Đề Xuất 2/2023 # Lời Phật Dạy Tu Tâm Dưỡng Thân # Top 7 Like | Altimofoundation.com

Đề Xuất 2/2023 # Lời Phật Dạy Tu Tâm Dưỡng Thân # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Lời Phật Dạy Tu Tâm Dưỡng Thân mới nhất trên website Altimofoundation.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tu tâm tất nhiên trước tiên phải tu đức, dưỡng thân trước tiên phải chế ngự được giận dữ. Học một điều này thôi có thể sinh trăm phúc, nghênh vạn lành.

Tu tâm tất nhiên trước tiên phải tu đức, dưỡng thân trước tiên phải chế ngự được giận dữ.

Sống ở trên đời, biết khiêm cung nhường nhịn, lễ độ thì mới có khí chất.

Có người nói, hỉ nộ ái ố là việc thường tình của con người, hàng ngày xảy đến biết bao nhiêu mâu thuẫn, có ai là không tự nhiên mà bộc phát sinh ra nóng giận cho được.

Vậy mới cần đến tu tâm, mới cần đến học chữ nhẫn.

Sinh khí tức giận bất luận theo dưỡng sinh hay dưỡng tâm đều trăm hại không có một lợi.

Người xưa có câu: “Nhẫn một chút gió êm sóng lặng, lùi một bước trời cao biển rộng”.

Một người nếu đạt tới trình độ khoan hòa rộng lượng, nhẫn nhục không biện, tự nhiên có thể rời xa thị phi, vô ưu vô lo, tiêu diêu tự tại trong nhân sinh.

Theo sách “Luận ngữ” có nói: “Nhỏ không đành lòng, việc lớn sẽ loạn”.

Dân gian thường nhắc nhở: “Nhẫn có thể sinh trăm phúc, cũng sinh trăm điều tốt lành”.

Trong cuộc đời này, việc khó khăn nhiều vô kể, việc đáng giận cũng là vô biên, không học được nhẫn thì ý phiền tâm loạn.

Khi tức giận thì người khó chịu đầu tiên chính là bản thân, không phải đối phương.

Thêm vào đó, tức giận là nguồn cơn của bệnh tật, giận do khí mà sinh ra, tức giận bất bình, lửa giận bừng bừng phấn chấn sẽ dẫn tới khí huyết khô cạn, hỏa khí vượng, thương can hại thận.

Bởi thế nên mới có câu: một chén cơm ăn không no bụng, một hơi khí giận có thể khiến người xanh cỏ.

Tức giận sinh bệnh, chưa hại được người đã thiệt đến thân.

Nhân sinh không tránh khỏi phiền, nhưng cố gắng tránh được bao nhiêu thì tránh bấy nhiêu, nhẫn được bao nhiêu thì nhẫn bấy nhiêu.

Nhẫn không phải là yếu hèn, trốn tránh, nhẫn là biết lấy lòng quân tử đối đãi kẻ tiểu nhân, biết phải trái đúng sai, biết tiến biết lui, không để mình lâm vào cảnh xáo xào, cự cãi, tranh giành vì chuyện không đáng.

Cảnh giới cao nhất của đời sống tinh thần chính là học được chữ nhẫn, biến binh đao thành hòa bình, biến mâu thuẫn thành hòa hợp. Đó mới đích thực là lối hành xử, nguyên tắc đạo lý đúng mực.

Trong cuộc sống thường ngày, vui vẻ an lạc tinh thần thoải mái là một mong ước lớn nhất của con người.

Áp Dụng Lời Phật Dạy Để Nuôi Dưỡng Con Cái Tốt Hơn

Cha mẹ không nhất thiết phải trở thành những Phật tử nhằm để sử dụng những giáo huấn và thực hành đơn giản nhưng rất hữu ích này. Nhưng cha mẹ có thể áp dụng một cách dễ dàng giáo huấn Đạo Phật để nuôi dưỡng con cái và với nhẫn nại và nổ lực, có những lúc nào đấy sẽ thấy hoa trái rộ nở.ỡng con cái dễ dàng hơn và tốt đẹp hơn.

Nuôi dưỡng con cái có thể khó khăn và thử thách.  Đối với những ông cha bà mẹ Phật tử lẫn không phải Phật tử, có thể áp dụng những lời dạy của Đức Phật để từ ái hơn, bi mẫn hơn, tỉnh thức hơn và yêu thương hơn.  Không chỉ thế, con cái học hỏi từ những tấm gương và nhìn sự áp dụng giáo lý Đạo Phật của cha mẹ là một trong những cách tốt nhất cho con trẻ học hỏi về Phật giáo.  Đây là một số ý kiến về việc sử dụng giáo huấn và thực hành của nhà Phật đến đời sống như những người cha mẹ.

