Đề Xuất 2/2023 # Rừng Na Uy – Haruki Murakami # Top 8 Like | Altimofoundation.com

Đề Xuất 2/2023 # Rừng Na Uy – Haruki Murakami # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Rừng Na Uy – Haruki Murakami mới nhất trên website Altimofoundation.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Rừng Na – uy là một tác phẩm có thể nói là kinh điển, mang dậm dấu ấn Nhật Bản thập niên 60. Hôm nay mình muốn bày tỏ những suy nghĩ của mình về tác phẩm lẫn cả bộ phim cùng tên của đạo diên Trần Anh Hùng.

Đọc sách luôn là một trải nghiệm thú vị đối với nhiều người và việc đắm mình vào trong những câu chữ của Haruki lại mang cho mình một cảm xúc khác so với đọc các tác phẩm mình từng đọc, bởi lẽ lối viết văn của nhà văn này có một phong cách khá thực tế, chân thực và cởi mở.

Về phần cốt truyện, tác phẩm xoay quanh câu chuyện tình tay ba giữa Toru Watanabe – Naoko – Midori qua lời trần thuật, hồi tưởng ở ngôi thứ nhất của nhân vật nam chính Toru Watanabe về mối tình những năm anh 20 tuổi. Khác với những tác phẩm tình cảm khác, câu chuyện tình xảy ra tự nhiên hơn, không có quá nhiều nút thắt hay cao trào mà những sự việc được đẩy lên đỉnh điểm qua những câu nói chuyện của nhân vật. Chẳng hạn như chuyện Naoko tự tử được kể lại qua lời kể của Reiko Ishida nhưng lối kể này sẽ chân thực hơn vì nó xuất phát từ người ở bên cạnh cô lúc trước khi mất và ông thêm xén vào cả những suy nghĩ của Reiko. Điều này khó có thể thực hiện nếu như không phải Haruki viết hay ở ngôi thứ ba.

Về lối viết, Haruki, ông không đi sâu vào việc thể hiện trình tự diễn tiến câu chuyện mà bao trùm tác phẩm là những suy tư, nội tâm của nhân vật. Hay nói một cách khác, ông miêu tả nội tâm nhân vật và đan xen sử dụng các hình ảnh ẩn dụ và độc thoại. Điều này làm nên điểm nổi bật của ông so với các tác giả khác mà mình đã đọc vì việc miêu tả kĩ tâm lí nhân vật và để nhân vật tự độc thoại cụ thể ở đây là Watanabe khiến độc giả thông cảm hơn cho nhân vật và cảm thấy tương đồng nếu như bản thân cũng đã gặp những chuyện tương tự.

Một điểm thú vị hơn của tác phẩm là bao trùm tác phẩm là âm nhạc, tình dục, rượu và thuốc lá. Sử dụng âm nhạc có tên thật bài hát thật hay cởi mở, thẳng thắn trong việc miêu tả những cảnh nóng cũng là một sự mới lạ, phá cách rât riêng của tác giả mà chỉ có lẽ mỗi Haruki Murakami mới dám làm.

Mở rộng hơn ở câu chuyện tình tay ba, mình quan tâm đến 2 vấn đề lớn chiếm tầm quan trọng trong tác phẩm. Đó là phong cách sống của sinh viên những năm 60 ở Nhật và sự nghiêm trọng của những căn bệnh tâm lí mà những đau thương ở quá khứ đã bám rễ và ảnh hưởng sâu sắc đến nhận thức. Ví dụ cụ thể hơn ở đây mình nghĩ đến Naoko vì cái chết của Kizuki mà những 4 năm sau cái chết của anh vẫn tìm đến tự tử sau khi đã trải qua những điều trị tâm lí phức tạp. Bệnh nhân cách và chứng trầm cảm thực sự nguy hiểm và trong tác phẩm của ông, việc tự tử trở thành một cách hữu hiệu để giải quyết những khúc mắc trong cuộc sống. Còn bàn về phong cách sống có phần buông thả của sinh viên Nhật bản thập niên 60s luôn tìm đến rượu và tình dục để giải tỏa stress đời thường. Một điều đáng nói là tự tử cũng xảy ra… Một nửa số nhân vật xuất hiện chủ yếu đều đã tự tử hoặc có ý định tự tử nhưng không thành.

Sau khi hoàn thành cuốn sách, mình cũng đã quyết định đi coi phim. Đây chắc chắn sẽ là một tác phẩm chuyển thể thành phim cực khó và có lẽ cũng do mình là một khán giả khó tính. Bộ phim chuyển thể cùng tên của đạo diễn Trần Anh Hùng lại không gây cho mình quá nhiều cảm xúc khi mà phim không có một sự giới thiệu nhân vật rạch ròi ở mở đầu phim và xuyên suốt tác phẩm rất nhiều cảnh quay cắt nhưng lại không có đủ dụng ý hoặc trôi qua quá nhanh gây khó hiểu và khi mình chưa kịp hiểu chuyên gì đang xảy ra thì đã tới cảnh khác. Phim cũng lược nhiều chi tiết thú vị và dễ trở thành thiếu tự nhiên. Ví dụ như đầu phim với ông bạn quốc xã khá ít thể hiện hay cảnh Midori xuất hiện lần đầu bất ngờ không theo một hoàn cảnh cụ thể. Âm nhạc là một cách để dẫn dắt người xem theo cung bậc cảm xúc của nhân vật nhưng đôi khi thiếu hợp lí. Chẳng hạn ở đoạn gần cuối sau khi Naoko tự tử, liên tục mấy phút liền là 1 bản nhạc có phần đáng sợ, ảm đạm, ma mị trong khi cá nhân mình thấy một bản nhạc buồn và nên thêm 1 vài cảnh và chi tiết hơn vì đó là một đoạn cao trào trong tác phẩm. Tuy nhiên chung quy lại thì vẫn là một bộ phim đáng xem với những khung cảnh đẹp, thơ mộng.

Đây là một tác phẩm thú vị, phong cách mà các bạn nên đọc ít nhất 1 lần bởi lẽ mình nghĩ mỗi lần đọc các bạn sẽ có một trải nghiệm khác nhau đấy.

– Vũ Duy

Rừng Na Uy – Haruki Mukarami: Cảm thức về tuổi trẻ và cô đơn

Tôi đã đọc Rừng Na uy 3 lần.

Lần đầu tiên, khi đọc chưa đầy 1/3 cuốn sách, tôi đã phải bỏ dở vì năng lực cảm thụ và màng lọc nhận thức của tôi chưa đủ để tiếp nhận được thế giới mà nó mang lại, một thế giới quá trần trụi, phũ phàng. Tôi sợ mình cũng sẽ rơi tuột xuống cái “giếng đồng” của nỗi buồn, nỗi cô đơn ám ảnh mà Toru và Naoko đã cảnh báo ở đầu truyện.

Lần thứ hai, tôi đã rất thất vọng về cái được gọi là tình yêu tồn tại trong cuốn sách, thứ tình yêu mà theo tôi lúc đó là những tình cảm mù quáng nhạt nhòa, yếu đuối. Tôi thấy đau lòng và thương hại cho những linh hồn nhỏ bé và đơn độc không thể sưởi ấm cho nhau bằng thứ tình yêu hời hợt ấy. Nỗi thất vọng ấy như rút cạn những năng lượng tích cực, những rung cảm mãnh liệt mà tôi có. Một lần nữa, tôi lại bỏ dở cuốn sách.

Chính vì vậy, cảm thức đầu tiên về tác phẩm là sự ám ảnh. Có hai thể loại độc giả sau khi đọc Rừng Na uy, hoặc là ghét cay ghét đắng, hoặc là rất ám ảnh. Mà những nỗi căm ghét kia, cũng đến từ sự ám ảnh mà tác phẩm mang lại, nó cứ hiện lên và lẩn quẩn trong tâm trí chúng ta, như những giai điệu buồn bã của tiếng guitar vang lên trong căn nhà gỗ phủ đầy tuyết nơi bìa rừng hoang vắng, không dễ để dứt ra khỏi tâm trí.

