Đề Xuất 2/2023 # Dân Ca Dân Nhạc Vn – Hát Ru Con Miền Nam # Top 4 Like | Altimofoundation.com

Đề Xuất 2/2023 # Dân Ca Dân Nhạc Vn – Hát Ru Con Miền Nam # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Dân Ca Dân Nhạc Vn – Hát Ru Con Miền Nam mới nhất trên website Altimofoundation.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chào các bạn,

Phần giới thiệu của mình trong Dân ca Dân nhạc Việt Nam hôm nay với các bạn là thể loại Hát Ru Con Miền Nam (còn được gọi là Hát Đưa Em).

Giáo sư Trần Văn Khê cho rằng, hát ru không chỉ khiến trẻ dễ ngủ mà còn dạy trẻ biết yêu gia đình, yêu quê hương đất nước. Bởi lời của hát ru là lời hay ý đẹp của ông cha ta đúc kết từ muôn đời. Ngày trước, trai gái vùng nông thôn thường hát đối đáp rất nhuần nhuyễn cũng vì họ được nuôi dưỡng từ kho văn học – nghệ thuật quý giá đó.

Hát Ru Con là một âm điệu nhẹ nhàng ngân nga đầy tình cảm của người mẹ (hoặc Bà, hoặc Chị) dành cho con từ thuở sơ sinh. Tình yêu thương của mẹ và những lời ru thường là dấu ấn theo bước chân con đến khi khôn lớn cả đời. Thế nên đa số người con không ít nhiều thường khắc cốt ghi tâm những bài hát ru của mẹ.

Niềm xúc cảm trong thâm tình mẩu tử trong lời hát ru không những vọng vang thấm đậm từng chữ, từng câu, mà còn là những âm điệu theo từng cung bậc, luyến láy của làn hơi, diễn tả thiết tha một tình cảm thiêng liêng máu thịt mầu nhiệm được ban cho từ đấng tạo hóa.

Ầu ơ… Ví dầu cầu ván đóng đinh… Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi… Ầu ơ… Khó đi mẹ dắt con đi… Con đi trường học, mẹ đi trường đời.

Ầu ơ… Gió đưa bụi chuối sau hè… Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ… Ầu ơ… Con thơ tay ẵm tay bồng… Tay dắt mẹ chồng, đầu đội thúng bông.

Ầu ơ… Gió đưa bông cải về trời… Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.

Ầu ơ… Nhạn về biển Bắc nhạn ôi… Bao thuở nhạn hồi kẻo én đợi trông.

Ầu ơ… Mấy đời bánh đúc có xương… Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng.

Ầu ơ… Ví dầu tình bậu muốn thôi… Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.

Câu ru về lòng hiếu đạo:

Ầu ơ… Chim đa đa đậu nhánh cây đa… Chồng gần sao không lậy lại lậy chồng xa… Ầu ơ… mai sau cha yếu mẹ già… Chén cơm đôi đủa bộ kỷ trà ai dâng.

Ầu ơ… Công cha như núi Thái Sơn… Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra… Ầu ơ… Một lòng thờ mẹ kính cha… Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Ầu ơ… Cây khô đâu dễ mọc chồi… Mẹ già đâu dễ sống đời với con.

Ầu ơ… Má ơi đừng đánh con đau… Để con bắt ốc hái rau má nhờ.

Ầu ơ… Chiều chiều ra đứng ngõ sau… Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

Ầu ơ… Chiều chiều chim vịt kêu chiều… Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.

Câu ru về đồng quê sông rẫy:

Ầu ơ… Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng… Về sông ăn cá về đồng ăn cua.

Bài hát ru con kinh điển của người phụ nữ miền Nam – Lý Bốn Mùa:

Gió mùa thu.. mẹ ru mà con ngủ.. Năm canh chày.. năm canh chày.. thức đủ vừa năm.. Hỡi chàng chàng ơi.. hỡi người người ơi.. Em nhớ tới chàng.. em nhớ tới chàng.. Hãy nín nín đi con Hãy ngủ ngủ đi con Con hời mà con hỡi.. con hỡi con hời.. Con hỡi con hời.. con hỡi con..

Chí làm trai.. say mê mà giữ nước.. Em nỡ dạ nào.. em nỡ dạ nào.. trách mối tình ai.. Hỡi chàng chàng ơi.. hỡi người người ơi.. Em nhớ tới chàng.. em nhớ tới chàng.. Hãy nín nín đi con Hãy ngủ ngủ đi con Con hời mà con hỡi.. con hỡi con hời.. Con hỡi con hời.. con hỡi con..

Đến mùa xuân.. trong cơn mà gió thắm.. Cha con về.. là cha con về.. con nắm tay cha.. Hỡi người người ơi.. hỡi chàng chàng ơi.. Em nhớ tới chàng.. em nhớ tới chàng.. Hãy nín nín đi con Hãy ngủ ngủ đi con Con hời con hỡi.. con hỡi con hời.. Con hỡi con hời.. con hỡi con.

Thâm tình mẫu tử xuyên qua những bài hát ru truyền thống đã được nhà thơ Nguyễn Duy nói lên đầy đủ ý nghĩa nhất qua câu thơ “Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn” của ông.

Đồng thời mình có thêm 4 clips và 1 link tổng thể các điệu “Hát Ru Con Nam Bộ” để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn cùng ôn lại “Hát Ru Con” trong Dân ca Miền Nam…

Túy Phượng

HÁT RU – ĐỒNG DAO

(Bùi Trọng Hiền – Kính tặng MẸ tôi, Bu tôi cùng những người mẹ Việt Nam khác!)

Trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam, Hát Ru và Đồng dao được xem như hai thể loại âm nhạc dân gian dành riêng cho trẻ nhỏ, gắn bó với giai đoạn đầu của một chu kỳ đời người. Trên thế giới, Hát Ru và Đồng dao dường như là những thể loại không thể thiếu ở hầu khắp các dân tộc. Trong đó, Hát Ru là làn điệu dành cho phụ nữ, gắn liền với hình ảnh người mẹ. Bởi lẽ bên cạnh công việc nội trợ bếp núc, trông giữ, chăm sóc trẻ được xem như chức năng thiên phú của phái nữ. Mẹ ru con, mẹ bận thì bà ru cháu hay chị ru em… Một đôi khi đàn ông trong nhà cũng tham gia đỡ đần, thay đàn bà ru trẻ ngủ. Nhìn chung, Hát Ru với tính thực hành xã hội chủ yếu là dỗ đứa trẻ ngủ ngoan để người ru còn quay sang làm việc khác, hoặc giả cùng chìm vào giấc ngủ với đứa bé. Hát Ru để ngủ là vậy! Dân gian có câu:

Đố ai đánh võng không đưa Ru em không hát, anh chừa rượu tăm…

Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, người Kinh vốn là tộc người chiếm đa số và cũng là nhóm đại diện với nhiều điệu Hát Ru hơn các tộc anh em khác. Đi dọc chiều dài đất nước, sẽ thấy có tới 3 làn điệu Hát Ru ứng với 3 miền Bắc- Trung- Nam, in đậm dấu ấn thổ ngữ mỗi vùng. Đó là Hát Ru Bắc Bộ, Hát Ru Trung Bộ và Hát Ru Nam Bộ. Ở đây, do dấu giọng vùng miền chi phối, nên đã hình thành những cấu trúc giai điệu khác nhau, phù hợp với thanh điệu cũng như thẩm mỹ âm điệu từng nơi. Chẳng hạn quan sát cùng một câu thơ, sẽ thấy 3 làn điệu Hát Ru 3 miền khác nhau như thế nào[1]:

Hát ru Bắc Bộ

Hát ru Trung Bộ

Hát ru Nam Bộ

Nhìn chung, dù đường tuyến giai điệu mỗi miền một khác, nhưng cả 3 làn điệu Hát Ru Bắc- Trung- Nam đều có cấu trúc đồng dạng: MỞ- TIẾP DIỄN- ĐÓNG. Trong đó, Tiếp diễn chính là phần “gan ruột” của làn điệu, nơi người hát vận thơ thành lời ca để hát Ru.

