Đề Xuất 2/2023 # Nghị Luận Xã Hội Về Chủ Đề Chiến Tranh Và Hòa Bình # Top 7 Like | Altimofoundation.com

Đề Xuất 2/2023 # Nghị Luận Xã Hội Về Chủ Đề Chiến Tranh Và Hòa Bình # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nghị Luận Xã Hội Về Chủ Đề Chiến Tranh Và Hòa Bình mới nhất trên website Altimofoundation.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Có ai đó từng hỏi tôi thế này: đang sống trong cuộc sống hòa bình, liệu có khi nào bạn nghĩ về chiến tranh không? Khi nghe đến đó tôi hơi bất ngờ nhưng ngay sau đó tôi lại tự chất vấn bản thân: có bao giờ tôi nghĩ đến vấn đề chiến tranh hay hòa bình, tò mò về nó khi mà cuộc sống có quá nhiều thứ khác thu hút tôi không nhỉ? Dường như khái niệm chiến tranh và hòa bình chỉ còn hiện hữu trong suy nghĩ của tôi khi tôi học lịch sử hay các tác phẩm văn học, đôi khi là bắt gặp trên tác phẩm truyền hình nào đó, chỉ thế thôi, không hơn. Phải chăng con người ta được sống trong cuộc sống hòa bình, hưởng phúc lợi an sinh xã hội nên người ta vô tình quên đi những giá trị cốt lõi làm nên cuộc sống hay một phần lịch sử đã qua, hay gần hơn là những gì vẫn đang hằng ngày, hàng giờ diễn ra trên thế giới nhưng chẳng bao giờ ta để ý đến cả… đó là chiến tranh và hòa bình.

Bạn hiểu chiến tranh và hòa bình theo nghĩa nào? Còn tôi, chiến tranh và hòa bình – đó là hai mảng đối lập. Nếu như hòa bình chỉ sự bình an, vui vẻ, không có bạo loạn, đánh nhau cướp bóc thì chiến tranh lại vẽ lên một viễn cảnh hoàn toàn trái ngược. Nói đến chiến tranh là nói đến đánh nhau, hỗn loạn, khói súng, máu nước mắt và sinh mạng con người. Chỉ với mấy từ đó thôi hẳn ai cũng đã có những hình dung cho riêng mình về chiến tranh cũng như hòa bình trên thế giới.

Các bạn biết đấy, chiến tranh ở đất nước Việt Nam đã đi xa nhưng hậu quả nó để lại thì vô cùng lớn và cũng nhiều nước trên thế giới chiến tranh vẫn còn. Chiến tranh- đó là biểu hiện cao nhất của mâu thuẫn không thể hòa giải, là sự tham gia bằng vũ lực hai bên trở lên. Lịch sử thế giới đã in đậm hình ảnh của biết bao cuộc chiến tranh, cuộc chiến tranh nào cũng tàn khốc và không gì có thể bù đắp nổi. Có ai mà không biết được 2 cuộc chiến tranh lớn nhất thế giới mà người ta gọi nó là Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai, những cuộc chiến tranh được coi là tàn khốc nhất trong lịch sử với sự tham gia của các nước lớn trên thế giới như: Mĩ, Anh, Pháp, Liên Xô… Rồi có ai quên được những đau thương mất mát của hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản khi Mĩ thả hai quả bom nguyên tử xuống trong thế chiến thứ hai. Cả hai thành phố chỉ còn là một đống đổ nát với mùi thuốc nổ, máu nước mắt khắp mọi nơi. Cuộc chiến tranh Trung – Nhật đã cướp đi bao mạng người tham gia vào cuộc chiến đó. Nói về chiến tranh thật thiếu sót nếu như ta không nhắc tới Việt Nam- một dân tộc anh hùng đã hi sinh rất nhiều ( thứ) trong các cuộc chiến tranh lịch sử. Trong suốt một nghìn năm Bắc thuộc dân tộc ta đã phải gồng mình lên để chống lại quân Nam Hán, Nguyên Mông, quân Thanh… Rồi sau đó là cuộc xâm lược của thực dân Pháp, đế quốc Mĩ hùng mạnh, hiếu chiến. Bao nhiêu cuộc chiến tranh là bấy nhiêu thời điểm đất nước lầm than, nhân dân loạn lạc, li tán, chết chóc. Để kể về hậu quả mà chiến tranh gây ra thì có lẽ không có một từ nào có thể diễn tả được hết. Ta thấy một phần nào đó của chiến tranh qua những câu thơ của các nhà thơ kháng chiến:

