏ vào thùng Không xả rác lung tung Và khi đi tiểu tiện Vào đúng nhà vệ sinh Không ăn uống linh tinh Như quả xanh nước lã Chỉ ăn khi quả chín Uống nước đã đun sôi Bánh kẹo ăn ít thôi Cho hàm răng xinh đẹp. Quang Thị San.

    Thư của bé:

    Bé ngoan:

    Trung thu sáng quá bạn ơi Chị Hằng, chú Cuội cùng ngồi gốc đa Hai người vui vẻ chia quà Tặng bầy sao nhỏ cả nhà vui chung. Hà Nội bé cũng ngắm trăng Bên hồ Hoàn Kiếm chị Hằng thấy không? Rước đền, phá cỗ múa lân Vỉa hè, sân bãi tung tăng nô đùa Không vứt lá, không bày bừa Bánh kẹo, hoa quả xuống hồ, bồn hoa Môi trường trong sạch của ta Bé cũng phải giữ mới là bé ngoan.

    Chuyện của bạn Bi:

    Đông về gió rét căm căm Bi đi học muộn quên khăn mất rồi Vậy mà Bi vẫn mải chơi Nhảy dây, đánh đáo mặc trời gió đông Sau giờ học, chơi nhông nhông Kéo co, bịt mắt mãi không về nhà Chẳng nghe lời dặn mẹ cha Tối về Bí sốt, họng đà xưng to Hôm sau Bi vẫn nằm co Đã phải nghỉ học còn ho suốt ngày Cô dặn bé nhớ làm ngay: Chớ theo bạn ấy có ngày ốm to.

    2.3. Trò chơi: Dựa vào nhịp điệu bài đồng dao trong trò chơi dân gian tôi đã đặt lời mới một số trò chơi dân gian.

    Lộn cầu vồng: Lời tự biên

    Dung dăng dung dẻ: Lời tự biên.

    Dung dăng dung dẻ Vui vẻ cùng chơi Giờ chơi đến rồi Xếp nhà, xếp cửa Trồng cây, bán quả Dỗ bé chăm ngoan Khi hết giờ chơi Nhanh tay cất dọn Đồ chơi xếp gọn Cất thật nhẹ nhàng Mới là bé ngoan

    Trò chơi về thời tiết và khí hậu: Giúp trẻ nhận biết đặc điểm của một số hiện tượng thời tiết.

    + Giáo viên hoán đổi thứ tự các câu hô, cho trẻ phản ứng theo hiệu lệnh.

    Trò chơi Nước biển dâng: Cung cấp cho trẻ biết biến đổi khí hậu làm băng tan, nước biển dâng lên làm ngập, mất nơi sinh sống của con người và các loài vật.

    + Chia trẻ thành các nhóm từ 5-8 trẻ. Cô phát cho mỗi nhóm một tờ báo.

    + Luật chơi: Tất cả trẻ của mỗi nhóm phải đứng dẫm chân đủ trên tờ báo

    được thò chân ra ngoài vì xung quanh là biển, nếu thò chân ra sẽ bị ngã xuống biển.

    + Cô mời một số trẻ làm trọng tài, xem đội nào sống an toàn khi đất liền bị thu hẹp do nước biển dâng lên.

    + Cô lần lượt hô: Băng đang tan, nước biển dâng len và làm ngập 1/4 đất

    liền.

    + Cho trẻ trọng tài gấp 1/4 tờ báo lại và quan sát xem trẻ của nhóm đó đứng an toàn trên khu đất còn lại

    + Cô tiếp tục hô như trên và cho trẻ trọng tài gấp báo lại và quan sát trẻ của các nhóm đứng an toàn trên khu đất liền còn lại, đội nào có bạn thò chân ra ngoài trước sẽ bị thua cuộc.

    Trò chơi: Phân loại: Giúp trẻ nhận biết và phân biệt các hành động góp phần gây ra biến đổi khí hậu và các hành động có tác dụng ứng phó với biến đổi khí hậu. Trẻ biết được đâu là hành động nên hay không nên.

    + Cô chuẩn bị sẵn cho mỗi đội những hình ảnh về hành động góp phần gây ra biến đổi khí hậu như: đốt rừng, chặt phá rừng, đi ô tô, đi xe máy, đốt rác đốt than, xả khí thải, chặt phá rừng… và hình ảnh về hành động có tác dụng ứng phó với biến đổi khí hậu như: phân loại rác, tái chế rác, tiết kiệm điện, đi xe đạp, sử dụng các phương tiện công cộng, dùng bóng đèn compac….

    + Cô đặt yêu cầu cho mỗi đội: Đội 1 tìm hành động có tác dụng ứng phó với biến đổi khí hậu. Đội 2 tìm hành động gây ra biến đổi khí hậu.

    + Cô cho 2 đội thi đua tìm ra các hành động nên làm và không nên làm.

    – Trò chơi: Trời mưa

    + Mục đích: Luyện phản xạ nhanh cho trẻ.

    + Chuẩn bị: Một cái xắc xô, một số ghế xếp hình vòng cung, cái nọ cách cái kia 30- 40 cm, mỗi trẻ phải trốn vào một gốc cây. Ai không tìm được gốc cây phải ra ngoài một lần chơi.

    + Cách chơi: Mỗi cái ghế là 1 gốc cây. Trẻ chơi tự do hoặc vừa đi vừa hát: Trời nắng, trời nắng thỏ đi tắm nắng…Khi cô ra lệnh: Trời mưa và gõ trống dồn dập thì trẻ phải chạy nhanh để tìm cho mình một gốc cây trú mưa (ngồi vào ghế). Ai chạy chậm không có gốc cây phải ra ngoài một lần chơi.

    Trò chơi: Mưa to, mưa nhỏ:

    + Mục đích: Luyện phản xạ nhanh cho trẻ.

    + Chuẩn bị: 1 cái xắc xô

    + Cách chơi: Trẻ đứng trong phòng. Khi nghe thấy cô gõ xắc xô to, dồn, dập, kèm theo lời nói: Mưa to. Trẻ phải chạy nhanh lấy tay che đầu. Khi cô gõ xắc xô nhỏ, thong thả và nói: Mưa tạnh. Trẻ chạy chậm, bỏ tay xuống. Khi cô dừng tiếng gõ thì tất cả đúng im tại chỗ.(cô gõ lúc nhanh, lúc chậm để trẻ phản ứng nhanh theo nhịp)

    Trò chơi: Nhảy qua con suối:

    + Mục đích: Rèn luyện sự khéo léo, tự tin, phản xạ nhanh của trẻ.

    + Chuẩn bị: Vẽ một con suối nhỏ, có chiều rộng 35 – 40 cm. Một số bông hoa bằng nhựa

    + Cách chơi: Một bên suối để các bông hoa rải rác. Cho trẻ đi lại nhẹ nhàng trong nhóm, nhảy qua suối hái hao trong rừng. Khi nghe hiệu lệnh: nước lũ tràn về . Trẻ phải nhanh chóng nhảy qua con suối chạy về nhà. Ai hái được nhiều hoa là người thắng cuộc, ai thua sẽ phải hát hoặc đọc thơ theo yêu cầu.

    2.4. Câu chuyện: Tôi đã sáng tác một số câu chuyện để kể cho trẻ, nhằm mục đích giáo dục trẻ bảo vệ môi trường góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu.

    – Chủ đề thực vật :

    Truyện: Nỗi đau của lá

    ( Tự sáng tác)

    Các bạn ạ, tôi là một chiếc lá. Tôi mọc ra từ cành của một cây rất to lớn. Hàng ngày tôi vươn mình đón ánh nắng mặt trời làm cho màu sắc của tôi càng thêm xanh mát và tôi thở ra rất nhiều khí ôxi làm cho không khí trong lành. Tôi rất vui vì hàng ngày có rất nhiều bạn nhỏ vui đùa dưới bóng mát của chúng tôi. Vậy mà một hôm có một bạn nhỏ đã dùng một chiếc gậy rất dài đập vào tôi và các bạn của tôi, làm cho chúng tôi bị rách hết cả. Tôi không còn là một chiếc lá xinh đẹp như ngày nào nữa. Tôi cảm thấy rất buồn vì có một số bạn nhỏ đã không biết yêu quý, bảo vệ chúng tôi. Một thời gian sau tôi và các bạn của tôi đã bị héo hết và rụng xuống. Thế là các bạn nhỏ không còn bóng mát để vui chơi nữa. Các bạn ạ tôi rất mong các bạn hãy yêu quý chúng tôi, hãy chăm sóc và bảo vệ chúng tôi vì chúng tôi góp phần rất lớn làm cho môi trường của các bạn trong lành đấy.

    – Chủ đề động vật:

    Truyện: Bạn cá vàng đáng thương

    (Tự sáng tác)

    Chú cá vàng xinh xắn sống trong một hồ nước rất trong xanh của công viên giữa thành phố. Hàng ngày cá vàng tung tăng bơi lội khắp hồ ngắm nhìn các bạn nhỏ vui chơi trong công viên. Thỉnh thoảng vui quá cá vàng lại quăng mình lên khỏi mặt nước khiến các bạn nhỏ chơi quanh hồ nhìn thấy rất thích thú. Nhưng thời gian gần đây không ai còn nhìn thấy cá vàng nữa. Suốt ngày cá vàng chỉ quanh quẩn ở một góc hồ, nó không còn bơi lội thoả thích như trước nữa. Vì trong hồ có rất nhiều rác thải nhất là vỏ bánh kẹo, túi ni lông, rác thải do những người đi chơi công viên ném xuống hồ. Một ngày cá vàng cảm thấy trong mình không được khoẻ, nó cảm thấy khó thở quá. Nó biết chắc mình không còn sống được bao lâu nữa vì nước trong hồ đã bị ô nhiễm quá nặng. Thế rồi một ngày kia cá vàng cảm thấy mình nhẹ bẫng, người nó dần dần nổi lên mặt nước, nhưng nó không bơi được nữa mà đã vĩnh viễn lìa xa cuộc đời.

    – Chủ đề trường mầm non:

    Truyện: Đồ chơi của ai

    ( Tự sáng tác)

    Gửi bởi in Tags: Hà Vũ Thế giới của bé, Trò chơi mầm non, doc truyen bảy con quạ, doc truyen co tich viet nam, doc truyen co tich viet nam hay nhat, doc truyen co tich viet nam mp3, doc truyen hoa phụng tiên Truyện kể mầm non

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Bài Thơ Báo Hiếu Cha Mẹ Hay Nhất Các Bạn Nên Chia Sẻ
  • Chọn Status Về Hoa Hay Nhất Để ‘mượn Hoa Tỏ Tình’ Với Người Thương
  • 10 Điều “chuẩn Không Cần Chỉnh” Nói Về Người Thanh Hoá
  • Tuyển Chọn Những Tấm Thiệp Chúc Mừng Sinh Nhật Bạn Trai Kèm Lời Chúc Ngọt Ngào Dễ Thương Nhất
  • 99 + Stt Tiếng Anh Tâm Trạng Buồn Chán Cô Đơn Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Những Bài Ca Dao Dành Cho Trẻ Mầm Non Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Thơ, Ca Dao Tục Ngữ Về Hà Nội
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Dân Chủ Và Kỷ Luật, Công Bằng Xã Hội Hay Nhất
  • Dạy Thành Ngữ, Tục Ngữ Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Tổng Hợp Thành Ngữ, Tục Ngữ, Ca Dao Theo Chủ Đề
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Gia Đình, Tình Cảm Gia Đình
  • Tại sao nên đọc ca dao, tục ngữ cho trẻ mầm non?

    Ca dao là những bài thơ ca dân gian tuyền miệng, là những câu hát không theo điệu nhất định. Thể thơ phổ biến nhất của ca dao là thơ lục bát dễ thuộc, dễ nhớ.

    Tục ngữ là những câu ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu dễ nhớ nhằm diễn đạt trọn vẹn ý nghĩa về kinh nghiệm, tri thức của dân gian.

    Việc đọc những bài ca dao dành cho trẻ mầm non có thể đem lại nhiều lợi ích to lớn đối với quá trình phát triển của trẻ, điển hình là:

    • Thúc đẩy sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Với vần điệu nhịp nhàng, dễ nhớ, các bài ca dao cho trẻ mầm non là sự lựa chọn tuyệt vời để bố mẹ tạo điều kiện cho trẻ tập phát âm, đồng thời phát triển vốn từ vựng.
    • Giáo dục nhân cách cho trẻ. Những bài ca dao, tục ngữ không chỉ có vần điệu vui tai, dễ nhớ mà còn ẩn chứa nhiều thông điệp có giá trị giáo dục cao như dạy trẻ biết vâng lời ông bà, bố mẹ, quý mến bạn bè, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống…
    • Kích thích khả năng quan sát của trẻ. Thông qua các bài ca dao, tục ngữ, trẻ sẽ quan sát, chú ý nhiều hơn và tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh mình.

    Tổng hợp những bài ca dao dành cho trẻ mầm non

    Chủ đề thiếu nhi

    Gần thầy, gần bạn tập tành lễ nghi.

    Học hành cách vật chí tri,

    Văn chương, chữ nghĩa nghĩ gì cũng thông.