Cũng như nhiều làn điệu âm nhạc dân gian nói chung, Hát Ru dùng thơ lục bát- một thể thơ dễ làm, dễ thuộc để đặt lời ca. Bên cạnh đó, người ta cũng có thể dùng thơ lục bát dạng biến thể hay đôi khi dùng cả song thất lục bát. Nhưng những trường hợp đó không phổ biến vì được coi là khó hát. Bởi việc thêm từ hay đổi cấu trúc nhịp thơ ở mỗi vế sẽ gây nên sự xáo trộn nhất định. Thế nên người hát phải đủ tài ứng vận để đảm bảo đúng âm điệu của đường tuyến cơ bản.

Ở đây, một cặp lục bát được xem như đơn vị tối thiểu của phần Tiếp diễn- tức phần lời ca của làn điệu Hát Ru. Có nghĩa nếu ít thì chỉ hát một cặp thơ cũng coi như trọn vẹn làn điệu, còn nhiều thì không giới hạn. Như thế, Hát Ru thuộc dạng làn điệu có cấu trúc co giãn không hạn định. Bài Hát Ru kéo dài bao lâu, hoàn toàn tùy thuộc vào dung lượng, vốn liếng thơ ca của người hát, đồng thời phụ thuộc vào “kết quả” của mục đích thực hành xã hội- tức đứa trẻ được ru đã… ngủ hay chưa!?

Đặc tính co giãn không hạn định đó không chỉ có ở Hát Ru, mà còn thấy ở nhiều thể loại âm nhạc dân gian khác như Hát Ví, Hát Trống quân, Hát Cò lả, Hát Ghẹo, Hát Dặm, các giọng ngâm cũng như các thể loại hò trên cạn, dưới sông nước… Với khả năng chuyển tải bất cứ một dung lượng thơ ca nào, đó là một cấu trúc mang tính thực hành cao, rất phù hợp với mục đích sử dụng làn điệu trong đời sống cũng như trong sinh hoạt âm nhạc của người dân lao động.

Bao bọc trước sau lời ca Hát Ru là phần Mở và phần Đóng. Đấy là những câu đưa hơi mang dấu ấn âm điệu vùng miền rất đặc trưng. Hát Ru Bắc Bộ và Trung Bộ thì đưa hơi là “À ơi!” hay “Ạ ơi!”. Riêng Hát Ru Nam Bộ thì đưa hơi bằng tiếng “Ầu ơ!”. Chính vì vậy, người dân Nam Bộ còn gọi làn điệu này là Hát Ầu ơ [2].

Tiếng đưa hơi của Hát ru Nam Bộ

Tiếng đưa hơi của Hát ru Trung Bộ

Riêng tiếng đưa hơi của Hát Ru Bắc Bộ có nhiều kiểu dạng. Dạng đơn giản:

Dạng phức tạp

Tiếng đưa hơi “À ơi!” mở đầu cho làn điệu để bắt vào câu lục. Khi muốn chia tách phần lời ca (hoặc giả do chưa kịp nghĩ ra lời thơ tiếp theo), người hát cũng dùng chính tiếng đưa hơi đó tiếp ngay sau câu bát để gối đầu, dẫn dụ sang phần lời ca tiếp theo. Khi đó, tiếng đưa hơi có giá trị như một đoạn chen, phân ngắt làn điệu liên tục dạng Mở- Tiếp diễn- Mở- Tiếp diễn- Mở- Tiếp diễn… Như vừa trình bày, phần Tiếp diễn dài hay ngắn (có nghĩa được ứng vận một hay nhiều cặp thơ liên tiếp) là hoàn toàn tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của người hát. Theo đó, một bài thơ dài có thể được phân ngắt theo nhiều cách khác nhau bằng những đoạn chen đưa hơi “À ơi!”. Khi kết thúc làn điệu, nét đưa hơi đó lại được xem là phần Đóng.

Ở đây, cần thấy rằng, bên cạnh việc dẫn dụ đóng- mở phần lời ca, tiếng đưa hơi còn có vai trò khá quan trọng trong việc gây ngủ. Lặp đi lặp lại trong một nhịp độ chậm, tiếng “À ơi!” như một dấu nhấn âm điệu có tính chu kỳ, sẽ gây tác dụng nhất định trong việc tạo cảm giác thư giãn tinh thần, đưa đứa trẻ vào giấc ngủ êm đềm. Nhiều người lớn khi nghe hát Ru cũng không tránh khỏi cơn buồn ngủ díp mắt, như một dạng ám thị bằng thanh âm, kể cả khi nghe những giọng hát Ru hay đến như thế nào! Hơn thế nữa, chính bản thân người hát Ru cũng khó thoát khỏi cảm giác đó mỗi khi hát đã lâu mà đứa trẻ chưa ngủ. Bởi vậy, cũng có thể coi Hát Ru như một làn điệu có tác dụng thôi miên đa chiều. Đó là một sự thật. Thế mới biết tác dụng cao của làn điệu, được đúc kết tự ngàn xưa.

Hát Ru có tầm cữ âm vực khá hẹp, vừa đủ để truyền tải lời thơ, tạo cảm giác như ngâm ngợi trong một không gian yên bình. Ở đây, những giai điệu rộng mở khoáng đạt, lên bổng xuống trầm sẽ là bất hợp lý với cái đích ru trẻ ngủ. Một âm vực hẹp thật phù hợp với giọng hát của một người bình thường, khiến bất cứ ai cũng có thể hát ru dễ dàng mà không cần đến một sự rèn luyện đặc biệt. Nói thế để thấy tính thực hành xã hội đã chi phối làn điệu từ toàn bộ đến từng phần như thế nào.

