Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx

--- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bình Định
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Ngày đăng: 11/07/2014, 06:21

    Ca dao tục ngữ bắt đầu bằng chữ H & I H 1. Hà Nội, ba sáu phố phường Hàng mật, hàng đường, hàng muối trắng tinh Từ ngày ta phải lòng mình Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen 2. Hàm chó, vó ngựa 3. Hát bội làm tội người ta Ðàn ông bỏ vợ, đàn bà bỏ con 4. Hát hay không bằng hay hát 5. Hèn lâu mới gặp thầy Hai Thuận tay điếu hút, điếu vấn, điếu vắt lỗ tai 6. Hèn mà làm bạn với sang Kẻ ngồi người đứng có ngang nhau bao giờ 7. Hổ phụ sanh hổ tử, lân mẫu xuất lân nhi 8. Hổ xuống bình nguyên bị chó lờn 9. Hoa thơm, ai chẳng muốn đeo Người khôn, ai nỡ cứ theo nặng lời 10. Hoa thơm ai chẳng nâng niu Người khôn ai chẳng mến yêu mọi bề 11. Hoành hoạch, hoành hoạch Giặt áo chồng tao Giặt áo phải giặt cho sạch Phơi áo thì phơi trên sào Ðừng phơi hàng rào rách áo chồng tao 12. Họa hổ họa bì, nan họa cốt Tri nhân tri diện, bất tri tâm 13. Hoạ vô đơn chí, phúc bất trùng lai 14. Học ăn, học nói, học gói, học mở 15. Học đi đôi với hành 16. Học hành thi cử mà chi Sáng sáng ăn no, tối ngủ khì 17. Học thầy không tầy học bạn 18. Học trò đi mò cơm nguội Lỡ trượt vỏ dưa, té cái đụi, la trời 19. Học trò thò lò mũi xanh Cầm miếng bánh đúc, chạy quanh nhà thầy 20. Hỏi vợ thì cưới liền tay Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha 21. Hôm nay có đám giỗ gần Trong bụng bần thần, chẳng muốn nấu cơm 22. Hôm qua anh đến chơi nhà Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường Thấy em nằm đất. anh thương Anh đi mua gỗ đóng giường tám thang Bốn góc thì anh bịt vàng Bốn chân bịt bạc, tám thang chạm rồng 23. Hôm qua tát nước đầu đình Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen Em bắt được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh chưa có, Mẹ già chưa khâu Áo anh sứt chỉ đã lâu Mai mượn cô ấy sang khâu cho dùm Khâu rồi anh sẽ trả công Mai mốt lấy chồng anh sẽ giúp cho Giúp em một thúng xôi vò Một con lợn béo, một vò rượu tăm Giúp em đôi chiếu em nằm Ðôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo Giúp em quan tám tiền cheo Quan hai tiền cưới, lại đèo buồng cau 24. Hòn đất mà biết nói năng Thì thầy địa lý hàm răng không còn 25. Hỗn như gấu 26. Hơn nhau manh aó, tấm quần Cởi ra mình trần, ai cũng như ai 27. Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi 28. Hỡi người kẻ đóng then gài Có hay, có biết kẻ ngoài trùng dương 29. Huệ nhớ thương Lan, héo vàng xác Huệ Anh quá thương nàng, trối kệ thị phi 30. Hút sách là chuyện chẳng lành Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây 31. Hùm dữ chẳng ăn thịt con I 1. Ích kỷ hại nhơn 2. Im hơi, lặng tiếng 3. Im lặng là vàng 4. Im như thóc 5. Im thin thít miệng mình 6. Im thin thít như thịt nấu đông . l i 10. Hoa thơm ai chẳng nâng niu Ngư i khôn ai chẳng mến yêu m i bề 11. Hoành hoạch, hoành hoạch Giặt áo chồng tao Giặt áo ph i giặt cho sạch Ph i áo thì ph i trên sào Ðừng ph i h ng. Ca dao tục ngữ bắt đầu bằng chữ H & I H 1. H N i, ba sáu phố phường H ng mật, h ng đường, h ng mu i trắng tinh Từ ngày ta ph i lòng mình Bác mẹ i rình đã mấy mư i phen 2. H m. rách áo chồng tao 12. H a h h a bì, nan h a cốt Tri nhân tri diện, bất tri tâm 13. Hoạ vô đơn chí, phúc bất trùng lai 14. H c ăn, h c n i, h c g i, h c mở 15. H c i đ i v i h nh

    --- Bài cũ hơn ---

  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Có Ai Biết Ca Dao Tục Ngữ Về Bà Rịa Không?
  • 38 Câu Thành Ngữ Trong Tiếng Anh Dễ Nhớ Nhất Với Người Việt
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Món Ăn, Ăn Uống, Ẩm Thực
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ N

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Chúc Mừng Sinh Nhật Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Tình Yêu Nam Nữ Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • Top Lời Chúc Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • 100+ Lời Cảm Ơn Chúc Mừng Sinh Nhật Gửi Đến Mọi Người
  • 10 Bài Thơ Chúc Tết Cho Bé Hay, Dễ Học Thuộc, Ngắn, Chúc Tết Ông Bà Bố
  • Ngày đăng: 11/07/2014, 06:21

    Ca dao tục ngữ bắt đầu bằng chữ N (phần 3) & O & P& Q N Ca dao tục ngữ bắt đầu bằng chữ O – P & Q O 1. Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài 2. Ở đâu cũng có anh hùng Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên 3. Ở đâu mà chẳng biết ta Ta con ông Sấm, cháu bà Thiên Lôi Xưa kia ta ở trên trời Ðứt dây rơi xuống làm người thế gian 4. Ở đời có bốn cái ngu Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu 5. Ở đời muôn sự của chung Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi 6. Ở hiền gặp lành 7. Ở sao cho vừa lòng người Ở rộng người cười, ở hẹp người chê Cao chê ngổng, thấp chê lùn Béo chê béo trục béo tròn Gầy chê xương sống, xương sườn phơi ra 8. Ở xa anh tưởng là tiên Lại gần mới biết em chẳng hiền hơn ai 9. Ở xa mỏi chân, ở gần mỏi miệng 10. Ốc tưởng rằng ốc vắn Dè đâu ruột ốc trường Lươn chê lịch, lịch chê lươn nhớt! 11. Ôi, ba bảy lá gan, lá tươi lá héo Ruột chín chiều, chiều nở chiều teo 12. Ơn dưỡng dục chưa thỏa tình báo bổ Nghĩa minh linh nguyện gắng sức tài bồi 13. Ơn trời mưa nắng phải thì Nơi thì cày ruộng nơi thì bừa sâu Công ơn chẳng quản bao lâu Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu 14. Ông chết, thì thiệt thân ông Bà tôi sắp sửa lấy chồng nay mai Bà chết, thì thiệt thân bà Ông tôi sắp sửa lấy ba nàng hầu 15. Ông nói gà, bà nói vịt Ông bảo làm thịt, bà bảo để nuôi 16. Ớt nào là ớt chẳng cay Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng Vôi nào là vôi không nồng Gái nào là gái có chồng chẳng ghen P 1. Phải duyên phải kiếp thì theo Cám còn ăn được, nữa bèo như anh 2. Phấn son tô điểm sơn hà Làm cho rỡ mặt đàn bà nước Nam 3. Phong lưu là cạm ở đời Hồng nhan là bẫy những người tài hoa 4. Phượng hoàng đậu nhánh vông nem Phải dè năm ngoái cưới em cho rồi Ngã tư Chợ Gạo nước hồi Tui chồng, mình vợ còn chờ đợi ai 5. Phượng hoàng đậu nhánh sa kê Ông thần ổng hổng vật mấy thằng dê cho rồi 6. Phượng hoàng ở chốn cheo leo Sa cơ lỡ vận phải theo đàn gà Bao giờ gió thuận mưa hòa Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng Q 1. Qua đình ngã nón trông đình Ðình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu! 2. Quan văn mất một đồng tiền Xem bằng quan võ mất quyền quận công 3. Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân Nay anh học gần, mai anh học xa Lấy anh từ thuở mười ba Ðến năm mười tám thiếp đà năm con Ra đường thiếp hãy còn son Về nhà thiếp đã năm con với chàng 4. Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân Nay anh học gần, mai anh học xa Tiền gạo thì của mẹ cha Cái nghiên, cái bút thật là của em 5. Quân tử là quân tử Tàu Ăn cơm thì ít, ăn rau thì nhiều 6. Quân tử nhất ngôn là quân tử dại Quân tử nói đi, nói lại là quân tử khôn 7. Quít làm, cam chịu . Ca dao tục ngữ bắt đầu bằng chữ N (ph n 3) & O & P& Q N Ca dao tục ngữ bắt đầu bằng chữ O – P & Q O 1. Ở bầu thì tr n, ở ống thì dài 2. Ở đâu cũng có anh hùng Ở. Ðình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu! 2. Quan v n mất một đồng ti n Xem bằng quan võ mất quy n qu n công 3. Quả cau nho nhỏ, cái vỏ v n v n Nay anh học g n, mai anh học xa Lấy anh từ. Phượng hoàng đậu nhánh vông nem Phải dè n m ngoái cưới em cho rồi Ngã tư Chợ G o n ớc hồi Tui chồng, mình vợ c n chờ đợi ai 5. Phượng hoàng đậu nhánh sa kê Ông th n ổng hổng vật mấy thằng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Câu Châm Ngôn Tiếng Anh Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Những Lời Chúc Hay Và Ý Nghĩa Nhất Tặng Người Yêu Ngày Valentine
  • Những Lời Chúc Valentine Tiếng Anh Hay Nhất
  • Stt Ngày Cuối Tuần Đầy Cô Đơn Và Ảm Đạm
  • Lời Phật Dạy Về Nghệ Thuật Giữ Gìn Sắc Đẹp
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bình Định
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Ngày đăng: 11/07/2014, 06:21

    Ca dao tục ngữ bắt đầu bằng chữ M M 1. Má hồng hồng, muốn chồng thành dịch 2. Má ơi, con má hư rồi Còn đâu má gả, má đòi bạc trăm 3. Má ơi, con má hư rồi Má đừng trang điểm phấn giồi uổng công 4. Má ơi, con má luông tuồng Có ngày thiên hạ lột truồng ô danh 5. Má ôi, con má phá thai Nước da tái mét, trong ngoài đều hay 6. Má ôi, con má thất tình Ăn khay trầu quế, uống chình rượu hương 7. Má ơi, đừng gả con xa Chim kêu, vượn hú biết nhà má đâủ 8. Mai thích Huế, xế thích Quảng 9. Mâm thau chùi sáng Ðể nằm trên ván Bóng lộn thấy hình Cháo đậu xanh kia, đường cát nọ Nhớ mình quên ăn 10. Màn hoa lại trải chiếu hoa Bát ngọc thì phải đũa ngà, mâm son 11. Mày thì cong tợ trăng non Mặt thuôn trứng ngỗng, ngó mòn lông nheo 12. Mạch trong nước chảy ra trong Thế nào đi nữa, con dòng vẫn hơn 13. Măng non nấu với gà đồng Chơi nhau một trận, xem chồng về ai 14. Mắng mèo, chửi chó 15. Mắt long lanh vốn kẻ đa tình Tướng ngoe nguẩy là người dâm đãng Mình xà uốn khúc Trường túc bất chi lao Hồng diện, đa dâm đa thủy 16. Mặt em rỗ có ngày lì Tay anh cán vá, ông nội em trì cũng không ra 17. Mặt má bầu, ngó lâu muốn chửi Mặt chữ điền, tiền rưỡi cũng mua 18. Mặt trời vừa lặn, mặt trăng vừa ló Nè em Hai ôi, lại đây cho anh tỏ một đôi lời Nước bèo gặp gỡ vậy thôi Mai anh ra cửa biển, em sống đời biệt ly 19. Mặt trời vừa lặn, mặt trăng vừa ló Quới nương em ơi, anh xin tỏ với nàng Con gái ông Bang, con gái ông Phủ Qua cũng không màng Chỉ chuộng con bạn ngọc biết đá vàng, thủy chung 20. Mật lắm, ruồi nhiều 21. Mật ngọt, chết ruồi 22. Mất lòng trước đặng lòng sau 23. Mất trâu mất ruộng không màng Mất cây cuốc mục ra làng kiện thưa 24. Máu chảy ruột mềm Môi hở răng lạnh 25. Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa 26. Mây xưa cũng bỏ non về Em xưa cũng giả câu thề đó đây Nhớ đành biết mấy tầm tay Chim bay biển Bắc, hoa gầy bãi Ðông! 27. Mấy đời bánh đúc có xương Mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng 28. Mẫu đơn nở cạnh bờ ao Ðôi ta trinh tiết đợi nhau suốt đời 29. Mèo đến nhà thì khó, Chó đến nhà thì sang 30. Mẹ cha trượng quá khuôn vàng Ðền bồi sao xiết muôn vàn công ơn 31. Mẹ cú con tiên, mẹ hiền con thảo 32. Mẹ gà con vịt chắt chiu Mấy đời dì ghẻ mà yêu con chồng 33. Mẹ già lo bảy lo ba Lo cau trổ muộn, lo già hết duyên 34. Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp mật, như đường mía lau 35. Mẹ già ở túp lều tranh Sớm khuya tối viếng mới đành dạ con 36. Mẹ mong gả thiếp về vườn Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh 37. Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể Con nuôi mẹ, con kể từng ngày 38. Mèo khen mèo dài đuôi Chuột khoe chuột nhỏ dễ chui, dễ trèo 39. Mèo mù vớ cá rán 40. Minh mông nổi nước Su đước rườm rà Ở đây anh tính sao rả Sắm bông hột lựu đặng mà cưới em! 41. Miếng ngon là miếng dữ Miếng cử là miếng lành 42. Miếng trầu giải phá cơn sầu Ăn cơm chẳng đặng, ăn trầu giải khuây 43. Miếng trầu là đầu câu chuyện Con trâu là đầu cơ nghiệp 44. Mía sâu có đốt, nhà dột có nơi 45. Mình có thương, mình cắt tóc mình thề Chỉ trời, vạch đất chớ hề bỏ nhau 46. Mình đành, cha mẹ chẳng đành Cũng như gáo nước tưới hành không tươi 47. Mình nói dối ta mình chửa có chồng Ta đi qua ngõ, mình bồng con ra Con mình kheó giống con ta Con mình bảy rưỡi, con ta ba phần . Ca dao tục ngữ bắt đầu bằng chữ M M 1. M hồng hồng, muốn chồng thành dịch 2. M ơi, con m hư rồi Còn đâu m gả, m đòi bạc tr m 3. M ơi, con m hư rồi M đừng trang đi m phấn. đa d m đa thủy 16. M t em rỗ có ngày lì Tay anh cán vá, ông nội em trì cũng không ra 17. M t m bầu, ngó lâu muốn chửi M t chữ điền, tiền rưỡi cũng mua 18. M t trời vừa lặn, m t trăng. cuốc m c ra làng kiện thưa 24. M u chảy ruột m m M i hở răng lạnh 25. M y xanh thì nắng, m y trắng thì m a 26. M y xưa cũng bỏ non về Em xưa cũng giả câu thề đó đây Nhớ đành biết m y

