Đề Xuất 2/2023 # Nhà Thơ Nguyễn Đình Chiểu Và Những Bài Thơ Đặc Sắc Nhất Phần Cuối # Top 6 Like | Altimofoundation.com

Đề Xuất 2/2023 # Nhà Thơ Nguyễn Đình Chiểu Và Những Bài Thơ Đặc Sắc Nhất Phần Cuối # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nhà Thơ Nguyễn Đình Chiểu Và Những Bài Thơ Đặc Sắc Nhất Phần Cuối mới nhất trên website Altimofoundation.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nội Dung

Trời mưa từng trận gió từng hồi, Thế giới bao nhiêu nước khỏa rồi. Lũ kiến bất tài đòi chỗ bợ, Đấu bèo vô dụng kết bè trôi. Lao xao rừng cụm nghe chim chíp, Lổm xổm giường cao thấy chó ngồi. Nỡ để dân đen trên gác yếu, Này ông Hạ Vũ ở đâu ôi!

Ba vua năm đế dấu vừa qua, Nối đạo trời rao đức thánh ta. Hai chữ can thường dằn các nước, Một câu trung hiếu dựng muôn nhà. Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà. Căm lấy lòng nhơ mong thói bạc, Trời gần chẳng gánh gánh trời xa

Tượng mảng: Lẽ trời sinh vật; Vật ấy nhiều loài.

Lấy câu thuận tính làm lành; Thấy chữ nghịch thường mà ngán.

Nhỏ là loài ong kiến, còn biết nghĩa quân thần; Lớn là loài hổ lang, cũng niệm tình phụ tử.

Kìa như thước báo tai, cưu báo hỷ, đời cũng nhờ lành dữ đem tin; Nọ như khuyển thủ dạ, kê tư thần, người còn cậy sớm khuya an giấc.

Lò tạo hoá nhúm nhen khắp vật, vật nào hay khuấy rối sự nhà; Thợ hoá công đúc nắng nhiều loài, loài nào dám xoi hao mạch nước?

Nay có loài chuột: Lông mọc xồm xàm; Tục kêu xù, lắt.

Tính hay ăn vặt; Lòng chẳng kiêng dè.

Chỗ ở ăn hang lỗ nhiều bề; Đường qua lại đào ra hai ngách.

Nghe hơi động vội vàng chạy mất, nhát quá mẹ cheo; Chờ đêm khuya sẽ lén lút nhau, liếng hơn cha khỉ.

Gọi danh hiệu: chuột xạ, chuột lắt, chuột xù, chuột cống, anh em dòng họ nhiều tên; Tra quán chỉ: ở nhà, ở ruộng, ở rạch, ở ngòi, bậu bạn non sông lắm lối.

Lớn nhỏ răng đều bốn cái, ăn của người thầm tối biết bao nhiêu; Vắn dài râu mọc hai chỉa, vắng mặt chủ lung lăng đà lắm lúc.

Vả sáu mươi giáp hoa đứng trước, lẽ thì thiện tính linh tâm; Thì mười hai chí tuế ở đầu, cũng đáng cư nhân do nghĩa.

Cớ sao lại đem lòng quỷ quái? Cớ sao còn làm thói gian tham?

Túi đông pha thường bữa tha gừng; Ruộng nam quách ghe phen cắn lúa.

Nếp gạo của trời nuôi mạng, ăn phá rồi còn kéo xuống hang; Nệm mền của chúng che thân, cắn nát lại tha vào lỗ.

Hoặc nằm ngửa cắn đuôi tha trứng vịt, gây nên thằng tớ chịu đòn oan; Hoặc leo dây ngóng cổ gặm giò heo, để án con đòi mang tiếng khổ.

Vậy cũng gọi mình hay ngũ kỵ; Vậy cũng khoe ngồi trước tam tài.

Chẳng xét mình vò nuốt dưới cầu; Lại quen lần mò ben vách.

Sách Lỗ sử biên câu thực giác, vì miệng ai nên vua lỗi đạo thờ trời; Thơ Quốc phong để chữ thực miêu, vì miệng ai cho nên dan xa lăng bỏ đất.

Ghe phen trách quần hư áo lủng, vì miệng ai cho nên chồng vợ giận nhau; Nhiều chỗ than vách ngã tường xiêu, vì miệng ai cho nên cha con đứt bẩn.

Nền xã tắc là nơi báo bổ, can chi mi đào lỗ, đào hang; Chốn miếu đường là chỗ thanh tán, cớ chi ngươi cắn màn, cắn sáo.

Kẻ trinh nữ ghét thằng cuồng bạo, cũng còn mang tiếng thử dâm; Án Long đồ tra đứa gian tà, hãy còn mắc cái câu thử thủ.

Gối ngoã chú Nghiêu phu đà đến bể, khen cho quỷ quái chẳng chừa; Gây phi long Linh kiết đã tưng bừng, sao hãy yêu tinh không gớm.

Nham độn mười hai ngôi tướng, cho hay thần hậu thật tướng gian; Diễn cầm bốn bảy vì sao, phải biết hư nhật là sao dữ.

Sâu hiểm bấy tấm lòng nghiệt thử cục cứt ra cũng nhọn hai đầu; Báu xót chi manh áo thử cầu, tấm da lột không đầy ba tấc.

Tuy là tướng hữu bì hữu chất; Thật là loài vô lễ vô nghi.

Luận tội kia đã đáng phân thi; Thứ tay nọ cũng vì kiêng vật.

Giận là giận trộm đồ bàn Phật, trốn án mà xưng vương; Căm là căm cắn sách kẻ nho, đành lòng mà phá đạo.

Ngao ngán bấy cái thân chuột thúi, biết ngày nào ô thước phanh phui; Nực cười thay cái bụng chuột tham, uống bao thuở Hoàng Hà ráo cạn.

Ví có ngàn giòng nước khảm, khôn bề rửa sạch tội đa dâm; Dẫu cho muôn nén vàng đoài, cũng khó mua riêng hình bất xá.

Tội dường ấy đã nên ác quá; Ta tới đây há dễ nhiêu dung.

An tiên phuông nấy gã rắn rồng; Phù tập hậu sai chim bả cắc.

Sắm sửa binh sương giáp sắt; Trau giồi ngựa gió xe trăng.

Giống trống sấm xuất binh; Phất cờ lau tập trận.

Đuốc Điền Đan sắm sẵn, để phòng khi un đốt ngạch u vi; Đèn Lý Bạch đái tuỳ đặng chờ thuở xét soi hang uất khúc.

Hàng hàng bố liệt thương đao; Nhập sào huyệt phá hồ lỗ chuột.

Phải nghe ta dặn, sắm sửa đủ đồ: Cuốc xuổng đào hang, phảng mai chận ngách.

Trả, trách, nồi niêu rửa sạch, thượng kỳ: phù địch khái chi tâm; Tiêu, hành, sả, ớt muối đâm, thứ dĩ: tạ chúng nhân chi khẩu.

Chớ để con nào sơ lậu, phải ra tay lấp lỗ tam bành; Đừng cho chúng nó sẩy ra, phải hết sức trừ đồ lục tặc.

Bốn phương đều ngợi chữ thăng bình; Thiên hạ cũng vui câu án đổ.

Ngũ hổ năm anh tướng rất mầu, Đâu dè đến nỗi thất Kinh Châu. Thời Lưu chưa đạt hay sao đặng, Vận Hớn còn suy giỏi mặc dầu. Tiếc bấy công trình Gia Cát Lượng, Uổng thay mỏi mệt Hán Đình hầu. Nghĩ thương cái phận Lưu Huyền Đức, Nhiều nỗi Đàn Khê dễ sá âu.

Thương tình bào đệ, Gửi bức tâm thư.

Nghe em lăm toan việc tóc tơ, Nên anh mới nhả lời vàng ngọc.

Hễ làm người có học, Cho biết lễ trong nhà.

Chẳng trau mình sao đặng chữ tề gia, Còn nhỏ tuổi gấp chi đàng cầu tự.

Ví dù muốn nơi nào thiếp nữ, Thì hãy giao quyền tại chính thê.

Thuận chị em trên dưới gia tề, Nghịch chồng vợ cửa nhà hư hại.

Trong phép xử gia môn đặng phải; Ngoài tiếng đồn phong hoá mới xinh.

Lẽ cũng cho một gáo múc đôi chình; Khuyên chớ để đôi rìu cuôi một cội.

Vả đang lúc sự đời bối rối, Nào xiết lo nghiệp cả bâng khuâng.