Chính mục đích để ru trẻ ngủ mà nhịp điệu đặc trưng của Hát Ru thuộc dạng nhịp đôi êm ái, du dương, đều đặn, đồng điệu với nhịp đưa nôi, dễ tạo cảm giác dìu dịu gây ngủ. Những kiểu dạng nhịp điệu nghịch phách, đảo phách, giật cục lắt léo tất nhiên sẽ không phù hợp với bối cảnh. Thế nên khi người ta hát ru, bao giờ cũng bế đứa trẻ lắc lư, đu đưa theo nhịp câu hát, hay có thể vỗ về đứa trẻ, tác động phụ trợ với câu hát đưa bé vào giấc nồng. Đặc biệt hơn, khi người ru bồng đứa trẻ nằm trên võng, nhịp đưa nôi của câu hát khi đó đánh đồng với nhịp đu đưa “kẽo kẹt” của chiếc võng, tất sẽ tác động mạnh hơn tới việc gây ngủ. Trong các loại hình âm nhạc dân gian, đây có lẽ là trường hợp duy nhất mà người hát trực tiếp “bồng bềnh, chao liệng” cùng nhịp điệu câu ca theo đúng nghĩa đen của nó. Xin nói thêm, điểm nhấn chu kỳ nhịp điệu trong Hát Ru có tính co giãn tương đối, không thật đều. Nên nếu cố tình hát phá cách theo kiểu nhịp điệu tự do hoàn toàn, thì Hát Ru khi đó sẽ có dáng vẻ giống với một làn điệu ngâm thơ.

Cần thấy rằng, trong những yếu tố “bó buộc” chi phối, làn điệu Hát Ru vẫn bao chứa những kỹ thuật âm nhạc của riêng mình, như một khoảng xác định bẳn sắc nghệ thuật của làn điệu. Những kiểu rung giọng, nhấn nhá, luyến láy các cung bậc quy định luôn tạo nên sức hấp dẫn nhất, quyến rũ, đủ để mỗi người hát có thể phát huy khả năng âm nhạc của riêng mình. Bởi thế, một người hát ru giỏi với chất giọng truyền cảm sẽ có thể gây ấn tượng như một nghệ sĩ dân gian thực thụ. Đó là điều đã được xác nhận trong thực tiễn.

Bồng bồng mẹ bế con sang Đò dọc quan cấm đò ngang không chèo…

Hay:

Ru con con ngủ cho ngoan Mai sau con lớn con nên thân người…

Hoặc:

Ru bồng ru bổng ru bông Mẹ ru con ngủ mẹ dông lên làng…

+Tâm sự của người hát với đứa trẻ (đối tượng ru ngủ)

+Tâm sự của người hát với những người xung quanh

+Tâm sự của người hát với chính mình – tính tự sự.

Có thể nói, song song với mục đích ru trẻ ngủ đơn thuần, làn điệu Hát Ru là một cơ hội thuận tiện để người ta thỏa mãn nhu cầu nghệ thuật âm nhạc và thơ ca. Thông qua Hát Ru, mỗi người phụ nữ đều có thể bộc bạch nhiều tâm sự, kể cả những tâm tư tình cảm khó có thể nói bằng lời trong cuộc sống thường nhật. Theo đó, những người xung quanh cũng có dịp hiểu thêm người thân trong gia đình. Thật không quá khi cho rằng, đây là một cơ hội dành cho người phụ nữ trong xã hội xưa, một thân phận với biết bao gánh nặng lo toan trong mối quan hệ vợ chồng con cái, mẹ chồng nàng dâu, chị dâu em chồng… Sự bộc bạch tế nhị qua câu hát, như một nét đẹp trong văn hóa ứng xử Việt Nam. Nói thế để thấy được chức năng kép của một thể loại âm nhạc dân gian hữu dụng như thế nào.

Bên cạnh những sự sắp đặt lời ca có chủ ý, trong làn điệu Hát Ru, còn bắt gặp một hiện tượng thú vị khác, đó là nội dung vô thức. Ở đây, hãy tưởng tượng, nếu đứa trẻ chưa ngủ, người ru sẽ buộc phải ứng vận bất cứ lời ca nào mà họ chợt nhớ, rồi ghép nối bất kỳ, không cần mạch lạc. Thậm chí, khi người hát cạn vốn, nội dung Hát Ru có khi chỉ là những lời ca không có nghĩa, những hình tượng ngồ ngộ, không ăn nhập với nhau, hay đơn giản là một chuỗi những hư từ buột miệng, miễn sao có lời để ru cho xuôi là được. Khi đó, làn điệu Ru con được xem như một “công cụ” thực sự. Bởi người ru hát một cách vô thức mà chẳng hề quan tâm đến nội dung hay chất lượng nghệ thuật nữa. Đó cũng là nét đặc thù trong thực hành xã hội của làn điệu này.

Ngoài mục đích ru trẻ ngủ, sẽ thấy Hát Ru mặc nhiên có tác dụng như thứ tín hiệu nghệ thuật đầu đời của một kiếp người. Một đứa trẻ còn trong nôi tất nhiên chưa hiểu hết ý tứ của nội dung các lời ca mà người lớn sử dụng, xong những âm điệu đậm đà bản sắc quê hương ấy sẽ thấm dần, thẩm thấu qua giấc ngủ, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, đặt những viên gạch đầu tiên hình thành một nhân cách văn hóa dân tộc trong đứa bé.

À ơi..! Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ, kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con… À ơi…!

Trong các thể loại âm nhạc dân gian, có lẽ Hát Ru là làn điệu được dùng với tần suất nhiều hơn cả. Bởi lẽ trẻ thơ luôn là đối tượng ưu tiên ở mọi cộng đồng cư trú, hết lớp này đến lớp khác luân phiên chào đời tiếp nối mạch sống dân tộc. Theo đó, ru trẻ ngủ đương nhiên là việc không thể thiếu trong cuộc sống thường ngày. Sớm khuya chiều tối, bất cứ lúc nào cần trẻ ngủ là lại vang lên tiếng Hát Ru. Chính đặc tính liên tục đó của Hát Ru đã khiến làn điệu có được vị trí ấn tượng nhất trong đời sống âm nhạc của một chu kỳ đời người. Ở đây, sẽ thấy một người hát Ru đồng thời cũng chính là người thầy truyền dạy làn điệu tại chỗ cho những người xung quanh. Mỗi thành viên trong gia đình người hát hay hàng xóm láng giềng kề bên đều có thể dễ dàng cảm nhận, nắm bắt một cách vô tình hay hữu ý. Những lời ca có giá trị theo đó mà lưu truyền từ người này sang người khác, vùng này qua vùng khác, còn mãi với thời gian. Bởi vậy, hát ru cũng được xem như một phương tiện bảo lưu vốn thơ ca dân gian hữu hiệu và bền vững.

Bước qua giai đoạn bú mớm, bế ẵm với làn điệu Hát Ru đậm đà vị ngọt yêu thương của gia đình, đứa trẻ bước sang tuổi thiếu niên nhi đồng. Đây là giai đoạn trẻ bắt đầu khám phá, tìm hiểu cuộc sống xung quanh với những giao tiếp xã hội đầu đời. Ở lứa tuổi này, việc tìm chúng bạn cùng trang lứa chơi đùa, nghịch ngợm là một nhu cầu bản năng sinh học. Và, Đồng dao là thể loại âm nhạc gắn bó với đoạn đời này. Cùng là âm nhạc dành cho trẻ nhỏ, nhưng Đồng dao lại hoàn toàn khác với Hát Ru- thể loại mà đối tượng thực hành là người lớn với ý thức về âm điệu, cung bậc rõ rệt. Ở đây, trẻ em lại chính là chủ sở hữu Đồng dao. Chúng sẽ phải tự hát, tự diễn xướng các bài ca trong môi trường sinh hoạt đồng trang lứa. Như vậy, có thể coi Đồng dao chính là loại âm nhạc diễn xướng đầu đời của một con người. Do đó, Đồng dao mang trong mình những đặc trưng riêng, phù hợp với tâm sinh lý phổ thông của lứa tuổi thiếu niên nhi đồng, trước nhất là đặc tính phi giai điệu.