    Ấy là chữ hiếu ở trong luân thường.

    Chữ đễ có nghĩa là nhường,

    Nhường anh, nhường chị, lại nhường người trên.

    Ghi lòng tạc dạ chớ quên,

    Con em phải giữ lấy nền con em.

    Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân.

    Yêu nhau như thể tay chân,

    Anh em hoà thuận hai thân vui vầy.

    Học buôn học bán cho tày người ta.

    Con đừng học thói chua ngoa,

    Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười.

    Dù no, dù đói cho tươi,

    Khoan ăn, bớt ngủ, liệu bài lo toan.

    Phòng khi đóng góp việc làng,

    Đồng tiền bát gạo lo toan cho chồng.

    Trước là đắc nghĩa cùng chồng,

    Sau là họ mạc cũng không chê cười.

    Con ơi, nhớ bấy nhiêu lời !

    Hạt thông lại nở cây thông rườm rà.

    Có cha sinh mới ra ta,

    Làm nên thời bởi mẹ cha vun trồng.

    Khôn ngoan nhờ ấm cha ông,

    Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ.

    Đạo làm con, chớ hững hờ,

    Phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm.

    Anh đi cắt lúa để chung một nhà

    Đem về phụng dưỡng mẹ cha,

    Muôn đời tiếng hiếu người ta còn truyền.

    Đồ ăn thức mặc có ngần thì thôi.

    Những người đói rách rạc rời,

    Bởi phụ của trời làm chẳng nên ăn.

    Bây giờ em đã lớn khôn thế này.

    Cơm cha áo mẹ chữ thầy,

    Lo sao cho bõ những ngày ước ao.

    Cha mẹ hiền lành để đức cho con.

    Mừng cây rồi lại mừng cành,

    Cây đức lắm chồi, người đức lắm con.

    Ba vuông sánh với bảy tròn,

    Đời cha vinh hiển, đời con sang giàu.

    Chủ đề gia đình

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Một lòng thờ mẹ kính cha

    Cho tròn chữ “Hiếu” mới là đạo con.

    Đố ai đếm được công lao mẹ già.

    Đói lòng ăn hột chà là

    Để cơm cho mẹ,mẹ già yếu răng.

    Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân

    Yêu nhau như thể tay chân

    Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy.

    Chủ đề học tập

    Biết điều nhân nghĩa biết đàng hiếu trung.

    Cũng thành vô dụng cũng hoài ngọc đi.

    Biết điều hơn thiệt biết lời thị phi.

    Học cho đến mực anh hùng mới thôi.

    Cũng nhờ học tập mọi đường mọi hay

    Nghề gì đã có trong tay

    Mai sau rồi cũng có ngày ích to.

    Vừa hành vừa học mới thành người khôn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Skkn Công Tác Quản Lý Chỉ Đạo Lồng Ghép Đồng Dao, Ca Dao, Tục Ngữ Vào Chương Trình Giáo Dục Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Sưu Tầm Ca Dao Tục Ngữ Địa Phương
  • Vận Dụng Đặc Điểm, Cấu Tạo Và Ngữ Nghĩa Của Thành Ngữ Địa Phương Thanh Hóa Vào Tiết Học Ngữ Văn Lớp
  • Hãy Nêu Các Câu Ca Dao , Tục Ngữ Nói Về Đoàn Kết , Tương Trợ Câu Hỏi 42214
  • Phân Biệt Thành Ngữ, Tục Ngữ
  • 105 Thành Ngữ Thông Dụng Trong Tiếng Anh
  • Sáng kiến kinh nghiệm

    ” Công tác quản lý chỉ đạo lồng ghép đồng dao, ca dao, tục ngữ vào

    chương trình giáo dục mầm non”

    Người thực hiện đề tài: Trần Thị Thanh Thủy

    Đạt SKKN cấp tỉnh năm học 2012- 2013

    MỞ ĐẦU

    A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    1. Đặt vấn đề

    Chúng ta thật đáng tự hào về nền văn hóa của dân tộc Việt nam. Trong đó phải

    kể đến đồng dao, ca dao, tục ngữ Việt nam. Nó là một loại hình nghệ thuật đặc sắc,

    mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Đây là thể loại văn học dân gian được truyền

    miệng từ đời này qua đời khác và chuyển tiếp qua nhiều thế hệ. Cội nguồn của ca

    dao, đồng dao, tục ngữ xuất phát từ cuộc sống lao động. Nó xuất hiện rất sớm trong

    lịch sử loài người. Bởi vậy nên nó gắn bó với con người và trở thành nhu cầu không

    thể thiếu trong cuộc sống thường ngày của nhân dân.

    Đồng dao, ca dao, tục ngữ phản ánh cuộc sống lao động của con người bằng

    những hình tượng văn học nghệ thuật chứa dựng bao tâm tư, nguyện vọng, bao niềm

    vui, nổi buồn và khát vọng, ước mơ trong cuộc sống.

    Tuổi ấu thơ của mỗi chúng ta đi qua đều được nuôi dưỡng bằng đôi dòng sữa

    mẹ, được ru ngủ bằng những bài đồng dao, ca dao đã được phổ nhạc thành những

    làn diệu dân ca qua lời ru của bà, của mẹ. Điệu ru ca dao ấy với âm hưởng tiếng mẹ

    là cánh tay yêu thương âu yếm ôm ấp, vỗ về, là tấm chăn ấm áp ấp ủ, là làn gió mát

    dịu dàng thoảng qua. Nó mang ước vọng trang bị tâm thức cho trẻ thơ từ khi vừa

    mới bắt đầu chào đời, thấm nhuần dần dần cách ăn, lối ở, hiểu biết cách cư xử, trau

    dồi ý chí và nghị lực, để khi trưởng thành có thể sống trong thanh thản, an bình và

    hạnh phúc. Khi còn nằm trong tao nôi là thế, còn khi đứa trẻ lên hai, ba tuổi, các trò

    1

    Sáng kiến kinh nghiệm

    chơi có gắn với lời, nội dung của bài đồng dao đã cuốn hút các em một cách thích

    thú. Đồng dao, ca dao, tục ngữ ngấm vào cảm xúc tuổi thơ của mỗi người như một

    lẽ tự nhiên. Bởi vậy, khi lớn lên, mỗi khi chứng kiến trẻ nhỏ diễn xướng đồng dao,

    chúng ta đều cảm thấy mình như trẻ lại, những ký ức thời thơ ấu lại tái hiện mang lại

    cho ta cảm giác yêu đời và gợi lại những kỷ niệm đẹp đẽ khó quên về một thời thơ

    ấu hồn nhiên, vô tư, thánh thiện, chẳng bao giờ trở lại. Ấn tượng về những bài đồng

    dao thật sâu sắc đối với mỗi con người. Nội dung của các bài đồng dao không chỉ là

    đơn giản, dễ hiểu, dễ thuộc mà còn phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ về nhận

    thức cũng như các hoạt động vui chơi khác. Ngôn từ của đồng dao gần gũi với cách

    nói vần vè, giàu nhịp điệu của ngôn ngữ nhi đồng. Nhiều bài đồng dao có lối kết cấu

    vòng tròn, trẻ có thể đọc đi, đọc lại nhiều lần mà không chán, không kết thúc. Ví dụ

    như bài: “Lúa ngô là cô đậu nành”; ” Tu hú là chú bồ các”…

    Đồng dao, ca dao, tục ngữ có chức năng thoả mãn nhu cầu vui chơi của các

    em nhỏ, do lời đồng dao gắn với trò chơi, ca dao gắn với lời bài hát và tục ngữ là

    những lời thơ đa màu sắc của cuộc sống xung quanh trẻ.

    Với những đặc điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật như vậy, đồng dao, ca

    dao, tục ngữ thực sự là một món ăn tinh thần thực sự không thể thiếu được đối với

    trẻ thơ. Song hiện nay, số lượng của các bài đồng dao, ca dao, tục ngữ được tuyển

    chọn trong chương trình giảng dạy cho trẻ mầm non còn quá hạn chế. Đặc biệt, nội

    dung chưa đủ phục vụ cho các chủ điểm giáo dục trẻ mầm non. Do vậy, khi chỉ đạo

    thực hiện chương trình mầm non hiện hành giáo viên gặp rất nhiều khó khăn về tài

    liệu, lúng túng về phương pháp.

    Từ những lý do trên, nên bản tôi chọn đề tài nghiên cứu” Công tác quản lý

    chỉ đạo lồng ghép đồng dao, ca dao, tục ngữ vào chương trình giáo dục mầm

    non”

    2. Mục đích nhiên cứu

    2

    Sáng kiến kinh nghiệm

    Khảo sát việc lång ghÐp ®ång dao, ca dao, tôc ng÷ vµo trong c¸c ho¹t ®éng cña

    trẻ hằng ngày ở trường Mầm Non ®Ó biÕt ®ưîc c¸c h¹n chÕ khi thưc hiÖn. Từ đó t×m

    ra gi¶i ph¸p tèi ưu gãp phÇn ®ưa ®ång dao, ca dao, tôc ng÷ vµo chư¬ng tr×nh gi¸o dôc

    mÇm non mét c¸ch phong phó và đa dạng hơn.

    3. NhiÖm vô nghiªn cøu:

    – Nghiªn cøu c¸c vÊn ®Ò lý luËn liªn quan ®Õn ®Ò tµi.

    – T×m hiÓu thùc tr¹ng ở đơn vị.

    – Tõ chç nghiªn cøu lý luËn vµ thùc tr¹ng để t×m ra c¸c gi¶i ph¸p h÷u Ých nhÊt.

    – Rót ra kÕt luËn.

    4. Phạm vi nghiên cứu:

    Đång dao, ca dao, tôc ng÷ Việt nam dành cho lứa tuổi mầm non trong các nhà

    trường.

    5. Phư¬ng ph¸p nghiªn cøu:

    Nghiªn cøu c¸c tµi liÖu vÒ lý thuyÕt.

    §iÒu tra lËp b¶ng thèng kª

    LËp kÕ ho¹ch chØ ®¹o

    KiÓm tra ®¸nh gi¸ kÕt qu¶ thùc nghiÖm.

    B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI CẦN NGHIÊN CỨU

    1. C¬ së lý luËn:

    1.1. C¬ së khoa häc:

    Giáo dục mầm non là cơ sở ban đầu cho sự hình thành và phát triển toàn diện

    về thể chất, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ và các kỹ năng giao tiếp cơ bản hằng ngày của

    trẻ. Nó góp phần hình thành nhân cách con người mới – Con người Việt nam xã hội

    chủ nghĩa. Bước đầu làm nền tảng, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1 vững vàng.

    Để làm tốt điều đó đòi hỏi người quản lý cần phải xây dựng kế hoạch cụ thể,

    chỉ đạo chương trình dạy học một cách chặt chẽ, khoa học. Khâu quản lý chỉ đạo

    không chỉ dừng lại ở góc độ thực hiện chương trình khung do bộ giáo dục đào tạo

    ban hành mà đòi hỏi người quản lý phải sáng suốt, lựa chọn vạch ra kế hoạch các

    3

    4

    Sáng kiến kinh nghiệm

    ứng với yêu cầu sự nghiệp giáo dục mầm non trong thời đại hiện nay. Chất lượng

    lồng ghép đồng dao, ca dao, tục ngữ vào chương giáo dục đạt kết quả cao hay thấp là

    phụ thuộc vào công tác chỉ đạo của người quản lý chuyên môn. Công tác chỉ đạo đó

    không ngoài việc chỉ đạo lồng ghép mềm dẻo, sáng tạo có khoa học và logich vào

    các chương trình hoạt động hàng ngày của giáo viên, việc xây dựng kế hoạch, việc

    thực hiện kiểm tra, đánh giá sự phát triển về giáo dục và phương pháp tích hợp lồng

    ghép ca dao, đồng dao, tục ngữ vào chương trình …

    Công tác đánh giá, khảo sát chất lượng giáo dục sau khi lồng ghép cũng là

    một vấn đề cần được quan tâm chú trọng. Có thể nói rằng đồng dao, ca dao tục ngữ

    có xích lại gần trẻ hơn hay không điều đó phụ thuộc rất nhiều vào sự chỉ đạo của

    người quản lý trường mầm non.

    1.2. C¬ së thực tiễn:

    Đồng dao, ca dao, tục ngữ đóng vai trò quan trọng trong đời sống trẻ thơ.

    Những bài đồng dao, ca dao có nội dung gần gũi, trẻ thường đọc khi vui chơi như

    các bài: ” Dung dăng dung dẻ”; ” Kéo cưa lừa xẻ”; Thả đĩa ba ba…

    Trẻ nhỏ có tâm hồn trong sáng, bay bổng, giàu tưởng tượng, giàu cảm xúc, ham hoạt

    động, thích vui chơi, thích có bầu bạn. Do đó, các em dễ hoà nhập vào tâm trạng của

    các nhân vật một cách hồn nhiên vô tư. Tác phẩm đồng dao đã thoả mãn nhu cầu: ”

    Chơi mà hoc, học mà chơi” của trẻ khi trẻ được thả hồn vào các trò chơi dân gian có

    gắn lời đồng dao, hoặc ngồi nghe những làn diệu dân ca êm đềm, sâu lắng được phổ

    nhạc lời của ca dao Việt nam.