“Quê hương ta từ ngày khủng khiếp Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn Ruộng ta khoi nhà ta cháy Chó ngộ một đàn………”

Đau thương cho người ra đi, ám ảnh những người ở lại, môi trường sống bị ảnh huởng một cách nghiêm trọng là những gì mà chiến tranh để lại cho chúng ta khi đã vô tình đi qua một thời điểm nào đó… Đến đây tôi tự đặt ra câu hỏi: chiếntranh tàn khốc là thế, đau thương là thế nhưng tại sao nó vẫn xảy ra, ở quá khứ, và ngay cả thời điểm hiện tại? Phải chăng con người thích sự chết chóc? Đó chắc chắn ko phải. Chiến tranh là do những kẻ cầm đầu, những con người vì muốn thỏa mãn lòng tham của mình, vì sự ích kỉ cá nhân mà dẫn quân đi gây chiến nhằm giành lợi ích từ các vùng, quốc gia mà họ đánh chiếm. Có nước khai chiến ắt có nước chống trả, và thế là các bên sử dụng sức mạnh quyền lực của mình nhằm giành chiến thắng cho mình. Đó cũng chính là mầm mống của các cuộc chiến tranh trên thế giới. Nếu phải dùng một từ để nói về chiến tranh bạn sẽ dùng từ gì? Còn tôi, đó là đau thương…

Hiện này có rất nhiều cách khác nhau đang được các quốc gia trên thế giới thực hiện nhằm duy trì hòa bình chống các hành động gây mâu thuẫn dẫn tới chiến tránh. Là một học sinh chủ nhân tương lai của đất nước, thế giới bạn có những kiến thức nghị gì mới để góp phần vào việc bảo vệ hòa bình thế giới? Theo tôi suy cho cùng thì nguyên nhận chiến tranh cũng là do con người với con người vẫn còn sự đố kỵ lẫn nhau, vẫn sống theo chủ nghĩa cá nhân. Lúc này tôi chợt nhớ đến một câu thơ của Tố Hữu:

“Có gì đẹp trên đời hơn thế, Người với người sống để yêu nhau”.

Ước mong về một thế giới hòa bình sẽ luôn là niềm khao khát cháy bỏng của mọi người dân chân chính trên thế giới vì họ hiểu: “Hòa bình là đức hạnh của nhân loại. Chiến tranh là tội ác”.

Thống kê tìm kiếm

suy nghĩ về chiến tranh

nghị luận về hậu quả của chiến tranh

nghi luan ve chien tranh va hoa binh

https://baigiangvanhoc com/nghi-luan-xa-hoi-ve-chu-de-chien-tranh-va-hoa-binh

viet cam nghi ve chien tranh

Nghị Luận Xã Hội Về Vấn Đề Ô Nhiễm Môi Trường

Đề bài: Nghị luận xã hội về vấn đề ô nhiễm môi trường

Ngày nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn ở Việt Nam. Trên các phương tiện thông tin đại chúng hằng ngày, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những hình ảnh, những thông tin về việc môi trường bị ô nhiễm. Bất chấp những lời kêu gọi bảo vệ môi trường, tình trạng ô nhiễm càng lúc càng trở nên trầm trọng. Điều này khiến ta phải suy nghĩ …

Từ đầu năm đến nay, đã có thêm không biết bao nhiêu thống kê mới về tình trạng môi trường ở Việt Nam ta. Và đáng buồn thay, đó là những con số gây thất vọng…

{-Chỉ số chung}

Theo bản tổng kết môi trường toàn cầu do Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) Hà Nội và Tp. HCM nằm trong danh sách 6 thành phố ô nhiễm không khí nghiêm trọng nhất thế giới. Về nồng độ bụi, hai thành phố lớn nhất Việt Nam này chỉ đứng sau Bắc Kinh, Thượng Hải, New Delhi và Dhaka. Mối đe doạ tiềm tàng này chắc chắn sẽ cản trở quá trình phát triển hơn nữa của các thành phố này. Cũng theo một nghiên cứu về các chỉ số môi trường ổn định do Trường Đại học Yale (Mỹ) thực hiện, Việt Nam đứng thứ hạng thấp nhất trong số 8 nước Đông Nam Á.

