Đề Xuất 12/2022 # Tìm Hiểu Về Anh Hùng Dân Tộc Trương Định Nhân Chuyến Đi Nghiên Cứu Thực Tế Của Chi Bộ Giảng Viên 3 / 2023 # Top 15 Like | Altimofoundation.com

Đề Xuất 12/2022 # Tìm Hiểu Về Anh Hùng Dân Tộc Trương Định Nhân Chuyến Đi Nghiên Cứu Thực Tế Của Chi Bộ Giảng Viên 3 / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tìm Hiểu Về Anh Hùng Dân Tộc Trương Định Nhân Chuyến Đi Nghiên Cứu Thực Tế Của Chi Bộ Giảng Viên 3 / 2023 mới nhất trên website Altimofoundation.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

     Theo kế hoạch đi nghiên cứu thực tế của chi bộ, sau một thời gian chuẩn bị, đúng 8 giờ 00 ngày 11/6/2019  chuyến xe chở đoàn công tác của chi bộ chúng tôi đã khởi hành đi về Tiền Giang quê hương của những mỹ nữ – anh hùng nổi tiếng Nam bộ. Ngồi trên xe mà trong tôi chợt chợt nhớ những nhân vật nổi bật trong lịch sử dân tộc như: Nam Phương hoàng hậu, bà Từ Dũ, tả quân Lê Văn Duyệt, Anh hùng Dân tộc Trương Định, Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu…

    Tuy sinh ra ở Quảng Ngãi nhưng cuộc đời và sự nghiệp của Trương Định gắn bó với nhân dân Gò Công. Tại nơi đây, ông đã lập gia đình với hai người phụ nữ, vợ đầu là Lê Thị Thưởng và vợ sau là bà Trần Thị Sanh. Với sự giúp đỡ ít nhiều của cả hai gia đình bên vợ, từ năm 1854, theo chính sách đồn điền của Nguyễn Tri Phương, Trương Định đã chiêu mộ dân chúng, khai khẩn đất hoang, lập ra đồn điền Gia Thuận để khai hoang đất đai phát triển sản xuất, chăm lo cho đời sống của nhân dân địa phương, đồng thời chú ý luyện tập quân sự cho dân binh đồn điền, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đất nước. Chính vì lẽ đó, màTrương Định luôn được nhân dân Gò Công hết lòng tin yêu. Cho nên, năm 1861, khi Trương Định kháng lệnh triều đình, phát động cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược thì nhân dân Gò Công đã tích cực hưởng ứng và tham gia. Có lúc lực lượng nghĩa quân lên đến 6.000 người, bao gồm các tầng lớp nhân dân Gò Công mà đa số là nhân dân lao động và dân binh đồn điền.

     Đền thờ Trương Định tại Tiền Giang. ảnh: Sưu tầm từ internet.

      Nói về đạo quân của Trương Định nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu mô tả đó là những người nông dân:

“. . . Cui cút làm ăn, riêng lo nghèo khó,

Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung,

Chỉ biết ruộng trâu, ở theo làng bộ

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy. . . tay vốn quen làm

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ. . . mắt chưa từng ngó

. . . Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng  ở lính diễn binh.

Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ”

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu)

     Tháng bảy năm Nhâm Tuất (1862), sau khi ký hòa ước dâng cho thực dân Pháp đảo Côn Lôn và ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ là Biên Hòa, Gia Định, và Định Tường, triều đình Tự Đức phong Trương Định làm Lãnh binh tỉnh An Giang và ra lệnh cho ông phải chấm dứt cuộc kháng chiến ở Gò Công. Thế nhưng, trước yêu cầu của nhân dân Gò Công, Trương Định đã quyết định ở lại cùng nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu kể lại:

“. . . Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền.

Theo bụng dân phải chịu tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại

Gồm ba tỉnh dựng cờ phấn nghĩa, sĩ phu lắm kẻ vui theo.

Tom muôn dân gầy sổ mộ quân, luật lệnh nào ai dám nhạy.

Văn thời Tham Biện, Thượng Biên, giúp các cơ bàn bạc nhung công.

Võ thời Tổng binh, Đốc binh, coi mấy đạo sửa sang khí giới”

(Văn tế Trương Định – Nguyễn Đình Chiểu)

      Phải nói đây là quyết định rất đúng đắn của Trương Định trong bối cảnh lúc bấy giờ.  Đứng trước quyền lợi bản thân và nguyện vọng của nhân dân, ông đã dũng cảm đứng về phía nhân dân  quyết định đi cùng với nhân dân chiến đấu: “Bằng son ứng nghĩa thắm lòng dân” (Nguyễn Đình Chiểu)

       Cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược của Trương Định chỉ tồn tại được 5 năm (1859 -1864), nhưng đã trở thành cuộc đấu tranh tiêu biểu trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta. Từ ngày Trương Định hy sinh đến nay đã tròn 155 năm (1864 – 2019), nhưng cuộc khởi nghĩa của anh hùng dân tộc Trương Định mãi mãi là biểu tượng về tinh thần yêu nước và sức mạnh của nhân dân Gò Công nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung trong lịch sử dân tộc.

       Cuộc khởi nghĩa đã để lại cho các thế hệ sau nhiều bài học vô giá: về uy tín, năng lực và phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo; về sự quy tụ sức mạnh toàn dân trong sự nghiệp dựng nước giữ nước, phát huy tinh thần yêu nước, bất khuất của người Việt  Nam…

       Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay thiết nghĩ nếu Đảng và nhà nước xây dựng được đội ngũ cán bộ thật sự ưu tú có đủ bản lĩnh, có năng lực đạo đức trong sáng thì dứt khoát chúng ta sẽ tiếp tục phát huy được tốt hơn nữa những truyền thống tốt đẹp trong mỗi con người Việt Nam và sự nghiệp đổi mới đất nước sẽ mau chóng đạt được nhiều thành công tốt đẹp.

      Đứng trước khu lăng mộ của Người anh hùng dân tộc, tuy mỗi người có cảm nhận khác nhau nhưng mỗi thành viên của đoàn đều vô cùng tự hào về thế hệ cha anh đi trước. Chúng tôi nguyện rằng sẽ luôn cố gắng thực hiện tốt các nhiệm vụ của cơ quan để góp phần công sức của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.

Hà Thị Vân Khanh

Những Câu Thơ Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Hùng Dân Tộc, Anh Bộ Đội / 2023

Tuyển tập những câu ca dao tục ngữ hay ca ngợi anh hùng dân tộc, anh bộ đội

Các bài viết liên quan tới chủ đề anh hùng dân tộc, bộ đội đáng chú ý:

Đất nước Việt Nam ta đã trải qua muôn vàng những khó khăn và thử thách, tải qua hàng ngàn năm đô hộ. cuộc sống khó khăn là thế, cuộc kháng chiến khốc liệt là thế mà nhân dân Việt Nam ta vẫn không khuất phục, không từ bỏ mà họ đã đứng lên, kiên cường chống giặc ngoại xâm. Những hình ảnh ấy chúng ta không thể không nhắc đến hình ảnh các vị anh hùng dân tộc, các chú bộ đội đã hi sinh bản thân để mang lại độc lập dân tộc.

Để nói lên những khó khăn gian khổ, những khổ cực mà các anh hùng, các anh bộ đội đã chịu đựng thì những nhà văn, nhà thơ,… đã có những tác phẩm nổi tiếng để nói lên các hình ảnh ấy. bên cạnh thơ và văn thì trong nhân dân ta đã lưu truyền các câu ca dao tục ngữ về các vị anh hùng, các anh bộ đội để thể hiện tình cảm của mình với những nhân vật ấy. chúng ta cùng đi tìm hiểu những câu ca dao tục ngữ về anh hùng dân tộc, anh bộ đội.

Những câu thơ văn, ca dao tục ngữ về anh dùng dân tộc, anh bộ đội

Câu 1:

Đây là hình ảnh về những lần hành quân của các anh bộ đội ngoài chiến trường, công việc của các anh là lái xe. Dù công việc có hiểm nguy, khó khăn đến thế nhưng các anh vẫn luôn luôn vui tươi, vui vẻ hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Câu 2:

Những hình ảnh anh hùng, anh bộ đội là những hình ảnh rất đỗi quen thuộc ở chiến trường, nhưng hình ảnh những cô gái, nữ chiến sĩ mới trở nên nổi bật. những câu ca dao trên nói về hình ảnh những cô gái Paco, dù chiến trường khó khăn, nguy hiểm nhưng các cô vẫn không ngần ngại hi sinh bản thân để bảo vệ dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước.

Câu 3:

Ai về Biện Thượng, Lam Sơn

Nhớ về Lê Thái tổ chặn đường quân Minh

Câu thơ trên nói về hình ảnh oai hùng và lẫy lững của vua Lê Thái Tổ, ông đã chặn đường quân Minh sang xâm lược nước ta, có những thắng lợi vẻ vang, những kì tích đáng có trong lịch sử nước ta.

Câu 4:

Anh đi theo chúa Tây Sơn

Em về cày cấy mà thương mẹ già

Câu thơ trên nói về hình ảnh vua Quang Trung, hình ảnh oai hùng và lẫm liệt chiến thắng giặc ngoại xâm. Câu thơ không chỉ nói về hình ảnh oai hùng mà còn nói về hình ảnh vợ con và mẹ gia chờ đợi khi những người lính lên đường kháng chiến chống giặc ngoại xâm, những hình ảnh hết sức thân thương.