ĐẠO PHẬT HƯỚNG DẪN SỰ DẠY DỖ TỪ BI

Thể hiện từ ái và bi mẫn là trung tâm của Đạo Phật và điều này cũng giải thích đến sự nuôi dưỡng con cái.  Từ bi có nghĩa là yêu thương con trẻ qua những nụ cười vui vẻ và những cơn thịnh nộ dễ sợ.  Như những ông cha bà mẹ bận rộn, làm việc quá nhiều và quá mệt nhọc, chúng ta thật sự thấy dễ dàng cáu kỉnh và la hét vào những đứa trẻ để vung vẩy một cơn thịnh nộ.

Tuy thế, nếu chúng ta, những ông cha bà mẹ, chỉ dành một phút để thở sâu, điềm tĩnh lại và phản ứng, cuộc đời với con trẻ sẽ hạnh phúc hơn và dễ dàng hơn.  Sarah Napthali trong Đạo Phật cho Những Ông Cha Bà Mẹ viết, “Chúng ta chỉ cần chính niệm về những gì có thể xãy đến từ quan niệm của những đứa con của chúng ta, đem từ bi vào trong sự đáp ứng của chúng ta, hơn là phản ứng một cách tự động và không suy nghĩ.”

HỌC HỎI NUÔI DƯỠNG CON CÁI MỘT CÁCH CHÍNH NIỆM NHƯ THẾ NÀO TỪ NHỮNG SỰ THỰC HÀNH PHẬT GIÁO

Chính niệm hay thể hiện sự tỉnh giác vào giây phút hiện tại là điều thứ bảy trong ‘Tám Con Đường Chính’ [1] và sự thực hành Phật giáo này có thể được áp dụng một cách dễ dàng đến việc nuôi dưỡng con cái.  Napthali định nghĩa chính niệm như, “biết những gì đang xãy ra tại thời điểm nó đang xãy ra.”  Nhiều lúc, cha mẹ trãi qua những  cử chỉ tình cảm và lề thói hằng ngày mà không thực sự hiện diện ngay trong giây phút hiện tại bây giờ.

Thể hiện chính niệm, có thể là chú tâm hơn đến những gì con cái đang thật sự cố gắng để nói và để thụ hưởng những niềm vui bé nhỏ và những chi tiết trong đời sống của một thiếu nhi và chuyển tải thông điệp rằng con cái thật sự đáng quý trọng và đáng yêu thương.  Hơn thế nữa, Napthali tin tưởng rằng thể hiện chính niệm có thể làm cho cha mẹ thông tuệ hơn và quan điểm trong sáng  hơn.

THỂ HIỆN NHƯ NHỮNG NGƯỜI CHA MẸ NHẪN NẠI, BAO DUNG VÀ THÔNG CẢM

 s

Những hành giả Đạo Phật thấu hiểu tầm quan trọng của sự nhẫn nại, bao dung và thông cảm.  Mỗi con người là một vị Phật và mỗi người phải tôn trọng và thừa nhận khái niệm vô song ấy.  Như những người cha mẹ, bằng việc thừa nhận cá tính của con cái, chúng ta có thể thật sự nuôi dưỡng những năng khiếu, cống hiến, và phẩm chất hồn nhiên cố hữu của con cái.

Thừa nhận tính đặc biệt vô song [Phật tính][2] của con cái cũng quan trọng khi đối phó với tính cạnh tranh, sự so sánh và những khía cạnh thông thường khác của đời sống con trẻ.

BIỂU HIỆN NHƯ NHỮNG ÔNG CHA BÀ MẸ PHẬT TỬ TRÁCH NHIỆM VÀ YÊU THƯƠNG

Đạo Phật dạy về từ ái yêu thương và thể hiện trách nhiệm cho những hành động của chính chúng ta.  Cha mẹ có thể áp dụng một cách dễ dàng điều này để mang đến cho con trẻ, những người đáng quý chuộng và tôn trọng người khác cùng chịu trách nhiệm cho những hành vi của họ.  Bằng việc thực hiện những gương mẫu tốt của trách nhiệm và thể hiện yêu thương đối với người khác, cha mẹ có thể giúp con cái tiếp nhận những giá trị quan trọng này.

Cha mẹ không nhất thiết phải trở thành những Phật tử nhằm để sử dụng những giáo huấn và thực hành đơn giản nhưng rất hữu ích này.  Nhưng cha mẹ có thể áp dụng một cách dễ dàng giáo huấn Đạo Phật để nuôi dưỡng con cái và với nhẫn nại và nổ lực, có những lúc nào đấy sẽ thấy hoa trái rộ nở.

Ứng Dụng Lời Phật Dạy Để Nuôi Dưỡng Con Cái Tốt Hơn

Làm cha mẹ là một nhiệm vụ khó khăn, trong đó việc nuôi dưỡng con cái là vấn đề quan trọng và cần thiết. Là người Phật tử, chúng ta hãy học hỏi để sử dụng một số giáo lý căn bản và nguyên lý của nhà Phật để làm cho việc nuôi dưỡng con cái dễ dàng hơn và tốt đẹp hơn.