{-Ô nhiễm môi trường nước}

Tình trạng quy hoạch các khu đô thị chưa gắn với vấn đề xử lý chất thải, nước thải nên ô nhiễm môi trường ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu đô thị đang ở mức báo động. Trong tổng số 183 khu công nghiệp trong cả nước, có trên 60% khu công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Các đô thị chỉ có khoảng 60% – 70% chất thải rắn được thu gom, cơ sở hạ tầng thoát nước và xử lý nước thải, chất thải nên chưa đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường…Hầu hết lượng nước thải chưa được xử lý đều đổ thẳng ra sông, hồ và dự báo đến năm 2010 là 510.000m3/ngày. Một ví dụ đau lòng của việc xả nước thải, hẳn không ai không biết, là trường hợp của con sông Thị Vải bị ô nhiễm bởi hoá chất thải ra từ nhà máy của công ti bột ngọt Vê Đan suốt 14 năm liền. Điều này khiến cho con sông bị ô nhiễm nghiêm trọng ảnh hưởng tới cuộc sống của nhiều người dân ở xung quanh. Một ví dụ khác chính là việc ô nhiễm hồ Hoàn Kiếm, một biểu tượng của nền văn hoá dân tộc.

{-Ô nhiễm môi trường không khí}

Không chỉ có môi trường nước mà môi trường không khí và môi trường đất cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Môi trường không khí ở hầu hết các đô thị Việt Nam đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép.Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, kết quả đo đạc tại 6 trạm quan trắc không khí cho thấy 89% mẫu kiểm tra không khí không đạt tiêu chuẩn cho phép, luôn ở mức nguy hại cao cho sức khỏe, trong đó lượng bụi lơ lửng đang là nhân tố gây ô nhiễm nghiêm trọng hàng đầu trên địa bàn. Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm không khí do chì cũng gia tăng nhanh chóng, cụ thể nồng độ chì đo đượ cừ đầu năm 2009 đến nay thường dao động ở ngưỡng 0,22 – 0,38g/m³, quá chuẩn cho phép khoảng 1,5 lần. Về môi trường đất, kết quả của một số khảo sát cho thấy hàm lượng kim loại nặng trong đất gần các khu công nghiệp đã tăng lên trong những năm gần đây. Như tại cụm công nghiệp Phước Long (Bình Phước) hàm lượng Cr cao gấp 15 lần so với tiêu chuẩn, Cd cao từ 1,5 đến 5 lần, As cao hơn tiêu chuẩn 1,3 lần. (Cr,Cd,As: các chất hoá học độc hại) Thuốc bảo vệ thực vật cũng gây ảnh hưởng đến đất. Mặc dù khối lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Việt nam còn ít, trung bình từ 0,5-1,0 kg/ha/năm, tuy nhiên, ở nhiều nơi đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất.

{Nguyên nhân}

Vậy nguyên nhân của những sự việc trên là do đâu?

{-Sự thiếu ý thức của người dân}

Đầu tiên, đó chính là sự thiếu ý thức nghiêm trọng của nhiều người dân mà đặc biệt là các bạn trẻ. Nhiều người nghĩ rằng những việc mình làm là quá nhỏ bé, không đủ để làm hại môi trường. Một số người khác lại cho rằng việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm của nhà nước, của chính quyền mà không phải là của mình. Số khác lại nghĩ rằng việc môi trường đã bị ô nhiễm thì có làm gì đi chăng nữa cũng không đáng kể, và việc ô nhiễm môi trường cũng không ảnh hưởng gì tới mình nhiều…Thấy vậy nhưng không phải vậy! Việc phá hoại môi trường của một người tuy chỉ ảnh hưởng nhỏ nhưng tập hợp nhiều người lại là lớn. Trách nhiệm bảo vệ môi trường tuy cũng có một phần là của nhà nước nhưng đa phần lại là của người dân. Và những việc chúng ta làm đối với môi trường, tuy hiện giờ ta chưa thấy được, nhưng về lâu về dài nó sẽ ảnh hưởng tới ta ít nhiều.

