Ca Dao Tục Ngữ Bình Định

--- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Hay Nhất
  • ‘Bình Định nón Gò Găng

    Bún Song thần An Thái

    Lụa Đậu tư Nhơn Ngãi

    Xoài Tượng chín Hưng Long

    Mặc ai mơ táo ước hồng

    Tình quê em giữ một lòng trước sau.

    Bình Định có hòn Vọng Phu

    Có đầm Thị Nai có Cù Lao Xanh.

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa.

    1.Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.

    2.Bình Định có núi Vọng Phu Có Đầm Thị Nại có Cù Lao xanh.

    3.Công đau công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

    4.Mẹ ơi đừng đánh con đau Để con đánh trống hát tuồng mẹ nghe.

    5.Ai về Bịnh Định mà coi Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.

    6.Ai về Bình định thăm bà Ghé vô em gởi lạng trà Ô long. Trà Ô long nước trong vị ngọt Tình đôi mình như đọt mía lau chúng tôi đi bờ lở một mình Phất phơ chéo áo giống hình trò

    Ba Trò Ba đi học trường xa

    Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi

    8.Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cá nghiên anh đồ.

    Tiếng đồn Bình Định tốt nhà Phú Yên tốt lúa, Khánh Hoà tốt trâu

    .Công đâu công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    .Em về Đập Đá quê cha Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê chồng

    13.Anh về Đập Đá , Gò găng Bỏ em kéo vải sáng trăng một mình Tiếng ai than khóc nỉ non Vợ chàng lính thú trèo hòn Cù Mông

    14.Chiều chiều én liệng Truông Mây Cảm thương Chú Lía bị vây trong thành

    15.Non Tây áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

    16.Cây Me cũ, Bến Trầu xưa Dẫu không nên tình nghĩa cũng đón đưa cho trọn niềm

    17.Ngó vô Linh Đỗng mây mờ Nhớ Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây

    18.Hầm Hô cữ nước còn đầy Còn gương phấn dũng , còn ngày vinh quang

    19.Bình Định có đá Vọng Phu Có đầm Thị Nại có Cù lao Xanh Lụa Phú Phong nên duyên nên nợ Nón Gò găng khắp chợ mến thương

    20.Bên kia sông, quê anh An Thái Bên này sông, em gái An Vinh Thương nhau chung dạ chung tình Cầu cha mẹ ưng thuận cho hai đứa mình lấy nhau

    21.Cưới nàng đôi nón Gò Găng Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn Ai về Tuy Phước ăn nem Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm

    22.Rượu ngon Trường Thuế mê li Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi sao đành

    23.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Gi Sông xanh, núi cũng xanh rì Vào Nam, ra Bắc ai cũng đi con đường này Nghìn năm gương cũ còn đây Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu – Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi Dễ chi nhân ngãi mà rời được nhau

    24.Tháp kia còn đứng đủ đôi Cầu còn đủ cặp huống cho tôi với nường ( nàng) Suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Thiếp ngồi dệt vải chỉ mong bóng chàng Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu Ôm đàn gảy khúc Cầu hoàng Thiếp xin gõ nhịp để chàng lựa dây Bao giờ rừng quế hết cây Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình Dừa xanh sừng sững giữa trời Đem thân mà hiến cho đời thuỷ chung

    25.Muốn ăn bánh ít nhân mè Lấy chồng Hòa Đại đạp chè thâu đêm Muốn ăn bánh ít nhân tôm Lấy chồng Hòa Đại ăn cơm củ mì

    26.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di Sông xanh núi cũng xanh rì Vào Nam ra Bắc cũng đi đường này chúng tôi về Phù Mỹ nhắn nhe Nhắn chị bán chè sao vậy chẳng lên?

    Anh về dưới vạn thăm nhà

    Ghé vô em gởi lạng trà Ô Long

    chúng tôi về Bình Định thăm cha Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em

    29.Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông

    30.Khéo khen con tạo trớ trêu

    Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ

    32.Ai về thăm cảnh An Khê

    Sông Ba chồng nhớ vợ nhà Sông Côn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Hò Vè Bình Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Sử Khai Phá Bình Dương Qua Dân Ca, Thơ Ca Dân Gian Làng Tương Bình Hiệp
  • Thành Ngữ Và Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ A, Chữ Ă, Â ?
  • Cà Mau Xưa Qua Các Câu Thơ & Ca Dao
  • Kho Tàng Ca Dao Tục Ngữ
  • Tìm Hiểu Du Lịch Qua Ca Dao Ở Một Số Tỉnh Miền Tây Nam Bộ Theo Hướng Du Lịch Sinh Thái Hiện Đại
  •  

     

    1. Ca Dao Tục Ngữ, Hò Vè Bình Định: Con Người và Lịch Sử

    Văn học dân gian, một mảng không nhỏ trong nền văn học Việt Nam đã

    có từ lâu đời là dòng suối con ngọt lành đổ về dòng sông xanh mẹ văn học.

    Ca dao, tục ngữ, dân ca, hò vè lại là một mảng không nhỏ nữa trong văn

    học dân gian bao gồm: Thần thoại, Cổ tích, Truyện cười, Ngụ ngôn.

    Tục ngữ, ca dao, dân ca, hò vè là tiếng hát bình dị, mộc mạc, phong phú

    của cả ba miền Bắc, Trung, Nam.

    Trong phần tổng kết quá trình sưu tầm văn học dân gian ở Bình Định (miền

    Trung), người viết xin trình bày vắn tắt với trích dẫn một phần nhỏ sưu

    tầm được từ xã Nhơn Hậu, An Nhơn (với 360 câu ca dao, 120 câu tục ngữ,

    hò vè).

    Bình Định giáp ranh giới với Phú Khánh (bao gồm hai tỉnh Khánh Hòa và

    Phú Yên). Non sông với những lằn ranh thay đổi theo lịch sử. Con người

    nằm trong hoàn cảnh ly tán. Bởi vậy, dân gian hát ru:

    Ai về Bình Định thăm cha

    Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em.

    Dị bản:

    Ai về Bình Định quê ta

    Phú Yên quê chị, Khánh Hòa quê em.

    ”Mẹ”, ”Chị” và ”Em” được trùng phùng. Hai tỉnh Khánh Hòa và

    Phú Yên nhập lại thành Phú Khánh còn ”Cha” thì nhập vào với dì

    ghẻ ”Quảng Ngãi” thành ra Tỉnh Nghĩa Bình.

    Mỗi địa danh đều có một nét đặc sắc riêng biệt của nó về lịch sử, thắng

    cảnh và văn học khó mà lẫn lộn.

    I. Bình Định: Con người và lịch sử:

    Đất Bình Định xưa thuộc bộ Việt Thường – một trong mười lăm bộ Văn Lang.

    Bình Định gắn liền với thành Quy Nhơn (Hoài Nhơn năm 1602, thời Nguyễn

    Hoàng) và gắn liền cái tên với lịch sử lừng lẫy một thời: Thành Đồ Bàn (còn

    gọi là Vijara-Chà Bàn – Kinh đô của Chiêm Thành). Trải qua bao cuộc

    huyết chiến đẫm máu tàn khốc giữa Việt Nam và Chiêm Thành, giữa anh em

    Bắc – Nam, Trịnh – Nguyễn, giữa hai họ Nguyễn Ánh và Nguyễn Tây Sơn;

    thành Quy Nhơn bị phá bởi Nguyễn Ánh và được đổi tên là thành Bình Định

    vào năm 1799.

    Lịch sử Quy Nhơn – Bình Định được ghi thêm vào một thành ngữ ”Một

    Vương, hai Đế” để ám chỉ nhà Tây Sơn gồm Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ,

    Nguyễn Lữ với các danh tướng Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Bùi Thị Xuân…

    Bên cạnh đó, Bình Định lại có thêm Mai Xuân Thưởng và phong trào Cần

    Vương với Bùi Điền, Nguyễn Cang, Nguyễn Hoá… cùng Trần Quý Cáp, Trịnh

    Phong của Khánh Hòa ghi vào lịch sử hai tỉnh những trang sách vẻ vang.

    Bao nhiêu vết tích (đổ rồi xây), bao nhiêu sự nghiệp (lên và xuống), bao

    nhiêu máu xương, nước mắt (thù và mình) đã tạo cho mảnh đất Bình Định

    một nét hào hùng riêng biệt ít nơi nào có.

    Văn học đi cùng lịch sử. Văn học Bình Định với mảng văn học dân gian

    (phần ca dao, tục ngữ, hò vè, đối đáp) vẫn sinh sôi, nẩy nở từ bối cảnh

    hào hùng nhưng cũng nhuộm màu thê lương, đậm đà sự duyên dáng vốn có của

    ca dao, dân ca; ý nhị của hò vè và không mất cái thâm thúy, sâu sắc của

    tục ngữ. Mảng này gồm ba phần: Thắng cảnh, Hương vị đặc biệt

    Lịch sử:

    Người đẹp phải moi óc để

    biết do chính là vua Bảo Đại xây. Ăn bánh xèo xong, đố lịch sử cũng đã,

    người ta quay về với thi nhân:

    Em về Ghềnh Ráng, em có nhớ dáng thi nhân

    Tuổi đời lận đận, mạt vận là ai kia drậy cà?

    (Nguyên lời kể ”Tuổi đời lận đận, mạt vần là ai kia drậy cà

    ?” Người chép xin được đổi một từ ”mạt vần” thành ”mạt

    vận” cho hợp nghĩa với cuộc đời tàn phế thương đau của Hàn Mặc Tử).

    Mộ Hàn Mặc Tử từ Quy Hoà dời ra Ghềnh Ráng là một nơi người để người hâm

    mộ đi về chia xẻ, thương xót kiếp phế nhân của một tài hoa có số phận

    hẩm hiu.

    Quy Nhơn có thành quách lịch sử. Quy Nhơn có mộ địa thi nhân. Quy Nhơn

    còn là nơi của ”Bàn thành tứ kiệt” trong tục ngữ: ”Nhất

    Yến, nhì Hàn, tam Lan, tứ Quách” (na ná như ”Nhất dáng, nhì da,

    thứ ba là mốt”) để ám chỉ bốn thi nhân: Yến Lan, Hàn Mặc Tử, Chế

    Lan Viên, Quách Tấn.

    Quy Nhơn từ dạo ấy đã nổi tiếng là thành phố của thi ca. Những con số

    thứ tự, người viết nghĩ không phải để xếp hạng mà chỉ là cho suông câu,

    suông miệng. Nếu có thể, người viết xin thêm: ”Nhất Yến, nhì Hàn,

    tam Lam, tứ Quách, ngũ Thanh” (đó là nhà thơ Thanh Thảo).

    Quy Nhơn, thành phố của thi ca, của nét đẹp thiên nhiên với những tấm

    lòng chân chất, quật cường. Quy Nhơn là chứng nhân lịch sử đưa vào Bình

    Định những trang lịch sử kinh hoàng, thảm khốc.

     

    1. Thắng cảnh:

    Vì đây là bài viết sưu tầm nên toàn hầu hết, người viết chỉ ghi lại

    những gì ”mắt thấy, tai nghe” những lời kể, những câu ca dao.

    Những câu ca này, phần lớn có nhiều dị bản (theo tính đặc thù riêng của

    mảng tục ngữ, ca dao, dân ca).

    Quy Nhơn có rất nhiều thắng cảnh mà ca dao ghi lại:

    Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi

    Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông.

    Hay ướt át hơn:

    Đứng trên Quy Nhơn nhìn lại bán đảo Phương Mai

    Cạnh đầm Thị Nại nhớ ai hôm nào?

    Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?” như một điệp khúc không

    dành riêng cho Bình Định nhưng bán đảo Phương Mai hay đầm Thị Nại với

    nguồn thủy sản hấp dẫn thì lại là của riêng Bình Định mà chẳng nơi nào

    có. Đầm Thị Nại ”nhớ ai” không ai biết nhưng nỗi nhớ đó chính

    là nỗi nhớ của lịch sử. Nhớ ai? Là nhớ những người đã đổ máu giữa hai

    cuộc chiến do hai dòng họ Nguyễn với Nguyễn Vương từ Gia Định ra Diên

    Khánh, tiến quân ra Quy Nhơn qua cửa Thị Nại chăng? Người kể không chắc

    chắn còn người viết chỉ ”đoán già, đoán non”. Nhưng hai câu ca

    dao này thì rõ ràng hơn:

    Khéo khen con tạo trớ trêu

    Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ.

    ”Bãi Trứng” đưa chúng ta về ”Sự tích trăm trứng” – cổ

    tích mà cũng như thần thoại về những người Việt Nam cùng cha, cùng mẹ ”con

    Rồng, cháu Tiên” trên đất Việt Nam nói riêng và đất Bình Định nói

    chung. Nhìn cảnh nhớ người, nhìn vật nhớ lịch sử, câu ca dao này có giá

    trị như một chứng nhân nguồn gốc tổ tiên.

    Quy Nhơn quả có địa điểm du lịch là ”Bãi Trứng”. gồm

    hàng ngàn hòn đá xanh, tròn nhẵn được xếp đặt rất công phu và khéo léo

    bởi bàn tay thiên nhiên làm du khách có thể liên tưởng đến một ”Hòn

    chồng” ở Đồng Đế – Nha Trang. Nếu Bình Định có ”Bãi Trứng”

    là ”Hòn vợ” thì ở Khánh Hòa có ”Hòn chồng” ứng với cái câu:

    Bình Định nghĩa vợ. Phú Khánh tình chồng

    Quy Nhơn triền sóng vỗ lòng núi sông.

    ”Bãi Trứng” nằm trong khu du lịch Ghềnh Ráng và lọt trong ”Bãi

    tắm Hoàng hậu”. Con tạo thật khéo trớ trêu nhưng nếu tạo hóa đã nắn

    ra một ”Hòn vọng phu” trong nắng, trong mưa làm nhũng lòng bao

    nhiêu người nhớ về cổ tích, đã tạo ra một ”Hòn chồng” ngàn năm

    sóng xô thì tại sao không thể cho ra một hòn vợ là bãi trứng của bà Âu

    Cơ? Nào Bãi Tiên, nào Tháp Cánh Tiên, nào khu Quy Hòa… với từng con

    sóng vỗ miên man…

    …Vào Ghềnh Ráng nhớ lại nàng

    Nam Phương hoàng hậu giăng màn… tắm ở đây.

    Ý ca dao như bổ sung cho ”Bãi Trứng” nhưng nghe sao có chút

    gì đó mai mỉa. Té ra, người ta đang ”trách nhẹ” vị vua cuối cùng của

    Nguyễn triều là Bảo Đại đã học cách Đường Minh Hoàng phung phí của cải

    mà cúc cung cho ”người đẹp” trong lúc nước nhà loạn lạc ”một cổ

    hai tròng” là Nhật – Pháp trước năm 1945. Rồi sau đó, người bản xứ

    cũng quay về tâm tình mặn mà của quê hương:

    Ai về thăm cảnh An Khê

    Sông Ba chồng nhớ vợ nhà Sông Côn.

    Nét đặc trưng của ca dao viết về quê hương thường mở đầu: ”Ai”

    đầu câu rồi ghép: Ai đi? Ai về? để biểu đạt tình cảm dạt dào

    mong muốn có người chia xẻ. Tại sao gọi hai con sông trên là vợ, là

    chồng; những người bản xứ suy đoán: Có lẽ vì mối quan hệ thân thiết giữa

    hai con sông này thông vào nhau như duyên chồng vợ:

    Cù lao xanh thương anh ở đảo

    Sông Hà Giao dạo khúc tâm tình.

    Mong sao hai đứa tụi mình

    Như mây với nắng bóng hình có nhau.

    Sông Hà Giao cũng là tên của sông Côn nhưng vì sao có hai tên như

    vậy thì người Quy Nhơn cũng chịu. Thế nhưng có một điều, người ta chắc

    chắn rằng: Con sông Côn vợ này dịu dàng lắm. Cô ta không tác yêu, tác

    quái mới dạo được “khúc tâm tình” với những người ở đảo. Những

    Hầm Hô, Sa Khổng Lồ, Hòn Ngang, Hòn Trống, Hòn Chiên, Hố Rùa… đã tạo

    nên vẻ đẹp thiên nhiên mà người đến thăm một lần qua, nhớ mãi!

    Đất trời nơi đâu thế nào, con người ở đấy thế ấy. Nếu thiên nhiên đã hậu

    đãi người Quy Nhơn, đất Bình Định thì người Bình Định, dân Quy Nhơn

    chẳng thể bạc bẽo ở tình người. Tình người ngọt lịm trong hương vị Quy

    Nhơn.

     2. Hương vị đặc biệt của xứ Rùa:

    Những đặc sản ở vùng quê biển, người ta không lạ nhưng có một vài món lạ

    ở xứ Rùa mà nhiều người chưa có diễm phúc nếm qua. Đó là những món bánh

    dún, bánh gõ bột mì, bánh tráng sữa… có ở nông thôn Bình Định. Những

    bánh ít, bánh rế, bánh tai vạc, kẹo đỗ, chanh ngào đường… cũng đi vào

    ca dao:

    Thương em vất vả với cái bánh mõ bột mì

    Nhưng em đừng nghĩ anh chỉ vì này nọ kia.

    Anh ”drìa” đến huyện Hoài Ân

    Kiếm trà ”Cam Khổ” chia ngọt bùi cùng em.

    (Người viết đổi ”về” thành ”drìa” cho đúng với âm

    tiếng nẫu).

    Kẹo đỗ, bánh mõ Bình Định, người viết bài được thử qua nhưng ”Trà

    Cam Khổ” với cam lai thì… cam đoan chả ai mời người sưu tầm văn

    học này uống một hớp để thử xem hương vị đắng, ngọt tới mức nào! Nhưng

    câu thành ngữ này là chìa khóa ”vừng mè ơi, mở cửa“: ”Trái

    đắng khổ qua, bạn trà Cam Khổ”. Đọc lên là biết ngay hương vị loại

    trà này: Đắng nghét. Cây trà này mọc từ Núi Chúa ở Hoài Ân. Người Bình

    Định đã uống trà đắng này mà ”cam khổ” để ”chia ngọt, bùi

    cùng em” là khẳng định một tấm chân tình hiếm có.

    Đàn ông, con trai Bình Định chịu đắng. Đàn bà, con gái Bình Định chịu

    roi:

    Trai Quảng Ngãi. Gái Bình Định

    Roi Thuận Truyền. Quyền An Thái.

    Hay:

    Ma Bình Thuận. Cọp Khánh Hòa

    Gió Tu Hoa. Góa Bình Định.

    Đọc lên, người ta ngấm ngầm hiểu đàn bà con gái Bình Định là ”dữ

    dằn” không thể chọc ghẹo. Nét dữ dằn ấy lại có tính chất lịch sử:

    Ai về Bình Định mà coi

    Con gái Bình Định cũng biết đi roi, đi quyền.

    Dị bản:

    Ai về Bình Định mà coi

    Con gái Bình Định bỏ roi, đi quyền.

    Hoặc:

    Ai về Bình Định mà coi

    Con gái Bình Định cưỡi voi diệt thù.

    Một nét căn bản khác nổi bật vẫn là sự cần cù với một mái gia đình

    chăm chỉ, đầm ấm:

    Chồng chài, vợ lưới, con câu

    Bà ngoại đi xúc, cháu dâu đi mò.

    Dừa xanh Tuy Phước, Gò Bồi

    Chài, lưới, câu, xúc, mò con cá Bống mủn ăn cùng nồi cơm niêu.

    Món đặc sản này có lẽ không ai nỡ lòng mà ăn! Hơn nữa, món bánh xèo

    từ Nha Trang đã vượt mấy cái đèo: Rù Rì, Ruột Tượng, Cổ Mã, Đèo Cả, Cù

    Mông để ra món bánh xèo Quy Nhơn vàng rực, dòn khấy chưa ăn mà nghe

    tiếng ”xèo” đã chảy nước miếng, ngon não nùng:

    Thương em thân phận bánh xèo

    Tìm em, anh vượt cái đèo Cù Mông.

    Từ Nha Trang qua mấy cái đèo ngoằn nghèo đến đèo Cù Mông là tới Quy

    Nhơn. Chữ ”xèo” âm nghe sao mà ”èo uột” gán cho thân phận phụ

    nữ từ cái ”Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương đến cái bánh xèo

    Quy Nhơn cũng ”ba chìm, bảy nổi”, xèo tới, xèo lui, cháy lên,

    cháy xuống. Chúng đúng với thân phận thấp hèn, xót xa trong ca dao:

    Thương em thân phận con rùa. Trên đình đội hạc, dưới đình đội hia”

    hay ”Thương em thân phận con chim. Chim bay biển Bắc, anh lại đi tìm

    biển Nam”. Những ví von, ẩn dụ này nghe quen tai hơn ”Thương em

    thân phận bánh xèo”. Nét độc đáo của cao dao Bình Định là chỗ khác

    người như thế! Người viết thích cái câu này hơn:

    Anh về dưới Giã hồi hôm

    Gánh phân bỏ ruộng, gió nồm bay lên.

    Giã cũng là Quy Nhơn. Hình ảnh chàng trai đồng quê ”tranh thủ” bón

    phân cho lúa vào ban đêm nói lên sự cần cù đáng quý. Nó toát lên hết nếp

    sống chăm chỉ làm ăn, siêng năng cày cấy với công việc đồng áng được

    phân chia đồng đều: ”Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”. Đây

    chính là hình ảnh đẹp nhất của người nông dân Việt Nam một thời tay lấm

    chân bùn, đầu tắt, mặt tối.

    Cái chơn chất của người Bình Định cũng rất lý trí qua những câu hò vè mà

    các cụ già ngồi hát:

    Hò ơ… Nếu giỏi giang thì cho thiếp hỏi chàng

    Ba năm ông Hậu hờ…,

    Ba năm ông Hậu chớ đố chàng là ai?

    Dĩ nhiên, người đáp phải nắm chút

    ít kiến thức lịch sử. Nếu không, chàng bị cho là ”dốt bỏ xừ”.

    Trả lời xong, chàng đố lại:

    Hò ơ… Em về Ghềnh Ráng có rảnh, có rang

    Ghé ngang bãi tắm Hoàng hậu hờ…, ghé ngang bãi tắm Hoàng hậu, anh đố

    nàng ai xây?

    3. Những dòng hò vè

    nhuộm sắc màu lịch sử:

    Bình Định có câu: ”Nguyễn Nhạc vi vương. Nguyễn Huệ vi tướng”.

    Câu này cũng giống như tương truyền, Nguyễn Trãi thông minh đã dùng mỡ

    bôi vào lá cho kiến đục ăn mà thành mấy chữ: ”Lê Lợi vi quân. Nguyễn

    Trãi vi thần” để tập hợp lực lượng thống nhất chống nhà Minh xâm

    lược. Câu ”Nguyễn Huệ vi tướng” là chưa chính xác vì Nguyễn Huệ

    có tướng làm vua: Quang Trung hoàng đế là vị vua tài giỏi về cầm binh

    thần tốc nhất trong lịch sử Việt Nam chứ không phải có số làm tướng.

    Hầu hết, những người ở Quy Nhơn nói chung và Nhơn Hậu – An Nhơn nói

    riêng đều tự hào là quê hương của Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ. Họ

    đều ca ngợi, khâm phục Nguyễn Huệ tài giỏi và ”trí, nhân” hơn người

    anh cả Nguyễn Nhạc. Họ ghét Nguyễn Ánh với sự trả thù man rợ đối với nhà

    Tây Sơn nhưng không ghét tướng Nguyễn Ánh là Võ Tánh và Ngô Tùng Châu.

    Võ Tánh – em rễ phò mã, là đại tướng của Nguyễn Ánh vì giữ thành Quy

    Nhơn không nổi nên tự thiêu trên lầu Bát Giác, còn Ngô Tòng Châu phải

    uống thuốc độc tử tiết để cứu lấy hơn tám ngàn binh sĩ bị vây trong

    thành bởi kiện tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu. Người dân Bình Định cao cả

    với nghĩa cử cũng rất độc đáo là: Thông cảm và thương tiếc vô hạn cho

    những người trung liệt:

    Trung trinh thật đáng tướng hiền

    Cảm thương ông Hậu thủ thiền ba năm.

    Dị bản:

    Ngó lên ngọn tháp Cánh Tiên

    Hỏi thăm ông Hậu thủ thiền vì ai?

    Hay:

    Ngó lên hòn tháp Cánh Tiên

    Cảm thương ông Hậu thủ thiền ba năm.

    Câu hò ông Hậu là ai chính là Hậu tướng quân Tả tiền dinh chưởng cơ:

    Võ Tánh phò mã.

    Người viết còn được nghe một loạt bài vè về nữ tướng Tây Sơn Bùi Thị

    Xuân và vè chàng Lía nhưng có vẻ không hợp với sử sách nên không chép.

    Người viết còn nhớ một chàng Lía ngày xưa:

    Chiều chiều én liệng Truông Mây

    Cảm thương chú Liá bị vây trong thành.

    Dị bản:

    Chiều chiều én liệng Truông Mây

    Cảm thương chú lính bị vây trong thành.

    Ám chỉ quận He Nguyễn Hữu Cầu với bài vè:

    Nghe vẻ, nghè ve, nghe vè chàng Liá

    Miệng mồm lia lịa, chân đá tiá lia…

    Bài vè này như để chỉ sự lanh lợi của một kẻ ngang tàng, nổi dậy

    nhưng nó chưa đúng với Nguyễn Hữu Cầu. Trong lịch sử, nhân vật này hoạt

    động ở Nghệ An trở ra nên không dính dấp gì đến chàng Lía Truông Mây ở

    Bình Định cả.