Phật dạy: Pháp tu của người cư sĩ

Nuôi dưỡng con cái có thể khó khăn và thử thách. Đối với những ông cha bà mẹ Phật tử lẫn không phải Phật tử, có thể áp dụng những lời dạy của Đức Phật để từ ái hơn, bi mẫn hơn, tỉnh thức hơn và yêu thương hơn. Không chỉ thế, con cái học hỏi từ những tấm gương và nhìn sự áp dụng giáo lý Đạo Phật của cha mẹ là một trong những cách tốt nhất cho con trẻ học hỏi về Phật giáo. Đây là một số ý kiến về việc sử dụng giáo huấn và thực hành của nhà Phật đến đời sống như những người cha mẹ.

Là cha mẹ chúng ta nên dạy dỗ con cái dựa trên những triết lý của nhà Phật, tích cực dạy những điều thiện lành đối với trẻ.

Đạo Phật hướng dẫn sự dạy dỗ từ bi

Thể hiện từ ái và bi mẫn là trung tâm của Đạo Phật và điều này cũng giải thích đến sự nuôi dưỡng con cái. Từ bi có nghĩa là yêu thương con trẻ qua những nụ cười vui vẻ và những cơn thịnh nộ dễ sợ. Như những ông cha bà mẹ bận rộn, làm việc quá nhiều và quá mệt nhọc, chúng ta thật sự thấy dễ dàng cáu kỉnh và la hét vào những đứa trẻ để vung vẩy một cơn thịnh nộ.

Tuy thế, nếu chúng ta, những ông cha bà mẹ, chỉ dành một phút để thở sâu, điềm tĩnh lại và phản ứng, cuộc đời với con trẻ sẽ hạnh phúc hơn và dễ dàng hơn. Sarah Napthali trong Đạo Phật cho Những Ông Cha Bà Mẹ viết, “Chúng ta chỉ cần chính niệm về những gì có thể xãy đến từ quan niệm của những đứa con của chúng ta, đem từ bi vào trong sự đáp ứng của chúng ta, hơn là phản ứng một cách tự động và không suy nghĩ.”

Phật khuyên làm thiện, không làm ác

Nuôi dưỡng con cái một cách chính niệm

Chính niệm hay thể hiện sự tỉnh giác vào giây phút hiện tại là điều thứ bảy trong ‘Tám Con Đường Chính’ [1] và sự thực hành Phật giáo này có thể được áp dụng một cách dễ dàng đến việc nuôi dưỡng con cái. Napthali định nghĩa chính niệm như, “biết những gì đang xảy ra tại thời điểm nó đang xãy ra.” Nhiều lúc, cha mẹ trải qua những cử chỉ tình cảm và lề thói hằng ngày mà không thực sự hiện diện ngay trong giây phút hiện tại bây giờ.

Thể hiện chính niệm, có thể là chú tâm hơn đến những gì con cái đang thật sự cố gắng để nói và để thụ hưởng những niềm vui bé nhỏ và những chi tiết trong đời sống của một thiếu nhi và chuyển tải thông điệp rằng con cái thật sự đáng quý trọng và đáng yêu thương. Hơn thế nữa, Napthali tin tưởng rằng thể hiện chính niệm có thể làm cho cha mẹ thông tuệ hơn và quan điểm trong sáng hơn.

Cha mẹ có thể thông qua những bài kinh, lời dạy của Đức Phật để học hỏi cách làm cha làm mẹ đối với con cái.

Thể hiện như những người cha mẹ nhẫn nại, bao dung và thông cảm

Những hành giả Đạo Phật thấu hiểu tầm quan trọng của sự nhẫn nại, bao dung và thông cảm. Mỗi con người là một vị Phật và mỗi người phải tôn trọng và thừa nhận khái niệm vô song ấy. Như những người cha mẹ, bằng việc thừa nhận cá tính của con cái, chúng ta có thể thật sự nuôi dưỡng những năng khiếu, cống hiến, và phẩm chất hồn nhiên cố hữu của con cái.

Thừa nhận tính đặc biệt vô song – Phật tính [2] của con cái cũng quan trọng khi đối phó với tính cạnh tranh, sự so sánh và những khía cạnh thông thường khác của đời sống con trẻ.

Biểu hiện như những ông cha bà mẹ Phật tử trách nhiệm và yêu thương

Đạo Phật dạy về từ ái yêu thương và thể hiện trách nhiệm cho những hành động của chính chúng ta. Cha mẹ có thể áp dụng một cách dễ dàng điều này để mang đến cho con trẻ, những người đáng quý chuộng và tôn trọng người khác cùng chịu trách nhiệm cho những hành vi của họ. Bằng việc thực hiện những gương mẫu tốt của trách nhiệm và thể hiện yêu thương đối với người khác, cha mẹ có thể giúp con cái tiếp nhận những giá trị quan trọng này.