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Có Ai Biết Ca Dao Tục Ngữ Về Bà Rịa Không?
  • 38 Câu Thành Ngữ Trong Tiếng Anh Dễ Nhớ Nhất Với Người Việt
  • Thành Ngữ Và Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ A, Chữ Ă, Â ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cà Mau Xưa Qua Các Câu Thơ & Ca Dao
  • Kho Tàng Ca Dao Tục Ngữ
  • Tìm Hiểu Du Lịch Qua Ca Dao Ở Một Số Tỉnh Miền Tây Nam Bộ Theo Hướng Du Lịch Sinh Thái Hiện Đại
  • Tiếp Cận Kiến Thức Địa Lý Qua Thơ
  • Con Gà Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Thành ngữ và tục ngữ bắt đầu bằng chữ A, Chữ Ă, Â ?

    “Thành ngữ và tục ngữ bắt đầu bằng chữ A, Chữ Ă, Â ?”

    bên dưới còn rất thô sơ, rất mong nhận được lời giải thích tốt hơn cho câu hỏi

    “Thành ngữ và tục ngữ bắt đầu bằng chữ A, Chữ Ă, Â ?”

    từ tất các bạn để website “Hỏi đáp nhanh” hoàn thiện hơn, rất cám ơn những ý kiến đóng góp của các bạn!

    Chào tất cả các bạn, giải thích cho câu hỏibên dưới còn rất thô sơ, rất mong nhận được lời giải thích tốt hơn cho câu hỏitừ tất các bạn để website “Hỏi đáp nhanh” hoàn thiện hơn, rất cám ơn những ý kiến đóng góp của các bạn!

    Thành ngữ và tục ngữ là những tri thức. kinh nghiệm về mọi mặt của cuộc sống được cha ông ta đúc kết. Giúp cho chúng ta rất nhiều, nhất là trau dồi về kỹ năng sống. Rất mong mọi người tổng hợp thêm.

    Thành ngữ và Tục ngữ bắt đầu bằng chữ A

    1. Ai chê đám cưới, ai cười đám ma

    2. An cư lạc nghiệp

    3. Anh em chém nhau bằng xống, không ai chém nhau bằng lưỡi

    Thành ngữ và Tục ngữ bắt đầu bằng chữ Ă

    4. Ăn Bắc, mặc Nam

    5. Ăn bàn ăn giải

    6. Ăn báo cô

    7. Ăn bờ ở bụi

    8. Ăn bớt ăn xén

    9. Ăn bớt bát, nói bớt lời

    10. Ăn bữa hôm, lo bữa mai

    11. Ăn cá bỏ lờ

    12. Ăn cả tiêu rộng

    13. Ăn càn nói bậy

    14. Ăn cắp quen tay

    15. Ăn cây nào rào cây ấy

    16. Ăn cây táo rào cây soan (đào)

    17. Ăn chắc mặc bền

    18. Ăn cháo đái bát

    19. Ăn chay niệm phật nói lời từ bi

    20. Ăn chưa nên đọi, nói chửa nên lời

    21. Ăn chửa no, lo chửa tới

    22. Ăn chực nằm chờ

    23. Ăn có chỗ, đỗ có nơi

    24. Ăn có nhai, nói có nghĩ

    25. Ăn có nhai, nói có nghĩ

    26. Ăn có nơi, làm có chỗ

    27. Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau

    28. Ăn cơm chúa múa tối ngày

    29. Ăn cơm nhà thổi (vác) tù và hàng tổng

    30. Ăn cơm thiên hạ

    31. Ăn cướp cơm chim

    32. Ăn hương ăn hoa

    33. Ăn ít ngon nhiều

    34. Ăn không ngồi rồi

    35. Ăn không ngon ngủ không yên

    36. Ăn không nói có

    37. Ăn lấy ăn để

    38. Ăn lông ở lỗ

    39. Ăn mặn khát nước

    40. Ăn mày cướp xôi

    41. Ăn mày đòi xôi gấc

    42. Ăn miếng trả miếng

    43. Ăn một bát cháo chạy ba quãng đồng

    44. Ăn một miếng, tiếng muôn đời

    45. Ăn nắm xôi dẻo, nhớ nẻo đường đi

    46. Ăn nễ ngồi không, non đồng cũng lở

    47. Ăn nên làm ra

    48. Ăn ngay nói thẳng

    49. Ăn ngon mặc đẹp

    50. Ăn nhạt mới biết thương mèo

    51. Ăn như mỏ khoét

    52. Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa

    53. Ăn như tằm ăn rỗi

    54. Ăn no ngủ kỹ

    55. Ăn ở hai lòng

    56. Ăn ở như bát nước đầy

    57. Ăn ốc nói mò

    58. Ăn phải bả

    59. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    60. Ăn quả vả trả quả sung

    61. Ăn sung trả ngái

    62. Ăn tàn phá hại

    63. Ăn thật làm giả

    64. Ăn thủng nồi trôi rế

    65. Ăn to nói lớn

    66. Ăn trắng mặc trơn

    67. Ăn tươi nuốt sống

    68. Ăn vóc học hay

    69. Ăn vóc học hay

    70. Ăn đã vậy, múa gậy làm sao

    71. Ăn đây nói đó

    72. Ăn đơm nói đặt

    73. Ăn được ngủ được là tiên

    Thành ngữ và Tục ngữ bắt đầu bằng chữ Â

    74. Ấm ớ hội tề

    75. Ân trả nghĩa đền

    76. Ân đoạn nghĩa tuyệt

    4.2

    /

    5

    (

    8

    bình chọn

    )

    Đọc giả có thêm cầu hỏi nào cần giải nghĩa vui lòng để lại lời nhắn ạ!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lịch Sử Khai Phá Bình Dương Qua Dân Ca, Thơ Ca Dân Gian Làng Tương Bình Hiệp
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Hò Vè Bình Định
  • Tiếng Trung Nghiêm Thùy Trang
  • 60 Câu Thành Ngữ Tiếng Trung Thông Dụng Nhất (Phần 1)
  • Nghề Buôn Xưa Qua Tục Ngữ, Ca Dao
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bình Định
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Ngày đăng: 06/07/2013, 01:26

