Đề Xuất 12/2022 # Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Cối, Câu Dừa, Cây Tre, Cây Bưởi / 2023 # Top 15 Like | Altimofoundation.com

Đề Xuất 12/2022 # Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Cối, Câu Dừa, Cây Tre, Cây Bưởi / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Cối, Câu Dừa, Cây Tre, Cây Bưởi / 2023 mới nhất trên website Altimofoundation.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1 Những câu ca dao tục ngữ về cây cối, câu dừa, cây tre, cây bưởi Author : Ngân Hường Categories : Văn hóa Các câu ca dao tục ngữ là những kinh nghiệm mà ông bà ta đúc kết từ xa xưa rất bổ ích và ý nghĩa. Các câu ca dao tục ngữ thường nói về ông bà cha mẹ, con cái, cuộc sống cũng như những điều rất ý nghĩa đối với cuộc sống của chúng ta. Bên cạnh những câu ca dao tục ngữ về ông bà cha mẹ còn có những câu tục ngữ về thiên nhiên và con người. Những câu tục ngữ về thiên nhiên thường nhắc đến các hiện tượng thiên nhiên như mây, mưa, gió bão, ngoài các hiện tượng đó thì những câu ca dao tục ngữ còn nhắc đến cây cối như cây dừa, cây tre, cây bưởi, những loại cây có ý nghĩa đối với nhân dân ta, ý nghĩa về mặt kinh tế lẫn về mặt lịch sử, chúng ta cùng đi tìm hiểu về những câu ca dao tục ngữ về cây cối, câu dừa, cây tre, cây bưởi. Những câu ca dao tục ngữ về cây dừa: Câu 1: Không chồng, son phấn qua loa, Có chồng, em trang điểm nước hoa dầu dừa Dừa là một loại cây rất thân thương và quen thuộc đối với cuộc sống của con người. cây dừa được sử dụng hầu hết các bộ phận của cây như thân cây được dùng làm gỗ, lá cây dùng để lợp nhà, trái dừa dùng để uống nước,. Bên cạnh đó dừa còn dùng để làm nước hoa cho người phụ nữ xưa. Câu 2: Bến Tre dừa ngọt sông dài Nơi chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh. ở nước ta dừa được trồng nhiều nhất ở Bến Tre, ở đây có rất nhiều dừa và rất nổi tiếng về dừa. mỗi lần đến đây chúng ta sẽ thấy được rất nhiều sản phẩm được sử dụng làm nhiều trong cuộc sống. Từ Bến Tre có nhiều dừa làm ra kẹo nổi tiếng ở Mỏ Cày. Câu 3: Tài liệu chia Bến sẻ tại Tre dừa xanh bát ngát Đường đi Ba Vát gió mát tận xương.

3 Ôi tuổi thơ, ta dầm mưa ta tắm. Ta lội tung tăng trên mặt nước mặt sông. Ta lặn xuống, nghe vang xa tiếng sấm, Nghe mưa rơi, tiếng ấm tiếng trong. Ôi đâu rồi những trò chơi tuổi trẻ, Những tàu chuối bẹ dừa, những mảnh chòi nhỏ bé, Những vết chân thơ ấu buổi đầu tiên, Mấy tấm mo cau là mấy chiếc thuyền. Dừa ơi dừa! Người bao nhiêu tuổi Mà lá tươi xanh mãi đến giờ Tôi nghe gió ngàn xưa đang gọi Xào xạc lá dừa hay tiếng gươm khua Dừa Bến Tre ba đồng một trái, Chuối Bến Tre một nải đồng ba. Ai biểu anh đến rồi lại đi ra, Để em thương nhớ, em chờ em đợi, nước mắt sa vắn dài. Trồng dừa ra đọt chặt tàu Sợ em đổi dạ tham giàu bỏ anh. Em đi lên xuống cầu dừa, Lấy ai có chửa đổ thừa cho anh. Kìa vườn dừa cây cao cây thấp Gió quặt quà cành lá xác xơ Thương em anh vẫn đợi chờ. Tài liệu chia sẻ tại Ăn dừa ngồi gốc cây dừa,

4 Cho em ngồi với, cho vừa một đôi. Trời mưa lộp bộp lá dừa Bợp anh ba bợp cho anh chừa đi đêm. Gió đưa gió đẩy lá dừa, Muốn ai thì muốn nhưng chừa em ra. Dừa xanh trên bến Sông Cầu Dừa bao nhiêu trái, dạ em sầu bấy nhiêu. Trăng lên khuất bóng cây dừa, Làm thân con gái phải chừa đi đêm. Muốn trong bậu uống nước dừa Muốn nên cơ nghiệp, bậu chừa lang vân. Dừa tơ bẹ dún tốt tàng, Giàu sang có chỗ, điếm đàng có nơi. Đất thiếu trồng dừa, Đất thừa trồng cau. Dừa giao lá, cá giao đuôi. Ôi thân dừa đã hai lần máu chảy, Biết bao đau thương biết mấy oán hờn. Ai xui thằng giặc đi càn, Vô sâu ong đốt, ra đàng gặp chông. Dừa bị thương dừa không cúi xuống Vẫn ngẩng lên ca hát giữa trời Tài liệu Nếu chia ngã sẻ xuống tại dừa ơi không uổng