Phật dạy: Hãy cúng dường cha mẹ

Giáo dục đạo đức cho con theo lời Phật dạy là điều hết sức có ý nghĩa.

Cha mẹ không nhất thiết phải trở thành những Phật tử nhằm để sử dụng những giáo huấn và thực hành đơn giản nhưng rất hữu ích này. Nhưng cha mẹ có thể áp dụng một cách dễ dàng giáo huấn Đạo Phật để nuôi dưỡng con cái với nhẫn nại và nỗ lực, có những lúc nào đấy sẽ thấy hoa trái rộ nở.

[1] Bát chính đạo: 1- Chính ngữ, 2- Chính tư duy, 3- Chính ngữ 4- Chính nghiệp, 5- Chính mạng, 6- Chính tiến, 7- Chính niệm, 8- Chính định. [2] Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính.

Tuệ Uyển chuyển ngữ

Danh Ngôn Lời Vàng Phật Dạy Làm Chủ Bản Thân

1-Chúng ta hãy nói những lời chân thật để mọi người đừng hiểu lầm mà làm khổ đau cho nhau.

2-Chúng ta hãy nói những lời hoà thuận để mọi người đừng hận thù nhau mà cùng hợp tác với nhau với tinh thần tốt đạo đẹp đời.

3-Chúng ta hãy nói những lời cởi mở để mọi người có thể cảm thông và tha thứ nhau.

4-Chúng ta hãy nói những lời hàn gắn và xây dựng để mọi người xích lại gần nhau mà làm việc nghĩa.

5-Chúng ta hãy nói những lời an ủi và sẻ chia để mọi người vui sống bên nhau mà vượt qua phiền muộn khổ đau.

6-Chúng ta hãy nói những lời thương yêu bằng trái tim hiểu biết, để cuộc đời vơi bớt nỗi đau bất hạnh.

7-Chúng ta hãy nói những lời trong sáng với tấm lòng vị tha để ta và người cùng biết ơn và đền ơn mà sống tốt hơn.

8-Cửa Phật luôn rộng mở đón khách mười phương, rước phúc lộc cả nhà cùng an vui hạnh phúc.

9-Xuân thiền tỏa hương thơm ngát khắp nhân gian, rèn đạo đức tin nhân quả chuyển hóa si mê.

Không nên ỷ lại dù là Phật hay Bồ-tát

Trong sự tái sinh luân hồi, nhân quả tốt xấu, đúng sai, ân oán trong hiện tại sẽ tiếp tục đến đời sau, nên khi gặp duyên phù hợp nó liền tác động mạnh mẽ, khiến ta phải chấp nhận mà không biết nguyên nhân! Nhiều người không hiểu nên tin có đấng thần linh thượng đế, đủ quyền năng ban phước giáng họa?

Như có một ông lái đò đang chở khách qua sông, bỗng nhiên gặp sóng to gió lớn. Nhiều người quá lo sợ, nên cố gắng niệm Bồ-tát Quán Thế Âm để nhờ Ngài cứu cho tai qua nạn khỏi.

Ông chèo đò liền nói, tất cả quý vị hãy bình tĩnh ai ngồi chỗ nào, ngồi yên chỗ đó, rồi ông ta nói tiếp: “Đò khẳm mà chở thêm nhiều Phật và Bồ-tát quá, coi chừng đò chìm bà con ơi!”.

Đây là một câu chuyện ngụ ngôn có ẩn ý sâu sắc, nhằm phản ánh tâm lý yếu đuối, sợ hãi ỷ lại vào Phật và Bồ-tát của tất cả mọi người trên đò, khi bình thường thì không lo niệm Phật, Bồ-tát đến khi gặp nạn mới cầu cứu van xin.

Tâm lý đó luôn phổ biến khắp mọi nơi, lúc bình thường không ai nghĩ tới việc tu hành, đến khi có chuyện không may xảy ra, chúng ta vào chùa lễ lạy cầu khẩn van xin chư Phật, Bồ-tát giúp cho. Nếu được tai qua nạn khỏi thì vui vẻ hả hê cho rằng chư Phật, Bồ-tát linh ứng, còn không được thì phiền muộn khổ đau, oán trách trời đất, không dang tay cứu giúp mình.

Những người yếu đuối, thường có tâm lý ỷ lại hay thần thánh hóa chư Phật, Bồ-tát rồi sùng bái như những bậc siêu nhiên, quyền uy tối thượng, có khả năng ban phước giáng họa cho con người. Nên họ lúc nào cũng trông chờ mong các Ngài ra tay cứu giúp, mà họ không biết rằng chính mình là chủ nhân của bao điều họa phúc.

Nếu nói theo đúng nghĩa của nó, đạo Phật không phải là một tôn giáo mà là một phương pháp chuyển hóa, nhằm giúp mọi người phá tan si mê tối tăm, mờ mịt đang che lấp tâm Phật thanh tịnh sáng suốt của mình.