    Một cuộc chiến tranh thảm khốc xảy ra ở Tây Sơn đã xoá sổ một triều đại

    Chiêm Thành thời Lê Thánh Tôn tại thành Đồ Bàn, để lại những câu ngậm

    ngùi như tiễn đưa một dân tộc ra đi vĩnh viễn:

    Đồ Bàn trống đã sang canh

    Nhất Vương, nhị Đế lừng danh một thời.

    như tiếc nuối cho thời vàng son rực rỡ mà ngắn ngủi của dân tộc Chàm

    và triều Tây Sơn Nguyễn Huệ! Tập thơ ”Điêu tàn” của Chế Lan

    Viên với những hồn ma phiêu bạt và khúc nhạc ”Hận Đồ Bàn” bất

    hủ của nhạc sĩ Xuân Tiên qua tiếng hát Tú Nhi (Chế Linh) đã ra đời trong

    sự xúc động tột đĩnh của thi nhân và nhạc sĩ khi tìm lại bóng ”Người

    xưa đâu mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu… Triền sóng xô, muôn

    tiếng vang trong lúc đêm trường về”!

    Đồ Bàn của Chàm. Phan Rang cũng của Chàm nên có chung đặc sản là món

    ”Bánh rế”:

    Bánh Rế kể lể chuyện đời

    Mời anh xơi để nhớ thời Bồng Nga.

    Thời Chế Bồng Nga huy hoàng đã qua. Một triều sáng chói Tây Sơn

    Nguyễn Huệ cũng lùi vào dĩ vãng. Nhất vương Nguyễn Lữ tam đệ –

    một tướng không được coi là dũng cảm. Nhị Đế kia là một Trung

    ương Hoàng Đế Nguyễn Nhạc, hoàng huynh và một Đế nữa là Quang Trung

    Hoàng Đế Nguyễn Huệ tài ba yểu mệnh, nhị đệ. Hai dòng họ Nguyễn tranh

    nhau chữ “Đế” ròng rã nối tiếp thời vua Lê, chúa Trịnh. Một nước không

    thể hai vua, một nhà làm sao hai chủ? Thế là trận chém giết giữa anh em,

    chú cháu, con dì mãi mấy thế kỷ. Tây Sơn ghi lại tiếng thở dài chung cho

    ”Nhất vương, nhị Đế”:

    Nhâm Tý, Quý Sửu, Mậu Thân

    Nhất vương, nhị Đế lần lần quy tiên.

    Dị bản:

    Nhâm Tý, Quý Sửu, Mậu Thân

    Nhất vương, nhị Đế mãn phần quy tiên.

    (Người viết đổi ”mãn phần” thành ”lần lần” hoặc “dần

    dần” vì từ ”mãn phần” với từ ”quy tiên” là từ đồng

    nghĩa, khác âm).

    Tây Sơn chấm hết, Quy Nhơn – Bình Định mở ra một huyền thoại lịch sử

    khác về người anh hùng chống Pháp dưới hịch ”Cần Vương” của vua

    Hàm Nghi (một nhà không phải “Nhị Đế” mà là “Tam Đế”:

    Kiến Phước – Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh):

    Nước mắt Phú Phong chảy qua Phú lạc

    Đầu rơi còn tạc tiếng ông Mai.

    Người anh hùng ấy là Mai Xuân Thưởng và tên ông đã để lại tên đường.

    Quy Nhơn, quê hương anh hùng vì đã sinh ra những người anh hùng, hào

    kiệt sống mãi với nghìn năm.

    II. Tình người gởi lại xứ Quy Nhơn:

    Đất An Nhơn có truyền thống đánh giặc từ lâu

    đời. Con người An Nhơn nói riêng và Bình Định nó chung đã gắn bó với

    ruộng đồng với biển xanh làm nên lịch sử cho một ”xứ nẫu” có tâm tình

    dạt dào đến não ruột:

    Ai về nhắn với nẫu nguồn

    Măng tre trên anh gởi xuống, dưới cá chuồn em mang lên.

    Ca dao, hò vè, tục ngữ Bình Định chắc chắn sẽ còn nhiều khám phá mới

    mẻ hơn, đặc sắc hơn về con người và lịch sử ở đây. Mảng văn học này đã

    và sẽ bổ sung vào nền văn học dân gian Việt Nam ít nhiều giá trị trên

    hai mặt: Nội dung và Hình thức với tình người ấm áp đầy thương mến. 

    Quy Nhơn, tháng 3/1983

    Ngọc Thiên Hoa

     

    (Viết tiếp những dòng hai mươi ba năm

    trước)

    Tôi đã trở về nơi đây sau hai mươi năm trời xa cách. Quy Nhơn thành phố

    biển vẫn đêm ngày đưa đón người đi xa. Thành phố đã đổi thịt thay da sầm

    uất hơn ngày nào nhưng tiếng sóng vỗ vào bờ vẫn dội vào lòng tôi những

    ngày xưa thân ái. Những con còng hai mươi năm trước ”chắc nay đã về

    già. Cuối trường cây hoa sứ một mình rụng từng hoa”. Già trong nỗi

    nhớ thương từng con đường Nguyễn Huệ, Lê Hồng Phong, Phan Bội Châu, Trần

    Phú… dài theo từng kỷ niệm. Mái trường phố biển ngày xưa hiền hòa,

    khiêm tốn nay tráng lệ, huy hoàng… trở thành nỗi khắc khoải trong tôi.

    Những hòn đá trứng nơi ”Bãi Trứng” trong tay tôi hình như cựa

    quậy… Mùa hè chia tay thoáng chốc hai mươi năm!

    Khu Ghềnh Ráng vẫn thân ái chào đón người xưa mà lòng người nghe như

    tiếng mưa rơi rụng trong lòng. Khu Quy Hòa vẫn lặng lẽ đón nhận những

    cuộc đời bạc phước như đã từng mở rọng vòng tay đón nhận một thi nhân

    Hàn. Ngôi mộ Hàn đơn sơ nhìn xuống Ghềnh nghe sóng hát mãi khúc Kinh Cầu!

    Tháp Cánh Tiên! Những ngọn tháp Chàm sừng sững, hiên ngang trong sương

    gió. Tôi chạm tay vào đó cầu xin được làm kẻ tiễn sau cùng! Dân tộc nào

    mất nước chẳng thương đau!

    Tôi cũng đã bước trên bờ thành một Kinh Đô tàn phế và lòng lâng lâng khi

    đi vào nhà Bảo tàng di tích Tây Sơn. Tôi đã quắc mắt nhìn vào quá khứ

    dụng hình tàn bạo của kẻ chiến thắng và cuối đầu lặng lẽ rơi nước mắt

    dưới chân vợ chồng người nữ tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu – Bùi Thị Xuân

    anh hùng.

    Bao la vẫn là biển. “Biển Quy Nhơn bọt sóng trắng Quy Hòa!”. Lịch

    sử đi qua… vô tình ném trả những kỷ niệm xa xăm còn in dấu vô hình!

    Quy Nhơn!

    Quê hương – tình yêu tuổi học trò và một thời tuổi trẻ. Những ai còn, ai

    mất vẫn là nỗi ngậm ngùi cho kẻ đi xa.

    Ai về Bình Định quê cha

    Phú Yên quê mẹ. Khánh Hòa quê em.

    Phú Khánh đã trả lại tên cho em. Nghĩa Bình cũng quay vể những ngày

    chưa tách tỉnh. Ai sẽ trả lại cho ta cái Hồn người đã mất từ những tháng

    ngày không êm ả để hồn ta chịu nhập về thân xác của mình!

    Quy Nhơn!

    ”Nơi đó không là nơi ta sinh ra. Nhưng nơi đó là nơi ta từng

    nghe thành phố thở. Đã rời xa nhưng sao ta vẫn thấy nhớ một đời. Quy

    Nhơn hỡi Người! Ta gởi lại tháng năm yêu”./.

     

    Quy Nhơn, tháng 3/1983

    Lisle, tháng 3//06

    Ngọc Thiên Hoa

    Chân thành cám ơn tới:

    – Các bác xã Nhơn Hậu – An Nhơn, Bình Định đã cung cấp phần ca dao, tục

    ngữ, hò vè, đối đáp.

    – Nhà truyền thống Tây Sơn, Quy Nhơn.

    – Kính cám ơn sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Xuân Nhân, thầy Huỳnh Văn Tới

    (Khoa Ngữ Văn ĐHSPQN) phụ trách phần Văn học dân gian VN năm

    1983.

    Tư liệu tham khảo có sử dụng:

    Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim, Nxb VHTT – 1999).

    Việt Nam quê hương Bình Định mến yêu (vietshare.com,

    quehuong.org).

     Xin trân trọng cám ơn.

     

    Thơ thằng Lía

    (Tục gọi Dương Doan Văn Lía – Cử

    Hoành Sơn soạn)

    Ngàn năm dưới bóng thái dương,

    Biết bao là sự lạ thường đáng ghi,

    Noi nghề hàng mặc bấy nay,

    Một pho dị sự vắn dài chép ra.

    Trước là giải muộn ngâm nga,

    Sau nêu gương nọ đặng mà soi chung.

    Xưa kia có một phú ông,

    Vợ chồng chuyên một nghề nông nuôi mình,

    Bấy lâu loan phụng hòa minh,

    Xóm làng kiêng nể tánh tình thiện lương.

    Tuy là sành sỏi ruộng nương,

    Ông bà xấu số gặp đường chẳng may,

    Thuở trước cũng chẳng thua ai,

    Tiền dư bạc sẵn tháng ngày thung dung,

    Ruộng vườn khai khẩn khắp cùng,

    Thôn lân đều thảy có lòng bợ nâng.

    Đến nay nhằm buổi lao lung,

    Ruộng nương thất phát vô cùng thảm thương,

    Tháng ngày khổ hại trăm đường,

    Bảy năm chịu sự tai ương nguy nàn,

    Bấm gan cam chịu gian nan,

    Vợ chồng đau đớn đoạn tràng thiết tha.

    Lần hồi ngày lụn tháng qua,

    Nghèo nàn túng tíu gẫm đà thói quen,

    Thét rồi cũng chẳng than phiền,

    Cắn răng mà chịu đảo điên qua hồi.

    Lão mụ tuổi đã lớn rồi,

    Vợ bốn mươi chẵn chồng thời bốn ba,

    Đêm ngày lo tính gần xa,

    Chẳng con kế tự thật là đáng lo,

    Choanh ngoảnh chồng vợ đơn cô,

    Tuổi già sức yếu biết nhờ cậy ai?

    Muộn màng tuổi lớn trễ chầy,

    Còn chi mong việc nghén thai nữa rồi!

    Lão rằng: “Đáng trách hận trời,

    Chẳng hay ổng ghét chi tôi chăng là ?

    Có đâu khiến việc xót xa,

    Thình lình chịu nỗi cửa nhà suy vi

    Đang cơn giàu có ai bì,

    Bỗng đâu sanh việc gian nguy lần lần.

    Bạc tiền thôi cũng chẳng cần,

    Chỉ không con cái muôn phần xót đau.

    Hiềm nay đầu bạc tuổi cao,

    Gần sa miệng lỗ ai đâu cậy nhờ?

    Xiết bao ảo não lòng tơ,

    Xiết bao thảm đạm âu lo ưu phiền.”

    Mụ rằng: Ông ráng dằn yên,

    Hết lòng cầu khẩn hoàng thiên xem nào!

    Tấc thành viễn thấu trời cao,

    Phúc hồng nhỏ xuống may đâu biết chừng.”

    Vợ chồng bàn luận đục trong,

    Cả hai lão mụ thành lòng vái van:

    “Nếu may nhờ phước Thiên Hoàng,

    Cho sanh con trẻ mới an sở nguyền,

    Chúng ta đều thảy đức hiền,

    Bấy lâu giữ dạ rất nên nhơn từ.

    Thành tâm phải động lòng trời,

    Khẩn may xem thử đây rồi ra sao?”

    Mụ rằng: “Non nưóc ca dao,

    Bấy lâu đồn đãi miễu nào trên non,

    Bất kì ai đến cầu con,

    Thảy đều đắc nguyện tiếng đồn không sai,

    Để tôi dò đến miễu này,

    Khẩn cầu van vái sau này xem sao?”

    Lão rằng: “Mụ khá lo âu,

    Nhang đèn sắm sửa ngõ hầu dời chơn,

    Đường đây lên tới đầu non,

    Gian nguy hiểm trở có hơn dặm tràng

    Bền lòng chớ quản gian nan,

    Ráng lên miễu thánh vái van khẩn cầu”

    Mụ vâng sửa soạn trước sau,

    Nhưng thiếu tiền bạc khó âu vô cùng,

    Lão rằng: “Còn cái nồi đồng,

    Đem lại anh cả ngõ phòng bán đi.

    Cũng không nên tiếc làm gì,

    Để chẳng dùng tới để chi trong nhà!”

    Lão ông đốc hối mụ bà,

    Cực bằng chẳng đã mới là nghe theo,

    Lòng mụ buồn biết bao nhiêu,

    Nhưng chồng đã định phải chiều ý ông.

    Mụ vào xách cái nồi đồng,

    Đến nhà ông cả đục trong giãi bày:

    “Nay tôi thưa thật anh hay,

    Chúng tôi nghèo khó tháng ngày khổ nguy,

    Túng bần chẳng nói làm chi,

    Hiềm không con cái sau đây tuyệt dòng.

    Tôi vì lo lắng họ chồng,

    Cho nên buồn bã trong lòng nào an,

    Sợ khi già yếu gian nan,

    Không con hiu quạnh gia đàng hôm mai

    Cho nên thảm đạm bi ai,

    Vái van cầu khẩn cao dày xin con.

    Nghe người đồn ở trên non,

    Có miễu linh hiển lòng son rất đành.

    Nay tôi toan đến miễu linh,

    Đặng dưng hết tấm dạ thành vái van

    Hiềm không tiền sắm đèn nhang,

    Thật là trong dạ xốn xang vô cùng.

    Của xưa còn cái nồi đồng,

    Nên đem theo đó chỉ mong đồng tiền.

    Xin anh mở dạ đức hiền,

    Làm ơn mua giúp rất nên ơn dày.”

    Ông cả nghe mấy lời này,

    Cười rằng: “Quả thật chằng ai lạ lùng,

    Nghe qua cảm động bấy lòng,

    Giúp tiền cho đó chớ không mua nồi.”

    Nói năng hòa nhã tươi cười,

    Lấy trao một lượng khúc nôi phân liền:

    “Lòng tôi thương kẻ đức hiền,

    Giúp cho đó thỏa lòng nguyền đấy thôi,

    Chớ không chi sá cái nồi,

    Thôi khá lấy bạc phản hồi cho xong”

    Mụ nghe tỏ rõ đục trong,

    Cám tình cám nghĩa ròng ròng lụy rơi,

    Cúi chào trỗi bước chơn lui,

    Trong lòng luống những ngậm ngùi nào an.

    Bươn bả về tới gia trang,

    Cùng chồng thuật rõ mọi đàng trước sau

    Lão nghe cảm bấy nghĩa sâu,

    Khen lòng anh cả xiết bao hữu tình

    Vợ chồng bàn bạc hắc minh,

    Mụ bèn quảy gói thượng trình bôn ba.

    Nhang đèn một gói kia là,

    Miễu linh đến đó đặng mà cầu con.

    Thiên hạ lên xuống trên non,

    Thật là tập nập tiếng đồn không sai.

    Lòng mụ mừng rỡ nỗi may,

    Nhìn xem phong cảnh chốn này rất ưng.

    Nếu không linh hiển vô cùng,

    Lẽ đâu thiên hạ đến đông thế này?

    Chắc là hiển hách chẳng sai,

    Cho nên người mới lên đây khẩn nguyền.

    Mụ lão lắc ống được liền,

    Lạy thần lạy thánh cầu nguyền đã xong,

    Cầm xăm vào thẳng liêu trong,

    Cậy thầy đoán thử cho thông đuôi đầu.

    Thầy xem xăm nọ giây lâu,

    Chậm rãi giải rõ âm hao chánh tà:

    “Xăm này ta đoán sâu xa,

    Ấy thật là bà có ý cầu con.

    Khá nên tích đức tu nhơn,

    Thiên tùng nhơn nguyện chẳng còn lo chi,

    Làm đoan làm phước từ đây,

    Sau bà sẽ đặng con trai nối dòng.”

    Lão bà rõ thấu đục trong,

    Rất nên hớn hở toại lòng biết bao

    Công đức vội vã tay trao,

    Lật đật từ giã cúi chào trở ra,

    Phăng phăng trỗi bước về nhà,

    Vì mừng quên lửng đàng xa nhọc nhằn.

    Trọn ngày lao nhọc khó khăn,

    Về đến gia nội hân hoan vô cùng,

    Đuôi đầu thuật lại cùng ông,

    Mấy lời thần dạy vợ chồng bàn nhau,

    Tương lai tuy chửa biết sao,

    Nhưng nay nghe vậy dễ nào chẳng vui.

    Lão rằng: “Mong ở Phật Trời,

    Cho sanh một trẻ nối đời về sau,

    Kẻo mà đầu bạc tuổi cao,

    Mà không con cái lòng nào lại an.”

    Trót đêm vui vẻ luận bàn,

    Từ đây chờ đợi lo toan làm lành.

    Thu sang hè đến chóng lanh,

    Ba năm chẳng thấy trong mình nghén thai,

    Lão mụ buồn bã bi ai,

    Lời thần vô hiệu ngày nay mới tường.

    Bà rằng: “Vô phước lạ thường,

    Nay đà tuyệt vọng dạ buồn xiết bao,

    Ai nấy am tự khẩn cầu,

    Thảy đều thỏa dạ có đâu như mình.”

    Lão rằng: Thôi hãy cam đành,

    Số trời định vậy thảm tình ích chi!”

    Mụ lão chẳng ngớt sầu bi,

    Hằng đêm van vái chẳng này nhọc tâm,

    Lần hồi cho đến bốn năm,

    Tưởng đâu tuyệt tự đành cam với phần,

    Chẳng ngờ thọ kết nhâm thần,

    Thình lình có nghén thỏa tâm vô cùng.

    Mụ bèn thuật lại cùng chồng,

    Nỗi mình có nghén toại lòng xiết bao.

    Nghe qua lão dễ tin nào,

    Cho đến bốn tháng về sau mới tàng.

    Thật mụ có nghén rõ ràng,

    Bây giờ chi xiết hân hoan thỏa tình.

    Rằng: “Trời phật cũng thương mình,

    Cho nên mới nhỏ phước lành cho ta,

    Chờ khi nở nhụy khai hoa,

    Dầu nam hay nữ cũng là mừng vui.”

    Ngày qua tháng lại lần hồi,

    Đã đúng mười tháng khác đời hơn ai,

    Mười tháng thêm đúng mười ngày,

    Mới là sanh đặng một trai thỏa lòng.

    Bà rằng: “Thỏa nguyện lòng son,

    Nay tôi với lão chẳng còn thở than,

    Tuy là con kẻ bần hàn,

    Nhưng xem chẳng khác bạc vàng báu châu,

    Đặt tên phải chọn tiếng nào,

    Cho không tổn đức ta hầu đặt con.”

    Lão ngồi ngẫm nghĩ nguồn cơn,

    Vui cười bày tỏ thiệt hơn sạ tình:

    “Văn Lía đặt tên con mình,

    Chẳng hay mụ nó có đành cùng chăng?”

    Mụ vui mừng rỡ đáp rằng:

    “Tự ông chọn lựa há ngăn mà phòng!”

    Đặt tên Văn Lía vừa lòng,

    Lão mụ nuôi dưỡng vô cùng tưng tiêu,

    Từ mai cho đến ban chiều,

    Thay phiên bồng ẵm chắt chiu thỏa lòng.

    Thằng Lía chẳng đẹp chẳng không,

    Mặt mày đề đạm giống ông hơn bà,

    Lại thêm săn chặt thịt da,

    Càng ngày càng lớn nay đà bốn xuân.

    Vợ chồng tuy chịu khổ bần,

    Nhưng có thằng Lía trăm phần đặng vui.

    Lão già cực nhọc vô hồi,

    Làm thuê làm mướn cho người nuôi thân.

    Mụ thì hôm sớm gian truân,

    Hái rau bắt ốc ngày lần tháng qua.

    Mấy thu lão cũng đã già,

    Văn Lía mười tuổi lão đà quy tiên,

    Mụ già chi xiết thảm phiền,

    Khi chồng tạ thế bạc tiền vốn không,

    Thật là nhiều nỗi cực lòng,

    Đưa ma tuần tự vô cùng lo âu

    Cút côi trong lúc thảm sầu,

    Xóm làng thương xót lẽ nào bỏ qua.

    Thảy đều giúp đỡ lão bà,

    Mãn khi tang chế cực ba năm tràng,

    Mẹ con rõ thiệt gian nan,

    Chòi tranh vách hé trăm đàng khổ nguy.

    Nhìn con chi xiết ai bi,

    Vì chưng thằng Lía lạ kì hơn ai,

    Tánh tình rắn mắt quả tay,

    Con nít khắp hết xóm nầy đều kiêng.

    Tánh nó quả thật chẳng hiền,

    Thường hay sanh sự rất nên cộc cằn

    Nhưng nó lòng hiếu vô ngần,

    Nhờ mẹ rầy mắng mới ngăn bớt chàng.

    Văn Lía đánh hết bạn trang,

    Đứa nào cũng sợ chẳng thằng nào không,

    Thằng Lía đã nổi tiếng hung,

    Xóm làng biết mặt nên không mến chàng.

    Thường ngày du hí ngoài đàng,

    Chơi đình phá miễu hung hoang vô cùng

    Mẹ già răn dạy hết lòng,

    Song tánh Văn Lía dữ hung chẳng chừa.

    Mụ lão chi xiết xót chua,

    Tấc lòng lo lắng sớm trưa ưu phiền:

    Trong nhà chẳng trự bạc tiền,

    Bình bồng thằng Lía rất nên hoang đàng.

    Cùng con hết nỗi thở than,

    Hăm he răn dạy mọi đàng phải chăng

    Văn Lía ngỗ nghịch vô ngần,

    Có mặt còn sợ nhược bằng không thôi.

    Lão bà hiền đức vô hồi,

    Xóm làng lớn nhỏ mọi người nể kiêng

    Nhưng bị thằng Lía chẳng hiền,

    Thành ra thiên hạ cũng phiền bà luôn.

    Văn Lía ngày tối đứng đường,

    Đánh người hiếp chúng lề thường dữ thay.

    Mụ lão kêu Lía giãi bày:

    “Sao con chẳng đổi chẳng thay tánh tình,

    Mẹ đây tánh rất hiền lành,

    Sao con hung dữ bất bình dại ngây?

    Khuyên con tự hối từ rày,

    Nếu mà cứ vậy sau này khổ thân.

    Mẹ nay già yếu trăm phần,

    Còn đây nào biết lánh trần nay mai!

    Nếu con hung tợn vầy hoài,

    Xóm làng người ghét sau này nhờ ai?

    Con ơi, mẹ nói con hay,

    Con tua khá sớm đổi ngay tánh tình.”

    Thằng Lía thưa lại hắc minh:

    “Mẹ chớ có nhọc lòng thành lo toan,

    Tuy con còn nhỏ cơ hàn,

    Ngày sau khôn lớn tầm đàng nuôi thân.

    Xóm làng thương ghét há cần,

    Chí con toan tính mọi phần đã xong:

    Một mai con trẻ lớn khôn,

    Con sẽ có thế vô cùng hiển vinh.”

    Nghe qua khẩu khiếu con mình,

    Mụ bà có ý giựt mình phân qua:

    “Con đừng tính việc cao xa,

    Sự đời trước mắt kia mà không hay

    Tài ba chi cái thằng mày,

    Tấm thân dốt nát sau này khó khăn

    Sợ làm chẳng đủ mà ăn,

    Tính chi vinh hiển oai vang thêm buồn.”

    Thưa rằng: “Vốn mẹ chưa tường,

    Thiếu chi kẻ dốt toại đường hiển vinh

    Ở đời phải biết sức mình,

    Họ có ăn học thông minh họ nhờ,

    Con tuy dốt nát không lo,

    Con làm theo dốt đặng cho họ tường!”

    Thấy con văn nói khác thường,

    Mụ lão trong dạ lo buồn nào an,

    Nghĩ mình xấu phước rõ ràng,

    Sanh ra con trẻ ngang tàng ương thay!

    Văn Lía tánh lạ ai tày,

    Tuy là hung dữ lâu nay tiếng đồn,

    Nhưng mà hiếu thảo ai hơn,

    Nhiều gương trông thấy vẫn còn nhớ ghi.

    Hành hung đang lúc ra oai,

    Hoặc đánh, hoặc chửi, hoặc rầy cùng ai.

    Dầu trời nó chẳng sợ thay,

    Nói chi làng xóm làm oai nó vì

    Chết sống nó chẳng kể gì,

    Hễ là nói đánh tức thì ra tay.

    Dầu ai thịnh nộ la rầy,

    Nó chẳng kiêng sợ một ai đâu là,

    Ai biết chạy đến mụ bà,

    Hễ Lía thấy mặt mẹ già thì kiêng.

    Dầu cho đang dữ cũng hiền,

    Trong lòng khiếp sợ rất nên kinh hoàng.

    Thằng Lía tâm tánh dọc ngang,

    Mẹ già buồn bã lo toan vô cùng.

    Ngày nọ thằng Lía buồn lòng,

    Đi khắp làng xóm ngỏ phòng giải khuây.

    Nó vì dang nắng tối ngày,

    Cho nên mày mặt chơn tay đen hù,

    Thật là ham việc vui chơi,

    Lía mười lăm tuổi vô hồi dại ngây.

    Lía ra cho tới làng ngoài,

    Gặp con chú Xã cả hai vui vầy.

    Thằng Lía tánh sẵn hay gây,

    Giành chơi sao đó ra tay đánh người,

    Đánh con chú Xã thằng Tư,

    Lỗ đầu phun máu vô hồi gớm ghê.

    Thằng Tư khóc lóc thảm thê,

    Bon bon chạy về phòng méc với cha.

    Chú Xã tức giận thay là,

    Thấy con bị bịnh xót xa tấm lòng.

    Vội vàng trỗi bước thẳng xông,

    Đến nhà thằng Lía hành hung vang dầy.

    Mụ già nào rõ vụ này,

    Mềm mỏng hỏi lại cho hay sự tình:

    “Chuyện chi Xã phải bất bình?

    Xin Xã phân lại đành rành thấp cao.