5 Dừa lại đứng lên thân dựng pháo đài. Những câu ca dao tục ngữ về cây tre: Câu 1: Tre già khó uốn. Cây tục ngữ nói về cây tre khi già sẽ khó uốn, khi già sẽ khó khăn trong việc uốn nắn để thành vật giống. Cây tục ngữ mươn cây tre để nói về sự dạy bảo con người, khi còn nhỏ không dạy bảo lớn lên sẽ không dạy bảo được. Câu 2: Tre già măng mọc. Tre là một loại cây rất nổi tiếng, rất có ý nghĩa trong lịch sử của dân tộc Việt Nam ta. Khi tre già thì sẽ có măng mọc lên, tre là loài cây không bao giờ tàn, không bao giờ bị chết. Câu 3: Đóng tre căng bạc giữa đồng Các anh pháo thủ xoay nòng súng lên Súng anh canh cả trời đêm Để cho trăng đẹp toả lên xóm làng. Dây là câu tục ngữ nói về cây tre, nhắc đến giá trị và ý nghĩa của cây tre. Ngày xưa cây tre rất có ý nghĩa trong các cuộc kháng chiến, những cuộc kháng chiến luôn có sự hiện diện của cây tre. Tổng hợp một số câu ca dao tục ngữ về cây tre: Tre già là bà lim. Có tre mới cho vay hom tranh. Tre non dễ uốn. Tre già nhiều người chuộng, người già ai chuộng làm chi. Tre lướt cò đỗ. Chặt tre cài bẫy vót chông Tài liệu chia sẻ tại Tre bao nhiêu lá thương chồng bấy nhiêu.

7 Câu 1: Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân Nụ tầm xuân nở ra xanh ngắt Em đã có chồng anh tiếc lắm thay Bài ca dao nói về chuyện tình cảm của đôi trai gái được thể hiện qua các loại cây như cây bưởi, nụ tầm xuân, Những hình ảnh ấy nói lên tính cảm yêu thương của người con trai đối với người con gái mình yêu thương. Câu 2: Qua tỉ như chùm gởi đáp nhờ Gá vô nhánh bưởi nọ đặng nhờ hưởng hơi Câu ca dao thể hiện tình cảm của đôi trai gái, của nam nữ được thể hiện qua hình ảnh chum gởi và cây bưởi. hình ảnh chum gởi nhờ vào nhánh bưởi để hưởng hơi nhánh bưởi. Tổng hợp một số câu ca dao tục ngữ về cây bưởi: Mưa tháng bảy gãy cành trám Nắng tháng tám rám cành bưởi Cái sáo mặc áo em tao Làm tổ cây cà Làm nhà cây chanh Đọc canh bờ giếng Mỏi miệng tiếng kèn Hỡi cô trồng sen! Cho anh hái lá Hỡi cô trồng bưởi! Tài liệu chia sẻ tại Cho anh hái hoa

8 Cứ một cụm cà Là ba cụm lý Con nhà ông lý Mặc áo tía tô Tổng hợp một số câu ca dao tục ngữ về cây cối: Ba năm mít mới đóng đài Hoa thơm nỏ rộ, hoa xoài nở đua Bông lài, bông lựu, bông ngâu Sao bằng bông bưởi thơm lâu dịu dàng Cây bần kia hỡi cây bần Lá xanh bông trắng lại gần không thơm Hoa lài hoa lý hoa Ngâu Chẳng bằng hoa bưởi thơm lâu diệu dàng Một cành đào sớm nở hoa Muôn ngàn cây cỏ, theo đà nương thân. Ngó lên đám ngó xanh xanh Người mong hái nụ, người dành bẻ gương Tạnh trời mưa kéo về non Hẹn cùng cây cỏ chớ còn trông mưa Thiếu chi củi quế rừng ta Kiếm chi củi mục rừng xa đem về Tài liệu chia Tre sẻ tại già đan sọt, nứa tốt đan bồ Trồng Tùng tưới nước cho Tùng

9 Em săm say trên đọt, dưới gốc sùng không hay Trồng cây cũng muốn cây xanh, Kết đôi hổng đặng để thành phu thê. Nghe vẻ nghe ve Nghe vè về rau Xấc láo hỗn hào Là rau ngành ngạnh Trong lòng không tránh Vốn thiệt tâm lang Đất rộng bò ngang Là rau muống biển Quan đòi thầy kiện Bình bát nấu canh Ăn hơi tanh tanh Là rau dấp cá Không ba có má Rau má có bờ Thò tay so đo Nó là rau nhớt Ăn cay như ớt Vốt thiệt rau răm Sống tới ngàn năm Tài liệu Là rau chia vạn sẻ tại thọ

Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa Việt Nam / 2023

Những câu ca dao tục ngữ về cây lúa Việt Nam.

Ca dao tục ngữ hay về cây lúa

những câu ca dao tục ngữ hay về cây lúa Việt Nam.

Cây lúa là gì? Cây lúa là cây đã có từ thời xa xưa, là loại cây mà người nông dân nuôi trồng sản xuất để tạo thành cơm ăn hoặc buôn bán.

Cây lúa bắt nguồn từ thời nguyên thủy, họ phải đi săn bắt, hái lươm những cây trái về ăn, sau đó họ thấy cây lúa ăn thật ngon, họ lại đem đi gieo ở những vùng đất khô ,nhân giống thêm và để có cái ăn, sau một thời gian dài người ta đã có ý thức và kinh nghiệm về cây lúa, đem gieo ở những vùng đất có nhiều nước, người dân thấy cây lúa tốt hơn và đã duy trì từ đó đến bây giờ. Tạo thành một biểu tượng của đất nước Việt Nam.

Những câu ca dao tục ngữ về cây lúa Việt Nam1.

Lúa khô nước cạn ai ơi Rủ nhau tát nước, chờ trời còn lâu

Hai câu thơ trên hàm ý muốn nói là thúc đẩy người dân hãy tưới nước chứ đừng chờ trời mưa, vì lúa đã khô sẽ dễ chết sau đó sẽ mất mùa vụ,

2.

Cực lòng thiếp lắm chàng ơi Kiếm nơi khuất tịch, thiếp ngồi thở than Than vì cây lúa lá vàng Nước đâu mà tưới nó hoàn như xưa Trông trời chẳng thấy trời mưa Lan khô huệ héo, khổ chưa hỡi trời

Bài thơ nói về thời tiết khô hanh làm cho cây lúa “vàng” tức là lúa đã khô héo mà trời vẫn chưa chịu đổ mưa.