    A 1. Ai buồn, ai khóc thiết tha Tui vui, tui cũng chan hòa giọt châu 2. Ai cũng tưởng bậu hiền Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai 3. Ai đem con sáo sang sông Ðể cho con sáo sổ lồng bay cao 4. Ai đi đâu ấy hỡi ai Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm Tìm ai như thể tìm chim Chim bay biển Bắc, đi tìm biển Ðông 5. Ai kêu là rạch, em gọi là sông Phù sa theo nước chảy mênh mông Sông ơi, thấm mát đời con gái Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng 6. Ai làm Nam Bắc phân kỳ Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương 7. Ai mà hảo ngọt thì ăn bánh cam Ai mà nhát gan thì sợ bánh tét Ai ham trồng kiểng thì mê bánh bông lan Còn như bánh tráng thì để hàng trai tơ Chỉ mấy giang hồ, bánh bèo đớp sạch 8. Ai mà nói dối cùng ai Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng Ai mà nói dối cùng chồng Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao 9. Ai nhứt thì tôi đứng nhì Ai mà hơn nữa, tôi thì thứ ba 10. Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần 11. Ai ơi, chơi lấy kẻo già Măng mọc có lứa, người ta có thì Chơi Xuân kẻo hết Xuân đi Cái già sòng sọc nó thì theo sau 12. Ai ơi, chớ lấy chồng chung Chồng chung hai vợ, một mùng Day qua con vợ nọ, chọc khùng con vợ kia 13. Ai ơi chớ lấy học trò Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm Hay nằm thời có võng đào Dài lưng thời có áo chào nhà vua Hay ăn thời có gạo kho Việc gì mà chẳng ăn no lại nằm 14. Ai ơi, chớ nghĩ mình hèn Nước kia dù đục lóng phèn cũng trong 15. Ai ơi chớ vội cười nhau Cười người hôm trước hôm sau người cười 16. Ai ơi chớ vội cười nhau Nhìn mình cho tỏ trước sau hãy cười 17. Ai ơi chẳng chóng thì chầy Có công mài sắt, có ngày nên kim 18. Ai ơi đã quyết thì hành Ðã đốn thì vác cả cành lẫn cây 19. Ai ơi ở chí cho bền Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai 20. Ai phụ tôi có đất trời chứng giám Phận tôi nghèo, tôi không dám phụ ai Tưởng giếng sâu, tôi nối sợi dây dài Ai dè giếng cạn, tiếc hoài sợi dây 21. Ai về ai ở mặc ai Áo dà ở lại, đến mai hãy về 22. Ai về ai ở mặc ai Thiếp như sầu đượm thắp hoài năm canh 23. Ai về Bình Ðịnh mà coi Ðàn bà cũng biết múa roi, đi quờn (quyền) 24. Ai về cho thiếp theo cùng Ðói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam. 25. Ai về em gởi bức thơ Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao Non kia ai đắp mà cao Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu 26. Ai về tôi gửi buồng cau Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy 27. Ăn cháo, đá bát 28. Ăn một buổi giỗ, chạy ba cánh đồng 29. Ăn bữa giỗ, lỗ bữa cày 30. Ăn nhả xương, ăn đường nuốt chậm 31. Ăn cây nào, rào cây nấy 32. Ăn chưa no, lo chưa tới 33. Ăn cơm không rau như nhà giàu chết không nhạc 34. Ăn cơm có canh như tu hành có bạn 35. Ăn cơm mới, nói chuyện cũ 36. Ăn dầm, nằm dề 37. Ăn đi giỗ trước, lội nước theo sau 38. Ăn được, ngủ được là tiên Không ăn không ngủ, mất tiền thêm lo 39. Ầu ợ Ví dầudẫudâu Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng 40. Ăn gửi, nằm nhờ 41. Ăn hết đánh đòn, ăn còn mất vợ 42. Ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa 43. Ăn mày quen ngõ 44. Ăn miếng chả, trả miếng nem 45. Ăn ngay, nói thẳng 46. Ăn ngay ở thật, mọi tật mọi lành 47. Ăn nhai, nói nghĩ 48. Ăn như xáng xúc, làm như lục bình trôi 49. Ăn no, ngủ kỹ 50. Ăn no tức bụng, làm lắm cực thân 51. Ăn ốc, nói mò 52. Ăn sao cho được mà mời Thương sao cho được vợ người mà thương 53. Ăn sung ngồi gốc cây sung Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm 54. Ăn tàn ăn mạt, ăn nát cửa nhà Con gà nuốt trộng, bống nuốt tươi 55. Ăn, thì ăn những miếng ngon, Làm thì chọn việc cỏn con mà làm. 56. Ăn thì vùa, thua thì chạy 57. Ăn trái nhớ kẻ trồng cây Uống nước nhớ người đào giếng 58. Ăn trông nồi, ngồi trông hướng 59. Anh buồn có chỗ thở than Em buồn như ngọn nhang tàn nửa khuya 60. Anh đánh thì em chịu đòn Tánh em hoa nguyệt, mười con chẳng chừa 61. Anh đâu phải mê bông quế mà bỏ phế cái bông lài Quế thơm ban ngày, lài ngát ban đêm 62. Anh đi đường ấy xa xa Ðể em ôm bóng trăng tà năm canh Nước non một gánh chung tình Nhớ ai ai có nhớ mình hay chăng 63. Anh đi em một ngó chừng Ngó sông sông rộng, ngó rừng rừng sâu 64. Anh đi em một ngó chừng Ngó trăng trăng lặn, ngó rừng rừng sâu 65. Anh đi, em ở lại nhà Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ Lầm than bao quản muối dưa Anh đi, anh liệu ganh đua với đời 66. Anh đi kiệu lộng ba bông Bỏ em cấy lúa đồng không một mình 67. Anh em như thể tay chân. 68. Anh gặp em hồi đứng bóng đang trưa Trách trời sao vội tối, anh chưa phân cạn lời 69. Anh Hai, anh tính đi “mô”? Tôi đi chợ Tết, mua khô thiều 70. Anh hít cái bông bưởi, anh còn hửi cái bông cam Anh thích nấm tràm, anh lại ham nấm mối 71. Anh lấy được em bỏ công ao ước Em lấy được anh thỏa dạ ước ao 72. Anh mau thức dậy học bài Mong cho anh sớm thành tài Trước làm đẹp mặt nở mày mẹ cha Sau là không phụ tình ta bao ngày 73. Anh này rõ khéo làm ăn Ði cày chẳng biết, chít khăn mượn người 74. Anh nói với em nhiều tiếng thâm trầm Nằm đêm nghĩ lại nát bằm lá gan 75. Anh ơi, anh giận em chi Anh muốn vợ bé, em thì lấy cho 76. Anh ơi, anh ở lại nhà Thôi đừng vui thú nguyệt hoa chơi bời Còn tiền kẻ rước, người mời Hết tiền, chẳng thấy một người nào ưa 77. Anh ơi đã có vợ chưa? Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào Mẹ già anh ở nơi nao Ðể em tìm vào hầu hạ thay anh 78. Anh ơi em chẳng lấy đâu Anh đừng cạo mặt, nhổ râu tốn tiền 79. Anh ơi nơm xong chưa Xuồng em neo đợi chờ trưa anh về 80. Anh thương em, thương quấn thương quít Anh bồng ra gốc mít, anh bồng khít gốc chanh Anh bồng quanh đám sậy, anh bồng bậy vô mui Anh bồng lui sau lái, anh bồng ngoáy trước mũi 81. Anh thương em trầu hết lá lươn Cau hết nửa vườn, cha mẹ nào hay Dầu mà cha mẹ có hay Nhứt đánh nhì đày, hai lẽ mà thôi Gươm vàng để đó em ôi Chết thì chịu chết, lìa đôi anh không lìa 82. Anh về đô thị hôm nao Gió lay cây choại, lệ trào mi em 83. Anh về em chẳng dám đưa Hai hàng nước mắt như mưa tháng Mười 84. Anh về làm rể ăn cơm với Em về làm dâu ăn rau má với rạm đồng 85. Anh với em mà tựa vai kề Nay dù em có lạc Sở sang Tề Thì em cũng nên gởi thơ về một lá đặng anh hay 86. Ao có bờ, sông có bến 87. Ao sâu thì lắm ốc nhồi, Chồng mình lịch sự nửa người nửa ta Ghen lắm thì đứt ruột ra, Chồng mình sẽ tới tay ta phen này 88. Áo dài, chớ tưởng là sang, Bởi không áo ngắn, mới mang áo dài 89. Áo mặc sao qua khỏi đầu 90. Ầu ợ Anh về bán đất cây da Ðể khuya em đắp gió Tây lạnh lùng 91. Ầu ợ Bồng bống bồng bồng Lớn lên con phải cố công học hành Thứ nhất học đạo làm người Con đừng lêu lổng kẻ cười người chê 92. Ầu ợ Cháu ơi cháu ngủ cho lâu Mẹ cháu đi cấy đồng sâu chưa về Bắt được con trắm con trê Tròng cổ mang về bà cháu mình ăn 93. Ầu ợ Chim quyên lẻ bạn, than thở một mình Bây giờ mình lẻ bạn (ơ) một mình, mình thở than 94. Ầu ợ Em tôi khát sữa bú tay Ai cho bú thép ngày rày mang ơn 95. Ầu ợ Gió đưa gió đẩy, Về rẫy ăn còng Về sông ăn cá, về đồng ăn cua 96. Ầu ợ Má ơi đừng đánh con đau Ðể con hát bội làm đào má coi 97. Ầu ợ Má ơi đừng đánh con đau Ðể con bắt hái rau má dùng Bắt cá, lội trên đàng Hái rau, rau héo. Hỏi sao má dùng hả con? . 98. Ầu ợ Mười hai giờ kiểng đổ nhà thờ Sao anh không học đặng nhờ tấm thân? 99. Ầu ợ Quạ kêu nam đáo nữ phòng Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương Liệu bề đát được thì đương Ðừng gầy rồi bỏ thói thường cười chê 100. Ầu ợ Ví dầu bống đánh đu Tôm càng hát bội, thu cầm chầu 101. Ầu ợ Ví dầu lóc nấu canh Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm 102. Ầu ợ Ví dầu tình bậu muốn thôi Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra Bậu ra bậu lấy ông câu Bậu câu bống chặt đầu kho tiêu Kho tiêu kho ớt kho hành Kho ba lượng thịt để dành mẹ ăn . lại nhà Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ Lầm than bao quản muối d a Anh đi, anh liệu ganh đua với đời 66. Anh đi kiệu lộng ba bông Bỏ em cấy l a đồng không. chợ Tết, mua khô cá thiều 70. Anh hít cái bông bưởi, anh còn hửi cái bông cam Anh thích nấm tràm, anh lại ham nấm mối 71. Anh lấy được em bỏ công ao ước Em

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Có Ai Biết Ca Dao Tục Ngữ Về Bà Rịa Không?
  • 38 Câu Thành Ngữ Trong Tiếng Anh Dễ Nhớ Nhất Với Người Việt
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Món Ăn, Ăn Uống, Ẩm Thực
  • Ca Dao Tục Ngữ Trong Ẩm Thực Việt Nam Pot
  • Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”

    --- Bài mới hơn ---

  • Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá
  • Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của
  • Con Trâu Trong Văn Học Dân Gian
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu
  • Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu
  • 1. Hà Nội, ba sáu phố phường

    Hàng mật, hàng đường, hàng muối trắng tinh

    Từ ngày ta phải lòng mình

    Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen

    2. Hàm chó, vó ngựa

    3. Hát bội làm tội người ta

    Ðàn ông bỏ vợ, đàn bà bỏ con

    4. Hát hay không bằng hay hát

    5. Hèn lâu mới gặp thầy Hai

    Thuận tay điếu hút, điếu vấn, điếu vắt lỗ tai

    6. Hèn mà làm bạn với sang

    Kẻ ngồi người đứng có ngang nhau bao giờ

    7. Hổ phụ sanh hổ tử, lân mẫu xuất lân nhi

    8. Hổ xuống bình nguyên bị chó lờn

    9. Hoa thơm, ai chẳng muốn đeo

    Người khôn, ai nỡ cứ theo nặng lời

    10. Hoa thơm ai chẳng nâng niu

    Người khôn ai chẳng mến yêu mọi bề

    11. Hoành hoạch, hoành hoạch

    Giặt áo chồng tao

    Giặt áo phải giặt cho sạch

    Phơi áo thì phơi trên sào

    Ðừng phơi hàng rào rách áo chồng tao

    12. Họa hổ họa bì, nan họa cốt

    Tri nhân tri diện, bất tri tâm

    13. Hoạ vô đơn chí, phúc bất trùng lai

    14. Học ăn, học nói, học gói, học mở

    15. Học đi đôi với hành

    16. Học hành thi cử mà chi

    Sáng sáng ăn no, tối ngủ khì

    17. Học thầy không tầy học bạn

    18. Học trò đi mò cơm nguội

    Lỡ trượt vỏ dưa, té cái đụi, la trời

    19. Học trò thò lò mũi xanh

    Cầm miếng bánh đúc, chạy quanh nhà thầy

    20. Hỏi vợ thì cưới liền tay

    Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha

    21. Hôm nay có đám giỗ gần

    Trong bụng bần thần, chẳng muốn nấu cơm

    22. Hôm qua anh đến chơi nhà

    Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường

    Thấy em nằm đất. anh thương

    Anh đi mua gỗ đóng giường tám thang

    Bốn góc thì anh bịt vàng

    Bốn chân bịt bạc, tám thang chạm rồng

    23. Hôm qua tát nước đầu đình

    Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen

    Em bắt được thì cho anh xin

    Hay là em để làm tin trong nhà

    Áo anh sứt chỉ đường tà

    Vợ anh chưa có, Mẹ già chưa khâu

    Áo anh sứt chỉ đã lâu

    Mai mượn cô ấy sang khâu cho dùm

    Khâu rồi anh sẽ trả công

    Mai mốt lấy chồng anh sẽ giúp cho

    Giúp em một thúng xôi vò

    Một con lợn béo, một vò rượu tăm

    Giúp em đôi chiếu em nằm

    Ðôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo

    Giúp em quan tám tiền cheo

    Quan hai tiền cưới, lại đèo buồng cau

    24. Hòn đất mà biết nói năng

    Thì thầy địa lý hàm răng không còn

    25. Hỗn như gấu

    26. Hơn nhau manh aó, tấm quần

    Cởi ra mình trần, ai cũng như ai

    27. Hỡi cô tát nước bên đàng

    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

    28. Hỡi người kẻ đóng then gài

    Có hay, có biết kẻ ngoài trùng dương

    29. Huệ nhớ thương Lan, héo vàng xác Huệ

    Anh quá thương nàng, trối kệ thị phi

    30. Hút sách là chuyện chẳng lành

    Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây

    31. Hùm dữ chẳng ăn thịt con

    Há miệng chờ ho.

    Há miệng mắc quai.

    Hà tiện mà ăn cháo hoa,

    Đồng đường đồng đậu cũng ra ba đồng.

    Hà tiện vắt cổ chày ra nước.

    Hàng thịt nguýt hàng cá.

    Hai tay bưng quả bánh bò,

    Ggiấu cha giấu mẹ cho trò đi thi.

    Hai tay cầm hai quả hồng,

    Quả chát phần chồng quả ngọt phần trai,

    Nằm đêm vuốt bụng thở dài,

    Thương chồng thì ít thương trai thì nhiều.

    Hai tay vun lỗ miệng.

    Ham một đĩa bỏ một mâm.

    Ham ăn mắc bẫy.

    Hay đi đêm có ngày gặp ma.

    Hay đi chợ để nợ cho con.

    Hay chữ chẳng bằng dữ đòn.

    Hay làm mà chẳng hay lo,

    Làm chi cho lắm, làm cho nhọc mình.

    Hay ở, dở cút đi.

    Hay quần hay áo hay lời,

    Mà chẳng hay người là của bỏ đi.

    Hay thì khen, hèn thì chê.

    Hay ăn thì đói, hay nói thì sai.

    Hay ăn thì lăn vào bếp, ai khen cái nết hay ăn.

    Hãy cho bền chí câu cua,

    Dù ai câu chạch câu rùa mặc ai.

    Hạt tiêu nó bé nó cay,

    Đồng tiền nó bé, nó hay cửa quyền.

    Hẩm duyên lấy phải chồng đần,

    Có trăm mẫu ruộng bán dần mà ăn.

    Hết khôn, dồn dại.

    Hết nạc vạc đến xương.

    Hết rên quên thầy.

    Hết xôi rồi việc.

    Hễ chung thì chạ.

    Hèn mà làm bạn với sang,

    Chỗ ngồi chỗ đứng có ngang bao giờ.

    Hiền như bụt.

    Hiểm nghèo như gươm treo sợi tóc.

    Ho ra bạc khạc ra tiền.

    Hoài cành mai cho cú đậu.