Phận thiếp thê mà có như Tề nhân, Niềm tử tức, thà không như Bá Đạo.

Em ôi! May mà có mai cơm chiều cháo, Hơn là người ăn tuyết nằm sương.

Ở nước loàn há sợ chữ thiên ương, Theo đạo học phải dằn lòng nhân dục.

Ham sung sướng chẳng qua nuôi khẩu phúc, E nghiêng nghèo còn nhọc đến thân danh.

Bậc quan quyền, chiếu bông gối dựa mới là vinh. Hàng dân thứ, quần nhiễu, áo sô sao chẳng nhục.

Trau giồi lắm cho đẹp con mắt tục, Ghen ghét nhiều lại chác cái tai phi.

Vậy thà cam hai chữ bố y, Chi nhọc đến một điều mao ốc.

Bì sao kẻ thế gia vọng tộc, Coi lấy người tiện sĩ bần nhu.

Thời thế nầy thà chịu làm ngu, Học hành vậy cũng kêu là trí.

Em sao chẳng nghĩ! Anh rất đỗi lo!

Bề ở ăn như cá núp trong nò; Thân đùm đậu như én nằm trên gác.

Cám nỗi phụ huynh thêm bát ngát; Phận làm tử đệ há nguôi ngoai?

Sung sướng chi mà chồng một vợ hai; Giàu sang mấy mà quần đôi áo cặp?

Thân rảnh sao chẳng cấp; Tính xấu cũng nên chừa.

Trời, không lường trưa sớm nắng mưa; Người, đâu biết hôm mai hoạ phước.

Chi bằng: Giữ câu kiệm ước, Lánh bợm phong lưu.

Việc … oán hận chẳng nên cưu; Thói ve vãn ăn chơi đừng bắt chước.

Hàng đi đứng tua dè nước bước; Lời nói năng phải giữ miệng môi.

Phận áo cơm đã đủ thì thôi; Ơn đất nước ngày an cũng tốt.

Bề ăn ở chi bằng đái chốt; Dạ thảo ngay chí dốc keo sơn.

Có nghĩa tình anh Tấn em Tần, Đừng nghe chuyện cha Hồ mẹ Hán.

Đọc sách y phương, cho biết án; Làm thầy nho sĩ, phải theo tài.

Dược trị đau chớ khá học sơ sài; Phép dạy trẻ chớ nên oai bẫm trợn.

Nghe nhiều kẻ tiếng đời nhơ bợn; Muốn cho em mùi đạo thơm tho.

Khá nhớ lời gia giáo dặn dò, Khuyên chớ để xử thân lầm lỗi.

Nay gửi vài lời huấn hối, Xưa còn trăm chữ minh châm.

Nhớ để lời hôm sớm vịnh ngâm. Hãy chữ dạ khỏi điều quá thất.

Phi liêm xe ngựa đóng phương nao? Oai gió đưa ra nước bến trào. Thổi thốc miếu chùa hơi vụt vụt, Xô nhào cây đá tiếng ào ào. Ai rằng đầm Lộc mê Ngu Thuấn? Ta nhớ sông Tuy giải Hán Cao! Một trận bão rồi bờ cõi sạch, Trời thu như cũ mãi không xao.

Đã đành trôi nổi tấm thân bèo, Mình nghĩ lòng mình dám nói leo. Đánh xé sau khi cò mổ vọp, Sụt trồi đâu dám ốc mang rêu. Cửa rồng muôn dặm may còn nhóm, Bến Nghé năm canh quạ hãy kêu. Chén rược xóm riềng cho cũng uổng, No sau xin để mặt ăn heo.

Vì câu danh nghĩa phải đi ra, Day mũi thuyền nan dạ xót xa. Người dễ muốn chi nương đất khách, Trời đà khiến vậy mến vua ta. Một phương thà tránh đường gai gốc, Trăm tuổi cho tròn phận tóc dạ. Chén rượu ấm lòng xin cạn chén, Nhớ nhau ngày khác biết sao mà.

Hoá công máy móc ở đâu nà, Trăm thợ nhân gian nghẻ ngóc ra. Sáu tỉnh đua làm nghề khéo léo, Năm châu sắm đủ của xây xoa. Mẫu tuồng đơn kép theo hình thế, Mỗi việc lâu mau tại ý ta Máy tạo trong tay nào có vụng, Chi lăm lương đống nước cùng nhà.

Trải qua nắng hạ lúc mưa thu, Cày cấy ghe phen sức dãi dầu. Ấm lạnh trọn bề vài đám ruộng, Làm ăn giữ bổn mấy con trâu. Chuyên nghề Hậu Tắc nhà hằng đủ, Giỏi việc Mân phong nước chẳng sầu. Nhờ gặp mùa màng trời đất thuận, Cứ trăm giống thóc một tay thâu.

Lòng hềm kinh sử mấy mươi pho, Vàng ngọc nào qua báu học trò. Hoa trái rừng nhu ra sức hái, Nghê kình biển thánh ráng công mò. Cẩm văn thêu dệt đời đời chuộng, Mùi đạo trau giồi bữa bữa no. Gặp thuở mày xanh siêng đọc sách, Mỗi câu đều hưởng phúc trời cho.

Một câu thế lợi mở muôn nguồn, Giàu có đua nhau việc bán buôn. Các chợ sinh tài trăm họ nhóm, Chiếc thuyền trực hoá bốn phương luồn. Trái cân Yến tử không rơi dấu Cuốn sách Đào công chẳng hết tuồng. Chờ giá rủi may may gặp vận, Ra vào biết mấy của nghìn muôn.

Mối tơ ai gỡ lúc này xong, Một dải trời Nam biết mấy trùng. Kẻ ứa gan trung trương mắt ngó, Người liều dạ sắt múa tay không. Đến hay trung nghĩa theo tro bụi, Hoài của giang sơn trút biển Đông. Ơn nước, nợ nhà đành có thuở, Biết bao chờ đợi, biết bao trông!

Chiều chiều lại nhớ đến chiều chiều, Cám cảnh giang sơn biết bấy nhiêu! Dấu cũ gò bằng nền Hạ Vũ, Phép xưa khuôn trái luật Đường Nghiêu. Hứa Do ngơ mắt làm thằng mục, Sào Phủ nghiêng tai giả chú tiều. Thế vạy răn mình đừng có vạy, Cờ mao chống chỏi chớ cho xiêu.

Hỡi ôi! Tủi phận biên manh; Căm loài dương tặc.

Ngoài sáu tỉnh hãy ngợi câu án đổ, dân nhờ vua đặng lẽ sống vui; Trong một phương sao mắc chữ lục trầm, người vì nước rủ nhau chết ngặt!

Nhớ các linh xưa: Tiếng đồn trung nghĩa đến xa; Thói giữ cương thường làm chắc.

Từ thủa Tây qua cướp đất, xưng tân trào gây nợ oan cừu; Chẳng qua dân mắc nạn trời, hoài cựu chúa mang lời phản trắc.

Các bậc sĩ nông công cổ, liền mang tai với núi song tâm; Mấy nơi tổng lý xã thôn, đều mắc hại cùng cờ tam sắc.

Bọn tam giáo quen theo đường cũ, riêng than bất hạnh mang nghèo; Bầy cửu lưu cứ nối nghề xưa, thầm tủi vô cô chịu cực.

Phạt cho đến người hèn kẻ khó, thâu của quay treo; tội chẳng tha con nít đàn bà, đốt nhà bắt vật.

Trải mười mấy năm trầy khốn khó, bị khảo, bị tù, bị đày, bị giết, trẻ già nghe nào xiết đến tên; Đem ba tấc hơi mọn bỏ liều, hoặc sông hoặc biển hoặc núi hoặc rừng, quen lạ thảy đều rơi nước mắt.

Khá thương thay! Dân sa nước lửa chầy ngày; Giặc ép mỡ giàu hết sức.

Đành những kẻ cha thù anh oán, nhảy vòng báo ứng đã cam; Cực cho người vợ goá con côi, gây đoạn thảm sầu khôn dứt.

Man mác trăm chiều tâm sự, sống những lo trả nợ cho đời; Phôi pha một mảnh hình hài, thác rồi bỏ làm phân cho đất.

Nghĩ nỗi anh hùng nạn nước, bãi khô lâu nào mấy kẻ khóc than; Tưởng câu danh lợi tuồng đời, trường khối lỗi mặc dầu ai náo nức.

Trời hỡi trời! Lòng nghĩa dân phải với ngô quân; Tiếng nghịch đảng lỗi cùng địch vức.