Câu 5: Câu 6:

Bần Gie đốm đậu sáng ngời

Rạch Gầm soi dấu muôn đời oai linh

Câu 7: Câu 8:

Đua nhau xới, tranh nhau đơm

Cà chua nấu muối cũng thơm, cũng lành

Câu 9:

Ăn thật chóng, và thật nhanh

Chỉ loáng một cái sạch sành sanh cả nồi!

Câu 10:

Tháng Năm ngày Tết Đoan Dương,

Là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang.

Câu 11:

Trứng rồng lại nở ra rồng,

Liu điu lại nở ra dòng liu điu

Câu 12:

Ai về Phú Thọ cùng ta

Vui ngày giỗ tổ tháng ba mồng mười.

Câu 13: Câu 14:

Cổ Loa là đất đế kinh

Trông ra lại thấy tòa thành tiên xây.

Câu 15: Câu 16:

Có chồng phải khổ vì con

Lấy chồng phải gánh giang san nhà chồng.

Câu 17: Câu 18:

Ai qua Nông Cống tỉnh Thanh

Dừng chân nhớ Triệu Thị Trinh anh hùng.

Câu 19:

Ai về Hậu Lộc, Phú Điền,

Nơi đây Bà Triệu trận tiền xung phong.

Câu 20: Câu 21:

Đường đi cống vải từ đây dứt

Dân nước đời đời hưởng lộc chung.

Câu 22:

Sa nam trên chợ dưới đò

Nơi đây Hắc Đế kéo cờ dựng binh.

Câu 23: Câu 24:

Ở đời muôn sự của chung

Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi

Câu 25:

Trống chùa ai đánh thì thùng

Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng

Câu 26: Câu 27: Câu 28: Câu 29: Câu 30: Câu 31: Câu 32: Câu 33: Câu 34: Câu 35: Câu 36: Câu 37:

Ban ngày khoác lá ngụy trang

Từng đàn bướm trắng, bướm vàng bay theo

Ban đêm gùi đạn vượt đèo

Trăng vàng sà xuống đập đèo trên lưng

Dừng chân mắc võng giữa rừng

Suối reo, chim hót chúc mừng ngủ ngon

Ơi người trẩy hội nước non

Trường Sơn là bạn sắt son đồng hành.

Câu 38: Câu 39:

Binh trạm đóng giữa rừng sâu

Quanh năm chẳng thấy trăng sao mây trời

Ngày đêm con suối đưa lời

Con chim đưa tiếng, mua rơi đều đều

Quê hương gợi nhớ bao điều

Cây đa giếng nước nắng chiều mênh mang

Bóng tre mát rượi quanh làng

Câu hò giã gạo rộn ràng đêm trăng

Bao giờ quét sạch xâm lăng

Quê hương chín nhớ mười thương lại về

Câu 40:

Mưu mô thằng Mỹ cuồng điên

Bắn ngày rồi lại bắn đêm giở trò

Bắn ngày, mày vụn ra tro

Bắn đêm, mày cũng gãy giò nát xương

Lòng ta đã cháy căm hờn

Lưới ta đã khép mày chuồn đi đâu

Mưu sâu thì họa càng sâu

Bảo cho giặc Mỹ một câu nhớ đời

Câu 41:

Ngoài ra còn có một số câu ca dao, tục ngữ về anh hùng, bộ đội ngắn gọn khác như

1. Anh hùng đa nạnHồng nhan đa truân!2. Anh hùng chí để bốn phươngKhi gấp thì ngắn, khi vươn thì dài3. Anh hùng gặp vận4. Anh hùng gì mà anh hùng rơmTôi cho nắm (mớ) lửa hết cơn anh hùng5. Anh hùng khi gấp cũng khoanh tay6. Anh hùng mạt lộ (vận)7. Anh hùng nào (đâu) phải khúc lươnKhi cuộn thì ngắn, khi vươn thì dài8. Anh hùng nào giang sơn nấy9. Anh hùng rơm10. Anh hùng xó bếp11. Anh hùng tử, khí hùng nào tử12. Anh hùng thức anh hùng13. Ai lên A Lưới Dốc Mèo14. Bò lên rồi lại bò lênBò đi bò lại cho quên nhọc nhằn

Trên đây là Ca dao, tục ngữ về anh hùng dân tộc, anh bộ đội, hi vọng bài viết đã đáp ứng được những kiến thức mà bạn cần. xin chân thành cảm ơn.

Nguyễn Trãi – Người Con Toàn Thiện Của Dân Tộc, Danh Nhân Văn Hoá Nhân Loại / 2023

NHỮNG GƯƠNG MẶT TIÊU BIỂU THI CA VIỆT NAM

KỲ THỨ 5

NGUYỄN TRÃI

– NGƯỜI CON TOÀN THIỆN CỦA DÂN TỘC,

DANH NHÂN VĂN HOÁ NHÂN LOẠI

                                Kiều Văn

Trong thế kỉ XV, dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra một con người toàn thiện: Nguyễn Trãi (1380 – 1442). Nếu lấy sự toàn thiện làm tiêu chí thì Nguyễn Trãi xứng đáng là con người ưu tú nhất của dân tộc ta kể từ khi lập quốc (thời đại Hùng Vương) đến nay.

Ông chính là mẫu người mà thi hào Anh Shakespeare đã ca ngợi trong vở kịch Hamlet:

Đây con người, một con người toàn vẹn Chẳng bao giờ tôi thấy kẻ sánh ngang.

Lê Thánh Tông, ông vua anh minh, có câu thơ ca ngợi Nguyễn Trãi:

Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo.

(Ức Trai lòng dạ sáng sao Khuê).

Tiên nho Nguyễn Năng Tĩnh ở nửa cuối thế kỉ XIX đã viết một câu nổi tiếng trong lời tựa sách Ức Trai di tập (do ông cùng Dương Bá Cung và Ngô Thế Vinh sưu tầm lại những tác phẩm của Nguyễn Trãi đã bị tán thất, rồi đem in thành sách năm 1868): “Những người có tài trí lỗi lạc, đức độ bao la, khi đem tài đức ấy thi thố ra việc làm thì đó là sự nghiệp, khi thổ lộ ra lời nói thì đó là văn chương”.

Nhận định ấy đã được chính sử Việt Nam và sự nghiệp văn chương trác tuyệt của Nguyễn Trãi xác nhận.

Chúng tôi xin phân tích những phương diện đã làm nên sự toàn thiện của Nguyễn Trãi như sau:

NGUYỄN TRÃI – NHÀ ÁI QUỐC VĨ ĐẠI, ANH HÙNG DÂN TỘC

Sử sách còn ghi chuyện chàng thanh niên Nguyễn Trãi khóc theo cha đến tận ải Nam Quan khi cha ông là Nguyễn Phi Khanh bị giặc Minh bắt giải về Kim Lăng. Cuộc đời Nguyễn Trãi bắt đầu bằng thảm kịch “nước mất nhà tan”. Chính “mối hận Nam Quan” đã nhen nhóm ngọn lửa của lòng yêu nước thương nòi trong tâm khảm Nguyễn Trãi để một ngày kia nó bùng cháy thành hoả diệm sơn của một sự nghiệp anh hùng.

Trong những năm bị giặc Minh giam lỏng ở Đông Quan, Nguyễn Trãi đã kí thác niềm u uất và chí vọng của mình trong những bài thơ nôm:

Góc thành nam lều một gian No nước uống, thiếu cơm ăn… Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải, Góc thành nam lều một gian.

(Thủ vĩ ngâm)

… Một thân lẩn quất đường khoa mục, Hai chữ mơ màng việc quốc gia. Quân thân chưa báo, lòng canh cánh Tình phụ cơm trời, áo cha.

(Vô đề)

Nung nấu chí vọng “đền nợ nước, báo thù nhà”, khi nghe tin Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Nguyễn Trãi bèn trốn khỏi Đông Quan tìm vào Thanh Hoá gặp Lê Lợi, dâng Bình Ngô sách, được Lê Lợi trọng dụng. Ông đã đồng cam cộng khổ với nghĩa quân Lam Sơn suốt mười năm kháng chiến. Một mình ông đảm trách cả một mặt trận quan trọng: mặt trận chính trị ngoại giao. Với sở học uyên bác, trí tuệ sắc bén, ông đã liên tiếp gửi thư cho bọn tướng giặc, đánh những đòn cân não làm tan rã tinh thần của chúng.

Cuối cùng Nguyễn Trãi đã thực hiện được ước mơ cháy bỏng của ông: đánh đuổi được giặc Minh, mang lại độc lập cho đất nước. Chính ông đã thay mặt Lê Lợi viết bản Bình Ngô đại cáo tổng kết chiến thắng oanh liệt của dân tộc:

Chẳng những mưu kế cực kì sâu xa Mà cũng xưa nay chưa từng nghe thấy. Xã tắc do đó vững bền, Non sông từ đây đổi mới. Trời đất bĩ rồi lại thái, Nhật nguyệt mờ rồi lại trong. Để mở nền thái bình muôn thuở, Để rửa mối sỉ nhục ngàn thu!

(Bản dịch trong Đại Việt sử kí toán thư)

Ngay cả khi bị bọn lộng thần đố kị, vu cáo, thậm chí bị hạ ngục, khiến ông buộc lòng phải hai lần xin về trí sĩ tại Côn Sơn, tấm lòng ưu quốc ái dân của ông vẫn không lúc nào nguôi:

Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông.