3.

Thân em như lúa nếp tơ, Xanh cây tốt rễ, phởn phơ phơi màu

Ý muốn nói “thân em” như một cây lúa đang tươi tốt và màu xanh ươm, nghệ thuật so sánh “thân em” với “cây lúa” rất hay.

4.

Mạ non bắt trẻ cấy biền Thương em đứt ruột, chạy tiền không ra

“Mạ non” tức là cây lúa non được gieo ở ruộng riêng (ruộng mạ), hình ảnh “mạ non” cho thấy về sau phải nhổ lên để cấy lại, thể hiện người làm nông không hề sướng ích gì.

5.

Trời mưa cho lúa thêm bông Cho đồng thêm cá, cho sông thêm thuyền

Hai câu thơ trên có hàm ý kêu gọi trời cao hãy mưa để cho đồng lúa xanh tươi tốt, năng suất cao, tránh mất mùa vụ

6.

Được mùa lúa, úa mùa cau Được mùa cau, đau mùa lúa

Hai câu thơ lý giải hiện tượng thiên nhiên, là tới mùa lúa thì hết mùa cau, còn đến mùa cau thì lúa lại mất vụ. Ông bà ta đã quan sát và đút kết lại kinh nghiệm sống cho con cháu quá hay.

7.

Trời cao đất rộng thênh thang, Tiếng hò giọng hát ngân vang trên đồng, Cá tươi gạo trắng nước trong, Hai mùa lúa chín thơm nồng tình quê

Bài thơ trên có hàm ý muốn nhắn nhủ chúng ta luôn nhớ về quê hương, luôn nhớ về những mùa lúa chín vàng ươm và thơm nồng.

8.

Ăn kĩ no lâu Cày sâu tốt lúa.

Đây là kinh nghiệm sống cho người nông dân làm nông, cày càng sâu thì lúa sẽ càng tốt. sẽ dẫn đến hậu quả vô cùng nghiêm trọng là … năng suất cao ^^

9.

Cày đồng đang buổi ban trưa Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẽo thơm một hạt đắng cay muôn phần

Bài thơ muốn nhắn nhủ chúng ta về công lao của những người nông dân đã làm ra gạo dẽo thơm cho chúng ta ăn, qua đó thể hiện sự cực khổ của người nông dân giữ trưa phải đi cày và mồ hôi nhễ nhại.

10.

Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

mình rất thích ca dao

Cây Lúa Trong Ngôn Ngữ Người Việt / 2023

(Ngày ngày viết chữ) Người Việt là cư dân trồng lúa nước điển hình ở Đông Nam Á. Điều này để lại dấu ấn đậm nét trong Việt ngữ, rõ nét nhất là hai từ “lúa” và “nước”. Hiếm có ngôn ngữ nào mà khái niệm “lúa” và “nước” lại thể hiện cụ thể, sinh động như tiếng Việt.

MỌI NGƯỜI CŨNG ĐỌC

Thông thường, phải là sự vật thân thuộc đến một mức độ nhất định người ta mới đặt tên cho. Và càng thân thuộc, càng tri nhận sâu sắc về sự vật người ta mới dùng các tên riêng để gọi từng bộ phận, từng chi tiết của sự vật đó.

Ở đây, khi xem xét cây lúa, chúng tôi nhận thấy rằng Tiếng Việt có hàng chục từ đơn để chỉ cây lúa nước và các sản phẩm của nó.

Tạm lấy thời điểm cây lúa còn non làm mốc, theo Từ điển Hoàng Phê, “cây lúa non được gieo ở ruộng riêng, sẽ nhổ đi cấy lại khi đến tuổi” gọi là “mạ” [6, tr.605]. Cái ruộng riêng để gieo mạ cũng gọi là ruộng mạ, hành động gieo thóc giống gọi là gieo mạ.

Tua rua thì mặc tua rua, Mạ già, ruộng ngấu không thua bạn điền. [1. tr. 688] Khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen. [2. tr. 551] Tháng sáu mà cấy mạ già, Thà rằng công cấy ở nhà ẵm con. Tháng chạp mà cấy mạ non, Thà rằng công cấy ẵm con ở nhà. [1, tr.686]

Tục ngữ Việt Nam có rất nhiều câu nói về kỹ thuật gieo mạ, như “Gieo mạ còn phải kén giống” hay “Mạ mùa sướng cao, mạ chiêm ao thấp” [11, tr.172]. Qua đây, có thể thấy được “phương pháp canh tác của dân quê nước ta rất tinh tế và thích hợp với thổ nghi cùng hoàng cảnh” [3, tr.35]. Cụ thể, tùy theo giống lúa, tùy mùa, tùy thời tiết mà nông dân chọn chân ruộng, chọn cách gieo trồng sao cho phù hợp. Về vụ mùa và vụ chiêm, Phan Kế Bính viết: “Ruộng chia là hai vụ: cày cấy tự tháng Năm tháng Sáu đến tháng Tám tháng Chín được gặt gọi là vụ mùa; cày cấy từ tháng Một tháng Chạp đến tháng Tư tháng Năm năm sau được gặt gọi là vụ chiêm” [9, tr.204 – 205]. Về giống lúa, từ xa xưa đã có phong phú. Trong Vân Đài loại ngữ, Lê Quý Đôn “đã kê ra đến 23 giống lúa mùa, 9 giống lúa chiêm, 29 giống lúa nếp, mỗi giống lại chia thành nhiều loại, tổng cộng có đến hơn trăm loại” (dẫn theo Trần Ngọc Thêm [10, tr.188]).