Gần Côn Lôn xa đại hải, máu thây trôi nổi ai nhìn; Hàng cai đội bậc quản cơ, xương thịt rã rời ai cất?

Sống thời chịu nắng sương trời một góc, khó đem sừng ngựa hẹn quy kỳ; Thác rồi theo mưa ngút biển muôn trùng, khôn mượn thư nhàn đưa tin tức.

Thấp thoáng hồn hoa phách quế, lòng cố hương gửi lại bóng trăng thu; Bơ vơ nước quỷ non ma, hơi âm sát về theo luồng gió bấc.

Như vậy thì: Số dẩu theo sáu nẻo luân hồi; Khi sau để trăm năm uất ức.

Trời Gia Định ngày chiều ráng bắn, âm hồn theo cơn bóng ác dật dờ; Đất Biên Hoà đêm vắng trăng lờ, oan quỷ nhóm ngọn đèn trời hiu hắt.

An Hà quận đang khi bạch trú, gió cây vụt thổi cát xoáy bay con trốt dậy bên thành; Long Tường Giang mỗi lúc hoàng hôn, khói nước sông mù, lửa huỳnh nháng binh ma chèo dưới vực.

Nhìn mất chặng cờ lau trống sấm, mỉa mai trận nghĩa gửi binh tình; Thảm đòi ngàn ngựa gió xe mây, mường tượng vong linh về chiến lật.

Thôi! Người lạc phách theo miền giang hải, cung ngao lẩn thẩn, dành một câu thân thế phù trầm; Kẻ du hồn ở cõi sơn lâm, luỹ kiến đồn ong, còn bốn chữ “âm dung phảng phất”.

Ôi! Sống muốn cho an; Thác sao rằng bức?

Dẫu sớm thấy ngọn cờ điếu phạt, phận thần dân đâu chẳng toan còn; Chưa kịp nghe tiếng trống an hương, nghĩa quân phụ nào dè chết mất.

Hoặc là sợ như đất triêu Tần mộ Sở, cuộc can qua sông cũng ở ghê mình; Hoặc là e như trời nam Tống bắc Kim, đường binh cách thác đi cho khuất mặt.

Tiếc non nước ấy nhân dân dường ấy, gây sự này nào thấy phép tẩy oan; Biết cha mẹ đâu tộc loại ở đâu, chạnh tình đó mới ra ơn điếu tuất.

Tuy uổng mệnh hãy chờ khi sách mệnh, sẵn vòng quả báo vấn vương; Song oan hồn chưa có kẻ chiêu hồn, khiến tấm linh đài bực tức.

Nhớ phận áo cơm đất nước, trọn mấy năm ngóng cổ trông quan; So bề mồ mả ông cha, còn hơn đứa đành lòng theo giặc.

Đến nay: Cám cảnh Nam Trung; Trách lòng tạo vật.

Ví như sĩ sinh đời Đông Tấn, nay đánh Hồ mai dẹp Yết, thời phơi gan trong đám tinh chiên; Nào phải dân ở cõi U Yên, sớm đầu Hạ, tối về Liêu, mà trây máu bên đường kinh cức.

Phải trời cho mượn cán quyền phá lỗ, Trương tướng quân còn cuộc nghĩa binh; Ít người đặng xem tấm bảng phong thần, Phan học sĩ hết lòng mưu quốc.

Muôn dặm giang sơn triều thánh đố, gian sơn còn hơi chính đều còn; Nghìn năm hồn phách nạn dân này, hồn phách mất tiếng oan nào mất.

Dẫu đặng ơn nhuần khô cốt, cơn trị bình mới thấy đạo vương; Muốn cho phép vớt linh hồn, buổi ly loạn khôn cầu kinh Phật.

Ôi! Trời xuống nàn quỷ trắng mấy năm; Người uống giận suối vào vàng lắm bực.

Cảnh Nam thổ phơi màu hoa thảo, đọng tình oan nửa úa nửa tươi; Cõi Tây thiên treo bức vân hà, kết hơi oán chặng thưa chặng nhặt.

Ngày gió thổi lao xao tin dã man, thoắt nhóm thoắt tan thoắt lui thoắt tới, như tuồng bán dạng linh tinh; Đêm trăng lời giéo giắt tiếng đề quyên, dường hờn dường mến dường khóc dường than, đòi đoạn tỏ tình oan khuất.

Xưa nghe có bến sông Vị Thuỷ, lấy lễ nhân đầu tế lũ hồn oan; Nay biết đâu bãi cát Trường Sa, mượn của âm phù độ bè quỷ ức.

Đốt lọn nhang trầm trời đất chứng, chút gọi là làm lễ vãn vong; Đọc bài văn tế quỉ thần soi, xin hộ đó theo đường âm chất.

Hỡi ôi! Thương thay! Có linh xin hưởng.

Hỡi ơi! Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ.

Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa: Cui cút làm ăn; Riêng lo nghèo khó.

Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn mong mưa; Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọt như nhà nông ghét cỏ.

Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu; Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; Chẳng thèm chốn ngược, chốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay: Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh; Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn; Chín chục trận binh thư, đâu chờ bày bố.

Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi đeo bao tấu bầu ngòi; Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu nón gõ.

Hỡi ơi! Giặc cỏ bò lan; Tướng quân mắc hại.

Ngọn khói Tây bang đóng đó, cõi biên còn trống đánh sơn lâm; Bóng sao Võ Khúc về đâu, đêm thu vắng tiếng canh dinh trại.

Nhớ tướng quân xưa: Gặp thuở bình cư; Làm người chí đại.

Từ thuở ở hàng viên lữ, pháp binh trăm trận đã làu; Đến khi ra quản đồn điền, võ nghệ mấy ban cũng trải.

Lối giặc đánh, tới theo quan tổng, trường thi, mô súng, trọn mấy năm ra sức tranh tiên; Lúc cuộc tan, về huyện Tân Hoà, đắp luỹ đồn binh, giữ một góc bày lòng địch khái.

Chợt thấy cánh buồm lai sứ, việc giảng hoà những tưởng rằng xong; Đã đành tấm giấy tựu phong, phận thần tử há đâu dám cãi.

Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền; Theo bụng dân phải chịu tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại.

Gồm ba tỉnh dựng cờ phấn nghĩa, sĩ phu lắm kẻ xui theo; Tóm muôn dân gầy sổ mộ binh, luật lệnh mấy ai dám trái.

Văn thì nhờ tham biện, thương biện, giúp các cơ bàn bạc nhung công; Võ thì dùng tổng binh, đốc binh, coi các đạo sửa sang khí giái.

Khá thương ôi! Tiền vàng ơn chúa, trót đã rỡ ràng; An bạc mưu binh, nào từng trễ nải.

Chí lăm dốc cờ xuê lộ bố, chói sắc giữa trào; Ai muốn đem gươm báu Can Tương chôn hơi ngoài ải.

Há chẳng thấy: Sức giặc Lang Sa; Nhiều phương quỷ quái.

Giăng dưới nước tàu đồng tàu sắt, súng nổ quá bắp rang; Kéo trên bờ ma ní, ma tà, đạn bắn như mưa vãi.

Dầu những đại đồn thuở trước, cũng khó toan đè trứng nghìn cân; Huống chi cô luỹ ngày nay, đâu dám chắc treo mành một giải.

Nhưng vậy mà: Vì nước tấm thân đã nấy, còn mất cũng cam; Giúp đời cái nghĩa đáng làm, nên hư nào nại.

Rạch Lá, Gò Công mấy trận, người thấy đã kinh; Cửa Khâu, Trại Cá khắp nơi, ai nghe chẳng hãi.

Nào nhọc sức họ tào biên sổ, lương tiền nhà ruộng, cho một câu háo nghĩa lạc quyên; Nào nhọc quan võ khố bình cân, thuốc đạn ghe buôn, quyền bốn chữ giao thương đạo tải.

Núi đất nửa năm ngăn giặc, nào thành đồng luỹ sắt các nơi; Giáo tre ngàn dặm đánh Tây, là ngựa giáp xe nhung mấy cái.

Ôi! Chí dốc đem về non nước cũ, ghe phen hoạn nạn, cây thương phá lỗ chưa lìa; Nào hay trở lại cảnh quê xưa, nhắm mắt lâm chung, tấm bảng phong thần vội quải.

Chạnh lòng tướng sĩ, thương quan tướng, nhắc quan tướng, chiu chít như gà; Bậc trí, nhân dân, giận thằng tà, mắng thằng tà, om sòm như nhái.