{- Một số doanh nghiệp vì lợi nhuận bất chấp hậu quả}

Một nguyên nhân khác gây ra ô nhiễm môi trường chính là sự thiếu trách nhiệm của các doanh nghiệp. Do đặt nặng mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, không ít doanh nghiệp đã vi phạm quy trình khai thác, góp phần đáng kể gây ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, chính sự chưa chặt chẽ trong việc quản lý bảo vệ môi trường của nhà nước cũng đã tiếp tay cho các hành vi phá hoại môi trường tiếp diễn. Việt Nam thiếu những chính sách và quy định bảo vệ môi trường nghiêm ngặt và do đang thu hút mạnh các nguồn vốn đầu tư để phát triển nên dễ mắc vào “cạm bẫy”: trở thành nơi tiếp nhận nhiều ngành công nghiệp “bẩn”. Ví như, ngành cán thép làm tốn nhiều tài nguyên như đất, nước, năng lượng, thải ra những chất thải nguy hại cho môi trường. Ngoài ra, lượng xe cô lưu thông ngày càng nhiều ở nước ta cũng góp phần không nhỏ vào việc gây ô nhiễm bầu không khí.

Điều này đã để lại hậu quả gì?

{-Làng ung thư}.

{Hướng giải quyết}

Lẽ nào ta lại nhắm mắt làm ngơ?

Không! Chúng ta cần phải tiếp tục công cuộc bảo vệ và làm sạch môi trường bằng những biện pháp tốt hơn, thiết thực hơn nữa! Thứ nhất, phải có các hình thức xử phạt thật nặng và nghiêm minh đối với các cá nhân, tổ chức, cơ quan có hành vi phá hoại môi trường, làm ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân. Bên cạnh đó, cũng cần giáo dục ý thức cho người dân qua các hình thức tuyên truyền, cổ động như tổ chức những buổi giao lưu bàn về vấn đề môi trường tại các đơn vị hành chính cấp phường, xã…Đưa những bài viết chi tiết hơn về môi trường trong các sách giáo khoa ngay từ cấp tiểu học, giúp học sinh có thái độ và cái nhìn đúng đắn về môi trường và những hậu quả của việc phá hoại môi trường, từ đó giúp các em biết yêu và bảo vệ môi trường mình đang sống. Một cách khác để giúp bảo vệ môi trường phát động thường xuyên hơn những phong trào tình nguyện như bảo vệ môi trường khu dân cư, dọn rác ở các khu vực công cộng, làm sạch bãi biển…

{Tổng kết – Nhận xét riêng của bản thân}

Tình trạng môi trường ở Việt Nam tuy nghiêm trọng nhưng vẫn có thể cứu vãn nếu mỗi người dân biết góp sức của mình, chung tay bảo vệ môi trường. Vì vậy, chúng ta cần chung tay bảo vệ môi trường và tránh gây ô nhiễm. Vì tương lai một Việt Nam xanh, sạch, đẹp và vì cuộc sống của chính chúng ta cũng như của các thế hệ sau!

Nghị Luận Xã Hội Về Thời Gian, Lời Nói Và Cơ Hội

Đề bài: Có ý kiến cho rằng: “Có ba điều trong cuộc đời mỗi người, nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội”. Hãy bàn luận ý kiến đó.

“Có ba điều trong cuộc đời mỗi người, nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội”.

Mỗi người là một cá thể trong cõi nhân sinh. Sướng hay khổ, vui hay buồn, giàu sang hay nghèo hèn, khỏe mạnh hay đau ốm, trường thọ hay đoản thọ mỗi người một số phận, một cảnh ngộ, nào ai giống ai? Đúng thời gian, lời nói và cơ hội là những “tài sản” vô cùng quý báu đối với mỗi người. Những thứ ấy đã trôi qua thì không bao giờ lấy lại được. Do đó, phải sống như thế nào, sống tích cực hay buông xuôi, sống đẹp hay sống vô vị, sống nhạt nhẽo, sống thừa như “phường giá áo túi cơm!”.