Nhìn chung, đại đa số các bài Đồng dao còn tồn tại đến ngày hôm nay đều không có giai điệu. Trường hợp như bài Bắt Kim Thang của trẻ em Nam Bộ là một hiện tượng hãn hữu. Ở đây, có thể thấy, với lứa tuổi chạy nhảy chơi đùa, miệng còn măng sữa, sự cảm âm chính xác về mặt giai điệu của đa số đứa trẻ bình thường là điều chưa thể hình thành. Giả thiết, nếu có một số trẻ cảm nhận được một bài ca có giai điệu thì cũng không dễ để chúng có thể sử dụng hàng ngày. Trong khi đó, tính thực hành ở lứa tuổi này lại đòi hỏi những gì dễ chơi, dễ học, dễ nhớ, dễ thuộc. Mới hiểu tại sao các bài Đồng dao tồn tại phần lớn đều dưới dạng vần vè, được diễn xướng với nhịp điệu rõ ràng. Đó là một hiện tượng phù hợp với tâm sinh lý thiếu niên nhi đồng.

Nhưng nói vậy không có nghĩa Đồng dao không phải là âm nhạc. Ở đây, cần thấy rằng giá trị nghệ thuật âm nhạc vốn không chỉ biểu đạt ở mặt không gian (cao độ), mà còn biểu đạt cả về mặt thời gian (nhịp điệu). Do đó, với những chu kỳ tiết tấu định hình trong từng bài ca, tính âm nhạc của Đồng dao là điều được xác định. Nói cách khác, chính đặc tính nhịp điệu đã ghi nhận Đồng dao là một thể loại âm nhạc dân gian của trẻ nhỏ. Trong đó, lời thơ được chuyển tải dưới dạng các mô hình tiết tấu đồng độ.

Cũng không hiếm những dạng mô hình tiết tấu đồng độ biến. Khi đó, điểm phân ngắt nhịp điệu trùng lặp với điểm phân ngắt câu thơ.

Hơn thế nữa, lời thơ ở đây không được đọc với giọng nói đơn thuần mà luôn được bọn trẻ xướng lên với tính cường điệu (cao giọng) có ngữ khí nhất định, như một kiểu dạng nói- hát. Đó được xem như dấu vết cổ xưa- tiền thân của hát- nói dạng sơ khai trong tiến trình phát triển nền âm nhạc dân tộc.

Cũng do chủ nhân thực hành và đối tượng thưởng thức đều ở lứa tuổi nhi đồng- thiếu niên, nên Đồng dao có vốn lời ca riêng với tính dị biệt đặc thù. Nó không giống với Hát Ru- thể loại có thể dùng vô số lời thơ với những nội dung khác nhau. Ở Đồng dao, nổi bật nhất, đó chính là tính phi logic của nội dung các bài ca.

Nu na nu nống Cái cống[3] nằm trong Cái ong nằm ngoài Củ khoai chấm mật Phật ngồi phật khóc Con cóc nhảy ra Con gà[4] ú ụ…

Sẽ thấy, cái cống là vật vô thực, được sử dụng một cách hồn nhiên, cốt để chắp nối vần vè. Và, dù là cái cống, cái bống hay cái trống thì tại sao nó phải nằm trong để cái ong nằm ngoài? Tại sao đang chuyện Củ khoai chấm mật, tự nhiên nhảy phắt sang chuyện Phật ngồi phật khóc, rồi chuyển ngay qua hình ảnh Con cóc nhảy ra, Con gà ú ụ??? Ở đây, không gì giải thích hay hơn ngoài lẽ đơn giản, đó là sự cường điệu, phóng đại, ngoa dụ tự nhiên vốn đầy ắp trong trí tưởng tượng của trẻ thơ.

Trong toàn bộ các bài Đồng dao, lời ca thường là những mảnh miếng có tính tiền đề được lắp ghép ngẫu nhiên, chủ yếu để thuận miệng gieo vần. Phần lớn những hình ảnh sự vật, sự việc đều mang tính tượng trưng, được ghép nối bất kỳ theo những ý nghĩ ngây thơ, ngộ nghĩnh của trẻ nhỏ. Các nhà nghiên cứu gọi đó là tư duy nhảy cóc- phù hợp với lứa tuổi nhi đồng, một lứa tuổi bắt đầu hồn nhiên khám phá thế giới. Ở đây, cần phải thấy chính sự phi logic lại là đặc trưng tư duy của trẻ em và làm cho chúng hài lòng. Nu na nu nống là gì? Trẻ con không cần biết, bài hát vẫn in sâu vào trí óc trẻ thơ và chúng chỉ cần được chơi vui, thế thôi! Với cái cách thể hiện của Nu na nu nống, bọn trẻ sẽ biết điểm chỉ thứ tự thông qua trò đếm các đôi chân chúng bạn lần lượt ứng với từng từ trong lời ca. Khi hát đến từ cuối cùng, rơi vào chân ai thì đứa ấy rụt lại thật nhanh trước khi tay bạn hát đập vào, ai không kịp co chân thì thua cuộc. Bên cạnh đó, trẻ sẽ dần làm quen với ý thức ngăn nắp thông qua việc xếp những đôi chân ngay ngắn thẳng hàng, cũng như tập trung rèn luyện phản xạ cơ bắp nhanh nhạy của đôi chân phải co rụt bất ngờ. Hay đơn giản như trò chơi trốn tìm, trẻ buộc phải tập đếm nhảy cóc “năm- mười- mười lăm- hai mươi- hai nhăm…”- là một bài tính đầu đời với phép đếm cộng số năm.

Ở các bài Đồng dao, lời thơ hầu hết thuộc dạng 3-4 từ, đôi khi 5-6 từ, gieo vần chân- vần rơi vào âm tiết cuối cùng của câu thơ. Đây là thể thơ và cách gieo vần đơn giản nhất trong thơ ca dân gian. Bởi thế, các bài Đồng dao thật dễ nhớ, dễ thuộc, phù hợp với trí tuệ của trẻ nhỏ. Có thể tìm thấy nhiều hình tượng ngộ nghĩnh, các con vật gần gũi, hay hiện tượng thiên nhiên được nhân cách hóa như: dê đi học, gà đi cày, cóc ở nhà, ông sấm hét đùng đùng, ông giăng búi tóc… Đó thực sự là những gợi ý, những bài học đầu đời tiếp nhận thế giới xung quanh. Với những bài thơ kiểu nối vòng, trẻ được thực hành nhận biết các sự vật qua một xâu chuỗi những danh từ kết nối dạng mắt xích, là một sự rèn luyện về ngôn ngữ và hình ảnh.