Ôi! Sự thế hỡi bên Hồ bên Hán, bao giờ về một mối xa thư? Phong cương còn nửa Tống nửa Liêu, đâu nỡ hại một tay tướng soái.

Nào phải kẻ tán sư đầu giặc, mà để nhục miếu đường; Nào phải người kiểu chiếu đánh phiên, mà gây thù biên tái.

Hoặc là chuộng một lời hoà nghị, giận nam phiên phải bắt Nhạc Phi về; Hoặc là do trăm họ hoành la, hờn U địa chẳng cho Dương Nghiệp lại.

Vì ai khiến dưa chia khăn xé, nhìn giang san ba tỉnh luống thêm buồn; Biết thuở nào cờ phất trống rung, hỡi nhật nguyệt hai vầng sao chẳng đoái.

Còn chi nữa! Cõi cô thế riêng than người khóc tượng, nhắm mắt rồi, may rủi một trường không; Thôi đã đành! Bóng tà dương gấm ghé kẻ day đòng, quày gót lại, hơn thua trăm trận bãi.

Ôi! Làm ra cớ ấy, tạo hoá ghét nhau chi? Nhắc tới đoạn nào, anh hùng rơi luỵ mãi.

Cuộc trung nghĩa hai năm làm đại tướng, nhọc nhằn vì nước, nào hờn tiếng thị tiếng phi; Cõi yên hà một chức chịu lãnh binh, lây lất theo thời, chưa chắc đâu thành đâu bại!

Khóc là khóc nước nhà cơn bấn loạn, hôm mai vắng chúa, thua buồn nhiều nỗi khúc nôi; Than là than bờ cõi lúc qua phân, ngày tháng trông vua, ngơ ngẩn một phương tớ dại.

Tướng quân còn đó, các nơi đạo tặc thảy kiêng dè; Tướng quân mất rồi, mấy chỗ nghĩa binh thêm bái xái.

Nào đã đặng mấy hồi nơi thích lý, màn hùm che mặt rằng xuê; Thà chẳng may một giấc chốn trường sa, da ngựa bọc thây mới phải.

Ôi! Trời Bến Nghé mây mưa sùi sụt, thương đấng anh hùng gặp lúc gian truân; Đất Gò Công cây cỏ ủ ê, cám niềm thần tử hết lòng trung ái.

Xưa còn làm tướng, dốc rạng giồi hai chữ bình Tây; Nay thác theo thần, nên dâng hộ một câu phúc thái.

Chín đời còn thấy vận Cao hoàng, Mặt mũi đâu mà vội dở dang. Dưới suối há ngờ Lưu Cao Đế, Trong thù nào có Lã ma vương. Tranh tranh Hán thất gương còn để, Phủ việt Xuân thu tội ắt mang. Muôn một cũng liều thân với nước, Cớ sao mà chịu ấn nương nương.

Trải xem thường chuộng báo thi quy, Nồng nực mùi hương chúa Phục Hy. Tám quẻ bố ra đường bí yếu, Sáu hào xây để máy u vi. Kiết hung muôn việc vài lời đoán, Thời vận nghìn năm một lẽ suy. Bày vẽ khắp trời đường hoạ phúc, Nào con mắt tục mấy người tri

Nhà Thơ Yêu Nước Nguyễn Đình Chiểu: Thà Đui Mà Giữ Đạo Nhà

” Thà đui mà giữ đạo nhà

Còn hơn có mắt ông cha không thờ “.

Dưới góc độ nhà nghiên cứu lịch sử đi sâu vào những nét địa văn hóa đã tác động và hình thành nhân cách nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, Giáo sư Lê Văn Lan đưa ra lý giải về cội nguồn nhân thân của cụ Đồ Chiểu: “Cụ Nguyễn Đình Huy vốn là một viên chức của triều đình Huế thời vua Minh Mệnh, cụ là người Phong Điền. Như vậy nguyễn Đình Chiểu có một nửa nhân thân là người Huế. Tuy nhiên khi cụ Nguyễn Đình Huy từ Huế vào làm quan ở Gia Định thì cụ đã thành hôn với một bà thứ thất ở Gia Định. Như vậy trong sự kết tinh về mặt huyết tộc thì NGuyễn Đình Chiểu có một nửa nhân thân của mình là người Nam Bộ. Nhưng chung đúc nên, hun đuc nên sự nghiệp tính cách con người Nguyễn Đình Chiểu thì phần lớn và chủ yếu là đất Nam Bộ trong ba giai đoạn lớn lao của cuộc đời của vị danh nhân đất Việt thì Nam Bộ – Gia Định _ Cần Giuộc – Ba Tri mới chính là môi trường để tạo dựng nhân cách con người Nguyễn Đình Chiểu. Giai đoạn đầu này là giai đoạn có tên là giai đoạn Gia Định của Nguyễn Đình Chiểu và gắn bó với người mẹ và quê mẹ”.

Như phân tích của giáo sư Lê Văn Lan, môi trường sống với các chân kiềng địa danh như ” Nam Bộ – Gia Định – Cần Giuộc – Ba Tri” cùng nhiều nét văn hóa đặc sắc, tiêu biểu của người dân Nam Bộ đã góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách nhà thơ.

Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần ở Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh bày tỏ sự khâm phục tài năng, đức độ cụ Đồ Chiểu dưới con mắt người dân Nam Bộ nhiều đời nay: ” Người mắt sáng dạy học đã khó nhưng người mắt mù dạy học thì còn khó vạn lần hơn thế. Vậy mà bằng tất cả ý chí, bằng tất cả thiện cảm với người đi học và quan trọng hơn bằng tất cả kinh nghiệm mà ông tích lũy trong quá trình tiếp xúc đó đây, Nguyễn Đình Chiểu đã sớm trở thành một nhà giáo tuy còn trẻ nhưng mà giàu uy tín. Nhiều người đã gửi con tới cho Nguyễn Đình Chiểu dạy bảo bởi vì ông ấy dạy học nhưng mà đỗ tú tài cho nên dân Miền Nam lúc bấy giờ vẫn trìu mến gọi ông là Đồ Chiểu, cụ Đồ Chiểu, thầy Đồ Chiểu. Nguyễn Đình Chiểu vui với hai công việc mà ông chọn lựa. Một là làm một nhà giáo, hai là làm một thầy thuốc. Nguyễn Đình Chiểu đã tỏ ra là người xuất sắc trong việc học y học. Ông đã bồi bổ cho con ngườicả hai lĩnh vực, một là sức khỏe, hai là trí tuệ.”

Một bản dịch truyện Lục Vân Tiên của nhà thơ Nguyễn Đỉnh Chiểu – Ảnh: indomemoires.hypotheses.org

Khảo sát sâu vào sự nghiệp thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu mới thấy hết những đóng góp tâm huyết đáng quý của nhà nho mù nhưng có trái tim yêu nước nồng nàn luôn rực sáng. Công việc dạy học, làm thơ văn bày tỏ tấm lòng mình với cuộc sống là những hành động thiết thực của cụ Đồ Chiểu. Nhà thơ gửi gắm khát vọng yêu nước qua hình ảnh các nhân vật văn chương được chưng cất từ cuộc đời thực. Đó là các bài văn tế , bài điếu ca ngợi và tưởng nhớ những con người trung nghĩa đã chiến đấu và hy sinh vì đất nước, như Trương Định, Phan Tòng, Nguyễn Hữu Huân, đốc binh Kiều… bằng câu thơ đầy cảm phục:

” Viên đạn nghịch thần treo trước mắt

Lưỡi gươm địch khái nắm trong tay”;

hay lời văn thống thiết, xót đau những người nông dân áo vải chân đất như các nghĩa sĩ Cần Giuộc chết vì nghĩa lớn . Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần đánh giá cao hình tượng văn chương độc đáo của Nguyễn Đình Chiểu trong tác phẩm ” Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là sự kết tinh lý tưởng yêu nước của nhà nho mù – cụ Đồ Chiểu được biểu hiện bằng hành động: “Hình ảnh của Lục Vân Tiên vừa là hình ảnh mang dáng dấp cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu nhưng đồng thời cũng là hình ảnh kết tinh lý tưởng của Nguyễn Đình Chiểu và Lục Vân Tiên vừa là Lục Vân Tiên vừa là đại diện cho suy tư của người Nam Bộ . Bởi vậy cho nên dân Nam Bộ cực kỳ yêu Lục Vân Tiên.”