(Thuật hứng)

Làm quan dưới hai triều Lê Thái Tổ và Lê Thái Tông, ông đã ra sức chèo lái con thuyền của triều đình nhà Lê đi đúng con đường chính đạo mà tinh thần căn bản là thực hành nhân nghĩa để yên dân. Điều đặc sắc ở vị đại quan Nguyễn Trãi là khái niệm ái quốc luôn được cụ thể hoá bằng khái niệm ái dân, cận dân. Nói cách khác, với ông, chính lòng ái dân là thước đo tuyệt đối của lòng ái quốc! Có lẽ chỉ trừ một người thứ hai là vua Lê Thánh Tông, không một vị vua quan nào của triều Lê đạt tới ý niệm tuyệt vời đó. Và cũng chính vì tư tưởng khuynh dân đó mà Nguyễn Trãi trở thành thù địch của bọn quan lại triều Lê – những kẻ ít nhiều đều mắc căn bệnh vị kỉ và viễn dân. Có thể nói Nguyễn Trãi đã tử vì… tinh thần khuynh dân đó!

Trọn cả cuộc đời cống hiến cho nước, cho dân, lập được những kì tích sáng chói, Nguyễn Trãi trở thành một anh hùng dân tộc vĩ đại, kế tục truyền thống của Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo… đời trước, sát cánh với người anh hùng cứu nước Lê Lợi đương thời.

Chủ nghĩa anh hùng yêu nước của ông thể hiện rất rõ nét trong nhiều trước tác văn chương của ông như Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập, thơ nôm và thơ chữ Hán mà sau đây là một bài tiêu biểu:

ĐỀ GƯƠM

Rồng ẩn Lam Sơn lúc đợi thời, Trong tay thế sự rõ mười mươi. Xoay đời, trời sáng sinh vua giỏi, Gặp bạn, hùm thiêng nổi gió tài. Hận nước nghìn năm vừa rửa sạch, Hòm vàng muôn thuở chắc không phai. Giang sơn đổi mới từ đây nhỉ, Thử đếm anh hùng được mấy ai?

Xuân Thủy dịch

NGUYỄN TRÃI – NHÀ CHÍNH TRỊ KIỆT XUẤT, BẬC HIỀN TÀI QUỐC GIA.

Nguyễn Trãi tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và cộng sự với triều đình nhà Lê với tư cách một nhà chính trị, một nhà mưu lược. Ông đã thi thố tài kinh bang tế thế trên các mục tiêu chiến lược: đánh đuổi giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước, xây dựng triều đại Hậu Lê thành một triều đại hưng thịnh. Bên cạnh đó ông xây dựng một sự nghiệp văn chương kì vĩ.

Suốt cuộc kháng chiến chống Minh, Nguyễn Trãi đã tỏ rõ ông là một nhà chính trị kiệt xuất có tầm tư tuởng cao nhất của thời đại bấy giờ. Đánh giặc đương nhiên phải dùng tới vũ dũng. Nhưng đối lập với những kẻ hữu dũng nhưng vô mưu, vô trí, vô nhân, Nguyễn Trãi, với tầm vóc của một nhà tư tưởng, nhà chiến lược quân sự, vị quân sư của Lê Lợi, đã cống hiến và đặt nền móng tinh thần, tư tưởng cho cuộc kháng chiến. Đó là tư tưởng nhân nghĩa mà ông rút từ học thuyết Nho Giáo của Khổng Tử nhưng được áp dụng một cách đầy sinh động và sáng tạo vào hoàn cảnh nước ta lúc đó. Cao kiến ấy của Nguyễn Trãi, nhà Hồ cũng như nhà Hậu Trần trước đó đều không có được. Nó đáp ứng khát vọng cháy bỏng của nhân dân ta đương thời, khiến cho tất cả mọi người Việt Nam từ bậc hào kiệt, giới sĩ phu, dân cày cuốc đến kẻ cùng đinh đều hướng về và quây quanh vị chủ tướng Lê Lợi. Muôn người cùng có chung một suy nghĩ lớn: NGHĨA, và một tình cảm lớn: NHÂN. Chính sự thống nhất cao độ về lí trí và tình cảm ấy đã tạo nên sức mạnh “chở thuyền lật thuyền”, khiến giặc Minh không thể nào chống lại nổi!

Tư tưởng nhân nghĩa trác việt ấy luôn luôn được Nguyễn Trãi triệt để cổ súy, nhấn mạnh ở mọi nơi, mọi lúc, trên chính trường, trên nghị luận và trong văn chương. Mở đầu Bình Ngô đại cáo – bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam thế kỉ XV – ông viết:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Chỉ với hai câu văn, Nguyễn Trãi đã xác định rõ ràng mục tiêu quang minh chính đại của cuộc kháng chiến chống Minh: đó chính là việc thực thi tư tưởng nhân nghĩa trong hoàn cảnh chống ngoại xâm. “Cẩm nang” nhân nghĩa là vũ khí tinh thần tối quan trọng cho nghĩa quân và nhân dân Đại Việt, đồng thời là độc tố làm rệu rã tinh thần của bọn giặc Minh xâm lược. Có thể nói Nguyễn Trãi đã sử dụng tài tình nghịch lí “gậy ông đập lưng ông”: ông dùng chính những luận điểm kinh điển của tư tưởng Trung Hoa từng được các bậc thánh hiền như Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Mặc Tử… đúc kết mà bọn tướng Minh đều đã học thuộc nằm lòng, để quật lại chúng. Giặc Minh kéo sang An Nam với chiêu bài “chính nghĩa” là diệt nhà Hồ để khôi phục ngôi nhà Trần đã bị nhà Hồ thoán đoạt. Nhưng Nguyễn Trãi đã vạch rõ bộ mặt xâm lược phi nghĩa của chúng chỉ bằng một từ duy nhất: “bạo”! Chiêu bài “chính nghĩa” bị xé toạc, bộ mặt bạo ngược, bất nhân phi nghĩa của giặc bị phơi bày trước trời đất, trước toàn thể sĩ phu và nhân dân ta: chỉ riêng điều đó cũng đã đủ khiến chúng vô cùng hoảng sợ. Đòn cân não ấy xuất phát từ một khối óc thiên tài: Nguyễn Trãi.

Khác với rất nhiều vị vua và các tướng lĩnh giỏi của các thời đại, trong nước và trên thế giới, Nguyễn Trãi – xuất phát từ tư tưởng nhân nghĩa – hiểu thấu hơn ai hết cái chân lí lớn máu người không phải nước lã. Chính vì vậy, ông ra sức dùng đòn bút, đòn cân não để đánh giặc, nhằm làm giảm bớt tối đa xương máu của nghĩa quân Lam Sơn. Việc quân ta chủ trương trường kì vây hãm Đông Quan mà không ồ ạt tiến công hạ thành cũng chính nhằm bảo toàn lực lượng của ta, và kết quả thật kì diệu: giặc Minh rốt cuộc phải đầu hàng, còn nghĩa quân Lam Sơn hầu như không mất một mũi tên, một mạng người!

Ở phần cuối Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết: “Ta coi toàn quân là hơn, để dân nghỉ sức”. Tinh thần nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đối với quân và dân ta nồng đượm biết chừng nào!

Là nhà tư tuởng tầm vóc nhân loại, Nguyễn Trãi chủ trương áp dụng nhân nghĩa cho tất cả những ai là con người chứ không riêng gì người An Nam. Một sáng kiến vĩ đại của ông là mang nhân nghĩa áp dụng ngay cả với kẻ thù! Ông chủ trương “mưu phạt tâm công, không chiến cũng thắng”. Ông chỉ muốn đánh vào tâm vào trí giặc khiến chúng bại vong rút về nước chứ không thích giết nhiều người. Ngay cả khi tính mạng giặc hoàn toàn nằm trong tay nghĩa quân, các lãnh tụ Lam Sơn đã hành động theo tinh thần “oai thần không giết, ta cũng thể lòng trời mở đức hiếu sinh”.

Khởi đầu bằng một cuộc đấu tranh vũ trang, nhưng nhờ có tư tưởng nhân nghĩa làm kim chỉ nam, phần cuối của cuộc kháng chiến chống Minh đã diễn ra bằng hình thức “đàm phán hoà bình”. Giặc Minh ở các lộ được tự do đến các chợ mua “đồ lưu niệm”, rồi tất cả lục tục kéo về Đông Quan để rút hết về nước. Không ai khác, chính Nguyễn Trãi là tác giả của hình thức kết thúc chiến tranh hiếm thấy đó trong lịch sử chiến tranh phương Đông.

Hiệu quả của hành động kết thúc chiến tranh bằng tư tưởng nhân nghĩa ấy thật vô cùng to lớn: một trang sử mới hoà hiếu đã mở ra giữa hai nước An Nam – Trung Hoa và duy trì suốt hơn bốn trăm năm cho đến khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta vào nửa cuối thế kỉ XIX (trừ một giai đoạn rất ngắn quân Thanh kéo sang nước ta theo lời kêu gọi của Lê Chiêu Thống nhưng lập tức bị vua Quang Trung tiêu diệt).

Từ xưa đến nay, chỉ những bậc đại nhân đại trí như Nguyễn Trãi mới chọn nhân nghĩa (hay chủ nghĩa nhân đạo) làm nền tảng cho sự nghiệp của mình. Họ chủ trương giải quyết những vấn nạn của nhân loại trên cơ sở lương tri cao cả của con người. Đối lập với họ là bọn bạo chúa của các thời đại (như phái pháp gia đời Tần hoặc Thành Cát Tư Hãn và Hốt Tất Liệt thời Nguyên Mông…) – những kẻ chủ trương xây dựng sự nghiệp trên xương máu và thảm hoạ của muôn dân mà thi hào Nguyễn Du đã mô tả bằng một câu “Dãi thây trăm họ làm công một người”. Con đường nào đúng? Đó là một câu hỏi hóc búa đòi hỏi phải có những kiến giải tối ưu đặt ra cho những người muốn đi tìm chân lí của môn lịch sử.

Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy tư tưởng nhân nghĩa trong thời bình, khi ông phụng sự dưới hai triều Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông thông qua việc tổ chức triều chính, ban hành các chính sách kinh tế xã hội… Đằng sau các lệnh chỉ của vua, của triều đình, người đọc sử có thể thấy rõ mồn một cái hạt nhân trí tuệ và tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi. Ví dụ các lệnh chỉ sau đây: tiến cử và tự tiến cử hiền tài; sát hạch trình độ của các quan văn võ trong toàn quốc; cấm rượu chè cờ bạc; đào tạo các con quan văn võ tại Trường quốc học; phân chia ruộng đất cho tất cả mọi người, từ quan đại thần đến người cùng đinh, đàn bà goá, trẻ mồ côi; cho phép các ngôn quan được dâng sớ vạch rõ những sai lầm khiếm khuyết của vua, đàn hặc những sai trái của các quan; cấm quan lại không được mở rộng đất đai ngoài mức triều đình qui định v.v…

Trong sớ tâu với vua Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi đã viết một câu bất hủ: “Xin bệ hạ yêu muôn dân để cho tận chốn thôn cùng xóm vắng không còn nghe thấy tiếng ta thán, thế mới là không mất cái gốc của nhạc”.

Những đóng góp của Nguyễn Trãi – nhà tư tưởng, nhà chính trị kiệt xuất, bậc hiền tài quốc gia – đã giúp cho triều đại Hậu Lê tiến bộ vượt bậc và đạt tới cực thịnh vào đời Lê Thánh Tông. Nguyễn Trãi xứng đáng sánh ngang với các nhà chính trị lỗi lạc của mọi thời đại.

NGUYỄN TRÃI – MỘT NHÂN CÁCH VĨ ĐẠI

Ngoài những cống hiến vô cùng lớn lao cho đất nước, Nguyễn Trãi được toàn thể dân tộc tôn vinh còn vì nhân cách cao cả của ông.

Con người có nhân cách là người biết tự trọng, quyết chí tu thân, có lí tưởng sống cao đẹp và suốt đời hành động theo lí tưởng đó.

Ngay từ khi còn rất trẻ, Nguyễn Trãi đã mang nặng hoài bão nhập thế giúp đời. Thiên tài của ông đã may mắn gặp được bậc minh quân, được trọng dụng trong công cuộc vĩ đại: đánh đuổi giặc ngoại xâm, đem lại nền thái bình thịnh trị cho đất nước. Ông đã hào hứng viết:

Xoay đời, trời sáng sinh vua giỏi, Gặp bạn, hùm thiêng nổi gió tài.

(Đề gươm)

Tài năng và nhân cách của ông đã làm nên hình tượng người anh hùng của thời đại chống ngoại xâm.

Nhưng nhân cách ông càng thực sự sáng ngời trong những nghịch cảnh của đời ông diễn ra giữa thời bình nhưng đầy dẫy phiền lụy của một triều đại phong kiến. Ngay dưới triều Lê Thái Tổ, do những lời sàm tấu của lũ quan lại trong triều (vu cho ông tội âm mưu nổi loạn, cướp ngôi!), ông đã bị nhà vua hạ ngục. Trong nghịch cảnh ấy, ông đã nén lòng uất hận, đã đặt bi kịch cá nhân mình xuống dưới sự nghiệp lớn lao của nhà Hậu Lê, dưới nền thái bình của xã tắc:

Trung côi, ghét lắm, bao đau xót, Hoạ thực danh hư khéo nực cười. … Trong lao “độc bối” cam mang nhục, Cửa khuyết làm sao tỏ khúc nhôi?

(Than nỗi oan) – Thạch Can dịch

Mang cốt cách đại trượng phu, Nguyễn Trãi không bao giờ thoả hiệp, về hùa với những tà kiến của một số triều thần. Vì vậy, ông trở thành cái gai trước mắt họ. Bị họ bài xích, cuối cùng ông đành phải xin vua Lê Thái Tông cho về trí sĩ ở Côn Sơn (những năm 1437 – 1438). Lâm vào một nghịch cảnh mới, ông đã xử sự như thế nào?

Trước hết, ông nhận thức được “trong cái rủi có cái may”! Vì bị xua đuổi mà ông có được một dịp tốt nhất để chính mình chiêm nghiệm cuộc sống ẩn cư, từng được coi là điều tuyệt thú của bao hiền sĩ đời xưa, trong đó có ông ngoại của ông là Trần Nguyên Đán. Không chịu để cho bi kịch của cuộc sống thế tục đè bẹp, ông vươn lên tầm cao, hoà nhập vào đại tự nhiên cực kì diễm lệ. Hình ảnh của ông khác nào một tiên ông, một thánh nhân giữa núi non, mây nước, cây cỏ, chim muông:

Đủng đỉnh chiều hôm giắt tay, Trông thế giới phút chim bay. Non cao non thấp mây thuộc, Cây cứng cây mềm gió hay…

hoặc:

Thiêu hương đọc sách quét con am Chẳng bụt chẳng tiên ắt chẳng phàm. Ánh cửa trăng mai lớp lớp, Kề song gió trúc nồm nồm…

Trong những hoàn cảnh đặc biệt, người ẩn sĩ quay lưng lại với cuộc đời, khẳng định bản lĩnh và phẩm chất cá nhân của mình. Xét theo tinh thần của chủ nghĩa nhân bản, đó là một biểu hiện không những hợp lí mà còn tuyệt đẹp nữa. Vì vậy mà những ẩn sĩ như Bá Di, Thúc Tề, Sào Phủ, Hứa Do, Lã Vọng, Khổng Minh, Nghiêm Quang hay bọn “bát tiên”, “lục dật” ở Trung Hoa, hoặc Trần Nguyên Đán, Nguyễn Bỉnh Khiêm, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Nguyễn Khuyến ở Việt Nam… đã đi vào huyền thoại và trở thành điển cố.

Nguyễn Trãi đã nhiều lần khẳng định mình sau khi ông đã giải quyết xong bài toán hành – tàng, xuất – xử:

Ngán vòng thế tục thân danh hão, Quẳng cái phù sinh giấc mộng hờ. Tính khí một đời nguyên nếp cũ, Lênh đênh há giảm chí hào xưa!

(Đêm đậu thuyền ở cửa Lâm)

– Ngô Linh Ngọc dịch

Ngoài năm mươi tuổi, ngoài chưng thế, Ắt đã tròn bằng nước ở bầu.

hoặc:

Non lạ nước thanh làm náu, Đất phàm cõi tục cách xa. Cốt lạnh hồn thanh chăng khứng hoá (không chịu đổi).

Vận dụng triết lí Lão – Trang, sống thoát tục, Nguyễn Trãi càng nhận thức sâu sắc một chân lí của muôn đời:

Dưới công danh đeo khổ nhục, Trong dầu dãi có phong lưu.

Và ông hướng tới một lí tưởng mới: nếu không còn điều kiện để làm một quốc sĩ thì hãy làm một con người thật sự trong sạch và thánh thiện. Đó không phải là điều đáng mơ ước cho chúng sinh trong vòng ô trọc sao:

Phú quí chẳng tham, thanh tựa nước.

Tuy nhiên, đặc tính của một nhân cách lớn là tối kị lối sống “hư sinh” (sống thừa). nguyễn Trãi chính là biểu hiện rực rỡ của cái chân lí về người quân tử mà Kinh Dịch đã nói: “Trời chuyển vần mãnh liệt, quân tử cũng tự tạo sức mạnh mà không ngừng nghỉ.” (Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức). Trong thời gian ở ẩn tại Côn Sơn, ông đã làm bao nhiêu việc lớn lao vĩ đại, không hề thua kém việc ông tham gia kháng chiến chống Minh trước đó: tu thân, tìm ra triết lí sống mới, tổng kết những bài học về thế sự và nhân sinh, viết sách giáo khoa luân lí đạo đức, và sáng tạo cả một công trình vĩ đại về thi ca Hán – Nôm.

Ông hiểu thấu rằng luân lí, đạo đức, thuần phong mĩ tục… là nền tảng cho đời sống hạnh phúc lâu dài của con người. Vì vậy, ông đã trước tác một tác phẩm chuyên về luân lí đạo đức mang tên Bảo kính cảnh giới (Gương quí răn mình) trong đó ông đúc kết nên những khuôn vàng thước ngọc của nền đạo đức dân tộc. Những bài “đức dục” ấy của ông, trải qua năm sáu trăm năm, đến nay dường như vẫn còn nóng hổi và sát thực với chúng ta:

– Kết bạn, mạ (chớ) quên người cố cựu, Yên nhà nỡ phụ vợ tao khang? – Trừ độc trừ tham trừ bạo ngược, Có nhân có trí có anh hùng. – Cơm ăn miễn có, dầu thô bạc, Áo mặc âu chi quản cũ đen. – Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền, Cành bắc cành nam một cỗi nên. Ở thế nhịn nhau muôn sự đẹp… – Của thết người là của còn, Khó khăn, phải đạo cháo càng ngon. – Bất nhân vô số nhà hào phú, Của ấy nào ai từng được chầy (lâu)? – Sắc là giặc, đam làm chi? Trụ mất quốc gia vì Đát Kỉ Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi…

Không hề giáo điều với chủ nghĩa ẩn cư, khi được ông vua trẻ Lê Thái Tông mới lên ngôi mời ra giúp việc triều đình, Nguyễn Trãi lại vui vẻ “nhập thế”. Ông lại lao vào một cuộc chiến đấu mới hết sức gay go. Khi ấy nhà vua còn trẻ, lười học hành, ham chơi bời, sớm vướng víu chuyện thê nhi… Triều chính lục đục, nhất là chuyện phế lập thái tử, chuyện rắc rối giữa các bà phi… Với trách nhiệm của một bậc lương thần, ông ra sức chèo chống để hạn chế những hành động sai quấy của cả vua lẫn bọn quan lại trong triều. Chính vì vậy, ông trở thành tảng đá cản dòng đối với bọn gian thần. Cuối cùng, chúng lợi dụng cái chết đột ngột của Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên, vu cáo ông âm mưu giết vua và khép ông vào cái án tru di tam tộc!