Chim ri là dì sáo sậu Sáo sậu là cậu sáo đen Sáo đen là em tu hú Tu hú là chú bồ các Bồ các là bác chim ri Chim ri …

Hay một bài đồng dao đố chữ xuất hiện khá muộn, rèn luyện khả năng ghép từ cơ bản:

Trọc gì? Trọc đầu Đầu gì? Đầu tàu Tàu gì? Tàu hoả Hoả gì? Hoả tốc Tốc gì? Tốc hành Hành gì? Hành củ Củ gì? Củ khoai Khoai gì? Khoai lang Lang gì? Lang trọc Trọc gì? Trọc đầu …

Khi nói về một sự việc, Đồng dao thường không mô tả cụ thể, mà giành một khoảng rộng để trẻ phát triển trí tưởng tượng, rồi tự sắp xếp lấy trò chơi. Lộn cầu vồng là bài Đồng dao gồm 6 câu thơ 4 từ, một ước mơ bay bổng trời xanh với chiếc cầu vồng tưởng tượng, như có thể sờ- nắm được trong trí óc ngây thơ của trẻ.

Lộn cầu vòng Nước trong nước chảy Có cô mười bảy Có chị mười ba Hai chị em ta Ra lộn cầu vồng

Điều đặc biệt là nhiều bài Đồng dao gắn liền với các trò chơi của trẻ nhỏ. Thường thì tên bài hát cũng đồng thời là tên của trò chơi tương ứng. Ở đây, điều lý thú là trẻ vừa chơi vừa học, tiếp nhận sự vật, sự việc xung quanh một cách sinh động nhất. Đó thực sự là những bài học tự thân, chưa cần đến cách giáo dục kiểu bài giảng trường lớp. Sự nhận biết thế giới phong phú sẽ được bồi đắp dần theo thời gian. Hơn thế nữa, cũng do Đồng dao kết hợp với các trò chơi nên mỗi đứa bé đều phải lần lượt thay nhau diễn trò, đóng giả nhiều vai khác nhau- cả người và vật. Bởi vậy, Đồng dao còn có ý nghĩa như một trò diễn dân gian trong quãng đầu đời. Đám trẻ tham gia được chúng bạn xem như những diễn viên nhí thực thụ.

Ở trò Rồng rắn lên mây, khi vào vai diễn, trẻ sẽ ý thức được sự đối lập giữa thầy thuốc và rắn- một con vật nguy hiểm, uyển chuyển lợi hại với nhiều khúc linh hoạt. Điều ngộ nghĩnh, kẻ thua cuộc trong trò chơi sẽ bị bắt làm thầy thuốc. Trong trò Thả đỉa ba ba, trẻ sẽ ý thức được sự nguy hại của con đỉa và con ba ba khi lội xuống nước. Một đứa đóng giả con đỉa đứng giữa sông để các bạn chạy qua chạy lại, cốt sao không cho “đỉa” tóm lấy. Đó là sự giáo dục tự thân nhẹ nhàng, không cần đến những lời dọa nạt của người lớn.

Với trò Nhong nhong nhong ngựa ông đã về, đứa trẻ kẹp cái que vào giữa hai đùi và tưởng tượng đó là một con tuấn mã, cầm thêm cái que nữa trong tay là thành cái roi ngựa hay thanh gươm, rồi tự tưởng tượng mình là vị dũng tướng nào đó, ra oai bảo vệ xóm làng. Ở trò Kéo cưa lừa xẻ, hai đứa trẻ vừa chơi vừa hát, như một sự rèn luyện thân thể với trí tưởng tượng vai diễn là hai ông thợ đang miệt mài xẻ gỗ. Hơn nữa, qua câu hát, các em cũng gây được một thông tin đáng chú ý rằng ai “thua” thì “về bú tí mẹ”! Điều đó rất hữu dụng trong việc giáo dục những đứa bé đã lớn mà không chịu cai sữa mẹ.

Trong sinh hoạt Đồng dao, trẻ em được tiếp xúc, tập phát âm, khám phá và rèn luyện với ngôn ngữ mẹ đẻ một cách có ý thức. Thông qua những dòng sự vật, sự việc trong lời ca, chúng dần hiểu biết về môi trường xã hội, dần nhận thức được thế giới xung quanh thông qua lăng kính của trẻ thơ. Trong đó, khả năng thơ ca cũng như tính sáng tạo tại chỗ đã được phác họa ngay từ tấm bé. Bằng chứng là cùng một nội dung lời ca, lại có những dị bản khác nhau thể hiện những sáng tạo khác nhau. Mỗi nơi có thể hát một khác, chơi một khác, trẻ phải tự tìm cách thích ứng nhanh nhậy, thể hiện sự khéo léo, rồi ganh đua học hỏi để tiến bộ. Lại có những lời ca tạo nên một mô hình đặc trưng. Dựa vào đó, trẻ có thể biến báo ra nhiều lời ca khác nhau dựa trên một nguyên tắc chung. Như bài “Chim ri là dì sáo sậu” cùng mô hình với bài “Kỳ nhông là ông kỳ đà” hay “Dưa chuột cùng duộc dưa gang”.., vừa là bài học về các loại chim thú, cây quả, vừa là bài học về mối quan hệ họ hàng thân tộc. Ngoài ra, với những ngữ khí, ngữ điệu khi diễn xướng câu ca, một phác đồ âm điệu nhạc dân tộc bắt đầu manh nha hình thành trên nền nhịp điệu của các bài Đồng dao.

Tóm lại, với đặc tính nguyên hợp bao gồm các yếu tố như âm nhạc, thơ ca, trò diễn, hoạt động cơ thể.., Đồng dao thực sự là những sáng tạo thông minh của các “tác giả vô danh”. Vừa mang tính giải trí, vừa có tính giáo dục rèn luyện cho trẻ em trong những năm tháng ấu thơ, các bài Đồng dao đã đánh thức, nuôi dưỡng và phát triển trí tưởng tượng phong phú, hồn nhiên của trẻ em. Có nhiều ý kiến cho rằng Đồng dao khiến trẻ ngoan ngoãn, thuần tính, dễ bảo hơn là những sự răn đe, mắng mỏ dọa nạt của người lớn. Bên cạnh đó, do buộc phải cùng chơi, cùng ca hát, diễn trò theo nhóm nên Đồng dao cũng là cơ hội rèn luyện tính cộng đồng, tình yêu thương đùm bọc cho một đứa trẻ để chuẩn bị hành trang vào đời trong tương lai. Không ai khẳng định được Đồng dao ra đời từ bao giờ, nhưng chắc chắn một điều, Đồng dao là một phần trí tuệ và tài sản văn hóa của dân tộc, được các thế hệ thiếu niên nhi đồng lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đồng dao đã mãi mãi đi vào ký ức thân thương của mỗi người trong chúng ta./.