Trên thực tế cuộc đời, cách nay trên 2600 năm ở Ấn Độ có một con người như tất cả mọi người chúng ta, do quyết tâm tu hành buông xả mọi tham muốn chấp trước mà thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Các vị đệ tử của Phật cũng là con người, nương theo lời Phật dạy mà tu chứng nên gọi là Thánh Tăng, Thanh-văn Tăng, A-La-hán, Bích-chi-Phật cho đến chư vị Tổ sư về sau này đứng đầu các tông phái hay dòng truyền thừa là những nhân vật có thật trong lịch sử.

Còn các vị Phật khác cùng chư vị Bồ-tát, được Phật Thích Ca Mâu Ni nói trong các bản Kinh, không phải là những nhân vật lịch sử mà chúng ta có thể hiểu đó là hình tượng biểu trưng cho chơn tâm, Phật tính sáng suốt của con người hoặc tinh thần dấn thân đóng góp lợi ích cho cuộc đời.

Giả sử chiếc đò trong mẩu chuyện trên bị chìm, nhiều người ra cứu vớt hành khách thì những người đó ta gọi là người có lòng từ bi, là hiện thân của Bồ-tát Quán Thế Âm nên sẵn sàng ra tay cứu giúp quên cả thân mạng của mình.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ cho chúng ta cách thức tu hành nhằm chuyển hóa nỗi khổ niềm đau thành vô lượng trí tuệ, để thoát khỏi vòng luân hồi sống chết. Tu được hay không là do ta quyết định, ta tu tốt thì giảm bớt tham, sân, mê muội nếu không chịu tu khi quả xấu đến, lúc này dù có Phật, Bồ-tát hiện tiền cũng không cứu được ta, vì ai tu nấy chứng.

Phật là người chỉ đường còn đi hay không là do ta, ai làm nấy chịu, ai tu nấy chứng trong cuộc luân hồi sinh tử này. Phật không thể ban phước giáng họa cho chúng ta, vì phước hay họa là do mình tạo ra thì chính mình phải chịu nhận lấy, khi hội đủ nhân duyên.

Một số người không hiểu nên thần thánh hóa mọi vấn đề, chỉ sùng bái cầu khẩn van xin chư Phật, Bồ-tát một cách thái quá, nên ngày càng đánh mất chính mình mà rơi vào mê tín dị đoan. Khi nghe lời Phật dạy chúng ta phải suy tư, quán xét rồi áp dụng tu hành, con người ta thường hay ỷ lại, nương nhờ kẻ khác mà tự đánh mất chính mình.

Trước những cám dỗ vật chất, con người tham muốn quá đáng nên lúc nào cũng đòi hỏi phải thỏa mãn dục vọng. Chính những tham muốn đó trói buộc ta, khiến mình căng thẳng, mệt mỏi, bất an, thậm chí dẫn đến tuyệt vọng.

Thế gian này luôn nằm trong vòng lẩn quẩn của đối đãi, nếu chúng ta không thể chấp nhận cuộc sống có những cái xấu, tốt luôn chi phối chúng ta hằng ngày. Người giàu có cái khổ của người giàu, người nghèo cũng có cái khổ của kẻ nghèo. Chúng ta hãy xem xét, suy tư, phân tích mọi vấn đề, nhìn thẳng vào những phiền muộn đang ẩn náu sâu thẳm trong tâm tư mình.

Với đời sống vật chất của những người khá giả, phần nhiều không khổ vì nghèo đói mà khổ vì… tham, sân, si lừng lẫy. Chính vì vậy nếu chúng ta không có vốn liếng, tư lương về mặt tinh thần, tâm linh để làm điểm tựa, để quay về chính mình, thì ta sẽ dễ dàng bị những cám dỗ vật chất cuốn trôi.

Làm người ai cũng có ham muốn, nhưng chúng ta phải biết nhu cầu nào cần thiết với hoàn cảnh sống thực tiễn của mình. Nếu ta tham muốn mà nằm ngoài khả năng của mình thì coi chừng tổn thất nặng nề. Chúng ta phải biết tiết chế giảm bớt ham muốn của mình là muốn ít biết đủ, nhờ vậy ta ít lo sợ, sống an ổn nhẹ nhàng mà không rơi vào thất vọng khổ đau.

Đạo Phật nhìn mọi hiện tượng sự vật không có một thực thể riêng biệt, mà do nhân duyên hòa hợp, đủ duyên thì hình thành, hết duyên thì tan rã. Vạn vật do duyên hợp tạo thành nên sự hiện hữu rất mong manh, có đó rồi mất đó…Con người vẫn mong muốn có một đời sống an lạc, hạnh phúc mà không chịu gieo trồng phước đức, thành ra phải chịu khổ đau chi phối. Thường thì chúng ta khổ, là do mong muốn cái gì cũng bền chắc và lâu dài.