Nghị luận xã hội về thời gian, lời nói và cơ hội

1. Trước hết, nói về thời gian.

Thời gian là vàng; thời gian quý hơn vàng. Quỹ thời gian là vốn sống của mỗi người. Ăn ngủ vui chơi, học hành, lao động… của bất cứ ai đều diễn ra theo ngày đêm, bốn mùa, năm tháng. Con người dùng thì giờ để lao động sản xuất ra của cải vật chất và mọi giá trị tinh thần, để sống trong no ấm, hạnh phúc. Con người cũng dùng thời gian để học hành, mở mang trí tuệ, vươn lên tầm cao của học vấn, văn minh.

Thời gian trôi nhanh “vun vút như tên bay, như bóng câu (ngựa) lướt qua cửa sổ, như nước chảy qua cầu”. Thời gian một đi không trở lại. Sinh, trưởng, lão, bệnh, tử và vòng đời của mỗi người. Tuổi trẻ thường phung phí thì giờ, cho nên lúc mái tóc chớm bạc mới hối hận, mới tiếc nuối: “Ôi kiếp nhấn sinh là thế ấy, như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như tuyết tan..”.

Kẻ lười biếng nên sông buông thả: “Ăn no rồi lại nằm khoèo – Nghe giục trống chèo, vác bụng đi xem”. Dân gian đã châm biếm: “Đời người có một gang tay – Ai hay ngủ ngày còn có nửa gang!” Muốn chiếm được bảng vàng, các thí sinh, sĩ tử phải “dùi mài kinh sứ”, phải “Thập niên đăng hỏa”, ở nước ta đã có những “vua lợn”, “vua quỷ”: như Lê Ngọa Triều, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, nhưng cũng có những vị minh quân như Lê Thánh Tông: “Trống đời canh, còn đọc sách – Chiêng xê bóng, chửa thôi chầu”.

Kẻ lười biếng, ăn không ngồi rồi thì lúc nào cũng cảm thấy thừa thời gian. Người siêng năng cần cù thi luôn cảm thấy thiếu thời gian. Biết làm chủ thời gian là biết sống tích cực. Trong bài thơ Vội vàng viết vào thời mười tám, đôi mươi, thi sĩ Xuân Diệu đã thể hiện một tâm thế tuyệt đẹp:

Mỗi buối sớm Thần Vui hằng gõ cửa Tháng giêng ngon như một cặp môi gần Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa

Tôi không chờ nắng hạ môi hoài xuân.

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng…

Thật vậy, thời gian rất quý, thời gian trôi nhanh, một đi không trở lại, nên không được vung phí thời gian, phải biết làm chủ thời gian.

2. Thời gian mải miết trôi qua, không thể nào lấy lại được, vậy lời nói thì thế nào? Người xưa từng nói: Tên bắn đi thì máu sẽ đổ, và thịt nát xương tan, đô thị hoang tàn. Tên bắn đi làm sao thu hồi được? Lời đã nói ra làm sao lấy lại được? “Lời nói gió bay” (tục ngữ). Lời nói là vàng. Đó là những lời nói tốt đẹp, mang tính người, hoặc là lời ngợi khen, hoặc là lời động viên, an ủi. Hoặc là lời ông bà, cha mẹ báo ban con cháu. Hoặc là lời thầy, cô dạy bảo học trò. Hoặc là lời bạn bè tâm sự. Hoặc là tiếng nói tâm tình của lứa đôi. Hoặc là lời chào hỏi âu cần, vui vẻ cùa đồng loại. Lời nói dù tốt đẹp, nhân văn đến đâu cũng khôug thể nào lấy lại được.

Còn có những lời nói độc địa, tiếng chửi rủa, quát tháo. “Lời nói đọi máu” (Tục ngữ). Có những lời nói có thể làm người nghe đau đớn, tủi nhục, căm giận, nhưng khi đã được “phun ra” thì làm sao lấy lại được? Nhất là những lời nói tục tằn, thô lỗ, phàm phu càng không lấy lại được

Đất xấu trồng cây khẳng khiu,

Những người thô tục nói điểu phàm phu!