    Ví dụ: Khi trẻ chơi trò chơi ” Rồng rắn lên mây ” hay trò chơi ” Thả đĩa ba ba” thì

    bản thân trẻ lúc đó không những hóa thân vào các nhân vật trong trò chơi mà trẻ còn

    được thõa mãm nhu cầu tâm sinh lý của lứa tuổi mầm non, được vui chơi nô đùa

    thõa thích, được khám phá, được làm quen với lời bài đồng dao…

    5

    Sáng kiến kinh nghiệm

    Như vậy chúng ta đễ nhận thấy rằng ca dao, đồng dao, tục ngữ luôn đồng hành

    sát cánh bên trẻ nếu như các nhà giáo dục thường xuyên tạo cơ hội cho trẻ làm quen,

    tiếp xúc…

    Trò chơi là phương tiện giáo dục và nó giữ vai trò quan trọng trong việc giáo

    dục trí tuệ cho trẻ. Đặc biệt là trò chơi dân gian, được gắn lời đồng dao lại càng thu

    hút sự hấp dẫn, cuốn hút trẻ một cách mê hồn. Trẻ chơi mà không biết chắn, lời đồng

    dao giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, trí nhớ, trí tưởng tượng… Rồi các làn điệu dân ca

    gắn lời ca dao cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển nhân cách của trẻ.

    Nó ăn sâu vào trong tiềm thức và mang theo trong cuộc đời đứa trẻ những nét đẹp

    tiềm ẩn của cuộc sống. Lúc lớn lên, đôi khi lục lại ký ức nhớ về tuổi thơ thì các bài

    đồng dao, ca dao, những câu tục ngữ lại hiện về.

    Thế nhưng trong thực tế ở trường mầm non thì việc trẻ được tiếp cận với các bài

    đồng dao, ca dao, tục ngữ còn có nhiều hạn chế. Số lượng bài còn ít, nội dung chưa

    phong phú, chưa dàn trải được ở tất cả các chủ điểm. Việc tổ chức cho trẻ chơi các

    trò chơi dân gian, hoặc nghe các làn điệu dân còn mang tính ước lệ, chưa đáp ứng

    với nhu cầu phát triển của trẻ. Hơn nữa vì số lượng bài trong chương trình quá ít nên

    việc giáo viên lựa chọn nội dung để đưa vào tích hợp cho các tiết hoạt động khó

    khăn. Vì thế các hoạt động của giáo viên đang rơi vào tình trạng cứng nhắc, khô

    khăn và rập khuôn. Điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy học ở trên

    lớp.

    2. Thực tr¹ng vÊn ®Ò:

    2.1.T×nh h×nh thùc tr¹ng:

    Đơn vị trường mầm non chúng tôi đóng trên địa bàn một xã thuần nông. Đời

    sống nhân dân còn thấp. Chủ yếu các hộ gia đình làm nghề nông. Nhận thức về quan

    điểm giáo dục trẻ đang còn hạn chế. Việc trẻ tiếp cận với đồng dao, ca dao, tục ngữ

    không được nhiều.

    6

    Sáng kiến kinh nghiệm

    Đời sống của môt bộ phận giáo viên còn khó khăn. Nhưng tất cả đều nhiệt tình

    trong công việc chăm sóc giáo dục trẻ.

    Trường đã được công nhận là trường mầm non công lâp, có hai điểm trường

    tương đối khang trang, sạch đẹp. Có môi trường thoáng mát rộng rãi, đồ dùng đồ

    chơi tương đối đầy đủ, đảm bảo điều kiện cho các cháu vui chơi sinh hoạt hàng

    ngày. Vì vậy nên khi thực hiện đề tài nay tôi đã gặp rất nhiều thuận lợi nhưng cũng

    không ít phần khó khăn.

    2.2. Kh¶o s¸t thùc tr¹ng:

    Trước khi thực hiện đề tài, tôi đã làm khảo sát một số nội dung đối với trẻ trên

    tất cả các khối lớp.

    *. Bảng khảo sát tỉ lệ đầu năm đối với khối nhà trẻ và mẫu giáo bé:

    TT

    NT

    Nội dung khảo sát

    Nội dung khảo sát

    Tỉ lệ %

    Số lượng bài

    Khả năng cảm thụ

    Khả năng đọc thuộc

    Trí nhớ

    Tình cảm, tình yêu

    Số lượng bài

    Khả năng cảm thụ

    Khả năng đọc thuộc

    Trí nhớ

    Tình cảm, tình yêu

    5

    quê hương đất nước,

    khảo sát

    quê hương đất nước,

    40%

    con người

    con người

    *. Bảng khảo sát tỉ lệ đầu năm đối với khói lớp nhỡ và khối lớp lớn:

    MGN

    Nội dung khảo sát

    Số lượng bài

    Khả năng cảm thụ

    Khả năng đọc thuộc

    Trí nhớ

    Tình cảm, tình yêu quê

    Nội dung khảo sát

    Số lượng bài

    Khả năng cảm thụ

    Khả năng đọc thuộc

    Trí nhớ

    Tình cảm, tình yêu quê

    Sáng kiến kinh nghiệm

    hương đất nước, con người

    55% hương đất nước, con người

    3. C¸c biÖn ph¸p thùc hiÖn:

    60%

    *. Biện pháp1: Sưu tầm tuyển chọn các các bài đồng dao, ca dao, tục ngữ phù

    hợp đưa vào chương trình giáo dục trường mầm non

    Hiện nay chương trình mầm non của bộ giáo dục và

    đào tạo ban hành được phân theo từng chủ điểm rất rõ ràng.

    Điều đó đã gợi mở cho tôi ý tưởng sưu tầm và tuyển chọn

    thêm các tác phẩm đồng dao phù hợp theo từng chủ điểm.

    Vì số lượng các bài đồng dao, ca dao, tục ngữ mà bộ giáo

    dục đưa vào chương trình giáo dục mầm non còn ít cho nên

    công việc sưu tầm, tìm kiếm của tôi là những bài đồng dao,

    ca dao, tục ngữ ngắn ngọn, đễ đọc, đễ hiểu phù hợp với các

    đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Với đa dạng và phong phú của

    thể loại này, tôi đã đọc

    rất nhiều tài liệu nghiên cứu về

    đồng dao, ca dao nhi đồng Việt nam cũng như tra cứu qua

    mạng Itenet nên đã nhặt lượm được rất nhiều thể loại bài.

    Sau khi đã tuyển chọn bài xong là công đoạn đánh máy vi

    tính và in ấn thành một tuyển tập đồng dao, ca dao, tục ngữ

    dành cho lứa tuổi mầm non được lưu hành nội bộ trong đơn

    vị nhà trường. Ví dụ chủ điểm “Thế giới động vật” tôi chọn

    các bài đồng dao, ca dao như sau:

    CON GÀ CỤC TÁC LÁ CHANH

    CÁI BỐNG ĐI CHỢ CẦU

    CON CHIM SÁO SẬU

    Con gà cục tác lá chanh

    CANH

    Con chim sáosậu

    Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi.

    Cái Bống đi chợ Cầu

    Ăn cơm nhà cậu

    Con chó khóc đứng khóc ngồi,

    Canh,

    Uống nước nhà cô

    Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng

    Con tôm đi trước củ hành

    Đánh vỡ bát ngô

    theo sau.

    Bà cô phải đền.

    Con cua lạch đạch theo

    8

    Sáng kiến kinh nghiệm

    hầu,

    CÁI KIẾN MÀY ĐẬU CÀNH ĐÀO

    CON CÔNG HAY MÚA

    Cái kiến mày đậu cành đào

    Con công hay múa,

    Leo phải cành cộc leo vào leo ra.

    Nó múa làm sao?

    Con kiến mày đậu cành đa

    Nó rụt cổ vào.

    Leo phải cành cộc, leo ra leo vào…

    Nó xòe cánh ra.

    Nó đậu cành đa,

    BA BÀ ĐI BÁN LỢN CON

    Nó kêu ríu-rít.

    Ba bà đi bán lợn con,

    Nó đậu cành mít,

    Bán đi chẳng được lon-xon chạy về.

    Nó kêu vịt chè.

    Ba bà đi bán lợn sề,

    Nó đậu cành tre,

    Bán đi chẳng được chạy về lon-

    Nó kêu bè muống.

    Nó đáp xuống ruộng,

    MÈO MÀ TRÈO CÂY CAU

    Nó kêu tầm vông.

    Con mèo mày trèo cây cau,

    Con công hay múa

    Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng

    nhà.

    Con vỎI con voi

    Chú chuột đi chợ đường xa.

    Con vỏi con voi

    Mua mắm mua muối giỗ cha chú

    Cái vòi đi trước

    mèo

    Hai chân trước đi trước

    CON CHIM MANH MANH

    Con chim manh manh,

    Nó đậu cành chanh,

    Tôi ném hòn sành,

    Nó quay lông-lốc.

    Tôi làm một chốc,

    Được ba mâm đầy,

    9

    Sáng kiến kinh nghiệm

    Ông thầy ăn một,

    Bà cốt ăn hai.

    Còn cái thủ, cái tai,

    Tôi đem biếu chúa.

    Chúa hỏi chim gì?

    Con chim chích chòe.

    …………………………

    ,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,

    Tục ngữ

    “Quạ tắm thì ráo

    Sáo tắm thì mưa”

    ……………….

    10

    Sáng kiến kinh nghiệm

    11

    Sáng kiến kinh nghiệm

    12

    Sáng kiến kinh nghiệm

    Khi nói tới đồng dao là nói đến những gì quen thuộc nhất trong cuộc sống hàng ngày

    của trẻ. Đồng dao mang tính chất truyền khẩu, bản thân trẻ đã thuộc sẵn những bài

    đồng dao qua làm quen thì khi chơi những trò chơi dân gian trẻ chơi rất đễ dàng. Do

    đó với những bài đồng dao phổ nhạc trẻ cũng sẽ thuộc nhanh chóng.

    *.Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch lồng ghép

    Khi nhà trường đã có một tuyển tập về chuyên đề ca dao, đồng dao, câu đố rồi

    thì kế hoạch chỉ đạo thực hiện như thế nào để có hiệu quả cao? Đó là câu hỏi đặt ra

    đòi hỏi chúng ta phải giải quyết.

    13

    Sáng kiến kinh nghiệm

    Trên cơ sở kế hoạch nhiệm vụ năm học các cấp đã chỉ đạo và kế hoạch thực

    hiện năm học của nhà trường. Từ đó xây dựng kế hoạch lồng ghép cho cả năm học

    theo tám chủ điểm; Kế hoạch cho từng chủ điểm; Kế hoạch tuần.

    Xây dựng thời gian lồng ghép. Cụ thể: Xây dựng chương trình chỉ đạo các

    khối lớp thực hiện vào mọi thời điểm trong ngày, ở mọi nơi mọi lúc. Đặc biệt vào là

    buổi sinh hoạt chiều giáo viên có thể cho trẻ làm quen, đọc thuộc lời và cũng có thể

    cho trẻ nghe những bài hát dân ca lời ca dao, đồng dao hoặc là tổ chức cho trẻ chơi

    các trò chơi dân gian..

    Ngoài ra tôi còn chỉ đạo giáo viên lồng ghép linh hoạt chuyên đề này vào các

    giờ hoạt động chung, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời…Thứ nhất để cho tiết học

    thêm sinh động, trẻ thêm hứng thú. Thứ hai làm tăng khả năng cảm nhận về các bài

    đồng dao, ca dao, tục ngữ nói riêng và cảm nhận về văn học nói chung.

    Chỉ đạo giáo viên các nhóm lớp xây dựng kế hoạch hoạt động và được nhà

    trường phê duyệt mới thực hiện. Hàng tháng giáo viên báo cáo kết quả thực hiện

    chuyên đề này. Qua đó Ban giám hiệu có cơ sở để theo dõi, kiểm tra và có biện pháp

    chỉ đạo kịp thời tốt hơn.

    Giao chỉ tiêu cho từng khối lớp với số lượng, chất lượng bài lồng ghép các bài

    đồng dao ca dao, tục ngữ thực hiện ở mỗi chủ điểm như sau:

    Số lượng bài

    TT

    Khối

    Đọc thuộc

    Nghe hát dân ca

    Chơi trò chơi dân gian

    Đạt tỷ lệ %

    lớp

    1

    NT

    1- 2

    1- 3

    1

    75% trở lên

    2

    MGB

    1- 3

    1- 3

    1- 2

    80 % trở lên

    3

    MGN

    2- 4

    2- 4

    2- 3

    85 trở lên

    4

    MGL

    3- 5

    3- 5

    3- 5

    90 trở lên

    14

    Sáng kiến kinh nghiệm

    – Dựa vào bảng giao chỉ tiêu này ban chỉ đạo có thể đi kiểm tra và đánh giá

    được tình hình hoạt động của các khối lớp bất cứ lúc nào trong tháng. Từ đó có thể

    điều chỉnh bổ sung kịp thời.