[1] Chúng tôi sử dụng hệ thống ký tự do, re. mi… với tính ước lệ. Còn trên thực tế, nhạc cổ truyền Việt Nam có hệ thống thang âm khác hẳn với hệ thang âm Bình quân châu Âu. [2] Hát Ru Nam Bộ còn có những tên gọi khác là Hát Ru em, Hát Đưa em. [3] Có dị bản gọi là cái bống hay cái trống. [4] Có dị bản gọi là ông già

oOo

Hát Ru Con Nam Bộ – 60 phút nhạc cho bé

Hát Ru Nam Bộ – hát chat không có nhạc nền cho bé ngủ

Hát ru Nam Bộ (90 phút)

Hát ru bé ngủ – Dân ca Nam Bộ (26 phút)

Hát Ru Con – Thể điệu truyền thống thơ Lục Vân Tiên do Ca sĩ Bích Phượng diễn xướng

Tướng Mạo Con Người Qua Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam

Xem tướng mạo nó có thể đúng, cũng có thể sai. Tự trong lòng ca dao, dân gian cũng tự nhận định và đánh giá nội dung này:Sông sâu sào vắn dễ dòĐố ai lấy thước mà đo lòng người

Những câu sau chỉ có tính chất giải trí và tìm hiểu góc nhìn kinh nghiệm của người xưa 🙂 1. Nhìn người qua diện mạo, hình dung1.1. Qua “răng” và “tóc” Đầu tiên, điều người bình dân quan tâm nhất là hai bộ phận răng và tóc. Bởi lẽ, theo họ ” cái răng, cái tóc là góc con người”! So sánh với kinh nghiệm dân gian của những bà nội trợ khi chọn cá, diện mạo con người cũng được nhìn nhận, xét trong nội hàm câu ca, chúng tôi cho rằng đây dành cho người phụ nữ:

Cá tươi xem lấy đôi mangNgười khôn xem lấy đôi hàng tóc mai

Tóc mai dài xuống mang taiLà người khó tánh ít ai vừa lòng Một tướng mạo khả ái danh cho khách má hồng: Tóc thưa, dài, mướt, trắng daỞ hàng lầu các, dung hòa phu nhânNgược lại, đây là hình ảnh lý tưởng:

Tóc đen, thưa, rộng mà dàiVuông tròn sắc mặt là trai anh hùng Nhìn tưởng của cả hai: đàn ông lẫn đàn bà:Đàn ông ít tóc: an nhànĐàn bà ít tóc: dở dang duyên tình Tương tự, và ở chiều người lại, ca dao có câu: Đàn bà nhiều tóc thì sangĐàn ông nhiều tóc thì mang nặng đầu

Như vậy, có thể thấy rằng dân gian quan niệm đàn bà nhiều tóc là tốt tướng. Ngược lại, đàn ông ít tóc mới hay, trừ trường hợp: Cái sọ trọc như không có tócKém công danh lao lực về sau Hàm răng cũng là nơi để người bình dân đánh giá chân dung con người. Nhưng lời dành cho phái mạnh:Trai mà có cặp răng nanhGan dạ , chịu đựng, khôn lanh đủ điều Dành cho thiếu phụ:Răng cao, miệng nhỏ: điêu ngoaRăng thấp môi kín: thương cha nhớ chồng Một câu khác cũng gần tương tự, nhưng có kết hợp với những yếu tố “da trắng” và “mặt sẫm”: Răng thưa, da trắng: gái hayRăng thưa, mặt sẫm: đổi thay chuyện tình

1.2. Mặt, trán, má, mày … Trông mặt mà bắt hình dong, từ quan niệm ấy, nên trong kho tàng ca dao Việt Nam không ít lần người bình dân bày tỏ cách nhận diện con người qua mặt, mày:

Mặt dài tuy nhỏ: vui chơiTai to mặt ngắn: chịu lời đắng cay Ở trán, một bộ phận nằm trên khuôn mặt cũng là nơi thể hiện tính cách, đối với phái nam, dân gian nhận xét:– Đàn ông gân trán nổi caoTánh tình nóng nảy, dạt dào ái ân– Trán cao có cái đầu vuôngVăn chương, khoa bảng có nhường ai đâu

Còn đây, là lời đúc kết dành cho phận gái:Gò má mà chẳng cân phânCuộc đời cam chịu lắm phần lao đao

Đúng là “má hồng – bạc mệnh”!Má hồng, trán bóng có duyênLương tâm dẫu tốt, đừng hòng tuổi cao

Cái nhìn dành cho cả hai đối tượng:Đàn ông trán dựng có tàiĐàn bà trán dựng lâu đài soi gươngMôi, miệng cũng là nơi có thể đoán tính người:Môi mỏng nói điều sai ngoaMai sau sinh nở con ra hoang đàng

Mồm mép cũng là những bộ phận không kém phần quan trọng để người ta trông vào:Môi dày, miệng rộng cân phânNhơn trung sâu rộng, tánh chơn khoan hòa

Theo sách nhân tướng xưa, thì điểm giữa môi trên và đầu mũi được gọi là nhân trung Một câu ca quen thuộc:Đàn ông miệng rộng thì sangĐàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà

Hai môi không giữ kín răngLà người yểu tướng, nói năng hỗn hào

Chân tướng những người khôn ngoan:– Những người râu mép ngoảnh raMép dày môi mỏng, ấy là tinh khôn– Những người thành thật môi dàyLại thêm ít nói lòng đầy nghĩa nhân

Cũng có khi phải kết hợp nhiều bộ phận từ dáng người đến tóc, môi, …Người đen mà ốm lại caoTóc quăn, môi lớn, lao đao tháng ngàyĐến râu, lông cũng bộc lộ nhân cách.

Râu rìa, lông ngực đôi bênChẳng phường phản bạn, cũng tên nịnh thần

Họ không ngần ngại kết luận:Đàn ông mà kém bộ râuVăn chương cũng dở, công hầu đừng mong

Nếu râu là bộ phận không thể thiếu cho bậc nam nhi, thì ngược lại nhũ hoa là bộ phận quan trọng không kém của người phụ nữ, bởi thiên chức của nó:Đàn ông không râu bất nghìĐàn bà không vú lấy gì nuôi con

Nơi cửa sổ của tâm hồn là đôi mắt, người bình dân cũng dành những nhận định xác đáng:Người khôn con mắt đen sìNgười dại con mắt nửa chì nửa than Một câu ca khác gần tương tự về nội dung như thế:Người khôn con mắt dịu hiềnNgười dại con mắt láo liên nhìn trời!