“Đòng” hay “đòng đòng” là “ngọn của thân cây lúa đã phân hóa thành các cơ quan sinh sản và sẽ phát triển dần thành bông khi lúa trỗ ” [6, tr.331]. Dùng từ “đòng” để gọi phần thân sẽ phát triển thành bông là một hiện tượng đặc biệt. Tiếng Việt không có nhiều loài thực vật có cách gọi riêng như vậy, trừ cây ngô “trỗ cờ” thì các loài cây khác hầu như đều gọi chung là “ra nụ”, “ra bông”.

“Đôi ta như lúa đòng đòng, Đẹp duyên nhưng chẳng được lòng mẹ cha. Đôi ta như chỉ xe ba, Thầy mẹ xe ít đôi ta xe nhiều.” [12]

Cây lúa sau khi gặt lấy bông, phần thân còn lại ngoài đồng gọi là “rạ”. Bông lúa sau khi tuốt hoặc đập lấy thóc, phần thân còn lại gọi là “rơm”.

“Rồi mùa toóc rã rơm khô, Bạn về xứ bạn biết mô mà tìm.” [12] “Toóc” là phương ngữ Trung, cũng có nghĩa là “rạ”. “Yêu nhau chẳng quản đói nghèo, Chiếu rơm chăn rạ cũng theo anh về.” [12] Nhánh của một bông lúa được gọi là “gié”: “Đọt lúa vàng, gié lúa cũng vàng, Anh thương em, cha mẹ họ hàng cũng thương.” [12]

Còn một phần của khóm lúa thì gọi là “chẽn”, cũng có nơi gọi là “dảnh”:

“Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, thấy mênh mông bát ngát, Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, thấy bát ngát mênh mông, Thân em như chẽn lúa đòng đòng, Phất phơ giữa ngọn nắng hồng ban mai.” [12]

Về những sản phẩm của cây lúa, các tên gọi cũng vô cùng đặc trưng. Hầu như mỗi một sản phẩm sinh ra từ cây lúa đều có cách định danh riêng. “Thóc” là hạt lúa còn nguyên cả vỏ. Còn thóc sau khi qua xay, giã, tách vỏ rồi thì gọi là “gạo”. Cái vỏ sau khi được tách ra đó gọi là “trấu”.

“Ngày thì đem thóc ra phơi, Tối lặn mặt trời đổ thóc vào xay.” [12] “Còn gạo không biết ăn dè, Đến khi hết gạo ăn dè chẳng ra.” [12] “Bòn tro đãi trấu làm giàu, Đời nay nguyền rủa, đời sau ăn mày.” [12]

Tục ngữ có câu “Cơm gạo mùa, thổi đầu chùa cũng chín” vì “lúa càng chín thì phẩm chất hạt gạo càng cao. Lúa mùa mà chín kỹ gạo rất ngon” [11, tr.176]. Câu tục ngữ này thể hiện sự tự hào về thành quả lao động của bà con nông dân. Và, không những gạo ngon thì cơm ngon, mà hạt gạo trắng nấu thành cơm trông cũng rất “ngon mắt”:

“Cơm trắng ăn với chả chim, Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no.” [11, tr.176]

Phần mầm của hạt gạo gọi là “tấm”, mà nay ta thường dùng để chỉ loại gạo bị vỡ, thường là vỡ đôi. Và khi giã, xay xát gạo, lớp vỏ mềm bao ngoài hạt gạo bị nát vụn ra, có màu vàng nâu, phần đó gọi là “cám”. Tấm và cám cũng được lấy làm tên gọi cho hai nhân vật chính trong câu chuyện cổ tích có độ nhận diện cao hàng đầu của người Việt – Cổ tích Tấm Cám.

Trong mối quan hệ với tự nhiên, những gì càng thân thuộc càng được tận dụng và càng có giá trị sử dụng. Đối với lúa, ngay cả lớp vỏ mềm bao quanh hạt gạo bị nát vụn khi xay, giã là cám cũng là vật có giá trị. Tục ngữ có câu “Bán cám thì ngon canh, nuôi lợn thì lành áo” [12] không chỉ cho thấy giá trị của cám mà còn phản ánh hiện thực là người nông dân hiểu rất rõ giá trị của những sản phẩm từ lúa. Câu ca dao:

“Bồ dục đâu đến bàn thứ tám, Cám nhỏ đâu đến lần lợn sề.” [12]

cũng cho thấy giá trị của cám, đồng thời còn thông qua đó thể hiện một lẽ đương nhiên trong mối quan hệ người với người. Còn những câu như:

“Đói no một vợ một chồng, Một niêu cơm tấm dằn lòng ăn chơi.” [12] “Sáng trăng giã gạo giữa trời, Cám bay phảng phất thương người phương xa.” [12]

thì mượn hình ảnh tấm cám để giãi bày tâm tư tình cảm của người nông dân.

Hạt gạo tẻ khi nấu chín gọi là “cơm”, hạt gạo nếp khi nấu chín gọi là “xôi”. Điều đáng chú ý là người Việt có hai động từ đơn riêng biệt dùng để chỉ việc nấu cơm và nấu xôi, chính là “thổi” cơm và “đồ” xôi. Tuy đều có nghĩa là “nấu” nhưng chỉ riêng cơm, xôi là đặc biệt như vậy, không phải món nào trong ẩm thực Việt Nam cũng dùng “thổi” hoặc “đồ”.

Câu tục ngữ “Cơm sống tại nồi, cơm sôi tại lửa” [12] không chỉ là kinh nghiệm nấu cơm thuần túy mà qua đó còn thể hiện được quan niệm phàm chuyện gì cũng có nguyên nhân của nó. Còn câu tục ngữ “Cơm chín tới, cải ngồng non, gái một con, gà nhảy ổ” [12] là cách nhìn nhận của dân gian về những thức ngon, đẹp trong cuộc sống.