Nhà giáo Nguyễn Phước Hùng ở Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Long An nhiều năm giảng dạy văn chương Nguyễn Đình Chiểu đã lý giải về lịch sử đấu tranh chống thực dân Pháp vùng Gia Định, Bến Tre được tái hiện trong tác phẩm văn học của cụ Đồ Chiểu: “Trước sự hy sinh dũng cảm, oanh liệt của các nghĩa sĩ Cần Giuộc thì ông đã sáng tác bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” vào trận đánh đồn Tây dương vào 18 tháng 12 năm 1861 để mà ghi lại công trạng của các nghĩa sĩ nông dân trong trận đánh đồn Tây dương này. Bằng ngòi bút tài hoa của mình, cụ Đồ Chiểu đã phác họa chân thực hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ đã làm rung động trái tim và tâm hồn của hàng triệu nhân dân.”

Do hoàn cảnh đặc biệt trong đời sống riêng, Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng linh hoạt các hình thức nghệ thuật phong phú, sinh động để bộc bạch khát vọng và lý tưởng yêu nước thương dân của mình. Khi thì ông thể hiện bằng trực giác và hành động sục sôi căm tức:

” Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan

Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ”.

Khi thì ông lại gửi gắm trực tiếp vào hình tượng nghệ thuật, như hình ảnh các nhân vật Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Hớn Minh, Phong Lai…Là người phải chịu đựng nỗi khổ riêng nên Nguyễn Đình Chiểu càng thấm thía và biết ơn người vợ – bà Lê Thị Điền và quê hương Ba Tri – Bến Tre là những điểm tựa tình cảm vững chắc, thủy chung trong cuộc đời ông. Giáo sư Lê Văn Lan phân tích yếu tố văn hóa miền đất đã tác động vào nhân cách Nguyễn Đình Chiểu để từ đó góp mặt trong tác phẩm của ông: ” Ở giai đoạn này thì Nguyễn Đình Chiểu được nhận danh hiệu yêu quý và rất Nam Bộ ấy là ông già Ba Tri. Như vậy, đất Ba Tri tuy là đất lánh nạn, rời bỏ thì Ba Tri là cái nơi về thời gian Nguyễn Đình Chiểu sống dài lâu nhất trong cuộc đời của mình. Nhưng mà quan trọng hơn là Ba Tri với những địa phương ở quanh vùng trung tâm Ba Tri như thế thì đấy chính là những miền đất và người đã tạo nền móng, đã tác động tới sự nghiệp Nguyễn Đình Chiểu mà cái sự nghiệp nay thì lại xuất phát có nền tảng từ tư tưởng, từ cuộc sống.”

Hơn 100 năm qua, thơ văn yêu nước và cuộc đời nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu vẫn được nhân dân tôn vinh, nhắc nhớ. Truyện thơ ” Lục Vân Tiên” và nhiều hình ảnh nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Đình Chiểu vẫn được người dân Bến Tre nói riêng và người dân Nam Bộ nói chung thuộc nằm lòng như những di sản văn học không thể thiếu trong đời sống. Tìm hiểu về nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu để tìm về nhiều giá trị văn chương đích thực nhân văn đã gắn bó sâu sắc với nhà thơ nổi tiếng có nhiều đóng góp giá trị cho văn chương nước nhà. Khát vọng hòa bình cho nhân dân của Nguyễn Đình Chiểu được kết tinh trong hình ảnh đẹp trong câu thơ:

” Bao giờ nhật nguyệt vầy gương sáng

Bốn bể âu ca hiệp một nhà”.

Thu Viễn

Tuyển Tập Bài Thơ Về Mẹ Kế Đặc Sắc Nhất

U nằm dưới cỏ mười năm Chợ quê quen tiếng, giường nằm bén hơi Lạ chưa, mợ đã đấy rồi! Bàn tay đũa cả đầu nồi xới cơm

Mợ gầy tong ruột cọng rơm Sót từ vụ gặt đồng thơm nhặt về Áo nâu, tóc vấn, nón mê Bước qua ngưỡng cửa chẳng hề trầu cau

U đi để lại vườn dâu Chuồng xiêu lợn đói, ao sâu kín bèo Một con thơ dại gieo neo Ba gian mái rạ thiếu kèo, mợ ơi!

Mợ về làm bạn thầy tôi Tiếng gà trở dậy lúc trời canh ba Gánh hàng mợ bán chợ xa Thương con đứng ngóng bánh đa ngõ chiều

Những đêm trăng sáng, gió hiu Mợ đưa cánh võng ngâm Kiều ru tôi Ấp iu giọt máu mồ côi Tưởng chừng u hát trong lời mợ ru

Mợ giờ cũng hoá mùa thu Nghe heo may thổi lòng như trút vàng Đêm qua tôi gọi đò sang Mợ ngồi khâu nắng bên hàng cột thưa…

NÓI VỚI CON CỦA CHỒNG

Sao con không nói một câu Như lời nũng mẹ từ lâu chẳng còn Sao con chẳng thể xưng “con” Cho dì cảm thấy ấm hơn căn nhà? Cứ lầm lũi bước vào, ra Cho dì tủi phận mẹ gà con…ngan Đời gì quá buổi chợ tan Nhà con sảy nghé tan đàn khổ đau Dì không hoa trắng cài đầu Về nhà con chỉ cơi trầu nồng say Con là con gái thơ ngây Đàn ông, cha chẳng bù đầy được đâu Dạy con kết tóc, gội đầu Nấu ăn, giặt giũ, vá khâu áo quần Bàn tay hiền dịu tảo tần Bưng cơm rót nước ân cần trước sau Dì không mang nặng đẻ đau Đứt dây mà xót thương bầu, bí ơi! Kệ cho bánh đúc mấy đời Người ăn người lại nói lời nghiệt cay

Sang ngang một chuyến đò đầy Sông sâu run cả vòng tay đôi bờ Đêm nay cánh cửa khép hờ Dì không ngủ được nằm chờ bước con.

Dì Ghẻ 

“Mấy đời bánh đúc có xương, Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng”….

Bến đời khó đoán đục trong Lấy chồng, làm lẽ ai mong bao giờ. Cũng là mép nước, thân cò Mấy ai sung sướng khi lo con người. Vì chồng thương lấy con côi, Miếng cơm ngậm đắng miệng cười thế gian. Thôi đành nhận lấy tiếng oan (xưa nay dì ghẻ gian ngoan cũng nhiều) Chỉ mong con hiểu, chồng yêu. Một thân gánh hết trăm điều mỉa mai. Nhủ lòng:Đời có hai tai, Bàn tay ngón ngắn, ngón dài khác nhau. Con mình mang nặng, đẻ đau Có người còn bỏ kể đâu con chồng. Người ngoài thương xót miệng không, Mình đây “khác máu tanh lòng” nuôi nhau. Mai cua chẳng gọi là đầu, Cũng từng sẻ cháo, nhường rau một nhà. Kể chi con vịt mẹ gà, Ngẫm tình bầu bí khi xa cũng buồn. Con mình, ai chẳng thương hơn, Mà xui cô Tấm oán hờn làm chi. Trẻ thơ có tội tình gì, Phải mang tiếng Cám từ khi lọt lòng. Người đời miệng bẫy, lưỡi chông Bớt lời có thiệt mất đồng nào đâu. Đừng thêm tiếng ác cho nhau, Trần gian vốn đã khổ đau nhiều rồi…. …Không may duyên phận thiệt thòi. Chỉ mong làm một con người….khó ghê….

Nếu mẹ là…

Nếu mẹ bỗng hoá thành vầng trăng Thì con xin được làm dòng suối mát Suối chan hoà trong ánh trăng bát ngát Con ngoan hiền trong tình mẹ bao la Nếu mẹ bỗng là một vầng dương Con xin làm một loài cây cỏ Cây không thể thiếu mặt trời đỏ Cũng như con chẳng thể thiếu người Nếu mẹ bỗng tan thành cơn gió Con sẽ là đồng ruộng xanh tươi Gió mơn man ngọn lúa vui cười Hai mẹ con ta cùng ca hát Nếu mẹ bỗng… Thôi mẹ ơi mẹ đừng là gì nữa Con muốn mẹ chỉ là mẹ thôi Mẹ của con có một trên đời

Mẹ của con

Khi con chưa gọi sõi tiếng cha Con đã chỉ còn có mẹ Cha ra đi khi con còn quá bé Trong trí nhớ con chỉ có bóng mẹ gầy. Hai mươi năm rồi mẹ ơi từ ngày ấy Mẹ bên con sớm tối nhọc nhằn. Lo cho con từ miếng ăn giấc ngủ Mẹ hiểu con hơn cả bản thân con. Hai mươi năm qua mẹ ơi con vẫn nhớ Những đêm con sốt cao mẹ thức trông con Mẹ nắm chặt tay con mỗi lúc cựa mình Con nào có thể quên được bàn tay mẹ. Con lớn lên trong tình thương của mẹ Mẹ là mẹ, là cha, là người bạn của con. Hai mươi năm mẹ đã cùng con Dõi theo con từng nhịp chân con bước. Con giờ đây đã lớn khôn hơn trước Nhưng vẫn là con bé bỏng thưở nào Bàn tay mẹ vẫn ấm áp làm sao? Vẫn là bàn tay con luôn ghi nhớ. Con vẫn biết và con luôn nhớ Con vẫn còn chưa nói một điều Là câu nói con đã nâng niu Dù giản đơn chỉ là: “Con yêu mẹ”…

Thơ tặng mẹ.