    Tôi đây có lỗi chi sao,

    Cho nên Xã giận đuôi đầu khá phân?”

    Xã nghe êm thuận phân trần:

    “Mụ thiệt không lỗi trăm phần hiền lương.

    Việc đó tôi cũng hãn tường,

    Thuở nay khen mụ vẹn đường đức nhân.

    Con mụ hung dữ nhiều lần,

    Thằng Lía ngang dọc chẳng cần kể ai

    Con tôi nó đánh thế này,

    Lỗ đầu phun máu mặt trầy thấy không?

    Thật mụ xấu phước vô cùng,

    Sanh con dường ấy mang gông có ngày!

    Sao mụ không đánh dạy rầy,

    Để cho thằng Lía quá tay dữ dằn?

    Nó thật ngang dọc vô ngần,

    Sao mụ không đánh dạy răn cho chừa?”

    Não nề nào dám hơn thua,

    Mụ bà trong dạ xót chua vô cùng,

    Hai hàng nước mắt ròng ròng,

    Thưa lại cùng Xã đục trong sạ tình :

    “Thân già thiểu phước gia đình,

    Sanh con hung tợn thất tình bi ai,

    Nó đâu đếm kể la rầy,

    Phải nào thả lỏng thường ngày dạy răn,

    Nhưng nó quen tánh dữ dằn,

    Hoang đàng khó nổi đón ngăn được nào.

    Xin Xã thương tưởng tình nhau,

    Bỏ qua vụ nọ biết sao bây giờ!

    Đêm ngày thảm đạm âu lo,

    Sanh con cũng tưởng cậy nhờ về sau

    Chẳng dè bạc mạng làm sao,

    Thằng Lía thật chẳng khác nào quỷ yêu.

    Đau lòng kể biết bao nhiêu,

    Xin Xã lượng thứ mọi điều bỏ qua.

    Thân này tuổi tác đã già,

    Nay mai xuống lỗ thật là chẳng hay,

    Sanh con ngỗ nghịch nước này,

    Lòng già đau đớn đắng cay vô cùng.”

    Dứt lời nước mắt ròng ròng,

    Làm cho chú Xã động lòng thương tâm,

    Ngẩn ngơ giây lát rồi phân:

    “Thôi mụ mựa chớ buồn thầm sầu riêng,

    Bớt điều thảm đạm ưu phiền,

    Hơi đâu chua xót chớ nên âu sầu,

    Hư nên do ở trời cao,

    Thật bà xấu phước biết sao bây giờ

    Thấy bà tóc bạc phơ phơ,

    Khiến tôi thương tưởng xót xa phận bà

    Nghiệt oan kiếp trước của bà,

    Mới sanh thằng Lía trong nhà vầy đây.

    May là bà gặp tôi đây,

    Phải gặp người khác thế này khó an

    Vậy bà khá ráng dạy răn,

    Dạy cho nó bỏ hung hăng với người.

    Thôi khuyên bà chớ ngậm ngùi,

    Không lẽ tôi nói nặng lời bà đâu,

    Nghĩ tình cố cựu lân giao,

    Dẫu con phản bộ biết sao bây giờ”

    Mụ già chi xiết âu lo,

    Tấm lòng thổn thức ngẩn ngơ thảm sầu

    Thằng Lía gia nội bước vào,

    Thấy mẹ buồn bã xiết bao lo lường

    Ân cần hỏi lại mọi đường:

    “Chuyện chi mà mẹ thảm buồn xin phân?”

    Mẹ già sầu thảm trăm phần,

    La rằng: “Con thật chẳng tuân theo lời,

    Mẹ nay tuổi đã già rồi,

    Chỉ có con đó nhờ hồi ốm đau

    Cửa nhà túng trước hụt sau,

    Giúp vùa sao chẳng lo âu chuyện gì?

    Sao không kiếm chước đỡ nguy,

    Hoang đàng chi địa kể chi mẹ già.

    Con không suy xét sâu xa,

    Ra đường gây họa thật là vô lương

    Đánh con chú Xã quá ương,

    Người đến mắng vốn trăm đường xấu xa.

    Thật mày gieo họa cho ta,

    Quả nhà vô phước mới là sanh mi.”

    Sụt sùi giọt lụy lâm li,

    Làm cho thẳng Lía xiết chi đau lòng,

    Lạy mẹ thưa lại đục trong:

    “Xin mẹ chớ có nhọc lòng lo âu,

    Con biết xét chớ không đâu,

    Nhưng con còn nhỏ biết sao bây giờ

    Xin mẹ bớt thảm lòng tơ,

    Con xin nghe mẹ đặng cho vui lòng

    Tánh con không phải dữ hung,

    Song le con trẻ vốn không nhịn người

    Thà là con chết thì thôi,

    Còn để họ hiếp nhớp đời chịu đâu!”

    Nghe con ngổ ngạnh lòng đau,

    Mụ rầy: “Con thật xiết bao dại khờ

    Mình đây đang lúc thất cơ,

    Muôn điều phải nhịn để lo sự mình

    Chớ nên ỷ sức đua tranh,

    Nghèo nàn há dễ chống kình lợi ai

    Mẹ sanh có một mình mày,

    Nếu con sanh sự chẳng may còn gì?

    Mấy lời mẹ dạy khá ghi,

    Chớ nên gây gổ làm chi với người.

    Đang cơn nghèo khó vô hồi,

    Trăm điều nhẫn nhịn ở đời mới an

    Từ rày con khá lo toan,

    Kiếm việc làm lụng hung hoang ích gì”

    Văn Lía hối hận đang khi,

    Cúi đầu lạy mẹ bước đi ra ngoài,

    Trong lòng chi xiết ai hoài,

    Lời răn dạy đó từ đây ghi lòng

    Vừa đi vừa xét đục trong:

    “Phương chi làm lụng ngỏ phòng nuôi thân?

    Thật là khốn bấy chữ bần,

    Làm cho ta phải khổ tâm với mày

    Xiết bao đau đớn đắng cay,

    Làm sao nuôi mẹ tháng ngày cho qua.”

    Văn Lía suy xét gần xa,

    Vừa đi ngang trước cửa nhà Hương Thân,

    Thình lình chó vện sủa rân,

    Làm cho Văn Lía kinh tâm hãi hùng

    Thằng Lía định tĩnh tinh thần,

    Cúi lượm cục đá đề phòng hộ thân.

    Chó vện hung tợn muôn phần,

    Nhảy a táp Lía, Lía gần nguy nan,

    Lía bèn lách trái gọn gàng,

    Cầm đá liệng đại ngỏ toan giữ mình.

    Con chó bị liệng chẳng kinh,

    Quyết rượt theo Lía tỏ tình hung hăng

    Văn Lía chẳng nói chẳng rằng,

    Lượm cục đá khác chống ngăn hộ mình

    Liệng chó trúng giữa tam tinh,

    Chó kia vỡ óc đã đành thác oan.

    Văn Lía vừa mới đặng an,

    Nhưng nỗi chó chết lo toan trong lòng,

    Vốn nó cũng biết nào không,

    Hương Thân là kẻ dữ hung hơn người

    Liệng con chó đã thác rồi,

    Thằng Lía sợ tội chơn dời bâng khuâng,

    Trong lòng lo liệu trăm phần,

    Hương thân theo kịp khổ thân dễ nào.

    Văn Lía thơ thẩn bước mau,

    Bồi hồi chưa biết đi đâu lánh mình,

    Thình lình bị thộp hãi kinh.

    Ngó ngoái lại nhìn là chú Hương Thân!

    Hương Thân mặt giận hầm hầm,

    Nạt vang: “Mầy thật lắm phần hung hoang!

    Mày liệng chó chết rõ ràng,

    Sao mày lớn mật to gan quá vầy?

    Mày phải đền lại cho tao,

    Bằng không mày phải nguy tai bây giờ!”

    Thằng Lía suy xét lai do,

    Chó đâu đền lại âu lo vô cùng,

    Nhẹ lời thưa lại đục trong,

    Hết lời năn nỉ ngỏ phòng xin dung:

    “Vốn tôi chẳng phải dữ hung,

    Bởi chó ấy điên chớ không phải hiền,

    Thấy tôi nó nhảy chụp liền,

    Trong cơn rối loạn rất nên kinh hoàng,

    Mau chơn bỏ chạy vội vàng,

    Nó theo kế cận nguy nan thay là

    Xin chú xét lại gần xa,

    Tôi mà liệng nó chẳng qua buộc lòng,

    Ai ai cũng biết nào không,

    Con chó của chú dữ hung vô cùng

    Tôi lỡ trong lúc rối lòng,

    Liệng dọa nó sợ ngỏ phòng lánh đi,

    Chẳng dè nó lại chết đi,

    Thật tôi quá rủi muốn chi nỗi này”

    Hương Thân thấy nói dông dài,

    Dến cho thằng Lía bạt tay nói rằng:

    “Thật mày khôn quỷ vô ngần,

    Xảo lanh lỗ miệng nói năng nhiều lời

    Chó tao nay đã thác rồi,

    Lần này tao thứ sau thời khó dung.”

    Dứt lời trở bước thẳng xông,

    Thằng Lía trong dạ vui mừng xiết bao.

    Hương Thân không phải hiền đâu,

    Nhưng người đã xét trước sau cạn rồi:

    “Thằng Lía nghèo khó vô hồi,

    Dầu mà đền nó uổng lời uổng công,

    Nó không một trự một đồng,

    Đóng gông đóng nỏ gẫm không ích gì

    Văn Lía mừng rỡ xiết chi,

    Thoát qua tai nạn khác gì lên mây,

    Ra đi từ lúc ban mai,

    Đến chiều bụng đói trở ngay về nhà.

    Mẹ già thấy trẻ hỏi qua:

    “Đi đâu con nói mẹ già đặng hay?

    Đi đâu đi trọn cả ngày,

    Mẹ già trông đợi ai hoài xót xa!”

    Văn Lía bị rủi vừa qua,

    Trong lòng thảm đạm thiết tha vô cùng,

    Thưa: “Con lo lắng chẳng không,

    Muốn đi tìm việc ngỏ phòng làm ăn,

    Nhưng mà con rủi vô ngần,

    Tìm không ra chuyện khó khăn thay là.”

    Mẹ già bày tỏ gần xa:

    “Con ôi! Nhìn lại trong nhà nguy nan

    Làm sao thân phận đặng an,

    Làm sao đỡ dạ nghĩ càng xót đau.

    Mẹ nay đầu bạc tuổi cao,

    Thật chẳng còn có sức nào nuôi con

    Nay con tuổi đã lớn khôn,

    Lo làm nuôi mẹ đỡ cơn túng cùng.

    Mẹ nay đang lúc đói lòng,

    Chẳng còn một trự một đồng thảm thay

    Mẹ chịu nhịn đói ngày nay,

    Chỉ ăn có một củ khoai đỡ lòng.”

    Lời mẹ như xói tâm trung

    Khiến cho Văn Lía não nùng thiết tha

    Rưng rưng lụy ứa thưa qua:

    “Xin mẹ an dạ ở nhà chờ con”

    Dứt lời trỗi bước dời chơn,

    Mẹ già vội vã kêu con hỏi rằng:

    “Đi đâu con khá bày tàng,

    Cho mẹ biết chốn ngỏ an tấc lòng?

    Văn Lía thưa lại đục trong:

    “Con đi chưa tính trong lòng đi đâu.”

    Mẹ già căn đặn trước sau:

    “Con nghe lời mẹ thấp cao chỉ bày,

    Tuy là nghèo túng nỗi này,

    Nhưng phải giữ dạ sạch ngay cho toàn,

    Chớ nên vì buổi nguy nan,

    Mà làm những việc tham gian của ngựời.

    Dầu cho có thác chịu thôi,

    Chớ những điều quấy trọn đời lánh xa”

    Văn Lía lạy mẹ thưa qua:

    “Xin mẹ an dạ con đà gắn ghi.”

    Bồi hồi vội bước chơn đi,

    Trong lòng buòn bã đoạn tràng thiết tha,

    Bỗng nghe văng vẳng nẻo xa,

    Tiếng người cười nói thật là rộn rang,

    Văn Lía bước đến vội vàng,

    Thấy nhà phú hộ vẫn đang vui mừng,

    Đám cưới thiên hạ quá đông,

    Uống ăn rần rộ vô cùng thỏa vui

    Ngậm ngùi suy xét khúc nôi:

    “Nhà này giàu có ắt ngưòi đức nhân,

    Âu ta vào đó nhờ thân,

    Cầu người thương xót thi ân đỡ mình.”

    Phú ông giàu có gia đình,

    Song le chằng đặng hiền lành đức nhân,

    Thật người ích kỉ muôn phần,

    Lại thêm có tánh khi nhân thay là.

    Tuy là giàu chẳng ai qua,

    Song việc bố thí ai mà nhờ đâu!

    Thôn lân quanh quẩn bấy lâu,

    Người người trông thấy sang giàu nể kiêng,

    Nhưng thấy chẳng đặng đức hiền,

    Cho nên ai nấy để phiền dạ riêng

    Văn Lía nào rõ sạ duyên,

    Tưởng đâu giàu có đức hiền như ai

    Họ hàng ăn uống đông dầy,

    Văn Lía vội vã bước ngay vào nhà,

    Bầy chó rộn rực tủa ra,

    Nhảy chòm bấu sủa rất là hung hăng.

    Văn Lía kinh sợ vô ngần,

    Tới lui chẳng tiện khó khăn trăm phần,

    Chó mực cắn tét ống quần,

    Làm cho Văn Lía kinh tâm sảng hoàng.

    Phú hộ trông thấy rõ ràng,

    Bưóc ra la chó nạt vang hỏi rằng:

    “Thằng này lớn mật to gan,

    Đi đâu mau khá bày tàng thấp cao?

    Chuyện chi mày tới nhà tao,

    Ăn bận rách rưới khác đâu ăn mày!”

    Văn Lía thưa lại lời này:

    “Tấm thân cùng khổ nguy tai vô cùng,

    Nghe đồn lượng cả phú ông,

    Đến xin cứu vớt mở lòng đoái thương.

    Tôi nay đang lúc tai ương,

    Mẹ già con nhỏ trăm đường gian nan,

    Cút côi thân phận cơ hàn,

    Thật là túng bấn trăm đàng xót xa.

    Tội nghiệp mẹ góa ở nhà,

    Mấy ngày chịu đói rất là đau thương

    Thân hèn đi khắp tứ phương,

    Kiếm nơi ở đợ mong đường nuôi thân,

    Đã đi rảo khắp thôn lân,

    Chẳng ai chịu mướn muôn phần nguy nan.

    Xin ông thương kẻ bần hàn,

    Ra tay tế độ ơn mang trọn đời.”

    Nghe qua cặn kẽ mấy lời,

    Phú hộ nhích miệng mỉm cười phân qua:

    “Mau mau mày khá đi ra,

    Chẳng nên đứng ở trong nhà tao lâu,

    Thân mày rách trước tét sau,

    Ai mà chịu mướn mày đâu mà phòng!

    Khá tầm nơi khác cho xong,

    Chớ nên đứng đó khó lòng chẳng chơi.”

    Văn Lía lụy ngọc nhỏ rơi:

    “Cúi nhờ mở lượng thương tôi nguy nàn,

    Nhà ông tột bực cao sang,

    Lại đang ăn tiệc rõ ràng hơn ai,

    Cơm thừa cá cặn thiếu chi,

    Ông đổ cũng vậy giúp đây no lòng.

    Xin ông thương kẻ túng cùng,

    Bố thí làm phước để phòng về sau”

    Đáp lời trổ giọng gắt gao:

    “Cơm thừa cá cặn dễ đâu cho mày,

    Chó tao lớn nhỏ một bầy,

    Cho chó chẳng đủ lại ai cho mày!

    Mau mau khá bước đi ngay,

    Chớ đừng đứng đó nói nhây làm gì

    Có khôn thì khá mau đi,

    Nhược bằng đứng đó khổ nguy bây giờ!”

    Văn Lía nghe rõ lai do,

    Trong lòng tức tối ngẩn ngơ bất bình:

    “Lẽ nào tàn nhẫn cho đành,

    Chẳng thương kẻ khó như mình nguy nan!

    Thật là con chó nhà sang,

    Hơn người nghèo khổ rõ ràng nào sai,

    Ngậm ngùi đau đớn chua cay,

    Mùi cơm rượu thịt phất bay ngọt ngào,

    Khiến lòng thèm lạc biết bao,

    Thèm chảy nước miếng khó âu tách vời”

    Phú hộ tức giận nạt bồi:

    “Biểu mày mau khá chơn dời khỏi đây!

    Sao còn đứng nói chi nhây,

    Hay là sổ mạng của mầy khiến nguy!

    Tại mày chẳng chịu sớm đi,

    Thôi mày chớ trách làm gì nghe không?”

    Bồi hồi tức tối tràn hông,

    Văn Lía ngơ ngẩn dằn lòng làm thinh,

    Xung gan chi xiết bất bình,

    Há nào dám nói sự tình nỗi chi.

    Phú hộ xít chó tức thì,

    Một bầy chó dữ thừa khi hiếp người,

    Chạy ra làm dữ vô hồi,

    Con chồm con sủa xem thôi kinh hoàng,

    Văn Lía sảng sốt kinh hoàng,

    Bỏ chạy ra ngõ tìm đàng lánh thân.

    Bào hao chó dữ muôn phần,

    Rượt theo Văn Lía sủa rân náo làng.

    Văn Lía chi xiết kinh mang,

    Chun vào bụi rậm bên đàng lánh thân.

    Phú hộ thấy vậy cười rân,

    Bèn tróc bầy chó vào sân tức thì

    Văn Lía phách tán hồn phi,

    Ngồi không cục cựa xiết chi kinh hoàng,

    Ngồi trong bụi rậm thở than,

    Đâu dè nhằm ổ kiến vàng tuôn ra,

    Đỏ au sa số hằng hà,

    Cắn chàng bấn loạn nhảy ra kêu trời,

    Phủi lia dông chạy tách vời,

    May sao bầy chó vô rồi cũng an.

    Não nề dạ ngọc xốn xang,

    Chạy thôi mệt đuối nghĩ càng xót đau,

    Trách người tàn nhẫn độc sâu,

    Chẳng lòng thương tưởng chút nào kẻ nguy:

    “Cơm thừa để đổ ích gì,

    Hoặc giả cho chó thôi thì uổng thay!

    Chớ chi họ giúp mình đây,

    Đem về cho mẹ ngày nay đỡ lòng,

    Mình ăn chút đỉnh cũng xong,

    Cớ sao cho chó mà không cho mình?”

    Đói lòng mỏi cẳng bực mình,

    Oán ông Phú hộ bất bình đắng cay:

    “Nếu họ chẳng xét ta đây,

    Ta cũng thù họ từ này về sau”

    Rối trí chẳng biết làm sao,

    Đặng mà nuôi mẹ xót đau tấc lòng,

    Mồ hôi nhỏ giọt ròng ròng,

    Tay chơn mỏi rụng vô cùng thiết tha

    Chẳng dám trở bước về nhà,

    Về nhà thấy mẹ đói mà sao an!

    Nhưng vì đi đã khắp làng,

    Vô phương hết kế biết toan lẽ nào?

    Bây giờ còn biết đi dâu,

    Đánh liều về đại biết sao bây giờ!

    Văn Lía chi xiết sầu lo,

    Ngập ngừng chơn bươc lòng tơ thảm sầu,

    Hai hàng lụy ngọc thấm bâu,

    Nhìn trời ngó đất xót đau trăm phần.

    Làu làu chói rạng trăng rằm,

    Bốn bề sáng sủa bâng khuâng tấc lòng,

    Tính về gia nội cho xong,

    Dầu đi đâu nữa gẫm không ích gì!

    Vừa đi vừa xét vừa suy,

    Ngang nhà Hương Quản cớ gì dừng chơn.

    Chú Hương với mấy đứa con,

    Xem trăng thưởng cảnh lòng son vui mừng

    Văn Lía đã đến nước cùng,

    Đề chừng Hương Quản có lòng hiền lương,

    Đánh liều vào đó bày tường,

    Cầu xin giúp đỡ kẻ đương nguy nàn

    Bạo gan chơn bước vội vàng,

    Vào thưa Hương quản mọi đàng thủy chung,

    Kể qua những nỗi lao lung,

    Kể qua những nỗi khốn cùng nguy nan .

    Chú Hương nghe rõ mọi đàng,

    Nhìn xem kĩ lại quả thằng Lía đây

    Chú Hương mói hỏi lời rày:

    “Đi đâu khuya khoắc như vầy hỡi mi?

    Ban ngày sao lại chẳng đi,

    Hay mày gian giảo ý chi chăng là?”

    Văn Lía lời mới thưa qua:

    “Cả ngày đi khắp gần xa xóm làng,

    Thân này quả thật khốn nàn,

    Chẳng ai cứu giúp trăm đàng rất nguy.”

    Chú Hương thương kẻ hàn vi,

    Rằng: “Mày nói vậy dễ gì mà tin…”

    Mới nói chưa dứt sự tình,

    Thím Hương trong cửa ứng thinh đuổi nà:

    “Thẳng này chẳng phải lạ xa,

    Vốn tôi biết nó rất là dữ hung!

    Khá mau đuổi nó cho xong,

    Đừng để nó đứng ở trong nhà mình!”

    Đáp lời có chút nhơn tình:

    “Dữ mà chẳng dữ với mình thì thôi,

    Hồi chiều cơm nguội còn dư,

    Cơn này giúp nó qua hồi làm ơn.”

    Thím rằng “Cơm nguội tuy còn,

    Nhưng chẳng cho nó nào nhơn ngãi gì!

    Tôi biểu mau đuổi nó đi,

    Đừng để nó đứng nói nhây nhiều lời.”

    Chú Hương sợ vợ hơn trời,

    Chẳng dám cãi vợ bồi hồi đuổi đi

    Văn Lía tức tối xiết chi,

    Đỡ lòng mừng hụt ngậm ngùi đắng cay:

    “Nước đời sâu độc thế này,

    Họ có thể giúp chớ nào không đâu

    Nhưng mà họ tính làm sao,

    Thà để họ đổ dễ đâu cho mình!

    Biết bao nông nỗi bất bình,

    Lòng người nham hiểm chẳng lành chi đâu.

    Sông biển dò đặng cạn sâu,

    Nhơn tình hiếm hóc dễ nào dò xong

    Đương hồi ta chửa lớn khôn,

    Ham điều giành giựt tranh hơn hoang đàng,

    Háo danh đánh lộn rộn ràng,

    Chẳng cho người hiếp họ rằng dữ hung

    Còn họ ác độc vô cùng,

    Nào ai trách họ họ không xét lường!”

    Văn Lía tức giận phi thường,

    Nó đà nghĩ cạn mọi đường gần xa

    Thầm rằng: “Thiên hạ ghét ta,

    Thiên hạ tàn nhẫn cùng là độc sâu,

    Ta thề đây sắp về sau,

    Ta thù thiên hạ dễ nào lạt phai.

    Họ không thương xót ta đây,

    Ta cũng ghét họ từ rày sắp lên,

    Họ làm ta rất đau phiền,

    Họ thật tàn nhẫn huyên thiên bất bình;

    Ghi lòng đến tuổi trưởng thành,

    Ta sẽ báo hận há đành bỏ qua,

    Ta thù ghét hết người ta,

    Có dịp hại họ ắt là chẳng dung”

    Oán hờn chất chứa đầy lòng,

    Vừa đi vừa xét đục trong nỗi mình.

    Rê chơn gần đến lều tranh,

    Nhớ trực mẹ đói lòng thành xót xa,

    Nghĩ thầm: “Chắc mẹ trông ta,

    Trông ta về nhà đỡ đói một khi.

    Trong nhà mẹ đói nằm lì,

    Nhưng ta chẳng có món gì biết sao?

    Nếu mà mình bước đại vào,

    Sợ mẹ mừng hụt càng đau đớn lòng

    Văn Lía lụy ngọc ròng ròng,

    Đứng sau chòi rách vô cùng thiết tha,

    Nghe mẹ rên xiết trong nhà,

    Rằng: “Sao thằng Lía con ta không về?

    Lòng ta đang đói trăm bề,

    Đêm nay đói nữa chẳng hề sống đâu”

    Mẹ già than thở âu sầu,

    Làm cho Văn Lía tâm bào héo don,

    Ối thôi buồn có chi hơn,

    Âu sầu thảm đạm lòng son vô cùng.

    Xiết bao nhiều nỗi não nùng,

    Chòi tranh chẳng dám dời chơn bước vào.

    Bồi hồi dạ ngọc xót đau,

    Nước cờ gần bí biết sao bây giờ!

    Nhớ lời mẹ dặn căn do,

    Tham lam chớ khá, giữ cho vẹn toàn;

    Nhưng mà trong lúc gian nan,

    Làm sao giữ đặng con đàng chánh ngay

    Chớ chi nghèo đến nước này,

    Mà trời cho chết toại thay tấc tình,

    Có chết âu mới trọn lành,

    Nhược bằng chưa chết thân mình biết sao?

    Tuy mẹ căn dặn trước sau,

    Trong lòng ghi nhớ dễ nào dám quên

    Song le trong buổi đảo điên,

    Cam đành trái mẹ mới yên thân mình

    Dốc lòng cố giữ lòng lành,

    Mà trời chẳng giúp phải đành gian tham,

    Văn Lía tính đã cùng đàng,

    Thăm nhà phú hộ vội vàng đến nơi,

    Bầy chó đã ngủ hết rồi,

    Tuốt ra chuồng vịt đề vời sợ chi

    Trong lòng đói khát đang khi,

    Dầu chết chẳng sợ sợ gì chó sao!

    Chuồng vịt Văn Lía chun vào,

    Núm hai cổ vịt thoát mau ra về,

    Trong lòng mừng rỡ trăm bề,

    Bây giờ thơ thới chẳng hề lo chi

    Chòi tranh vào đến tức thì,

    Lão bà trông thấy nan tri xa gần.