Được mùa thì chê cơm hẩm, Mất mùa thì đẩn cơm thiu. [12] “Thấy nếp thì lại thèm xôi, Ngồi bên thúng gạo nhớ nồi cơm thơm. Hai tay xới xới đơm đơm, Công ai cày cấy sớm hôm đó mà.” [12] Gạo tẻ nếu nấu với nhiều nước cho nhừ thì gọi là “cháo”. Chồng như giỏ, vợ như hom, Đá vàng chung dạ, cháo cơm chung lòng. [12] Cơm sôi to lửa thì ngon, Cháo sôi to lửa thì còn nồi không. [12]

Hạt thóc nếp non rang chín xong giã sạch vỏ thì được món ăn gọi là “cốm”. Đó là chưa kể từ hạt gạo có thể chế thành đủ thứ bún, miếng, bánh đa, bánh tráng, bánh cuốn, phở,…

Điểm đáng chú ý là, tất cả các từ chỉ bộ phận và sản phẩm từ cây lúa ở trên đều là từ đơn chứ không phải từ phức. Từ đơn, theo Hoàng Tuệ, “là từ một tiếng, cứ mỗi tiếng một từ, một từ cứ nguyên hình nguyên dạng mà diễn đạt được nhiều ý nghĩa khác nhau” [7, tr.88]. Trong tiếng Việt, từ đơn là một khối cố định, không thể phân chia thành những bộ phận nhỏ hơn mà có nghĩa. Đặc trưng từ đơn của tiếng Việt là mỗi từ đơn đều vừa là hình vị, vừa là âm tiết. Về nguyên tắc, những khái niệm càng cơ bản càng có nhiều khả năng sử dụng từ đơn để biểu đạt. Và những từ tạo mới thường sẽ có dạng từ phức do cơ chế tổ hợp từ các từ sẵn có. Điều này hết sức có ý nghĩa đối với việc đánh giá độ mật thiết giữa cây lúa và nền văn minh lúa nước với người Việt.

Văn minh lúa nước thể hiện qua từ “lúa”

Người Việt vốn có tâm lý trọng nông và thực tế đã trải qua nhiều triều đại thực thi chính sách kinh tế chỉ chú trọng nông nghiệp. Những chính sách có thể kể đến là “quân điền, khẩn hoang, hộ đê; nhà vua lại thường ra sắc khuyến nông khiến các phủ huyện tổng lý phải khuyên dân chăm giữ bản nghiệp” [3, tr.34]. Dân gian Việt Nam có câu:

“Nhất sĩ nhì nông, Hết gạo chạy rông, Nhất nông nhì sĩ.”

“Công danh theo đuổi mà chi, Sao bằng chăm chỉ giữ nghề canh nông. Sớm khuya có vợ có chồng, Cày sâu bừa kỹ mà mong được mùa.” [1, tr.661]

Kể cả khi làm lúa thất bát, người nông dân vẫn dặn nhau chớ có ngã lòng:

Ai ơi! Nhớ lấy lời này: Tằm nuôi ba lứa, ruộng cày ba năm. Nhờ trời hòa cốc phong đăng, Cấy lúa lúa tốt, nuôi tằm tằm tươi. Được thua dù có tại trời, Chớ thấy sóng cả mà rời tay co . [1, tr.655]

Lẽ dĩ nhiên, khi làm nông nói chung và làm lúa nói riêng, ai cũng mong được mùa:

– “Bao giờ cho đến tháng Mười Lúa trỗ bời bời nhà đủ người no.” – “Bao giờ cho đến tháng Mười Thổi nồi cơm nếp vừa cười vừa ăn. Bao giờ cho đến tháng Năm Thổi nồi cơm nếp vừa ăn vừa nằm.” [1, tr.656]

Muốn được mùa, người nông dân thường “cầu trời”, dựa vào “ơn trời”:

“Cầu cho mưa thuận gió lành, Lúa vàng nặng hạt, ruộng anh được mùa.” [1, tr.659]

Đó là tâm lý chung phản ánh tư duy thuở hồng hoang, cũng bởi “kỹ thuật canh tác chưa tiến bộ nên sức người ở đây rất mong manh trước bao nhiêu sức mạnh của ngoại giới” [8, tr.36], do đó mà nảy sinh tâm lý tôn kính tự nhiên, chịu ơn tự nhiên.

Dù vậy, người nông dân Việt Nam không hoàn toàn duy tâm, bởi muốn được mùa họ chủ yếu vẫn phải dựa vào kinh nghiệm trồng lúa tích lũy qua bao đời. Chẳng hạn kinh nghiệm “Giồng cây theo gió, cấy lúa theo mưa” [2, tr.549] hoặc “Lúa không phân như ông thần không áo” [2, tr.559]. Hoặc như câu “Lúa phơi màu trông nhau liềm hái” muốn cho thấy cái nhìn chuẩn xác của nhà nông với lúa má nhà mình. Cụ thể, “vụ chiêm vào tháng tư, lúa bắt đầu có hoa. Nếu trời nắng và có gió nồm nam, hoa lúa dễ thụ phấn, khi ấy gọi là lúa phơi màu. Vụ mùa vào tháng tám (lúa sớm), tháng chín (lúa muộn) bắt đầu có gió heo may mà lúa phơi màu thì thuận thời tiết. Vào những thời điểm ấy, nhà nông nên chuẩn bị liềm hái là vừa” [2, tr.559]. Còn câu “Bụi lúa trồng bằng đồng lúa gieo” [2, tr.525] cho thấy kinh nghiệm lúa trồng (lúa cấy) tốt hơn lúa gieo thẳng (lúa sạ ).