Thảm hoạ và cái chết của Nguyễn Trãi phải được nhìn nhận như một hành vi tuẫn đạo của một bậc đại hùng đại đức, của một nhân cách vĩ đại. Nhân cách ấy vượt lên trên tầm của thời đại nhiễu nhương bấy giờ và hướng tới sự tất thắng của chân lí, đúng như những câu thơ ông viết:

Văn như vị táng dã quan thiên.

(Văn không tàn lụi cũng do trời)

Là một khai quốc công thần và đại thần của triều Hậu Lê, Nguyễn Trãi có thể dễ dàng đạt được tột đỉnh của vinh hoa phú quí, vậy mà ông đã khước từ tất cả và cuối cùng phải hi sinh đến ba họ chỉ vì chân lí, vì nhân nghĩa, vì nhân dân. Nhân cách cao thượng, trong sáng của ông quả có thể sánh với mặt trăng mặt trời.

NGUYỄN TRÃI – NHÀ VĂN HÓA VĨ ĐẠI

Từ xưa, loài người đã từng sản sinh ra một mẫu người vô cùng hiếm hoi: mẫu nhân tài bách khoa như Léonard de Vinci (1452 – 1519). Nguyễn Trãi của Việt Nam thuộc mẫu người đó. Ông đồng thời là nhà chính trị lỗi lạc, nhà bác học và nhà thơ vĩ đại. Ông nghiên cứu và có nhiều trước tác thuộc nhiều lĩnh vực của tự nhiên và xã hội như: quân sự (Quân trung từ mệnh tập), địa lí (Ức Trai dư địa chí), lịch sử (Lam Sơn thực lục), điển phạm của triều đình (Giao từ đại lễ), pháp luật của quốc gia (Luật thư – tác phẩm sau này được Lê Thánh Tông sử dụng làm nội dung căn bản của bộ luật vĩ đại: Bộ luật Hồng Đức), âm nhạc (ông là người tổng kết âm luật nhạc dân tộc để soạn ra quốc nhạc, chế định các nhạc cụ của ban nhạc triều đình, là tác giả chế tạo khánh đá), văn học (gồm cả văn và thơ chữ Hán và chữ Nôm).

Trong luận văn này, chúng tôi xin đi sâu trình bày về sự nghiệp thơ văn Hán và Nôm kì vĩ của ông.

Nguyễn Trãi là cây đại thụ toả bóng rợp ngàn năm cho hậu thế. Trước ông, thơ nôm đã xuất hiện và còn để lại chứng tích ở đời Trần với Hàn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An, Trần Quí Khoáng, Nguyễn Biểu… (hầu hết tác phẩm của họ đã thất truyền). Những tác phẩm còn sót lại được viết khá bóng bẩy nhưng vẫn còn mang nặng khuôn sáo thơ cổ điển Trung Hoa.

Thơ quốc âm của Nguyễn Trãi là di sản quí báu nhất của thời kì sơ khai nền văn học dân tộc. Ông chính là một trong những “ông tổ thơ nôm” đã đặt nền móng cho nền thơ ca thành văn của dân tộc sẽ phát triển không ngừng ở các thời đại sau.

Kì tích đầu tiên của Nguyễn Trãi với thơ nôm là việc ông nhận thức được giá trị và chú tâm khai thác vốn từ ngữ của Tiếng Việt, một ngôn ngữ có đặc tính đẹp đẽ, tinh tế, biểu cảm, giàu tính tượng hình và thượng thanh, giàu âm điệu… Ông đã chọn lọc, sáng tạo thêm và sử dụng chúng trong thơ với tư cách là những từ ngữ văn học nôm đích thực như: quẩy trăng, ngại bước, thu lành lạnh, nguyệt chênh chênh, cây rợp, dửng dưng ca, hớp nguyệt, nguyệt hiện, thanh tựa nước, chim kêu cá lội, hoa xảy động, nguyệt đeo về, tổ ong tàng, núi láng giềng, mây khách khứa, say mùi đạo, đầy qua nóc, nặng với then, nắng quáng, cây im thưa thớt, gió khoan khoan đến, tơ vết, mồ hoang cỏ lục, cài lướt then, chân đi đủng đỉnh, vận xênh xang, nước biếc non xanh, đêm chờ hương quế, ngày lệ bóng hoa, nguyệt một vầng, thu vàng, tuyết bạc, ngàn núi xanh, nguyệt ba canh, lao xao chợ cá, dắng dỏi cầm ve, phơ phơ đầu bạc, leo lẻo doành xanh …

Ông cũng mạnh dạn chuyển ngữ sang tiếng Việt nhiều từ ngữ, thành ngữ gốc tiếng Hán để cho người Việt dễ hiểu như: tường đào ngõ mận, câu quạnh cày nhàn, đạp áng mây, tấc lòng ưu ái, câu mầu, non lạ nước thanh, biển hiểm, ẩn cả, ba thân, hỏi trăng, cả dùng, cởi buồn, dưỡng dỗ, đi nghỉ, lòng thế…

Một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Trãi là việc thay thế những câu 7 âm tiết trong thơ Đường Trung Hoa thành những câu 6 âm tiết trong thơ nôm:

Góc thành nam lều một gian, No nước uống thiếu cơm ăn. Con đòi trốn dường ai quyến, Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn…

Không chỉ là bậc thầy sử dụng và sáng tạo ngôn ngữ thơ nôm, Nguyễn Trãi còn tỏ rõ ông là nhà thơ nôm thiên tài của dân tộc. Những nhà thơ lớn nhất của các thời đại sau, xét theo quan điểm lịch sử, không ai có thể vượt nổi ông.

Hầu hết thơ tả cảnh của ông đều là những kiệt tác. Có những câu thơ cực kì tài tình khiến những nhà thơ hiện đại phải kinh ngạc, khâm phục như:

– Tà dương bóng ngả áp giang lâu, Thế giới đông nên ngọc một bầu. – Cửa song dãi xâm hơi nắng, Tiếng vượn vang kêu cách non. Cây rợp tán che am mát, Hồ thanh nguyệt hiện bóng tròn. Cò nằm hạc lặn nên bầy bạn Ủ ấp cùng ta làm cái con. – Đủng đỉnh chiều hôm giắt tay Trông thế giới phút chim bay. Non cao non thấp mây thuộc, Cây cứng cây mềm gió hay. – Trà tiên nước kín, bầu in nguyệt, Mai rụng hoa đeo bóng cách song. Gió nhặt đưa qua ổ trúc, Mây tuôn phủ rợp thư phòng. – Phơ phơ đầu bạc ông câu cá, Leo lẻo doành xanh con mắt mèo. – Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, Hồng liên trì đã tiễn mùi hương. Lao xao chợ cá làng ngư phủ, Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.

Những câu thơ như vậy đâu có thua kém những câu tuyệt tác nhất của thơ Đường Trung Hoa hay của bất kì một nền thơ ưu tú nào trên thế giới? Phải chăng đây đích thực là thứ thơ mà người đời gọi là thơ tiên?

Thơ tả tình của Nguyễn Trãi cũng tài hoa không kém: những rung động tinh tế nhất của tâm hồn nhà thơ thời xưa được diễn tả một cách thần tình:

– Loàn đơn (liều lĩnh) ướm hỏi khách lầu hồng: Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng! Ngoài ấy dù (nếu) còn áo lẻ, Cả lòng (rộng lòng) mượn đắp lấy hơi cùng! – Xuân xanh chưa dễ hai phen lại, Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên. – Vì ai cho cái đỗ quyên kêu? Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu. Lại có hoè hoa chen bóng lục, Thức xuân một điểm não lòng nhau…

Bằng thơ nôm, Nguyễn Trãi đã diễn đạt được một cách sắc sảo và đầy rung cảm thế giới tâm tư phong phú, phức tạp, nhiều uẩn khúc của ông: những khát vọng, tâm sự ưu thời mẫn thế, những nỗi đắng cay và cả nỗi buồn được chế ngự bởi cốt cách của một bậc đại trượng phu, một vị đại ẩn sĩ:

– Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải, Góc thành nam lều một gian. – Quân thân chưa báo lòng canh cánh, Tình phụ cơm trời, áo cha! – Bạn cũ thiếu, ham đèn mấy sách, Tính quen chăng, kiếm trúc cùng mai? – Liệu cửa nhà xem bằng quán khách, Đem công danh đổi lấy cần câu. – Lòng một tấc son còn nhớ chúa, Tóc hai phần bạc bởi thương thu. – Cội cây là đá lấy làm nhà, Lân các, ai hầu mạc (vẽ) đến ta? – Say mùi đạo, trà ba chén, Tả lòng phiền, thơ bốn câu. – Giang sơn cách đường ngàn dặm, Sự nghiệp buồn đêm trống ba. – Tuổi cao tóc bạc, cái râu bạc, Nhà ngặt (nghèo) đèn xanh con mắt xanh. – Lòng người một sự yêm (chán) chưng một, Đèn khách mười thu lạnh hết mười! – Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông…

Thật diệu kì: những dòng tâm sự hàm chứa những nỗi đau buồn sâu xa ấy, đã sáu trăm năm rồi mà nay đọc lại, những kẻ hậu sinh nặng lòng thương xót vĩ nhân vẫn còn sa lệ!

