Đề Xuất 12/2022 # Năm Dậu Tìm Gà Trong Câu Đối, Thành Ngữ, Tục Ngữ / 2023 # Top 14 Like | Altimofoundation.com

Đề Xuất 12/2022 # Năm Dậu Tìm Gà Trong Câu Đối, Thành Ngữ, Tục Ngữ / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Năm Dậu Tìm Gà Trong Câu Đối, Thành Ngữ, Tục Ngữ / 2023 mới nhất trên website Altimofoundation.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nhân nói về vẻ đẹp bề ngoài của gà và con người, người xưa có câu :

Gà đẹp mã vì lông, người dễ trông về của. Lại có câu :

Con gà tốt mã vì lông,

Răng đen vì thuốc, rượu nồng vì men.

Nhân chuyện gà cùng một mẹ, người xưa nhắn nhủ việc dân một nước, anh em trong một nhà phải đoàn kết thương yêu lẫn nhau :

Khôn ngoan đối đáp người ngoài,

Gà chung một mẹ chớ hoài đá nhau.

Nói về cảnh bơ vơ gà lạc mẹ – con…

Gà con lạc mẹ, gà con chiu chít,

Gà mẹ lạc con, miệng tục chân bươi,

Anh gặp em đây chúm chím miệng cười,

Năm ba phần thảm, chín mười phần thương.

Nói về kẻ hèn kém, chỉ biết làm ăn, kiếm chác quanh quẩn nơi quen thuộc, không có tầm nhìn xa trông rộng, không làm nên được sự nghiệp lớn lao :

Gà què ăn quẩn cối xay

Hát đi hát lại tối ngày một câu.

Gà què ăn quẩn cối xay

Ăn đi ăn lại cối này một câu.

Năm 2017 là năm con gà

Nguyễn Bính (1918-1966), nhà thơ, tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh ở xóm Trạm, thôn Thiên Vịnh, xã Đồng Đội, nay là xã Cộng Hòa, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông nổi tiếng với thơ lục bát truyền thống. Tác phẩm nổi tiếng như các tập thơ: Lỡ bước sang ngang (1940), Tâm hồn tôi, Hương cố nhân, mười hai bến nước, v.v… Ông có sáng tác câu đối, lại dùng cả chữ Hán lẫn chữ Pháp làm câu đối:

Chuồng gà kê áp chuồng vịt;

Chú chuột ra bớp chú bò.

(Kê: gà, áp: vịt, ra: chuột (rát); bớp: bò (bang).

Phạm Đình Toái (1818-1901), Tự Thiếu Du, hiệu Song Quỳnh, người xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu. Đậu Cử nhân khoa Nhâm Dần – Thiệu Trị 2 (1842). Làm quan đến Án sát Bình Định. Bố chánh, Hiệp lý thương trường, bị cách, phục chức Điển tịch, về hưu phong Hồng lô tự khanh. Ông bổ sung sửa chữa “Quốc sử diễn ca”. Tác phẩm: Đường thi diễn ca, Trung Dung diễn ca, Quốc âm diễn ca…Vua Thành Thái ban cho ông bức đại tự “Hiếu học hành thiện”. Ông có công chiêu dân lập ra một làng mới ở huyện Quỳnh Lưu, nên được dân làng thờ làm phúc thần – Thành hoàng làng. Ông có làm đôi câu đối để nói về việc lập làng vào năm Quý Dậu:

地從季酉開基矢

蔭字庚辰見效來

Địa tòng Quý Dậu khai cơ thỉ;

Ấm tự Canh Thìn kiến hiệu lai.

Khai đất lập làng từ Quý Dậu;

Đặt tên của xóm đến Canh Thìn.

Nguyễn Xuân Ôn (1825-1889), hiệu là Ngọc Đường, Hiến Đình và Lương Giang tướng công. Sinh ngày 23 tháng 3 năm Ất Dậu (10-5-1825), quê ở xã Lương Điền, tổng Thái Xá, nay thuộc xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông hay chữ học rộng, nhớ nhiều, được người đời mệnh danh là “Tủ sách bụng”, đậu cử nhân khoa Đinh Mão (1867), đậu Tiến sĩ khoa Tân Mùi (1871) cùng khoa với Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến và Phó bảng Lê Doãn Nhạ. Làm quan đến Biện lý Bộ Hình. Vì kiên quyết xin Triều đình chống Pháp nên bị cách chức. Ông về quê dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp, được Tôn Thất Thuyết cử làm Hiệp đốc quân vụ An Tĩnh. Năm 1887, ông bị bắt, cho an trí ở Huế cho đến khi mất.