Trên hành trình phản tỉnh của Rừng Na uy, ta ám ảnh với những gì?

Thứ nhất, sự cô đơn.

Cô đơn là nhân vật chính trong tác phẩm này. Toru, Kizuki, Naoko, Midori cho đến Hatsumi, Nagasawa, Reiko, tất cả đều cô đơn. Như cách nói của Naoko, họ là những con người méo mó, những linh hồn méo mó vì những biến thiên cuộc đời đã tự mình cắt đứt những liên hệ với cuộc sống thực tại, tự tạo ra một thế giới riêng tách biệt với phần còn lại của thế giới mà họ đang sống. Cùng có điểm chung là những người cô đơn, mỗi người lại mang một dạng thức cô đơn khác nhau: Kizuki giấu đi nỗi cô đơn, Naoko bế tắc trước nỗi cô đơn, Nagasawa vị kỉ và bất nhẫn đến đơn độc, Toru và Midori chấp nhận sống với nỗi cô đơn một cách thành thật nhất. Dù họ tiếp cận với nỗi cô đơn bằng cách nào thì cô đơn đã và luôn là một phần trong bi kịch của họ.

Thứ hai, sự sống và cái chết.

“Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt” (Xuân Diệu). Toru đã nhận ra cái mong manh hữu hạn của đời người và ranh giới mong manh của sống chết có thể dễ dàng cướp mất những điều mà chúng ta hằng yêu quý như thế nào. Những sự mất mát, ra đi trong Rừng Na uy cũng nhẹ nhàng, lạnh lùng và hiển nhiên như vậy. Cái gì rồi cũng không vượt qua quy luật của sự vô thường, tuổi trẻ cũng vậy, cũng như giọt mưa trôi qua kẽ tay, chẳng thể cưỡng cầu, chẳng thể níu giữ. Sự phản tỉnh đau đớn này đến với Toru khi anh gần như đã mất đi tất cả, sau 1 tháng trời ròng rã lang thang vô định, anh buộc phải đưa ra lựa chọn, chìm đắm và bị nuốt chửng bởi những ám ảnh quá khứ hay đối mặt, sống tiếp với thực tại hiện hữu, một thực tại “đang thở, đang sống” hay một quá khứ giờ chỉ còn là “nhúm tro trăng trắng”. Hình ảnh cuối cùng đầy ám ảnh của tác phẩm chính là khi hành trình phản tỉnh của Toru đi đến đoạn kết. Một Cái Tôi lạc lõng giữa những biến thiên của thời gian, những linh hồn cô đơn đã lựa chọn sẽ bám víu lấy sự sống này một cách chân thành nhất. Dù sâu thẳm trong những linh hồn ấy là những mất mát cô đơn không thể khỏa lấp, những nỗi bâng khuâng chưa thể dứt, họ đã chọn sống và sống một cách mãnh liệt.

Nhiều người nói Rừng Na uy không thể là cuốn sách của thanh xuân khi chất chứa quá nhiều mất mát, quá nhiều nỗi buồn. Tôi thì cho rằng đây chính là một cuốn sách thanh xuân bất diệt, vì từ những nấm mồ của sự mất mát, những tàn tro của nỗi buồn, một sự sống mới sẽ hồi sinh mạnh mẽ. Và đó chính là vẻ đẹp của thanh xuân.

– Trương Khải Minh

Bạn tôi nói đọc truyện Rừng Na Uy mất hết cả hứng thú đối với tình dục. Tôi không thực sự thấu hiểu quan niệm của các nhân vật trong truyện về tình dục, nhưng chuyện của bọn họ lại khiến tôi nghĩ, tình dục cũng là khía cạnh không cần phải xấu hổ và đáng được quan tâm.

Đây cũng là lần đầu tiên tôi đọc về trầm cảm, mà thật sự cho tới lúc ấy, đọc hết truyện vẫn không thể nào hiểu nổi cái gì là trầm cảm. Chỉ thấy bóng đêm trong cô gái nhỏ, tràn ngập nỗi đau buồn, và rồi trống rỗng, không cảm xúc. Tôi đã sửng sốt, không hiểu được nhưng cảm thương vì cô bé không vượt qua được nỗi ám ảnh khủng khiếp khi phải chứng kiến hai người thân nhất lần lượt tự tử.

Đọc rồi khiến tôi mang ấn tượng, không lẽ thế hệ trẻ Nhật Bản lúc ấy hầu hết đều mang tâm trạng tăm tối đến thế. Chỉ có một cô gái tươi tắn, là một tỉ lệ quá thấp giữa hàng loạt các nhân vật khác ủ rũ đau buồn. Vừa hay, nhân vật chính được dẫn dắt ra khỏi khu rừng tăm tối (dù rừng trong truyện là khu rừng tuyết sáng rỡ và lạnh lẽo chết người) bằng chính vẻ tươi sáng duy nhất, hiếm có – tình yêu của một cô gái hồn nhiên. Câu hỏi xuyên suốt tác phẩm, như vậy, đã được trả lời theo một cách thức hết sức cảm động. Sự đơn sơ, mộc mạc tràn đầy hy vọng, là câu trả lời can đảm nhất cho vấn đề cốt lõi – Sự sống, Cái chết, Ý nghĩa cuộc sống – chất chứa trong lòng của Watanabe, mà cũng là giá trị cốt lõi của tác phẩm.

Trong truyện sáng rực lên đến độ ám ảnh một khu rừng tuyết hoang vắng, trắng toát, nhưng không hiểu sao, đọng lại trong tôi, là một khu rừng tăm tối âm u chết người. Hình ảnh đó, sau này khi đã hiểu rõ về trầm cảm, tôi biết, ông ấy đang mô tả về khu rừng trầm cảm – cô độc, lạnh lẽo, không có lối ra.

Chẳng hề ngạc nhiên là câu chuyện về khu rừng tăm tối ấy, ngoài những suy tư không thể tránh khỏi của người trầm cảm về ý nghĩa của cuộc sống, cái chết, những lựa chọn, thì tình dục là thứ được tập trung nhiều nhất, là căn bản để kể về. Trong thế giới trầm cảm, không hiếm trường hợp trở nên lãnh cảm, nhưng phần còn lại thì quay cuồng tìm kiếm tình dục. Bởi vì tình dục là một trong số ít những phương cách hiệu quả nhất để họ cảm giác được “sự sống” – theo cách trực tiếp và cụ thể nhất, khi mà đa phần họ cảm giác trống rỗng từ thể xác cho đến trong tận cùng của linh hồn. (Một số khác sẽ dùng chất kích thích hoặc self-harm – cực hạn.) Có lẽ là vậy, nên tình dục được mô tả không chỉ thuần về cảm xúc, rồi gắn với các câu chuyện tình, mà còn đi xa hơn, gắn với những thăm dò, suy tư tinh tế về ý nghĩa của nó trong từng nhân vật một: họ cần thấu hiểu và cảm nhận thật sâu sắc về thứ khiến họ cảm nhận “sự sống”.

Có ai đó nói truyện Rừng Na Uy là truyện về một thế hệ thanh niên những năm xx của Nhật Bản, người khác lại nói đó là câu chuyện về tình yêu. Tôi nghĩ chỉ một phần như vậy, tựa đề đã nói rõ, đây là câu chuyện của khu rừng – rừng trầm cảm. Riêng biệt. Đặc trưng. Là một thế giới mà ở đó, dù họ là ai, tính cách và gia cảnh thế nào, cũng có thể đối mặt với nghẹn ngào, đau đớn, trống rỗng nhưng không ai khác có thể nào thấu hiểu. Họ chật vật đấu tranh, cố gắng thấu hiểu và tìm cho ra các giá trị thực sự của đời sống, đi đến lựa chọn giữa sự sống và cái chết, buông tay hoặc là được cứu thoát. Phần lớn mỗi người chúng ta hay trăn trở với những điều này, còn ở trong rừng trầm cảm, chúng tra tấn bạn đến chết, trong khi người bạn duy nhất của bạn lúc này là sự cô độc tuyệt đối.