Bằng khối óc mẫn tuệ của nhà hiền triết và sự trải đời ít ai sánh được, Nguyễn Trãi đã đúc kết trong thơ nôm rất nhiều triết lí thâm thúy. Một điều đặc sắc là thơ triết lí của ông không khô khan mà giàu cảm xúc nghệ thuật, khi đọc lên nghe tựa như những lời cảm thán với nhân tình thế thái:

– Dưới công danh đeo khổ nhục, Trong dầy dãi có phong lưu. – Có thân chớ phải (bị) lợi danh vây. – Nếu có ăn thì có lo, Chẳng bằng cài cửa ngáy pho pho. – Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc, Cho hay đường lợi cực quanh co! – Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn, Lòng người quanh nữa nước non quanh. – Sang cùng khó bởi chưng giời, Lăn lóc làm chi cho nhọc hơi? – Con cháu chớ hiềm (ngại) song viết (cơ nghiệp) ngặt (nghèo) Thi thư thực ấy báu ngàn đời. – Chỉn sá (rất nên) lui mà thủ phận. – Ngựa ngựa xe xe la ỷ (lụa là) tốt, Dập dìu là ấy chiêm bao. – Phượng những tiếc cao, diều hãy lượn, Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi. – Mã (chớ) trách thế gian lòng đạm bạc, Thế gian đạm bạc, đấy lòng thường!

Mang tầm vóc của một bậc thánh sư, Nguyễn Trãi đã dùng thơ nôm để truyền đạt đến đồng bào của ông những triết lí sống có giá trị nhất, đã góp phần đắc lực xây dựng nền đạo đức và nếp sống văn hoá của dân tộc ta trong thế kỉ XV mà ý nghĩa của nó sẽ được các thời đại sau kế tục.

Nguyễn Trãi là một trong những người khai sáng nền thơ nôm thành văn của dân tộc ta. Đồng thời, với thiên tài thi ca, ông trở thành nhà thơ tiếng Việt (thơ nôm) vĩ đại hàng đầu trong làng thơ Việt Nam kim cổ, là bậc thầy thơ nôm của tất cả nhà thơ các thời đại sau.

Không những là thi hào thơ nôm, Nguyễn Trãi đồng thời là văn thi hào chữ Hán lỗi lạc, để lại uy danh muôn thuở.

Bình Ngô đại cáo của ông đuợc coi là một áng “thiên cổ hùng văn”, một bản tuyên ngôn độc lập thứ hai sau bài “Nam quốc sơn hà…” của Lí Thường Kiệt, đã làm phấn chấn tâm hồn người Việt suốt hơn 5 thế kỉ rưỡi qua.

Bài cáo nêu bật lí tưởng cứu nước cứu dân, tinh thần nhân nghĩa, trí tuệ, khí phách và ý chí dời non lấp biển của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Bằng lối văn biền ngẫu đặc trưng của văn chương cổ điển, bằng giọng văn khi lâm li khi hùng tráng, tác giả đã trình bày cặn kẽ lịch trình của cuộc kháng chiến, ca ngợi chiến thắng vô cùng hiển hách của dân tộc ta:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Từ Triệu – Đinh – Lí – Trần nối đời dựng nước, Cùng Hán – Đường – Tống – Nguyên hùng cứ một phương. Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau Song hào kiệt không bao giờ thiếu. … Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, Lấy chí nhân thay cường bạo. Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay… Nó trí cùng lực kiệt, chờ chết bó tay, Ta mưu phạt tâm công, không chiến cũng thắng. … Nó đã tham sống sợ chết, thực bụng cầu hoà, Ta coi toàn quân là hơn, để dân nghỉ sức. … Xã tắc do đó vững bền, Non sông từ đây đổi mới…

(Bản dịch trong Đại Việt sử kí toàn thư)

                                     Thư lại dụ hàng Vương Thông

… Nay các ông kế cùng sức tận, quân sĩ mỏi mệt, trong thiếu lương thực, ngoài thiếu viện binh, bám hờ khu đất nhỏ mọn, nghỉ tạm ở cái thành trơ trọi, chẳng phải như thịt trên thớt, như cá trong nồi đó sao? … Nay ta tính hộ các ông có sáu điều phải thua: – Nước lụt chảy, tường rào đổ sập, lương cỏ thiếu thốn, ngựa chết quân ốm. Đó là điều phải thua thứ nhất. – Nay những nơi quan ải hiểm yếu đều có quân và voi ta đồn giữ, nếu viện binh đến, thế tất phải thua, mà viện binh đã thua thì các ông tất bị bắt. Đó là điều phải thua thứ hai. – Nước các ông quân mạnh ngựa tốt đều đóng cả ở đất Bắc phòng bị quân Nguyên, không rỗi ngó đến miền Nam. Đó là điều phải thua thứ ba. – Nước các ông luôn động can qua, liên tiếp gây sự đánh dẹp làm cho người ta sống không vui, nhao nhao thất vọng. Đó là điều phải thua thứ tư. – Nước các ông gian thần chuyên chính, chúa yếu giữ ngôi, xương thịt hại nhau, mối hoạ bùng ra từ trong nhà. Đó là điều phải thua thứ năm. – Chúng ta dấy nghĩa binh trên dưới cùng lòng, anh hùng dốc sức, quân sĩ ngày càng luyện, khí giới ngày càng tinh, vừa cày ruộng lại vừa đánh giặc. Đó là điều phải thua thứ sáu. Nay các ông giữ một cái thành cỏn con để chờ sáu điều thất bại, tôi lấy làm tiếc cho các ông lắm!…

Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi là thơ ở đỉnh cao, không thua thơ Đường, Tống. Cùng với những cây bút thơ chữ Hán cự phách của Việt nam như Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến…, thơ của ông đã góp phần quan trọng tạo dựng một nền thơ chữ Hán kì vĩ trong quá khứ trên đất nước ta.

Vì sao tổ tiên ta lại dùng chữ Hán để viết văn, làm thơ về những đề tài hoàn toàn thuộc đất nước và dân tộc ta? Theo thiển ý của chúng tôi, đó không phải một điều đáng mừng, đáng hoan nghênh như quan điểm của những đầu óc thiếu khả năng phán đoán và nắm bắt chân lí. Bởi còn gì tuyệt diệu hơn là dùng chính Tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ – để viết tác phẩm cho tất cả người Việt cùng nghe, cùng hiểu, không phải thông dịch? Do đó, việc phải tiếp tục dùng chữ Hán để trước tác văn chương cũng như dùng làm văn tự chính thức trong bộ máy hành chính quốc gia suốt bao nhiêu thế kỉ tự chủ (sau thời Bắc thuộc), chỉ là việc “không thể nào khác được” của dân tộc ta mà thôi. Trong một nghìn năm Bắc thuộc, bọn thống trị phương Bắc muốn biến nước ta thành quận huyện của Trung Hoa. Vì vậy mà chữ Việt cổ bị tiêu diệt, tiếng Việt bị khinh rẻ, bị gạt ra ngoài, Tiếng Hán (dưới dạng âm Hán – Việt) và chữ Hán đương nhiên giữ địa vị độc tôn. Phải mất vài thế kỉ của thời đại tự chủ, người Việt mới chế tác ra chữ Nôm để ghi chép tiếng Việt, bổ khuyết một lỗ hổng lớn của nền văn hóa dân tộc.

Trong hoàn cảnh “bất khả kháng” đó, Nguyễn Trãi cũng như các trí thức phong kiến khác, đã nhạy bén dùng chính chữ Hán để trước tác nên những tác phẩm thuộc đủ mọi lĩnh vực mang nội dung hoàn toàn Việt Nam. Và điều vô cùng đáng tự hào là những trước tác đó đã đạt tới trình độ tương đương với những trước tác chính cống của Trung Hoa. Chúng tôi xin trích dẫn một kiệt tác thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi:

Bạch Đằng hải khẩu

Sóc phong xuy hải khí lăng lăng, Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng. Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc, Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng. Quan hà bách nhị do thiên thiết, Hào kiệt công danh thử địa tằng. Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ, Lâm lưu phủ ý cánh nan thăng.

Cửa biển Bạch Đằng

Biển rung gió bấc thế bừng bừng, Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng. Kình ngạc băm vằm non mấy khúc, Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng. Quan hà hiểm yếu trời kia đặt, Hào kiệt công danh đất ấy từng. Việc trước quay đầu ôi đã vắng, Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.]

Nguyễn Đình Hổ dịch

Nội dung thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi cũng phong phú như thơ nôm của ông: Có bài hùng hồn giống như Bình Ngô đại cáo (ví dụ bài thơ trên), có bài mô tả thiên nhiên tuyệt mĩ:

Yên Sơn sơn thượng tối cao phong, Tài ngũ canh sơ nguyệt chính hồng. Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại, Tiếu đàm nhân tại bích vân trung…

(Đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự)

[Trên dải Yên Sơn đỉnh tuyệt vời, Đầu canh năm đã sáng trưng rồi. Mắt ngoài biển cả ôm trời đất, Người giữa mây xanh vẳng nói cười…]

Khương Hữu Dụng dịch

Có nhiều bài hàm chứa những tâm sự thẳm sâu, những nỗi đau đời của một con người vô cùng cao thượng nhưng lại phải trải qua bao cảnh thăng trầm giữa cuộc đời điên đảo:

Phù trục thăng trầm ngũ thập niên, Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên. Hư danh thực hoạ thù kham tiếu, Chúng báng cô trung tuyệt khả liên!