    Văn Lía lời mới tỏ phân:

    “Có cậu Hương Ấp đức nhân vô cùng,

    Thấy con khốn hại lao lung,

    Hỏi con đã rõ đục trong sạ tình

    Lời con bày tỏ đành rành,

    Người mới thương tình bắt vịt cho con”

    Mẹ già nào rõ thiệt hơn,

    Tin theo lời trẻ chẳng còn ngại nghi,

    Xúm nhau làm vịt một khi,

    Xong xuôi ăn uống đỡ khi nguy nàn,

    Đỡ lòng mừng rỡ trăm phần,

    Thoát tai chết đói nghĩ càng mừng vui.

    Từ đây tật xấu mang rồi,

    Văn Lía trộm cắp của người nuôi thân,

    Tánh quen khó bỏ trăm phần,

    Mẹ già nghi dạ tỏ trần cản ngăn;

    Nhưng Lía chẳng thế kiếm ăn,

    Cứ việc trộm cấp làm nhăn vô cùng.

    Mẹ già buồn bã tấc lòng,

    Rầy la biểu Lía mựa đừng gian tham,

    Kiếm người ở mướn làm ăn,

    Chớ nên trộm cấp nguy nan có ngày.

    Văn Lía thưa lại lời này:

    “Số mẹ chưa có thấu hay thế tình,

    Con đây cũng muốn làm lành,

    Ngặt vì thiên hạ bất bình lắm thay.

    Họ không xót tưởng con đây,

    Họ không chịu mướn ngày nay đã cùng.

    Con đi hỏi khắp nào không,

    Nghiệt cay ai nấy chẳng lòng tưởng thương.

    Ngày nay con đã cùng đưòng,

    Thật con nay đã vô phương nuôi mình

    Xin mẹ chớ khá bất bình,

    Của họ dư chẳng giúp mình cơn nguy,

    Của họ dư để làm chi,

    Mình xin chằng đặng lấy gì nuôi thân?

    Gian tham tuy xấu muôn phần,

    Song bởi họ chẳng khứng tâm giúp mình

    Lẽ nào ngồi bó tay nhìn,

    Làm sao nuôi đặng thân hình thì thôi

    Vả con đây oán thù người,

    Ngàn năm vẫn nhớ thâm cừu không quên.”

    Mẹ già nghe hãn sạ duyên,

    Tấc lòng thảm đạm ưu phiền nào an

    Văn Lía cố oán cả làng,

    Vì không cứu nó lúc đang hiểm nghèo,

    Thù kia chứa biết bao nhiêu,

    Thề không xao lãng sớm chiều gắn ghi.

    Ngày kia Văn Lía đang đi,

    Nhớ mẹ đang lúc khổ nguy đói lòng,

    Âu là phải tính cho xong,

    Há để mẹ đói mà không đau lòng

    Thói quen Văn Lía thường dùng,

    Bắt gà trộm vịt ngỏ phòng đỡ nguy,

    Chẳng dè Lía rủi một khi,

    Bị người thấy đặng xiết chi kinh hoàng

    Văn Lía tuy thật lẹ làng,

    Vừa toan tẩu thoát xóm làng tuôn ra

    Chiếc thân nguy hiểm thay là,

    Chủ nhà bắt đặng kéo ra giữa làng

    Chủ nhà Hương Quản rõ ràng,

    Hương Quản buộc gắt nguy nan vô cùng,

    Làng đem Văn Lía đóng gông,

    Hội tề nhóm lại om sòm hỏi han

    Hương Thân trổ giọng nạt vang:

    “Lía mày là đứa hung hoang làng này!

    Sao mày gan dạ lắm thay,

    Nhè nhà Hương Quản mà mày gian tham?”

    Lía rằng: “Tội thật đành cam,

    Nhưng vì cảnh ngộ nguy nan buộc mình.”

    Làng rằng: “Mày chớ nói lanh,

    Làm ăn chẳng muốn lại đành tà gian,

    Thật mày tội nặng trăm đàng,

    Phen này khó nỗi đặng an đâu là

    Sao không ở mướn người ta,

    Lấy tiền nuôi dưỡng mẹ già cho an?

    Mày cũng no ấm rõ ràng,

    Mẹ cũng được chỗ dựa nương tháng ngày.

    Vốn mày làm biếng nào sai,

    Thôi thôi chớ nói vắn dài làm chi”

    Văn Lía thưa lại tức thì:

    “Mấy ông nói ức nan tri xa gần,

    Tôi đây bao quản cực thân,

    Chẳng biết mấy lần đi hỏi làm ăn

    Nhưng mà khốn hại vô ngần,

    Chẳng ai chịu mướn khó khăn vô cùng.”

    Làng nghe nổi giận đùng đùng,

    Rằng: “Mày gian ác mựa đừng dối quanh.

    Trùm đâu mau khá phạt hành,

    Đánh sao cho nó thật kinh mà chừa

    Văn Lía chưa kịp tỏ thưa,

    Bị thằng trùm đánh chẳng vừa chi đâu.

    Cắn răng mà chịu biết sao,

    Da tan thịt nát xót đau vô cùng,

    Thét rồi lụy nhỏ ròng ròng,

    Văn Lía than thở não nùng xiết bao.

    Xóm làng đang lúc bàn nhau,

    Hương Sư đi trễ bước vào hỏi qua:

    “Chuyện chi đánh trẻ kêu la

    Khá tua phân lại gần xa mọi đàng?”

    Hương Sư quyền thế trong làng,

    Lại thêm hiền đức rõ ràng ai qua.

    Văn Lía khóc lóc kêu la,

    Thưa lại các việc gần xa đuôi đầu.

    Hương Sư nghe rõ âm hao,

    Truyền mở Văn Lía cho mau chớ chầy

    “Một thằng con nít thơ ngây,

    Chuyện chi mà đánh thế này nhẫn tâm!”

    Tỏ cùng hương chức xa gần:

    “Các ông quả thật nhẫn tâm thay là!

    Nó rất có hiếu mẹ già,

    Không tiền nuôi mẹ sanh ra kế cùng.

    Sao không suy xét đục trong,

    Mấy ai biết nhục mà không giữ mình?

    Bởi chưng cơn túng gia đình,

    Lại thêm đang tuổi xuân xanh biết gì!

    Nó mà gian ác nỗi này,

    Là cơn nguy khốn chẳng ai giúp giùm.

    Nó cũng biết xét nào không,

    Đem thân ở mướn khắp cùng ngoài trong,

    Mà cũng chẳng kẻ có lòng,

    Chẳng chịu mướn, nó lâm vòng hiếm nguy,

    Cơn túng chẳng biết làm chi,

    Sanh ra gian ác có gì lạ đâu!”

    Nghe lời biện bạch lý sâu,

    Các chức đều thảy nhìn nhau bất bình,

    Nhưng mà họ chỉ làm thinh,

    Vì chưng là lẽ công minh tỏ trần.

    Văn Lía thoát nạn cám ân,

    Trong lòng thơ thới vui mừng xiết bao,

    Bươn bả bước lại cúi đầu,

    Lạy người bốn lạy ngõ hầu đáp ơn.

    Hương Sư bèn tỏ thiệt hơn:

    “Từ nay bỏ tánh chớ còn gian tham”

    Văn Lía khép nép bày tàng:

    “Hiềm vì chẳng có chuyện làm nuôi thân,

    Thật là khốn hại muôn phần,

    Tôi đây cũng rất khổ tâm thay là”

    Mấy lời thành thật thiết tha,

    Hương Sư suy xét phân qua như vầy

    “Ta đây đành dạ mướn mày,

    Nhưng mà mày ráng đổi thay tánh tình.”

    Lía nghe thỏa dạ ưng đành,

    Thề nguyền thay đổi theo lành lánh gian

    Hương Sư trỗi bước vội vàng,

    Văn Lía theo dõi gia đàng đến nơi,

    Tiền mướn đâu đó tính rồi,

    Bạc trao cho Lía rất vui vô cùng

    Cầm bạc chi xiết vui mừng,

    Về nhà cùng mẹ đục trong giãi bày.

    Thuật qua các việc vắn dài,

    Mẹ già toại chí từ này khỏi lo.

    Mừng con có chốn ấm no,

    Phận mình cũng khỏi nguy cơ túng cùng

    Giấy tờ thuê mướn làm xong,

    Hương Sư biểu Lía ra đồng chăn trâu,

    Chẳng biểu làm chuyện khác đâu,

    Chăn trâu hôm sớm miễn sao vẹn phần.

    Văn Lía bao quản gian truân

    Đáp ơn làm phước làm nhơn cứu mình,

    Mai chiều trọn tấm lòng thành

    Chẳng dám sai sót phận mình chi đâu

    Hằng ngày chỉ việc chăn trâu,

    Ngoài đồng rộng rãi trăm phần toại vui,

    Thật là thỏa chí thảnh thơi,

    Mục đồng bè bạn hôm mai chung cùng.

    Có hơn hai chục mục đồng,

    Từ ngày biết Lía có lòng nể kiêng.

    Văn Lía tâm tánh chẳng hiền,

    Lại thêm sức mạnh rất nên lạ lùng,

    Chưa đầy mười sáu thu đông,

    Sức mạnh người lớn tưởng không sánh bì.

    Thằng sao tâm tánh lạ kỳ,

    Chẳng chịu ai hiếp nhiều khi sanh rầy.

    Thường lề ngày tháng ở ngoài,

    Cho trâu ăn cỏ ruộng này ruộng kia,

    Ngày kia nhìn thấy dưới khe,

    Gốc cây cá lóc nằm kề một bên,

    Phút đâu vùng cái nhảy lên,

    Rớt xuống cá đã nằm trên ruộng rồi.

    Văn Lía thấy vậy vui cười,

    Khen con cá lóc vô hồi tài ba:

    “Chớ chi cá lóc dạy ta,

    Dạy ta miếng đó thật là mang ơn”

    Mục đồng xúm lại hỏi đon:

    “Lía nhìn chi đó dừng chơn đứng hoài?”

    Lía rằng: “Cá lóc rất hay,

    Nó vùng một cái thật tài vô song

    Dưới khe sâu thật vô cùng,

    Một cái chỉ vùng nhảy khỏi lên trên”

    Mục đồng nghe rõ sạ duyên,

    Có đứa bày giải hư nên sạ tình:

    “Con cá nó cũng như mình,

    Tập lâu ắt được chẳng tin hãy làm

    Văn Lía bèn hỏi cho tàng,

    Làm sao lập thế bày đàng nhảy cao?”

    Mục đồng bày tỏ trước sau:

    “Cứ đào cái lỗ ban đầu cạn thôi,

    Mình tập nhảy đặng khỏi rồi,

    Thì đào sâu nữa lần hồi sẽ nên”

    Văn Lía nghe hãn sạ duyên,

    Tấc lòng thơ thới rất nên thỏa đành,

    Mấy lời gẫm xét đành rành.

    Chàng quyết chí tập cho mình nhảy cao.

    Mục đồng xúm xít cùng nhau,

    Văn Lía bèn biểu khá đào lỗ sâu

    Mấy đứa há dám cãi đâu,

    Vưng lời xúm xít cùng nhau đào liền

    Văn Lía xuống đó nhảy lên,

    Cứ làm như vậy rất nên gọn gàng.

    Kiên gan vững chí trăm đàng,

    Cứ vậy mà tập vẹn toàn một năm.

    Lần lần nhảy giỏi trăm phần,

    Lỗ nọ đào lần càng bữa càng sâu.

    Chẳng những Lía nhảy khỏi đầu,

    Nhảy còn qua khỏi hàng rào thiệt cao.

    Nghề chi năng luyện năng trau,

    Thét rồi cũng giỏi dễ nào đơn sai!

    Nghề nhảy Văn Lía ai tày,

    Nóc nhà nhảy khỏi ai ai cũng nhường,

    Mục đồng xem thấy hãn tường,

    Thảy đều lánh sợ dễ thường dám qua.

    Văn Lía toại dạ thay là,

    Học nghề cá lóc ai mà đám đương!

    Khắp cùng đồng nội ruộng mương,

    Mục đồng đều thảy kính nhường Lía ta.

    Ngày kia Lía tỏ gần xa:

    “Mình đây đủ mặt thảy là hai mươi,

    Chia ra một phía mười người,

    Giả đò đánh giặc chơi vui cho đành.”

    Thằng Mướp mười bảy xuân xanh,

    Lớn hơn các đứa vóc hình cũng to,

    Nghe Lía bày tỏ căn do,

    Mướp liền ứng chịu lựa người chia hai

    Xong xuôi hai phía ra tay,

    Cùng nhau đánh giặc toại thay tấc lòng

    Cùng nhau đánh giặc giữa đồng,

    Rượt qua rượt lại vô cùng vầy vui.

    Nửa ngày đánh giặc nhau chơi,

    Đến rốt cuộc rồi bên Lía thắng hơn.

    Chơi vui thỏa bấy lòng son,

    Mục đồng chơi vậy chẳng còn chơi chi.

    Văn Lía cũng toại lắm thay,

    Cuộc chơi thích chí chi tày nữa đâu.

    Sáu tháng cứ vậy chơi nhau,

    Nhưng mà chẳng xảy việc nào nguy nan.

    Ngày nọ Văn Lía bày tàng,

    Kêu mục đồng lại nghe chàng chỉ phân:

    “Đánh giặc vui vẻ trăm phần,

    Song le chưa đủ thỏa tâm đành lòng

    Có việc vui vẻ vô cùng,

    Để tao bày giải đục trong sạ tình.

    Tao có đi xem hát đình,

    Thấy rõ hát bội đành rành không sai:

    Trong lúc vua bị nịnh vây,

    Thật là vui vẻ toại thay tấc lòng

    Vậy ta mau hiệp nhau cùng,

    Ta làm y vậy thỏa lòng chẳng sai”

    Mục đồng nghe rõ vắn dài,

    Đành lòng ưng thuận chẳng ai bất bình.

    Văn Lía bèn tỏ hắc minh:

    “Để tao làm Chúa bây đành hay không?

    Thằng Mướp to lớn vô cùng,

    Để nó làm nịnh ắt xong chớ gì!

    Nhưng tao giao trước lời này,

    Làm vua phải để lâu ngày mới vây,

    Chớ chẳng phải mới lên ngai,

    Mà bị nịnh rượt chẳng hay đâu là!

    Thằng Mướp, thằng Bí, thằng Cà,

    Đều theo phe nịnh gian tà bất trung.

    Thằng Ổi, thằng Khế, thằng Hồng,

    Phò vua trọn dạ tròn lòng trung ngay

    Bao nhiêu còn lại phải vầy:

    Làm quan làm tướng tao sai vưng lời”

    Văn Lía truyền lịnh xong xuôi,

    Mục đồng hết thảy đều vui thỏa lòng.

    Thằng Mướp bèn tỏ đục trong:

    “Chơi vầy ở tại giữa đồng không vui,

    Vào trong miễu nọ mà chơi,

    Vậy âu mới giống việc đời phải không?”

    Văn Lía nghe hãn thủy chung,

    Rất nên đành dạ toại lòng phán qua:

    “Lời bàn rất đẹp lòng ta,

    Trâu ta khá cột đặng mà đi chơi”

    Mục đồng nghe rõ khúc nôi,

    Trâu đều thảy cột xong xuôi mọi đàng,

    Cùng nhau sau trước một đoàn,

    Kéo vào miễu nọ ngỏ toan vui vầy.

    Đến nơi đứng dưới gốc cây,

    Xúm nhau bàn luận vắn dài thấp cao.

    Văn Lía bèn tỏ âm hao:

    “Làm Vua phải ngự ngai cao mới là,

    Có ngai như ở trào ca,

    Tụi bây lo đẹp lòng ta bây giờ.”

    Thằng Mướp có tánh đôi co,

    Chau mày phân lại đặng cho Lía tàng:

    “Làm gì mình có ngai vàng?

    Mày khéo bày chuyện khó toan vô cùng!

    Ngồi đại dưới đất cho xong,

    Làm ngai khó nỗi thật không thể làm.”

    Văn Lía thấy cãi lịnh troàn,

    Nạt rằng: “Trẫm đã chỉ troàn cãi sao!

    Làm ngai có khó chi đâu,

    Vào rừng thì có vốn nào khó chi.”

    Nghe Văn Lía nói dị kì,

    Thằng Mướp hỏi lại nằn nì gần xa:

    “Ngai đâu ở chốn rừng già,

    Mi khá bày giải cho ta đặng tường?”

    Trái tai Văn Lía đâu nhường,

    Mắng rằng: “Mầy thật ngu bường con trâu!

    Ngai kia ở chốn rừng sâu,

    Ấy tao nói ý cớ sao không tàng?

    Đốn cây làm cái ngai vàng,

    Cột lại như thể cái thang khó gì

    Làm cho giống ở trào nghi,

    Chớ nên cãi lịnh diên trì dang ca.”

    Thằng Mướp bị quở bị la,

    Chẳng dám cãi nữa dần dà tỏ phân:

    “Lịnh trên dạy dưới phải vâng,

    Chúng ta mau khá dời chân đi liền.”

    Mục đồng nghe có lịnh truyền,

    Đồng nhau, trỗi bước rất nên trọn lòng,

    Vào rừng chằng quản gai chông,

    Đốn cây cột lại đã xong mọi đàng.

    Đem ra miễu nọ đã an,

    Làm cái ngai giả vẹn toàn trước sau.

    Văn Lía mừng rỡ xiết bao,

    Nghiêm nghị lên thẳng ngai cao mà ngồi,

    Bâng khuâng tấc dạ rất vui,

    Tỉ mình như đã trị ngôi thỏa lòng.

    Thằng Mướp liền nói bông lông:

    “Như vầy quả thật vô cùng cao sang!”

    Văn Lía bèn tỏ mọi đàng:

    “Từ đây y thửa lịnh troàn chớ sai”

    Các đứa phân lại vắn dài:

    “Cúi vưng nghe lịnh từ này về sau.”

    Văn Lía phỉ chí xiết bao,

    Tỉ mình thật chẳng khác nào như vua.

    Từ đây tối sớm chiều trưa,

    Làm vua Văn Lía rất vừa lòng thay,

    Mỗi ngày ngồi ở trên ngai,

    Mục đồng ngồi dưới vui vầy trào ca.

    Văn Lía ngang dọc thay là,

    Mục đồng đều sợ ai mà chẳng kiêng,

    Bày chơi nhiều việc chẳng nên,

    Làm vua làm chúa oai quyền vang rân.

    Hằng ngày chơi trước miễu thần,

    Mục đồng cùng Lía trăm phần vầy vui.

    Ngày kia Văn Lía trên ngôi,

    Nhìn xem xuống dưới đủ người trước sau,

    Thằng Mướp chẳng biết đi đâu,

    Ngày nay vắng mặt cớ nào chẳng thông?

    Văn Lía han hỏi đục trong:

    “Mướp sao vắng mặt nó không đến chầu?

    Tội nó luật phải chém đầu,

    Thật tội rất lớn dễ nào thứ dung

    Mục đồng quỳ tấu song song:

    “Ắt là thằng Mướp trái lòng chi đây,

    Cùng ta chằng chịu vui vầy,

    Không chừng có chuyện bữa nay ở nhà.”

    Văn Lía bèn tỏ gần xa:

    “Thằng Mướp nó chẳng phục ta không chừng!

    Chờ nó lai đáo trào trung,

    Đặng ta hỏi lại đục trong cho tường

    Ví bằng nó chẳng chịu nhường,

    Cùng ta thử sức đối đương thử tài:

    Nếu nó thắng được ta đây,

    Thì ta đây sẽ nhường ngai Mướp liền.”

    Còn đang bày tỏ sạ duyên,

    Bỗng thằng Mướp đến đứng bên kia là.

    Thằng Lía bèn hỏi gần xa:

    “Sao mày lai đáo trào ca trễ vầy?

    Khá tua bày tỏ vắn dài,

    Đặng ta rõ thấu cho hay sự tình?”

    Thẳng Mướp trổ giọng bất bình:

    “Chơi vầy thật chẳng công minh chút nào!

    Tài chi mày ngự ngai cao?

    Lẽ thì phải để cho tao ngai này

    Bởi tao lớn tuổi hơn mày

    Mày còn nhỏ tuổi lại tài cán chi?”

    Thằng Lía nghe đã tường tri,

    Trong lòng nổi giận tức thì phân qua:

    “Nếu mày muốn chiếm ngôi ta,

    Cùng ta thử sức mới là công minh,

    Nếu mi thiếu sức chống kình,

    Thì là mi phải chia đành nhường ngai

    Thường ngày tùng phục ta đây,

    Ta kêu phải dạ ta sai vưng lời.

    Cứ việc thử sức mà chơi,

    Đặng cho biết rõ ai tài hơn ai?”

    Thằng Mướp đáp lại vắn dài:

    “Nếu đặng như vậy ta đây đành lòng.”

    Thằng Lía tức giận trong lòng,

    Kế mưu sắp sẵn đục trong ai tàng?

    Lía ta phân lại rõ ràng:

    “Thử tài thử sức nghĩ càng quá hay,

    Nhưng ta nghĩ đặng việc này,

    Còn thêm thú vị chẳng sai đâu là

    Thẳng Mướp giả kẻ gian tà,

    Nịnh thần thí chúa đặng mà đoạt ngôi,

    Sẵn dịp đó rất là vui,

    Cho ta thử sức đặng coi thế nào?”

    Còn lắm chuyện ngộ biết bao,

    Hãy xem luôn tiếp cuốn sau rõ tường.

     

     

     

     

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiếng Trung Nghiêm Thùy Trang
  • 60 Câu Thành Ngữ Tiếng Trung Thông Dụng Nhất (Phần 1)
  • Nghề Buôn Xưa Qua Tục Ngữ, Ca Dao
  • Món Ngon Hà Thành Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Về An Giang Ghé Thăm 7 Núi
  • Đặc Sản Bình Định Gắn Liền Qua Từng Câu Ca Dao Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • 30+ Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Bạn Hay Nhất Mọi Thời Đại
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh 3 Miền Đất Nước !
  • Ảnh Hưởng Giáo Lý Nhà Phật Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Danh Lam Thắng Cảnh
  • Thành Ngữ Về Tình Yêu Hay ❤️ 1001 Câu Nói Tình Yêu
  • Bình Ðịnh là vùng đất của những tháp Chàm (8 cụm – 14 tháp), vùng đất của võ thuật và là quê hương của vị anh hùng áo vải cờ đào Quang Trung – Nguyễn Huệ bách chiến bách thắng, phá tan quân Thanh ở phía Bắc, đánh bại quân Xiêm ở phía Nam, “cái nôi” của võ thuật cổ truyền Việt Nam còn được thể hiện ở chỗ không chỉ đàn ông, thanh niên trai tráng luyện võ phòng thân, tăng cường sức khỏe mà ngay cả đàn bà, con gái nơi đây đều biết múa côn, đi quyền, điều đó thể hiện qua câu ca dao:

    “Ai về Bình định mà coi

    Con gái Bình Ðịnh bỏ roi đi quyền”

    Không những nổi tiếng về võ thuật, Bình Định còn là nơi phong cảnh hữu tình, non xanh nước biếc, con người nhân hậu và hiếu khách. Du khách một khi về thăm Bình Định sẽ không thể bỏ qua những danh lam thắng cảnh nơi đây như: Khu du lịch sinh thái Hầm Hô, Bãi tắm Hoàng Hậu, suối nước nóng Hội Vân hay một số điểm du lịch mới như Đảo Hòn Khô, Đảo Kỳ Co, Eo Gió, Khu dã ngoại Trung Lương Cát Tiến…và đặc biệt sẽ là thiếu sót nếu du khách chưa thưởng thức, tìm hiểu hết giá trị của những món đặc sản nổi tiếng trước khi rời gót khỏi vùng đất này. Những món ăn chân chất, dân dã, bình dị đến ngay từ tên gọi như: bánh ít lá gai, nem chua chợ Huyện, rượu Bàu Đá, bún Song Thằn, cua Huỳnh Đế, bánh tráng dừa…Đây cũng là những món quà ý nghĩa mang đậm hương vị vùng đất Võ mà du khách có thể mang về dành tặng cho những người thân yêu khi họ chưa có dịp khám phá vùng đất này cũng có thể cảm nhận qua từng hương vị đặc sản.

    Để du khách hiểu rõ hơn về sự chân chất, dân dã, bình dị của đặc sản nơi đây, tôi xin được phép đưa một số câu ca dao tục ngữ được dân gian truyền miệng từ bao đời nay mà không đi vào giải thích chi tiết các công đoạn hình thành:

    “Anh về Bình Định ba ngày

    Gởi mua chiếc nón, lá dày không mua

    Xấp lãnh An Thái một khăn trầu nguồn

    Chàng đi đường dẫu gặp khó khăn

    Cũng sao ghé lại Gò Găng quê mình

    Vào đây em tặng nón chung tình

    Hình chàng bóng thiếp in hình đôi ta”

    “Nón ngựa Gò Găng

    Bún Song thằn An Thái”

    “Hải sản tươi ngon lườn mực cá

    Song Thằn hảo hạng đậu cà xanh”

    “Dai dai sợi bún Song Thằn

    Nhộng tằm ba món càng ăn càng ghiền”

      Rượu Bàu Đá: Được mệnh danh là “Đệ nhất Danh Tửu”, là sản phẩm đặc trưng, là niềm tự hào của người dân đất võ Bình Định. Uống rượu Bàu Đá bạn sẽ khám phá hào khí Tây Sơn, nghĩa khí của anh hùng áo vải cờ đào Quang Trung – Nguyễn Huệ, du khách sẽ hiểu được con người, thần thượng võ của miền đất Tây Sơn – Bình Định.

    “Lắc chiếc lọ sành còn rượu nhín

    Vọng lên đỉnh núi cụng vài ly” (Yến Lan)

    “Dòng sông Côn thấm tình non nước

    Dân làng nghề cất được rượu ngon

    Giữ nghề từng lớp cháu con

    Trải qua dâu bể vẫn còn nghề tinh

    Rượu đầy ly bọt trắng tinh

    Chung vui đối tửu đất trời lung linh”

    Ăn nem Chợ Huyện, đêm xem hát tuồng.