Chúng ta mong muốn được hạnh phúc lâu dài trong tình yêu, rồi danh vọng, tiền tài, sự nghiệp…sẽ đến với ta mãi mãi nên khi có sự đổi thay, mất mát chúng ta cảm thấy tiếc nuối và đau khổ.

Con người trong xã hội cũng vậy, do sự huân tập khác nhau nên có hình tướng, tâm tính bất đồng nhưng trong mỗi người đều có “tính biết sáng suốt”, vì máu của ai cũng đỏ, nước mắt của ai cũng có vị mặn, ai cũng mong muốn hạnh phúc và sợ khổ đau.

Nếu dựa vào cuộc sống vật chất thì không ai bằng lòng với hiện tại, còn dựa vào đời sống tâm linh thì chúng ta sẽ bằng lòng với những gì mình đang có. Tuy nhiên, sự bằng lòng đó không có nghĩa tiêu cực, không làm gì hết mà chúng ta vẫn tích cực để tăng trưởng an sinh đời sống, nhưng biết cách làm chủ bản thân.

Cho nên ai chờ đến lúc hấp hối rồi mới niệm Phật, cầu xin Đức Phật A Di Đà đến tiếp độ về cõi cực lạc thì đó là một quan niệm rất sai lầm. Đừng đợi đến khi khát nước mới đào giếng. Nếu trong đời sống hiện tại này lòng ta đầy dẫy tham lam, sân hận mà mong mỏi khi chết Phật A Di Đà sẽ đến rước, sẽ rờ đầu thọ ký, điều này không thể có được. Chúng ta cũng đừng nên chờ việc làm ăn tốt đẹp, có đầy đủ tiền bạc nhà cửa rồi lúc đó mới chịu tu, thì khó mà thực hiện được hoài bão của mình.

Chúng ta tu để làm gì? Để được giảm bớt phiền muộn khổ đau và cuối cùng là giác ngộ giải thoát hoàn toàn những ý nghĩ, lời nói và hành động làm tổn hại người khác. Khi chúng ta cởi bỏ được tự ngã độc tôn, sống với tâm không chấp trước, lột bỏ mọi phân biệt thành kiến thì chúng ta sẽ tắm mát trong dòng sông hạnh phúc, mà an nhiên tự tại trong mọi hoàn cảnh.

Cũng như những người gặp tai nạn hoặc việc bất trắc trong cuộc đời, thường hay cầu nguyện Bồ tát Quán Thế Âm cứu độ, nhưng tất cả đều được hay người được, người không? Như vậy, Bồ tát thương người này mà ghét bỏ người kia hay sao? Hình như Bồ-tát còn thiên vị nên trọng kẻ này, khinh người kia. Nếu ai nghĩ như thế và nói như vậy là oan cho Bồ-tát quá chừng!

Đa số chúng ta vì không tin sâu nhân quả, không tin chính mình, nên khi gặp tai nạn, gặp khó khăn, chúng ta liền xin Phật, Bồ-tát gia hộ hay cứu độ cho mình mau tai qua nạn khỏi. Ta hay có bệnh ỷ lại và nhờ vã, cầu cạnh vào Phật, Bồ-tát, nên lúc nào cũng cầu xin Phật, Bồ-tát an ủi, sẻ chia, cứu giúp hay nâng đỡ cho mình hết khổ mà được an vui hạnh phúc. Nhưng trên thực tế, việc cầu xin đó có người được, có người không. Là tại sao? Vì nhân duyên đã chín mùi, dù mình không muốn nhưng nó vẫn đến vì nhân quả công bằng mà.

Như vậy mà đa số Phật tử chúng ta phần đông đi chùa cầu xin nhiều hơn là gieo nhân để gặt quả, thậm chí có người vuốt bụi Phật để trét vào đầu và còn nói rằng, làm như vậy Phật sẽ ban ơn, gia hộ cho mà gặp được điều may mắn tốt đẹp.

Bồ-tát Quán Thế Âm là biểu tượng của lòng từ bi, thương yêu bình đẳng, sẵn sàng giúp đỡ sẻ chia những nỗi khổ niềm đau hay đem niềm vui đến với tất cả chúng sinh. Giả sử chiếc đò trong mẩu chuyện ở trên bị chìm, nhiều người ra tay cứu vớt hành khách thì những người đó là hiện thân của Bồ-tát Quán Thế Âm, là biểu hiện của lòng từ bi sẵn sàng cứu giúp mọi người khi có hoạn nạn. Bồ-tát Phổ Hiền là biểu tượng của hạnh nguyện dấn thân đóng góp, Bồ-tát Văn Thù là biểu trưng người có trí tuệ sáng suốt nên không bị phiền não tham sân si làm nhiễm ô v.v… Chư vị Bồ-tát dấn thân cứu đời không biết mệt mỏi, nhàm chán.