Người ta có mẹ có cha Con thì chỉ còn có mẹ Bao năm qua dáng mẹ lặng lẽ Sớm tối nhọc nhằn vất vả vì con Bao yêu thương mẹ dành hết cho con Và dành lấy những phần cay đắng nhất Ngày giáp Tết ngoài trời mưa lất phất Người với người rộn rã lễ tình nhân Mẹ của con vẫn lặng lẽ âm thầm Đón sinh nhật như bao ngày bình dị Mẹ hạnh phúc, giọt nước mắt trên mi Khi mẹ biết con ko quên sinh nhật mẹ Con ngượng ngùng với lọ hoa cắm vụng Mẹ nâng niu, mẹ đặt giữa nhà Và bất kỳ ai hỏi đến lọ hoa Mẹ hãnh diện khoe con trai đã tặng Ôi bao năm với đôi vai chất nặng Một ngày vui làm mẹ trẻ hơn Và khi con ngày một lớn khôn Con cũng bớt nhiều phần ích kỷ Nhìn dáng mẹ, lòng con thầm nghĩ Ước mong sao mẹ cứ mãi tươi cười Không tất bật, ko vội vã lo toan Mẹ hạnh phúc thì con vui biết mấy Con yêu sao dáng mẹ con gầy Con tự hào vì con là con mẹ Con mong ước trở về ngày thơ bé Được ngủ ngon trong tiếng mẹ ru Ở ngoài kia trong tiếng gió vi vu Con chợt nghe thấy lời ru của mẹ Lại đưa con về những ngày thơ bé Con cảm ơn mẹ đã là mẹ của con

Bài thơ về mẹ

Xa mẹ con thành bé bỏng Giờ này mẹ ngủ ngon chưa? Hà thành gió mùa đông bắc Con ngồi đếm khắc giao mùa Con đi chắc nhà vắng lắm Bản nhạc con thích, ai nghe? Chiếc xe con thường đi học Chắc bụi đã bám còn gì Tóc con đã dài rồi đấy Vắng con mẹ gỡ tóc mình Niềm vui xẹt qua tờ giấy Nỗi buồn đứng lại, lặng thinh Thơ con tặng cho người khác Viết về mẹ chẳng là bao Phố sâu gió mùa đông bắc Trong con bóng mẹ ngọt ngào.

Mẹ

Mẹ chẳng sinh ra con Trong con luôn có mẹ Dẫu nay mẹ chẳng còn Dẫu khi con biệt thế

Mẹ của anh

Phải đâu mẹ của riêng anh Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi Mẹ tuy không đẻ, không nuôi Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong Ngày xưa má mẹ cũng hồng Bên anh, mẹ thức lo từng cơn đau Bây giờ tóc mẹ trắng phau Để cho mái tóc trên đầu anh đen Đâu con dốc nắng đường quen Chợ xa gánh nặng mẹ lên mấy lần Thương anh thương cả bước chân Giống bàn chân mẹ tảo tần năm nao Lời ru mẹ hát thuở nào Truyện xưa mẹ kể lẫn vào thơ anh: Nào là hoa bưởi, hoa chanh Nào câu quan họ mái đình cây đa… Xin đừng bắt chước câu ca Đi về dối mẹ để mà yêu nhau Mẹ không ghét bỏ em đâu Yêu anh em đã là dâu trong nhà Em xin hát tiếp lời ca Ru anh sau mỗi âu lo nhọc nhằn Hát tình yêu của chúng mình Nhỏ nhoi giữa một trời xanh khôn cùng Giữa ngàn hoa cỏ núi sông Giữa lòng thương mẹ mênh mông không bờ Chắt chiu tự những ngày xưa Mẹ sinh anh để bây giờ cho em

Mẹ kế

U nằm dưới cỏ mười năm Chợ quê quen tiếng, giường nằm bén hơi Lạ chưa, mợ đã đấy rồi! Bàn tay đũa cả đầu nồi xới cơm Mợ gầy tong ruột cọng rơm Sót từ vụ gặt đồng thơm nhặt về Áo nâu, tóc vấn, nón mê Bước qua ngưỡng cửa chẳng hề trầu cau U đi để lại vườn dâu Chuồng xiêu lợn đói, ao sâu kín bèo Một con thơ dại gieo neo Ba gian mái rạ thiếu kèo, mợ ơi! Mợ về làm bạn thầy tôi Tiếng gà trở dậy lúc trời canh ba Gánh hàng mợ bán chợ xa Thương con đứng ngóng bánh đa ngõ chiều Những đêm trăng sáng, gió hiu Mợ đưa cánh võng ngâm Kiều ru tôi Ấp iu giọt máu mồ côi Tưởng chừng u hát trong lời mợ ru Mợ giờ cũng hoá mùa thu Nghe heo may thổi lòng như trút vàng Đêm qua tôi gọi đò sang Mợ ngồi khâu nắng bên hàng cột thưa…

Công Ơn Của Mẹ

Vất vả từ thuở còn son Nay ngày của Mẹ mà con chưa về Đường dài con vẫn mải mê Ân tình, nhân nghĩa, lời thề nặng vai. Tóc huyền nay đượm sương mai Nỗi lòng Mẹ cũng nguôi ngoai, dịu dần Con ghi ơn Mẹ ngàn lần Con tạc nghĩa Mẹ muôn phần kính yêu. Mẹ cho con thật là nhiều Hoa thơm, trái ngọt, lẽ điều phải hay Suốt cuộc đời Mẹ dang tay Đón đàn con nhỏ đêm ngày chờ mong. Vẫn là dòng giống Lạc Long Mẹ Âu Cơ mãi là vòng tay êm Canh khuya bóng Mẹ bên thềm Lời ru, câu ví con thêm lớn dần Trưởng thành – con vẫn rất cần Mẹ bên con mãi – là xuân cho đời Ngày của Mẹ – con dâng lời Công ơn của Mẹ trọn đời con ghi.

Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người Tiếng ai như tiếng lá thu rơi Mười năm Mẹ nhỉ, mười năm lẻ Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê Mười năm tóc mẹ màu tang trắng Trắng cả lòng con lúc nghĩ về Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn Bên đờigiótạt vớimưatuôn Con đi góp lá nghìn phương lại Đốt lửa cho đời tan khói sương Tiếng Mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao Mẹ xa xôi quá làm sao với Biết đến bao giờ trông thấy nhau Đừng khóc Mẹ ơi hãy ráng chờ Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ Đau thương con viết vào trong lá Hơi ấm con tìm trong giấc mơ Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi Ví mà tôi đổi thời gian được Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười

Bầm Ơi

Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm… Bầm ơi có rét không bầm! Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn Bầm ra ruộng cấy bầm run Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non Mạ non bầm cấy mấy đon Ruột gan bầm lại thương con mấy lần. Mưa phùn ướt áo tứ thân Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu! Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe! Con đi trăm núi ngàn khe Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm Con đi đánh giặc mười năm Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi. Con ra tiền tuyến xa xôi Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền. Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân. Con đi xa cũng như gần Anh em đồng chí quây quần là con. Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí Bầm quý con, bầm quý anh em. Bầm ơi, liền khúc ruột mềm Có con có mẹ, còn thêm đồng bào Con đi mỗi bước gian lao Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm! Bao bà cụ từ tâm như mẹ Yêu quý con như đẻ con ra. Cho con nào áo nào quà Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi. Con đi, con lớn lên rồi Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con! Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm. Mẹ già tóc bạc hoa râm Chiều nay chắc cũng nghe thầm tiếng con…

Tình Mẹ

MẸ trải hết cuộc đời khó nhọc NẰM bên con bao bọc chở che CHỖ khô tròn giấc con nghe ƯỚT thì là chỗ Mẹ nằm kề bên CANH đến lúc con êm giấc ngủ SƯƠNG đêm dày ấp ủ cho con CHỖ nào lành lạnh da non KHÔ hong sưởi ấm cho tròn cả đêm LÓT cả những ngọt mềm hơi Mẹ TIẾNG ầu ơ nhè nhẹ du dương RU con suốt cả canh trường NHƯỜNG con tất cả tình thương của mình CON lớn giữa bao tình của Mẹ THƠ ngây nào hiểu lẽ yêu thương MẸ NẰM CHỖ ƯỚT CANH SƯƠNG CHỖ KHÔ LÓT TIẾNG RU NHƯỜNG CON THƠ .