    “Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi”

    “Gặt rồi em đứng chờ ai

    Mang chi đôi bánh lá gai đẩy đà”

    “Bà ngoại ta còn phảng phất đâu đây

    Bánh ít lá gai bánh ú mập đầy”

    Để cho ra những cái bánh ít thơm ngon, thợ làm bánh phải dậy từ rất sớm để luộc lá gai sau đó bỏ vào cối quếch nhuyễn với đường và bột; tiếp đến là đem đi hấp cách thủy khoảng 30 phút, rồi vớt ra để nguội. Bánh sẽ được cắt nhỏ, bỏ nhân bánh vào (nhân được làm từ đậu xanh trộn với dừa). Lá gói bánh phải là lá chuối tươi như vậy khi gói bánh mới xanh và nhìn đẹp hơn. Lá chuối được xé thành những miếng hình vuông sau khi rửa thì hơ lửa cho mềm.

    Nướng lên thơm phức liêu xiêu cả làng!”

    Bánh tráng nước dừa được làm chủ yếu từ bột sắn trộn với nước cốt dừa, cơm dừa, gừng, mè, tiêu hột, hành tím thái mỏng và một thứ gia vị không thể thiếu làm nên vị đặc trưng cho bánh tráng Bình Định đó là muối. Tất cả được trộn đều và đem đi tráng. Bánh thường được tráng trên khuôn to và tráng thành lớp dày rồi đem phơi. Muốn ăn phải nướng bánh dưới lửa than to, bánh sau khi nướng có mùi thơm quyến rũ từ mùi hành phi, mùi gừng, mùi tiêu và có vị bùi béo của nước cốt dừa, của mè cộng thêm vị hơi mằn mặn của muối. Có nhiều cách ăn, nhưng vẫn thường nhâm nhi mà không cần tới bất cứ thứ gì đi kèm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thành Ngữ Tục Ngữ Lớp 3 ❤️️ 1001 Tục Ngữ Ý Nghĩa
  • 10 Thành Ngữ ” Bá Đạo ” Tiếng Anh
  • Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam + Nghề Buôn Bán
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Hay Nhất
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • 35 Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Quê Hương Đất Nước Bình Định Câu Hỏi 194294

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mưa Nắng Bão Lụt, Thời Tiết, Dự Báo Thời Tiết
  • Chứng Minh Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam 10 Pdf
  • Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo Việt Nam
  • 1.Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.

    2.Bình Định có núi Vọng Phu Có Đầm Thị Nại có Cù Lao xanh.

    3.Công đau công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

    4.Mẹ ơi đừng đánh con đau Để con đánh trống hát tuồng mẹ nghe.

    5.Ai về Bịnh Định mà coi Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.

    6.Ai về Bình định thăm bà Ghé vô em gởi lạng trà Ô long. Trà Ô long nước trong vị ngọt Tình đôi mình như đọt mía lau chúng tôi đi bờ lở một mình Phất phơ chéo áo giống hình trò

    Ba Trò Ba đi học trường xa

    Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi

    8.Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cá nghiên anh đồ.

    Tiếng đồn Bình Định tốt nhà Phú Yên tốt lúa, Khánh Hoà tốt trâu

    .Công đâu công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    .Em về Đập Đá quê cha Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê chồng

    13.Anh về Đập Đá , Gò găng Bỏ em kéo vải sáng trăng một mình Tiếng ai than khóc nỉ non Vợ chàng lính thú trèo hòn Cù Mông

    14.Chiều chiều én liệng Truông Mây Cảm thương Chú Lía bị vây trong thành

    15.Non Tây áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

    16.Cây Me cũ, Bến Trầu xưa Dẫu không nên tình nghĩa cũng đón đưa cho trọn niềm

    17.Ngó vô Linh Đỗng mây mờ Nhớ Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây

    18.Hầm Hô cữ nước còn đầy Còn gương phấn dũng , còn ngày vinh quang

    19.Bình Định có đá Vọng Phu Có đầm Thị Nại có Cù lao Xanh Lụa Phú Phong nên duyên nên nợ Nón Gò găng khắp chợ mến thương

    20.Bên kia sông, quê anh An Thái Bên này sông, em gái An Vinh Thương nhau chung dạ chung tình Cầu cha mẹ ưng thuận cho hai đứa mình lấy nhau

    21.Cưới nàng đôi nón Gò Găng Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn Ai về Tuy Phước ăn nem Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm

    22.Rượu ngon Trường Thuế mê li Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi sao đành

    23.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Gi Sông xanh, núi cũng xanh rì Vào Nam, ra Bắc ai cũng đi con đường này Nghìn năm gương cũ còn đây Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu – Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi Dễ chi nhân ngãi mà rời được nhau

    24.Tháp kia còn đứng đủ đôi Cầu còn đủ cặp huống cho tôi với nường ( nàng) Suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Thiếp ngồi dệt vải chỉ mong bóng chàng Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu Ôm đàn gảy khúc Cầu hoàng Thiếp xin gõ nhịp để chàng lựa dây Bao giờ rừng quế hết cây Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình Dừa xanh sừng sững giữa trời Đem thân mà hiến cho đời thuỷ chung

    25.Muốn ăn bánh ít nhân mè Lấy chồng Hòa Đại đạp chè thâu đêm Muốn ăn bánh ít nhân tôm Lấy chồng Hòa Đại ăn cơm củ mì

    26.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di Sông xanh núi cũng xanh rì Vào Nam ra Bắc cũng đi đường này chúng tôi về Phù Mỹ nhắn nhe Nhắn chị bán chè sao vậy chẳng lên?

    Anh về dưới vạn thăm nhà

    Ghé vô em gởi lạng trà Ô Long

    28.Ai về Bình Định thăm cha Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em

    29.Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông

    30.Khéo khen con tạo trớ trêu

    Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ

    32.Ai về thăm cảnh An Khê

    Sông Ba chồng nhớ vợ nhà Sông Côn

    __mk tìm đc chừng này thôi ak__=))

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hạnh Phúc, Bất Hạnh, Hiếu Thảo, Có Hiếu
  • Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Địa Danh
  • Mái Đình Làng Trong Văn Hóa Việt
  • Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Rượu
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa Việt Nam
  • Tục Ngữ, Ca Dao Địa Danh Ninh Bình (Lv Thạc Sĩ)

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa Việt Nam
  • Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Rượu
  • Mái Đình Làng Trong Văn Hóa Việt
  • Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Địa Danh
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hạnh Phúc, Bất Hạnh, Hiếu Thảo, Có Hiếu
  • ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

    BÙI CÔNG ĐOẠT

    TỤC NGỮ, CA DAO ĐỊA DANH NINH BÌNH

    LUẬN VĂN THẠC SĨ

    NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

    Thái Nguyên – 2022

    ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

    BÙI CÔNG ĐOẠT

    TỤC NGỮ, CA DAO ĐỊA DANH NINH BÌNH

    Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

    Mã số: 8220121

    LUẬN VĂN THẠC SĨ

    NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

    Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Huế

    Thái Nguyên – 2022

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu

    trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều

    trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác.

    Thái Nguyên, tháng 4 năm 2022

    Tác giả luận văn

    Bùi Công Đoạt

    LỜI CẢM ƠN

    Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn

    Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học,

    Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực

    tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập.

    Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng

    dẫn PGS. TS. Nguyễn Thị Huế đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời

    gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

    Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp

    đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn.

    Thái Nguyên, tháng 4 năm 2022

    Tác giả luận văn

    Bùi Công Đoạt

    MỤC LỤC

    MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………………….. 1

    1. Tính cấp thiết của đề tài ………………………………………………………………….. 1

    2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu …………………………………………………………… 2

    3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu …………………………………………………….. 3

    4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu ………………………………………………. 4

    5. Phạm vi nghiên cứu …………………………………………………………………………. 5

    6. Cấu trúc của luận văn ………………………………………………………………………. 5

    7. Đóng góp của luận văn …………………………………………………………………….. 6

    NỘI DUNG……………………………………………………………………………………….. 7

    Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

    ĐẾN ĐỀ TÀI ……………………………………………………………………………………. 7

    1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, đời sống văn hóa,

    con người Ninh Bình …………………………………………………………………………… 7

    1.2. Đời sống văn hóa, con người Ninh Bình …………………………………………. 10

    1.3. Khái niệm Tục ngữ, Ca dao, Địa danh …………………………………………….. 15

    1.4. Văn học dân gian Ninh Bình và tục ngữ, ca dao Ninh Bình ……………….. 18

    1.5. Tục ngữ, ca dao Ninh Bình …………………………………………………………… 20

    Tiểu kết chương 1……………………………………………………………………………….. 23

    Chương 2: TỤC NGỮ, CA DAO ĐỊA DANH NINH BÌNH VỀ MẢNH

    ĐẤT CON NGƯỜI VÀ SẢN VẬT ……………………………………………………. 25

    2.1. Tục ngữ, ca dao địa danh về đất Ninh Bình …………………………………….. 25

    2.2. Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình về người Ninh Bình …………………. 31

    2.3. Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình giới thiệu sản vật, nghề nghiệp

    và phong tục. …………………………………………………………………………………….. 39

    2.4. Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình giới thiệu về phong tục, lễ hội …… 49

    Tiểu kết chương 2……………………………………………………………………………….. 53

    Chương 3: TỤC NGỮ CA DAO ĐỊA DANH NINH BÌNH VỀ KINH

    NGHIỆM SẢN XUẤT, QUAN HỆ XÃ HỘI……………………………………………. 55

    3.1.Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình về kinh nghiệm sản xuất ……………. 55

    3.2. Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình về các quan hệ xã hội ……………….. 61

    3.3. Tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình thể hiện tinh thần lạc quan,

    Yêu đời …………………………………………………………………………………………….. 80

    Tiểu kết chương 3……………………………………………………………………………….. 82

    KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………………. 84

    TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………. 86

    PHỤ LỤC ………………………………………………………………………………………… 90

    MỞ ĐẦU

    1. Tính cấp thiết của đề tài (Lý do chọn đề tài)

    Có thể nói rằng Văn học dân gian là một phần không thể tách rời nền văn

    học dân tộc . Ra đời rất sớm (từ khi con người chưa có chữ viết) bộ phận văn học

    này đã góp phần nuôi dưỡng, vun đắp nền văn học Việt Nam. Trong dòng chảy

    của lịch sử, văn học dân gian Ninh Bình đặc biệt là tục ngữ, ca dao đã là những

    mạch nguồn trong mát nuôi dưỡng tâm hồn biết bao người con Ninh Bình để rồi

    “Ăn đâu, làm đâu” mọi người con Ninh Bình đều hướng về quê hương, nguồn cội

    với tấm lòng thành kính, tri ân và khát vọng cống hiến xây dựng quê hương Ninh

    Bình ngày càng văn minh, giầu đẹp.

    Tìm hiểu địa danh qua tục ngữ, ca dao Ninh Bình giúp chúng ta hiểu thêm

    về diện mạo và đặc trưng của Văn học dân gian Ninh Bình nói chung và tục ngữ,

    ca dao Ninh Bình nói riêng. Ninh Bình, mảnh đất ngàn năm văn hiến mà ở đó mỗi

    tên làng, tên xã, mỗi ngọn núi, dòng sông đều mang “bóng dáng ông cha”, mang

    “dáng hình xứ sở” được ghi lại qua những câu tục ngữ, ca dao để rồi trường tồn

    cùng quê hương, đất nước.

    Đến với Ninh Bình hôm nay, chúng ta cảm nhận về một vùng quê đang

    từng ngày thay đổi trong xu thế đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, có nhiều địa danh

    mới xuất hiện và không ít những địa danh cũ mất đi hoặc thay đổi tên gọi. Tìm

    hiểu những địa danh của Ninh Bình qua những câu tục ngữ, ca dao sẽ giúp chúng

    ta bảo tồn và lưu giữ những giá trị văn hóa vô cùng quí báu của cha ông, để từ đó

    chúng ta thêm tự hào và thấy được trách nhiệm của mình trong việc quảng bá, gìn

    giữ kho tàng tục ngữ, ca dao Ninh Bình cho thế hệ mai sau.

    Từ những mong muốn trên, tôi chọn đề tài luận văn của mình là: “Tục ngữ,

    ca dao địa danh Ninh Bình”. Hy vọng rằng công trình là sự hệ thống những câu

    tục ngữ, ca dao có nói tới những địa danh của tỉnh Ninh Bình với những tên gọi,

    sự tích đầy thú vị, gợi mở cho giáo viên và học sinh Ninh Bình trong quá trình

    tiếp nhận tục ngữ, ca dao địa phương (Ngữ văn lớp 7). Luận văn cũng là món quà

    nhỏ mà người viết tri ân quê hương Ninh Bình yêu dấu.

    2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

    2.1.Việc sưu tầm và giới thiệu tục ngữ, ca dao nói chung đã được tiến hành từ lâu

    (thế kỷ XVIII). Đó là công trình Nam phong giải trào của Trần Danh Án, Ngô

    Hạo Phu, Trần Doãn Giác, soạn vào năm 1788 – 1789 đến nửa thế kỷ XIX; Tục

    ngữ, cổ ngữ gia ngôn của Huỳnh Tịnh Của, xuất bản năm 1897; Việt Nam phong

    sử của Nguyễn Văn Mại, soạn năm 1914; Tục ngữ và cách ngôn của Hàn Thái

    Dương, 1920; An Nam tục ngữ của Vũ Như Lâm và Nguyễn Đa Gia, 1933; Phong

    giao, ca dao, phương ngôn, tục ngữ của Nguyễn Văn Chiểu, năm 1936; Ngạn ngữ

    phong dao của nguyễn Can Mộng, 1941; Đặc biệt là công trình Tục ngữ phong

    dao của Nguyễn Văn Ngọc (Nhà xuất bản Vĩnh Hưng Long), 1928, đã có tới 6

    500 câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao, được sưu tầm và giới thiệu. Tuy nhiên công

    trình này chưa có sự nghiên cứu chuyên sâu.

    Từ sau năm 1975 việc sưu tầm và giới thiệu tục ngữ, ca dao, dân ca đã có

    những thuận lợi hơn, thời kỳ này phải kể tới công trình của Vũ Ngọc Phan đó là

    cuốn Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, (Xuất bản lần đầu năm 1955 đến nay đã

    tái bản nhiều lần). Công trình là một tập hợp tương đối đầy đủ và hệ thống tục

    ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam ở cả ba miền đất nước. Ở ấn phẩm này tác giả đã

    sưu tầm và giới thiệu được một số câu ca dao Ninh Bình về những địa danh nổi

    tiếng như núi Phi Diên (núi Cánh Diều), cửa biển Thần Phù (nay thuộc xã Yên

    Lâm, Yên Mô)…

    Trong khoảng gần 30 năm trở lại đây các nhà nghiên cứu đã tập trung

    nghiên cứu tục ngữ, ca dao theo chuyên đề, đáng chú ý là các công trình nghiên

    cứu sau:

    – Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp của Nguyễn Thái Hòa, Nhà xuất

    bản Khoa học xã hội, năm 1997…

    – Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam của Phan Thị Đào, Nhà xuất bản

    Thuận Hóa, năm 1999

    – Tiếp cận ca dao bằng phương thức xâu chuỗi theo mô hình cấu trúc của

    Triều Nguyên, Nhà xuất bản Thuận Hóa, năm 2003

    – Thi pháp ca dao, do Nguyễn Xuân Kính chủ biên, Nhà xuất bản Đại học

    Quốc gia Hà Nội năm 2006

    2.2. Giới thiệu về tục ngữ, ca dao Ninh Bình cho đến nay còn có ở trong các công

    trình của Ninh Bình: Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình, do Trương Đình Tưởng

    chủ biên, Nhà xuất bản Thế giới, năm 2004;

    Địa chí Ninh Bình, do Tỉnh ủy Ninh Bình – Viện khoa học xã hội Việt

    Nam chịu trách nhiệm nội dung, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, năm 2010;

    Chùa Dầu di tích lịch sử văn hóa, do Thích Minh Đức, Lã Đăng Bật chủ

    biên, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc, năm 2008;

    Tục ngữ ca dao, dân ca Yên Mô, do Trần Đình Hồng chủ biên, Nhà xuất

    bản vãn hóa thông tin, nãm 2012. Bên cạnh ðó còn có các tác giả: Đặng Hữu Vân,

    Phạm Thị Ánh Nguyệt, biên tập phần tục ngữ, ca dao giảng dạy trong chương

    trình ngữ văn địa phương trong các trường THCS tỉnh Ninh Bình.

    Tất cả những công trình trên là những tài liệu quí báu, định hướng cho tôi có

    được cái nhìn sâu sắc về địa danh Ninh Bình qua những câu tục ngữ, ca dao. Tuy

    nhiên một số công trình nghiên cứu trên chỉ giới thiệu tục ngữ, ca dao Ninh Bình qua

    dư địa chí, hoặc nghiên cứu tục ngữ, ca dao Ninh Bình trong dòng chảy của văn học

    dân gian nói chung, hoặc nghiên cứu tục ngữ, ca dao của một huyện, một vùng, nên

    chưa có được cái nhìn thật khái quát, đầy đủ về tục ngữ, ca dao Ninh Bình đặc biệt

    là những câu tục ngữ, ca dao gắn với các địa danh trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Từ lý

    do đó tôi mạnh dạn chọn đề tài Tục ngữ, ca dao về địa danh Ninh Bình, nhằm nối

    dài những nghiên cứu về tục ngữ ca dao Ninh Bình đặc biệt là tìm hiểu những địa

    danh của tỉnh được nhắc tới trong tục ngữ, ca dao, những tên gọi, sự tích, ý nghĩa của

    mỗi địa danh đều có sức hấp dẫn riêng mà mỗi người con Ninh Bình nhất là thế hệ

    trẻ cần phải hiểu biết và gìn giữ.

    3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

    3.1. Đối tượng nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là tục ngữ, ca dao về địa danh

    Ninh Bình, trong đó tập trung làm rõ một số vấn đề sau:

    7. Đóng góp của luận văn

    – Luận văn lần đầu tiên là một tập hợp những câu tục ngữ, những bài ca dao

    về địa danh Ninh Bình.

    – Luận văn lần đầu tiên đi sâu tìm hiểu nội dung phản ánh, giá trị và ý nghĩa

    tên gọi của mỗi địa danh trong các câu tục ngữ, ca dao của Ninh Bình. Qua đó

    giúp chúng ta thấy được một phần diện mạo của văn hóa dân gian Ninh Bình, thấy

    được vẻ đẹp tiềm ẩn trong mỗi cảnh vật nơi đây, và đặc biệt là chúng ta cảm nhận

    được tâm hồn tình cảm của mỗi người con Ninh Bình đối với quê hương, đất nước.

    – Luận văn góp phần cung cấp tài liệu cho giáo viên và học sinh tỉnh Ninh

    Bình nói riêng và các địa phương khác nói chung trong các tiết Ngữ văn địa

    phương.

    NỘI DUNG

    Khí hậu: Ninh Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, chịu ảnh

    hưởng của khí hậu ven biển. Thời tiết trong năm chia làm hai mùa khá rõ: mùa

    khô từ tháng 11-12 năm trước đến tháng 4 năm sau; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng

    10. Lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1.860 – 1.950 mm nhưng phân bố

    không đều, tập trung 70% lượng mưa vào mùa hạ.

    Dân cư: Dân số Ninh Bình tính đến năm 2022 là 952 509 người, đại bộ phận

    dân cư Ninh Bình là dân tộc Kinh và có khoảng 20 000 người là đồng bào dân tộc ít

    người, chủ yếu là dân tộc Mường sinh sống ở một số xã miền núi huyện Nho Quan.

    Có hai tôn giao chính: phật giáo và công giáo. Phật giáo chiếm khoảng 5,18% và

    công giáo chiếm 16,3% dân số (chủ yếu ở huyện Kim Sơn)

    Ninh Bình là nơi những dấu tích của con người tồn tại từ hàng vạn năm trở

    về trước vẫn còn lưu lại; là cố đô Hoa Lư một thời sáng chói, như một minh chứng

    về một vùng đất cổ “địa linh, nhân kiệt”. Truyền thống, hiện đại luôn hoà quyện

    với nhau để làm nên một Ninh Bình giàu bản sắc văn hoá, giàu truyền thống yêu

    nước và cách mạng, là cội nguồn sức mạnh của người dân Ninh Bình trong kháng

    chiến chống giặc ngoại xâm cũng như trong thời kỳ hội nhập và phát triển cùng

    đất nước.

    Về tài nguyên thiên nhiên, đây là mảnh đất có rất nhiều tiềm năng và thế

    mạnh, cụ thể:

    Đất đai: Ninh Bình có tổng diện tích đất tự nhiên là 139.011 ha. Trong đó

    đất cho sản xuất nông nghiệp là 61.959 ha (chiếm 44,57%). Các loại đất phù sa

    được bồi và phù sa không được bồi tạo điều kiện cho nuôi trồng thuỷ sản và cây

    công nghiệp; đất phù sa cũ chua, nghèo…thích hợp cho thâm canh lúa, hoa màu;

    đất feranit thích hợp phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp, cây dược liệu.

    Sinh vật: Ninh Bình có thảm thực vật rừng phong phú, tập trung ở vườn

    Quốc gia Cúc Phương. Rừng Cúc Phương thuộc loại rừng mưa nhiệt đới điển hình

    với cấu trúc thảm thực vật nhiều tầng, phong phú về thành phần loài. Một số loài

    thực vật điển hình là Chò xanh, cây Lê, cây Chân chim…Động vật ở đây cũng

    rất phong phú. Hiện đã phát hiện 233 loài động vật có xương sống, nhiều loài

    chim và 24 bộ côn trùng trong số 30 bộ côn trùng thường gặp ở nước ta.

    Tài nguyên khoáng sản: Ninh Bình có nhiều loại khoáng sản nhưng đáng

    kể nhất là đá vôi với diện tích 1,2 vạn ha, trữ lượng hàng chục tỷ mét khối và hàng

    chục triệu tấn đôlômit, chất lượng tốt. Đây là nguồn nguyên liệu lớn cho sản xuất

    vật liệu xây dựng. Ngoài ra, đất sét phân bố rải rác ở các vùng đồi núi thấp dùng

    để sản xuất gạch ngói và là nguyên liệu cho ngành đúc. Than bùn có trữ lượng

    2triệu tấn/năm dùng để sản xuất phân vi sinh. Nước suối Kênh Gà, Nước khoáng

    Cúc Phương cũng là những nguồn lợi lớn trong việc chữa bệnh và phát triển du

    lịch…

    1.2. Đời sống văn hóa, con người Ninh Bình

    1.2.1. Ninh Bình – nơi in đậm dấu ấn văn hoá của cư dân Việt cổ

    Dấu vết khảo cổ học: Ninh Bình là vùng đất có con người cư trú từ rất sớm.

    Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trầm tích có xương răng đười ươi và các động

    vật trên cạn ở Núi Ba (Tam Điệp) thuộc sơ kỳ đồ đá cũ, cách ta khoảng ba mươi

    vạn năm; ở Thung Lang (Tam Điệp) có niên đại cách ta khoảng ba mươi nghìn

    năm; động ngưòi xưa (Cúc Phương) có di chỉ cư trú của con người thời văn hoá

    Hoà Bình cách ta khoảng 7.580 + 100 năm. Di chỉ của con người văn hoá Hoà

    Bình còn tìm thấy ở một số hang động ở Tam Điệp, Nho Quan. Sau thời kỳ văn

    hoá Hoà Bình, các nhà khảo cổ cho rằng, vùng đồng bằng ven biển Thanh Hoá,

    Ninh Bình là nơi định cư của con ngưòi thời đại đồ đá mới Việt Nam. Di chỉ Đồng

    Vườn (Yên Thành, Yên Mô) đã được định niên đại muộn hơn di chỉ Gò Trũng (di

    chỉ Gò Trũng có niên đại C14: 4700 + 50 năm cách ngày nay). Cư dân cổ di chỉ

    Đồng Vườn đã phát triển lên cư dân cổ di chỉ Mán Bạc (Yên Thành, Yên Mô) ở

    giai đoạn văn hoá đồ đồng từ cuối Phùng Nguyên đến đầu Đồng Đậu, cách đây

    3.300 – 3700 năm.

    1.2.2. Ninh Bình – ” văn hoá mới” của cư dân ven biển

    Ninh Bình là một trong những tỉnh điển hình về sự mở rộng không gian

    văn hoá Việt xuống biển Đông. Trong quá trình kiến tạo địa chất, biển lùi dần tạo

    ra đồng bằng vùng hạ lưu sông Đáy. Con người tiến dần ra chiếm lĩnh vùng đồng

    bằng ven biển và tạo ra những trung tâm văn hóa như Hoa Lư, sau là kinh đô của

    cả nước trong 42 năm (968-1010). Vùng ven sông Vân sau là trung tâm của đạo,

    trấn, rồi tỉnh Ninh Bình. Dấu ấn về biển còn in đậm trên đất Ninh Bình. Những

    địa danh: cửa biển Phúc Thành (thành phố Ninh Bình), cửa biển Đại An (nay là

    ngã ba Độc Bộ), nơi tiếp giáp giữa yên Khánh và Nghĩa Hưng (Nam Định), cửa

    biển Con Mèo (Yên Thành, Yên Mô), cửa Biển Thần Phù (Yên Lâm, Yên Mô)

    làm cho chúng ta có cảm tưởng một thời biển còn ở đâu đây. Cùng với các địa

    danh về các cửa biển là các con đê lịch sử như đê Hồng Đức (1471), đê Hồng Lĩnh

    (1773) do Nguyễn Nghiễm – thân phụ Nguyễn Du đắp, đê Đường Quan(1830), đê

    Hồng Ân (1899), đê Hoàng Trực (1927), đê Văn Hải (1933-1934), đê Bình Minh

    I (1959-1960), đê Bình Minh II (1981). Cho đến nay, Ninh Bình vẫn tiến ra biển

    mỗi năm gần 100m. Như vậy, từ ngàn xưa, ngưòi dân Ninh Bình đã hướng ra

    biển, khát vọng chinh phục biển, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hoá

    từ Bắc vào Nam, từ biển vào. Kinh tế biển còn in đậm các di chỉ văn hoá thời kỳ

    đồ đồng. Cho đến nay, kinh tế biển còn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế

    của tỉnh. Khai thác kinh tế biển như nghề đánh bắt cá biển, nuôi tôm sú, tôm rảo,

    nuôi cua…vẫn là hướng phát triển quan trọng. Cùng với phát triển kinh tế tỉnh

    Ninh Bình cũng rất chú trọng đến công tác đảm bảo an ninh quốc phòng cũng như

    môi trường sinh thái biển để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của nền kinh tế

    quan trọng này.