Đức Phật A-Di-Đà là tượng trưng cho vô lượng thọ, vô lượng quang, có nghĩa là chúng ta khi sống được với Phật tính sáng suốt của mình thì không còn luân hồi sinh tử nữa nên gọi là vô lượng thọ. Và có trí tuệ đầy đủ nên không bị các pháp ô nhiễm của thế gian chi phối.

Do một số người thần thánh hóa, sùng bái chư Phật, Bồ-tát thái quá, xem các Ngài như là những vị thần linh ban phước giáng họa, nên nhiều người đã đặt niềm tin một cách sai lệch. Thay vì chúng ta đặt niềm tin vào giáo pháp, vào nhân quả, tự mình làm chủ bản thân, làm chủ vận mệnh theo tinh thần Phật dạy: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chánh pháp”.

Do chúng ta không hiểu đúng lời Phật dạy, nên ta thiếu tự tin, ỷ lại, lơ là, biếng nhác bởi tham lam quá đáng mà đánh mất chính mình. Trong mỗi chúng ta đều có Phật tính sáng suốt, nương nơi mắt thì thấy, nơi tai thì nghe, mũi lưỡi thân ý cũng lại như thế.

Ai hay cầu xin là người có tâm ỷ lại và quá yếu đuối vì không tin sâu nhân quả, không tin tưởng chính mình có đủ năng lực làm được những gì mình mong muốn. Người có tâm niệm ỷ lại và nhờ vào tha lực của người khác, khó bao giờ thành công được trọn vẹn trên đường đời vì thiếu ý chí, nghị lực, không tin sâu nhân quả và tự tin chính mình.

Người tu cũng thế, nếu hay cầu xin nhiều thì dễ mất tín tâm vì đâu phải việc gì cũng xin được dễ dàng, nếu xin không được thì nói Phật, Bồ-tát không linh hiển, nên bỏ không tới chùa nữa. Còn người Phật tử chân chính thì phải biết tìm cách chuyển hóa, chừa bỏ, thay đổi những thói quen tật xấu có tính cách hại người, hại vật, chớ không nên một lòng cầu khẩn, van xin.

Hầu như ai cũng có bệnh tham lam dù ít hay nhiều. Phật dạy lấy thuốc để trị bệnh, mà chúng ta chỉ cầm toa thuốc đọc hoài mà không dám mua thuốc uống. Phật dạy chúng ta học hiểu để ứng dụng tu tập, hành trì, chuyển hóa, chớ không phải cầu Phật ban cho, nhưng đa số quí Phật tử cứ xin Phật hoài, tu như vậy biết chừng nào mới chuyển hóa hết phiền não tham, sân, si. Bởi ta tham quá nhiều thứ, nên xin lâu ngày thấy không hiệu nghiệm thì muốn bỏ Phật, bỏ chùa, vì Phật không giúp gì được cho mình.

Nếu chúng ta xin không được thì tu theo Phật, Bồ-tát có được lợi ích gì? Chúng ta học hiểu lời Phật dạy để áp dụng vào trong đời sống hằng ngày, nhằm trị tâm bệnh tham lam, sân giận, si mê, để thành vô lượng trí tuệ từ bi, tu như vậy tự nhiên tâm chúng ta lần hồi được trong sạch. Khi tâm đã trong sạch rồi thì mọi bệnh tật tham, sân, si, ganh ghét, tật đố, nóng giận, oán thù từ từ theo đó mà hết.

Muốn giàu sang, nhiều của cải, ta phải biết bố thí, cúng dường, giúp đỡ, sẻ chia với lòng thành tâm cung kính của mình; ngoài ra, chúng ta còn phải siêng năng, tinh cần làm việc, tiết kiệm và không tiêu xài hoang phí. Đó là chúng ta biết tu bằng cách dùng thuốc của Phật để trị tâm bệnh cho mình.

Nhiều người cho rằng cầu nguyện là vô ích, không có tác dụng lợi ích thiết thực; mà làm sao có tác dụng được, khi chúng ta lạy lục, cầu xin trước những pho tượng bằng đất, gỗ, đá và xi măng? Tôn tượng Phật, Bồ-tát chắc chắn không phải là ông Phật thực, đó chỉ là biểu tượng qua hình ảnh, để ta nhớ biết công hạnh của các Ngài mà cố gắng bắt chước, thực hành làm theo. Khi ta nghiêng mình cúi đầu một cách cung kính tôn trọng lá cờ, không phải là ta tôn trọng miếng vải mà chính là ý nghĩa lá cờ tượng trưng cho Tổ quốc qua tinh thần dân tộc Việt Nam.

Cũng vậy, ta thờ Phật, lạy Phật nhằm mục đích không phải để cầu xin, mà ta lễ lạy để nhớ công ơn cao cả của Ngài, nhờ vậy mà ta biết được điều tốt, lẽ xấu trong cuộc đời. Quí Phật tử xét thật kỹ xem từ trước cho đến giờ, chúng ta đi chùa là vì cầu xin hay để tu học theo Phật và Bồ-tát?