Ở thời điểm đọc truyện Rừng Na Uy, tôi đã có cảm giác rơi vào một thế giới hoàn toàn khác, một thế giới không tồn tại. Những suy tư khác lạ của tất cả nhân vật, nhờ vậy, mở ra cho tôi thấy thế giới này rộng lớn hơn tôi tưởng rất nhiều. Thì ra thế giới thực mà tôi đang sống có những mảng màu tăm tối như thế, có những con người như thế, không nhìn thấy lối thoát, mà tôi sẽ không bao giờ hiểu nổi, nhưng họ vẫn đã, đang và sẽ cùng tồn tại, chỉ là tôi chưa bao giờ biết đến…

– Dong Anh

Một trong những tác phẩm kinh điển, mang đậm dấu ấn Nhật Bản thập niên 60, xuyên suốt cả tác phẩm là hành trình chạy chốn quá khứ của mỗi nhận vật. Nhưng chứa đựng trong đó là một lớp trẻ nhật bản tha hóa, tàn lụi luôn mong muốn tìm đến rượu, và tình dục như một phương thức cứu cánh, giải tỏa stress đời thường. Vấn nạn tự tử cũng được tác giả đề cập đến khi hơn một nửa số nhân vật tìm đến tự tử hoặc có ý định tự tử chỉ để giải thoát bản thân. Liệu “tự tử” có phải là dấu chấm viên mãn hay đó là những khởi đầu cho một chuỗi những đau khổ về sau?

Về cốt chuyện: Tất thảy câu chuyện xoay quanh mối quan hệ giữa 3 nhân vật Toru Watanabe – Naoko – Midori. qua lời trần thuật, hồi tưởng ở ngôi thứ nhất của nhân vật nam chính Toru Watanabe. Một Bức Tranh tự sự “rừng – nauy hiện lên với chằng chịt những sợi dây liên kết mộng mị của mỗi nhân vật. Một bên là cuộc chạy trốn dài đến vô hạn của Toru và naoku trước những ký ức đau buồn về cái chết người bạn thân kizuki để rồi “tự tử” như một phương thuốc cuối cùng tìm đến, trấn an một tâm hồn đang dần héo mòn trong Naoko. Trái ngược lại bức tranh u ám đó, Toru – Midori hiện lên với những tình cảm mộc mạc, bồi hồi của tuổi trẻ, hai con người tìm đến với nhau để hàn gắn những vết xước trong quá khứ, Để trưởng thành hơn và để mạnh mẽ hơn. Sâu bên trong đó còn một tầng liên kết gần như vô hình giữa hai nhân vật “ midori – naoko”, họ chưa từng gặp nhau trực tiếp, chỉ được biết đến nhau qua thư & lời kể của Toru. Nhưng ai đọc tác phẩm cũng sẽ biết được : Niềm khao khát cháy bỏng của naoko muốn là một cô gái bình thường, cũng được thương, và được yêu – như midori. Còn đối Với Midori đó là sự ghen tị và mong muốn được cho và nhận một tình yêu chân thành chân chất, phủ đầy cung bậc cảm xúc từ Toru, giống như cái cách mà anh đã dành cho Naoko thuở ban đầu.

Về nhân vật: Mỗi nhân vật trong tác phẩm đặc trưng rất rõ rang cho từng tầng lớp xã hội nhật bản trong thập niên 60. Mỗi tầng lớp bị mắc kẹt giữa những mong muốn và những lý tưởng riêng. Cho đến khi họ đưa ra những quyết định mà ngay cả đến bản thân cũng không hiểu được.

Toru Wanatabe: Một chàng trai bị giằng xé giữa nghĩa vụ với Naoko và tình cảm nam nữ anh dành cho Midori. Một naoko ngày càng xa cách và cô lập bản thân, một midori sẵn sàng yêu anh và dành chọn tấm chân thân của mình. Tuy nhiên, chính sự thiếu quyết đoán của Toru đã khiến anh phải sống trong cuộc sống ngập tràn tình dục, rượu, sự cô liêu, và sự hối hận miên man.

Naoko: Một trái tim mong mảnh dễ vỡ, luôn luôn muốn chạy, chạy thật xa để xóa mờ đi quá khứ cay nghiệt. Nhưng đâu biết được rằng cách tốt nhất để vượt qua là trực tiếp đối mặt với nó. Để đến khi chính quá khứ đó ngày một gặm nhấm và xói mòn trái tim cô và giải thoát bằng liều thuốc vĩnh hằng mãi mãi.

Midori: Một cô gái với đầy những biến cố trong gia đình, từ người mẹ mất sớm, người bố đang thoi thóp từng ngày trong bệnh viện, cho Đến người thân duy nhất là chị cô, cũng suốt ngày dành tình cảm cho người yêu thay vì hỏi han, chăm sóc cho người em cô liêu. Nhưng vượt lên trên tất thảy là sức mạnh về tình yêu. Tình yêu được sống và được yêu thương từ những người thương cô thật lòng

Nagasawa: Một nhân vật với đầy ẩn ý – như hiện thân của những dục vọng vô tận đòi hỏi bất tận sự thụ hưởng thấp hèn và mau chóng; không thích chờ đợi hay suy tính, đơn giản chỉ là thỏa mãn hiện tại; không cần tình yêu hay những hạnh phúc mơ hồ. Nagasawa cũng đại diện cho một lớp thanh niên Nhật thập niên 60, một “thế hệ mất mát” bị vật chất che mờ đi lý tưởng và truyền thống, họ vẫy vùng một cách vô vọng trong vòng xoáy bất tận và ngột ngạt của một xã hội tôn thờ chủ nghĩa vị kỷ.

Reiko: Một nhân vật phụ khác phản ánh về thực trạng xã hội nước nhật lúc bấy giờ, một xã hội kì thị những con người đồng tính, họ bị xem như là những kẻ ghê tởm, cặn bã của xã hội, bị dèm pha, phỉ báng. Tiếng nói của họ không được lắng nghe, trân trọng, ngoại trừ gia đình. Đến khi giọt nước chênh vênh tràn ly, họ chị biết chốn chạy thực tại phũ phàng đến nơi mà họ nghĩ họ thuộc về.

Giá trị tinh thần: Chỉ có tình yêu mới làm con người đau khổ và hạnh phúc đến thế. Ta thấy một tình yêu quây quắc, vô vọng và vô điều kiện của Hatzumi dành cho Nagasawa. Ta thấy một tình yêu ám ảnh, đau khổ của Naoko dành cho Kizuki. Ta thấy một tình yêu đầy hoang mang và chênh vênh của Toru dành cho Naoko. Và, ta cũng thấy một tình yêu dữ dội, chân thành, đầy niềm lạc quan, hi vọng chờ đợi của Midori dành cho Toru; một tình yêu e ấp lưỡng lự nhưng cũng mãnh liệt đến ám ảnh của Toru dành cho Midori. Tình yêu đầy những cung bậc phức tạp và khó hiểu như chính cuộc đời phức tạp và bất trắc mà chúng ta đang sống và đấu tranh.