Ông từng ứng khẩu vế đối khi đi hỏi vợ vì bị cô gái được hỏi ra vế đối rất hóc hiểm. Trong vế ra có bóng trăng xuyên qua lỗ thủng mái ngói như những quả trứng gà nơi ba nơi bốn quả. Vế đối của ông thâm thúy, nói được chí của ông không phải bậc tầm thường, tài năng như sóng nước sẽ được lan tỏa vang xa và làm cho cô gái phải xiêu lòng trắc ẩn:

Vế ra của cô gái:

屋漏月穿形雞卵三三四四

 Ốc lậu nguyệt xuyên hình kê noãn tam tam tứ tứ;

Nhà thủng bóng trăng xuyên qua, trứng gà nơi ba, nơi bốn quả;

Vế đối của Nguyễn Xuân Ôn:

池中波動影籠令萬萬千千

Trì trung ba động ảnh lung linh vạn vạn thiên thiên.

Mặt ao sóng động hình lan toả, lung linh nghìn lớp, vạn sóng lan.

– Vế ra đối của Phan Thị Nhâm con gái Huấn đạo Phan Triển, người được gả cho Nguyễn Xuân Ôn.

Ông từng sáng tác câu đối để răn dạy con, khi con đã trưởng thành:

一片功名一片辱

十年事業十年憂

Nhất phiến công danh nhất phiến nhục;

Thập niên sự nghiệp thập niên ưu.

Một miếng công danh một miếng nhục;

Mười năm sự nghiệp mười năm ưu.

Tú Mỡ (1900-1976), tên thật là Hồ Trọng Hiếu, quê ở xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Sáng tác nhiều thơ và câu đối trào phúng. Có câu các cụ quan chức xã, huyện xưa hay bắt dân đóng góp tiền bày đặt tiệc cỗ linh đình để kiếm miếng ngon bồi bổ sức khỏe. Các miếng ngon có của lợn, của gà, đặc biệt món phao câu gà các cụ thích nhất được nêu lên đầu các món như một miếng ăn bẩn của các quan tham:

Lộc thánh thừa ơn, các cụ trong dân hỉ hả, phao câu, bồ dục cái thủ, cái tai;

Lệ làng đóng góp, đàn em dưới trướng lu bù, thịt mỡ, lòng dồi, miếng gan, miếng tiết.

Đào Tam Tỉnh

Ẩm Thực Món Gà Qua Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ / 2023

* Chó già, gà non: Đây là kinh nghiệm của nghệ thuật ẩm thực, nhắc cho biết nếu ăn thịt chó già sẽ không tanh, còn ăn thịt gà non (tơ) thì mới mềm.

* Ếch tháng ba, gà tháng bảy: Tháng ba (âm lịch) ếch rất béo (bởi vì côn trùng, sâu bọ phát triển mạnh vào mùa này). Tháng bảy (âm lịch) gà cũng béo tốt và thơm ngon vì được ăn nhiều thóc gạo sau vụ chiêm và côn trùng mùa hè.

* Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm: Gà cựa dài là gà già, thịt dai và rắn. Gà cựa ngắn là gà non, thịt mềm.

*Gà đen chân trắng mẹ mắng cũng mua; Gà trắng chân chì mua chi giống ấy: Theo kinh nghiệm, gà đen chân trắng dễ nuôi, chóng lớn, khả năng đề kháng bệnh rất tốt. Gà trắng mà chân đen thì lười kiếm ăn, chậm lớn và hay bị toi, không nên nuôi.