Người Việt còn nói “Gió đông là chồng lúa chiêm, gió bắc là duyên lúa mùa”, về nội dung, đây là một kinh nghiệm trồng lúa. Gió đông thổi từ biển vào vào mùa hè, mang theo hơi nước tạo mưa giúp cho cây lúa vụ chiêm phát triển. Gió bắc thổi vào mùa đông, giúp lúa vụ mùa (vụ đông) thụ phấn tốt, đạt năng suất cao. Đi sâu vào mặt từ vựng, cách dùng “chồng”, “duyên” còn cho thấy có sự nhân hóa cây lúa. Kỳ thực, người Việt rất giỏi nhân hóa, giỏi thổi hồn vào vạn vật, xem vạn vật cũng như người. Nhưng sự nhân hóa đối với cây lúa là một sự nhân hóa mà nói như Đào Thản là một sự nhân hóa “rất triệt để” [4, tr.7]. Chẳng hạn, người Việt có cách nói “đi thăm ruộng”, “đi thăm đồng” hoặc “đi thăm lúa”, “thăm” vốn là từ chỉ hoạt động giữa người với người. Người Việt cũng nói “lúa đương thì con gái” – một cách nói nhân hóa, đồng nhất lúa với người.

Những câu ca dao sau cũng là kinh nghiệm quý báu và có giá trị khoa học:

“Lập thu mới cấy lúa mùa, Khác nào hương khói lên chùa cầu con.” [1, tr.668] “Nửa đêm sao sáng mây cao, Triệu trời nắng gắt, nắng gào chẳng sai. Lúa khô nước cạn ai ôi! Rủ nhau tát nước chờ trời còn lâu. [1, tr.676] Gỗ kiền anh để đóng cày, Gỗ lim gỗ sến anh nay đóng bừa. Răng bừa tám cái còn thưa, Lưỡi cày tám tấc đã vừa luống to. Muốn cho lúa nảy bông to, Cày sâu bừa kỹ phân tro cho nhiều. [1, tr.664]

Và nỗi lo thường trực của nông dân không gì ngoài nỗi lo mất mùa, những câu tục ngữ sau thể hiện nỗi lo đó, đồng thời cho thấy kinh nghiệm trồng trọt cũng như quan niệm về lẽ được mất ở đời:

– “Được mùa lúa úa mùa cau, được mùa cau đau mùa lúa.” – “Được mùa quéo, héo mùa chiêm.” – “Được mùa dưa, sưa mùa lúa.” [2, tr.548]

Còn câu ca dao sau thì thể hiện nỗi lo xa của nông dân về chuyện mùa vụ:

“Đói thì ăn ráy ăn khoai, Chớ thấy lúa trỗ tháng Hai mà mừng.” [1, tr.662]

Lúa trỗ vào tháng Hai theo kinh nghiệm của dân gian là năm đó mất mùa. Bên cạnh nỗi lo mất mùa còn có nỗi lo trộm đạo:

“Cấy lúa, lúa trỗ ra năn, Kẻ trộm gặt mất con ăn bằng gì? Con ăn lộc sắn lộc si, Con ăn bằng gì, cho đến tháng Năm?” [1, tr.660]

Ngoài nỗi lo, đương nhiên không thể thiếu những niềm vui, có những niềm vui rất đỗi bình dị: “Cấy ba cây lúa cho chuôn , Anh đi dạo ruộng, dẫu buồn cũng vui.” [1, tr.659]

Còn đây là không khí xóm làng rộn ràng trong mùa thu hoạch:

Bảo nhau gặt lúa vội vàng, Mang về nhặt tuốt, luận bàn thóc dôi. Người thì nhóm bếp bắc nồi, Người đem đãi thóc để rồi đi rang. Người đứng cối kẻ giần sàng, Nghe canh gà gáy phàn nàn chưa xong. Trong làng già trẻ thong dong, Sớm khuya bện chổi chớ hòng rỗi tay. [1, tr.658]

Lại nói, bàn về công việc nhà nông, ở đây là người trồng lúa, văn học dân gian có hàng loạt bài ca dao mô tả cụ thể, tuần tự cái “nghiệp nông gia” của mình. Xin dẫn ra sau đây vài bài sinh động:

Người ta đi cấy lấy công, Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề. Trông trời, trông đất, trông mây, Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm. Trông cho chân cứng đá mềm, Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng. Chăm bề cày cấy cho xong, Rồi lên sửa việc cung công thể nào. Thi rằng: Trú nhĩ vu mao, Lại câu: Tiêu nhĩ sách đào tương liên . Kíp sửa nhà cửa được yên, Mới ra vãi lúa ăn về mùa sau. [1. tr.673] Tháng Giêng là tháng ăn chơi, Tháng Hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà. Tháng Ba thì đậu đã già, Ta đi ta hái về nhà phơi khô. Tháng Tư đi tậu trâu bò, Để ta sắm sửa làm mùa tháng Năm. Sáng ngày đêm lúa ra ngâm, Bao giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra. Gánh đi ta ném ruộng ta, Đến khi lên mạ thì ta nhổ về. Sắp tiền mượn kẻ cấy thuê, Cấy xong rồi mới trở về nghỉ ngơi. Cỏ lúa dọn đã sạch rồi, Nước ruộng vơi mười còn độ một, hai. Ruộng thấp đóng một gàu giai, Ruộng cao thì phải đóng hai gàu sòng. Chờ cho lúa có đòng đòng, Bây giờ ta sẽ trả công cho người. Bao giờ cho đến tháng Mười, Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta. Gặt hái ta đem về nhà, Phơi khô quạt sạch ấy là xong công. [1. tr.683] Tua rua đi rắc mạ mùa Tiểu thử đi bừa, cấy ruộng đất sâu Hàn lộ lúa trỗ bằng đầu Lập đông là quyết về mau gặt mùa. [1. tr.688] Đừng chê em xấu em đen, Vốn em ở đất đồng quen ba mùa. Tháng Tư cấy trộm tua rua, Tháng Sáu cấy mùa, tháng Chạp cấy chiêm. Một năm ba vụ cấy liền, Còn gì má phấn, răng đen hỡi chàng! [1, tr.662-663]