Cũng như tiếng chim hót nghe rất vui tai, câu hát, lời ru của bà, của mẹ tuy “gió đưa về trời” những vẫn thấm sâu vào tâm hồn con cháu. Đúng như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết:

Cái cò… sung chát đào chua

Câu ca mẹ hát gió đưa về trời

Ta đi trọn kiếp con người.

Cũng không đi hết những lời mẹ ru.

Khi lời nói đã “xuất khẩu”, dù hay, dở thế nào cùng không lấy lại được, do đó, lúc nói năng phải đắn đo, suy nghĩ cẩn trọng. Không thể ăn nói văng mạng được. “Ăn nhai, nói nghĩ”, phải “uốn lưỡi bảy lần mới nói” – đó là lời khuyên về sự ăn nói. Trong chúng ta, hầu như ai cũng nhớ câu:

Lời nói chẳng mất tiền mua.

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

Lời nói thể hiện tư tưởng, tình cảm, cách ứng xử, bộc lộ cá tính, nhân cách văn hóa của mỗi người. Lời nói khi đã phát ngôn thì không thể nào lấy lại được, do đó, chúng ta phải học cách ăn nói văn minh, lịch sự, lễ phép. Và phải thận trọng, lễ độ trong nói năng, ứng xử.

Thời gian đã trôi, không thể chạy ngược dòng, lời nói đã phát ngôn không thể thu hồi, còn cơ hội có lấy lại được không?

Sau gần một thế kỉ làm trâu ngựa cho ngoại bang, nhân dân ta bao phen quật khởi vùng dậy, nhưng đã bị kẻ thù “tắm trong những bể máu”. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Hồ Chủ tịch và Đảng ta đã chủ động “Chớp lấy cơ hội” Pháp chạy, Nhật hàng Đồng Minh, là lãnh đạo nhân dân ta làm cuộc Cách mạng tháng Tám, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nhờ cơ hội phát triển nền kinh tế thị trường mà có nhiều doanh nhân trẻ, nhà quản lí tài ba xuất hiện, góp phần làm đổi thay bộ mặt đất nước.

Bao giờ cũng thế, vận may rất hiếm, cơ hội một đi không trở lại. Vì thế, con người phải có ý thức chuẩn bị tốt mọi điều kiện chủ quan, mọi thực lực để chủ động đón bắt cơ hội. Không thể chần chừ do dự, không thế “há miệng chờ sung” mà phải có ý chí, có quyết tâm, sẵn sàng nắm bắt cơ hội, để thi thố tài năng, để làm nên sự nghiệp.

3. Tóm lại, “có ba điều trong cuộc đời mỗi người, nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội” – là một lời khuyên đẹp, một lời nói hay, hàm chứa chất triết lí và đạo đức. Phải biết sống tích cực, sống chủ động, phải biết nỗ lực học tập và siêng năng lao động, nâng cao kiến thức, tu dưỡng đức hạnh, nâng tầm vân hóa của bản thân mình lên cao, ngang tầm thiên hạ. Phải biết quý trọng thời gian, thì giờ. Phải biết “Học ăn, học nói, học gói, học mở” để giao tiếp văn minh lịch sự, trung thực, lễ phép. Phải biết chuẩn bị đức tài để đón nhận thời cơ, cơ hội.

Từ khóa tìm kiếm

có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được thời gian lời nói và cơ hội

thoi gian loi noi co hoi

Nghị Luận Về Lòng Khoan Dung Trong Xã Hội

Đề bài Suy nghĩ của anh chị về lời Phật dạy Tài sản lớn nhất của đời người chính là lòng khoan dung.

Nhạc Trịnh Công Sơn lôi cuốn người nghe không chỉ ở giai điệu lắng sâu, da diết mà còn gây ấn tượng bởi ca từ giàu ý nghĩa. Chỉ một câu hát “Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống, vì đất nước cần một trái tim” cũng khiến cho ta phải nghĩ suy. Thì ra, trong mỗi con người không gì quan trọng bằng trái tim, nhịp thở, cũng như trong cuộc sống không có gì ý nghĩa bằng tấm lòng nhân hậu, bao dung. Từ đó, ta càng thêm thấm thía lời Phật dạy: “Tài sản lớn nhất của con người chính là lòng khoan dung”.