    1.2 3. Hệ thống di tích văn hoá, lịch sử và những danh lam thắng cảnh nổi tiếng

    của Ninh Bình

    Trước khi đi sâu tìm hiểu giới thiệu về tục ngữ, ca dao địa danh Ninh Bình

    chúng tôi muốn giới thiệu về hệ thống di tích lịch sử văn hóa những danh lam

    thắng cảnh nổi tiếng của Ninh Bình để độc giả hình dung ra một Ninh Bình “Địa

    linh nhân kiệt”.

    Ninh Bình cùng với Hạ Long là 2 đỉnh cạnh đáy của tam giác châu thổ sông

    Hồng với địa hình Karst được các biến đổi địa chất theo thời gian và phù sa bồi

    đắp tạo cho Ninh Bình một “Hạ Long trên cạn” với vô số các hang động, đầm hồ

    ngập nước có giá trị phát triển du lịch. Ninh Bình, vùng đất “địa linh” là nơi chứa

    những vật báu của trời”(Nguyễn Tử Mẫn), nơi hội tụ đầy đủ các yếu tố của một

    Việt Nam thu nhỏ: có rừng, núi, sông, với các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc

    gia, khu dự trữ sinh quyển thế giới, khu du lịch quốc gia…

    Nói đến Ninh Bình là nói đến một mảnh đất có mật độ dày đặc các di tích

    văn hoá – lịch sử. Theo thống kê, Ninh Bình có 795 di tích lịch sử, văn hoá với

    225 ngôi chùa, 242 đình làng…Ngoài ra còn có 280 nhà thờ, trong đó có 73 nhà

    thờ giáo xứ, 207 nhà thờ họ.

    1.2.3.1. Những di tích lịch sử, văn hoá

    Ninh Bình có khu di tích lịch sử văn hoá cố đô Hoa Lư được công nhận là

    di tích đặc biệt quan trọng cấp quốc gia, với 47 di tích trong đó nổi bật là: Đền

    thờ vua Đinh Tiên Hoàng, lăng mộ vua Đinh; đền thờ và lăng mộ vua Lê Đại

    Hành; nhà bia tưởng niệm vua Lý Thái Tổ; đền thờ công chúa Phất Kim; miếu

    thờ công chúa Phù Dung; đền Trần Quý Minh; phủ Khổng; phủ Đột; động Hoa

    Sơn; động Hoa Lư; núi Mã Tiên; bia Cầu Dền; sông Sào Khê; đền Vực Vông…

    Khu văn hoá tâm linh núi chùa Bái Đính với chùa Bái Đính cổ (có đền thánh

    Nguyễn Minh Không, các hang động thờ Mẫu, thờ Phật, thờ thần Núi…) và khu

    chùa Bái Đính mới với 5 toà lớn dọc theo sườn núi. Bảo tháp với chiều cao 100

    m, 13 tầng, có thang máy và 72 bậc leo, là nơi trưng bày xá lợi Phật từ Ấn Độ

    cũng là một điểm nhấn của khu du lịch tâm linh này.

    Quần thể nhà thờ Phát Diệm là kỳ quan Thiên chúa giáo, một công trình

    kiến trúc có một không hai ở Việt Nam. Các công trình kiến trúc nguy nga, tráng

    lệ nhưng hài hoà giữa truyền thống và hiện đại bao gồm: Ao hồ, Phương Đình,

    nhà thờ lớn và 4 nhà thờ ở 2 bên, 3 hang đá nhân tạo. Nhà thờ đá Phát Diệm được

    thiết kế độc đáo, thể hiện sự giao hòa giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo, cũng là

    nét kết hợp văn hóa Đông – Tây đậm nét nhất.

    Các di tích văn hoá khác như phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn; đồn Gián

    Khẩu; các đền thờ: Trương Hán Siêu, Nguyễn Công Trứ, Triệu Quang Phục, Lý

    Quốc Sư, đền Thái Vi, cửa Thần Phù, Cố Viên Lầu…

    Các di tích tâm linh Nho giáo: Chùa Bích Động, chùa Nhất Trụ, chùa Đồng

    Đắc, chùa Địch Lộng, chùa Bàn Long, chùa Bái Đính, chùa Non Nước…

    Các di tích lịch sử, cách mạng: Khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu, núi Non

    Nước, di tích chiến dịch Hà Nam Ninh…

    1.2.3.2. Những danh lam thắng cảnh nổi tiếng

    Khu du lịch vườn Quốc gia Cúc Phương với các loại hình: sinh thái, môi

    trường, nghiên cứu khoa học, đa dạng sinh học, khảo cổ học, đêm lửa trại và tìm

    hiểu văn hoá Mường…

    Khu du lịch Tam Cốc- Bích động với nhiều tuyến du thuyền trên sông với

    các điểm hang động, di tích lịch sử.

    Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long với các loại hình du lịch trên đầm sinh

    thái cảnh quan ngập nước.

    Khu dự trữ sinh quyển đồng bằng sông Hồng với du lịch sinh thái đồng quê

    và cảnh quan ven biển.

    Các ngọn núi và các hang động đẹp như: núi Ngọc Mỹ Nhân, núi Non Nước

    (núi Thuý), núi Kỳ Lân, động Địch Lộng, động Vân Trình, động Mã Tiên, động

    Bích Động, động Tam Giao, động Thiên Tôn, động Tiên, động Sinh Dược là

    những điểm hấp dẫn khách du lịch với thời gian tham quan ngắn.

    Các hồ nước tự nhiên: Hồ Kỳ Lân, hồ Đồng Chương, Hồ Yên Quang phù

    hợp với loại hình du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần; hồ Yên Thắng, hồ Đồng thái còn

    có thêm loại hình du lịch thể thao.

    Các di tích lịch sử- văn hoá và những danh lam thắng cảnh nổi tiếng trên

    chính là món quà của thiên nhiên ban tặng cho mảnh đất này. Các di tích văn hóa

    hữu thể và phi vật thể ấy đã làm nên nét đặc sắc văn hoá Ninh Bình.

    Ninh Bình còn là vùng đất có vị trí chiến lược trong suốt hàng ngàn năm

    dựng nước, giữ nước của dân tộc. Các cuộc hành quân thần tốc vào Nam hay ra

    Bắc vẫn âm vang trên mặt đất này. Đây còn là vùng đất rút lui chiến lược để vào

    Thanh Hoá của tướng Đô Dương (thời Hai Bà Trưng). Đất phát tích của Đinh Bộ

    Lĩnh, là kinh đô của cả nước trong suốt 42 năm. Đất Ninh Bình ken dày vết chân

    lịch sử. Kinh đô Hoa Lư với ngót nửa thế kỷ của hai vương triều Đinh – Lê dựng

    nền độc lập chính thống. Nơi hoạch định kế sách và phát xuất các đạo hùng binh

    năm 981 – 982 phá Tống, bình Chiêm. Lê Đại Hành đã kiến tạo võ công oanh liệt

    trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Hoa Lư cũng là nơi khai sinh

    ra vương triều Lý với áng văn “Chiếu dời đô” lịch sử.

    Một yếu tố khác vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện

    mạo đa dạng, phong phú của văn hoá Ninh Bình, đó là sự lưu lại dấu vết văn hoá

    của các “tao nhân mặc khách” khi qua vùng sơn thanh, thuỷ tú này. Bao đế vương,

    công hầu, khanh tướng danh nhân văn hoá lớn về đây, xếp gương, đề bút, sông

    núi hoá thành thi ca! Chỉ nói riêng núi Thuý đã có trên 30 bài thơ, văn khắc vào

    và còn đến hàng trăm bài thơ vịnh cảnh của các danh nhân qua các triều đại: Trần

    Anh Tông, Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông,

    Phạm Huy ích, Ngô Thì Nhậm, Ninh Tốn, Cao Bá Quát, Nguyễn khuyến, Phạm

    Văn Nghị…Nhân cách bác học và phẩm cách văn hoá lớn của các danh nhân đó

    đã thấm đẫm vào tầng văn hoá địa phương, được nhân dân tiếp thu, sáng tạo làm

    giàu thêm sắc thái văn hoá Ninh Bình.

    Đất Ninh Bình không chỉ là “địa linh” mà còn là nơi “nhân kiệt”. Biết bao

    danh nhân, danh tướng, danh sỹ sinh ra trên mảnh đất này! Khí thiêng sông núi

    quê hương đã hun đúc nên họ. Thời nào Ninh Bình cũng có những nhân tài như:

    anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh, các danh tướng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh

    Tú, Lưu Cơ, hoàng hậu Dương Vân Nga, Quốc sư Nguyễn Minh Không, nhà thơ

    Trương Hán Siêu, bảng nhãn Vũ Duy Thanh, tiến sĩ Ninh Tốn, nhà văn hóa Vũ

    Phạm Khải, Phạm Thận Duật…Có thể nói, yếu tố “địa linh”,”nhân kiệt”là nhân

    tố quan trọng và chủ yếu nhất làm nên gương mặt lịch sử – văn hoá Ninh Bình

    qua các thời đại.

    1.3. Khái niệm Tục ngữ, Ca dao, Địa danh

    1.3.1. Khái niệm về tục ngữ

    Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian hình thành, phát triển và tồn tại

    trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân.

    Về nội dung: Tục ngữ thường phản ánh những kinh nghiệm về lao động

    sản xuất, ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội, hoặc thể hiện triết lý dân gian

    của nhân dân. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản

    xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác, theo nhà văn hóa

    Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” (Xuất bản lần đầu

    năm 1955 đến nay đã tái bản nhiều lần) thì ” Tục ngữ là một câu tự nó đã diến đạt

    trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi

    nó là một sự phê phán”. Như vậy có thể thấy tục ngữ là

    những câu hoàn chỉnh, có vần, dễ nhớ, dễ thuộc, đặc điểm này giúp chúng ta dễ

    dàng phân biệt tục ngữ với thành ngữ. Bởi cũng theo tác giả Vũ Ngọc Phan trong

    cuốn “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” “Về hình thức ngữ pháp mỗi thành ngữ

    chỉ là một nhóm từ, chưa phải một câu hoàn chỉnh” “[03; 37; 08TLTK]. Từ những

    đặc điểm trên chúng ta có thể thấy tục ngữ là một thể loại văn học dân gian rất dễ

    nhớ, dễ vận dụng, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân,

    Giữa hình thức và nội dung tục ngữ cũng có sự gắn bó chặt chẽ, một câu

    tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc

    kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Hình

    tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so

    sánh, nhân hóa, ẩn dụ…

    Đa số tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt

    nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ

    ca… Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục

    ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán,

    nhưng cũng có thể có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán. Các kiểu suy luận:

    liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ

    phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả.

    1.3.2. Khái niệm ca dao

    Nếu như tục ngữ là một thể loại văn học dân gian ra đời trước ca dao, thiên

    về tổng kết những kinh nghiệm về tự nhiên, xã hội thì ca dao lại thiên về đời sống

    tình cảm của con người. Như vậy có thể thấy ca dao ra đời khi đời sống xã hội

    của con người đã phức tạp hơn. Không chỉ biểu hiện đời sống vật chất, đời sống

    tình cảm ca dao còn thể hiện ý thức của con người trong lao động sản xuất, cải tạo

    thiên nhiên, kinh tế xã hội và tinh thần đấu tranh chống lại áp bức, cường quyền,

    những thói hư tật xấu trong xã hội…Về cơ bản ca dao thể hiện mối quan hệ giữa

    con người với con người trong xã hội, mối quan hệ giữa con người với tự

    nhiên…nên ca dao bao giờ cũng thể hiện cái nhìn chủ quan của con người với thế

    giới khách quan, đó là cái tôi trữ tình mà chúng ta rất dễ nhận ra qua những sáng

    tác dân gian này.

    Là thể loại văn học dân gian tồn tại bằng phương thức truyền miệng ca dao

    đã được nhiều thế hệ lưu truyền với những dị bản khác nhau. Tuy nhiên ca dao

    vẫn giữ được nét mộc mạc, giản dị trong cách thể hiện. Chúng ta có thể bắt gặp

    Quán cháo -Tam Điệp (đền Quán Cháo gắn liền với sự tích tiên nữ dâng cháo cho

    quân lính Tây Sơn trước giờ xung trận), Cầu Lim- cầu bắc qua sông Vân ở trung

    tâm thành phố Ninh Bình (chuyện kể khi xưa cầu được bắc bằng gỗ lim, tên gọi

    này còn mãi đến nay)…

    1.4. Văn học dân gian Ninh Bình và tục ngữ, ca dao Ninh Bình

    1.4.1. Khái quát về văn học dân gian Ninh Bình

    1.4.1.1. Thể loại tự sự

    Thần thoại

    Thần thoại Ninh Bình tập hợp những chuyện kể dân gian về các vị thần,

    các nhân vật anh hùng, các nhân vật sáng tạo văn hóa, sư tổ của nghề; phản ánh

    quan niệm của người thời cổ về nguồn gốc thế giới và đời sống con người…

    Thần thoại Ninh Bình bị truyền thuyết hóa, biến tướng trong phật thoại, tiên

    thoại, truyện cố tích…

    Thần thoại tiêu biểu và phổ biến nhất ở Ninh Bình là thần thoại về ông

    Khổng Lồ (Nguyễn Minh Không 1066 – 1141)

    Truyền thuyết

    Truyền thuyết Ninh Bình kể lại tích các nhân vật lịch sử, giải thích các

    nguồn gốc, các phong vật địa phương theo quan niệm, tưởng tượng của người dân.

    Truyền thuyết dân gian Ninh Bình mang dấu ấn về vùng đất và con người

    Ninh Bình.

    Truyện truyền thuyết Ninh Bình ghi đậm công tích của người Ninh Bình

    trong việc khai khẩn đất hoang, lập làng, lập ấp… và đặc biệt là truyền thuyết về

    các vị vua.

    Cổ tích

    Truyện cổ tích Ninh Bình phản ánh những xung đột, mâu thuẫn trong gia

    đình và xã hội.

    Truyện cổ tích Ninh Bình thể hiện ước mơ về một cuộc sống ấm no, hạnh

    phúc của nhân dân.

    Truyện cổ tích Ninh Bình phản ánh triết lý sống, đạo lý làm người và ước

    mơ công lý của nhân dân.

    Truyện cười

    Truyện cười Ninh Bình là hình thức giải trí, đem lại tiếng cười vui trong

    cuộc sống thường ngày.

    Phê phán những thói hư, tật xấu của con người, lên án các ác, đả kích giai

    cấp thống trị trong xã hội phong kiến.

    Truyện thơ

    Truyện thơ Ninh Bình mang tính tự sự kể về một sự kiện, một hiện tượng

    xã hội như Ký sự nhật trình, Kim Sơn sự tích Doanh điền ca…

    Truyện thơ viết về đề tài lịch sử, danh nhân văn hóa, nhân vật lịch sử:

    Truyện Đinh Tiên Hoàng diễn ca, Thánh Nguyễn…

    1.4.1.2. Thể loại trữ tình và luận lý

    Ca dao, dân ca: Ca dao, dân ca Ninh Bình giản dị, chất phác như đất và

    người Ninh Bình, phản ánh đời sống, tình cảm, tâm hồn của người dân Ninh Bình.

    Tục ngữ: có tính chất đúc kết kinh nghiệm về con người, về lao động sản

    xuất, đấu tranh xã hội, thiên nhiên, về những sản vật của địa phương Ninh Bình.

    1.4.1.3. Khái quát về đặc trưng, đặc điểm của văn học dân gian Ninh Bình

    Là một bộ phận không thể tách rời của văn học dân tộc, văn học dân gian

    Ninh Bình cũng có đầy đủ những đặc điểm chung của văn học dân gian. Tuy nhiên

    được ra đời và phát triển gắn liền với những sinh hoạt văn hóa làng xã của cư dân

    nông nghiệp với đa dạng địa hình nên văn học dân gian Ninh Bình cũng mang

    màu sắc địa phương khá rõ nét đó là:

    * Tính đa dân tộc của văn học dân gian Ninh Bình

    Ninh Bình có hai dân tộc chính là người Kinh và người Mường. Tộc người

    Mường sinh sống chủ yếu ở một số xã vùng núi huyện Nho Quan như: Thạch

    Bình, Xích Thổ, Yên Quang, Văn Phương, Phú Long, Kỳ Phú, Cúc Phương,

    Quảng Lạc…Tộc người Kinh chiếm đa phần, phân bố ở các huyện, thành phố còn

    lại trong tỉnh. Chính vì vậy văn học của người Kinh chiếm số lượng lớn với nhiều

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nhất Về Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Hè, Mùa Xuân, Mùa Thu, Mùa Đông
  • Đặc Sản Miền Trung Qua Ca Dao
  • Cách Nói Của Người Miền Tây Nam Bộ Qua Ca Dao Trần Minh Thương
  • Ca Dao Tục Ngữ Qua 2 Miền Nam Bắc Pptx
  • Sắc Thái Văn Hóa Quảng Bình Trong Ca Dao, Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh
  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Cao Dao Quảng Ninh: Đậm Nét Trữ Tình Văn Hoá Dân Gian
  • Những Câu Câu Tục Ngữ Và Thành Ngữ Việt Nam Hay Nhất
  • Quảng Bình là một tỉnh có đặc điểm sinh thái đa dạng: biển, rừng, đồng bằng đã tạo cho vùng đất này có nhiều cảnh quan tươi đẹp: vừa hùng vĩ vừa nên thơ, nhiều sản vật độc đáo phong phú, tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển cả ba đặc trưng văn hoá: văn hoá núi, văn hoá đồng bằng và văn hoá biển.

    Trước hết, điều kiện địa lí và môi trường tự nhiên đóng vai trò quan trọng để hình thành nên phẩm chất con người Quảng Bình. Đồng bằng nhỏ hẹp, núi non hiểm trở, nắng nóng, mưa nhiều, thiên tai…Ở Quảng Bình khi nói tới việc cách trở, khó khăn về mặt không gian, nhân dân thường dùng hình ảnh “truông”. Truông là một đặc điểm địa chất của vùng đất này. Truông là một nơi khó qua lại:

    Eo truông cách trở khó qua, Tam Đa là một, Đại Hoà là hai.

    Về mặt lịch sử, xã hội, trong quá khứ, Quảng Bình là khu vực chiến tranh, nội chiến, bị phân ranh, chia cắt. Khi cuộc nội chiến Trịnh -Nguyễn nổ ra, sông Gianh trở thành giới tuyến phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài. Đi qua nơi đây như thử thách lòng dũng cảm, trí thông minh của con người:

    Khôn ngoan qua cửa Thanh Hà, Đố ai có cánh bay qua luỹ Thầy.

    Cửa Thanh Hà là cửa sông Gianh, Luỹ Thầy là thành luỹ do Đào Duy Từ xây dựng ở Đồng Hới để phòng thủ ngăn chặn hướng tiến công của quân Đàng Ngoài: ” Thứ nhất thì sợ luỹ Thầy, Thứ nhì sợ lầy Võ Xá”.

    Môi trường khắc nghiệt rèn luyện cho con người Quảng Bình nhiều đức tính quý báu: lao động cần cù, chịu đựng gian khổ. Bên cạnh đó, sự thâm nghiêm của núi rừng, sự hùng vĩ của biển cả tạo cho con người nơi đây khí chất khẳng khái, mạnh mẽ. Dấu ấn thiên nhiên in dấu lên tâm hồn họ, tạo cho họ tính cách vừa hào phóng lại vừa khắt khe, vừa âu lo lại vừa hồn nhiên…Trong quá trình dựng nước, Quảng Bình là tỉnh có một số phận lịch sử khá đặc biệt. Thời cổ đại, đây là nơi diễn ra các cuộc chiến giữa Âu Lạc và Lâm Ấp chống Trung Hoa. Thời trung đại, là mảnh đất giao tranh của Chăm và Việt, của Đàng trong và Đàng ngoài. Về sau này là mảnh đất chịu nhiều bom đạm của giặc Pháp, giặc Mỹ. Đau thương và gian khó đã thấm vào từng tấc đất và con người nơi đây. Hoàn cảnh ấy khiến cho con người Quảng Bình có một khả năng đối phó cao, một tinh thần yêu nước và một ý chí sắt đá.

    Lễ hội cầu ngư

    Một nhân tố cuối cùng tác động lên sự hình thành phẩm chất con người Quảng Bình đó là môi trường văn hoá. Quảng Bình là nơi pha trộn của nhiều luồng văn hoá khác nhau: văn hoá Đàng Trong, Đàng Ngoài, văn hoá Phú Xuân, văn hoá Trung Hoa, văn hoá Chăm Pa…Tính chất pha trộn này hình thành nên tính cách dễ hoà nhập của con người nơi đây.

    Nhân dân Quảng Bình từ xưa đã có truyền thống hiếu học và học giỏi. Có thể kể số tên tuổi tiêu biểu như: học giả Dương Văn An, Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hàm Ninh, Nguyễn Phạm Tuân, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử… Nhiều làng quê văn vật có từ lâu đời như: Sơn – Hà – Cảnh – Thổ / Văn – Võ – Cổ – Kim. Nơi đây dồn tụ được khí thiêng sông núi để rồi sản sinh ra những danh nhân, những anh hùng của vùng đất “địa linh nhân kiệt”:

    Chữ rằng nhân kiệt địa linh, Đất chung khí tốt mới sinh anh hiền.

    Tín ngưỡng của người Việt ở Quảng Bình là tín ngưỡng đa thần. Chất âm tính của văn hoá nông nghiệp dẫn đến hệ quả trong quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng nữ và tín ngưỡng Nữ thần chiếm ưu thế:

    Bà vô mười bảy tháng tư,

    Vạn lo lập lễ cầu ngư lưới nghề .

    Thần linh dù được thờ ở đình làng hay các đền, các miếu đều được nhân dân và chính quyền hương thôn chăm lo, nhắc nhở nhau thờ phụng quanh năm:

    Chớ thấy miếu rách bỏ thờ, Bỏ miếu không thờ tội lắm ai ơi.

    Tục thờ vong linh ở Quảng Bình là thờ linh hồn ông bà, cha mẹ, những người thân trong gia đình. Ca dao Quảng Bình có câu:

    Đạp xe lấy nước lên đồng, Lập lăng thờ mẹ ẵm bồng khi xưa.

    Lễ hội mang tính chất tâm linh, giải trí nhưng chứa đựng tư tưởng nhân văn sâu sắc. Ở Quảng Bình có hội bơi trải trên sông Nhật Lệ và sông Kiến Giang theo lệ ” lục niên canh độ “:

    Kẻ Giàu có quán Đình Thanh, Kẻ Hạc ta có ba đình ba voi. Mười tám kéo thuyền xuống bơi, Mười chín giã bánh, hai mươi rước thần.

    Bên cạnh lễ hội bơi thuyền ở đây còn có nhiều sinh hoạt văn hoá khác:

    Người về nhớ trống Kẻ Sen Nhớ chuông Kẻ Hạc nhớ kèn Thiệu Yên

    Bài chòi là một trò chơi văn nghệ. Để động viên, cổ vũ, khích lệ tinh thần người ta đặt lời vận động chơi bài chòi:

    Đầu năm bói toán đâu xa, Bài chòi một hội biết là rủi may.

    Người Quảng Bình qua nhiều thế hệ đã hình thành nên phong tục ăn, mặc mang đậm dấu ấn của mảnh đất này. Phong tục ẩm thực Quảng Bình đi vào ca dao, tục ngữ: ” Ăn chắc mặc bền”, “Ăn cay uống đắng”, “Ăn ít no lâu, ăn nhiều tức bụng”, …Thức ăn chủ đạo vẫn là rau củ: ” Tối ăn rau đi ngủ, sáng ăn củ đi làm”. Bữa ăn nào có cơm cá đối với họ là một bữa ăn ngon và sang trọng. Người ta khuyên bảo nhau cách ứng xử: ” Ăn nhai, nói kĩ”, “Ăn bớt đọi, nói bớt lời”, “Đừng ăn cháo đá bát”, “Đừng bao giờ ăn gian nói dối”, …Ăn phải biết lo toan, tính toán: ” Ăn củ môn bữa mai, để củ khoai bữa mốt”. Ăn bao giờ cũng gắn liền với làm, ăn để mà làm, “ăn làm” chứ không phải “ăn chơi”: ” Ăn cơm cho no, chèo đò Phú Trịch”, hay:

    Muốn ăn mật vô rú Trèn, Muốn xơi ốc đực phải lên thác Đài.

    Món ăn thể hiện bức tranh sản vật của vùng quê, là sản phẩm của quá trình lao động. Món ăn trở thành đặc sản của mỗi vùng quê Quảng Bình:

    Ai lên Tuy đợi thì lên, Bún thịt chợ Tréo chớ quên mang về.

    Món ăn trở thành niềm tự hào, thành nỗi nhớ của người con khi đi xa:

    Mặt trời đã gác ngọn chông, Đi mô cũng nhớ nồi hông cơm bồi.

    Chế biến món ăn là cả một công trình nghệ thuật. Tục ngữ Quảng Bình nói đến nghệ thuật nấu nướng: ” Cá bống kho tiêu, Cá thiều kho ngọt. Nghệ thuật chế biến thức ăn của nhân dân Quảng Bình chủ yếu thể hiện ở các món ăn chế biến từ cá. Có lẽ đây là do sở thích và thói quen ăn uống của họ:

    – Cá dở thì hấp hành tươi, Cá ngứa thêm nấm, cá buôi thêm ngò. – Cá thiều mà nấu măng chua, Một chút canh thừa cũng chớ bỏ đi. – Muối mè rang với ruốc khô, Có chết xuống mồ cũng dậy mà ăn.