Suy cho cùng tự tử cũng chỉ là phương thức giải thoát vị kỷ cho người ra đi nhưng kéo theo đó là biết bao đau khổ, khắc khoải mien man của những con người ở lại. khởi đầu với cái chết đường đột của Kizuki, để lại Vết thương lòng không sao lấp được của naoko. Trong cô luôn luôn ám ảnh câu hỏi đối với bản thân: “Về nguyên nhân cái chết của Kizuki” khiến cô chạy chốn quá khứ, chạy chốn câu trả lời và ngay cả chạy chốn chính bản thân mình. Kế đến là sự ra đi của Naoko, bao trùm lên một bức màn u uất, một bức màn đêm đen với hai nhân vật Toru – Reiko. Trong khi Toru diễn tả nỗi buồn đến tột cùng khôn nguôi bằng việc lững thững lưu lạc trên đường, đi khắp mọi xó xỉnh nhật bản và làm bạn với rượu và thuốc lá để quên đi quá khứ. Thì Reiko phải đưa ra lựa chọn khó khăn nhất trong cuộc đời: “Dời khỏi khu an dưỡng – nơi cô thấy được thanh thản với chính bản thân” để tìm đến Toru. Mong muốn san sẻ phần nào nỗi buồn vô hạn cùng nhau. Cũng phải nhắc đến nỗi một nỗi buồn thầm kín và lớn lao của Midori, Luôn ngày ngày đợi mong nhận tin tức của Toru trong vô vọng. Sự đợi chờ, trông ngóng có bao giờ là dễ chịu đối với cặp đôi đang yêu.

Quả thật, Trong Rừng Nauy, Ta thấy được Hành trình trưởng thành đầy những thử thách dữ dội, những muộn phiền, đau khổ là không thể tránh khỏi nhưng phải can đảm đối mặt với nó. Chúng ta không quên ký ức nhưng hãy dành cho nó một hốc nhỏ đầy tĩnh lặng (như cái hốc đá của Toru trước biển cả cuồng loạn) mà chiêm nghiệm và để tiếp tục sống can đảm hơn cho những biến cố đang chờ đón phía trước. Cuối cùng thì Toru đã tìm được cho mình con đường tương lai sẽ đi, có thể cất những đau thương đầu đời mà can đảm tiếp tục sống và trưởng thành, để tiếp tục yêu và đau khổ!

– Nguyễn Nam Thắng

Rừng Na-Uy: Khi sự cô đơn là một phần quan trọng của quá trình trưởng thành

Tình cờ nghe được The Beatles với giai điệu mộc mạc của ca khúc “Norwegian Wood”( Rừng Na-Uy) vang lên qua chiếc radio cũ, khi cả thế giới xung quanh thu lại chỉ bằng âm nhạc, lòng tôi chợt sống dậy với mớ hỗn độn cảm xúc khó mà diễn tả thành lời.Bởi lẽ, ca khúc đó gợi ra trong tâm trí tôi nhớ về cuốn tiểu thuyết cùng tên được chắp bút bởi Haruki Murakami- một tiểu thuyết gia Nhật Bản xuất sắc và cũng là một trong số ít những tác giả mà tôi vô cùng yêu thích.

I once had a girl, or should I say, she once had me.She show me her room, isn’t it good, Norwegian Wood?(Tôi đã từng có một cô gái, hay nói đúng hơn,cô ấy đã có được tôicô ấy dẫn tôi đến phòng mình,cánh rừng Nauy, chẳng phải thật đẹp hay sao?)

Bao phủ toàn bộ tác phẩm là một gam màu tối của sự cô đơn, có nỗi buồn, rất buồn, có tuyệt vọng, sầu bi, và ở đó còn có những người trẻ “méo mó”, mất phương hướng ngay trong chính cuộc đời mình… Tác phẩm như một “cuốn từ điển về nỗi cô đơn” đặc biệt ở thế hệ trẻ trên con đường đi tới sự trưởng thành mà tất cả chúng ta đang/ sẽ trải qua một lần trong đời mình.Như một kẻ nghiện, tôi bị cuốn hút bởi cuốn sách này ngay từ những dòng đầu tiên . Rừng Nauy được kể theo dòng hổi tưởng miên man về quá khứ đẹp mà buồn, về ký ức nơi tuổi trẻ và những nỗi đau đớn của mười tám năm trước nhưng chưa bao giờ phai mờ trong tâm trí của Toru Watanabe- lúc này đã ba mươi bảy tuổi, đang trên máy bay tới nước Đức xa xôi. Không chỉ chất chứa dày đặc nỗi cô đơn, sự bế tắc của từng cá nhân trong câu chuyện mà còn đầy ắp những đau xót, nhớ nhung có lẽ chẳng bao giờ vơi cạn cho những hoài niệm xưa cũ, cho những gì đã qua đi, cho những con người đáng thương mãi mãi- mãi mãi không bao giờ trở lại…

Đồng cảm với Naoko, nhưng đồng thời tôi lại thương và cũng khâm phục nhất Watanabe. Trải qua nỗi đau mất đi người bạn thân duy nhất và người con gái anh yêu- Naoko nhưng Watanabe lại trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn. Phải chăng đã có một thứ sức mạnh quyền năng tối thượng nào đó giữ anh ở lại và tiếp tục sống? Sông với những mất mát, những nỗi đau không có bất cứ thứ gì có thể bù đắp lại được chắc hẳn phải khó khăn lắm! Nhưng Watanabe vẫn cố gắng gượng dậy sau những đổ vỡ, những suy sụp để tiếp tục ở giữ lấy cuộc đời mình. Không có một sức mạnh nào, một siêu nhiên nào, một thứ phép thuật toàn năng nào kéo ảnh ra khỏi vũng bùn lầy bị ám ảnh bởi sự chết, vậy lý do ở đây là gì?

Theo tôi, thứ nhất, Watanabe ngay từ đầu đã sống đúng với bản thân mình. Anh thừa nhận tính cách, sở thích của bản thân và không che giấu nỗi cô đơn. Watanabe vẫn cứ là Watanabe thôi, không cố gắng gượng để trở thành ai, để được mọi người chấp nhận- nên anh mới cô đơn- có lẽ vậy. Điều này khác hoàn toàn với Kizuki. Theo giọng kể của Watanabe thì Kizuki có lẽ là người bình ổn nhất nhưng có thật sự như vậy hay không khi Kizuki lại chọn cho mình cách tự sát- một điều chẳng ai ngờ tới! Có khi nào Kizuki bên ngoài chỉ là chiếc vỏ bọc che giấu đi nỗi cô đơn, yếu ớt trong lòng mình. Thay vì chữa trị cho chính mình hay mở lòng ra để tốt hơn thì anh lại quên nó đi để làm chỗ dựa cho người khác.

Thứ hai, điều mà Watanabe làm được để tiếp tục bám víu lấy cuộc đời này là vì anh dám đối mặt với quá khứ- dù cho nó có đau đớn đến nhường nào đi chăng nữa. Còn Naoko thì chẳng thể hoặc cô chẳng muốn làm. Cô luôn đấu tranh vật vã với những tiếng nói trong đầu mình, cô không muốn nghe những âm thanh đó- những âm thanh cho thấy sự tổn thương nặng về tâm lý. Cứ thế, cứ thế tiếp diễn còn Naoko thì chấp nhận sống với những hoài niệm- dù cho nó đau đớn hay làm cô vụn vỡ ra như thế nào!

Tôi cảm phục tinh thần thép của Watanabe, những đổ vỡ trong tình cảm, trong cuộc sống đặc biệt ở giai đoạn đi tới trưởng thành là không thể tránh khỏi. Nếu ví trưởng thành là một chiếc gai thì chúng ta – ai rồi cũng phải bị đâm một lần trong đời. Vết đâm ấy là một phần quan trọng của quá trình trưởng thành. Nó giúp ta nhận ra giá trị của tuổi trẻ, giúp ta mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn . Những thương tổn xưa cũ sẽ thành những vết sẹo để sau này nhìn lại ta thấy mình đã vượt qua mạnh mẽ như thế nào, dù vui buồn hay khổ đau thì đến một giai đoạn trong cuộc đời, bạn sẽ gói gọn nó trong ngăn kéo của an yên và hạnh phúc!