Ca dao Việt Nam xưa đă có câu:

Con người tồn tại trong xã hội không phải là những chiếc bóng âm thầm, lặng lẽ như cơn mưa rào chợt đến chợt đi, mà chúng ta, với mỗi chữ “nhân” của mình, đang nỗ lực sống hoà họp, đùm bọc lẫn nhau để cuộc sống này ngày một thêm ý nghĩa. Muốn được như vậy, mỗi người phải mở rộng lòng ra để trao cho nhau tình yêu thương, lòng khoan dung, nhân ái. Tục ngữ Ba Lan đã khẳng định: “Sự khoan dung là món trang sức của đức hạnh”, có tôn giáo lại cho rằng: “Khoan dung là mĩ đức, thể hiện cái Thiện nơi người thường”. Dầu cho cách nói khác nhau nhưng suy cho cùng, tất cả đều thừa nhận rằng “khoan dung” là một từ chỉ hành động hiểu biết, cảm thông và tha thứ, đó không phải là một phẩm tính chỉ được dùng cho người khác mà nó cần được dùng cho cả chính bản thân mỗi người. Nói như vậy cũng không có nghĩa thừa nhận ” khoan dung ” là phẩm tính của người cao hơn ban cho người thấp hơn, hay của một người tốt ban cho kẻ xấu. Bởi dòng đời vô tận luôn chảy trôi giữa bao điều trái ngược, có khi kẻ bần cùng sát đất lại là người khoan dung cho kẻ ngồi trên cao. Do đó, dưới nhiều góc độ khác nhau, khoan dung lại có những vai trò khác nhau trong cuộc sống con người.

Thì ra, khoan dung cho kẻ khác còn là khoan dung cho chính mình, là sự cảm thông sâu sắc cho bản thân và cho những người xung quanh. Như Bác Hồ đã nói thì “Năm ngón tay cũng có ngón dài, ngón ngắn, nhưng cùng trên một cánh tay. Trong mấy triệu người, cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này thế khác đều là đòng dõi tổ tiên ta, nên ta phải khoan dung, thông cảm”. Cũng như thế, trong xã hội có nhiều mối quan hệ phức tạp, có khi không thể dung hoà được ngay, chẳng hạn như quan hệ mẹ kế – con chồng. Nhưng nếu ta mở lòng đón nhận, vượt qua mọi rào cản từ lâu đã trở thành quy luật của lẽ thường “Mấy đời bánh đúc có xương / Mấy đời đi ghẻ lại thương con chồng “, để cảm thông, thấu hiểu lẫn nhau, thì ta vẫn có một tình mẫu tử thiêng liêng, tốt đẹp. Dễ hiểu vì sao tác giả Nguyễn Thị Thiếu Anh đã làm thơ ca ngợi mẹ kế mình:

Ngoài ra, bao dung dung còn biểu hiện cho một tâm hồn vị tha, là đức tính cao thượng, không cố chấp, sẵn sàng tha thứ cho mọi tội lỗi. Phải chăng vì thế mà điều đó trở nên cần thiết trong cuộc sống? Có người nói “Tha thứ là sự trả thù vinh quang nhất” quả không sai. Bởi vì lòng nhân ái, bao dung vẫn luôn là món quà cứu độ cho kẻ tội lỗi, giúp con người vượt qua mọi thử thách. Khoan dung, nhân ái là truyền thống nhân văn của dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử. Như mọi người đều thấy, lịch sử Việt Nam gắn liền với lịch sử đấu tranh chống xâm lược. Sau những chiến thắng vĩ đại, ta vẫn không quên mở lòng bao dung, tha thứ, chuẩn bị lương thảo, thuyền bè cho quân giặc trở về nước. Điều này một lần nữa đã được đúc kết trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945: ‘Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thuỳ, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng, tài sản cho họ”. Hoà bình vẫn luôn là khát vọng cháy bỏng của nhân loại, bởi trong thực tế, chưa có một ngày nào trong mấy nghìn năm qua con người được sống trong thế giới hoà bình. Sau những nỗ lực tìm kiếm, khi bước vào thiên niên kỉ mới, con người mới thấm thía được rằng “không thể giải quyết mọi tranh chắp, xung đột bằng vũ khí, phải có sự cảm thông hiểu biết, vị tha, đối thoại bằng văn hoá khoan dung “. Cũng như F.Voltaire đã từng nhận định: Sự bao dung là một vị thuốc duy nhất để chữa những lỗi lầm đang làm bại hoại con người khắp trong vũ trụ”. Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước hàng năm vẫn có những chính sách khoan hồng cho những tội phạm thành thật khai nhận tội danh của mình và có những dịp đặc xá cho những tù nhân cải tạo tốt. Chẳng phải là ta đang mở đường cứu sinh cho những con người biết cúi đầu sửa chữa đó sao? Vị tha không chỉ mang lại tia hi vọng sống sót cho những sinh mạng, mà còn đem lại cho mỗi con người một lâu đài công đức, đúng như có người đã nói: “Cứu vớt một người còn hơn xây bảy toà tháp”.