Câu ca dành để xem nam tướng:Trán cao, mắt sáng phân minhLà người học rộng, công danh tuyệt vời

Con mắt của kẻ vô nghì, ham mê tửu sắc:Mắt tròn dưới mí láng sưngLà tên tửu bác, không ngừng chơi đêm

Mũi cũng thể hiện được tính cách chủ nhân của nó:Lỗ mũi mỏng, đầu cong, nhọn hoắcẮc lòng tham, hiểm độc gian phiTướng này đức đã suy viNếu không tu thiện, hậu thì khó toan

Hay:Lỗ mũi mà hỉnh ngửa lênBạc tiền chồng chất một bên chẳng còn

1.3. Ngoài những sắc diện đã giới thiệu, chúng ta còn thấy dân gian nhìn nhận ở các bộ phận khác trên cơ thể con người:

Một câu ca chỉ đơn thuần nói về hình thể:Hàm rộng, miệng cọp: anh hùngHàm rắn, miệng chuột: bất trung vô nghì

Nhìn thân hình cũng có thể biết:– Những người béo trục béo trònĂn vụng như chớp đánh con cả ngày– Ngồi khòm đầu gối quá taiLà người cực khổ chẳng sai chút nào

Ở phụ nữ, dáng vẻ không thể chê vào đâu được:Những người thắt đáy lưng ongVừa khéo chiều chồng, lại khéo nuôi con.

Bộ phận dưới của tai, theo dân gian cũng bộc lộ nhân cách:Dái tai như hột châu thòngCó thành, có quách, dày, hồng sắc tươiThiệt người phú quý thảnh thơiPhong lưu tao nhã trên đời chẳng sai

Đến nốt ruồi cũng quyết định ít nhiều, …Mụt ruồi màng tang cả làng ăn thép.Mụt ruồi bên mép, ăn thép cả làng,

Ngón tay, bàn chân cũng là những bộ phận khác trong cơ thể của con người, góp phần hình thành tính cách. Những người có tướng mạo tốt:– Ngón tay thon thỏn búp măngTánh tình khoan nhã, thơ văn đủ mùi– Bàn tay đỏ ửng như sonKhông người danh tướng cũng con học hành– Thông minh, học giỏi, anh tàiNgón (tay) nhỏ mà dài tựa đọt hành non

Những con người không ra gì, thể hiện ở tay, chân:– Bàn tay ngang lại lắm lôngLà người nhục dục ắt không phải vừa– Móng tay mỏng, nhọn: cơ cầuTâm tư hiểm độc, hay xâu của người– Đàn bà chân thẳng ống đồngKhó con mà lại sát chồng, nguy nan Dân gian cảnh báo hãy tránh xa!

2. Đoán tính cách con người qua hành động đi đứng, ăn uống, tiếng nói, giọng cười Nhưng người khôn ngoan bộc lộ qua lời nói:Chim khôn kêu tiếng rảnh rangNgười khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

Bên cạnh đó, chân tướng của những người mà dân gian cho là “không ra gì” biểu hiên qua hành động đi đứng, chưa nói đã cười của họ:Những cô chưa nói đã cườiChưa đi đã chạy là người vô duyên

Đến khi có chồng rồi, tính cách kia không sửa đổi, điều chỉnh thì chẳng những “vô duyên” mà tác hại còn nặng nề hơn: Đàn bà chưa nói đã cườiLương duyên vất vả, cuộc đời truân chuyên

To tiếng cũng là chân dung những phụ nữ không ra gì ở mai hậu:Vai ngang, mặt lớn, tiếng toNhiều chồng mà lúc về già vẫn không

Cùng trong hành động đi, đứng, ta còn gặp hàng loạt câu ca khác:– Ra đi chân bước nhẹ nhàngLà người hiếu khách, rõ ràng yên vui– Bước chân thình thịch, cúi đầuBôn ba đây đó, dãi dầu nắng mưa

Cùng một dáng đi, nhưng nam xấu, nữ tốt:Tướng đi chân bước hai hàngNàng thì rộng lượng, còn chàng tiểu tâm Kết hợp diện mạo, ăn nói, hành động:Lưng dài vai mập ba gang,Ăn nhai nửa miệng: khô khan chai lười Dáng một “hiền nhân”Mắt ngước, chân bước nhẹ nhàngTướng đi khang nhã, rõ ràng hiền nhân

Nhút nhát bộc lộ sự thiệt thòi:Chưa nói mà đã thẹn thòPhải chịu thiệt thòi trong việc làm ăn

Hay nhẹ hơn, đây là những hành động chỉ những người luôn luôn sầu tư, ảo não:Những người chép miệng thở dàiChỉ là sầu khổ bằng ai bao giờ

Kết hợp cả diện mạo và lời nói, chân tướng của kẻ khôn ngoan:Khao khao giọng thổ tiếng đồng,Quăn quăn tóc trán là dòng khôn ngoan.

Giọng nói của người hiểm độc: – Tiếng nói rít qua kẽ răngLà người nham hiểm sánh bằng hổ lang– Những người, lẩm bẩm một mìnhGiàu sang chẳng được, lại sinh kém tài

Cũng có khi cùng một gam “giọng nói” nhưng nam thì tốt, mà nữ thì bị xã hội phê phán:Giọng nói răm rắp tiếng dưTrai thì can đảm, gái ư gan lỳVà “tiếng nói” để nhận diện phụ nữ:Đàn bà lanh lãnh tiếng đồngMột là sát chồng, hai là hại con

Hoặc những nam nhân mà mang nhiều “nữ tính”:Trai mà nói giọng đàn bàTánh tình nhu nhược, còn là long đong

Ăn trông nồi, ngồi trông hướng, dân gian đã căn dặn hậu sinh như thế. Qua đó, có thể thấy rằng không chỉ trong “ăn nói” mà ngay trong hành động ăn uống cũng góp phần thể hiện tính cách.Ăn uống khoan thai là người thanh caoĂn uống nhồm nhoàm là người thô tục

Một người có tài “mồm mép”!:Trán cao, miệng rộng, mũi dàiCó khoa ăn nói, ít ai sánh bằng

3. Nhìn tướng người và thể hiện thái độ bằng những quan hệ ứng xử Từ tướng mạo, người bình dân đưa ra hướng ứng xử trong giao tiếp. Tuỳ theo đối tượng, khen chê, trọng khinh được đưa ra. Đối với với người dịu dàng dễ thương mếnChẳng tham nhà ngói rung rinhTham vì một nỗi anh xinh miệng cười

Miệng cười em đáng mấy mươiChân đi đáng nén miệng cười đáng trăm

Những người con mắt lá rămLông mày lá liễu đáng trăm quan tiền

Lối so sánh vừa khéo léo, tế nhị đã bộc lộ được tất cả những gì người nói muốn nói! Nhưng người có “cao” tướng, ắt hẳn sẽ có hạnh phúcĐàn ông gối dụm, chân chànChẳng cô gái đẹp cũng nàng nết na

Còn đây, nhưng người mà theo dân gian phải tránh xa:– Chim sa, cá nhảy chớ nuôiNhững người lông bụng chớ chơi bạn cùng– Mắt trắng, môi thâm, da thiết bìNgười nhiều lông bụng: vô nghì chớ thân

Hay:Những người tai mỏng mà mềmLà phường xấc láo, lại thêm gian tà

Dáng mạo cũng báo trước cho biết những người khó thuỷ chung– Mi nhỏ như sợi chỉ mànhTình trong chưa thắm, ngoại tình đã giao