Cái chết trong tác phẩm này nhẹ tựa mộ chiếc chiếu êm, mông lung tựa lông hồng. Cái chết ở đâu còn như hiệu ứng Domino khi nó xảy ra hết người này cho tới người khác. Bởi lẽ, “sự chết không phải là đối nghịch của sự sống, mà là một phần sự sống”. Gam màu ảm đạm của tác phẩm là vậy những trong đó vẫn ẩn chứa vệt sáng của Tình yêu- thứ tình cảm thiêng liêng nhất. Tình yêu chỉ sống được nhờ đau khổ. Sống trong hạnh phúc, tình yêu sẽ chết dần chết mòn. Với Murakami cũng như tiểu thuyết của ông, cô độc là một phần quan trọng , có sẵn bên trong, nhưng nó chẳng có gì đáng sợ, và “chỉ cần thật lòng yêu một người, cuộc đời sẽ được cứu rỗi”. Ở đây, tình yêu là thứ ánh sáng hy vọng duy nhất kéo con người ra khỏi cũng bùn lầy nhầy nhụa những mất mát và đau thương, của tối tăm và mịt mù. Tình yêu trong Rừng Nauy là một phép màu kì diệu kéo những tâm hồn đã đi qua bao thương tổn, đã oằn mình để chiến đấu lại những nỗi đau, trở lại bám víu, đi tìm lý do để tiếp tục được sống, được là chính mình, được đối mặt với thế giới và cho phép mình có những cơ hội khác để được hạnh phúc hơn, nhiều hơn nữa.

Là một người trẻ đọc Rừng Nauy, nhiều lúc tôi thấy sợ bởi cách viết, cách miêu tả về sự cô đơn đến đáng lưu tâm ở những người trẻ, bởi sự trần trụi khi nói về tình dục. Tuy nhiên, tình dục trong cuốn sách không phải thứ lời lẽ câu khách rẻ tiền mà lại là nơi trú ngụ, là nỗi an ủi và cũng là một cách để con người nhận ra mình vẫn còn giá trị, để trở về cuộc sống bình thường. Trên tất cả, điều ám ảnh tôi duy nhất còn lại sau không ít lần đọc cuốn sách này chính là sự cô đơn- cô đơn đến khắc khoải và đáng sợ, cùng với đó là những ý niệm về tình yêu, về mất mát trên đường tới sự trưởng thành mà dù muốn hay không muốn- tôi hay tất cả chúng ta đều đã và đang đi qua. Giống như một nghi lễ. Còn những điều không thể tránh khỏi thì hãy tập cách bình tĩnh, dũng cảm để đối mặt với nó- đó là cách tối ưu nhất. Và nếu có cơ hội thì ta cũng nên yêu một lần khi còn trẻ để không phí hoài thanh xuân- nhanh đến nhưng cũng vội vàng qua mau.

Để tôi đọc cho các bạn nghe một bài thơ Haiku Nhật Bản:“Những lỗ trống trong củ senKhi ta ănĂn luôn cả nó” .

Sự cô đơn cũng vậy, nó luôn tồn tại sẵn trong mỗi cá thể. Điều chúng ta cần làm là gì? Theo tôi, hãy đối diện với nó. Đàm thoại với nỗi cô đơn hay chính là khi ta đối diện với chính bản thân mình. Đừng trốn tránh vào những cuộc vui ồn ào, cũng đừng tạo ra vỏ bọc giả dối nào cả. Bởi đó còn là hành trình ta đi tìm bản ngã, đi tìm cái tôi cá nhân để từ đó ta biết phải làm sao, làm như thế nào và trên hết là thấu hiểu chính bản thân ta!

“Chuyện gì sẽ xảy ra khi con người mở lòng mình ra?– Họ sẽ cảm thấy tốt hơn!”

Có lẽ bạn cũng nên tìm đọc quyển sách này, ngoài những điều ở trên, nó còn có những nhân vật khác, là “Green girl” Midori Kobayashi cá tính, mạnh dạn và lạc quan, là chị Reiko của nhà nghỉ Ami, hay anh bạn tài giỏi nhưng đào hoa- Nagasawa và cô bạn gái chung thủy để cuối cùng cũng chẳng nhận lại được gì từ người mình yêu- Hatsumi đáng thương… Tất cả, mỗi nhân vật, mỗi màu sắc tạo nên bức tranh sinh động, chân thực về cuộc sống, về tâm lý của sinh Nhật Bản những năm 60 của thế kỷ trước. Chắc chắn “Rừng Na-uy”- cuốn sách thanh xuân bất diệt và Murakami – “hình vóc văn chương của thế kỉ XXI” (New Statesman) sẽ không khiến bạn phải thất vọng đâu!“Sự tinh tế như một giọt nước rơi tách xuống mặt hồ, điều mà bạn không thể đọc được ở bất kì nhà văn nào – ngoài Murakami.”

– Thanh Huyền Trần

17 Câu Nói Của Tác Giả Rừng Na Uy Đã Khiến Cả Thế Hệ Thay Đổi, Ai Chịu Ngẫm Đều Sẽ Tìm Ra Triết Lý Của Chính Mình

Haruki Murakami là một tiểu thuyết gia hiện đại nổi tiếng của Nhật Bản sinh năm 1949. Ngay từ những tác phẩm đầu tay, ông đã giành được rất nhiều sự chú ý về phong cách truyện siêu thực của mình. Trong cả cuộc đời sáng tác xuất sắc của mình, Haruki Murakami đã để lại rất nhiều cuốn tiểu thuyết nổi tiếng khắp thế giới như “Lắng nghe gió hát”, “Biên niên ký chim vặn dây cót”, “Kafka bên bờ biển”, “1Q84″… Trong đó, “Rừng Na Uy” là tác phẩm để lại tiếng vang sâu và rộng nhất khi xuất bản lần đầu năm 1987, và trong nhiều thập kỷ sau đó, nó không ngừng được dịch sang nhiều thứ tiếng khác nhau, bao gồm tiếng Việt, và được ưu ái chuyển thể thành phim. Rất nhiều người gọi đây là “hiện tượng Murakami” khi ông được gắn với hàng loạt mỹ danh “nhà văn được yêu thích”, “nhà văn best-seller”, “nhà văn của giới trẻ”… trong văn học Nhật Bản đương đại.

Tác phẩm của Haruki Murakami chịu ảnh hưởng sâu sắc từ phong cách châu Âu và châu Mỹ. Nó khác với các tác phẩm mang bầu không khí đen tối và nặng nề sau chiến tranh thế giới của văn học Nhật thời bấy giờ mà hướng tới màu sắc hài hước và siêu thực có phần “bình dân”. Thông qua tác phẩm của mình, ông có thể nắm bắt được cảm giác trống rỗng về linh hồn của thế hệ và khám phá ra tác động tiêu cực trong tâm lý con người, phê bình sự suy giảm trong giá trị người phụ nữ và thiếu quan tâm giữa con người với nhau trong xã hội tư bản nước Nhật.

Haruki Murakami từng chia sẻ rằng: ” Đến năm 29 tuổi tôi mới bắt đầu viết. Trước thời gian đó tôi chẳng có gì để viết. Đôi khi bạn phải sống cuộc đời của chính mình cho hết sức hết lòng, hết mực chân thành, sau đó bạn mới tìm thấy một giá trị riêng.” Trong những tác phẩm của mình, ông đánh dấu giá trị của bản thân bằng 17 câu đặc biệt, có sức ảnh hưởng lan rộng trong giới trẻ, góp phần thay đổi lối tư duy của rất nhiều người sau đây.