    Ăn gắn liền với nói, với giao tiếp và ứng xử: ” Ăn đúng bữa, nói lựa lời”, khuyên răn, nhắc nhở nhau khi nói năng cần phải tìm ngôn ngữ đúng đắn, phù hợp. Người ta phê phán những kẻ khi ăn không tưởng đến ai nhưng làm thì nhờ mọi người giúp đỡ: ” Ăn cúi trôốc, đẩy nôốc kêu làng”.

    Trong các ngày Tết thì món ăn của người Quảng Bình là những món ăn truyền thống:

    Tết về câu đối bánh chưng, Chẳng ham giò chả chỉ ưng Ngứa, Xoè.

    Trong ngày Tết, ở Quảng Bình không thiếu hai thứ cổ truyền của dân tộc: ” câu đối đỏ”,”bánh chưng xanh“. Họ không cần những món ngon như giò, chả mà chỉ thích những món bình dân. “Ngứa, xoè” là hai loại cá có nhiều ở vùng biển Quảng Bình. Thức uống của người Quảng Bình là nước chè xanh. Chè xanh là một thứ nước uống bổ dưỡng: ” Nước chè xanh vừa lành vừa mát”. Người Quảng Bình ai cũng biết đến vùng đất chè Tuyên Hoá:

    Ai lên Tuyên Hoá quê mình, Chè xanh mật ngọt thắm tình nước non.

    Cũng có câu ca dao ví sự ngọt mát của nước chè với tình yêu, sự hoà hợp của vợ chồng trong cuộc sống:

    Nước trong pha với chè tàu, Lấy chồng Đồng Phú không giàu cũng vui.

    Trong các bữa cỗ, bữa tiệc, họ còn uống rượu. Uống rượu cũng là dịp để giao tiếp, bày tỏ sự thân tình. Quảng Bình nổi tiếng với: ” Sò nghêu Quán Hàu, Rượu dâu Thuận Lý”.

    Nghề trồng lúa là nghề chủ đạo. Huyện Lệ Thuỷ có cánh đồng màu mỡ, phù sa bồi đắp hàng năm nên được coi là vựa lúa thứ hai của xứ Đàng Trong: ” Thứ nhất Đồng Nai, thứ nhì hai huyện “. Có bài ca dao đã ca ngợi sự trù phú của mảnh đất này:

    Lệ Thuỷ gạo trắng nước trong, Ai về Lệ Thuỷ thong dong con người.

    Một bài ca dao khác cũng ca ngợi sự ấm no nhờ nghề trồng lúa:

    Hoàng Cương ăn tấm cũng no, Đông viên có thóc bán cho Kẻ Hoàng.

    Người Quảng Bình còn biết nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc: “Muốn giàu nuôi cá, Muốn khấm khá nuôi heo”. Họ còn biết tận dụng môi trường tự nhiên để phục vụ nhu cầu cuộc sống: “Trong làng đi tranh đi củi, Ngoài nghề đi dũi đi câu”.

    Quảng Bình với đường bờ biển dài, với nhiều loại tôm cá, cư dân ven biển đã sớm biết khai thác, đánh bắt nguồn hải sản này. Nghề đánh bắt cá sớm trở thành nghề chính ở đây. Họ biết đóng thuyền, thả lưới, vào lộng ra khơi để khai thác món quà mà thiên nhiên ban tặng:

    Tháng bảy nước phảy lên bờ, Sắn rớ, sắm đáy đợi chờ làm ăn.

    Ngoài nghề nông và nghề đi biển, Quảng Bình còn có một số nghề thủ công truyền thống như đan chiếu, làm nón: ” Chiếu cói An Xá, nón lá Quy Hậu”. Bên cạnh đó việc buôn bán cũng rất phát triển. Chợ ở Quảng Bình được biết đến nhiều nhất là chợ Ba Đồn:

    Ba Đồn là chợ xưa nay, Tụ nhân tụ hoá mười ngày một phiên.

    Chợ không chỉ là nơi trao đổi, buôn bán hàng hoá mà còn là nơi gặp gỡ, giao lưu tình cảm :

    Chợ Sạt một tháng ba phiên, Không đi thì nhớ lời nguyền bạn quen.

    Trong đời sống tinh thần, con người sống thiên về tình cảm, quý trọng nề nếp gia phong. Con cái luôn có ý thức chăm lo, phụng dưỡng cha mẹ:

    Ba đồng một khứa cá buôi, Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già.

    Tình cảm gia đình là thiêng liêng, đặc biệt nhạy cảm là mối quan hệ giữa nàng dâu với mẹ chồng:

    Mẹ già là mẹ của anh, Ăn cơm có cá, có canh rau bầu. Hạt gạo lúa dâu xót hai đầu cho trắng, Tôm phơi một nắng bóc vỏ nấu canh, Múc nước trong xanh để mẹ già tắm mát…

    Đối với quan hệ xã hội, người lớn luôn khiêm nhường trong ứng xử, sống hài hoà, không gây hiềm khích với làng trên xóm dưới:

    Nhịn chắc (nhau) một chút cho xinh Ai sợ chi mình, mình sợ chi ai

    Lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Quảng Bình tuy không ngọt ngào như các vùng khác nhưng nó ẩn chứa sự chân tình, cởi mở. Ngay từ thuở còn thơ cha mẹ đã dạy con cái cách ăn nói sao cho lễ phép: ” Gọi thì dạ, bảo thì vâng”. Hoặc là: ” Nói thì thưa trước, dạ sau”… Cha ông truyền dạy cho con cháu cách ăn ở, nói năng sao cho hoà thuận trong nhà, ngoài ngõ. Dần dần hình thành nên một phong tục trong ứng xử có thể thấy rõ trong câu ca: ” Rây (dây) chùn khó đứt”. Họ coi sự hoà thuận làm yêu cầu đầu tiên trong giao tiếp. Hoà thuận trong lời ăn, tiếng nói để giữ mối quan hệ bằng hữu bền chặt.

    Phong tục tập quán của người Quảng Bình vừa mang dấu ấn đồng bằng nông nghiệp vừa pha trộn với văn hoá núi rừng và biển cả. Ăn thì ham chắc, mặc thì ham bền, ở thì giản dị, giao thiệp thì chân thật và mến khách. Tình cảm chân tình, hiếu nghĩa. Nét đẹp của tín ngưỡng thể hiện ở sự tôn kính, biết ơn. Sống trong khó khăn, chiến tranh nên nghèo khó cứ đeo đẳng con người vùng đất này nhưng họ vẫn không hề nhụt chí, phiền não mà luôn ham sống, yêu đời, chấp nhận thử thách để vượt lên.

    Qua ca dao, tục ngữ, văn hoá dân gian Quảng Bình đã thể hiện một dấu nhấn khá đậm nét của người Việt ở miền Trung, đóng góp một nét phong cách văn hoá của đất này với khu vực văn hoá Bắc miền Trung nói riêng và văn hoá vùng miền Trung nói chung. Đây là một vấn đề nghiên cứu khá thú vị nhưng rất khó khăn. Những gì đã trình bày trong bài viết này là rất nhỏ so với một nền văn hoá Quảng Bình đa dạng. Chắc rằng vào một dịp khác có điều kiện thuận lợi, chúng tôi sẽ đầu tư nghiên cứu kĩ hơn.

    (Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thành Ngữ Về Quê Hương Đất Nước Hay ❤️ Đẹp Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Đặc Sản Quảng Nam, Đà Nẵng
  • Hình Bóng Con Trâu Qua Ca Dao
  • Top Câu Tục Ngữ Mê Tín Dị Đoan Hay Nhất 2022
  • Tiếng Cười Phê Phán Mê Tín Dị Đoan Trong Ca Dao Việt Nam
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Kho Tàng Ca Dao Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Du Lịch Qua Ca Dao Ở Một Số Tỉnh Miền Tây Nam Bộ Theo Hướng Du Lịch Sinh Thái Hiện Đại
  • Tiếp Cận Kiến Thức Địa Lý Qua Thơ
  • Con Gà Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Cây Lúa Trong Ngôn Ngữ Người Việt
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Văn Hóa Sản Xuất Nông Nghiệp Phần 1
  • 1.Cá bống còn ở trong hang

    Lá rau tập tàng còn ở ruộng dâu

    Ta về, ta sắm cần câu

    Câu lấy cá bống, nấu rau tập tàng

    2. Cá buồn cá lội tung tăng

    Em buồn em biết đãi đằng cùng ai?

    3. Cá kèo mà gặp mắm tươi

    Như nơi đất khách gặp người cố tri

    4. Cá không ăn muối cá ươn

    Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư

    5. Cá nục nấu với dưa hồng

    Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi

    6. Cá tươi xem lấy đôi mang,

    Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai

    Tóc mai sợi vắn sợi dài

    Có đâu mặt rỗ đá mài không trơn

    7. Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Ðỉa lội lềnh như bánh canh

    8. Cả vú lấp miệng em

    9. Cách sông mới phải luỵ thuyền

    Còn như đường liền ai phải luỵ ai

    10. Cái ách giữa đàng, mang vào cổ

    11. Cái cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    12. Cái cò lặn lội bờ sông

    Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền

    13. Cái cò mày đi ăn đêm

    Ðậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

    Ông ơi, ông vớt tôi nao

    Tôi có lòng nào, ông hãy sáo măng

    Có sáo, thì sáo nước trong

    Ðừng sáo nước đục, đau lòng cò con

    14. Cái kiến mày kiện củ khoai

    Chê em tao khó, lấy ai cho giàu

    Nhà tao chín đụn, mười trâu

    Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân

    Cầu này là cầu ái ân

    Một trăm con gái rửa chân cầu này

    Có rửa thì rửa chân tay

    Chớ rửa chân mày, chết cá ao anh

    15. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Ðiền

    Anh thương em cho bạc cho tiền

    Ðừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay!

    16. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

    Anh có thương em, xin sắm một con đò

    Ðể em qua lại mua cò gởi thơ

    17. Cái khó bó cái khôn

    18. Cái nết đánh chết cái đẹp

    19. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Cái ngủ mày ngủ cho say

    Mẹ mày vất vả chân tay suốt ngày

    20. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Bắt được con trắm, con trê

    Xách cổ mang về cho cái ngủ ăn

    Cái ngủ ăn chẳng hết

    Ðể dành đến Tết mồng Ba

    Mèo già ăn vụng

    Mèo ốm phải đòn

    Mèo con phải vạ

    Con quạ có lông

    Nồi đồng có nắp

    21. Cái răng cái tóc là gốc con người

    22. Câm hay ngóng, ngọng hay nói

    23. Câm như hến

    24. Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn

    Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon

    25. Cần tái, cải nhừ

    26. Cầm vàng mà lội qua sông

    Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

    27. Cần Thơ là tỉnh

    Cao Lãnh là quê

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mảng lo buôn bán không về thăm em

    28. Canh khuya gà gáy ó o

    Quân tử thức dậy còn mò đi đâu?

    29. Canh khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, trầm tư một mình

    30. Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng khi về bủng beo

    31. Cao su đi dễ khó về

    Trai đi mất vợ gái về thêm con

    32. Cáo chết ba năm quay đầu về núi

    33. Cát bay, vàng lại ra vàng

    Những người quân tử dạ càng đinh ninh

    Ðinh ninh ta để dạ này

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    34. Cau già, dao bén thì ngon

    Người già trang điểm phấn son cũng già

    35. Cây cao bóng mát không ngồi

    Ra ngồi chỗ nắng, trách trời không mây

    36. Cây đa Chợ Ðũi

    Nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàng

    Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân!

    37. Cây khô không có lộc

    Người độc không có con

    38. Cây khô không thể mọc chồi

    Mẹ già không dễ sống đời với con

    39. Cây khô không trái, gái độc không con

    40. Cây không trồng nên lòng không tiếc

    Con không đẻ nên mẹ ghẻ không thương

    41. Cây muốn lặng, gió chẳng muốn ngừng

    42. Cây trên rừng hoá kiểng

    Cá dưới biển hoá long

    Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong

    Anh đi lục tỉnh giáp vòng

    Ðến đây trời khiến đem lòng thương em

    43. Cây vông đồng không không trồng mà mọc

    Con gái xóm này chẳng chọc mà theo

    44. Cây xanh thời lá cũng xanh

    Cha mẹ hiền lành để đức cho con

    Mừng cây rồi lại mừng cành

    Cây tốt lắm chồi, người đức lắm con

    Ba vuông sánh với bảy tròn

    Ðời cha vinh hiển, đời con sang giàu

    45. Cậu cai buông áo em ra

    Ðể em đi chợ kẻo mà chợ trưa

    Chợ trưa dưa nó héo đi

    Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?

    46. Cha chung chẳng ai khóc

    47. Cha đời cái áo rách này

    Mất chúng, mất bạn vì mày áo ơi!

    48. Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại

    Bắt anh ra treo tại nhành dương

    Biểu từ ai, anh từ đặng

    Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ

    49. Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển

    Con nuôi chạ mẹ, con tính từng ngày

    50. Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng

    Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày

    51. Cha nào con nấy, rau nào sâu nấy

    52. Chanh chua thì khế cũng chua

    Chanh bán có muà, khế bán quanh năm

    53. Cháo nóng, liếm quanh

    54. Cháu ơi, cháu ngủ cho ngon

    Của dì, dì giữ ai bò mặc ai

    55. Chàng về cho thiếp theo cùng

    Ðói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam

    56. Chàng ôi, giận thiếp mà chi

    Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng

    57. Chàng về để áo lại đây

    Ðể khuya em đắp gió khuya lạnh lùng

    58. Chàng về để áo lại đây

    Phòng khi em nhớ cầm tay đỡ buồn

    59. Cháy nhà ra mặt chuột

    60. Chặt không đứt, bứt không rời

    Phơi không khô, chụm không cháy

    (Ðố là con gì? Con sam)

    61. Chẳng ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời

    62. Chẳng ốm, chẳng đau làm giàu mấy chốc

    63. Chẳng tham ruộng cả, ao tiền

    Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ

    64. Chân cứng, đá mềm

    65. Chân đi ba bước lại dừng

    Tuổi em còn bé chưa từng đi buôn

    Ði buôn cho đáng đi buôn

    Ði buôn cau héo có buồn hay không

    66. Chân trời, góc biển

    67. Chập chập rồi lại cheng cheng

    Con gà sống thiến để riêng cho thầy

    Ðơm sôi thì đơm cho đầy

    Ðơm mà vơi đĩa thì thầy không ưng

    68. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    69. Chẻ tre bện sáo cho dầy

    Chận ngang sông Mỹ có ngày gặp em

    70. Chê đắng chê hôi

    Ðã chê xôi không dẻo

    Lại chê kẹo không ngọt

    71. Chê đây, lấy đấy sao đành

    Em chê cam sành, lấy phải quít hôi

    Quít hôi bán một đồng mười

    Cam ba đồng một, quít ngồi trơ trơ

    72. Chết trước được mồ, được mả

    Chết sau nằm ngả, nằm nghiêng

    73. Chì khoe chì nặng hơn đồng

    Sao chì chẳng đúc nên cồng, nên chuông

    74. Chị em dâu như bầu nước lã

    75. Chị kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu?

    Nhà tui ở dưới đám dâu

    Ở trên đám đậu đầu cầu ngó qua

    76. Chị lấy chồng, em gặm giò heo

    Giò heo chị để chị treo

    Em lấy giò mèo, em gặm em chơi

    77. Chị ngã, em nâng

    78. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Thuốc đâu mà chữa con người lẳng lơ

    79. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Tay đâu mà bụm miệng người thế gian

    80. Chiếc khăn cô đội trên đầu

    Gió xuân đưa đẩy rơi vào tay tôi

    Bâng khuâng tôi chẳng muốn rời

    Trao cô thì tiếc, giữ thời không yên

    81. Chiếc tàu lặn chạy mau đường gió

    Cái xe hơi chạy lẹ như dông

    82. Chiếu bông mà trải góc đền

    Muốn vô làm bé biết có bền hay không?

    83. Chiều chiều, buồn miệng nhai trầu

    Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ

    84. Chiều chiều chim vịt kêu chiều

    Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau

    85. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Nhớ người aó trắng khăn điều vắt vai

    86. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Trông về quê mẹ chín chiều ruột đau

    87. Chiều chiều, ông chánh về Tây

    Cô Ba ở lại lấy thầy Thông Ngôn

    Thông ngôn, ký lục, bạc chục không màng

    Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay

    88. Chiều chiều ông Lã Ðông Tân

    Vai mang bầu rượu, tay cầm chiếc nem

    89. Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

    90. Chiều chiều tui buồn tui ra sông cái, tự ải cho rồi

    Sống làm chi mà chia ly thục nữ

    Thác cho rồi đặng chữ thủy chung

    91. Chiều chiều trước bến Văn Lâu

    Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm

    Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông

    Thuyền ai thấp thoáng bên sông

    Ðưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non

    92. Chiều chiều vịt lội, cò bay

    Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng

    Vô rừng bứt một sợi mây

    Ðem về thắt gióng cho nàng đi buôn

    93. Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc

    Cá bãi trầu lội tuốt mương cau

    94. Chim đa đa đậu nhánh đa đa

    Chồng gần không lấy, đi lấy chồng xa

    Một mai cha yếu mẹ già

    Chén cơm, đôi đũa, tách trà ai dâng

    95. Chim khỏi lồng không mong trở lại

    96. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

    97. Chim khôn lựa cành mà đậu

    98. Chim khôn mắc phải lưới hồng

    Hễ ai gỡ được, đền công bạc vàng

    Anh rằng anh chẳng lấy vàng

    Hễ anh gỡ được, thì nàng lấy anh

    99. Chim quyên ăn trái nhãn lồng

    Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi

    100. Chim quyên xuống đất ăn trùn

    Anh hùng lỡ vận, lên rừng đốt than

    101. Chim trời ai dễ đếm lông

    Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày

    102. Chim trời cá nước, ai bắt được nấy ăn

    103. Chim lìa cành còn thương nhớ cội

    Người xa người tội lắm người ơi!

    Chẳng thà không gặp thì thôi

    Gặp rồi mỗi đứa một nơi sao đành

    104. Chính chuyên chết cũng ra ma

    Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng

    105. Cho em trở lại đường xưa

    Ðể em tìm lại gốc dừa cạnh ao

    Lời anh âu yếm chiều nào

    Thoảng vang trong gió rì rào chớm thu

    106. Chó ăn đá, gà ăn muối

    107. Chó cậy gần nhà, gà cậy cần chuồng

    108. Chó treo, mèo đậy

    109. Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ

    Ðóa hải đường thức ngủ xuân tiêu

    110. Chồng chài, vợ lưới, con câu

    Thằng rể đóng đáy, con dâu đi nò

    111. Chồng chung chồng chạ

    Ai khéo hầu hạ thì được chồng riêng

    112. Chồng chung, vợ chạ

    113. Chồng em áo rách em thương

    Chồng người áo gấm, xông hương mặc người

    114. Chồng em vốn kẻ đa tình

    Già không bỏ, nhỏ không tha

    Xấu như ma hắn cũng hú hí

    Xấu như quỉ hắn cũng ăn nằm

    115. Chồng già vợ trẻ là duyên

    Vợ già, chồng trẻ là tiên ba đời

    116. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già, chồng trẻ là duyên trên đời

    117. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già chồng trẻ là duyên nợ trần

    118. Chồng giận thì vợ làm lành

    Miệng cười chúm chím: Thưa anh giận gì?

    Thưa anh, anh giận em chi

    Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho

    119. Chồng nóng thì vợ bớt lời

    Cơm sôi bớt lửa chẳng rơi hột nào

    120. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa

    121. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Như đôi đũa lệch so sao cho bằng

    122. Chơi hoa cho biết mùi hoa

    Cầm cân cho biết cân già, cân non

    123. Chuối non giú ép, chát ngầm

    Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm

    124. Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

    Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm

    125. Chuồn chuồn có cánh thì bay

    Có thằng bé tí thò tay bắt mày

    126. Chuột kêu chút chít trong rương

    Em đi cho kheó đụng giường mẹ hay

    127. Chuột sa chĩnh gạo

    128. Chuyện đời chẳng ít thì nhiều

    Không dưng, ai dễ đặt điều cho ai

    129. Chuyện đời, vợ vợ chồng chồng

    Thương nhau cũng vội, dứt lòng cũng mau

    130. Chuyện người mặc kệ người lo

    Hơi đâu đáy nước, mình mò bóng trăng

    131. Chữ trinh đáng giá ngàn vàng

    Từ anh chồng cũ đến chàng là năm

    Còn như yêu vụng nhớ thầm

    Họp chợ trên bụng hàng trăm sá gì

    132. Chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng

    133. Chưa học bò, đã lo học chạy

    134. Chưa làm giàu, đã lo ăn cướp

    135. Chừng nào đá nổi rong chìm

    Muối chua, chanh mặn anh tìm được em

    136. Chửa đui, chửa què, đừng khoe rằng tốt

    137. Có bột mới gột nên hồ

    138. Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo

    Có đứa nào xạo bằng thằng út Gò Công

    139. Có cây mới có dây leo

    Có cột có kèo, mới có đòn tay

    140. Có công mài sắt, có ngày nên kim

    141. Có cha, có mẹ thì hơn

    Không cha, không mẹ như đờn đứt dây

    142. Có chí làm quan, có gan làm giàu

    143. Có chí thì nên

    144. Có chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ

    Ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh

    Có chồng say như trong chay ngoài hội

    Ngó vô nhà như hội tầm vu

    145. Có chồng nghiền như ông tiên nho nhỏ

    Thắp ngọn đèn sáng tỏ như sao

    Tay cầm tiêm như phò mã múa đao

    Chân vắt chéo như Khổng Minh xem sách

    146. Có chồng mà chẳng có con

    Khác gì hoa nở trên non một mình

    147. Có chum cá mới ở đìa

    Có em anh mới sớm khuya chốn này

    148. Có con mà gả chồng gần

    Nửa đêm đốt đuốc đem phần cho cha

    Có con mà gả chồng xa

    Ba phần ruộng rẻo chẳng ma nào cày

    149. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng

    150. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay

    151. Có công mài sắt có ngày nên kim

    152. Có của thì có mẹ nàng

    Có bạc có vàng thì có kẻ ưa

    Chị là con gái nhà giầu

    Ăn mặc tốt đẹp vào chầu tòa sen

    Em là con gái nhà hèn

    Ăn mặc rách rưới mon men ngoài hè

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cà Mau Xưa Qua Các Câu Thơ & Ca Dao
  • Thành Ngữ Và Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ A, Chữ Ă, Â ?
  • Lịch Sử Khai Phá Bình Dương Qua Dân Ca, Thơ Ca Dân Gian Làng Tương Bình Hiệp
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Hò Vè Bình Định
  • Tiếng Trung Nghiêm Thùy Trang
  • Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Những Câu Danh Ngôn Bất Hủ
  • {Đọc} Stt Hay Về Sự Thay Đổi Bản Thân Giúp Mình Cố Gắng Nhiều Hơn
  • Stt Hay Về Tình Yêu Buồn Bằng Tiếng Anh Trên Facebook
  • Những Câu Stt Hay Bằng Tiếng Trung Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Từ Ngữ Địa Phương
  • 10:36:14 AM, Sep 07, 2022 * Số lần xem: 854101

    * Cập nhật

    * đăng lúc 11:22:41 AM, Jan 26, 2009 Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam Ca dao là gì?

    Trước hết là Ca dao, là những câu thơ ca dân gian Việt Nam. Được truyền miệng dưới dạng những câu hát không thể một điệu nhất định. Và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc.

    Và đặc biệt hơn đó chính là ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao được hiểu ý nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ ông cha ta để lại.

    Tục ngữ là gì?

    Khác với ca dao, thì tục ngữ lại thể hiện những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian. Về mọi mặt trong cuộc sống như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn…

    Với ý nghĩa ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh thường gieo vần lưng. Và đây cũng là một thể loại văn học dân gian Việt Nam. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn của con người. Trong đó gữa hình thức và nội dung, tục ngữ có một sự gắn bó chặt chẽ. Thông thường trong một câu tục ngữ có 2 nghĩa: nghĩa đen nghĩa bóng.

    Khác với ca dao, tục ngữ thường có vần, gồm 2 loại chính là: vần liềnvần cách.