Tình Mẹ Con

Con đường trần thế mẹ đi, Gian truân, khổ ải cũng vì đàn con. Nắng mưa, dâu bể lách lòn, Mẹ rèn con rõ dại khôn trường đời. Từ con đường cũ xa xôi, Mẹ con chung bước nổi trôi quê người, Đói, no, vẫn sáng nụ cười Cơm độn khoai sắn cuối đời còn mơ Hồi tưởng lại tuổi ấu thơ, Ngày trong tay mẹ, hồn ngơ ngẩn buồn. con giờ như nước xa nguồn, Ngắm di ảnh Mẹ lệ tuôn lặng thầm. Mẩu tử nghĩa nặng, tình thâm, Không ngờ cách biệt cõi âm dương rồi. Mồ côi tội lắm Mẹ ơi! Bóng Mẹ vời vợi một thời tìm đâu? Kiếp tằm còn trả nợ dâu, Kiếp người, con phụ ân sâu Mẹ rồi, Hận lần để Mẹ chơi vơi! Con đi nửa tháng, bặt lời viếng thăm Đêm đêm con đốt hương trầm, Noi gương Mẹ giữ chánh tâm an bình. Hy vọng ở kiếp lai sinh, Con tròn chữ hiếu trọn tình mẹ con

Tình Mẹ

Dù con đếm được cát sông Nhưng không đếm được tấm lòng mẹ yêu Dù con đo được sớm chiều Nhưng không đo đượctình yêumẹ hiền Dù con đi hết trăm miền Nhưng tình của mẹ vẫn liền núi non Dù con cản được sóng cồn Nhưng không ngăn được tình thương mẹ dành Dù con đến được trời xanh Nhưng không đến được tâm hành mẹ đi Dù con bất hiếu một khi Tình thương mẹ vẫn thầm thì bên con Dù cho con đã lớn khôn Nhưng tình mẹ vẫn vuông tròn trước sau. Ôi tình mẹ tợ trăng sao Như hoa hồng thắm một mầu thủy chung Tình của mẹ lớn khôn cùng Bao dung vạn loại dung thông đất trời. Ôi tình mẹ đẹp tuyệt vời Làm con hiếu thảo trọn đời khắc ghi!

Tình Mẹ

Mẹ là chiếc nôi êm Ru con lời ngọt mềm Từng đêm trong mòn mỏi Lời ru thiết tha thêm Mẹ là mặt trời soi Theo con bóng bên đời Xua tan mây mờ phủ Cho con hoài thắm tươi Mẹ làánh trăngmơ Cho con tuổi mộng chờ Mênh mang tình biển rộng Ủ nồng trái tim thơ Mẹ là một bà tiên Xóa tan vạn ưu phiền Con về trong mắt lệ Vòng tay Mẹbình yên Mẹ… vô vàn cao cả Tình thương trên tình thương Bao la… kỳ diệu quá Tình Mẹ trái tim nồng!

Tình Mẹ

Xin mây ngàn một chút màu xanh Thật e ấp con chườm lên tóc mẹ Mái tóc óng ả một thời… son trẻ Theo thời gian mưa nắng bạc màu Mùa bão giông sương gió dãi dầu Mắt sâu thẳm lo ngày giáp hạt Mẹ tảo tần cho con ăn học Mòn mỏi thân gầy mẹ có quản gì đâu ! Năm tháng bốn mùa một tấm áo nâu Trời nắng gắt áo mồ hôi vắt nước Xót xa gió Lào khô rang rốc Lặn lội thân cò che chở mạ non… Vun vén giữ dành mẹ để cho con Đủ lông cánh con rời xa khuất Đường phía trước gian nan con bước Chắp tay nguyện cầu mẹ thao thức hằng đêm… Qua núi sông sâu bão nổi thác ghềnh Con mãi thầm mong ngày về bên mẹ Tiếng ầu ơ ngọt ngào khe khẽ Rưng rức trong lòng con lắm mẹ ơi…

Bài Ca Tình Mẹ

Có câu hát tên là bất diệt Là tiếng ru của mẹ hôm nào Khi nằm trên cánh võng nhẹ chao Khi mẹ vẫn còn thời xuân sắc Khi con mới từ trong bụi đất Qua mẹ cha để có hình hài Giọt mồ hôi tần tảo hôm mai Để con biết vẫy chàocuộc sống Lấy nước mắt đổi thành cơm nóng Dùng máu xương nuôi dưỡng thân hình Có tiếng hát tên là hy sinh Là ơn gọi trời dành cho mẹ Ru con ngủ để ngồi lặng lẽ Bài hát kia im bặt trong lòng Lại ngày mai quảy gánh long đong Vì cuộc sống lưng còng vai mỏi Mẹ cứ bước qua từng khoảng tối Sức mạnh nào vượt những chông gai? Sỏi đá kia rướm máu đường dài Nhưng ánh mắt tin yêu vẫn cháy Sức mạnh! Sức mạnh kia là đấy! Ngày lớn khôn con lạy trời cao Để cho con được biết ngọt ngào Mà mẹ phải quen mùi cay đắng Con hiểu rõ những điều sâu lắng Lớp học nào dạy được cho con Nhìn mẹ cha thân thể hao mòn Con thêm hiểu tình yêu thập giá Có câu hát tên là vàng đá Là tiếng ru của mẹ hôm nào Khi nằm trên cánh võng nhẹ chao Khi mẹ vẫn còn thời xuân sắc…

Chỉ có thể là mẹ

Nắng dần tắt trên con đường nhỏ Dáng mẹ gầy giẹo giọ liêu xiêu Mẹ về để nấu cơm chiều Bữa cơm đạm bạc thương yêu ấm lòng Cả đời mẹ long đong vất vả Cho chồng con quên cả thân mình Một đời mẹ đã hy sinh Tuổi xuân phai nhạt nghĩa tình đượm sâu Mưa và nắng nhuộm màu tóc trắng Bụi gian nan đọng lắng nếp nhăn Rụng rồi thương lắm hàm răng Lưng còng chân yếu ánh trăng cuối trời Tình của mẹ sáng ngời dương thế Lo cho con tấm bé đến già Nghĩa tình son sắt cùng cha Giản đơn dung dị mẹ là mẹ thôi Con đi khắp chân trời góc bể Ân tình nào sánh xuể mẹ yêu Nghĩa dày độ lượng bao nhiêu Có trong lòng mẹ sớm chiều bao dung. Mẹ hy sinh cả cuộc đời vì chúng con.

Thơ về mẹ

Thuở cỏn con, con nằm bên mẹ Đầu rúc vào lòng, con ấm lắm mẹ ơi Con thương mẹ đêm ngày tần tảo Thức đêm dài mẹ may áo cho con Gió đồng nội trưa hè nắng nóng Mẹ ngồi khom nhổ cỏ một mình Mưa đêm lạnh mẹ ngồi lo lắng Lo cho con yên giấc cơn đau Con vui sướng khi được ôm lưng mẹ Mỗi lần mẹ về với chị em con Đem cho con muôn điều hạnh phúc Mẹ vẫn luôn nghĩ về chúng con Thuở thiếu thời con không nghe lời mẹ Để mỗi lần mẹ đánh con đau Tuổi nhỏ bồng bột chưa biết nghĩ Giờ lớn khôn con cố học hành Con sẽ bay cao bay xa mãi Tìm đến ánh sáng của tương lai Tìm ra người bạn con mong ước Giữ mãi hình mẹ ở trong con Đảm việc nhà lo toan việc nước Xây gia đình giữ hạnh phúc cho con Con muốn tìm, muốn gặp người bạn đó Người bạn như mẹ, mẹ của con Xa cha mẹ, chúng con lên thành phố Nhớ tuổi thơ mẹ nhắc con học hành Mẹ làm lụng chúng con mong giúp mẹ Nhưng mẹ chỉ cười “học đi con” Mẹ đã cho con nhiều hạnh phúc Dạy cho chúng con biết điều hay Mẹ cũng chăm con từng giấc ngủ Mỗi lần con về bên mẹ, mẹ ơi! Con muốn ở bên mẹ như thuở bé Cảm nhận tình thương mẹ dành cho con Thoải mái từng giờ trong hạnh phúc Bên mẹ, gia đình, giấc ngủ ngon.