    Hoài hơi mà đấm bị bông,

    Đấm được bên nọ nó phồng bên kia.

    Hoài lời nói kẻ vô tri,

    Một trăm gánh chì đúc chẳng nên chuông.

    Hoài thóc ta cho gà người bới.

    Hoài tiền mua pháo đốt chơi,

    Pháo nổ ra xác, tiền ôi là tiền.

    Hoa mất nhị, lấy gì làm thơm.

    Hoa sen mọc bãi cát đầm,

    Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen

    Hoa thơm đánh cả cụm.

    Hoa thơm ai chẳng muốn đeo,

    Người khôn ai chẳng nâng niu bên mình.

    Hoa thơm ai chẳng nâng niu,

    Người khôn ai chẳng kính yêu mọi đàng.

    Hoa thơm ai nỡ bỏ rơi,

    Người khôn ai nỡ nặng lời với ai.

    Hoa thơm bán một đồng mười,

    Hoa tàn nhị rữa bán đôi lạng vàng.

    Hoa thơm bướm đậu, hoa tàn bướm bay.

    Hoa thơm mất nhụy (nhị) đi rồi,

    Còn thơm đâu nữa mà người ước mơ

    Dù rằng trang điểm cũng người vô duyên.

    Hoa thơm mất nhụy đi rồi,

    Dù rằng trang điểm cũng người vô duyên.

    Hoa thơm thơm lấy cả rừng,

    Ong chưa dám đậu, bướm đừng xôn xao.

    Hoa thơm, thơm lạ thơm lùng,

    Thơm cây thơm rễ, người trồng cũng thơm.

    Hòn đất mà biết nói năng,

    Thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn.

    Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại.

    Học chả hay, cày chả biết.

    Học chẳng biết chữ cu chữ cò,

    Nói những chữ như rồng như rắn.

    Học hành thì ích vào thân,

    Chức cao quyền trọng dần dần theo sau.

    Học như quốc kêu mùa hè.

    Học tài thi phận.

    Học thầy không tầy học bạn.

    Học thì dốt, vợ tốt thì muốn.

    Học trò đèn sách hôm mai,

    Ngày sau thi đỗ nên trai mới hào,

    Làm nên quan thấp quan cao,

    Làm nên lọng tía võng đào ngênh ngang.

    Học trò học trò học trò,

    Chưa lo ba chữ đã lo vét nồi.

    Học ăn học nói, học gói học mở.

    Hôi như cú.

    Hỏi sư mượn lược.

    Hỏi vợ thì cưới liền tay,

    Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha.

    Hôm nay mười bốn mai rằm,

    Ai muốn ăn oản nên nằm với sư.

    Hồn rằng hồn thác ban ngày,

    Thương con nhớ vợ hồn này thác đêm.

    Hỗn như gấu.

    Hồng nhan ai kém ai đâu,

    Kẻ xe chỉ thắm, người xâu hạt vàng.

    Hồng nhan bạc phận.

    Hổ chết để da, người ta chết để tiếng.

    Hơi đâu mà giận người dưng,

    Bắt đâu được mấy chim rừng nó bay.

    Hơn nhau tấm áo manh quần,

    Thả ra bóc trần ai cũng như ai.

    Hỡi cô gánh nước quang mây,

    Cho tôi một gáo tưới cây ngô đồng,

    Cây ngô đồng cành cao cành thấp,

    Ngọn ngô đồng lá dọc lá ngang.

    Từ ngày anh gặp mặt nàng,

    Lòng càng ngao ngán dạ càng ngẩn ngơ.

    Hỡi cô má đỏ hồng hồng,

    Cô bao nhiêu tuổi có chồng hay chưa?

    Hỡi cô tát nước bên đàng,

    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

    Hỡi cô thắt giải lưng xanh,

    Ngày ngày thấp thoáng trong mành trông ai.

    Hỡi cô yếm thắm bùa đeo,

    Chồng cô cô bỏ cô theo chồng người.

    Huynh đệ bất hòa là nhà hết phúc.

    Hùm dữ chẳng ăn thịt con.

    Hương năng thắp năng khói, Lời năng nói, năng lỗi (lời nói).

    Hứng tay dưới, đỡ tay trên.

    Hữu sự thì vái tứ phương,

    Vô sự đồng hương không mất.

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • 36 Cụm Thành Ngữ Tiếng Hàn Dễ Thuộc Nhất
  • Học Tiếng Hàn Qua Những Câu Thành Ngữ, Tục Ngữ Hay
  • Một Số Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô
  • Bắc Ninh Đất Miền Cổ Tích
  • Ẩm Thực Hà Nội Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Tìm Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng “thân Em” Và “rủ Nhau”

    --- Bài mới hơn ---

  • 13 Câu Nói Để Đời Của Doanh Nhân Thế Giới
  • Những Stt Về Lời Phật Dạy Trong Cuộc Sống Để Chúng Ta Tâm An
  • Bí Quyết Giúp Bạn Vượt Qua Nỗi Buồn
  • 40+ Câu Nói Hay Về Người Say Rượu, Stt Hay Về Nhậu Nhẹt, Về Rượu Và Tình Yêu
  • Những Câu Nói Hay Về Âm Nhạc: 80+ Stt, Danh Ngôn Hay
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Lời Chúc Sức Khỏe Cho Người Bệnh
  • Những Lời Chúc Ngủ Ngon Ngọt Ngào Cho Người Yêu
  • Trở Về Tuổi Thơ Với Những Câu Nói Hay Trong 7 Viên Ngọc Rồng
  • Tổng Hợp Những Câu Nói Hay Nhất Về Cha Mẹ
  • Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Cho Cha Tình Cảm Và Sâu Sắc Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín

    --- Bài mới hơn ---

  • Gia Vị Qua Ca Dao Tục Ngữ Việt
  • 500 Câu Thành Ngữ, Tục Ngữ Và Ca Dao Của Xứ Nghệ Tĩnh
  • Du Lịch Về Xứ Quảng Nam Qua Những Vần Ca Dao
  • Ca Dao Về Xứ Quảng
  • Văn Học Dân Gian, Ca Dao, Mỹ Học, Âm Nhạc
  • Ca dao tục ngữ về giữ chữ tín

    Chữ tín là gì?

    Có thể hiểu đơn giản chữ tín tức là lòng tin của bạn đối với một cá nhân hay tập thể nào đó.

    Chữ tín có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống của con người, và đặc biệt nhất là trong quan hệ giao tiếp. giữ chữ tín tức là giữ thể diện cho bản thân uy tín, và giữ cho nhân cách đạo đức của chính mình. Ngoài ra chữ tín cũng giúp chúng ta cân bằng và bảo đảm hài hòa giữa các nhu cầu cá nhân trong xã hội.

    Ca dao tục ngữ về giữ chữ tín.

    Tục ngữ

    1.

    Một lần bất tín, vạn lần bất tin.​

    Nghĩa là nếu một lần bạn đã thất hứa, thì sau này người ta sẽ không tin bạn nữa.

    2.

    Quân tử nhất ngôn​

    Người quân tử chỉ nói một lời, tức đàn ông đã hứa là phải làm

    3.

    Giấy rách còn giữ lấy lề​

    Mặc dù khó khăn, gian khổ nhưng vẫn giữ được lòng tin, đức hạnh và sự tín nhiệm đối với những người khác.

    4.

    Chữ tín còn quý hơn vàng.​

    Tức nói vàng không mua được chữ tín.

    5.

    Hứa hươu, hứa vượn​

    Hứa này, hứa kia, hứa các kiểu mà chẳng bao giờ làm

    6.

    Treo đầu dê, bán thịt chó.​

    Ám chỉ những người thất hứa, không có chữ tín

    7.

    Rao mật gấu, bán mật heo​

    Ám chỉ những người thất hứa, không có chữ tín

    8.

    Rao ngọc, bán đá​

    Ám chỉ những người thất hứa, không có chữ tín

    9.

    Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy.​

    Ý muốn nói người quân tử đã làm mất lòng tin thì 4 ngưa sẽ xé xác (câu này thường gặp trong phim cổ trang Trung Quốc)

    10.

    Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng.​

    Để có được lòng tin từ người khác thì bạn trải qua biết bao điều, tuy nhiên chỉ 1 lần thất hứa bạn sẽ không còn lòng tin từ người khác.

    11.

    Nhất ngôn cửu đỉnh​

    Ý nói rằng một lời nói đã lọt qua 9 cái đầu của hàm rang rồi thì khó lòng mà rút lại được.

    12.

    Lời nói như đinh đóng cột​

    Đã nói ra thì chắc chắn phải thực hiện

    13.

    Bảy lần từ chối còn hơn một lần thất hứa

    Thà bạn từ chối không làm, còn hơn là nhận lời mà không làm chắc chắn sẽ mất lòng tin với người khác.

    Ca dao

    1.

    Người sao một hẹn thì nên

    Người sao chín hẹn thì quên cả mười​

    Có người thì hẹn một lần nhưng đều thực hiện được, giữ đúng lời hứa, Có người thì hẹn chín lần nhưng quên tới cả mười lần, tức là không thực hiện

    2.

    Nói lời phải giữ lấy lời

    Đừng như con bướm đậu rồi lại bay​

    Đã nói ra thì phải đảm bảo lời nói, đã hứa thì phải làm.

    3.

    Nói chín thì phải làm mười

    Nói mười làm chín, kẻ cười người chê.​

    Ý nghĩa của câu nói trên là nói ít, hứa hẹn ít mà chăm chỉ làm sẽ được mọi người yêu quý; còn nói nhiều, hứa hẹn nhiều mà lại làm ít thì chỉ là kẻ ba hoa, lười biếng, luôn bị người đời cười chê.

    4.

    Kiếm củi ba năm, thiêu một giờ

    Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng​

    Ý muốn nói làm ra, gây dựng lên thì khó, nhưng hủy hoại, phá đi thì lại quá dễ, nên cần phải biết trân trọng những thành quả đã làm ra, và làm gì cho xứng đáng với điều đó.

    5.

    Hay gì lừa đảo kiếm lời

    Cả nhà ăn uống, tội trời riêng mang.

    Nói rằng làm người phải sống ngay thẳng và có chữ tín, đừng đi lừa đảo người khác sau đó những tội lỗi đều riêng bản thân mình phải nhận lấy.

    Thank For Watching !!!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín Hay Gặp Nhất
  • Tục Ngữ Nói Về Con Rắn
  • Rắn Và Thành Ngữ Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Dí Dỏm Về Răng Miệng
  • Rừng Trong Văn Học Việt Nam
  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Về Chữ Ăn

    --- Bài mới hơn ---

  • Ẩm Thực Xa Xưa Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Ca Dao
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Hay Nhất
  • Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam + Nghề Buôn Bán
  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ về chữ ĂN

    Ăn Bắc nằm Nam

    Ăn bánh trả tiền

    Ăn bánh vẽ

    Ăn bát cháo chạy ba quãng đồng

    Ăn bát cơm đầy nhớ ngày gian khổ

    Ăn bát cơm dẻo nhớ nẻo đường đi

    Ăn bát cơm nhớ công ơn cha mẹ

    Ăn bát mẻ nằm chiếu manh

    Ăn bát Đại Thanh nằm chiếu miếng

    Ăn bất thùng chi thình

    Ăn bậy nói càn

    Ăn bền tiêu càn

    Ăn biếu ngồi chiếu cạp điều

    Ăn biếu ngồi chiếu hoa

    Ăn bơ làm biếng

    Ăn bốc ăn bải

    Ăn bòn dòn tay

    Ăn mày say miệng

    Ăn bóng nói gió

    Ăn bớt bát nói bớt lời

    Ăn bớt cơm chim

    Ăn bữa giỗ lỗ bữa cày

    Ăn bữa hôm lo bữa mai

    Ăn bừa mứa (bừa bứa)

    Ăn bữa sáng dành bữa tối (lo bữa tối)

    Ăn bữa trưa chừa bữa tối

    Ăn bún thang cả làng đòi cà cuống

    Ăn buổi giỗ, lỗ buổi cày

    Một ngày ăn giỗ, ba ngày hút nước.