* Gà tơ xào với mướp già

Vợ hai mươi mốt, chồng đà sáu mươi

Ra đường chị giễu em cười

Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng

Đêm nằm tưởng cái gối bông

Giật mình gối phải râu chồng nằm bên

Hình ảnh “gà tơ” và “mướp già” có sức gợi tả lớn. Đây là cách sử dụng đồng nghĩa lâm thời rất độc đáo. “Gà tơ” lâm thời chỉ cô gái còn trẻ lại đẹp và đầy sức sống. Một cô gái như thế lại đi lấy “mướp già” – một ông chồng già nua bằng tuổi ông mình. Cô gái xót xa lại càng xót xa hơn khi “Ra đường, chị giễu, em cười”. Rõ ràng, chỉ với hai hình ảnh ẩn dụ “gái tơ” và “mướp già” tác giả dân gian đã bày tỏ cảm xúc của mình một cách mãnh liệt qua từng lời thơ, hình tượng thơ. Bài ca dao tuy chân thật, mộc mạc nhưng lại gợi cho người đọc biết bao cảm xúc.

*Hóc xương gà, sa cành khế: Xương gà thì cứng và sắc, khi bị hóc sẽ rất khóa lấy ra. Còn cành khế thì thì rất giòn và dễ gãy rất nguy hiểm đối với người trèo.

* Khách đến nhà, không gà thì vịt: Thể hiện sự hiếu khách trọng tình của chủ nhà.

* Mặt tái như gà cắt tiết: Loài gà nào mồng và mặt cũng đỏ lừ như gấc chín. Thế nhưng, khi bị cắt tiết xong thì mặt mồng đều tái mét, trông rất thảm hại. Câu thành ngữ này ám chỉ đến một nét mặt thất thần do quá sợ hãi. Người mà đã sợ đến mức này thì dù có khôn ngoan cách mấy cũng không che giấu được ai về sự sa sút tệ hại của mình.

* Tiền trao ra, gà bắt lấy: Việc mua bán, đổi chác luôn sòng phẳng. Tiền có trả xong, người ta mới bắt gà cho. Ý nghĩa câu này tương tự câu “tiền trao, cháo múc” .

* Con gà cục tác lá chanh;

Con lợn ụt ịt mua hành cho tôi;

Kim Trà

Con chó khóc đứng khóc ngồi;

Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng: Đây là câu ca dao về kinh nghiệm dạy về cách thức sử dụng gia vị trong nấu nướng cho đúng điệu để món ăn thêm ngon.

Con Heo Trong Ca Dao, Thành Ngữ, Tục Ngữ / 2023

Từ xa xưa con người đã biết hái lượm và săn bắt, rồi tiến tới biết trồng trọt và thuần hóa thú rừng để chăn nuôi. Trong những con vật ấy, phải kể đến con heo… Cho đến nay, hầu như gia đình nông dân nào cũng có nuôi một vài con heo. Chính vì vậy, heo đã sớm đi vào ca dao, thành ngữ, tục ngữ.

Heo trong tranh Đông Hồ. Ảnh tư liệu

Heo ở Việt Nam được nuôi rất nhiều loại tùy từng vùng miền khác nhau. Người miền Bắc gọi là lợn, với người Nam gọi là heo. Ngoài ra, tiếng Việt còn có nhiều từ để gọi các loại lợn (heo) khác nhau như: Heo nái (lợn cái nuôi để sinh sản lợn con); heo sề (lợn nái già); heo nọc (heo đực dùng để truyền giống); heo bột, heo sữa (lợn con đang bú mẹ); heo ỷ (một giống lợn của Việt Nam, có mõm ngắn, lưng võng và bụng sệ với lớp da màu đen hay xám); heo lòi (lợn rừng)…

Ca dao đã truyền khẩu lại nhiều câu thể hiện sự gắn bó của con heo với cuộc sống của người Việt: “Ta về ta rủ bạn ta/Nuôi lợn nuôi gà, cày cấy ta ăn”, “Lòng thương chị bán thịt heo/Hai vai gánh nặng còn đèo móc câu”. Hoặc để đánh giá người: “Đàn bà không biết nuôi heo đàn bà nhác. Đàn ông không biết buộc lạt, đàn ông hư”. Cũng có những câu ca dao khen tặng sự khéo léo, chăn nuôi quanh năm, hay làm ăn thành công của những gia đình nông dân: “Chăn nuôi vừa khéo vừa khôn/Quanh năm gà lợn xuất chuồng quanh năm”. Hay: “Giàu heo nái, lãi gà con”. Nuôi heo để đem bán là một sinh kế của giới nông dân nước ta. Lắm khi chẳng được gì nên từ đó cũng nẩy sinh ra những câu ca dao đùa cợt cảnh mấy bà gánh heo đi rồi lại gánh về: “Ba bà đi bán lợn con/Bán đi chẳng được lon ton chạy về/Ba bà đi bán lợn sề/Bán đi chẳng được chạy về lon ton”.