1. “Tôi luôn nghĩ rằng con người sẽ từ từ già đi, nhưng không, chúng ta già đi trong một chớp mắt ngắn ngủi.” – Nhảy nhảy nhảy (1988)

2. “Ai sẽ thích sự cô đơn chứ, chẳng qua họ không muốn trải qua thất vọng mà thôi.” – Rừng Na Uy (1987)

3. “Quen ở trong ánh sáng thì làm sao hiểu bóng đêm sâu nhường nào.” – Lắng nghe gió hát (1979)

4. “Cô đơn một mình cũng chẳng sao, miễn là tự yêu mình từ chính trái tim, cuộc sống sẽ được cứu rỗi.” – 1Q84 (2009-2010)

5. “Người trầm cảm chỉ có thể mơ những giấc mộng trầm cảm, nếu trầm cảm nặng hơn, muốn mơ cũng khó.” – Lắng nghe gió hát (1979)

6. “Phải đối mặt với quá khứ, trở thành một nhân sĩ chuyên nghiệp chứ không phải thiếu niên ngây thơ dễ bị tổn thương. Đừng chỉ xem những thứ muốn xem, mà hãy nhìn vào những thứ bắt buộc phải nhìn. Nếu không, cuộc đời này bạn càng đi càng nặng.” – Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương (2013)

7. “Vi phạm nguyên tắc do chính mình đặt ra, dù chỉ một lần, rồi sẽ muốn vi phạm càng nhiều hơn trong tương lai.” – Tôi nói gì khi nói về chạy bộ (2007)

8. “Tuổi càng lớn, càng ít có niềm tin để tiêu xài. Giống như hàm răng vậy, không phải chúng ta đánh mất, buông bỏ, không cần, mà chỉ là do thời gian mài mòn mà thôi.” – Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới (1985)

9. “Cuộc sống chính là một quá trình mất mát liên tục. Những thứ rất quý giá với cuộc đời sẽ lần lượt tuột khỏi tay chúng ta, như chiếc lược rụng dần từng răng một. Thay vào đó, rơi vào bàn tay chỉ toàn là những thứ phế phẩm không đáng nhắc đến. Sức khỏe, hy vọng, mộng đẹp, lý tưởng, niềm tin, ý nghĩa, hoặc giả những người yêu thương, hết thứ này đến thứ kia, hết người này đến người kia, dần dần lặng lẽ biến mất.” – 1Q84 (2009-2010)

10. “Đừng thông cảm với chính mình, vì đó là hành vi ti tiện của những kẻ nhu nhược.” – Rừng Na Uy (1987)

11. “Sau khi đã tìm kiếm, tổn thương và lạc hướng, chúng ta vẫn có thể tin vào tình yêu như cũ chính là một loại can đảm.” – Rừng Na Uy (1987)

12. “Sự tầm thường giống như một vết bẩn trên áo trắng, đã ố lên thì không bao giờ tẩy được nữa.” – Nhảy nhảy nhảy (1988)

13. “Mỗi người đều có một khu rừng của riêng mình, có lẽ chúng ta chưa bao giờ đi qua, nhưng nó đã ở đó và sẽ luôn ở đó. Người cần lạc sẽ lạc, người cần gặp lại ắt sẽ gặp lại.” – Rừng Na Uy (1987)

14. “Điều gì không quên thì vĩnh viễn không quên, điều gì sẽ quên thì cố níu giữ cũng vô dụng!” – Rừng Na Uy (1987)

16. “Nếu rơi vào bóng tối, điều duy nhất bạn có thể làm là đợi đôi mắt của mình thích nghi với bóng tối.” – Rừng Na Uy (1987)

17. “Không phải tất cả mọi thứ đều biến mất trong dòng chảy của thời gian. Một niềm tin vững chắc và kiên định sẽ không bao giờ tan biến vô nghĩa.” – Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương (2013)

Rừng Trong Văn Học Việt Nam

Rừng trong văn học Việt Nam

Thái Công Tụng

1. Dẫn nhập

Con người từ thời cổ đại cách đây mấy trăm ngàn năm cũng phải dựa vào rừng mà sống: rừng đã là nơi cung cấp chỗ trú ẩn, chỗ nương tựa, chỗ săn bắn, vật liệu làm nhà.. Do đó con người tôn thờ cây như một cái gì linh thiêng, chứa đựng những linh hồn.

2. Vai trò của rừng.

Có thể nói rừng liên hệ đến con người qua 4 khía cạnh chính sau đây :

2.1 cung cấp :

-rừng cung cấp gổ củi: gổ làm bàn ghế giường tủ; củi nấu ăn, nung trong lò gạch, làm than .

– rừng cung cấp các sản phẩm ngoài gỗ củi như nấm, mật ong, măng tre, mây, hoa lan, dược thảo, trầm v.v. Người lính thú đời xưa ở các đồn hẻo lánh cũng chỉ dựa vào rừng m à sống:

Ba năm trấn thủ lưu đồn

Ngày thời canh điếm tối dồn việc quan

Chém tre đẵn gỗ trên ngàn

Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai

Miệng ăn măng trúc măng mai

– rừng cung cấp thuốc trị bệnh

Xưa kia, con người nhờ các loại cây cỏ trong rừng để chữa bệnh vì cây cỏ có chất làm lành vết thương, giải nhiệt, giải độc, mụn nhọt, trị cảm cúm, trị ho .. Ngày nay, dù khoa học có tiến bộ nhưng rừng vẫn là nơi các thực vật cung cấp nguyên liệu để khảo cứu, trích các tinh dầu

Nạn sốt rét gây tàn phá làm chết rất nhiều sinh mạng. Cây quinquina (Cinchona sp) cho chất quinine và các thuốc trị sốt rét như chloroquine, quinacrine, primaquine đều từ quinine mà ra .

Trong quãng 3000 cây chứa các đặc tính chống ung thư thì có đến hơn 2000 cây từ rừng nhiệt đới .

2.2 rừng cho nhiều loại trái cây ăn được

Nhiều loài cây trong rừng có trái ăn được: sim, mồng quân, dâu rừng, trái giẻ (noyer; walnut), trái mơ ..

Trái sim có nhiều miền duyên hải Trung Việt:

Đói lòng ăn mớ trái sim

Nhịn ăn khát nước đi tìm người thương

Trái mơ cũng có trong thơ Nguyễn Bính :

Thơ thẩn đường chiều một khách thơSay nhìn xa rặng núi xanh lơ. Khí trời êm ả và trong trẻo Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ.

2.3 điều hoà : rừng hút được chất CO2 và nhả ra oxy; rừng cản dòng nước lũ, giữ lại một phần lượng nước mưa và như vậy, giảm xói mòn, lũ lụt, giúp nước ngầm phong phú hơn. Trong thời kỳ biến đổi khí hậu như hiện nay mà thủ phạm là các khí thải CO2 do sự sử dụng các nhiên liệu hoá thạch như than đá, dầu hoả và hơi đốt thì rừng giúp giảm các khí đó vì với hiện tượng quang hợp, cây rừng có thể hút được các loại khí CO2. Thực vật rừng cũng có khả năng bốc và thoát hơi nước nên trong khí quyển có nhiều hơi nước bốc lên cao làm nguồn nước mưa . Nếu phá rừng thì mỗi khi mưa to, gió, bão, lại càng dễ bị lụt hơn . Lý do là vì nhờ cây rừng có thể giảm được sức mạnh của dòng chảy. Tại nhiều miền duyên hải nhiệt đới, có loại rừng ngập mặn với cây bần, cây đước. Loại rừng này giúp chận lại các trầm tích phù sa và cũng giúp cản trở dòng nước mặn ngoài biển vào nội điạ . Rừng ngập mặn che chở cho cả một hệ sinh thái đa diện dưới chân nó: cua, tôm, cá, cá sấu và chim cò, khỉ, ong trên cây

Trong bài Lời nguyện của rừng, có những câu sau, đề cao vai trò đều hoà đọc ghi nhận :

Để ta sống, ta điều hòa mưa nắng, hoa xinh tươi cây cối nẩy thêm tươi. 