    Ăn cá bỏ lờ

    Ăn cả cứt lẫn đái

    Ăn cà ngồi cạnh vại cà

    Lấy anh thì lấy đến già mới thôi

    Ăn cá nhả xương ăn đường nuốt chậm

    Ăn cái rau trả cái dưa

    Ăn cầm chừng

    Ăn cam nằm gốc cây cam

    Lấy anh thì lấy, về Nam không về

    Ăn cám xú

    Ăn cận ngồi kề

    Ăn càn nói bậy (nói bừa)

    Ăn canh cả mặn

    Ăn canh không chừa cặn

    Ăn cắp ăn nẩy

    Ăn cắp như ranh

    Ăn cắp quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn cắp vặt

    Ăn cáy bưng tay

    Ăn cây nào rào cây nấy

    Ăn cây sung ngồi gốc cây sung

    Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm

    Ăn cây táo rào cây sung (xoan) (táo) (nhãn)

    Ăn cay uống đắng

    Ăn chắc để dành

    Ăn chắc mặc bền (mặc dày)

    Ăn chẳng (Ăn chả) bõ nhả

    Ăn chẳng có khó đến mình (đến thân) (đến lần)

    Ăn chẳng đến no lo chẳng đến phận

    Ăn chẳng hết thết chẳng khắp

    Ăn chẳng nên đọi nói chẳng nên lời

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh

    Khuyên cội, khuyên cành, khuyên lá, khuyên bông

    Khuyên cho đó vợ đây chồng

    Đó bế con gái, đây bồng con trai

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (2)

    Bác mẹ gả ép (bán) cho anh học trò

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (3)

    Thầy mẹ gả bán cho anh thật thà.

    Bây giờ chê xấu chê xa,

    Chê cửa chê nhà, chê khó chê khăn.

    Ở đâu yểu điệu thanh tân,

    Sao anh chẳng chịu cầm cân đi lừả

    Vàng mười đắt mấy sao anh chẳng muả,

    Cầm cân đi lừa lại phải thau năm!

    Thau năm đánh lẫn vàng mười

    Rồng vàng cuộn khúc đứt đuôi thằn lằn.

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (4)

    Lấy anh thì lấy, về Thanh không về

    Ăn cháo báo hại cho con

    Ăn cháo đá bát (đái bát)

    Ăn cháo để gạo cho vay

    Ăn cháo lá đa

    Ăn cháo lú (cháo thí)

    Ăn chắt để dành

    Ăn châu chấu ỉa ông voi

    Ăn chay nằm đất

    Ăn chay niệm Phật

    Ăn cho buông so

    Ăn chó cả lông

    Ăn hồng cả hột

    Ăn cho đều tiêu cho sòng (cho khắp)

    Ăn cho no đo cho thẳng

    Ăn chơi cho đủ mọi mùi

    Khi buồn thuốc phiện, khi vui nhơn tình

    Ăn chơi cho hết tháng Hai

    Để làng vào đám cho trai dọn đình

    Trong thời trống đánh rập rình

    Ngoài thời trai gái tự tình cùng nhau

    Ăn chơi khắp bốn phương trời

    Cho trần biết mặt, cho đời biết tên

    Ăn chưa no lo chưa tới

    Ăn chưa sạch bạch chưa thông

    Ăn chưa tàn miếng trầu

    Ăn chực đòi bánh chưng

    Ăn chực nằm chờ

    Ăn chung mủng riêng

    Ăn chung ở chạ (ở lộn)

    Ăn chuối không biết lột vỏ

    Ăn có chỗ đỗ có nơi

    Ăn có chủ ngủ có công đường

    Ăn cỗ đi trước lội nước đi sau (theo sau)

    Ăn có giờ làm có buổi

    Ăn có mời làm có khiến

    Ăn cỗ muốn chòi mâm cao

    Ăn có nhai nói có nghĩ

    Ăn cỗ nói chuyện đào ao

    Ăn có nơi làm (ngồi) có chốn

    Ăn cỗ phải lại mâm

    Ăn có sở ở có nơi

    Ăn có thời chơi có giờ

    Ăn coi nồi ngồi coi hướng

    Ăn cơm ba chén lưng lưng (*)

    Uống nước cầm chừng để dạ thương em

    Ăn cơm chưa biết trở đầu đũa

    Ăn cơm chúa múa tối ngày

    Ăn cơm chùa ngọng miệng

    Ăn cơm có canh như tu hành có bạn

    Ăn cơm có canh tu hành có vãi

    Ăn cơm gà gáy, cất binh nửa ngày

    Ăn cơm hom ngủ giường hòm

    Ăn cơm hớt

    Ăn cơm hớt thiên hạ

    Ăn cơm không rau

    Như đánh nhau không người gỡ

    Ăn cơm không rau như đau không thuốc

    Ăn cơm làm cỏ chăng bỏ đi đâu

    Ăn cơm lừa thóc ăn cóc bỏ gan

    Ăn cơm mới nói chuyện cũ

    Ăn cơm nguội nằm nhà ngoài (nhà sau)

    Ăn cơm nhà làm chuyện thiên hạ

    Ăn cơm nhà nọ kháo cà nhà kia

    Ăn cơm nhà thổi tù và hàng tổng

    Ăn cơm nhà vác bài ngà cho quan

    Ăn cơm nhà vác ngà voi

    Ăn cơm Phật đốt râu thầy chùa

    Ăn cơm Phật lật đật cả ngày

    Ăn cơm nhà bay thẳng tay mà ngủ

    Ăn cơm sao đặng mà mời

    Nước mắt lênh láng rã rời hạt cơm

    Mình ơi đừng đặng cá quên nơm

    Đôi ta gá nghĩa danh thơm để đời

    Cóc nghiến răng còn động đến lòng trời

    Sao mình chẳng tưởng mấy lời em than

    Ăn cơm tấm ấm ổ rơm

    Ăn cơm Tàu ở nhà Tây lấy vợ Nhật

    Ăn cơm trên nói hớt

    Ăn cơm với cáy thì ngáy o o…

    Ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy

    Ăn cơm với mắm phải ngắm về sau

    Ăn cơm với rau phải ngắm sau ngắm trước

    Ăn cơm với thịt bò thì lo ngay ngáy

    Ăn của Bụt thắp hương cho Bụt (thờ Bụt)

    Mía sâu có đốt nhà dột có nơi

    Nghèo hèn giữa chợ ai chơi

    Giàu sang trong núi nhiều người tới thăm

    Ăn của chùa phải quét lá đa

    Ăn của ngon mặc của tốt

    Ăn của người phải làm việc cho người

    Ăn của người ta rồi ra phải trả

    Ăn của người vâng hộ người

    Ăn của rừng rưng rưng nước mắt

    Ăn cùng chó ló xó cùng ma

    Ăn cướp cơm chim

    Ăn cứt không biết thối

    Ăn đã vậy múa gậy làm sao (thì sao)

    Ăn đã vậy múa gậy vườn hoang

    Ăn đã vậy nói làm sao

    Ăn dầm nằm dề

    Ăn đàn anh làm đàn em

    Ăn đằng sóng nói đằng gió

    Ăn đầu sóng nói đầu gió

    Ăn đấu trả bồ

    Ăn đầy bụng ỉa đầy bồ

    Ăn đây nói đó

    Ăn dè dặt

    Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn

    Ăn dè xẻng

    Ăn đến nơi làm đến chốn

    Ăn đều tiêu sòng

    Ăn đi trước lội nước theo sau

    Ăn đổ ăn vãi

    Ăn đỡ làm giúp

    Ăn đổ làm vỡ

    Ăn dơ ở bẩn

    Ăn dò sau cho dò trước

    Ăn độc chốc đít

    Ăn đói mặc rách

    Ăn đợi nằm chờ

    Ăn đói nằm co

    Ăn đời ở kiếp

    Ăn đồng chia đủ

    Ăn đong cho đáng ăn đong

    Lấy chồng cho đáng hình dong con mgười! (tấm chồng)

    Ăn đua cho đáng ăn đua

    Lấy chồng cho đáng (để gánh) việc vua việc làng

    Ăn dùa thua chịu (thua giựt)

    Ăn dưng ở nể

    Ăn được ngủ được là tiên

    Ăn ngủ không được là tiền vứt đi (mất tiền thêm lo)

    Ăn đứt thiên hạ

    Ăn gạo tám chực đình đám mới có

    Ăn già ăn non

    Ăn giả vạ thật

    Ăn gian nói dối

    Ăn gian nói dối đã quen

    Nhút nhát như thỏ, bao phen dối người

    Ăn gio bọ trấu

    Ăn giỗ đi trước lội nước đi sau (theo sau)

    Ăn gió nằm sương

    Ăn gỏi chẳng cần (không cần) lá mơ

    Ăn gởi nằm nhờ

    Ăn ha hả trả ngùi ngùi

    Ăn hại đái nát

    Ăn ham chắc mặc ham dày

    Ăn hàng con gái đái hàng bà già (bà lão)

    Ăn hết cả phần cơm chó

    Ăn hết cả phần con phần cháu

    Ăn hết đánh đòn ăn còn mất vợ

    Ăn hết mâm trong ra mâm ngoài

    Ăn hết nạc vạc đến xương (tới xương)

    Ăn hết nhiều ở hết bao nhiêu

    Ăn hết nước hết cái

    Ăn hết phần chồng phần con

    Ăn hiền ở lành

    Ăn hóc học nên

    Ăn hối lộ

    Ăn hơn hờn thiệt

    Đánh thiệt đuổi đi

    Làm chi thì làm

    Ăn hơn nói kém

    Ăn hương ăn hoa

    Ăn ít mau tiêu ăn nhiều tức bụng

    Ăn ít ngon nhiều

    Ăn đều tiêu sòng

    Ăn ít no dai, Ăn nhiều tức bụng

    Ăn ít no lâu ăn nhiều mau đói

    Ăn ít no lâu hơn ăn nhiều chóng đói

    Ăn khoan ăn thai vừa nhai vừa nghĩ

    Ăn không biết chùi mép (chùi miệng)

    Ăn không biết dở đầu đũa (trở đầu đũa)

    Ăn không biết lo của kho cũng hết

    Ăn không biết no lo chẳng tới

    Ăn không biết no vô lo vô nghĩ

    Ăn no ngủ kỹ chổng tỷ lên trời

    Cây cao bóng cả chẳng ngồi

    Ra đứng chỗ nắng trách trời không râm

    Ăn không biết trở đầu đũa

    Ăn không được đạp đổ

    Ăn không được phá cho hôi

    Ăn không được thì bảo rằng hôi

    Ăn không kịp nuốt

    Ăn không kịp thở

    Ăn không nên đọi nói không nên lời

    Ăn không ngồi rồi

    Ăn không ngồi rồi lở đồi lở núi

    Ăn không nói có

    Ăn không ra bữa

    Ăn không rau như đau không thuốc

    Ăn không thì hóc chẳng xay thóc cũng bồng em

    Ăn kiêng ăn khem

    Ăn kiêng cữ

    Ăn kiêng khem

    Ăn kiêng nằm cữ

    Ăn kỹ làm dối

    Ăn kỹ no lâu cày sâu tốt đất

    Ăn kỹ no lâu cày sâu tốt lúa (tốt ruộng)

    Ăn la ăn lết

    Ăn la ăn liếm

    Ăn lắm đau bụng

    Ăn lắm hay no cho lắm hay phiền

    Ăn lắm hết ngon nói lắm hết lời khôn

    Ăn lắm ỉa nhiều

    Ăn làm sao nói làm vậy

    Ăn lắm thì hết miếng ngon

    Nói lắm thì hết lời khôn, hóa rồ

    Ăn lắm trả nhiều

    Ăn lạt mới biết thương mèo

    Ăn lấy chắc mặc lấy bền

    Ăn lấy đặc mặc lấy dày

    Ăn lấy đời chơi lấy thì

    Ăn lấy được

    Ăn lấy hương lấy hoa

    Ăn lấy no mặc lấy ấm

    Ăn lấy thảo

    Ăn lấy thơm lấy tho chứ không lấy no lấy béo

    Ăn lấy vị chứ ai lấy bị mà mang

    Ăn lấy vị không phải ăn lấy bị mà đong

    Ăn lỗ miệng liệng lỗ trôn (tháo lỗ trôn)

    Ăn lời tùy vốn bán vốn tùy nơi

    Ăn lông ở lỗ

    Ăn lúa tháng năm xem (trông) trăng rằm tháng tám

    Ăn lúa tháng mười xem trăng mồng tám tháng tư

    Ăn lúc đói nói lúc say

    Ăn lường ăn quịt vỗ đít chạy làng

    Ăn mặc như đồ ba gà

    Ăn mặc như em quần áo lam lũ

    Thiên hạ cười chê anh vẫn cứ thương

    Ăn mắm lắm cơm

    Ăn mắm mút dòi

    Ăn mắm phải nhắm chén cơm

    Ăn mắm phải ngắm về sau

    Ăn mặn hay khát nước

    Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối

    Ăn mận trả đào

    Ăn mảnh

    Ăn mảnh khảnh

    Ăn mật trả gừng

    Ăn mày ăn xin

    Ăn mày cầm tinh bị gậy

    Ăn mày chẳng tày giữ bị

    Ăn mày chính thực là ta

    Đói cơm rách áo hóa ra ăn mày

    Ăn mày còn đòi sang,

    Ăn mày công đức

    Ăn mày cửa Phật

    Ăn mày đánh đổ cầu ao

    Ăn mày đòi xôi gấc

    Ăn mày hoàn bị gậy

    Ăn mày không tày giữ bị

    Ăn mày mà đòi xôi gấc

    Ăn mày nơi cả thể làm rể nơi nhiều con

    Ăn mày quen ngõ

    Ăn miếng chả trả miếng (giả miếng) nem (bùi)

    Ăn miếng ngon chồng con trả người

    Ăn miếng ngon nhớ chồng con ở nhà

    Ăn miếng ngọt trả miếng bùi

    Ăn miếng trả miếng

    Ăn mít bỏ xơ

    Ăn một bát cháo chạy ba quãng đồng

    Ăn một bát hát một câu

    Ăn một bữa một heo

    Không bằng ngọn gió ngoài đèo thổi vô.