    Ca Dao Tục Ngữ Phần II từ H tới L Ca Dao Tục Ngữ Phần III từ M tới Y :: ::

    Xin bấm vào các links sau đây để đọc tiếp :

    1. Ai ai cũng tưởng bậu hiền

    A

    Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai

    2. Ai đem con sáo sang song

    Để cho con sáo sổ lồng bay cao

    3. Ai đi bờ đắp một mình

    Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân

    4. Ai đi đâu đấy hỡi ai

    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

    Ai đi muôn dặm non song

    Để ai chứa chất sầu đong vời đầy

    5. Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa

    Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào

    Ai đi sục sịch ngoài hàng rào

    Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa

    6. Ai kêu là rạch, em gọi là song

    Phù sa theo nước chảy mênh mông

    Sông ơi, thấm mát đời con gái

    Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng

    7. Ai làm cho bướm lìa hoa

    Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng

    8. Ai làm Nam Bắc phân kỳ

    Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương

    9. Ai mà nói dối cùng ai

    Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng

    Ai mà nói dối cùng chồng

    Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao

    10. Ai nhứt thì tôi đứng nhì

    Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba

    11. Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

    12. Ai ơi chơi lấy kẻo già

    Măng mọc có lứa người ta có thì

    Chơi xuân kẻo hết xuân đi

    Cái già sòng sọc nó thì theo sau

    Phần I từ A tới G

    100. Áo anh đứt chỉ đường tà

    Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

    B

    Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừBuồn về một nỗi tháng tưCon mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ănBuồn về một nỗi tháng nămChửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêuLựu xa đào, lựu xéo đào xiênVàng cầm trên tay rớt xuống không phiềnChỉ phiền một nỗi nợ với duyên không trònChờ con bạn ngọc thở than đôi lờianh hai vật đổi sao dờiTính sao nàng tính trọn đời thủy chungCanh ba cờ phất trống rungMặc ai ai thẳng ai dùn mặc aiCanh tư hạc đậu cành maiSương sa lác đác khói bay mịt mờCanh chầy tơ tưởng tưởng tơChiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu khôngAi làm lỡ chuyến đò ngangCho loan với phượng đôi hàng biệt ly

    C

    78. Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm

    Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu

    80. Bực mình chẳng muốn nói ra

    Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời

    79. Bước xuống ruộng sâu, em mảng sầu tấc dạ

    75. Bươm bướm mà đậu cành bong

    Đã dê con chị, lại bồng con em

    76. Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng

    Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai

    77. Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng

    73. Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt

    Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon

    74. Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo

    Tay em ôm bó mạ, luỵ ứa hai hàng

    C

    Đi buôn cau héo có buồn hay không

    43. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    VẦN D VẦN Đ

    Đánh bạc quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn vặt quen mồm

    Đánh chết, mà nết không chừa

    Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

    Đàn bà nói có là không

    Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

    Đàn bà tốt tóc thì sang

    Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Đàn kêu tích tịch tình tang

    Ai đem công chúa lên thang mà về

    Đàn ông đi biển có đôi

    Đàn bà đi biển mồ côi một mình

    Đàn ông không râu vô nghì

    Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

    Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ

    Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu

    Rút gươm đâm họng máu trào

    Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

    Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt

    Lửa nhà máy hết cháy thành than

    Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn

    Kể từ khi em biết được chàng

    Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

    Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

    Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang

    Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc

    Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

    Đèn treo ngang quán

    Tỏ rạng bờ kinh

    Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình

    Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

    Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn

    Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

    Đêm khuya ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Đêm khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

    Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng

    Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

    Đêm khuya trăng dọi lầu son

    Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng

    Bển qua đây đàng đã xa đàng

    Dầu tui có lâm nguy thất thế

    Hỏi con bạn vàng nó cứu không?

    Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông

    Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

    Đêm nằm tàu chuối có đôi

    Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

    Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng

    Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài

    Bây giờ chàng đã nghe ai

    Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung

    Bây giờ sự đã nhạt nhùn

    Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua

    Cá lên mặt nước, cá khô

    Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

    Đêm qua nguyệt lặn về Tây

    Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài

    Trúc với mai, mai về trúc nhớ

    Trúc trở về, mai nhớ trúc không

    Bây giờ kẻ Bắc, người Đông

    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

    Đêm thanh cảnh vắng

    Thức trắng năm canh

    Một duyên, hai nợ, ba tình

    Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

    Đến đây đất nước lạ lùng

    Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

    Đến ta mới biết của ta

    Trăm nghìn năm trước biết là của ai

    Đề huề chồng vợ

    Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang

    Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

    Đi chùa lạy Phật cầu chồng

    Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

    Đi đâu cho thiếp theo cùng

    Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

    Đi đâu mà vội mà vàng

    Mà vấp phải đá mà quàng phải dây

    Thủng thỉnh như chúng anh đây

    Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

    Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Đi qua nhà nhỏ

    Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng

    Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

    Đó đây trước lạ sau quen

    Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

    Đói lòng ăn đọt chà là

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

    Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    Đói lòng ăn nửa trái sim

    Uống lưng bát nước đi tìm người thương

    Đói lòng nuốt trái khổ qua

    Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

    Đôi ta chẳng được sum vầy

    Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương

    Vì sương nên núi bạc đầu

    Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

    Đôi ta đã trót lời thề

    Con dao lá trúc đã kề tóc mai

    Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

    Đôi ta như loan với phượng

    Nỡ lòng nào để phượng lià cây

    Muốn cho có đó, có đây

    Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi

    Thà rằng chẳng biết thì thôi

    Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

    Đôi ta như thể con tằm

    Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong

    Đôi ta như thể con ong

    Con quấn con quít, con trong con ngoài

    Đôi ta như thể con bài

    Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

    Đố ai biết luá mấy cây

    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

    Đố ai quét sạch lá rừng

    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

    Rung cây, rung cỗi, rung cành

    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

    Đố ai lặn xuống vực sâu

    Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

    Đố anh con rít mấy chưn

    Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người

    Mấy người bán áo con trai

    Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

    Đốt than nướng cá cho vàng

    Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

    Muốn ăn bôn súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đồng tiền Vạn lịch

    Thích bốn chữ vàng

    Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu

    Bây giờ cô lấy chồng đâủ

    Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

    Đổ lửa than nên vàng lộn trấu

    Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

    Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ

    Anh gặp em đây không cửa không nhà

    Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

    Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

    Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    Đờn cò lên trục kêu vang

    Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng

    Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng

    Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương

    Chiều nay qua phản bạn hồi hương

    Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào

    Ghe tui tới chỗ cắm sào

    Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

    Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá

    Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm

    Anh thấy em tốt mã anh lầm

    Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

    Đưa nhau đổ chén rượu hồng

    Mai sau em có theo chồng đất xa

    Qua đò gõ nhịp chèo ca

    Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

    Đường trơn trợt gượng đi kẻo té

    Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng

    Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi

    Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

    Đứt tay một chút còn đau

    Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

    Đ Đất lành chim đậu.

    E

    VẦN E

    Em có chồng sao em không nói?

    Để anh theo anh chọc em hoài

    Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay!

    Em đeo chiếc kim hườn

    Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến

    Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!

    Em liều một cái bánh bò

    Còn nào chót chét, cặp giò em chặt hai

    Em liều một chén dầu chanh

    Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền

    Em liều một trái sầu giêng

    Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro

    Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi

    Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?

    Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác

    Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?

    Em ơi, anh bảo em này

    Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi

    Em ơi, em có thương anh

    Em ra canh lính cho anh leo tường!

    Em ơi em ở lại nhà

    Vườn dâu em hái mẹ già em thương

    Mẹ già một nắng hai sương

    Chị đi một bước trăm đường xót xa

    Cậy em em ở lại nhà

    Em thấy anh em cũng muốn chào

    Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông

    Em chấy anh em cũng muốn chào

    Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình

    Dao trong mình, gươm anh cặp nách

    Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi

    Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu

    Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi

    Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi

    Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra

    Em về hỏi mẹ cùng cha

    Có cho em lấy chồng xa hay đừng

    Én bay thấp, mưa ngập bờ ao

    Én bay cao, mưa rào lại tạnh

    Em nghe tiếng hát đâu xa

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ê

    Êm như ru

    Ếch ngồi đáy giếng

    VẦN G

    Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng

    Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua

    Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng

    Trai bạc tình một cẳng về quê

    Gái lấy trai đứng là gái dại

    Trai lấy rồi trai lại bán rao

    Gái đâu có thứ hỗn hào

    Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu

    Gà đẻ, gà cục tác

    Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

    Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

    Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi

    Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi

    Saigon vui lắm em ơi

    Lấy chồng về đó một đời sướng thân

    Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất

    Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ

    Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông

    Gẫm xem sự thế nực cười

    Một con cá lội mấy người buông câu

    Gần mực thì đen gần đèn thì sáng

    Gập ghềnh nước chảy qua đèo

    Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng

    Ghe anh đỏ mũi xanh lườn

    Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em

    Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo

    Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em

    Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ

    Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn

    Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời

    Mật đường dù chẳng đi đôi

    Chút hương rớt lại, một đời chưa quên

    Ghe lên ghe xuống dầm dề

    Sao anh không gởi thơ về thăm em?

    Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ

    Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi

    Già thì đặc bí bì bì

    Con gái đương thì rỗng toác toàng toang

    Ngoài xanh trong trắng như ngà

    Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu

    (Đố là gì? – cau dầy)

    Giàu cha giàu mẹ thì ham

    Giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn

    Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa

    Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

    Giàu từ trong trứng giàu ra

    Giàu út ăn, khó út chịu

    Giả đò mua khế bán chanh

    Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn

    Giặc Tây đánh tới Cần Giờ

    Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công

    Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh

    Giấy hồng đơn bán mấy

    Cho anh mua lấy một tờ

    Viết thơ quốc ngữ

    Dán trên trái bưởi

    Thả xuống giang hà

    Bớ cô gánh nước bên bờ

    Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ

    Giận chồng xách gói ra đi

    Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về

    Gieo gió gặp bão

    **************************************

    Toàn bộ từ vần A đến Y

    -B-

    -C-

    Ca Li đi dễ khó về

    Câu nguyên gốc là..nói về những người đi trồng cao su

    Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng, khi về bủng beo

    ================================================== =======

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    ================================================== ========

    Chân cứng đá mềm

    ================================================== ========

    Có chí thì nên

    ================================================== ========

    Cô kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi kéo lại hỏi nhà ở đâu ?

    Nhà tôi ở trước đám dâu

    Ở sau đám cải đầu cầu ngó qua

    Cái câu này còn có khác hơn một tí đó là..

    Đ-

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ếch ngồi đáy giếng

    ================================================== ========

    -G-

    -H-

    -I-

    ================================================== ========

    -K-

    -L-

    -M-

    -N-

    Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ

    ================================================== ========

    Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

    ================================================== ========

    Nhất quỷ nhì ma

    Thứ ba học trò …. )

    ================================================== ========

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    ================================================== ========

    No bụng đói con mắt

    ================================================== ========

    -O-

    Ở đâu cũng có anh hùng

    Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên

    ================================================== ========

    Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

    ================================================== ========

    Ớt nào là ớt chẳng cay,

    Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

    Vôi nào là vôi chẳng nồng

    Gái nào là gái có chồng chẳng ghen !

    ================================================== ========

    Ở hiền gặp lành

    ================================================== ========

    -Q-

    Quả cau nho nhỏ

    Cái vỏ vân vân

    Nay anh học gần

    Mai anh học xa

    Tiền, gạo là của mẹ cha

    Bút nghiên, kinh sách thì là của anh

    Lấy chàng từ thuở mười ba

    Đến năm mười tám thiếp đà năm con

    Ra đường thiếp hãy còn son

    Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng

    ================================================== ========

    -R-

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    ================================================== ========

    -S-

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người

    ================================================== ========

    Sá gì một nải chuối xanh

    Năm bảy người giành cho mủ dính tay

    ================================================== ========

    -T-

    -U-

    ================================================== ========

    -V-

    Vì sông nên phải lụy thuyền

    Chứ như đường liền ai phải lụy ai

    ================================================== ========

    Vải thưa che mắt thánh

    ================================================== ========

    -X-

    ========

    -Y-

    Yêu nhau cởi áo cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

    ========

    Yêu nhau thì ném miếng trầu

    Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra

    Yêu nhau cau bổ làm ba

    Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười

    Xem Thêm Cập nhật 2022:

      Mèo khen mèo dài đuôi.

      N Năm nắng mười mưa

    --- Bài cũ hơn ---

  • 500 Stt Buồn: Hay, Cảm Xúc, Tâm Trạng, Chất Và Độc Đáo Nhất 2022
  • Chia Sẻ Những Stt Hay Về Tình Bạn Trên Facebook Độc Đáo Nhất
  • Tổng Hợp Những Lời Chúc Buổi Tối Ngọt Ngào Nhất
  • Những Lời Chúc Buổi Sáng Ngọt Ngào, Ý Nghĩa Nhất
  • Con Gái Ế Thì Đã Sao?
  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Về Chữ Ăn
  • Ẩm Thực Xa Xưa Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Ca Dao
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Hay Nhất
  • 2. Ca dao và dân ca:

    Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta

    tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta

    thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Có thể nói, ranh giới giữ ca dao và

    dân ca không rõ.

    Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu. Còn dùng một bài ca dao để hát, thì bài

    ca dao sẽ biến thành dân ca. Vì hát yêu cầu phải có khúc điệu, và như vậy phải có thêm tiếng đệm.

    Vậy có thể nói, ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác

    và có thể xây dựng thành các điệu ca dao.

    Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định,

    nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nó là nhạc do tiếng của con người đưa ra từ cổ họng.

    Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn

    cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương,

    còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể nào,

    thì nó vẫn đươc phổ biến rộng rãi

    “Đồng đăng có phố Kỳ Lừa

    Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

    Hay:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga.

    Còn dân ca thì nhiều khi chỉ có dân địa phương mới biết, và mới hát được..

    Nội dung của dân ca cũng nhue nội dung của ca dao, chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện

    cái nội tâm của tác giả trước ngoại cảnh.

    Cũng như tục ngữ, ca dao – dân ca là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể,

    được lưu truyền bằng miệng và / được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Trong tất cả

    những tính chất chung của văn học dân gian (trong đó có tục ngữ – ca dao – dân ca) :

    tính nhân dân, tính hiện thực, tính lãng mãn, tính phổ biến, tính khuyết danh,

    tính truyền miệng, tính tập thể ….thì tính tập thể là tính chất cơ bản nhất

    B. Thời kỳ xuất hiện:

    So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ tưởng như mới hơn. Nhưng theo kết quả nghiên cứu, tục ngữ, ca dao cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Trong quá trình lao động, xuất hiện những câu hò, kiểu như “Dô ta”, như vậy ca hát đã có từ rất sớm, nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ, và được sửa đổi qua các thế hệ của loài người.

    Xét nội dung những câu ” Năm cha, ba mẹ“, hay ” Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông“, ” Con dại, cái mang”, “con mống, sống mang“.. ta có thể biết được thời điểm xuất hiện câu đó, đólà thời kỳ tạp giao, hay tình trạng chồng chung vợ chạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ, rồi đến Phụ hệ…

    Ca dao, tục ngữ cũng mang ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền và phản ánh đời sống kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ.

    C. Nội dung và hình thức của tục ngữ – ca dao – dân ca:

    1. Nội dung của tục ngữ:

    Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý trí nhiều hơn là do xúc cảm. tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bén, rút ở cuộc đời. Ở tục ngữ, tính chất phản phong là mạnh hơn cả.

    Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người.

    VD:

    Quá mù ra mưa

    Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa

    Vỏ quýt dày có móng tay nhọn

    Cái sảy nảy cái ung

    Cõng rắn cắn gà nhà

    2. Hình thức của tục ngữ:

    Tục ngữ ban đầu chỉ là những câu nói xuôi ta, hợp lý, sau dần mới trở thành những câu đối có vần vè, gọn gàng hơn

    Làm phúc phải tội

    Gà què ăn quẩn cối xay

    Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận

    Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm

    Tục ngữ không nhất thiết, nhưng phần lớn đều có vần vè, hay có đối

    No nên bụt, đói nên ma

    Bút sa, gà chết

    Có tật giật mình

    Còn có những câu vần cách, cách hai chữ, ba chữ

    May tay hơn hay thuốc

    Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão

    Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm

    Hoặc thể lục bát

    Cá tươi thì xem lấy mang

    Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai

    Tóm lại xét về sự phong phú cả về mặt nội dung cũng như hình thức, ta có thể thấy tục ngữ đã phát triển trước ca da rất nhiều. Còn nữa, ca dao thiên về tình cảm, biểu lộ tính tình của con người…nên chỉ có thể phát triển khi mà đời sống xã hội đã phức tạp.

    3. Nội dung của ca dao:

    Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắ m thiết và sâu sắc đến cỡ nào…thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được.

    Ca dao Việt nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta.

    Ca dao thể hiện tình yêu: tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên, hoà bình…

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    Gió đưa cành trúc la đà

    Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương

    Tuyệt mù khói toả ngàn sương

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…

    Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên, với xã hội.

    Có thể nói nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình. Tìm hiểu được cái tình trong ca dao chúng ta sẽ thấy được tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa chứa đựng trong ca dao.

    4. Hình thức nghệ thuật của ca dao:

    Ca dao thường là những bài ngắn, hai, bốn, sáu, hoặc tám câu., âm điệu lưu loát và phong phú.

    Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị, và tươi tắn. Nghe có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Có thể nói về mặt tả cảnh , tả tình không có một hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao.

    Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt, nhưng cũng có khi để nói về những cái xấu, nhưng không nói thẳng. Nhờ phương pháp hình tượng hoá, nên lời của ca dao tuy giản dị, mà rất hàm súc.

    Người con gái không được chủ động trong việc hôn nhân, đã ví mình như hạt mưa:

    Thân em như hạt mưa rào

    Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

    Hay để tả một tình yêu trong trắng mới chớm nở của đôi lứa, ca dao noi:

    Đôi ta như lửa mới nhen

    Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

    Đến như tả hạng người ngu đần, ca dao cũng đã đưa ra những hình ảnh táo bạo:

    Mặt nạc đóm dày

    Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn Cơm trắng ăn với chả chim

    Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no

    Trên trời có đám mây vàng

    Bên sông nước chảy có nàng quay tơ

    Nàng buồn nàng bỏ quay tơ

    Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành

    MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA NGHỆ TĨNH

    Tiếng giặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào một chỗ thiếu….xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba , bốn trăm năm.

    Về nội dung, có nhiều bài hát giặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến.

    Về hình thức, phần nhiều các bài hát dặm đều gồm những câu năm chữ và cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lại lấy một ý, điệp cả về ý, lẫn lời:

    vd:

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    hay:

    Thấy những lời kêu trách

    Nghe những lời kêu trách

    Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát, nólàm nổi ý của câu hát, của cả bài.

    Hát giặm cũng có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung, và hình thức đều được trau chuốt.

    Hát giặm Nghệ Tĩnh không hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được nhân dân ưa thích và phổ biến rộng rãi

    VD:

    Trai:

    Tiết thanh nhàn thong thả

    Muốn thăm hỏi vài câu

    Cuốc thánh thót kêu sầu

    Gió phảng phất mùa sâu

    Nhớ trong sách đã lâu:

    Chuyện “Tư mã phượng cầu”

    Thương thì mũi tìm trâu

    Trâu đâu tìm chạc mũi

    Gái:

    Trời mở rộng phong quang

    Giã ơn trời mở rộng phong quang

    Em đánh tiếng đua sang

    Đêm tàn canh vò võ

    Tay em cầm con bấc đỏ

    Mong bỏ đĩa dầu đầy

    Mời bạn ở lại đây

    Đôi ta giở lời rày

    Tình đó với nghĩa đây

    Trai:

    Giống như đọi nác đầy

    Bưng nhẩn nhẩn trên tay

    Không khuy sơ một hột

    Gió nỏ triềng một hột

    Công đôi ta thề thốt

    Kể đã mấy niên rồi

    Lòng đã quyết lứa đôi

    Ngãi đã quyết thề bồi

    Nhất ngôn nói hẳn lời

    Đừng bốn chốn ba nơi

    Đừng trăn gió chào mời

    Trăng nhiều trăng rạng rỡ

    Trăn nhiều đèn rạng rỡ

    Gái:

    Em đã có chồng rồi

    Em đã có lứa rồi

    Vung úp đã vừa nồi

    Đũa ghép đã thành đôi

    Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    Trai:

    Têm một quả trầu không

    Bỏ vô hộp con rồng

    Đi băng nội băng đồng

    Qua năm bảy khúc sông

    Qua chín mười đỗi đồng

    Nghe tin em đã có chồng

    Anh quăng lắc vô bụi

    Bạn gạt tùa vô bụi.

    Anh thương em một tháng hai kỳ

    Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày

    Năm rộn mà chầy

    Có hai mươi bốn miện (Miện = kỳ)

    Xuân qua rồi hè /đến

    Thu đã muộn, đông rồi

    Nhớ bạn cũ chưa nguôi,

    Sang lập xuân vũ thuỷ

    Đêm em nằm em nghĩ

    Nghĩ kinh trập, xuân phân,

    Lòng tưởng sự ái ân

    Sang thanh minh, cốc vũ

    Đêm dêm nằm nỏ ngủ

    Nhớ bạn mãi thường thường

    Tiết lập hạ nhớ thương

    Bước sang tuần tiểu mãn

    Trông ra ngoài chán chán

    Tiết mang hiện lại gần

    Người đập đất, gánh phân

    Để mùa màng gặt hái

    Anh thương em mãi mãi

    Sang hạ chí tiết hè

    Em nghe tiếng sầu ve

    Em buồn trong gia sự

    Bạn buồn trong gia sự

    ***

    Tiết tiểu thử, đại thử

    Trời nắng sốt lắm thay!

    Ra ngồi tựa cột cây

    Anh với em than thở

    Bạn với mình than thở

    ***

    Tiết lập thu, xử thử

    Ai diều sáo mặc ai

    Vàng lác đác giếng tây

    Ta thương người bạn cộ (Cộ = cũ)

    Nhớ mãi người bạn cộ

    ***

    Vừa đến tiết bạch lộ

    Bầy chim trắng bay sang

    Cây heo hắt lá vàng

    Sang thu phân hàn lộ.

    ***

    Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy)

    Tiết sương giáng lại kề

    Trông bạn cũ ta về

    Sang lập đông giá rét

    Tiết tiểu tuyết, đại tuyết

    Trời giá rét lắm thay

    Sang đông chí cấy cày

    Dạ bồi hồi nhớ bạn

    Tiết tiểu hàn chưa dạn

    Đã bước sang đại hàn

    Dạ tưởng nhớ người ngoan

    Vừa năm cùng tháng tận

    Vừa cuối mùa cuối tận.

    ***

    Phận lại ngồi trách phận

    Phận nỏ giám trách phận

    Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp

    6. Hát ví Nghệ Tĩnh:

    Hát Ví Nghệ Tĩnh là những loại dân ca xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Có nhiều điệu hát ví như: hát phường vải, hát phường cấy, hát đò đưa, hát phường buôn…. Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả.

    1. Hát phường vải:Giai đoạn 1:

    Những câu hát phường vải là những câu biểu lộ tâm tình của hai bên trai gái, hoặc là những ước mơ về yêu đương, hoặc là những lời oán trách kẻ chia rẽ tình duyên, và bao giờ cũng lạc quan, tin tưởng.

    Hat phường vải gồm có bốn giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: hát dạo, hát mừng, hát chào và hát hỏi. Giai đoạn thứ hai: hát đố và hát đối. Giai đoạn thứ ba: hát mời và hát xe kết. Giai đoạn thứ tư: hát tiễn.

    Hát dạo

    Bấy lâu thức nhắp mơ màng

    Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng

    *

    Bấy lâu nghe hết tiếng nàng

    Bên anh nức tiếng đồn vang đã lừng

    Nghe tin anh cũng vội mừng

    Vậy nên chẳng quản suối rừng anh sang

    *

    Bấy lâu anh mức chi nhà

    Để em dệt gấm thêu hoa thêm sầu

    *

    Đồn rằng cá uốn thân vây

    Đồn em hay hát, hát hay anh tìm

    *

    Chốn này vui vẻ, tưng bừng

    Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới nơi

    *

    Đêm khuya trời tạnh sương im

    Tai nghe tiếng nhạc, chàng Kim tới gần.

    *

    Dừng xa, khoan kéo, ơi phường!

    Hình như có khách viễn phương tới nhà

    *

    Đi qua nghe tiếng em reo,

    Nghe xa em kéo, muốn đeo em về.

    *

    Đi ngang trước cửa nàng Kiều,

    Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu

    *

    Đi ngang thấy búp hoa đa`o

    Muốn vào mà bẻ, sợ bờ rào lắm gai

    *

    Đồn đây là chốn Đao` Nguyên

    Trăng thanh gió mát, cắm thuyền dạo chơi

    *

    Lạ lùng anh mới tới đây,

    Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng

    *

    Đến đây vàng cũng như son

    Ai ai thời cũng như con một nhà

    Khi nháy mắt, khi nhện sa

    Khi chuột rích trong nhà

    Khi khách kêu ngoài ngõ

    Tay em đưa go đủng đỉnh

    Tay em chìa khoá động đào

    Bước năm lần cửa, ra chào bạn quen

    *

    Mừng rằng bạn đến chơi nhà

    Cam lòng thục nữ gọi là trao tay

    Hát hỏi

    Em có chồng rồi, em nói rằng chưa

    Tội riêng em đó, nỏ lừa được anh

    *

    Em chưa có chồng, em mới đến đây

    Chồng rồi chiếu trải, màn vây ở nhà Anh về chẻ lạt bó tro

    Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.

    Em về đục núi lòn qua,

    Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng

    *

    Trai thanh xuân ngồi hàng thuốc bắc,

    Gái đông sàng cảm bệnh lầu tây

    Hai ta tình nặng nghĩa dày,

    Đối ra đáp được, lúc này tính sao?

    *

    – Đến đây hỏi khác tương phùng

    Chim chi một cánh bay cùng nước non?

    -Tương phùng nhắn với tương tri,

    Lá buồm một cánh bay đi khắp trời

    *

    – Lá gì không nhánh, không ngành?

    Lá gì chỉ có tay mình trao tay?

    – Lá thư không nhánh, không ngành,

    Lá thư chỉ có tay mình trao tay.

    *

    – Nghe tin anh hoc có tài

    Cha thầy Mạnh Tử là ai rứa chàng?

    – Thầy Mạnh, cụ Mạnh sinh ra

    Đù mẹ con hát, tổ cha thằng bày!

    *

    – Người Kim Mã cưỡi co ngựa vàng

    Đất Phù Long rồng nổi, thì chàng đối chi?

    – Người Thanh Thuỷ gặp khách nước trong

    Hoành sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa?

    *

    Nghe anh bôn tẩu bấy lâu

    Nghệ An có mấy chiếc cầu hỡi anh?

    – Nghệ An có ba mươi sáu chiếc cầu

    Phồn hoa đi lại bốn cầu mà thôi

    Cầu danh, cầu lợi, cầu tài

    Cầu cho đây đó làm hai giao hoà

    *

    Nhớ em nhất nhật một ngày

    Đêm tơ tưởng dạ, làng rày nhớ trông

    – Chờ em nửa tháng ni rồi

    Ôm đờn bán nguyệt, dựa ngồi cung trăng

    *

    – Nghe tin anh giỏi, anh tài

    Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?

    – Thiên thai là của nàng Kiều

    Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra

    Lê Thị Thu Hoài @ 12:57 03/03/2012

    Số lượt xem: 21143

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Cuộc Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương Đất Nước ❤️ Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Kháng Chiến Hào Hùng Của Dân Tộc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em Hay Nhất ❤️ 1001 Câu
  • Ca Dao, Tục Ngữ Chế Về Tình Yêu ( Vào Đọc Ngay Nào)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100