Để ta sống, ta ngăn luồng vũ bão; chận cát bay làn gió bốc tung trời. 

Để ta sống, ta đùn mây quyện gió, gieo mưa tuôn đầm ấm cõi trần gian. 

Để ta sống, ta cản dòng nước lũ, cứu nhân dân cơn thủy nộ lầm than. 

2.4 rừng đóng góp vào các giá trị văn hoá, như tâm linh, thẩm mỹ, giải trí, sức khoẻ và giáo dục

Rừng không phải chỉ là tài nguyên hay môi trường vật lý mà rừng là tâm linh, là cõi vĩnh hằng, là cõi sâu thẳm của nội tâm, là ‘một cõi đi về’

Các tôn giáo lớn luôn luôn nhắc nhở đến cây: cây bồ đề trong Phật giáo, rừng trúc ở đó Phật Thích Ca truyền đạo; cây sồi trong Thánh Kinh

Rừng có vai trò to lớn trong đời sống tinh thần của con người, và nhất là con người thời đ ại ngày nay . Với dân số tăng nhanh, với công nghiệp hoá, đô thị hoá, loài người đã mất đi không gian thiên nhiên, chỉ sống với cao ốc beton, chung đụng với ô nhiễm, với tiếng đ ộng nhà máy, tiếng động xe cộ, máy bay v.v. do đó, muốn lấy lại thăng bằng, con người ngày nay lại càng cần đi tìm những khu rừng, những ngọn núi cao vì chỉ ở đó, họ mới cảm thấy mình tan biến trong cái tĩnh lặng uyên nguyên. :

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao.

Lắm khi con người ngày nay sống hối hả ở đô thị cũng chỉ muốn những niềm vui đơn giản như đi dạo dọc theo hàng me xanh lướt thướt như trong câu thơ : Con đường có lá me bay, chiều chiều ta lại cầm tay nhau về., tìm lại chút bình yên thư thái

Vào rừng, thở không khí trong lành, nhìn sao ban đêm, nhìn suối, nghe nước róc rách, bướm lượn nhởn nhơ, chuồn chuồn, nghe côn trùng rỉ rả, mặt trăng lên, sao đêm nở đày trời, giúp ta tránh được các căng thẳng của cuộc sống máy móc đô thị, giúp ta quên đi những nôi nhọc nhằn của thể chất và của tâm linh, ngỡ lòng mình là rừng, ngỡ hồn mình là mây (thơ Hồ Dzếnh), tạo điều kiện giúp con người thoát tục dễ dàng hơn, buông xả được các bụi bặm phù du phiền muộn của cái tôi để hoà mình vào nhịp sống bao la của vũ trụ, giúp ta dễ đồng nhất với vũ trụ, cảm nghiệm lẽ trời trong tĩnh lặng để buông xả, để phá chấp.

Ta cũng thấy trước cảnh vật bao la của vũ trụ rằng con người chỉ là một thành phần nhỏ bé và từ đó cảm thấy khiêm tốn hơn .Mà khiêm tốn giúp cho con người đến đức tin chân thật và đức tin chân thật mới hưóng dẫn con người đến được nơi có Thượng Đế ngự trị dễ đi vào nội tâm hơn, cõi lòng lắng xuống .

Hãy đọc Bà Huyện Thanh Quan:

Dừng chân đứng lại :trời, non, nước

Một mảnh tình riêng ta với ta

Chỉ có hai câu thơ cổ điển trên mà bao gồm mọi yếu tố môi sinh: nào là dừng chân trên đất (thổ quyển), nhìn trời tức mây trôi, gió thổi (khí quyển), nhìn non tức là núi có đá là căn nguyên của đất (thạch quyển), nhìn nước tức sông suối, biển (thủy quyển) và sinh vật, tức tác giả bài thơ (sinh quyển)

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

đến những nương dâu bát ngát trong cảnh khi người vợ lính chiến xa chồng:

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai !

Trong văn học dân gian, cũng nhiều ca dao tục ngữ đề cập đến rừng

Tình yêu trai gái cũng sử dụng thiên nhiên để so sánh:

Chim xa rừng thương cây nhớ cộí

Người xa nguời tội lắm người ơi

Nỏ thà không biết thì thôi

Biết nhau rồi mỗi đứa một nơi, răng đành

Tình yêu trai gái đôi khi cũng mãnh liệt như trong hình ảnh này :

Yêu người như suối cuộn rừng sâu, như con tàu say gió v.v (bài Phượng Yêu)

Một môi trường hài hoà, êm ả giúp con người thảnh thơi trí óc để có thể có tư duy sáng tạo, tư duy thiền:

.. Thu ăn măng giá, đông ăn trúc

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắm

Nhìn xem phú qúy tựa chiêm bao

Chúng ta đang ở Quebec, thấy mùa thu với lá nửa vàng nửa đỏ, sau đó từ đầu tháng 10 trở đi là lá bắt đầu rụng: Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về

Lá rụng vào thu cũng là cảm xúc cho bao nhiêu nhạc sĩ, thi sĩ viết lên nhiều bài thơ, bài nhạc để đời :

Rừng thu thay lá mưa bay buồn rầu

Rừng đông buốt giá mưa bay dạt dào

Rừng thu lá úa em vẫn chưa về

Rừng đông cuốn gió em đứng bơ vơ

Kiếp người cũng được ví như mùa thu với những chữ quên lãng, chết, rất ngắn, nhạt phai trong bài Nhìn những mùa thu đi “Nhìn những mùa thu đi, em nghe sầu lên trong nắng/ Và lá rụng ngoài song, nghe tên mình vào quên lãng/ Nghe tháng ngày chết trong thu vàng (…) Đã mấy lần thu sang / Công viên chiều qua rất ngắn / Chuyện chúng mình ngày xưa, anh ghi bằng nhiều thu vắng, đến thu này thì mộng nhạt phai”.

Thơ của Hoàng Ngọc Ẩn Rừng lá thay chưa cũng nói đến sự vô thường của kiếp người:

Anh đi rừng chưa thay lá

Anh về rừng lá thay chưa

Phố củ bây chừ xa lạ

hắt hiu đợi gió giao mùa

Khi nàng Kiều tiễn chân Thúc sinh về quê vợ, cụ Nguyễn Du đã lồng vào cảnh mùa thu:

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

Người về chiếc bóng năm canh

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

Cũng khi trời vào thu thì nhiệt độ hạ thấp, nước ngầm trong đất bị đông lại nên thực vật phải thich nghi với sự thay đổi khí hậu bằng cách rụng lá, nhưng trước đó, lá cây từ từ chuyển màu từ xanh sang màu vàng, màu đỏ, –nhuốm màu quan san – như mọi rừng ôn đới có lá rụng (temperate deciduous forest ) ở Canada.

Loại rừng này có ở các vùng miền hạ lưu sông Dương Tử, sông Hoàng hà, nghĩa là các vùng khí hậu ôn đới . Loại rừng này cũng có nhiều bên Âu Châu (Pháp, Đức ..) và ngoài cây phong (tên Latin là Acer, họ Aceraceae), còn có nhiều loại cây khác như cây sồi (chêne; oak), cây sồi rừng (hêtre), cây tần bì (frêne; ash), cây lê đá (sorbier), cây đào gai (aubépine), cây hồ đào ( noyer; walnut); cây dẻ (chataignier; chesnut); cây dương (peuplier; poplar); cây du (orme; elm), cây dẻ (marronnier; common-horse chesnut). Loại rừng này hiện diện ở các vùng núi phía Montreal, Sherbrooke, Hull, Trois Rivieres) …Gần mặt đất, trong loại rừng ôn đới này có nhiều loài dương sĩ, thảm cỏ tươi, thảm cỏ mục. Động vật thì gặp các loài chồn, chim, sóc ..