    Ăn một đền mười

    Ăn một đời chơi mội thì

    Ăn một đọi nói một lời

    Ăn một lại muốn ăn hai

    Ăn một mâm nằm một chiếu (một giường)

    Ăn một miếng tiếng để đời

    Ăn một nơi nằm một chốn

    Ăn một nơi ngủ một nẻo

    Ăn một thời chơi một thì

    Ăn muối còn hơn ăn chuối chát

    Ăn mướp bỏ xơ

    Ăn nạc bỏ cùi

    Ăn năn thì sự đã rồi

    Ăn nay lo mai

    Ăn nên đọi nói nên lời

    Ăn nên làm ra

    Ăn nên nợ đỡ nên ơn

    Ăn ngang nói ngược

    Ăn ngập mặt ngập mũi

    Ăn ngấu ăn nghiến

    Ăn ngay nói thẳng chẳng sợ mất lòng

    Ăn ngay nói thật mọi tật mọi lành

    Ăn ngay ở thẳng

    Ăn ngon lành

    Ăn ngon ngủ kỹ

    Ăn ngọn nói hớt

    Ăn ngọt trả bùi

    Ăn ngủ bận như thợ nề

    Chỗ ăn chỗ ở như dê nó nằm

    Hẹn ngày hẹn tháng hẹn năm

    Bao giờ hết hẹn thì nằm mới yên

    Ăn ngủ đụ ỉa

    Ăn ngược nói ngạo

    Ăn nhà chú ngủ nhà cô

    Ăn nhai không kịp

    Ăn nhạt mới biết thương mèo

    Ăn nhiều ăn ít

    Ăn bằng quả quít cho nó cam

    Ăn nhiều ở chẳng bao nhiêu

    Ăn nhịn để dè

    Ăn nhỏ nhẻ

    Ăn nhỏ nhẻ như mèo

    Ăn nhờ ở đậu (ở trọ) (ở đợ)

    Ăn nhờ sống gởi

    Ăn nhồm nhoàm

    Ăn nhồm nhoàm như voi ngốn cỏ

    Ăn như bò ngốn cỏ

    Ăn như cũ ngủ như xưa

    Ăn như gấu ăn trăng

    Ăn như hộ pháp ăn nẻ

    Ăn như hủi ăn thịt mỡ

    Ăn như hùm như hổ

    Ăn như kễnh đổ đó

    Ăn như mèo

    Ăn như mõ khoét

    Ăn như Nam Hạ vác đất

    Ăn như quỷ phá nhà chay

    Ăn như rồng cuốn

    Làm như cà cuống lội ngược

    Ăn như tằm ăn dâu (ăn lẽn) (ăn rỗi)

    Ăn như thần trùng đổ đó

    Ăn như thúng lủng khu

    Ăn như thủy tề đánh vực

    Ăn như thuyền chở mã như ả chơi trăng

    Ăn như tráng làm như lão

    Ăn như xáng xúc làm như lục bình trôi

    Ăn no ấm cật rậm rật mọi nơi

    Ăn no bò cỡi

    Ăn no cho tiếc

    Ăn no đến cổ còn thèm

    Ăn no giậm chuồng

    Ăn no hôm trước lo được hôm sau

    Ăn no lại ngồi mười đời không khá

    Ăn no lo được

    Ăn no mặc ấm ngẫm kẻ cơ hàn

    Ăn no ngủ kỹ

    Ăn no ngủ kỹ chẳng nghĩ điều gì

    Ăn no ngủ kỹ chổng tĩ lên trời

    Ăn no phè phỡn

    Ăn no ra ngả

    Ăn no rồi lại nằm khèo

    Thấy giục trống chèo bề bụng đi xem

    Ăn no rồi lại nằm quèo

    Thấy giục trống chèo vội vã đi xem

    Ăn no rửng mỡ

    Ăn no tận cổ còn thèm

    Ăn no tức bụng

    Ăn no vác nặng

    Ăn nói ác khẩu

    Ăn nồi bảy quăng ra

    Ăn nồi ba đưa vào

    Ăn nồi bảy quăng ra nồi ba quăng vào

    Ăn nói bộp bộp tộp

    Ăn nói bộp chộp

    Ăn nói chanh chua

    Ăn nói chảnh lỏn

    Ăn nói chết cây gẫy cành

    Ăn nói chua ngoa

    Ăn nói chững chạc

    Ăn nói có duyên

    Ăn nói dịu dàng

    Ăn nói dóng đôi

    Ăn nói giọng một

    Ăn nói hồ đồ

    Ăn nói hớ hênh

    Ăn nói hỗn xược

    Ăn nói khiêm tốn

    Ăn nói khúc chiết

    Ăn nói lấp lững

    Ăn nói lễ độ

    Ăn nói luộm thuôm

    Ăn nơi nằm chốn

    Ăn nói ra vẻ

    Ăn nói rành mạch

    Ăn nói thô tục

    Ăn nói từ tốn

    Ăn nói vớ vẩn

    Ăn nói xấc láo

    Ăn nói xấc xược

    Ăn ở có giời

    Ăn ở có thủy có chung

    Ăn ở hai lòng

    Ăn ở thất đức

    Ăn ở thiện thì có thiện thần biết

    Ăn ở ác có ác thần hay

    Ăn ở thủy chung

    Ăn oản của chùa phải quét lá đa

    Ăn ốc nói mò

    Ăn ốc nói mò

    Ăn măng nói mọc

    Ăn cò nói bay

    Ăn ớt nói càn

    Ăn ớt rủi cay, hít hà chịu vậy

    Chớ nhăn mặt nhăn mày, họ thấy cười chê.

    Ăn phải đũa

    Ăn phải mùi chùi phải sạch

    Ăn phải nhai nói phải nghĩ

    Ăn phùng má trợn mắt

    Ăn quả cây táo rào cây thầu dầu

    Ăn quà cho biết mùi quà

    Bánh đúc thì dẻo bánh đa thì dòn

    Ăn quả nhả hạt (nhả hột)

    Ăn quả nhớ kẻ làm vườn

    Uống nước phải nhớ nước nguồn chảy ra

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (2)

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay giần sàng

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (3)

    Có bát cơm đầy, nhớ đến nhà nông

    Đường đi cách bến cách sông

    Muốn qua giòng nước, nhờ ông lái đò!

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (4)

    Uống nước sông nầy nhớ suối từ đâu

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (5)

    Nào ai vun xới (tưới) cho mầy ngồi (được) ăn

    Ta đừng phụ nghĩa vong ân

    Uống nơi nước lã nhớ chừng nguồn kia

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (6)

    Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa

    Ăn quà như mõ khoét

    Ăn quả trả vàng

    Ăn quả vả trả quả sung

    Ăn quẩn cối xay

    Ăn quán ngủ đình

    Ăn quen bén mùi

    Ăn quen chồn đèn mắc bẫy

    Ăn quen nhịn không quen

    Ăn rá cơm ỉa rá cơm

    Ăn ráy ngứa miệng

    Ăn rồi cắp đít đi chơi

    Hễ mó đến việc, mong trời đổ mưa

    Ăn rồi dắt vợ lên rừng

    Bẻ roi đánh vợ bảo đừng theo trai.

    Ăn rồi nằm ngửa nằm nghiêng

    Có ai lấy (muốn) tớ thì khiêng tớ về

    Ăn rồi quẹt môi

    Ăn rươi chịu bão cho cam

    Không ăn chịu bão thế gian cũng nhiều

    Ăn sạc nghiệp

    Ăn sạch bát sạch dĩa

    Ăn sao cho được mà mời

    Thương sao cho được vợ người mà thương

    Ăn sao đền vậy

    Ăn sạt nghiệp

    Ăn sau đầu quét dọn

    Ăn sâu ngập cánh

    Ăn se sẻ đẻ ông voi

    Ăn sổi ở thì

    Ăn sóng nói gió

    Ăn sống nuốt tươi

    Ăn sung mặc sướng

    Ăn sung ngồi gốc cây sung

    Ăn rồi lại ném tứ tung ngũ hoành

    Ăn sung ngồi gốc cây sung (2)

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng!

    Ăn sung ngồi gốc cây sung (3)

    Thân gái lạ lùng trông cậy vào ai?

    Ăn sung ngồi gốc cây sung (4)

    Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm.

    Ăn sung trả ngáy

    Ăn tái ăn tam

    Ăn tại phủ ngủ tại công đường

    Ăn tàn ăn mạt ăn nát cửa nhà

    Con gà nuốt trộng, cá bống nuốt tươi

    Ăn tàn phá hại

    Ăn táo trả hột

    Ăn tay ăn túi

    Ăn tham chắc mặc tham dày

    Ăn tham lam làm trốc mép

    Ăn thanh cảnh

    Ăn thanh nói lịch

    Ăn thật làm dối

    Ăn thật làm giả

    Ăn thất nghiệp trả quan viên

    Ăn theo thuở ở theo thì (theo thời)

    Ăn thì ăn (lựa) những món ngon

    Làm thì chọn việc cỏn con mà làm

    Ăn thì ăn trước ngồi trên

    Đến chừng đánh giặc thì rên hừ hừ.

    Ăn thì có mó thì không

    Ăn thì có ó thì không

    Ăn thì cúi trốc đẩy nốc thì van làng

    Ăn thì em chả kém ai

    “Hễ cất gánh nặng vai em “”số thờ”””

    Ăn thì ha hả trả thì hu hu

    Ăn thì mau chân việc cần thì đủng đỉnh

    Ăn thì nhanh chân khó đến thân thì chạy

    Ăn thì nhiều chứ ở có bao nhiêu

    Ăn thì no cho thì tiếc

    Ăn thì nồi bẩy nồi ba

    Làm thì nống một, nống ba kéo dài

    Có làm cũng chẳng bằng ai

    Nói thì ra vẻ, lai rai suốt ngày!

    Ăn thì vùa thua thì chạy (thì chịu)

    Ăn thiệt làm dối

    Ăn thịt người không tanh

    Ăn thịt thì thối ăn đầu gối thì trơ

    Ăn thịt trâu không có tỏi

    Như ăn gỏi không có lá mơ

    Ăn thịt trâu không tỏi

    Như ăn gỏi không rau mơ

    Ăn thô nói tục

    Ăn thô tục nói thô lỗ

    Ăn thóc tìm giống

    Ăn thừa mứa

    Ăn thừa nói thiếu

    Ăn thủng nồi trôi rế (trôi trã)

    Ăn thúng trả đấu

    Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    Ăn tiêu nhớ tỏi bùi ngùi

    Ngồi bên đám hẹ nhớ mùi rau răm.

    Hỡi người quân từ trăm năm

    Quay tơ có nhớ mối tằm hay không ?

    Ăn tìm đến đánh tìm đi

    Ăn to như đầu beo

    Làm việc như đuôi chuột.

    Ăn to nói lớn

    Ăn to uống đậm

    Ăn tối lo mai

    Ăn tôm cấu đầu

    Ăn trầu nhả bã

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm, xay, giần, sàng

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây (2)

    Uống nước nhớ người đào giếng

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây (3)

    Ăn cơm nhớ Thần Nông cày ruộng

    Ăn trắng mặc trơn

    Ăn trầu chọn lấy cau khô

    Trèo lên Ba Dội (Rọi) có cô bán hàng

    Cô bán hàng lòng cô buồn bã

    Bóng xế chiều bóng ngả về tây

    Đợi cô ba bẩy hai mốt năm nay

    Ăn trầu không có vỏ sao cho đỏ môi

    Ăn trầu mà có vỏ chay

    Vôi kia có lạt (nhạt) cũng cay được mồm

    Ăn trầu nhà trai

    Ăn trầu phải mở trầu ra

    Phòng có thuốc độc hay là mặn vôi

    Ăn trầu thì bỏ quên vôi

    Ăn cau, bỏ hạt, nàng ơi hỡi nàng!