    – Chất lượng được giao gắn với chỉ tiêu thi đua của lớp, của cá nhân vào cuối

    năm học. Với hình thức đó giúp cho giáo viên luôn luôn cố gắng phấn đấu tìm tòi

    nhiều biện pháp trong thực hiện kế hoạch lồng ghép đồng dao, ca dao, tục ngữ vào

    các hoạt động ở các thời điểm trong ngày.

    *.Biện pháp 3: Thành lập ban chỉ đạo

    Để thuận lợi trong việc kiểm tra đôn đốc công việc chuyên môn nói chung và

    công việc lồng ghép chuyên đề ca dao, đồng dao, tục ngữ vào chương trình nói riêng

    có hiệu quả thì tôi đã mạnh dạn thành lập ban chỉ đạo ngay từ đầu năm học. Ban chỉ

    đạo gồm có 6 đồng chí . Trong đó hiệu trưởng là trưởng ban. Phó hiệu trưởng phụ

    trách chuyên môn là phó ban. Còn lại 4 người là các thành viên đại diện cho các

    khối (Khối Lớn; Nhỡ; Bé; Nhà trẻ và tổ Dinh dưỡng). Đây là lực lượng nòng cốt để

    phân công, điều hành, tổ chức và tham gia kiểm tra đánh giá các khối lớp. Lhi chọn

    các thành tôi đã chọn những giáo viên có năng lực về chuyên môn, có trình độ đạt

    chuẩn trở lên, có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín đối với đồng nghiệp, năng nổ nhiệt

    tình trong công tác. Các thành viên này đóng vai trò chủ đạo giống như là một tổ

    trưởng chuyên môn, nhằm để xây dựng kế hoạch hoạt động lồng ghép cho từng giai

    đoạn, từng quí, từng tháng, từng chủ điểm và cả từng tuần. Hàng tháng ban chỉ đạo

    sinh hoạt 01 lần, có đánh giá kết quả và bổ sung kế kế hoạch đề ra tiếp theo.

    *.Biện pháp 4: Công tác chỉ đạo nâng cao chất lượng

    Thực hiện phân loại giáo viên để có kế hoạch bồi dưỡng thích hợp. Đối với

    giáo viên có tay nghề còn non kém, cứng nhắc, ít vận dụng linh hoạt các bài đồng

    dao, ca dao, tục ngữ để tích hợp lồng ghép vào chương trình một cách phù hợp thì

    tôi đã có biện pháp phân công giáo viên dạy tốt về chuyên đề này để kèm cặp giúp

    họ tiến bộ hơn. Tôi thường xuyên chú trọng bồi dưỡng thêm phương pháp giảng dạy,

    15

    16

    17

    18

    19

    Sáng kiến kinh nghiệm

    viên giúp cho họ ôn luyện kiến thức, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giúp cho trẻ có

    chất lượng giáo dục tốt hơn trong việc cảm thụ về ca dao, đồng dao, tục ngữ.

    Đánh giá việc giáo lồng ghép chuyên đề qua khảo sát chất lượng. Vì thế khi đánh

    giá phải đánh giá đúng thực chất kết quả có được trong quá trình thực hiện. Khâu

    đánh giá diễn ra thường xuyên, liên tục qua việc kiểm tra, qua thăm lớp dự giờ và

    chủ yếu là qua việc khảo sát, đánh giá 2 lần trong năm học. Lần 1 khảo sát thực

    trạng vào tháng 10/2012.

    Lần 2 khảo vào tháng 4/2013, kết quả đạt được như sau:

    *. Đối với khối nhà trẻ và mẫu giáo bé:

    TT

    NT

    Nội dung khảo sát

    Nội dung khảo sát

    Số lượng bài

    Khả năng cảm thụ

    Khả năng đọc thuộc

    Trí nhớ

    Tình cảm, tình yêu quê

    Số lượng bài

    Khả năng cảm thụ

    Khả năng đọc thuộc

    Trí nhớ

    Tình cảm, tình yêu quê

    5

    hương đất nước, con người

    khảo sát hương đất nước, con người

    *. Đối với khối lớp nhỡ và khối lớp lớn:

    TT

    MGNHỠ

    Nội dung khảo sát

    Số lượng bài

    Khả năng cảm thụ

    Khả năng đọc thuộc

    Trí nhớ

    Tình cảm, tình yêu quê

    5

    hương đất nước, con người

    72%

    Nội dung khảo sát

    Số lượng bài

    Khả năng cảm thụ

    Khả năng đọc thuộc

    Trí nhớ

    Tình cảm, tình yêu quê

    hương đất nước, con người

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Con Cái Nuôi Dạy Con Cái, Giáo Dục Con Người
  • Sưu Tầm Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Gia Đình, Tình Cảm Gia Đình
  • Tổng Hợp Thành Ngữ, Tục Ngữ, Ca Dao Theo Chủ Đề
  • Dạy Thành Ngữ, Tục Ngữ Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Tổng Hợp Những Câu Đố Dành Cho Trẻ Mầm Non, 300 Câu Đố Hay

    --- Bài mới hơn ---

  • Kho Tàng Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín
  • Chùm Ca Dao Đặc Sắc Về Hà Nội
  • #1 Những Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Di Tích Lịch Sử Ở Hậu Giang
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Triết Lý Kinh Doanh Và Kinh Tế
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Heo
  • Tổng hợp những Câu đố dành cho trẻ mầm non 300 câu đố hay dành cho trẻ mầm non Câu đố dành cho trẻ mầm non Các câu đố dành cho bé yêu CÂU ĐỐ DÀNH CHO TRẺ MẦM NON Tuyển Chọn Câu Đố Dành Cho Trẻ Mầm Non Tuyển Tập Truyện, Thơ, Câu Đố Dành Cho Trẻ Mầm Non Tài liệu Câu đố dành cho trẻ mầm non

    Tổng hợp những Câu đố dành cho trẻ mầm non

    Câu đố 1 ; Bốn chân như bốn cột nhà

    Hai tai ve vẩy, hai ngà trắng phau

    Voì dài vắt vẻo trên đầu

    Trong rừng thích sống với mhau từng đàn.

    Là con gì ?

    Con voi – elephant

    Câu đố 2 ; Con gì nhảy nhót leo trèo

    Mình đầy lông lá nhăn nheo làm trò ?

    Con khỉ – monkey

    Câu đố 3 ; Con gì cổ dài

    ăn lá trên cao

    Da lốm đốm sao

    Sống trên đồng cỏ ?

    Hươu cao cổ – giraffe

    Câu đố 4 ; Con gì lông vằn mắt xanh

    Dáng đi uyển chuyển, nhe nanh tìm mồi

    Thỏ, nai gặp phải hỡi ôi !

    Muông thú khiếp sợ tôn ngôi chúa rừng ?

    Con hổ – tiger

    Câu đố 5 ; Con gì chạy thật là nhanh

    Có đôi sừng nhỏ giống cành cây khô ?

    Con hươu – stag

    Con sư tử – lion

    Câu đố 7 ; Sống trên đồng cỏ rộng

    Không đi, nhảy rất tài

    Đeo túi mềm trước ngực

    Địu con trên đường dài

    Là con gì ?

    Chuột túi – kangaroo

    Câu đố 8 ; Cũng gọi là chó

    Mà chẳng ở nhà

    Sống tận rừng xa

    Là loài hung dữ

    Là con gì ?

    Con chó sói – wolp

    Câu đố 9 ; Chuyền cành mau lẹ

    Có cái đuôi bông

    Hạt dẻ thích ăn

    Con gì thế nhỉ ?

    Con sóc – squirrel

    Câu đố 10 ;Con gì là loài ngựa

    Nhưng lông vằn trắng, đen

    ăn lá cây, cỏ dại

    Sống từng đàn đông vui ?

    Con ngựa vằn – zebra

    ` Câu đố 11 ; Đầu nhỏ mà có bốn chân

    Lưng đầy tên nhọn, khi cần bắn ngay.

    Là con gì ?

    Con nhím – porcupine

    Câu đố 12 ; Trên mình mặc áo hoa

    Leo trèo nhanh thoăn thoắt

    chỉ cần trong nháy mắt

    giấu mồi trên ngọn cây.

    Là con gì ?

    Con báo – panther

    Câu đố 13 ; Con gì luồn lách khắp nơi

    Gà mà sơ hở là xơi tức thì ?

    Con cáo – fox

    Câu đố 15 ; Con gì có bướu trên lưng

    Trời nắng, cổ khát vẵn băng dặm dài ?

    Con lạc đà – camel

    Câu đố

    2. Cái gì bật sang trong đêm

    Giúp cho nhà dưới, nhà trên sáng ngời?

    (Lamp)

    6. Người một nơi, tiếng một nơi

    Hễ tôi cất tiếng mọi người lắng nghe

    Là cái gì (Loa truyền thanh, đài)

    7. Một mẹ thường có sáu con

    Yêu thương mẹ sẻ nước non vơi đầy

    Là cái gì (bộ ấm chén)

    8. Miệng tròn, long tắng phau phau

    Đựng cơm, đựng thịt, đựng rau hàng ngày

    Là những thứ gì (bát, đĩa)

    9. Ai cầm cái chổi

    Chăm chỉ miệt mài

    Quét dọn hàng ngày

    Phố phường sạch sẽ

    10. Ai nơi hải đảo biên cương

    Diệt thù giữ nước coi thường khó khăn?

    22. Da có mà bọc trứng gà

    Bổ ra thơm phức cả nhà muốn ăn

    23. Hạt gì không nhuộm mà xanh

    Dẻo thơm, ngon lành ai cũng muốn ăn?

    23. Tên em cũng gọi là cà

    Mình tròn vỏ đỏ, chín vừa nấu canh?

    24. Tên em chẳng thiếu, chẳng thừa

    Chín vàng ngon ngọt, rất vừa lòng anh?

    27. Con gì đẹp nhất loài chim

    Đuôi xoè rực rỡ như ngàn cánh hoa

    28. Con gì trắng muốt như bong

    Nhìn ngắm ruột đồng thẳng cánh cò bay?

    29. Nhu nắm tơ tròn

    Lon ta lon ton

    Quẩn quanh bên mẹ

    Đôi chân tí xíu

    Chiếc mỏ tẻo teo

    Chiếp chiu, chiếp chiu

    33. Con gì thích các loài hoa

    Ở đâu hoa nở dù xa cũng tìm

    Cùng nhau cần mẫn ngày đêm

    Làm ra mật ngọt lặng im tặng người

    34. Lúc vươn cổ

    Lúc rụt đầu

    Hễ đi đâu

    Cõng nhà đi đó

    Là con gì?

    36. Mùa gì gió rét căm căm

    Đi học bé phải quàng khăn đi giày?

    Mùa gì cho lá xanh cây

    Cho bé them tuổi má hây hây hồng

    Mùa gì bé đón trăng rằm

    Rước đèn phá cố chị Hằng cùng vui

    Mùa gì phượng đỏ rực trời

    Ve kêu ra rả rộn ràng khắp nơi

    38. Mùa nào mưa bụi liti

    Đào mai đua nở bà đi hội chùa?

    Mùa nào ánh nắng dư thừa

    Bữa cơm thường có canhchua, quả cà.

    Mùa nào lắm thị, nhiều na

    Có hương cốm mới, có hoa cúc vàng?

    Mùa nào cỏ úa lá vàng

    Cả nhà quanh rá ngô rang thơm bùi?

    39. Cầu gì chỉ mọc sau mưa

    Lung linh bảy sắc bắc vừa tới mây?

    45. Có chân mà chẳng biết đi

    Có mặt phẳng lì cho bé ngồi lên

    Là cáig ì

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Cò
  • Con Trâu Trong Ngôn Ngữ Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Bất Công, Không Công Bằng
  • Chùm Thơ Rất Hay Về Hoa Sen Với Những Ý Thơ Và Ngôn Từ Tuyệt Đẹp
  • Nhưng Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Khoan Dung
  • ‘sốc’ Với Ca Dao, Tục Ngữ Tự Chế Của Giới Trẻ

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Dân Ca Việt Nam (Vần B)
  • Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Hay Và Ý Nghĩa
  • Danh Ngôn Về Âm Nhạc
  • Danh Ngôn Về Lòng Vị Tha
  • Những Câu Nói Hay Trong Tiếng Anh Về Tình Bạn
  • Một nữ SV hí hửng khoe áo của mình với dòng chữ “Yêu anh mấy núi cũng trèo – Mấy sông cũng lội, thấy anh nghèo thì thôi”.

    Một nữ SV hí hửng khoe áo của mình với dòng chữ “Yêu anh mấy núi cũng trèo – Mấy sông cũng lội, thấy anh nghèo thì thôi”.

    Sử dụng những câu ca dao tục ngữ bị biến dạng, những câu danh ngôn, câu nói nổi tiếng bị cắt xén… đang là “mốt” của giới trẻ hiện nay.

    “Lúc đầu mình mới nhìn áo của hai cô nàng mình cứ nghĩ đó là “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền…”, thế nhưng nhìn kỹ thì mới ngỡ ngàng khi lời Bác Hồ dạy đã được thay bằng “Không có việc gì khó – chỉ sợ mình không liều – Không có việc gì khó, chỉ sợ tiền không nhiều”, Lan Anh, nữ SV trường ĐH Tài chính Marketing kể.