(Oan thán)

[Biển tục thăng trầm nửa cuộc đời, Non xưa suối đá phụ duyên rồi. Trung côi, ghét lắm, bao đau xót, Hoạ thực danh hư khéo nực cười!]

Thạch Can dịch

Nguyễn Trãi từng có một nhận định sâu sắc: “Nước ta tuy ở xa ngoài Ngũ lĩnh, nhưng từ xưa đã nổi tiếng là một nước thi thư”. Ở thời đại ông, những tinh hoa của cái thi thư ấy kết tinh nơi ông, và ông có niềm tin sắt đá vào sự bất diệt của nó. Chính vì vậy mà khi lâm nạn, bị Lê Thái Tổ hạ ngục năm 1429, ông viết:

Số hữu nan đào tri thị mệnh,

Văn như vị táng dã quan thiên.

(Số khó lọt vành âu bởi mệnh, Văn chưa tàn lụi cũng do trời)

Nguyễn Trãi đã mang niềm tin ấy để ung dung đi vào cõi vĩnh hằng. Thiên ở đây là gì? Là chân lí vĩnh cửu.

Lịch sử đã chứng minh hùng hồn chân lí vĩnh cửu mà ông hằng ôm ấp. Sự nghiệp vĩ đại của ông về chính trị, quân sự, văn chương, và phẩm cách cao cả, danh hiệu “anh hùng dân tộc” của ông ngày nay đã được toàn dân tộc ta xác nhận, tôn thờ. Không chỉ thế, vào năm 1980, nhân kỉ niệm 600 năm ngày sinh của ông, ông đã được cả loài người tôn vinh là danh nhân văn hoá thế giới.

Dân tộc ta xiết bao tự hào đã sản sinh ra một con người toàn thiện làm vẻ vang cho đất nước và dân tộc!

Ở Trung Hoa, những tác phẩm văn hoá lớn của các bậc thánh hiền được gọi là những bộ KINH như: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu.

Thiết nghĩ toàn bộ trước tác bất hủ của Nguyễn Trãi rất xứng đáng với tầm vóc và danh hiệu một bộ KINH của người Việt để toàn dân tộc học tập, nghiền ngẫm trên con đường đi tới tương lai. Đó cũng chính là sự trả lời của hậu thế với câu hỏi da diết của ông:

Hậu học thùy tương tác chuẩn thằng? (Mực thước người sau học nữa chăng?)

Nguồn: http://newvietart.com

Stt Đi Phượt, Những Chuyến Đi Chơi Xa Của Tuổi Trẻ / 2023

STT đi phượt vui thú vị

Phượt là đi qua nhiều địa điểm và khám phá những vùng đất mới. Không như du lịch, phượt tự túc và không bị gò bó. Cùng nghe những status đi phượt để hiểu phượt là đam mê của mỗi người.

1.

Mê trai có thể cai chứ mê xe dịch thì ăn vào máu.

2.

Đi đi đi đến một nơi mà chẳng biết ta là ai, chỉ có thiên nhiên rừng núi và gió trời.

3.

Sáng thức dậy ở một nơi thật xa xôi, lòng tràn đầy năng lượng và bắt đầu những hành trình mới.

4.

Phượt thú vị lắm, hòa chung với tâm hồn với nắng, tôi tìm được chốn bình yên, những cánh hoa dại ven đường tỏa hương thơm nhẹ nhàng.

5.

Một cuộc hành trình người ta không tính không phải bằng số kilomet, mà tính bằng những người bạn.

6.

Không có vùng đất nào là xa lạ. Chỉ có bạn là kẻ phương xa cô độc.

7.

Đi phượt đi bạn sẽ thấy Trái đất này rộng lớn bao la đến nhường nào.

8.

Đi nhiều nơi rất có ích. Nếu đến một đất nước tốt đẹp hơn, bạn sẽ nhận ra nhiều điều bổ ích. Nếu đến một đất nước tệ hơn, tôi chắc bạn sẽ yêu đất nước mình hơn.

9.

Thức giấc ở một nơi xa lạ là cảm giác thú vị nhất mà bạn nên trải nghiệm trong đời.

10.

Những chuyến phiêu lưu mới sẽ bổ ích cho đôi mắt của chính bạn.

11.

5 năm trước tôi từng hối hận vì không đi du lịch sớm hơn. Đừng bỏ lỡ nhiều cơ hội như tôi và đừng hối tiếc thời gian đã qua.

12.

Những kẻ lữ hành không biết nơi nào họ sẽ đến.

13.

Điều thú vị của những chuyến đi đó là đi lạc. Chỉ khi đi lạc bạn mới nhận thấy vô vàn điều mới mẻ.

14.

Đừng đi đâu xa, hãy đến bên kia sông, chắc chắn có những điều thú vị đang chờ đợi.

15.

Thanh xuân của họ là tình yêu với ai đó, với tôi thanh xuân là những chuyến đi dài ngày.

16.

Thế giới này là một cuốn sách, hãy đi nhiều nơi, đến nhiều vùng đất để đọc hết cuốn sách

17.

Đối với một kẻ lữ hành nơi nào cũng là nhà, cứ đi mãi và những hành trình không có điểm kết thúc.

18.

Khi khám phá một nước đất nước xa lạ, họ không hẳn sẽ chào đón bạn. Việc của bạn cần làm là thích nghi và làm quen với môi trường đó.

19.

Một kẻ xê dịch thông minh không bao giờ chê bai đất nước mình.

20.

Nếu không thể tìm được người đồng hành bằng hoặc thông minh hơn bạn, tốt hơn hết nên đi phượt một mình.

21.

Tôi thích là kẻ vô danh trong một thành phố hoàn toàn xa lạ.

22.

Một khi nhiễm niềm đam mê xê dịch, không có phương thuốc nào cứu chữa, chỉ có đi đi và không bao giờ dừng lại.

23.

Kẻ lữ hành thường không có lịch trình cố định, và không có điểm đến nhất định.

24.

Đích đến của mỗi người không phải là vùng đất mới mà là cách nhìn mới.

25.

Du lịch là để khám phá rằng có nhiều vùng đất, con người, văn hóa khác xa so với quê hương của bạn.

26.

Nếu muốn đi nhanh và dài hãy đi một mình, đừng chú tâm nhưng ích kỷ, nhỏ nhen của người đời.

27.

Du lịch là thật kỳ lạ, đây là thứ chúng ta bỏ tiền mua nhưng giúp chúng ta giàu có.

28.

Xách ba lô lên và đi, những con đường sẽ dẫn lối chúng ta đến những vùng đất mới.

29.

Chỉ có đi lang thang khắp nơi, chúng ta mới biết thêm những con đường mới, chưa từng ai đi qua.

30.

Phượt chính là chuyến đi bụi và ngẫu hứng, không cần lịch trình, chẳng biết đi đâu và về đâu, tự túc bản thân tự lo mọi thứ.

STT về những chuyến đi phượt

Mỗi hành trình, mỗi chuyến đi trong cuộc đời giúp chúng ta nhận ra những điều mới mẻ, thú vị trong cuộc sống. Đi thật xa để trở về và cảm thấy yêu đời, thoải mái hơn rất nhiều. Những câu cap hay về đi phượt chân lý mà người mê xê dịch phải biết.

31.

Ngồi một chỗ làm sao thấy được vẻ đẹp thiên nhiên. Ngay bây giờ xách ba lô lên và khám phá thôi.

32.

Đến với Tây Bắc để cảm nhận không khí vùng núi trong lành hơn, con người giản dị. Họ hiếu khách với khách du lịch.

33.

Cuộc đời là những chuyến đi, chúng ta nên đi khi sức khỏe còn cho phép.

34.

Mỗi cuộc hành trình nên có một người bạn cùng đồng hành. Dù xa xôi, mệt mỏi thế nào có bạn trò chuyện sẽ vơi đi những khó khăn trong chuyến đi.

35.

Đi bằng phương tiện gì không được miễn là thỏa lòng đam mê xê dịch trong tôi.

36.

Đừng như robot chỉ biết ngủ và làm. Hãy là con người hiện đại biết tận hưởng cuộc sống bằng việc đi du lịch.

37.

Tôi đang ở một nơi rất xa gần gũi với thiên nhiên, mây trời. Bầu không khí trong lành, không khói bụi thành phố.

38.

Hãy đi bằng tâm hồn để không còn mệt mỏi đôi chân, hãy lắng nghe bằng con tim để thấy xao lòng một bản tình ca của trời, của đất.

39.

Đi xa rồi mới nhận ra phía sau nên là một khoảng không hoặc người tri kỷ, đi phượt vì sự tự do chứ không hẳn là gò bó bản thân?

40.

Có những con đường thuộc về bạn, những quyết định có thể khiến bạn hạnh phúc dù đúng hay sai. Sự tự do luôn mang lại thoải mái cho mỗi chúng ta.

41.

Đi thôi em, mang balo mỉm cười tạm biệt lũ bạn hay gặp mặt, vẫy tay với cuộc sống thường nhật, đi đến một nơi xa xôi.

42.

Mỗi hành trình là một bài học cuộc sống, hãy đi thật nhiều để chúng ta có một kho tàng tri thức sống.

43.

Đừng chùn bước vì những câu kiểu như như “Em không dám đi một mình.”, “Em không có người đồng hành.”…

44.