Tưởng cũng cần nói thêm là trên thế giới, tùy theo khí hậu, ta có những loại rừng khác nhau. Vài ví dụ: tại Việt Nam, Indonesia, Mã Lai cũng như vùng Amazone bên Brésil, có rừng mưa nhiệt đới (tropical rainforest), có nhiều tầng cây con chằng chịt.

Cũng có loại rừng khô nhiệt đới (tropical seasonal forest) khi có mùa khô kéo dài như các rừng Đông Bắc Ấn độ, Đông Bắc Thái Lan.

Trên kia là nói về rừng ôn đới trong đó có cây phong là cây chiếm dạng ưu thế .Nhưng ở ven sông, thường có nhiều đất ẩm thì thực vật cảnh hay quần xã thực vật thường gặp là một loại rừng khác, có tên là rừng ở bờ nước (riparian forest) với những rặng liễu:

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang 

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

(thơ Xuân Diệu)

hoặc cây liễu như trong câu Kiều:

Sông Tần một giải xanh xanh

Loi thoi bờ liễu mấy cành dương quan

2.5 rừng có vai trò hỗ trợ như giúp tạo ra đất, làm nhiều khối đá đầu tiên vỡ ra . Thực vật với rễ cây có thể xuyên qua các khe nứt của đá và dần dà làm đá bể ra, tạo điều kiện dễ dàng cho đất hình thành ; rễ cây và vi sinh vật thải vào môi trường chất CO2 và các acid khác nhau để huỷ hoại các khoáng chất trong đá, giúp sự phong hoá dễ dàng hơn

3. Kết luận

Với sự biến đổi khí hậu toàn cầu do sự phát thải  các khí độc của các nhà máy, xe cộ, kéo theo nhiều hệ quả như băng hà tan, nước biển dâng, bão lụt tăng thì vai trò bảo vệ môi tr ường lại càng quan trọng hơn .

Do đó, giáo dục môi sinh trong học đường rất cần thiết; những thơ văn, ca dao, tục ngữ đề cao vai trò của môi sinh, từ sông ngòi đến  thác nước sẽ giúp trẻ em học sinh hiểu nhanh hơn vai trò cûa con người trong các hệ sinh thái nhằm bảo vệ chung trái đất.Giáo dục  cho mọi người về sự cần thiết của niềm đồng cảm giữa người và vũ trụ, tình gắn bó giữa con người với thiên nhiên để con người yêu thêm thiên nhiên, tạo vật, tìm lại mây trời hiền hoà, màu xanh của nước và của  núi rừng, nói theo danh từ thời đại là green awareness và từ đó thấy sự cần thiết có một sự hài hoà giữa dân số và thiên nhiên, hài hoà giữa thiên nhiên  và phát triển kinh tế, một sự hài hoà mà chính hệ thống triết học Á Đông luôn luôn đề cao.

Thái Công Tụng

.

Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín, Uy Tín, Lời Hứa Hay Nhất

Giữ chữ tín là 1 trong những điều rất quan trọng để tạo thương hiệu trong làm ăn cuộc sống và cả trong học tập. Quan trọng hơn khi bạn giữ chữ tín bạn sẽ được mọi người tin tưởng nhiều hơn trong nhiều trường hợp khác nhau. Khi úy tín của bạn được nâng cao thì làm việc gì cũng dễ dàng và thỏa mái hơn rất nhiều. Ca dao tục ngữ về giữ chữ tín hay và ý nghĩa nhất

Con người sống trong cuộc sống này luôn cần pahir có một lối sống tốt, một vẻ đẹp tâm hồn thì mới đươc mọi người yêu thương và quý mến. nếu bất cứ ai sống tốt thì sẽ được mọi người yêu thương và quý trọng, với những ai sống xấu xa, ganh đua thì sẽ không được mọi người coi trọng và yêu thương. Đối với con người thì giữ chứ tín cũng là một đức tính tốt, nếu có được đức tính này thì mới được mọi người coi trọng, yêu thương và quý trọng.

Việc giữ chứ tín là 1 điều quan trọng trong cuộc sống hiện nay nhất là trong thời buổi xã hội cạnh tranh gay gắt, tuy nhiên trong thực tế việc giữ chữ tín không hề dễ vì nó chịu tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau

Nói đến giữ chứ tín thì rất ít người có thể làm được, nếu chúng ta xác định làm được thì hãy hứa, hãy nói, còn nếu không thực hiện được thì thôi đừng hứa để rồi không thực hiện được. những người mà giữ được chữ tín sẽ được mọi người tin tưởng, thương yêu và đôi khi giao cho những trọng trách lớn trong công việc cũng như trog cuộc sống. Chúng ta cùng đi tìm hiểu những câu ca dao tục ngữ về giữ chữ tín.

Tục ngữ về giữ chữ tín:

Câu 1:

Treo đầu dê, bán thịt chó.

Câu 2:

Một lần bất tín, vạn lần bất tin

Câu tục ngữ nói về lòng tin của mọi người đối với nhau trong quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ công việc. khi chúng ta giữu chữ tín thì sẽ được mọi người coi trọng và tin yêu, tin tưởng giao cho công việc. những khi chúng ta một lần thất hứa thfi vạn lần chúng ta vẫn cho là thất hứa, chỉ một lần thất hứa thôi đã khiến cho hậu quả lớn đến như thế.

Câu 3:

Chữ tín còn quý hơn vàng.

Câu tục ngữ nói lên tầm quan trọng và sức mạnh của chữ tín. Chữ tín được so sánh với vàng, vàng là một kim loại rất quý giá, khó có thể có được. câu tục ngữ so sánh chữ tín còn quý hơn vàng, thì tafamq uan trọng và ý nghĩa của chữ tín trong cuộc sống chúng ta rất lớn.

Câu 4:

Lời nói như đinh đóng cột

Đây là câu tục ngữ nói về những người giữu chữ tín, lời nói họ khi nói ra giống như đinh đã đóng cột, khi đã đóng vào cột rồi là khó có thể lấy ra. Qua câu tục ngữ chúng ta thấy được giá trị to lớn của chữ tín.

Tổng hợp những câu tục ngữ về giữ chữ tín:

Hứa hươu, hứa vượn

Rao mật gấu, bán mật heo

Rao ngọc, bán đá

Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy.

Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng.

Nhất ngôn cửu đỉnh

Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy.

Nhất ngôn cửu đỉnh.

Quân tử nhất ngôn

Giấy rách còn giữ lấy lề

Ca dao về giữ chữ tín:

Câu 1:

Nói lời phải giữ lấy lời

Đừng như con bướm đậu rồi lại bay

Câu ca dao mượn hình ảnh con bướm để nói lên vấn đề giữ chữ tín của con người. con bướm là một con vật biết bay, và chúng hay bay không đứng yên một chỗ được lâu. Dùng hình ảnh con bướm đứng bay thất thường để nói đến người chữ tín, nói rằng phải giữ chữ tín chứ đừng như con bướm đậu rồi lại bay.

Câu 2:

Nói chín thì phải làm mười

Nói mười làm chín, kẻ cười người chê.

Giữ chữ tín là một hàng động, một đức tính rất quan trọng của mỗi con người trong cuộc sống. giữ chữ tín là giữ lòng tin yêu của mọi người trong cuộc sống cũng như trong công việc. câu ca dao nhắc đến việc nói phải làm, chứ đừng nói nhiều mà almf ít sẽ khiến mọi người cười chê.

Tổng hợp những câu ca dao về giữ chữ tín:

Cả nhà ăn uống, tội trời riêng mang.

Người sao một hẹn thì nên

Người sao chín hẹn thì quên cả mười

Kiếm củi ba năm, thiêu một giờ

Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng

Hay gì lừa đảo kiếm lời

Cả nhà ăn uống, tội trời riêng mang.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Rừng Na Uy – Haruki Murakami trên website Altimofoundation.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!