    Lan Anh cho biết “Đây là hiện tượng rất đáng báo động của giới trẻ. Các bạn có thể thỏa sức sáng tạo, tuy nhiên làm biến dạng những câu nói nổi tiếng, những câu danh ngôn hay ca dao tục ngữ là điều không nên”.

    Huy Tuấn, SV trường ĐH quốc tế RMIT thì không khỏi bất ngờ trước nhóm bạn cùng lớp thường đồng phục đến lớp với quần jean và áo thun in dòng chữ trước ngực: “Học, học nữa, học mãi. Đuối thì nghỉ”. “Chẳng hiểu các bạn ấy nghĩ gì nữa, một câu nói nổi tiếng của một vị lãnh tụ như Lê Nin lại trở thành như vậy”, Tuấn thở dài.

    “Đúng là áo có chất lượng vải không tốt tí nào, nhưng chúng mình vẫn rất thích vì có in những câu nói độc đáo như vậy. Những câu “ca-rao” tục ngữ được “chế biến” như vậy nghe thật vui”, một nữ SV hí hửng khoe áo của mình với dòng chữ “Yêu anh mấy núi cũng trèo – Mấy sông cũng lội, thấy anh nghèo thì thôi”.

    Theo SV này, hiện có rất nhiều bạn trẻ sử dụng những loại áo in ca dao tục ngữ bị biến dạng kiểu này. “Mình mặc, mấy bạn thấy hay hay thế là mua theo, ở lớp mình hiện nay nhiều bạn khoái những dòng chữ như thế này lắm”, nữ SV này cho biết thêm.

    …Và trên mạng xã hội

    Cộng đồng mạng chính là nơi tập trung nhiều nhất những câu nói dạng này. Thử truy cập trên hơn 500 trang Facebook khác nhau của các thành viên là những bạn trẻ, không khỏi bất ngờ khi hầu hết đều chế những câu tục ngữ, ca dao đăng tải trên trang cá nhân của mình. Có thể kể những câu đại loại như “Yêu em mấy núi cũng trèo – Khi em mang bụng mấy đèo anh cũng dông”, “Ta về ta tắm ao ta – Sảy chân chết đuối có người nhà vớt lên”, “Cá không ăn muối cá ươn – Không có xe xịn thôi đừng yêu em”…

    “Những câu ca dao được chế lại như thế này nghe ngồ ngộ rất hay, nhờ vậy mà lượt truy cập cũng như bạn bè vào “thăm” trang của mình càng nhiều”, chủ blog cá nhân này cho biết. Bạn cũng khoe còn rất nhiều câu ca dao, tục ngữ “độc” hơn nhiều, nào là “Bầu ơi thương lấy bí cùng – Mai sau có lúc nấu chung một nồi”, “Môi hở…vì răng hô”, “Thuận vợ thuận chồng – Con đông mệt quá”, “Một tay làm chẳng nên non – Bốn đứa tụ lại nên sòng tiến lên”…

    Theo tìm hiểu, đây cũng chính là “chiêu độc” để thu hút bạn bè trên mạng xã hội, không chỉ riêng N.T. mà rất đông bạn khác cũng áp dụng hiện nay, dựa trên những câu ca dao, tục ngữ có sẵn, chế tác lại và đăng lên mạng xã hội.

    Hiện, chỉ cần tìm kiếm trên trang Google với từ khóa “ca dao tục ngữ chế”, “ca dao thời @”… là xuất hiện hàng trăm ngàn kết quả trên nhiều trang website, diễn đàn khác nhau. “Đây là kho tàng ca dao tục ngữ độc đáo, mình có thể lựa chọn để thay đổi tình trạng mạng xã hội hàng ngày”, Hải Hà, một SV trường ĐH Văn Lang cho biết.

    Nguyễn Thanh Nam

    Theo Bưu Điện Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Xuân, Tục Ngữ Tết
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Và Thâ
  • Xem Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Tự Trọng
  • 28 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái Dạy Chúng Ta Sống Ở Đời Phải Biết ‘nhường Cơm Sẻ Áo’
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Ca Dao Tục Ngữ Bình Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Hay Nhất
  • ‘Bình Định nón Gò Găng

    Bún Song thần An Thái

    Lụa Đậu tư Nhơn Ngãi

    Xoài Tượng chín Hưng Long

    Mặc ai mơ táo ước hồng

    Tình quê em giữ một lòng trước sau.

    Bình Định có hòn Vọng Phu

    Có đầm Thị Nai có Cù Lao Xanh.

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa.

    1.Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.

    2.Bình Định có núi Vọng Phu Có Đầm Thị Nại có Cù Lao xanh.

    3.Công đau công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

    4.Mẹ ơi đừng đánh con đau Để con đánh trống hát tuồng mẹ nghe.

    5.Ai về Bịnh Định mà coi Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.

    6.Ai về Bình định thăm bà Ghé vô em gởi lạng trà Ô long. Trà Ô long nước trong vị ngọt Tình đôi mình như đọt mía lau chúng tôi đi bờ lở một mình Phất phơ chéo áo giống hình trò

    Ba Trò Ba đi học trường xa

    Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi

    8.Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cá nghiên anh đồ.

    Tiếng đồn Bình Định tốt nhà Phú Yên tốt lúa, Khánh Hoà tốt trâu

    .Công đâu công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    .Em về Đập Đá quê cha Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê chồng

    13.Anh về Đập Đá , Gò găng Bỏ em kéo vải sáng trăng một mình Tiếng ai than khóc nỉ non Vợ chàng lính thú trèo hòn Cù Mông

    14.Chiều chiều én liệng Truông Mây Cảm thương Chú Lía bị vây trong thành

    15.Non Tây áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

    16.Cây Me cũ, Bến Trầu xưa Dẫu không nên tình nghĩa cũng đón đưa cho trọn niềm

    17.Ngó vô Linh Đỗng mây mờ Nhớ Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây

    18.Hầm Hô cữ nước còn đầy Còn gương phấn dũng , còn ngày vinh quang

    19.Bình Định có đá Vọng Phu Có đầm Thị Nại có Cù lao Xanh Lụa Phú Phong nên duyên nên nợ Nón Gò găng khắp chợ mến thương

    20.Bên kia sông, quê anh An Thái Bên này sông, em gái An Vinh Thương nhau chung dạ chung tình Cầu cha mẹ ưng thuận cho hai đứa mình lấy nhau

    21.Cưới nàng đôi nón Gò Găng Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn Ai về Tuy Phước ăn nem Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm

    22.Rượu ngon Trường Thuế mê li Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi sao đành

    23.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Gi Sông xanh, núi cũng xanh rì Vào Nam, ra Bắc ai cũng đi con đường này Nghìn năm gương cũ còn đây Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu – Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi Dễ chi nhân ngãi mà rời được nhau

    24.Tháp kia còn đứng đủ đôi Cầu còn đủ cặp huống cho tôi với nường ( nàng) Suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Thiếp ngồi dệt vải chỉ mong bóng chàng Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu Ôm đàn gảy khúc Cầu hoàng Thiếp xin gõ nhịp để chàng lựa dây Bao giờ rừng quế hết cây Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình Dừa xanh sừng sững giữa trời Đem thân mà hiến cho đời thuỷ chung

    25.Muốn ăn bánh ít nhân mè Lấy chồng Hòa Đại đạp chè thâu đêm Muốn ăn bánh ít nhân tôm Lấy chồng Hòa Đại ăn cơm củ mì

    26.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di Sông xanh núi cũng xanh rì Vào Nam ra Bắc cũng đi đường này chúng tôi về Phù Mỹ nhắn nhe Nhắn chị bán chè sao vậy chẳng lên?

    Anh về dưới vạn thăm nhà

    Ghé vô em gởi lạng trà Ô Long

    chúng tôi về Bình Định thăm cha Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em

    29.Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông

    30.Khéo khen con tạo trớ trêu

    Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ

    32.Ai về thăm cảnh An Khê

    Sông Ba chồng nhớ vợ nhà Sông Côn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Kho Tàng Ca Dao Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Du Lịch Qua Ca Dao Ở Một Số Tỉnh Miền Tây Nam Bộ Theo Hướng Du Lịch Sinh Thái Hiện Đại
  • Tiếp Cận Kiến Thức Địa Lý Qua Thơ
  • Con Gà Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Cây Lúa Trong Ngôn Ngữ Người Việt
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Văn Hóa Sản Xuất Nông Nghiệp Phần 1
  • 1.Cá bống còn ở trong hang

    Lá rau tập tàng còn ở ruộng dâu

    Ta về, ta sắm cần câu

    Câu lấy cá bống, nấu rau tập tàng

    2. Cá buồn cá lội tung tăng

    Em buồn em biết đãi đằng cùng ai?

    3. Cá kèo mà gặp mắm tươi

    Như nơi đất khách gặp người cố tri

    4. Cá không ăn muối cá ươn

    Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư

    5. Cá nục nấu với dưa hồng

    Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi

    6. Cá tươi xem lấy đôi mang,

    Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai

    Tóc mai sợi vắn sợi dài

    Có đâu mặt rỗ đá mài không trơn

    7. Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Ðỉa lội lềnh như bánh canh

    8. Cả vú lấp miệng em

    9. Cách sông mới phải luỵ thuyền

    Còn như đường liền ai phải luỵ ai

    10. Cái ách giữa đàng, mang vào cổ

    11. Cái cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    12. Cái cò lặn lội bờ sông

    Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền

    13. Cái cò mày đi ăn đêm

    Ðậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

    Ông ơi, ông vớt tôi nao

    Tôi có lòng nào, ông hãy sáo măng

    Có sáo, thì sáo nước trong

    Ðừng sáo nước đục, đau lòng cò con

    14. Cái kiến mày kiện củ khoai

    Chê em tao khó, lấy ai cho giàu

    Nhà tao chín đụn, mười trâu

    Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân

    Cầu này là cầu ái ân

    Một trăm con gái rửa chân cầu này

    Có rửa thì rửa chân tay

    Chớ rửa chân mày, chết cá ao anh

    15. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Ðiền

    Anh thương em cho bạc cho tiền

    Ðừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay!

    16. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

    Anh có thương em, xin sắm một con đò

    Ðể em qua lại mua cò gởi thơ

    17. Cái khó bó cái khôn

    18. Cái nết đánh chết cái đẹp

    19. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Cái ngủ mày ngủ cho say

    Mẹ mày vất vả chân tay suốt ngày

    20. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Bắt được con trắm, con trê

    Xách cổ mang về cho cái ngủ ăn

    Cái ngủ ăn chẳng hết

    Ðể dành đến Tết mồng Ba

    Mèo già ăn vụng

    Mèo ốm phải đòn

    Mèo con phải vạ

    Con quạ có lông

    Nồi đồng có nắp

    21. Cái răng cái tóc là gốc con người

    22. Câm hay ngóng, ngọng hay nói

    23. Câm như hến

    24. Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn

    Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon

    25. Cần tái, cải nhừ

    26. Cầm vàng mà lội qua sông

    Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

    27. Cần Thơ là tỉnh

    Cao Lãnh là quê

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mảng lo buôn bán không về thăm em

    28. Canh khuya gà gáy ó o

    Quân tử thức dậy còn mò đi đâu?

    29. Canh khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, trầm tư một mình

    30. Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng khi về bủng beo

    31. Cao su đi dễ khó về

    Trai đi mất vợ gái về thêm con

    32. Cáo chết ba năm quay đầu về núi

    33. Cát bay, vàng lại ra vàng

    Những người quân tử dạ càng đinh ninh

    Ðinh ninh ta để dạ này

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    34. Cau già, dao bén thì ngon

    Người già trang điểm phấn son cũng già

    35. Cây cao bóng mát không ngồi

    Ra ngồi chỗ nắng, trách trời không mây

    36. Cây đa Chợ Ðũi

    Nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàng

    Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân!

    37. Cây khô không có lộc

    Người độc không có con

    38. Cây khô không thể mọc chồi

    Mẹ già không dễ sống đời với con

    39. Cây khô không trái, gái độc không con

    40. Cây không trồng nên lòng không tiếc

    Con không đẻ nên mẹ ghẻ không thương

    41. Cây muốn lặng, gió chẳng muốn ngừng

    42. Cây trên rừng hoá kiểng

    Cá dưới biển hoá long

    Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong

    Anh đi lục tỉnh giáp vòng

    Ðến đây trời khiến đem lòng thương em

    43. Cây vông đồng không không trồng mà mọc

    Con gái xóm này chẳng chọc mà theo

    44. Cây xanh thời lá cũng xanh

    Cha mẹ hiền lành để đức cho con

    Mừng cây rồi lại mừng cành

    Cây tốt lắm chồi, người đức lắm con

    Ba vuông sánh với bảy tròn

    Ðời cha vinh hiển, đời con sang giàu

    45. Cậu cai buông áo em ra

    Ðể em đi chợ kẻo mà chợ trưa

    Chợ trưa dưa nó héo đi

    Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?

    46. Cha chung chẳng ai khóc

    47. Cha đời cái áo rách này

    Mất chúng, mất bạn vì mày áo ơi!