Qua những bài ca dao trên, có thể thấy nghề làm ruộng là một công việc vất vả hầu như quanh năm. Phan Kế Bính nhận xét: “Nhà làm ruộng rất là cần khổ. Thoạt tiên cày vỡ, bừa cỏ, rồi đến gieo mạ cấy lúa. Cày hôm cuốc sớm, vất vả quanh năm, nào khi làm cỏ, nào khi tát nước; giời nắng chang chang, sém cả da cháy cả thịt cũng phải lọm cọm ở giữa cánh đồng, qua sang đông thì giời rét như cắt ruột, xẻo da mà cũng phải dầm chân xuống nước. Nói rút lại thì nghề nghiệp nước ta, không nghề gì khó nhọc bằng nghề làm ruộng” [9, tr.205]. Sự vất vả, cơ cực quanh năm đó của nông gia đã được thể hiện rất đầy đủ trong ca dao, tục ngữ vậy.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tổng tập văn học dân gian người Việt. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội. Tập 15. Ca dao. 2002.

Tổng tập văn học dân gian người Việt. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội. Tập 1. Tục ngữ. 2002.

Đào Duy Anh. (1938). Việt Nam văn hóa sử cương. Tái bản năm 2014. Hà Nội: NXB Thế giới.

Đào Thản. (1998). Cây lúa, tiếng Việt và nét đẹp văn hoá, tâm hồn Việt Nam. (8 trang). Việt Nam học – Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất (1998). Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

Đinh Gia Khánh (Chủ biên). (2009). Văn học dân gian Việt Nam. Tái bản lần thứ 12. Hà Nội: NXB Giáo dục.

Hoàng Phê (Chủ biên). (2013). Từ điển tiếng Việt. Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng.

Hoàng Tuệ. (2014). Cuộc sống ở trong ngôn ngữ. HCM: NXB Trẻ.

Lương Đức Thiệp. (2017). Xã hội Việt Nam từ sơ sử đến cận đại. Tái bản lần thứ nhất. Hà Nội: NXB Tri Thức.

Phan Kế Bính. (1915). Việt Nam phong tục. Tái bản năm 2019. Hà Nội: NXB Hồng Đức.

Trần Ngọc Thêm. (2000). Cơ sở văn hóa Việt Nam. Tái bản lần thứ hai. Hà Nội: NXB Giáo dục.

Vũ Ngọc Phan (2017). Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam. Hà Nội: NXB Văn học.

Website https://cadao.me/.

Những Câu Stt, Caption Hay Nhất Về Cây Cảnh / 2023

Những câu STT, Caption hay nhất về cây cảnh:  Nếu được chọn ẩn mình trong loài hoa tôi sẽ chọn hoa xương rồng.  Hoa xương rồng rất lâu mới nở, nếu anh không chịu được thì đừng yêu cô ấy.

Những câu STT, Caption hay nhất về cây cảnh

1. Anh à, anh có dám ôm thật chặt lấy xương rồng dù biết sẽ bị thương hay không? Và khi xung quanh có vô vàn hoa thơm cỏ lạ, anh sẽ kiên nhẫn đợi xương rồng nở hoa trong bao lâu mà không rời đi? Hoa xương rồng rất lâu mới nở, nếu anh không chịu được thì đừng yêu cô ấy.

2. Nếu được chọn ẩn mình trong loài hoa tôi sẽ chọn hoa xương rồng, chống chọi với mọi giông bão của cuộc đời. Không như bồ công anh, cứ để gió cuốn đi mặc dù không muốn.

3. Em không hoạt bát như những cô gái khác mà chỉ thích thầm lặng thôi, giống như xương rồng vậy. Kén bạn, kén người tri kỷ nhưng đằng sau vẻ gai góc đó là sự hy sinh vượt trên giới hạn bản thân.

5. Xương rồng sống có thể thiếu nước nhưng tình yêu không thể không có sự chân thành.

6. Bạn đánh giá yêu đơn phương là như thế nào, tôi thấy nó giống như lấy tay trần bóp mạnh vào xương rồng. Càng chặt càng đau.

7. Yêu người không yêu mình giống như ôm lấy một cây xương rồng. Không những đau mà còn rỉ máu.

8. Nỗi nhớ không thể nói ra giống như gai xương rồng đâm xoạc khiến tim ta chảy máu.

9. Yêu đơn phương giống như cố gắng ôm lấy cây xương rồng, càng ôm càng đau.

10. Hoa xương rồng mãi rất lâu mới nở, hoa mang vẻ đẹp hiếm thấy vì lâu lắm mới nở hoa. Cũng như bản thân em, rất ít khi nở nụ cười nhưng đến khi cười thật sẽ khiến bao người gục ngã.

11. Cây xương rồng sống trong điều kiện khắc nghiệt, riêng em không phải xương rồng cũng phải gánh chịu mọi đau khổ đấy thôi

12. Con gái chỉ nên yêu người làm mờ vết son trên môi chứ đừng yêu người làm nhòe mascara trên mắt. Tận dụng cả thanh xuân vào điều đúng đắn, đừng lãng phí vì nó giống như hành động ôm lấy xương rồng.