Về mặt ẩm thực, thịt heo được miêu tả: “Con gà cục tác lá chanh – Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi”. “Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi”! vừa kêu gọi sự chú ý khẩu vị dân tộc, vừa nhắc nhở chúng ta rằng khẩu vị dân tộc đó hình thành từ lâu đời được thời gian thử thách và được coi có cơ sở khoa học vững chắc. Ở miền Nam, ăn cỗ mà có đầu heo là coi như giàu có, ca dao miền Nam có câu: “Cồng cộc bắt cá dưới bàu/Cha mẹ mày giàu, đám giỗ đầu heo”. Mà chẳng riêng gì việc phúng viếng, cúng tế, cưới xin đến việc đãi đằng người ta cũng biếu nhau chân giò, nhất là cho sản phụ ăn để có sữa: “Ăn chân sau, cho nhau chân trước”, chân trước đẹp mắt chứ không lợi thịt như chân giò sau… Nói về văn hóa ẩm thực thịt heo, với những người sành ăn “mua thịt thì chọn miếng mông” ngon và béo có “đầu gà, má lợn”, “lợn giò, bò bắp”. Thái cho ngon mắt phải “thịt nạc dao phay, thịt mỡ dao bầu”. Và nhất định phải có gia vị thêm vào mới ngon “thịt đầy xanh, không hành không ngon”…

Về mặt châm biếm “chú ỉn” cũng góp mặt trong tiếng cười trí tuệ của người dân và đã vạch mặt cả anh thầy bói nói nước đôi, nói dựa: “Số cô không giàu thì nghèo/Ngày ba mươi tết thịt treo đầy nhà”. Hay: “Bói cho một quẻ trong nhà/ Chuồng heo ở dưới, chuồng gà ở trên”. Cũng có câu ca dao trách khéo sự thiên vị như: “Mèo theo thịt mỡ ồn ào/Cọp tha con lợn thì nào thấy chi!”.

Tỏ tình là cả một nghệ thuật, thông thường mấy chàng văn hoa bóng bẩy nhưng cũng có người mượn con heo làm phương tiện “cứu cánh”. Hãy nghe anh chàng ngố tìm cách làm quen, bày tỏ: “Cô kia đi chợ Hà Đông/Để anh kết nghĩa vợ chồng cùng đi/Anh đi chưa biết mua gì/Hay mua con lợn phòng khi cheo làng”. Ngày xưa con gái muốn lấy chồng phải nộp cheo cho làng. Cheo là lễ vật bao gồm ít nhất là một con heo quay và một số tiền mặt do làng ước định phải nộp cho làng để làng cấp cho giấy giá thú. Lắm khi cô gái tuy đẹp nhưng lại quá nghèo, chàng trai muốn cưới thì phải: “Giúp em một thúng xôi vò/Một con lợn béo, một vò rượu tăm/Giúp cho đôi chiếu em nằm/Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo/Giúp cho quan tám tiền cheo/Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau”. Vả lại, cha mẹ sinh con gái cũng chỉ rạng mặt nở mày khi con được nhà trai nộp cheo xin cưới theo đúng lễ nghi thủ tục: “Anh về thưa với mẹ cha, bắt lợn đi cưới, bắt gà đi cheo”. Nhưng cũng có những gia đình biết phải chăng: “Người ta thách lợn, thách gà/Nhà em thách cưới một nhà khoai lang”.