    48. Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại

    Bắt anh ra treo tại nhành dương

    Biểu từ ai, anh từ đặng

    Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ

    49. Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển

    Con nuôi chạ mẹ, con tính từng ngày

    50. Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng

    Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày

    51. Cha nào con nấy, rau nào sâu nấy

    52. Chanh chua thì khế cũng chua

    Chanh bán có muà, khế bán quanh năm

    53. Cháo nóng, liếm quanh

    54. Cháu ơi, cháu ngủ cho ngon

    Của dì, dì giữ ai bò mặc ai

    55. Chàng về cho thiếp theo cùng

    Ðói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam

    56. Chàng ôi, giận thiếp mà chi

    Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng

    57. Chàng về để áo lại đây

    Ðể khuya em đắp gió khuya lạnh lùng

    58. Chàng về để áo lại đây

    Phòng khi em nhớ cầm tay đỡ buồn

    59. Cháy nhà ra mặt chuột

    60. Chặt không đứt, bứt không rời

    Phơi không khô, chụm không cháy

    (Ðố là con gì? Con sam)

    61. Chẳng ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời

    62. Chẳng ốm, chẳng đau làm giàu mấy chốc

    63. Chẳng tham ruộng cả, ao tiền

    Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ

    64. Chân cứng, đá mềm

    65. Chân đi ba bước lại dừng

    Tuổi em còn bé chưa từng đi buôn

    Ði buôn cho đáng đi buôn

    Ði buôn cau héo có buồn hay không

    66. Chân trời, góc biển

    67. Chập chập rồi lại cheng cheng

    Con gà sống thiến để riêng cho thầy

    Ðơm sôi thì đơm cho đầy

    Ðơm mà vơi đĩa thì thầy không ưng

    68. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    69. Chẻ tre bện sáo cho dầy

    Chận ngang sông Mỹ có ngày gặp em

    70. Chê đắng chê hôi

    Ðã chê xôi không dẻo

    Lại chê kẹo không ngọt

    71. Chê đây, lấy đấy sao đành

    Em chê cam sành, lấy phải quít hôi

    Quít hôi bán một đồng mười

    Cam ba đồng một, quít ngồi trơ trơ

    72. Chết trước được mồ, được mả

    Chết sau nằm ngả, nằm nghiêng

    73. Chì khoe chì nặng hơn đồng

    Sao chì chẳng đúc nên cồng, nên chuông

    74. Chị em dâu như bầu nước lã

    75. Chị kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu?

    Nhà tui ở dưới đám dâu

    Ở trên đám đậu đầu cầu ngó qua

    76. Chị lấy chồng, em gặm giò heo

    Giò heo chị để chị treo

    Em lấy giò mèo, em gặm em chơi

    77. Chị ngã, em nâng

    78. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Thuốc đâu mà chữa con người lẳng lơ

    79. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Tay đâu mà bụm miệng người thế gian

    80. Chiếc khăn cô đội trên đầu

    Gió xuân đưa đẩy rơi vào tay tôi

    Bâng khuâng tôi chẳng muốn rời

    Trao cô thì tiếc, giữ thời không yên

    81. Chiếc tàu lặn chạy mau đường gió

    Cái xe hơi chạy lẹ như dông

    82. Chiếu bông mà trải góc đền

    Muốn vô làm bé biết có bền hay không?

    83. Chiều chiều, buồn miệng nhai trầu

    Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ

    84. Chiều chiều chim vịt kêu chiều

    Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau

    85. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Nhớ người aó trắng khăn điều vắt vai

    86. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Trông về quê mẹ chín chiều ruột đau

    87. Chiều chiều, ông chánh về Tây

    Cô Ba ở lại lấy thầy Thông Ngôn

    Thông ngôn, ký lục, bạc chục không màng

    Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay

    88. Chiều chiều ông Lã Ðông Tân

    Vai mang bầu rượu, tay cầm chiếc nem

    89. Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

    90. Chiều chiều tui buồn tui ra sông cái, tự ải cho rồi

    Sống làm chi mà chia ly thục nữ

    Thác cho rồi đặng chữ thủy chung

    91. Chiều chiều trước bến Văn Lâu

    Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm

    Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông

    Thuyền ai thấp thoáng bên sông

    Ðưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non

    92. Chiều chiều vịt lội, cò bay

    Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng

    Vô rừng bứt một sợi mây

    Ðem về thắt gióng cho nàng đi buôn

    93. Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc

    Cá bãi trầu lội tuốt mương cau

    94. Chim đa đa đậu nhánh đa đa

    Chồng gần không lấy, đi lấy chồng xa

    Một mai cha yếu mẹ già

    Chén cơm, đôi đũa, tách trà ai dâng

    95. Chim khỏi lồng không mong trở lại

    96. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

    97. Chim khôn lựa cành mà đậu

    98. Chim khôn mắc phải lưới hồng

    Hễ ai gỡ được, đền công bạc vàng

    Anh rằng anh chẳng lấy vàng

    Hễ anh gỡ được, thì nàng lấy anh

    99. Chim quyên ăn trái nhãn lồng

    Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi

    100. Chim quyên xuống đất ăn trùn

    Anh hùng lỡ vận, lên rừng đốt than

    101. Chim trời ai dễ đếm lông

    Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày

    102. Chim trời cá nước, ai bắt được nấy ăn

    103. Chim lìa cành còn thương nhớ cội

    Người xa người tội lắm người ơi!

    Chẳng thà không gặp thì thôi

    Gặp rồi mỗi đứa một nơi sao đành

    104. Chính chuyên chết cũng ra ma

    Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng

    105. Cho em trở lại đường xưa

    Ðể em tìm lại gốc dừa cạnh ao

    Lời anh âu yếm chiều nào

    Thoảng vang trong gió rì rào chớm thu

    106. Chó ăn đá, gà ăn muối

    107. Chó cậy gần nhà, gà cậy cần chuồng

    108. Chó treo, mèo đậy

    109. Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ

    Ðóa hải đường thức ngủ xuân tiêu

    110. Chồng chài, vợ lưới, con câu

    Thằng rể đóng đáy, con dâu đi nò

    111. Chồng chung chồng chạ

    Ai khéo hầu hạ thì được chồng riêng

    112. Chồng chung, vợ chạ

    113. Chồng em áo rách em thương

    Chồng người áo gấm, xông hương mặc người

    114. Chồng em vốn kẻ đa tình

    Già không bỏ, nhỏ không tha

    Xấu như ma hắn cũng hú hí

    Xấu như quỉ hắn cũng ăn nằm

    115. Chồng già vợ trẻ là duyên

    Vợ già, chồng trẻ là tiên ba đời

    116. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già, chồng trẻ là duyên trên đời

    117. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già chồng trẻ là duyên nợ trần

    118. Chồng giận thì vợ làm lành

    Miệng cười chúm chím: Thưa anh giận gì?

    Thưa anh, anh giận em chi

    Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho

    119. Chồng nóng thì vợ bớt lời

    Cơm sôi bớt lửa chẳng rơi hột nào

    120. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa

    121. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Như đôi đũa lệch so sao cho bằng

    122. Chơi hoa cho biết mùi hoa

    Cầm cân cho biết cân già, cân non

    123. Chuối non giú ép, chát ngầm

    Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm

    124. Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

    Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm

    125. Chuồn chuồn có cánh thì bay

    Có thằng bé tí thò tay bắt mày

    126. Chuột kêu chút chít trong rương

    Em đi cho kheó đụng giường mẹ hay

    127. Chuột sa chĩnh gạo

    128. Chuyện đời chẳng ít thì nhiều

    Không dưng, ai dễ đặt điều cho ai

    129. Chuyện đời, vợ vợ chồng chồng

    Thương nhau cũng vội, dứt lòng cũng mau

    130. Chuyện người mặc kệ người lo

    Hơi đâu đáy nước, mình mò bóng trăng

    131. Chữ trinh đáng giá ngàn vàng

    Từ anh chồng cũ đến chàng là năm

    Còn như yêu vụng nhớ thầm

    Họp chợ trên bụng hàng trăm sá gì

    132. Chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng

    133. Chưa học bò, đã lo học chạy

    134. Chưa làm giàu, đã lo ăn cướp

    135. Chừng nào đá nổi rong chìm

    Muối chua, chanh mặn anh tìm được em

    136. Chửa đui, chửa què, đừng khoe rằng tốt

    137. Có bột mới gột nên hồ

    138. Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo

    Có đứa nào xạo bằng thằng út Gò Công

    139. Có cây mới có dây leo

    Có cột có kèo, mới có đòn tay

    140. Có công mài sắt, có ngày nên kim

    141. Có cha, có mẹ thì hơn

    Không cha, không mẹ như đờn đứt dây

    142. Có chí làm quan, có gan làm giàu

    143. Có chí thì nên

    144. Có chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ

    Ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh

    Có chồng say như trong chay ngoài hội

    Ngó vô nhà như hội tầm vu

    145. Có chồng nghiền như ông tiên nho nhỏ

    Thắp ngọn đèn sáng tỏ như sao

    Tay cầm tiêm như phò mã múa đao

    Chân vắt chéo như Khổng Minh xem sách

    146. Có chồng mà chẳng có con

    Khác gì hoa nở trên non một mình

    147. Có chum cá mới ở đìa

    Có em anh mới sớm khuya chốn này

    148. Có con mà gả chồng gần

    Nửa đêm đốt đuốc đem phần cho cha

    Có con mà gả chồng xa

    Ba phần ruộng rẻo chẳng ma nào cày

    149. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng

    150. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay

    151. Có công mài sắt có ngày nên kim

    152. Có của thì có mẹ nàng

    Có bạc có vàng thì có kẻ ưa

    Chị là con gái nhà giầu

    Ăn mặc tốt đẹp vào chầu tòa sen

    Em là con gái nhà hèn

    Ăn mặc rách rưới mon men ngoài hè

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cà Mau Xưa Qua Các Câu Thơ & Ca Dao
  • Thành Ngữ Và Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ A, Chữ Ă, Â ?
  • Lịch Sử Khai Phá Bình Dương Qua Dân Ca, Thơ Ca Dân Gian Làng Tương Bình Hiệp
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Hò Vè Bình Định
  • Tiếng Trung Nghiêm Thùy Trang
  • Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Những Câu Danh Ngôn Bất Hủ
  • {Đọc} Stt Hay Về Sự Thay Đổi Bản Thân Giúp Mình Cố Gắng Nhiều Hơn
  • Stt Hay Về Tình Yêu Buồn Bằng Tiếng Anh Trên Facebook
  • Những Câu Stt Hay Bằng Tiếng Trung Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Từ Ngữ Địa Phương
  • 10:36:14 AM, Sep 07, 2022 * Số lần xem: 854101

    * Cập nhật

    * đăng lúc 11:22:41 AM, Jan 26, 2009 Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam Ca dao là gì?

    Trước hết là Ca dao, là những câu thơ ca dân gian Việt Nam. Được truyền miệng dưới dạng những câu hát không thể một điệu nhất định. Và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc.

    Và đặc biệt hơn đó chính là ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao được hiểu ý nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ ông cha ta để lại.

    Tục ngữ là gì?

    Khác với ca dao, thì tục ngữ lại thể hiện những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian. Về mọi mặt trong cuộc sống như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn…

    Với ý nghĩa ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh thường gieo vần lưng. Và đây cũng là một thể loại văn học dân gian Việt Nam. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn của con người. Trong đó gữa hình thức và nội dung, tục ngữ có một sự gắn bó chặt chẽ. Thông thường trong một câu tục ngữ có 2 nghĩa: nghĩa đen nghĩa bóng.

    Khác với ca dao, tục ngữ thường có vần, gồm 2 loại chính là: vần liềnvần cách.