Ngược lại, nếu cuộc sống con người không có sự bao dung, độ luợng thì sẽ vắng bóng tình người. Bản thân mỗi người sẽ trở nên ích kỉ, nhỏ nhen, thực dụng, đôi khi trở thành tội phạm vì “giận quá mất khôn”. Đối với những người làm nhiều điều sai trái, nếu ta không tha thứ, khuyên ngăn thì một lúc nào đó họ sẽ bị dồn đến đường cùng, trở thành mãnh thú vô cùng tàn nhẫn. Đó là nguyên nhân vì sao ngày nay, người ta vẫn sống trong một nền hoà bình “nóng”. Nhiều nơi trên thế giới, từng phút từng giờ vẫn diễn ra những cuộc chiến tranh đẫm máu, kéo dài hơn cả hai cuộc đại chiến thế giới trong quá khứ. Theo thống kê, năm 2006 được coi là một năm đẫm máu của Afganixtan với hơn 100 vụ đánh bom liều chết và bạo lực khủng bố làm 3700 người chết, trong đó có hơn 1000 dân thường vô tội. Tại Uzobekixtan, các lực lượng Hồi giáo li khai và cực đoan hoạt động mạnh gây ra các cuộc đánh bom khủng bố, biểu tình, bạo loạn, ở Thái Lan, tình hình chính trị cũng bất ổn không kém. Lực lượng chống Chính phủ tìm cách cản trở mọi hoạt động chính trị của Chính phủ bằng cách biểu tình ở sân bay quốc gia, bạo loạn trước toà nhà Quốc hội… Tất cả đều bắt nguồn từ mâu thuẫn về lãnh thổ, sắc tộc, tôn giáo… Thiếu một bộ phận trên cơ thể, cuộc sống con người sẽ khó khăn, nhưng thiếu một trái tim nhân ái bao dung, con người sẽ sống mà không còn tình người. Thật vậy, không có sự cảm thông, vị tha đúng lúc, con người sẽ như ở hai đầu của một cái lò xo bị bật xa dần về khoảng cách.

Bao dung, với giá trị sâu sắc của nó, được ví như một sợi dây vô hình nối trái tim với trái tim, làm cho cuộc sống giàu tình thương, xã hội hoà bình, thân ái. Dầu vậy, chúng ta không nên cho rằng bao dung là nhân nhượng, là chùn bước, dễ dàng đầu hàng cái xấu, cái ác, mà nên hiểu theo nghĩa tích cực của câu “Một điều nhịn là chín điều lành”. Thế cho nên, Phật mới dạy rằng: Tài sản quý giá nhất của đời người chính là lòng bao dung.

Cuộc sống luôn là cho và nhận, như nhà thơ Tố Hữu đã viết “sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”. Nếu ta biết cho đi sự tha thứ, sự cảm thông, ta sẽ nhận về một cuộc sống bình yên, thanh thản.

Phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam Phân tích bài thơ Thu Điếu của Nguyễn Khuyến

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nghị Luận Xã Hội Về Chủ Đề Chiến Tranh Và Hòa Bình trên website Altimofoundation.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!