Những Bài Thơ Hay Nhất Của Nhà Thơ Chế Lan Viên

Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong phong trào thơ mới. Là một cây bút nổi bật với phong cách thơ kì dị, ám ảnh bởi những hình tượng tràn đầy sự ma quái. Sau cách mạng tháng 8, cũng như bao nhà thơ khác, Chế Lan Viên trở về với cuộc sống của nhân dân, trở về với đất nước khi tìm thấy cảm hứng thơ mới trước sự kêu gọi của thời đại. Ông đã để lại những tác phẩm vô cùng xuất sắc cho nền văn học Việt Nam. Những bài thơ tiêu biểu nhất của ông có thể kể đến những tác phẩm sau đây:

Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hoá những con tàu Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu

Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng? Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà Nội Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng

Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi? Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia

Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất Nay rạt rào đã chín trái đầu xuân

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường Con đã đi nhưng con cần vượt nữa Cho con về gặp lại mẹ yêu thương

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

Con nhớ anh con, người anh du kích Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con

Con nhớ em con, thằng em liên lạc Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc Năm con đau, mế thức một mùa dài Con với mế không phải hòn máu cắt Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương? Khi ta ở, chi là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương

Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương

Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi? Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga

Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào Rẽ người mà đi, vịn tay mà đến Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao

Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ Mười năm chiến tranh, vàng ta đau trong lửa Nay trở về, ta lấy lại vàng ta

Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng? Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân

Bài thơ thể hiện rất rõ sự chuyển biến trong phong cách nghệ thuật của nhà thơ Chế Lan Viên, thể hiện rất rõ những tư tưởng của nhà thơ. Đó là tư tưởng của nhân dân, hòa mình vào đời sống của nhân dân. Bai thơ là hành trình đi từ cái tôi chật hẹp sang cái ta rộng lớn. Nhà thơ khao khát được cống hiến cho công cuộc xây dựng đất nước.

2. Con cò

Con còn bế trên tay Con chưa biết con cò Nhưng trong lời mẹ hát Có cánh cò đang bay: “Con cò bay la Con cò bay lả Con cò Cổng Phủ Con cò Đồng Đăng…” Cò một mình, cò phải kiếm lấy ăn Con có mẹ, con chơi rồi lại ngủ “Con cò ăn đêm Con cò xa tổ Cò gặp cành mềm Cò sợ xáo măng…” Ngủ yên, ngủ yên, cò ơi, chớ sợ Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân Con chưa biết con cò con vạc Con chưa biết những cành mềm mẹ hát Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân

II Ngủ yên, ngủ yên, ngủ yên Cho cò trắng đến làm quen Cò đứng ở quanh nôi Rồi cò vào trong tổ Con ngủ yên thì cò cũng ngủ Cánh của cò, hai đứa đắp chung đôi Mai khôn lớn, con theo cò đi học Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân Lớn lên, lớn lên, lớn lên… Con làm gì? Con làm thi sĩ Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ Trước hiên nhà Và trong hơi mát câu văn

III Dù ở gần con Dù ở xa con Lên rừng xuống bể Cò sẽ tìm con Cò mãi yêu con Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con À ơi! Một con cò thôi Con cò mẹ hát Cũng là cuộc đời Vỗ cánh qua nôi Ngủ đi, ngủ đi! Cho cánh cò, cánh vạc Cho cả sắc trời Đến hát Quanh nôi

Mượn hình tượng con cò để nói về công lao to lớn của người mẹ. Cảm nhận từ tình mẹ thiêng liêng, cảm nhận vẻ đẹp sâu sắc của hình ảnh cò, tác giả Chế Lan Viên đã mượn chất liệu là những bài ca dao, dân ca Việt Nam để dệt nên bài thơ Con cò ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng và nỗi nhọc nhằn nuôi con khôn lớn của người phụ nữ, người mẹ. Bài thơ đã nhanh chóng được mọi người biết đến và trở thành một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về tình mẹ.

3. Người đi tìm hình của nước

Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre

Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương

Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp Giấc mơ con đè nát cuộc đời con Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn

Trăm cơn mơ không chống nổi một đêm dày Ta lại mặc cho mưa tuôn và gió thổi Lòng ta thành con rối                          Cho cuộc đời giật dây

Quanh hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê Lòng ta đã thành rêu phong chuyện cũ Hiểu sao hết những tấm lòng lãnh tụ Tìm đường đi cho dân tộc theo đi

Hiểu sao hết “Người đi tìm hình của Nước” Không phải hình một bài thơ đá tạc nên người Một góc quê hương nửa đời quen thuộc Hay một đấng vô hình sương khói xa xôi

Mà hình đất nước hoặc còn hoặc mất Sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai Thế đi đứng của toàn dân tộc Một cách vin hoa cho hai mươi lăm triệu con người

Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá Và sương mù thành Luân Đôn, ngươi có nhớ Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya?

Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi Những đất tự do, những trời nô lệ Những con đường cách mạng đang tìm đi

Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa

Ngày mai dân ta sẽ sống sao đây? Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử? Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?

Rồi cờ sẽ ra sao? Tiếng hát sẽ ra sao? Nụ cười sẽ ra sao?                        Ơi, độc lập! Xanh biết mấy là trời xanh Tổ quốc Khi tự do về chói ở trên đầu

Kìa mặt trời Nga bừng chói ở phương Đông Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt Người cay đắng đã chia phần hạnh phúc Sao vàng bay theo liềm búa công nông

Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc “Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!” Hình của Đảng lồng trong hình của Nước Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười

Bác thấy:            dân ta bưng bát cơm mồ hôi nước mắt Ruộng theo trâu về lại với người cày Mỏ thiếc, hầm than, rừng vàng, bể bạc Không còn người bỏ xác bên đường ray

Giặc nước đuổi xong rồi. Trời xanh thành tiếng hát Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân Những kẻ quê mùa đã thành trí thức Tăm tối cần lao nay hoá những anh hùng

Nước Việt Nam nghìn năm Đinh Lý Trần Lê Thành nước Việt nhân dân trong mát suối Mái rạ nghìn năm hồng thay sắc ngói Những đời thường cũng có bóng hoa che

Ôi! Đường đến với Lênin là đường về Tổ quốc… Tuyết Mat-xcơ-va sáng ấy lạnh trăm lần Trong tuyết trắng như đọng nhiều nước mắt Lênin mất rồi. Nhưng Bác chẳng dừng chân

Luận cương của Lênin theo Người về quê Việt Biên giới còn xa. Nhưng Bác thấy đã đến rồi Kìa, bóng Bác đang hôn lên hòn đất

Lắng nghe trong màu hồng, hình đất nước phôi thai

Đây là bài thơ viết về hành trình tìm đường cứu nước của Bác, đó là một hành trình gian khổ và vất vả, song cũng là những bước chân đầy tự hào. Giọng thơ ca ngợi Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân, niềm thi hứng muôn thuở của thi ca Việt Nam.

4. Xuân

Tôi có chờ đâu, có đợi đâu Ðem chi xuân lại gợi thêm sầu? – Với tôi, tất cả như vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!

Ai đâu trở lại mùa thu trước Nhặt lấy cho tôi những lá vàng? Với của hoa tươi, muôn cánh rã Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!

Ai biết hồn tôi say mộng ảo Ý thu góp lại cản tình xuân?

Có một người nghèo không biết Tết Mang lì chiếc áo độ thu tàn!

Có đứa trẻ thơ không biết khóc Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran!

Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ! Một cánh chim thu lạc cuối ngàn

Bài thơ được viết trong phong trào thơ mới, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của Chế Lan Viên trong giai đoạn này. Một hồn thơ buồn rầu không tìm được định hướng, tất cả đều chênh vênh, vô định. Bài thơ mang đậm âm hưởng của thời đại, viết về xuân nhưng thực chất chỉ là mượn hình ảnh để nói về tâm trạng khổ đau của con người.

Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn, đầy sự trở trăn. Những bài thơ của ông đều là đỉnh cao trong việc sử dụng ngôn từ, có giá trị nghệ thuật và nội dung to lớn.

Thảo Nguyên

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nhà Thơ Nguyễn Đình Chiểu Và Những Bài Thơ Đặc Sắc Nhất Phần Cuối trên website Altimofoundation.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!