    Ca Dao Tục Ngữ Phần II từ H tới L Ca Dao Tục Ngữ Phần III từ M tới Y :: ::

    Xin bấm vào các links sau đây để đọc tiếp :

    1. Ai ai cũng tưởng bậu hiền

    A

    Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai

    2. Ai đem con sáo sang song

    Để cho con sáo sổ lồng bay cao

    3. Ai đi bờ đắp một mình

    Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân

    4. Ai đi đâu đấy hỡi ai

    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

    Ai đi muôn dặm non song

    Để ai chứa chất sầu đong vời đầy

    5. Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa

    Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào

    Ai đi sục sịch ngoài hàng rào

    Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa

    6. Ai kêu là rạch, em gọi là song

    Phù sa theo nước chảy mênh mông

    Sông ơi, thấm mát đời con gái

    Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng

    7. Ai làm cho bướm lìa hoa

    Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng

    8. Ai làm Nam Bắc phân kỳ

    Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương

    9. Ai mà nói dối cùng ai

    Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng

    Ai mà nói dối cùng chồng

    Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao

    10. Ai nhứt thì tôi đứng nhì

    Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba

    11. Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

    12. Ai ơi chơi lấy kẻo già

    Măng mọc có lứa người ta có thì

    Chơi xuân kẻo hết xuân đi

    Cái già sòng sọc nó thì theo sau

    Phần I từ A tới G

    100. Áo anh đứt chỉ đường tà

    Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

    B

    Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừBuồn về một nỗi tháng tưCon mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ănBuồn về một nỗi tháng nămChửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêuLựu xa đào, lựu xéo đào xiênVàng cầm trên tay rớt xuống không phiềnChỉ phiền một nỗi nợ với duyên không trònChờ con bạn ngọc thở than đôi lờianh hai vật đổi sao dờiTính sao nàng tính trọn đời thủy chungCanh ba cờ phất trống rungMặc ai ai thẳng ai dùn mặc aiCanh tư hạc đậu cành maiSương sa lác đác khói bay mịt mờCanh chầy tơ tưởng tưởng tơChiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu khôngAi làm lỡ chuyến đò ngangCho loan với phượng đôi hàng biệt ly

    C

    78. Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm

    Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu

    80. Bực mình chẳng muốn nói ra

    Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời

    79. Bước xuống ruộng sâu, em mảng sầu tấc dạ

    75. Bươm bướm mà đậu cành bong

    Đã dê con chị, lại bồng con em

    76. Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng

    Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai

    77. Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng

    73. Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt

    Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon

    74. Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo

    Tay em ôm bó mạ, luỵ ứa hai hàng

    C

    Đi buôn cau héo có buồn hay không

    43. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    VẦN D VẦN Đ

    Đánh bạc quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn vặt quen mồm

    Đánh chết, mà nết không chừa

    Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

    Đàn bà nói có là không

    Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

    Đàn bà tốt tóc thì sang

    Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Đàn kêu tích tịch tình tang

    Ai đem công chúa lên thang mà về

    Đàn ông đi biển có đôi

    Đàn bà đi biển mồ côi một mình

    Đàn ông không râu vô nghì

    Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

    Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ

    Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu

    Rút gươm đâm họng máu trào

    Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

    Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt

    Lửa nhà máy hết cháy thành than

    Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn

    Kể từ khi em biết được chàng

    Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

    Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

    Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang

    Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc

    Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

    Đèn treo ngang quán

    Tỏ rạng bờ kinh

    Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình

    Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

    Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn

    Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

    Đêm khuya ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Đêm khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

    Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng

    Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

    Đêm khuya trăng dọi lầu son

    Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng

    Bển qua đây đàng đã xa đàng

    Dầu tui có lâm nguy thất thế

    Hỏi con bạn vàng nó cứu không?

    Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông

    Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

    Đêm nằm tàu chuối có đôi

    Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

    Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng

    Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài

    Bây giờ chàng đã nghe ai

    Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung

    Bây giờ sự đã nhạt nhùn

    Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua

    Cá lên mặt nước, cá khô

    Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

    Đêm qua nguyệt lặn về Tây

    Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài

    Trúc với mai, mai về trúc nhớ

    Trúc trở về, mai nhớ trúc không

    Bây giờ kẻ Bắc, người Đông

    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

    Đêm thanh cảnh vắng

    Thức trắng năm canh

    Một duyên, hai nợ, ba tình

    Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

    Đến đây đất nước lạ lùng

    Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

    Đến ta mới biết của ta

    Trăm nghìn năm trước biết là của ai

    Đề huề chồng vợ

    Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang

    Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

    Đi chùa lạy Phật cầu chồng

    Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

    Đi đâu cho thiếp theo cùng

    Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

    Đi đâu mà vội mà vàng

    Mà vấp phải đá mà quàng phải dây

    Thủng thỉnh như chúng anh đây

    Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

    Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Đi qua nhà nhỏ

    Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng

    Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

    Đó đây trước lạ sau quen

    Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

    Đói lòng ăn đọt chà là

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

    Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    Đói lòng ăn nửa trái sim

    Uống lưng bát nước đi tìm người thương

    Đói lòng nuốt trái khổ qua

    Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

    Đôi ta chẳng được sum vầy

    Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương

    Vì sương nên núi bạc đầu

    Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

    Đôi ta đã trót lời thề

    Con dao lá trúc đã kề tóc mai

    Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

    Đôi ta như loan với phượng

    Nỡ lòng nào để phượng lià cây

    Muốn cho có đó, có đây

    Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi

    Thà rằng chẳng biết thì thôi

    Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

    Đôi ta như thể con tằm

    Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong

    Đôi ta như thể con ong

    Con quấn con quít, con trong con ngoài

    Đôi ta như thể con bài

    Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

    Đố ai biết luá mấy cây

    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

    Đố ai quét sạch lá rừng

    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

    Rung cây, rung cỗi, rung cành

    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

    Đố ai lặn xuống vực sâu

    Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

    Đố anh con rít mấy chưn

    Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người

    Mấy người bán áo con trai

    Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

    Đốt than nướng cá cho vàng

    Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

    Muốn ăn bôn súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đồng tiền Vạn lịch

    Thích bốn chữ vàng

    Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu

    Bây giờ cô lấy chồng đâủ

    Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

    Đổ lửa than nên vàng lộn trấu

    Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

    Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ

    Anh gặp em đây không cửa không nhà

    Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

    Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

    Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    Đờn cò lên trục kêu vang

    Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng

    Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng

    Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương

    Chiều nay qua phản bạn hồi hương

    Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào

    Ghe tui tới chỗ cắm sào

    Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

    Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá

    Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm

    Anh thấy em tốt mã anh lầm

    Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

    Đưa nhau đổ chén rượu hồng

    Mai sau em có theo chồng đất xa

    Qua đò gõ nhịp chèo ca

    Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

    Đường trơn trợt gượng đi kẻo té

    Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng

    Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi

    Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

    Đứt tay một chút còn đau

    Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

    Đ Đất lành chim đậu.

    E

    VẦN E

    Em có chồng sao em không nói?

    Để anh theo anh chọc em hoài

    Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay!

    Em đeo chiếc kim hườn

    Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến

    Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!

    Em liều một cái bánh bò

    Còn nào chót chét, cặp giò em chặt hai

    Em liều một chén dầu chanh

    Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền

    Em liều một trái sầu giêng

    Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro

    Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi

    Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?

    Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác

    Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?

    Em ơi, anh bảo em này

    Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi

    Em ơi, em có thương anh

    Em ra canh lính cho anh leo tường!

    Em ơi em ở lại nhà

    Vườn dâu em hái mẹ già em thương

    Mẹ già một nắng hai sương

    Chị đi một bước trăm đường xót xa

    Cậy em em ở lại nhà

    Em thấy anh em cũng muốn chào

    Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông

    Em chấy anh em cũng muốn chào

    Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình

    Dao trong mình, gươm anh cặp nách

    Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi

    Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu

    Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi

    Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi

    Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra

    Em về hỏi mẹ cùng cha

    Có cho em lấy chồng xa hay đừng

    Én bay thấp, mưa ngập bờ ao

    Én bay cao, mưa rào lại tạnh

    Em nghe tiếng hát đâu xa

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ê

    Êm như ru

    Ếch ngồi đáy giếng

    VẦN G

    Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng

    Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua

    Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng

    Trai bạc tình một cẳng về quê

    Gái lấy trai đứng là gái dại

    Trai lấy rồi trai lại bán rao

    Gái đâu có thứ hỗn hào

    Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu

    Gà đẻ, gà cục tác

    Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

    Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

    Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi

    Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi

    Saigon vui lắm em ơi

    Lấy chồng về đó một đời sướng thân

    Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất

    Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ

    Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông

    Gẫm xem sự thế nực cười

    Một con cá lội mấy người buông câu

    Gần mực thì đen gần đèn thì sáng

    Gập ghềnh nước chảy qua đèo

    Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng

    Ghe anh đỏ mũi xanh lườn

    Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em

    Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo

    Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em

    Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ

    Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn

    Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời

    Mật đường dù chẳng đi đôi

    Chút hương rớt lại, một đời chưa quên

    Ghe lên ghe xuống dầm dề

    Sao anh không gởi thơ về thăm em?

    Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ

    Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi

    Già thì đặc bí bì bì

    Con gái đương thì rỗng toác toàng toang

    Ngoài xanh trong trắng như ngà

    Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu

    (Đố là gì? – cau dầy)

    Giàu cha giàu mẹ thì ham

    Giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn

    Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa

    Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

    Giàu từ trong trứng giàu ra

    Giàu út ăn, khó út chịu

    Giả đò mua khế bán chanh

    Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn

    Giặc Tây đánh tới Cần Giờ

    Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công

    Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh

    Giấy hồng đơn bán mấy

    Cho anh mua lấy một tờ

    Viết thơ quốc ngữ

    Dán trên trái bưởi

    Thả xuống giang hà

    Bớ cô gánh nước bên bờ

    Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ

    Giận chồng xách gói ra đi

    Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về

    Gieo gió gặp bão

    **************************************

    Toàn bộ từ vần A đến Y

    -B-

    -C-

    Ca Li đi dễ khó về

    Câu nguyên gốc là..nói về những người đi trồng cao su

    Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng, khi về bủng beo

    ================================================== =======

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    ================================================== ========

    Chân cứng đá mềm

    ================================================== ========

    Có chí thì nên

    ================================================== ========

    Cô kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi kéo lại hỏi nhà ở đâu ?

    Nhà tôi ở trước đám dâu

    Ở sau đám cải đầu cầu ngó qua

    Cái câu này còn có khác hơn một tí đó là..

    Đ-

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ếch ngồi đáy giếng

    ================================================== ========

    -G-

    -H-

    -I-

    ================================================== ========

    -K-

    -L-

    -M-

    -N-

    Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ

    ================================================== ========

    Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

    ================================================== ========

    Nhất quỷ nhì ma

    Thứ ba học trò …. )

    ================================================== ========

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    ================================================== ========

    No bụng đói con mắt

    ================================================== ========

    -O-

    Ở đâu cũng có anh hùng

    Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên

    ================================================== ========

    Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

    ================================================== ========

    Ớt nào là ớt chẳng cay,

    Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

    Vôi nào là vôi chẳng nồng

    Gái nào là gái có chồng chẳng ghen !

    ================================================== ========

    Ở hiền gặp lành

    ================================================== ========

    -Q-

    Quả cau nho nhỏ

    Cái vỏ vân vân

    Nay anh học gần

    Mai anh học xa

    Tiền, gạo là của mẹ cha

    Bút nghiên, kinh sách thì là của anh

    Lấy chàng từ thuở mười ba

    Đến năm mười tám thiếp đà năm con

    Ra đường thiếp hãy còn son

    Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng

    ================================================== ========

    -R-

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    ================================================== ========

    -S-

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người

    ================================================== ========

    Sá gì một nải chuối xanh

    Năm bảy người giành cho mủ dính tay

    ================================================== ========

    -T-

    -U-

    ================================================== ========

    -V-

    Vì sông nên phải lụy thuyền

    Chứ như đường liền ai phải lụy ai

    ================================================== ========

    Vải thưa che mắt thánh

    ================================================== ========

    -X-

    ========

    -Y-

    Yêu nhau cởi áo cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

    ========

    Yêu nhau thì ném miếng trầu

    Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra

    Yêu nhau cau bổ làm ba

    Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười

    Xem Thêm Cập nhật 2022:

      Mèo khen mèo dài đuôi.

      N Năm nắng mười mưa

    --- Bài cũ hơn ---

  • 500 Stt Buồn: Hay, Cảm Xúc, Tâm Trạng, Chất Và Độc Đáo Nhất 2022
  • Chia Sẻ Những Stt Hay Về Tình Bạn Trên Facebook Độc Đáo Nhất
  • Tổng Hợp Những Lời Chúc Buổi Tối Ngọt Ngào Nhất
  • Những Lời Chúc Buổi Sáng Ngọt Ngào, Ý Nghĩa Nhất
  • Con Gái Ế Thì Đã Sao?
  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Về Chữ Ăn
  • Ẩm Thực Xa Xưa Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Ca Dao
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Hay Nhất
  • 2. Ca dao và dân ca:

    Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta

    tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta

    thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Có thể nói, ranh giới giữ ca dao và

    dân ca không rõ.

    Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu. Còn dùng một bài ca dao để hát, thì bài

    ca dao sẽ biến thành dân ca. Vì hát yêu cầu phải có khúc điệu, và như vậy phải có thêm tiếng đệm.

    Vậy có thể nói, ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác

    và có thể xây dựng thành các điệu ca dao.

    Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định,

    nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nó là nhạc do tiếng của con người đưa ra từ cổ họng.

    Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn

    cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương,

    còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể nào,

    thì nó vẫn đươc phổ biến rộng rãi

    “Đồng đăng có phố Kỳ Lừa

    Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

    Hay:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga.

    Còn dân ca thì nhiều khi chỉ có dân địa phương mới biết, và mới hát được..

    Nội dung của dân ca cũng nhue nội dung của ca dao, chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện

    cái nội tâm của tác giả trước ngoại cảnh.

    Cũng như tục ngữ, ca dao – dân ca là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể,

    được lưu truyền bằng miệng và / được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Trong tất cả

    những tính chất chung của văn học dân gian (trong đó có tục ngữ – ca dao – dân ca) :

    tính nhân dân, tính hiện thực, tính lãng mãn, tính phổ biến, tính khuyết danh,

    tính truyền miệng, tính tập thể ….thì tính tập thể là tính chất cơ bản nhất

    B. Thời kỳ xuất hiện:

    So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ tưởng như mới hơn. Nhưng theo kết quả nghiên cứu, tục ngữ, ca dao cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Trong quá trình lao động, xuất hiện những câu hò, kiểu như “Dô ta”, như vậy ca hát đã có từ rất sớm, nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ, và được sửa đổi qua các thế hệ của loài người.