Đi phượt một mình cô đơn và buồn chán? Đơn giản vi chúng ta muốn những khoảnh khắc đáng nhớ bên những người thân yêu.

45.

Đối vời người thích du lịch thật sự, đặt chân đến một vùng đất mới, cảm nhận những điều thú vị con người, văn hóa, phong tục tập quán đó là mới là chuyến đi có ý nghĩa.

46.

Hãy tự thử cảm giác một mình trải nghiệm điều mới mẻ, thử thách bản thân, khả năng tự lập khi đi xa khi không có ai bên cạnh.

47.

Đi du lịch một mình, buồn có đó, cô đơn cũng có nhưng sẽ là gia tài quý báu của tuổi trẻ, mà dù có vô số tiền cũng không thể nào mua nổi.

48.

Mây tầng nào sẽ gặp mây tầng đó, đi thật nhiều chúng ta sẽ gặp những người cùng sở thích và đam mê.

49.

Đến Hà Giang tháng 10 – 11 thời gian đẹp nhất năm để khám phá vùng đất Tây Bắc.

50.

Đã bao lâu bạn vùi mình trong công việc mà quên mất việc thư giãn. Hãy nghỉ ngơi và bắt đầu một chuyến đi, đi đâu cũng được miễn là đi.

51.

Đầu tư vào du lịch chỉ có lời và không bao giờ lỗ.

52.

Cuộc hành trình ngàn dặm khởi đầu từ những bước chân nhỏ bé

53.

Hãy yêu một anh chàng mê phượt. Khi buồn sẽ có nhiều câu chuyện về cuộc trải nghiệm đó đây để kể cho em nghe.

54.

Phượt là những chuyến đi thử thách bản thân, trải nghiệm thú vị, chứ không phải là sống ảo trên mạng xã hội.

55.

Đừng đánh đồng phượt thủ và tốc độ. Người yêu thích du lịch không hẳn lúc nào cũng đam mê tốc độ.

56.

Phượt là khi chúng ta có thời gian rảnh chứ không phải là bỏ học, bỏ làm để đi chơi.

57.

Tuổi trẻ mà, còn sức đi được thì đi thôi.

58.

Phượt thủ là đi khắp mọi nơi, từ đồi núi hay ven rừng, ăn bờ ngủ bụi mới đúng là phượt thủ chân chính.

59.

Phượt thủ thật oai, full giáp, nón full nhìn thật ngầu nhưng hơn hết là bảo vệ bản thân trước những chuyến hành trình dài.

60.

Nếu thấy áp lực hãy nghỉ ngơi, tìm một hành trình ngắn nhưng đủ giải tỏa căng thẳng cá nhân, nạp năng lượng cho ngày mới.

Những câu nói hay về đi phượt

STT đi chơi dành cho những cô bé chàng trai mê du lịch bụi. Tự lo mọi thứ, khám phá nhiều vùng đất chưa từng biết đến, những trải nghiệm về những chuyến đi của tuổi thanh xuân lưu giữ trong tâm hồn mỗi người.

61.

Phượt đơn giản lắm không cầu kì trang phục, không kén phương tiện, chiếc xe máy cà tàng, ba lô đồ linh tinh, chỉ vậy thôi cũng làm một chuyến phượt để đời.

62.

Đi phượt là du lịch bụi ăn uống, ngủ nghỉ đơn giản, ngủ bờ ngủ bụi là chuyện thường tình nhưng lại là trải nghiệm đáng nhớ.

63.

Phượt chạm vào những cảnh đẹp mà du lịch không có.

64.

Đến vùng đất mới, ngắm nhìn cảnh vật mới, những trải nghiệm đáng nhớ trong đời.

65.

Một hành trình không đong đếm bằng số kilomet đi qua mà bằng những điều mới mẻ mỗi người thu nhặt được.

66.

Tôi thích cảm giác lang thang trong một thành phố xa lạ, tự do khám phá những điều chưa từng thấy, chưa từng biết.

67.

Đi để trở về, đi để thay đổi. Thế giới bên ngoài rộng lớn, con người hữu hạn. Hãy đi thật nhiều để thay đổi chính bản thân.

68.

Đi nhiều giúp người thông minh càng thông minh hơn, kẻ khờ càng khờ tệ hại.

69.

Thôi thúc khám phá cái mới là bản năng của con người.

70.

Bỏ nhiều tiền đi du lịch bạn không lỗ mà vẫn lời, du lịch nhiều con người càng thông minh và hiểu biết sâu rộng.

71.

Đừng đọc mọi thứ qua sách, báo hãy trải nghiệm những vùng đất mới bằng những chuyến đi mới.

72.

Người phượt mà không quan sát cũng giống như chim mà không có cánh

73.

Đi phượt không phải chạy trốn cuộc sống, mà là cuộc sống không thể chạy thoát khỏi chúng ta.

74.

Không hẳn những kẻ lang thang là họ đang lạc.

75.

Nếu bạn còn đi cuộc hành trình sẽ kéo dài mãi mãi. Đừng dừng lại khi bản thân còn đủ khả năng.

76.

Đi nhiều giúp những gì ta tưởng tượng so với thực tế khác xa nhau. Thay vì hình dung, cứ đi xem như thế nào.

77.

Người sống nhiều kinh nghiệm không dựa vào số năm mà là người có nhiều trải nghiệm nhất.

78.

Đừng kể bạn học hành giỏi như thế nào, hãy nói với tôi bạn đi được bao nhiêu nước.

79.

Đừng nghe những kẻ khoe khoang số nơi anh ta đi, hãy nghe anh ta kể những gì đã thấy.

80.

Không quan trọng là đi đâu, điều tôi cần chỉ là sự dịch chuyển.

81.

Đừng bỏ qua bất cứ cơ hội nào để đi, bởi đi nhiều nơi sẽ mở mang được tầm vóc.

82.

Đừng đi đến những nơi có sẵn đường mòn, hãy đi theo những nơi có dấu vết.

83.

Mục đích của cuộc đời mỗi người là sự trải nghiệm mới mẻ và những điều chưa từng biết. Hãy đi và đừng sợ hãi.

84.

Đi đâu cũng được nhưng đi cùng ai càng quan trọng hơn.

85.

Tuổi trẻ ngắn hạn, đời người hữu hạn, hãy đi khám phá khi còn sức lực. Đừng hối tiếc khi về già.

Cap đi phượt đi chơi

Phượt đơn giản lắm, không cầu kì, chỉ cần balo, xe máy và chiếc smartphone giúp chúng ta tự do tự tại, hòa mình vào núi rừng, biển cả để thấy đất nước này thật xinh đẹp. Mỗi chúng ta nếu mê du lịch đừng bỏ qua những câu nói hay về phượt chất lừ bên dưới.

86.

Tuổi trẻ hữu hạn, thế giới thì rộng lớn. Ngồi một chỗ như ếch ngồi đáy giếng.

87.

Người độc hành tuy cô đơn nhưng là sự cô đơn trong niềm vui, ít nhất bản thân nhận được nhiều bài học ý nghĩa.

88.

Đôi khi vượt ra ranh giới của vòng an toàn để cảm nhận cuộc đời, những chuyến phượt dài ngày giúp bạn nhận ra nhiều điều bổ ích trong cuộc sống.

89.

10 năm sau chúng ta sẽ hối hận vì tuổi trẻ bỏ lỡ những chuyến đi, nơi tuổi trẻ vẫy vùng khám phá thế giới.

90.

Tôi sẽ đi mãi cho đến khi tìm được ai đó đủ sức giữ tôi dừng lại.

91.

Độc hành là trải nghiệm sự tự do của bản thân. Thích đi thì đi, mệt thì nghỉ. Tự do ngắm núi rừng, mây trời mà không chút muộn phiền.

92.

Mọi việc trong cuôc sống đều là thử nghiệm. Đừng do dự hãy thử nghiệm càng nhiều càng tốt.

93.

Tôi muốn cùng ai đó đi thật xa, rời khỏi nơi này. Đi du lịch ngắm cảnh, ăn tối, trò chuyện trên trời dưới đất.

94.

Ai đi phượt mà không háo hức, mệt mỏi rồi chán nản nhưng nếu có đam mê theo đuổi, quyết tâm thì những chặng đường xa chẳng làm khó ta.

95.

Nhiều khi chỉ ước có balo, xe máy và máy ảnh trong tay tôi sẽ rong rong đuổi mọi ngóc ngách của thành phố này.

96.

Cảm giác ngồi trên xe làm bạn với tốc độ nó “phê” gì đâu. Đi rồi mới thấy cuộc sống quanh ta rộng lớn bao la.

97.

Nếu chỉ quanh quẩn ở các toà nhà văn phòng bạn sẽ không thể nhận ra vẻ đẹp của thế giới xung quanh.

98.

Nếu mỏi mệt quá hãy nghỉ ngơi vài hôm, đi đâu đó thư giãn, nạp năng lượng và quay lại công việc.

99.

Có đôi khi bắt đầu những cuộc hành trình giật mình nghĩ “có phải ngã rẽ phía trước là định mệnh của cuộc đời”?

Đi phượt hay du lịch bụi có rất nhiều điều bổ ích, những vùng đất mới giúp chúng ta có thêm sự hiểu biết, ngoài ra du lịch còn là cách thư giãn, giải trí nạp năng lượng cho ngày mới. Với những STT đi phượt hy vọng bạn sẽ yêu thích.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tìm Hiểu Về Anh Hùng Dân Tộc Trương Định Nhân Chuyến Đi Nghiên Cứu Thực Tế Của Chi Bộ Giảng Viên 3 / 2023 trên website Altimofoundation.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!