Đôi bạn trẻ phải hiểu rằng tình yêu không thể lúc nào cũng ở vào cao điểm, có lúc xuống đáy. Những lúc tình yêu xuống đến đáy thì người ta sẽ ra sao? Đây là kinh nghiệm cay đắng của các chị: “Còn duyên anh cưới ba heo/Hết duyên anh đánh ba hèo đuổi đi”. Riêng với những người ham tật đèo bồng đa thê, đôi khi lại bị lâm vào cảnh trớ trêu dở khóc dở cười: “Một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ ra chuồng heo mà nằm”.

Thành ngữ nói về cái sự vô ý, vô tứ, làm ăn thiếu tính toán hay nhất là mấy câu: “Lợn lành chữa làm lợn què”, “Lợn trong nhà thả ra mà đuổi”. Không có sự phê phán nào bình dân bình dị như thế mà có khả năng tạo hiệu quả lớn như thế!

Con heo gắn bó với con người hàng ngàn năm lịch sử. Con heo cái tên không mấy mĩ miều, đôi khi còn được gắn với những sự ngu dốt. Ấy vậy mà đã đi vào ca dao, tục ngữ thành ngữ khá đa dạng, làm sao kể hết.

Thanh Kim Trà

Ca Dao Và Thành Ngữ Liên Quan Tới Gà? / 2023

C à kê nghê ngỗng (cà và kê đều là gà, nghê và ngỗng đều là ngỗng). Cất lên một tiếng la-đà, / Cho chim nhớ tổ cho gà nhớ con. Cậu Cai nón dấu lông gà, / Cổ tay đeo nhẫn gọi là Cậu Cai. Chẳng tham nhà ngói bức bàn, / Trái duyên coi bẵng một gian chuồng gà. Chị kia bới tóc đuôi gà, / Nắm đuôi chị lại, hỏi nhà chị đâu? Chiều chiều quạ nói với diều, / Vườn cau kia rậm lại nhiều gà con. Chiều chiều con quạ lợp nhà, / Con cu chẻ củi, con gà quăng tranh. Chim gà cá lợn cành cau, / Mùa nào thức ấy giữ màu nhà quê. Cho hay tiên lại kiếm tiên, / Phượng hoàng chẳng chịu đứng chen đàn gà. Chó cậy gần nhà,/ gà cậy gần chuồng. Chó liền da, gà liền xương. Chó giữ nhà, gà gáy sáng. Chó giữ nhà, gà gáy trống canh. Chớ quen bắt chó mua dê, / Vui cùng hạc nội ham chi gà lồng. Chơi chó, chó liếm mặt, / Chơi gà, gà mổ mắt. Chớp đông nhay-nháy, / Gà gáy thì mưa. Chú vịt chú gà,/ Nhắc võng ông bà,/ Trèo lên núi chiều,/ Giặc thấy đã nhiều, / Chạy như con cút. Chuồng phân nhà, chẳng để gà người bới. Chữ viết như gà bới. Có chân mà chẳng có tay, / Có hai con mắt ăn mày dương gian (Đây là câu đố có nghĩa là “con gà”). Có duyên lấy được chồng già, / Ăn xôi bỏ cháy, ăn gà bỏ xương. Con cà con kê (cà và kê là gà). Con cóc nhảy xa, / Con gà ú u. Con công ăn lẫn với gà,/ Rồng kia rắn nọ coi đà sao nên! Con chim trên núi, con gà dưới suối, / Nó gáy giọng chầu đôi chầu ba. Con gà tốt mã về lông,/ Răng đen về thuốc, rượu nồng về men. Con gà con vịt cũng không,/ Bóng tre có mát, ngoài đồng không ai. Con gà cục tác lá chanh, / Con lợn ủn ỉn: “mua hành cho tôi.” Con cuốc kêu réo trên ngàn, / Gà rừng táo tác gọi con tha mồi. Con tông gà nòi (tông nghĩa là dòng họ). Cõng rắn cắn gà nhà. Cỗ xôi, con gà. Cơm gà cá gỏi.

Ếch tháng ba, gà tháng tám. / Em về thưa mẹ cùng cha, / Bắt lợn đi cưới bắt gà đi cheo (cheo nghĩa là lễ nộp tiền cho làng về việc cưới xin).