    Xét nội dung những câu ” Năm cha, ba mẹ“, hay ” Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông“, ” Con dại, cái mang”, “con mống, sống mang“.. ta có thể biết được thời điểm xuất hiện câu đó, đólà thời kỳ tạp giao, hay tình trạng chồng chung vợ chạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ, rồi đến Phụ hệ…

    Ca dao, tục ngữ cũng mang ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền và phản ánh đời sống kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ.

    C. Nội dung và hình thức của tục ngữ – ca dao – dân ca:

    1. Nội dung của tục ngữ:

    Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý trí nhiều hơn là do xúc cảm. tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bén, rút ở cuộc đời. Ở tục ngữ, tính chất phản phong là mạnh hơn cả.

    Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người.

    VD:

    Quá mù ra mưa

    Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa

    Vỏ quýt dày có móng tay nhọn

    Cái sảy nảy cái ung

    Cõng rắn cắn gà nhà

    2. Hình thức của tục ngữ:

    Tục ngữ ban đầu chỉ là những câu nói xuôi ta, hợp lý, sau dần mới trở thành những câu đối có vần vè, gọn gàng hơn

    Làm phúc phải tội

    Gà què ăn quẩn cối xay

    Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận

    Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm

    Tục ngữ không nhất thiết, nhưng phần lớn đều có vần vè, hay có đối

    No nên bụt, đói nên ma

    Bút sa, gà chết

    Có tật giật mình

    Còn có những câu vần cách, cách hai chữ, ba chữ

    May tay hơn hay thuốc

    Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão

    Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm

    Hoặc thể lục bát

    Cá tươi thì xem lấy mang

    Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai

    Tóm lại xét về sự phong phú cả về mặt nội dung cũng như hình thức, ta có thể thấy tục ngữ đã phát triển trước ca da rất nhiều. Còn nữa, ca dao thiên về tình cảm, biểu lộ tính tình của con người…nên chỉ có thể phát triển khi mà đời sống xã hội đã phức tạp.

    3. Nội dung của ca dao:

    Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắ m thiết và sâu sắc đến cỡ nào…thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được.

    Ca dao Việt nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta.

    Ca dao thể hiện tình yêu: tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên, hoà bình…

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    Gió đưa cành trúc la đà

    Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương

    Tuyệt mù khói toả ngàn sương

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…

    Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên, với xã hội.

    Có thể nói nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình. Tìm hiểu được cái tình trong ca dao chúng ta sẽ thấy được tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa chứa đựng trong ca dao.

    4. Hình thức nghệ thuật của ca dao:

    Ca dao thường là những bài ngắn, hai, bốn, sáu, hoặc tám câu., âm điệu lưu loát và phong phú.

    Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị, và tươi tắn. Nghe có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Có thể nói về mặt tả cảnh , tả tình không có một hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao.

    Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt, nhưng cũng có khi để nói về những cái xấu, nhưng không nói thẳng. Nhờ phương pháp hình tượng hoá, nên lời của ca dao tuy giản dị, mà rất hàm súc.

    Người con gái không được chủ động trong việc hôn nhân, đã ví mình như hạt mưa:

    Thân em như hạt mưa rào

    Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

    Hay để tả một tình yêu trong trắng mới chớm nở của đôi lứa, ca dao noi:

    Đôi ta như lửa mới nhen

    Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

    Đến như tả hạng người ngu đần, ca dao cũng đã đưa ra những hình ảnh táo bạo:

    Mặt nạc đóm dày

    Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn Cơm trắng ăn với chả chim

    Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no

    Trên trời có đám mây vàng

    Bên sông nước chảy có nàng quay tơ

    Nàng buồn nàng bỏ quay tơ

    Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành

    MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA NGHỆ TĨNH

    Tiếng giặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào một chỗ thiếu….xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba , bốn trăm năm.

    Về nội dung, có nhiều bài hát giặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến.

    Về hình thức, phần nhiều các bài hát dặm đều gồm những câu năm chữ và cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lại lấy một ý, điệp cả về ý, lẫn lời:

    vd:

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    hay:

    Thấy những lời kêu trách

    Nghe những lời kêu trách

    Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát, nólàm nổi ý của câu hát, của cả bài.

    Hát giặm cũng có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung, và hình thức đều được trau chuốt.

    Hát giặm Nghệ Tĩnh không hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được nhân dân ưa thích và phổ biến rộng rãi

    VD:

    Trai:

    Tiết thanh nhàn thong thả

    Muốn thăm hỏi vài câu

    Cuốc thánh thót kêu sầu

    Gió phảng phất mùa sâu

    Nhớ trong sách đã lâu:

    Chuyện “Tư mã phượng cầu”

    Thương thì mũi tìm trâu

    Trâu đâu tìm chạc mũi

    Gái:

    Trời mở rộng phong quang

    Giã ơn trời mở rộng phong quang

    Em đánh tiếng đua sang

    Đêm tàn canh vò võ

    Tay em cầm con bấc đỏ

    Mong bỏ đĩa dầu đầy

    Mời bạn ở lại đây

    Đôi ta giở lời rày

    Tình đó với nghĩa đây

    Trai:

    Giống như đọi nác đầy

    Bưng nhẩn nhẩn trên tay

    Không khuy sơ một hột

    Gió nỏ triềng một hột

    Công đôi ta thề thốt

    Kể đã mấy niên rồi

    Lòng đã quyết lứa đôi

    Ngãi đã quyết thề bồi

    Nhất ngôn nói hẳn lời

    Đừng bốn chốn ba nơi

    Đừng trăn gió chào mời

    Trăng nhiều trăng rạng rỡ

    Trăn nhiều đèn rạng rỡ

    Gái:

    Em đã có chồng rồi

    Em đã có lứa rồi

    Vung úp đã vừa nồi

    Đũa ghép đã thành đôi

    Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    Trai:

    Têm một quả trầu không

    Bỏ vô hộp con rồng

    Đi băng nội băng đồng

    Qua năm bảy khúc sông

    Qua chín mười đỗi đồng

    Nghe tin em đã có chồng

    Anh quăng lắc vô bụi

    Bạn gạt tùa vô bụi.

    Anh thương em một tháng hai kỳ

    Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày

    Năm rộn mà chầy

    Có hai mươi bốn miện (Miện = kỳ)

    Xuân qua rồi hè /đến

    Thu đã muộn, đông rồi

    Nhớ bạn cũ chưa nguôi,

    Sang lập xuân vũ thuỷ

    Đêm em nằm em nghĩ

    Nghĩ kinh trập, xuân phân,

    Lòng tưởng sự ái ân

    Sang thanh minh, cốc vũ

    Đêm dêm nằm nỏ ngủ

    Nhớ bạn mãi thường thường

    Tiết lập hạ nhớ thương

    Bước sang tuần tiểu mãn

    Trông ra ngoài chán chán

    Tiết mang hiện lại gần

    Người đập đất, gánh phân

    Để mùa màng gặt hái

    Anh thương em mãi mãi

    Sang hạ chí tiết hè

    Em nghe tiếng sầu ve

    Em buồn trong gia sự

    Bạn buồn trong gia sự

    ***

    Tiết tiểu thử, đại thử

    Trời nắng sốt lắm thay!

    Ra ngồi tựa cột cây

    Anh với em than thở

    Bạn với mình than thở

    ***

    Tiết lập thu, xử thử

    Ai diều sáo mặc ai

    Vàng lác đác giếng tây

    Ta thương người bạn cộ (Cộ = cũ)

    Nhớ mãi người bạn cộ

    ***

    Vừa đến tiết bạch lộ

    Bầy chim trắng bay sang

    Cây heo hắt lá vàng

    Sang thu phân hàn lộ.

    ***

    Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy)

    Tiết sương giáng lại kề

    Trông bạn cũ ta về

    Sang lập đông giá rét

    Tiết tiểu tuyết, đại tuyết

    Trời giá rét lắm thay

    Sang đông chí cấy cày

    Dạ bồi hồi nhớ bạn

    Tiết tiểu hàn chưa dạn

    Đã bước sang đại hàn

    Dạ tưởng nhớ người ngoan

    Vừa năm cùng tháng tận

    Vừa cuối mùa cuối tận.

    ***

    Phận lại ngồi trách phận

    Phận nỏ giám trách phận

    Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp

    6. Hát ví Nghệ Tĩnh:

    Hát Ví Nghệ Tĩnh là những loại dân ca xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Có nhiều điệu hát ví như: hát phường vải, hát phường cấy, hát đò đưa, hát phường buôn…. Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả.

    1. Hát phường vải:Giai đoạn 1:

    Những câu hát phường vải là những câu biểu lộ tâm tình của hai bên trai gái, hoặc là những ước mơ về yêu đương, hoặc là những lời oán trách kẻ chia rẽ tình duyên, và bao giờ cũng lạc quan, tin tưởng.

    Hat phường vải gồm có bốn giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: hát dạo, hát mừng, hát chào và hát hỏi. Giai đoạn thứ hai: hát đố và hát đối. Giai đoạn thứ ba: hát mời và hát xe kết. Giai đoạn thứ tư: hát tiễn.

    Hát dạo

    Bấy lâu thức nhắp mơ màng

    Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng

    *

    Bấy lâu nghe hết tiếng nàng

    Bên anh nức tiếng đồn vang đã lừng

    Nghe tin anh cũng vội mừng

    Vậy nên chẳng quản suối rừng anh sang

    *

    Bấy lâu anh mức chi nhà

    Để em dệt gấm thêu hoa thêm sầu

    *

    Đồn rằng cá uốn thân vây

    Đồn em hay hát, hát hay anh tìm

    *

    Chốn này vui vẻ, tưng bừng

    Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới nơi

    *

    Đêm khuya trời tạnh sương im

    Tai nghe tiếng nhạc, chàng Kim tới gần.

    *

    Dừng xa, khoan kéo, ơi phường!

    Hình như có khách viễn phương tới nhà

    *

    Đi qua nghe tiếng em reo,

    Nghe xa em kéo, muốn đeo em về.

    *

    Đi ngang trước cửa nàng Kiều,

    Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu

    *

    Đi ngang thấy búp hoa đa`o

    Muốn vào mà bẻ, sợ bờ rào lắm gai

    *

    Đồn đây là chốn Đao` Nguyên

    Trăng thanh gió mát, cắm thuyền dạo chơi

    *

    Lạ lùng anh mới tới đây,

    Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng

    *

    Đến đây vàng cũng như son

    Ai ai thời cũng như con một nhà

    Khi nháy mắt, khi nhện sa

    Khi chuột rích trong nhà

    Khi khách kêu ngoài ngõ

    Tay em đưa go đủng đỉnh

    Tay em chìa khoá động đào

    Bước năm lần cửa, ra chào bạn quen

    *

    Mừng rằng bạn đến chơi nhà

    Cam lòng thục nữ gọi là trao tay

    Hát hỏi

    Em có chồng rồi, em nói rằng chưa

    Tội riêng em đó, nỏ lừa được anh

    *

    Em chưa có chồng, em mới đến đây

    Chồng rồi chiếu trải, màn vây ở nhà Anh về chẻ lạt bó tro

    Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.

    Em về đục núi lòn qua,

    Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng

    *

    Trai thanh xuân ngồi hàng thuốc bắc,

    Gái đông sàng cảm bệnh lầu tây

    Hai ta tình nặng nghĩa dày,

    Đối ra đáp được, lúc này tính sao?

    *

    – Đến đây hỏi khác tương phùng

    Chim chi một cánh bay cùng nước non?

    -Tương phùng nhắn với tương tri,

    Lá buồm một cánh bay đi khắp trời

    *

    – Lá gì không nhánh, không ngành?

    Lá gì chỉ có tay mình trao tay?

    – Lá thư không nhánh, không ngành,

    Lá thư chỉ có tay mình trao tay.

    *

    – Nghe tin anh hoc có tài

    Cha thầy Mạnh Tử là ai rứa chàng?

    – Thầy Mạnh, cụ Mạnh sinh ra

    Đù mẹ con hát, tổ cha thằng bày!

    *

    – Người Kim Mã cưỡi co ngựa vàng

    Đất Phù Long rồng nổi, thì chàng đối chi?

    – Người Thanh Thuỷ gặp khách nước trong

    Hoành sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa?

    *

    Nghe anh bôn tẩu bấy lâu

    Nghệ An có mấy chiếc cầu hỡi anh?

    – Nghệ An có ba mươi sáu chiếc cầu

    Phồn hoa đi lại bốn cầu mà thôi

    Cầu danh, cầu lợi, cầu tài

    Cầu cho đây đó làm hai giao hoà

    *

    Nhớ em nhất nhật một ngày

    Đêm tơ tưởng dạ, làng rày nhớ trông

    – Chờ em nửa tháng ni rồi

    Ôm đờn bán nguyệt, dựa ngồi cung trăng

    *

    – Nghe tin anh giỏi, anh tài

    Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?

    – Thiên thai là của nàng Kiều

    Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra

    Lê Thị Thu Hoài @ 12:57 03/03/2012

    Số lượt xem: 21143

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Cuộc Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương Đất Nước ❤️ Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Kháng Chiến Hào Hùng Của Dân Tộc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em Hay Nhất ❤️ 1001 Câu
  • Ca Dao, Tục Ngữ Chế Về Tình Yêu ( Vào Đọc Ngay Nào)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100