    Ăn trầu thì phải có vôi

    Cúng rằm thì phải có xôi có chè

    Ăn trên ngồi trốc

    Ăn trên ngồi trốc hưởng lộc dài dài

    Ăn trên ngồi trước (nói trước)

    Ăn tro bọ trấu

    Ăn trộm ái tình

    Ăn trộm ăn cướp thành Phật thành Tiên

    Đi chùa đi chiền, bán thân bất toại.

    Ăn trộm chê vải hẹp khổ

    Ăn trộm có tang chơi ngang có tích

    Ăn trộm của trời

    Ăn trông nồi ngồi trông hướng

    Ăn trông xuống uống trông lên

    Ăn trứng thì đừng ăn con

    Ăn trước bước không nổi

    Ăn trước trả sau

    Ăn từ dần chí dậu

    Ăn từ đầu bữa tới cuối bữa

    Ăn từ đầu dần tới cuối dậu

    Ăn từ giờ Dần đến giờ Tỵ

    Ăn tục nói phét

    Ăn tươi nuốt sống

    Ăn tùy chốn bán vốn tùy nơi

    Ăn tùy chủ ngủ tùy nơi

    Ăn tùy nơi chơi tùy chốn

    Ăn tuyết nằm sương (uống sương)

    Ăn uống thì tìm đến đánh đầm thì tìm đi

    Ăn uống tìm đến đánh nhau tìm đi

    Ăn uống vô độ

    Ăn vãi đầu vãi đuôi

    Ăn văng đổ vãi

    Ăn vặt quen miệng làm biếng quen thân

    Ăn vặt quen mồm

    Ăn vay từng bữa không cửa không nhà

    Ăn vi chủ ngủ vi tiên

    Ăn vô điều độ

    Ăn vô độ (vô hậu)

    Ăn vóc học hay

    Ăn vóc học nên

    Ăn vừa ở phải

    Ăn vung bỏ vãi

    Ăn vụng chóng no

    Ăn vụng không biết chùi mép

    Ăn vụng ngon miệng

    Ăn vụng xó bếp

    Ăn xì xà xì xụp

    Ăn xin cho đáng ăn xin

    Lấy chồng phải chọn dễ nhìn dễ ưa

    Ăn xó bếp chết gầm chạn (ngủ gầm chạn)

    Ăn xó bếp uống nước ao

    Đái bờ rào, ỉa chuồng lợn

    Ăn xô bồ

    Ăn xó mó niêu

    Ăn xôi chùa ngậm họng

    Ăn xôi chùa quét lá đa

    Ăn xôi không bằng đôi đĩa

    Ăn xôi nghe kèn

    Ăn xổi ở thì

    Ăn xong hạch sách vỗ đách ra đi

    Ăn xong không biết chùi mép

    Ăn xong quẹt mỏ

    Ăn xưa chừa nay (sau)

    Ăn xuôi nói ngược

    Ngoài ra trong kho tàng văn chương có bài sau đây của Hàn Lệ Nhân cũng khá thú vị:

    Chữ Ăn: Cái thú đoạn trường

    Hàn Lệ Nhân

    (Sưu tầm, lược soạn)

    Ăn mới thực văn nhân tài tử,

    Ăn nguyên là văn tự quốc gia.

    “Trăm năm trong cõi người ta”,

    Không ăn thiên hạ cho là dở hơi.

    (Đào Trọng Đủ)

    Trong loạt bài Miệng lưỡi đa sự ký, tôi đã tản mạn qua-loa-rơ-măng về chữ Ăn. Trong bài Tiếng Việt tình tôi, khi trích lại bản sơ kết về chữ Cả trong tiếng nước ta, tôi đã đã nhưng chợt nghĩ lại chữ Ăn, so với chữ Cả, sự kỳ diệu của nó thật thụ gấp vài trăm lần, nên có bài này. Tôi e chữ Ăn trong tiếng Việt là thêm một quái chiêu đáng khoe ra với thiên hạ – ngoài hào quang trong chiến tranh, phở Hà Nội, bún bò Huế, nước mắm Phú Quốc và hai chữ triệu phú dĩ nhiên.

    Mở đầu :

    Ai mở cuộc thi

    [ Vào khoảng tháng 5 tháng 6 năm 1951, một tuần báo xuất bản tại Sài-Gòn tổ chức một cuộc thi Trau giồi tiếng Việt. Bài thi có bốn câu hỏi:

    1. Tìm một chữ Việt Nam rất thông thường, dùng được rất rộng và có hàng chục nghĩa và giảng hết nghĩa của chữ ấy.

    Cắt nghĩa tường tận hai bài thơ của Hồ Xuân Hương mà ban tổ chức gọi là Bà Chúa thơ nôm: bài Chùa Quán sứ và bài Hờn duyên (Tự tình 2)

    2. Tiếng Việt Nam có tính cách tượng thanh nên có nhiều trạng từ rất hay, đọc lên đủ làm cho người ta tưởng tượng được nghĩa của nó. Tỉ dụ: say chuếnh choáng, treo tòn ten, cúi lom khom, trắng phau phau…

    3. Xin các bạn tìm những trạng từ tiếng gấp đôi (như các tỉ dụ trên) có thể dùng sau các hình dung từ hay động từ sau đây: Nhai, nỗi, gõ, vỗ, rộng, tròn, sâu, cười, dài, treo, lo, quạt, gầy, mừng, vừa, kêu, khấn, rét, im, chối, tươi, say, chạy, đứng, cao, nhiều, gọi, đi, yêu, thơm.

    Nếu tìm được nhiều trạng từ khác 30 tiếng trên, các bạn có thể ghi thêm vào càng hay.

    4. Vấn đề thống nhất Việt ngữ: Thí sinh phải đọc bài : Vài đề nghị thống nhất Việt ngữ (*) của Phan Hữu và giả nhời ba câu hỏi sau:

    a/ Có nên thống nhất triệt để ?

    b/ Nên đặt nguyên tắc theo đề nghị của ban tổ chức hay không ?

    c/ Nếu không nên thì cần thay đổi nguyên tắc thế nào cho tiếng Việt thống nhất hoàn toàn ?]

    ********************

    Tôi (tác giả Cô Đào Đào Trọng Đủ) yêu tiếng Việt, lẽ tất nhiên là phải dự thi. Bài tôi làm cũng chia làm 4 đoạn, nhan đề của mỗi đoạn có 4 chữ, ghép 4 câu thành ra bài Tứ ngôn như sau:

    Ai mở cuộc thi

    để tôi kiêu ngạo,

    tôi trêu giám khảo,

    tôi nhạo chàng Phan.

    Cuộc thi không thành, vì được ít lâu tờ Điện Báo phải đình bản. Thế là bài thi hài hước của tôi cứ việc nghỉ ngơi trong tủ sách.

    Rồi đến một Tết nào đó, lâu ngày tôi quên, tôi trích ra 2 đoạn nói về chữ Ăn và chữ Đánh, được một tờ báo Xuân xuất bản ở Nam vang đăng, nhưng lại bị kiểm duyệt… Mãi về sau, Cam-pu-chia cho tự do thêm, một báo tiếng Việt mới được phép đăng cả bài. Rồi tuần tự nhi tiến, bài thơ Ăn của tôi đi đến đài Pháp-Á, rồi ra tới Hà Nội, lại được Bộ Quốc Gia Giáo Dục cho đăng vào tạp chí Văn Hoá… Sau cùng, vào năm 1964-1965, khi báo Trung Lập ra đời tại Nam Vang, bài thơ Ăn lại được đăng một lần nữa và do đó, được theo một bạn yêu thơ đem sang tận Pháp cho nhiều đồng bào thưởng thức… Tôi cũng phấn khởi và trẻ lại được phần nào, rồi đem bản sao ra chép lại cho khỏi thất lạc. Mà cũng may có chép lại, tôi mới nhận thấy 28 năm về trước, tôi ngây thơ…không đoán ra chữ nhà báo đã in nhầm là Nỗi (dấu Ngã) cho nên dạo ấy tôi đã viết :

    Còn chữ Nỗi văn chương quá Nỗi

    Khuya rồi mà nghĩ mãi không ra !

    Thì ra, tôi đợi 28 năm giời mới nhận thấy chính là chữ Nổi (dấu Hỏi) mà thợ xếp chữ đã xếp lầm ra chữ Nỗi (dấu Ngã). Vậy câu thơ ngày trước xin đổi lại như sau :

    Còn chữ Nổi lênh đênh quá nỗi

    Khuya rồi mà nghĩ mãi mới ra !

    Sửa lại có thế thôi, còn cả bài thơ 28 năm trước thế nào, bây giờ vẫn thế ấy, mặc dầu bản thân tôi có đổi, cũng như quan niệm tôi đối với đời cũng có khác trước một phần nào… Tôi chắc mười mươi các bạn cũng thừa hiểu rằng 55 {tuổi} phê bình thế nào chả khác 83 {tuổi}.

    Antony ngày 28-6-1979

    Cô Đào

    Để tôi kiêu ngạo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Cuộc Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương Đất Nước ❤️ Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Kháng Chiến Hào Hùng Của Dân Tộc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em Hay Nhất ❤️ 1001 Câu
  • Chữ Hiếu Trong Tục Ngữ, Ca Dao Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Thơ Thư Pháp Hay Về Cha Mẹ
  • Những Câu Thư Pháp Nói Về Cha Mẹ
  • Dịch Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Sang Tiếng Anh
  • Tiếp Cận Kiến Thức Địa Lí Qua Thơ , Ca Dao – Tục Ngữ
  • Bài Tập 1 66 Với Ca Dao Người Bình …
  • Công Cha như núi Thái Sơn,

    Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    Tinh thần hiếu đễ của người Á Đông nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng đã thấm sâu vào xương tủy của mọi người, và phát khởi ra sự sinh hoạt bên ngoài tạo nên những nét đẹp cao quý, thành ca dao, tục ngữ, thành đặc tính tinh thần Đông Phương. Có lẽ chỉ có người Á Đông mới có tục lệ chúc thọ cho ông bà, cha mẹ và cũng có lẽ chỉ có người Á Đông mới yêu chuộng tinh thần “đại gia đình” – Ông bà, cha mẹ, con cháu, chắt, chút chít… sống quây quần đầm ấm trên cùng một mảnh đất gia tiên, bao bọc bởi lũy tre xanh, hàng dậu bông bụt – Và vì thế nên tình thân được nẩy nở, đơm hoa kết trái để luôn luôn gần gũi, thương yêu và đùm bọc với nhau.

    Có hình ảnh nào đẹp hơn cảnh gia đình xum họp trong những buổi chiều nhàn nhã, gió hiu hiu nhẹ thổi vừa đủ để bà nằm võng đu đưa, tay ôm đứa cháu nhỏ nhè nhẹ hát ru cháu dưới bóng mát của hàng cây sau vườn; ông ngồi kể truyện cổ tích với đàn cháu vây quanh vừa lắng tai theo dõi vừa nhổ tóc sâu, thỉnh thoảng lại chen vào những câu hỏi thơ ngây làm câu chuyện thêm rộn ràng giữa hương thơm của hoa cau, hoa bưởi ngạt ngào trong không gian miền thôn dã. Hoặc những buổi tối: “… Cha tôi ngồi xem báo, me tôi ngồi đan áo, bên cây đèn dầu hao…”

    Tinh thần chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam được diễn đạt qua những câu thơ sau đây của Trần Kế Xương càng làm nổi bật những đức tính hy sinh của người mẹ, người vợ:

    – Quanh năm buôn bán ở ven sông.

    Nuôi đủ năm con với một chồng…

    Mẹ đã tảo tần thức khuya, dậy sớm lo việc tang tầm, thu vén nhà cửa, không những lo cho con mà còn phải lo cho người chồng thư sinh chỉ biết việc bút nghiên:

    – Canh một dọn cửa dọn nhà,

    Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm,

    Canh tư bước sang canh năm,

    Trình anh dậy học chớ nằm làm chi.

    Lỡ mai Chúa mở khoa thi,

    Bảng vàng kia cũng sẽ đề tên anh.

    Hay là:

    – … Nửa đêm về sáng gánh gồng nuôi con…

    – Nuôi con buôn bán tảo tần,

    Chỉ mong con lớn nên thân với đời.

    Những khi trái nắng trở trời,

    Con đau là mẹ đứng ngồi không yên.

    Trọn đời vất vả triền miên,

    Chạy lo bát gạo đồng tiền nuôi con.

    Tấm lòng của mẹ thật bao la, mênh mông như trời bể, mặc thân gầy yếu, hao mòn chỉ mong cho con được khôn lớn, mẹ đã vắt cạn dòng sữa thơm cho con được no đủ:

    – Bồng con cho bú một hồi,

    Mẹ đã hết sữa con vòi, con la.

    Lại còn những khi con đau ốm, mẹ nào được an giấc:

    – Con ho lòng mẹ tan tành,

    Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi.