13. Em là chậu xương rồng nhỏ và đầy gai. Anh có dám yêu em mà không lấy kéo cắt đi bụi gai đó không?

14. Hãy yêu lấy người chấp nhận mình, đừng yêu người cố tìm vũ khí loại bỏ đi những cái gai trên người bạn.

15. Xương rồng trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là hãy đến và mang em đi.

16. Một cô gái sở hữu trái tim đầy gai xương rồng có khả năng làm đau người khác và tổn thương bản thân mình.

17. Hoa hồng có gai, sao em vẫn cầm? Xương rồng nhiều gai sao em vẫn nắm? Yêu anh đau lắm, sao em vẫn yêu?

18. Giữa một hoa hồng đầy gai nhọn nhưng mau tàn với xương rồng chi chít gai nhỏ nhưng mạnh mẽ, anh chọn loại nào?

19. Tuy em yếu đuối nhưng nghị lực mạnh mẽ lắm, như cây xương rồng vậy, luôn mạnh mẽ như xương rồng giữa sa mạc vậy.

20. Xương rồng bề ngoài đáng sợ vậy thực chất là để đánh lừa mọi ngời rằng bản thân yếu đuối. Như nụ cười của em mang màu sắc tự vệ che giấu vẻ ngoài không vui.

21. Xương rồng nhiều gai sao anh vẫn nắm lấy.

22. Cây xương rồng đã nở hoa? Vậy em có còn chờ đợi anh không?

23. Em không phải là người vốn mạnh mẽ đâu anh. Chỉ là thời gian và cuộc sống trôi nhanh mà thành xương rồng nhỏ.

24. Nỗi nhớ bao giờ cũng đi kèm với nỗi đau, yêu một người lạnh lùng giống như ôm chặt lấy xương rồng lắm gai.

25. Con gái gặp đúng người yêu mình thì tha hồ hóa thành bông hoa yếu đuối, còn khi bị rũ bỏ phải tự gồng mình lên như xương rồng hứng chịu nắng ban trưa và sương lạnh về đêm của sa mạc.

Stt hay về cây xương rồng trong cuộc sống

1. Nếu không thể thay đổi thế giới, hãy bắt nhịp và thích nghi. Cũng giống như không bắt sa mạc thay đổi thì hãy để bản thân hóa thành xương rồng.

2. Sự thành công hay thất bại đều được quyết định bởi ý chí. Hãy tự rèn luyện bản thân mạnh mẽ như xương rồng, biết vươn lên trong mọi nghịch cảnh.

3. Bạn ước mình là củ hành tây để ai động vào cũng phải khóc. Còn tôi ước mình là xương rồng đầy gai, ai động vào cũng phải đau.

4. Nếu cuộc sống là một sa mạc khắc nghiệt, ta bắt buộc phải là cây xương rồng.

5. Hãy là cây xương rồng mạnh mẽ trước gió, mạnh mẽ lên dù cuộc sống thử thách ta điều gì.

6. Xương rồng rồi cũng sẽ nở hoa. Hãy sống chậm lại, an yên một chút thì sẽ thấy phía cuối con đường tràn ngập hoa.

7. Tình yêu là xương rồng gai góc. Nó đâm nát con tim hay có khi nó khắc sâu vào tim ta những vết khắc diệu kỳ và sẽ theo ta đến cuối đời.

8. Giờ đây tôi mới biết, điều kỳ diệu như bông hoa xương rồng. Cuối cùng thì cây xương rồng không ra hoa, điều kỳ diệu đó cũng vì thế mà biến mất.

9. Gió ơi, tôi muốn đến vùng đất của xương rồng! Gió đem tôi tới đó được không?

10. Bạn sao thế? Bạn chỉ là một cây hoa nhỏ bé, cuộc sống của bạn là điều mà bao cây xương rồng mong ước, tại sao bạn lại muốn vứt bỏ nó đi?

11. Đôi lúc tôi cảm thấy bản thân giống với cây xương rồng kia, luôn gồng mình giữa sa mạc khô cằn nóng bỏng nhưng biết làm sao được, tôi vẫn phải sống và chịu đựng sự khắc nghiệt này.

12. Mỗi người giàu có hay nghèo khổ đều bắt nguồn từ sự thỏa mãn với cuộc sống hiện tại, đừng cố bẻ gãy gai góc xung quanh mình để giữ an toàn cho mọi người và làm tổn thương bản thân mình.

13. Cuộc sống mong manh như bồ công anh trước gió, hãy để bản thân trở thành xương rồng mạnh mẽ vượt qua những thử thách yếu ớt kia.

14. Đôi khi trong cuộc sống có lúc như chống lại bản thân ta, mọi thứ. Nhưng hãy cố gắng trụ vững, mạnh mẽ như loài xương rồng kia. Đến cuối cùng cuộc sống sẽ thay đổi vừa với ý ta.

15. Đâu phải tạo hóa ban cho xương rồng nguồn sống mạnh mẽ mà nó phải tự thích nghi với mọi hoàn cảnh, chúng ta cũng vậy, đừng đổ lỗi cho số phận. Hãy bình tĩnh và đón nhận khó khăn mỗi ngày.

16. Trước khi ra hoa, xương rồng cũng chịu nhiều nắng gió khô cằn nơi sa mạc cháy bỏng. Cuối cùng cũng nở hoa đấy thôi, đó thành quả của sự nhẫn nại không bao giờ đầu hàng.

17. Làm hoa hồng là đủ mạnh mẽ rồi, muốn trở thành xương rồng phải là người biệt lập với thế giới.

18. Đừng hủy hại cuộc sống của ngày hôm nay bằng tiêu cực của ngày hôm qua, đã là quá khứ hãy để cho nó qua nhanh. Những vấp ngã đó trở thành những cái gai nhọn che chở bản thân ta.

19. Hãy khiến bản thân như xương rồng đáng sợ, người ta nhìn vào chỉ nghĩ đến hai từ mạnh mẽ mà thôi.

20. Xương rồng bề ngoài trông xù xì nhưng bên trong lại mọng nước cũng như con người giàu tình cảm. Xử sự phải thật thông minh, vẻ ngoài cứng nhắc nhưng bên trong chữ nhân để đầu.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Cối, Câu Dừa, Cây Tre, Cây Bưởi / 2023 trên website Altimofoundation.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!