G

à ăn hơn công ăn. Gà chê thóc chẳng bới,/ người mới chê tiền. Gà cỏ quay mỏ về rừng. Gà con đuổi bắt diều hâu,/ Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông . Gà con ta để ta nuôi, / Đến mai ta gả con chó cụt đuôi cho mày. Gà cùng chuồng đá lẫn nhau. Gà cựa dài thì thịt rắn, / Gà cựa ngắn thì thịt mềm. Gà đẻ, gà lại cục tác. Gà đen chân trắng, mẹ mắng cũng mua, / Gà trắng chân chì, mua chi giống ấy. Gà gáy canh một hỏa tai, canh hai đạo tặc. Gà ghét nhau tiếng gáy. Gà khôn gà chẳng đá lang, / Gái khôn gái chẳng bỏ làng gái đi. Gà mái gáy gở (dở, xấu). Gà mọc lông măng. Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh, / Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân. Gà người gáy, gà ta sáng. Gà nhà lại bới bếp nhà. Gà què ăn quẩn cối xay. Gà què bị chó đuổi. Gà Tò, lợn Tó, vó Vạn Đồn. Gà trống (sống) còn giò. Gà trống nuôi con. Gà tức nhau tiếng gáy. Gà về bới nát cỏ sân, / Mèo buồn lại chạy kiếm ăn ngõ ngoài. Gái một con, gà non một lứa. Giả ơn cái cối cái chày, / Nửa đêm gà gáy có mày có tao. Giả ơn cái cọc bờ ao, / Nửa đêm gà gáy có tao có mày.

Giặc sợ, giặc chạy về nhà, / Trở ra gọi mẹ mổ gà khao quân.  Gió đưa cành trúc la đà,/ Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương. Giun dế ăn gà,/ Cá rô cưỡi ngựa. Gươm gẩy gà xác.

Hễ bảo quét sân, đánh chết ba gà, / Bảo đi quét nhà đánh chết ba chó. Hoài thóc ta cho gà người bới.

Kể gà, kể dê, kể ngỗng. Kể lể con cà con kê (gà). Khách đến nhà, chẳng gà thì gỏi. Khôn-ngoan đá đáp người ngoài, / Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.     Không tre mà có măng mọc, / Không trâu cày mà có tiếng hò reo. / Không chó có tiếng cắn theo, / Không gà có tiếng ra chiều gọi con (Đây là câu đố có nghĩa là “cái áo”). 

Lao xao gà gáy rạng ngày, / Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.  Lờ ngờ như gà mang hòm. 

Mã đề dương cước anh hùng tận, / Thân Dậu liên lai kiến thái bình. Máu gà thì tẩm xương gà, / Máu gà đem tẩm xương ta sao đành! Măng non nấu với gà đồng, / Chơi nhau một trận xem chồng về ai. Mặt tái như gà bị cắt tiết. Mâm xôi nuốt trẻ lên mười, / Con gà, be (chai) rượu nuốt người lao đao. Mẹ gà con vịt.  Mẹ gà con vịt chít chiu, / Mấy đời dì ghẻ thương yêu con chồng. Mẹ gà đi chợ, / Con ở lại nhà,/ Vịt lén tới nhà,/ Cắp gà con chạy,/ Gà về thấy vậy,/ Đuổi vịt khắp nơi,/ Mổ đánh tơi-bời,/ Vịt nhoi xuống nước. Mình rằng: “Mình muốn lấy ta,”/ Ta  đi xuống chợ mua gà xem chân. Mong chồng, chồng chẳng xuống cho, / Đến cơn chồng xuống, gà o o gáy dồn,/ Cha mẹ con gà kia sao mày gáy dồn, / Mày làm cho ta mất vía kinh-hồn về nỗi chồng con.  Một thương tóc bỏ đua gà, / Hai thương ăn nói mặn mà có duyên. Mỡ gà thì gió, mỡ chó thì mưa. Mùa hè đang nắng, cỏ gà trắng thời mưa. Muối kia đổ ruột con gà, Mẹ mình không xót bằng ta xót mình. Mười ba trăng lặn gà kêu,/ Mười bốn trăng lặn, gà đều gáy tan. Mướp non nấu với gà đồng.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Năm Dậu Tìm Gà Trong Câu Đối, Thành Ngữ, Tục Ngữ / 2023 trên website Altimofoundation.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!