Chúng ta đến chùa đôi khi chỉ cúng chút ít hoa quả hoặc nải chuối, ốp nhang; khi cúng rồi quí vị cầu đủ thứ hết, nào là “Phật gia hộ cho gia đình con bình yên, hạnh phúc, được làm ăn thịnh vượng, sung túc, đủ đầy, phát tài, phát lộc, trong gia quyến đều gặp may mắn, con cháu biết hiếu thảo với ông bà cha mẹ… ; như thế, chúng ta cầu xin hay là tu tập để chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau?

Thông thường em bé ỷ lại vào sự bao bọc của cha mẹ, đứa bé con nhà giàu khi bị té nó sẽ khóc thét lên chờ gia đình người thân đến vỗ về năn nĩ, nó mới hết khóc. Ngược lại, đứa bé con nhà nghèo khi bị té, nó nhìn qua lại không thấy ai liền đứng dậy đi. Những người bất hạnh thường mong chờ ỷ lại vào những nhà mạnh thường quân, nhà hảo tâm nên họ khó có tâm cầu tiến, tin sâu nhân quả.

Phụ nữ thường ỷ lại vào đàn ông, chồng ỷ lại vào vợ dẫn đến biếng nhác ăn không ngồi rồi tụ ba tụ năm tán dốc, cờ bạc rượu chè làm cho gia đình người thân khổ đau.

Lúc chúng tôi còn ở ngoài đời, khi đó đang ở tù tôi có quen một người và có đến nhà anh ta chơi một vài lần. Cô vợ bán thịt heo ngoài chợ, nuôi một chồng và hai đứa con, anh chồng không làm gì hết mà lúc nào cũng chè chén say sưa, tiền thì bà xã cung cấp. Ăn nhậu riết rồi sinh tệ về nhà chửi bới đánh đập vợ con, sau nhiều lần chịu không nổi bà vợ làm đơn cho ổng ở tù ba tháng để cải tạo. Khi đó chúng tôi làm tù trưởng nên có điều kiện cùng ông ta về nhà nhậu chơi, mới biết hoàn cảnh thật như thế.

Rõ ràng những người đàn ông như thế, họ lại dựa vào sự làm ăn của vợ mà bê tha thọ hưởng những thú vui thấp hèn, cuối cùng dẫn đến tù tội. Sự ỷ lại của người đàn ông trên đáng bị phê phán, vì tâm lý ỷ lại lười lao động và để vợ nuôi. Ngược lại, người phụ nữ có thể chịu đựng cả đời với tính dựa dẫm đáng yêu của đàn ông, nhưng họ sẽ coi thường những gã chỉ biết sống dựa vào “sức vợ”. Đàn ông mà sống dưới vạt áo đàn bà coi sau được, vậy mà thế gian này vẫn có những con người như thế.

Các em học sinh ỷ lại vào thầy cô giáo nên không cần mẫn siêng năng chăm chỉ học hành, con cái ỷ lại vào cha mẹ. Hầu như tất cả những người hay ỷ lại, ít thành công trên đường đời vì tâm lý làm biếng dựa dẫm vào người khác.

Tu hành cũng lại như thế, chúng ta phải tin mình là chủ nhân của bao điều họa phúc, do đó ta không ỷ lại vào Phật, Bồ-tát mà ráng cố gắng buông xả những gì xấu xa tội lỗi, bằng trái tim thương yêu và hiểu biết để chuyển hóa phiền muộn khổ đau, thành an vui hạnh phúc.

Như vậy, chúng ta đi chùa cầu xin Phật cho điều này, cho việc kia, cho đủ thứ hết. Nhưng rốt cuộc rồi tất cả những gì chúng ta xin có được như ý không? Chúng ta mỗi người phải tự nghiệm xét lại những gì chúng ta xin đó, nếu được hết thì chắc rằng quí Phật tử đều được an vui, hạnh phúc, đâu có ai đau khổ phải không? Nhưng thực tế, trong cuộc đời khổ đau nhiều hơn hạnh phúc. Nếu Phật có khả năng ban phước cho ta được thì Phật đâu có khuyên ta siêng năng tinh tấn tu hành để làm gì?

Nói tóm lại, chúng ta đi chùa là để tu theo Phật nhằm chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau, thành an vui, hạnh phúc và tin rằng mình làm lành được hưởng phước, mình làm ác chịu khổ đau, chớ Phật, Bồ-tát không thể ban cho ta được. Phật chỉ là người thầy dẫn đường, chỉ cho ta biết được con đường dẫn đến bình yên hạnh phúc trọn vẹn, còn làm được hay không là do ta quyết định.

Thích Đạt Ma Phổ Giác

Bạn đang đọc nội dung bài viết Lời Phật Dạy Tu Tâm Dưỡng Thân trên website Altimofoundation.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!