    Mẹ đã đem hết sức mình để bảo bọc, che chở cho con được an lành, bình yên:

    – Nuôi con chẳng quản chi thân,

    Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.

    Tấm lòng mẹ trải rộng bao la, không nghĩ gì đến sức khỏe bản thân chỉ nhất mực lo cho con, dù suốt đêm không chợp mắt:

    – Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,

    Năm canh chày thức đủ vừa năm.

    Nào đã hết, ngoài việc chăm nuôi, cho con bú mớm, mẹ phải thay cha nuôi dạy con cái:

    – … Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân…

    Mẹ còn phải năng động hơn, xông xáo hơn để giáo dục, truyền đạt cho con những kinh nghiệm cá nhân mong con khôn ngoan, thành đạt trong xã hội:

    – Ví dầu cầu ván đóng đinh,

    Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.

    Khó đi, mẹ dắt con đi,

    Con đi trường học, mẹ đi trường đời.

    Vì thế người mẹ được ví: “Mẹ già bằng ba hàng dậu”. Hạnh phúc thay cho những ai còn có mẹ để chia xẻ niềm vui, nỗi buồn, để được mẹ lo lắng chăm sóc như ngày còn thơ, để được hầu hạ gần gũi với mẹ. Có mẹ để thấy mình vẫn trẻ thơ như ngày nào:

    – Có cha có mẹ thì hơn,

    Không cha không mẹ như đờn đứt giây.

    Đờn đứt giây còn tay nối lại,

    Cha mẹ mất rồi con phải mồ côi.

    Nào đã hết, mẹ vẫn lo toan vất vả trong phận dâu con, có sức chịu đựng nào bằng bổn phận người con dâu đè nặng trên hai vai của mẹ, dẫu chồng có lơ là, lạnh nhạt, nhưng vẫn không thất xuất trách nhiệm cá nhân, qua những câu ca dao sau đây:

    – Gió đưa bụi chuối sau hè,

    Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.

    Con thơ tay ẵm tay bồng,

    Tay dắt mẹ chồng đầu đội thúng rơm.

    Chữ hiếu không những chỉ thể hiện trong bổn phận người con, mà còn ràng buộc cả người con dâu nữa. Cụ bà Phan Bội Châu đã thay cụ ông hầu hạ, thuốc thang cho thân sinh cụ ông nay đau, mai ốm trong cảnh gia đình túng thiếu với các con thơ dại trong suốt thời gian cụ ông lo việc nước. Gương hy sinh, tiết liệt của người phụ nữ Việt Nam điển hình qua tinh thần trách nhiệm của cụ bà Phan Bội Châu làm rạng rỡ giá trị thiêng liêng tình nghĩa gia đình.

    Người xưa ra đi lo việc nước đã nhắn nhủ vợ nhà:

    – Anh đi, em ở lại nhà,

    Vườn dâu em bón mẹ già em trông.

    – Con cò lặn lội bờ sông,

    Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non,

    – Nàng về nuôi cái cùng con,

    Để anh trẩy hội nước non Cao Bằng.

    Bằng tâm tình của người chồng phải vắng nhà buôn bán phương xa, đã ân cần nhờ cậy vợ lo toan mọi việc và chăm sóc mẹ già sao cho tròn câu hiếu kính:

    – Nhà anh chỉ có một gian,

    Nửa thời làm bếp, nửa toan làm buồng.

    Anh cậy em coi sóc trăm đường,

    Để anh buôn bán trẩy trương thông hành.

    Còn chút mẹ già nuôi lấy cho anh,

    Để anh buôn bán thông hành đường xa.

    Liệu mà thờ kính mẹ già,

    Đừng tiếng nặng nhẹ người ta chê cười.

    Vai trò của người mẹ quan trọng biết là chừng nào:

    – Mồ côi cha ăn cơm với cá,

    Mồ côi mẹ, lót lá mà nằm.

    – Gió đưa bụi trúc ngã quì,

    Vì cha con phải lụy dì, dì ơi!

    Phải chăng vì thế con cái thường có khuynh hướng thương yêu và thân cận với mẹ hơn? Nói như thế không có nghĩa là vai trò của người cha không quan trọng:

    – Con có cha như nhà có nóc,

    Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.

    – Còn cha gót đỏ như son,

    Đến khi cha mất, gót con đen sì.

    Còn cha nhiều kẻ yêu vì,

    Một mai cha thác ai thì nuôi con?

    Sự chăm sóc của cha có thể không chăm chút tỉ mỉ bằng mẹ, nhưng hoàn cảnh bắt buộc cha cũng vẫn lo cho con được no dạ:

    – Nghiêng bình mở hộp nút ra,

    Con ơi, con bú cho cha yên lòng.

    Cha tuy già nhưng không quản ngại, cũng vẫn phải lo sinh kế trong vai trò cột trụ của gia đình, vì thế hình ảnh người cha cũng rất đậm nét trong tâm khảm của mọi người trong nhà:

    – Cha tôi tuy đã già rồi,

    Nhưng còn làm lụng để nuôi cả nhà.

    Sớm hôm vừa gáy tiếng gà,

    Cha tôi đã dậy để ra đi làm.

    Vắng bóng người cha làm cho gia đình trống vắng, quạnh hiu:

    – Vắng đàn ông quạnh nhà.

    Hơn thế nữa, trong vai trò giáo huấn đàn con, người cha bao giờ cũng coi trọng và nghiêm minh hơn, do đó ảnh hưởng giáo dục người cha thường tốt đẹp và tác dụng nhiều hơn mẹ:

    – Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.

    Hoặc:

    – Mẹ đánh một trăm, không bằng cha hăm một tiếng.

    – Mẹ dạy thời con khéo,

    Cha dạy thời con khôn.

    Dẫu thương yêu, gần gũi với mẹ nhiều hơn con cũng không quên được công ơn dưỡng dục của cha, bao giờ cũng hằn sâu trong tâm trí:

    – Khôn ngoan nhờ ấm cha ông,

    Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ,

    Đạo làm con chớ hững hờ,

    Phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm.

    Biết bao nhiêu áng văn thơ, ca dao, tục ngữ tán thán công đức Cha và Mẹ, cái hạnh phúc có được cha mẹ vẹn toàn để nhất tâm hiếu kính đã làm cho bao nhiêu người con thiếu vắng cha mẹ phải ước ao ngậm ngùi:

    – Ân cha nặng lắm ai ơi!

    Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang.

    – Vẳng nghe chim vịt kêu chiều,

    Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.

    Nhớ ơn chín chữ cù lao,

    Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình?

    – Ngày nào em bé cỏn con,

    Bây giờ em đã lớn khôn thế này.

    Cơm cha, áo mẹ, công thầy,

    Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao.

    – Làm trai đủ nết trăm đường,

    Trước tiên điều hiếu, đạo thường xưa nay.

    Công cha đức mẹ cao dày,

    Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ.

    Nuôi con khó nhọc đến giờ,

    Trưởng thành con phải biết thờ song thân.

    Thức khuya dậy sớm cho cần,

    Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con.

    “Xảy nhà ra thất nghiệp”, mẹ cha có biết lòng con thương nhớ khôn nguôn, tâm hiếu kính mang mang, luôn tưởng nhớ đến công ơn sinh dưỡng của đấng sinh thành:

    – Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,

    Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương.

    – Ngó lần nuột lạt mái nhà,

    Bao nhiêu nuột lạt, em thương mẹ già bấy nhiêu.

    – Chiều chiều ra đứng ngõ sau,

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

    – Gió đưa cây cửu lý hương,

    Từ xa cha mẹ thất thường bữa ăn.

    Sầu riêng cơm chẳng muốn ăn,

    Đã bưng lấy bát, lại dằn xuống mâm.

    Phải xa nhà lòng đau như cắt, biết có ai sớm hôm phụng dưỡng mẹ cha, để con khắc khoải nhớ thương:

    – Lòng riêng nhớ mẹ, thương cha,

    Bóng chim tăm cá biết là tìm đâu?

    Trong vòng binh lửa dãi dầu,

    Bơ vơ lưu lạc, bạn bầu cùng ai?

    – Ra đi bỏ mẹ ở nhà,

    Gối nghiêng ai sửa, mẹ già ai nâng?

    – Một mai cha mẹ yếu già,

    Bát cơm đôi đũa, kỷ trà ai dâng?

    – Đêm đêm khấn nguyện Phật Trời,

    Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

    Cha mẹ có hay lòng con như muối xát, chỉ mong sao cha mẹ được đầy đủ, mong được sáng thăm tối viếng, mong dâng đến cha mẹ miếng ngon vật lạ tỏ lòng hiếu kính phụng thờ mẹ cha:

    – Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi,

    Giã gạo cho trắng đặng nuôi mẹ già.

    Đói lòng ăn hột chà là,

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.

    – Đây bát cơm đầy nặng ước mong,

    Mẹ ơi, đây ngọc (1) với đây lòng,

    Đây tình con nặng trong tha thiết,

    Ơn nghĩa sanh thành, chưa trả xong.

    (1) Hạt gạo là hạt ngọc.

    – Lên chùa thấy Phật muốn tu,

    Về nhà thấy mẹ công phu sao đành?

    Mẹ già ở túp lều tranh,

    Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.

    – Cau non khéo bửa cũng dày,

    Trầu têm cánh phượng để thầy mẹ xơi.

    – Ai về tôi gởi buồng cau,

    Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.

    Ai về tôi gửi đôi giầy,

    Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.

    Cha mẹ nuôi con ơn sâu nghĩa nặng, dẫu nhọc nhằn vất vả con cũng chẳng ưu tư:

    – Dấn mình gánh nước làm thuê,

    Miễn nuôi được mẹ, quản gì là thân .

    Làm con ăn ở sao cho phải đạo, mình biết hiếu kính mẹ cha đó là tấm gương tốt cho con cái noi theo “sóng trước làm sao, sóng sau như vậy”, có hết lòng thờ phụng mẹ cha mới mong sanh con hiếu nghĩa:

    – Nếu mình hiếu với mẹ cha,

    Chắc con cũng hiếu với ta khác gì.

    Nếu mình ăn ở vô nghì,

    Đừng mong con hiếu làm gì uổng công.

    Hoặc:

    – Hiếu thuận sinh ra con hiếu thuận,

    Ngỗ nghịch nào con có khác chi!

    Xem thử trước thềm mưa xối nước,

    Giọt sau, giọt trước chẳng sai gì!

    – Người xưa khó nhọc nuôi mình,

    Khác gì mình đã hết tình nuôi con.

    Suốt một đời sống trong tình thương của cha mẹ, biết bao công khó cho con được nên người, bao lo lắng hy sinh, nhọc nhằn mong con được đầy đủ không thua bạn, kém bè. Nay cha mẹ không còn, đau đớn biết dường nào, dù nuối tiếc bao nhiêu cũng không làm sao được. Bạn hỡi! Ngay bây giờ hãy làm bất cứ điều gì có thể làm được cho cha mẹ để sau này có muốn cũng không thể nào thực hiện được:

    … Độ nhỏ tôi không tin,

    Người thân yêu sẽ mất.

    Hôm ấy tôi sững sờ,

    Và nghi ngờ trời đất.

    Từ nay tôi hết thấy,

    Trên trán mẹ hôn con.

    Những khi con phải đòn,

    Đau lòng mẹ la lẫy.

    Kìa nhờ ai sung sướng,

    Mẹ con vỗ về nhau.

    Tìm mẹ, con không thấy,

    Khi buồn biết trốn đâu?…

    Hiếu đễ không phải là những lời đãi bôi, những xót xa không thật từ cửa miệng, những ao ước bâng quơ không bao giờ thực hiện, mà chữ Hiếu phải được thể hiện bằng những hành động cụ thể, bằng những chăm sóc, hầu hạ, phụng dưỡng xuất phát tự đáy tâm hồn với lòng thương quý chân thật.

    Mùa Vu Lan là mùa báo Hiếu, mùa cho các người con tưởng nhớ đến công đức sinh thành của cha mẹ, mong muốn làm điều gì tốt đẹp hơn để đền đáp xứng đáng công ơn dưỡng dục của mẹ cha. Nhớ ơn và báo Hiếu luôn luôn là những suy tư triền miên, sâu đậm trong thâm tâm mọi người con Việt.

    – Phụng dưỡng Cha và Mẹ,

    Là công đức tối thượng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Đạo Đức Hay Và Ý Nghĩa
  • 100 Câu Thành Ngữ Tiếng Nghệ
  • Những Danh Ngôn Xin Lỗi Ý Nghĩa
  • Văn Hóa Sản Xuất Nông Nghiệp Trong Tục Ngữ, Ca Dao
  • Sự Giao Thoa Giữa Văn Hóa Xứ Đoài Và Văn Hóa Thăng Long
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100