Tính cách không ra gì:Những người béo trục béo trònĂn vụng như chớp đánh con cả ngàyNhững người mặt nạc đóm dầyMo nang trôi sấp, biết ngày nào khôn.– Đàn bà vú lép, to hôngĐít teo bụng ỏng, cho không chẳng cầu– Những người ti hí mắt lươnTrai thì trộm cướp, gái buôn chồng người– Những người mặt nặng như moChân đi bậm bịch, có cho chẳng thèm

Những kẻ bảo thủ, không có ý cầu tiến:Những người tai ngửa ra sauTướng hèn mà lại cứng đầu, chậm nghe

Trên diện mạo đôi lúc chỉ cần đảo vị trí, tính tình cũng quay ngược hẳn ở hai chiều khác nhau:Mắt dài, mày ngắn: bất bìnhMày dài, mắt ngắn: đệ huynh vẹn toàn

Xem ánh mắt, dân gian không ngần ngại bày tỏ với những cô gái “vô duyên”:– Con lợn mắt trắng thì nuôiNhững người mắt trắng đánh rồi đuổi đi– Miệng rộng, môi mỏng, liếc ngangCon gái như thế chẳng màng làm chi

Dành cho kẻ “sáng say, chiều xỉn”Lờ đờ như người say rượuMắt đỏ hoe, phải liệu mà chơi

Cũng có người mà ngay trong tướng mạo như đã báo trước những điều bất hạnh:Kẻ nào trống giữa bàn chânHổng không đụng đất thì đừng chơi xa

4. Những nhận con người qua công việc Ở một cấp độ khác, người bình dân thể hiện thái độ của mình qua việc nhìn nhận đánh giá về công việc thường nhật. Chúng tôi chỉ dừng lại ở thái độ mỉa mai, phê phán những hiện tượng lười biếng, dành cho những hạng người vô tích sự trong cuộc sống. Dân gian cho rằng người phụ nữ chu đáo, đáng trọng là người biết tảo tần, đảm đang, có chồng phải “gánh giang san nhà chồng”, nên họ khẳng khái dành cho những kẻ “ngồi lê đôi mách”Đàn bà yếu chân mềm tayLàm ăn chẳng được lại hay nỏ mồm

Họ quả quyết chắc chắn rằng:Đàn bà không biết nuôi heo là đàn bà nhácĐàn ông không biết buộc lạt là đàn ông hư

Và nặng lời chế giễu:Làm trai cho đáng thân traiKhom lưng cố sức gánh hai hạt vừngĂn no rồi lại nằm khoèoNghe giục trống chèo bế bụng đi xem

Chân dung của những con người vô dụng:Chú tôi hay tửu hay tămHay nước chè đặc hay nằm ngủ trưaNgày thì khấn những ngày mưaĐêm thì ước những đêm thừa trống canh

Hay:– Chồng người cưỡi ngựa bắn cungChồng em thì lấy dây thung bắn ruồi– Chồng người đi ngược về xuôiChồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo, …

Nguồn: Internet

Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam Ebook Pdf

Sách ebook Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam PDF/EPUB/PRC/AZW/MOBI miễn phí về máy tính – điện thoại – máy đọc sách hoặc bạn có thể đọc trực tiếp trên web. Sách Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam thuộc thể loại Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam (Bìa Mềm), được viết bởi tác giả: Vũ Ngọc Phan.

ĐỌC SÁCH

1. NHẬN XÉT

Chưa có nhận xét

2. GIỚI THIỆU SÁCH

Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam (Bìa Mềm)

Tác phẩm của nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên (năm1996, lĩnh vực văn nghệ dân gian).

Cuốn sách được tác giả dày công sưu tầm, khảo cứu trong suốt những năm tham gia kháng chiến chống Pháp, đặc biệt từ khi chuyển sang làm công tác nghiên cứu văn – sử – địa và hoàn thành vào năm 1956. Vũ Ngọc Phan đã có phần nghiên cứu tâm huyết về đặc điểm, giá trị đặc sắc của tục ngữ, ca dao, dân ca vô cùng đa dạng và phong phú của dân tộc Việt Nam ta (trong đó có cả của một số dân tộc thiểu số) bên cạnh phần tuyển chọn công phu.

Đặc biệt, cuốn sách còn có phần biên khảo rất sớm (với tầm nhìn xa trông rộng) và rất giá trị về dân ca, bao gồm các loại hình như: hát trống quân, hát xẩm, hát quan họ Bắc Ninh, hát ghẹo Phú Thọ, hát ví, hát giặm Nghệ Tĩnh, hò Huế, dân ca miền Nam Trung Bộ, dân ca Nam Bộ…

3. THÔNG TIN SÁCH

Công ty phát hành Nhà sách Minh Thắng Tác giả Vũ Ngọc Phan Ngày xuất bản 01-2017 Kích thước 14,5 x 20,5 cm Loại bìa Bìa mềm Số trang 664 SKU 3101414090001 Nhà xuất bản Nhà Xuất Bản Văn Học

Ca Dao Tục Ngữ :Chủ Đề Hát Ru

CHỦ ĐỀ HÁT RUẦu ơ, Bồng bống bông bôngLớn lên con phải cố học hànhHọc là học đạo làm người,Con đừng lêu lổng kẻ cười, người chê

Ầu ơ, Em tôi khát sữa bú tayAi cho bú thép ngày rày mang ơnẦu ơ, Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còngVề sông ăn cá, về đồng ăn cuaẦu ơ, Mười hai giờ kiểng đổ nhà thờSao anh không học đặng nhờ tấm thânẦu ơ, Mẹ ơi đừng đánh con đau Để con bắt cá hái rau mẹ dùngẦu ơ, Mẹ ơi chớ đánh con hoàiĐể con bắt ốc hái xoài mẹ ăn

Ầu ơ, Ví dầu cá bống đánh đuTôm càng hát bội, cá thu cầm chầuẦu ơ, Ví dầu ví dẩu ví dâuVí qua ví lại ví trâu vô chuồng

Ầu ơ, Má ơi đừng đánh con đauĐể con hát bội làm đào má coi

Bồng em mà bỏ vô nôiCho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầuMua vôi chợ Quán, chợ CầuMua cau Nam PhổMua trầu chợ Dinh.Chợ Dinh bán nón quan hai,Bán thao quan mốt,Bán quai năm tiền.Cái bống đi chợ Cầu CanhCon tôm đi trước, củ hành theo sauCon cua lạch đạch theo hầuCái chày rơi xuống vỡ đầu con cua.Cái bống là cái bống bangĂn cơm bằng sàng, bốc muối bằng vung.Mẹ giận mẹ vứt (đẩy) xnống sông,Bơi ra cửa (Con ra đường) biển lấy chồng lái buôn.Khát nước thì uống nước nguồn,Lạc đường thì bảo lái buôn đưa về.Cái bống là cái bống bang Con đi lấy sàng cho mẹ đổ khoaiCon ăn một, mẹ ăn haiCon đi bốc muối thì khoai chẳng cònCon ngồi con khóc nỉ nonMẹ cầm cái vọt, con bon ra hèCó đánh đánh vọt treĐừng đánh vọt nứa mà què chân conCái bống là cái bống bang Thấy mẹ đi chợ bống càng làm thơNgày sau bống đỗ ông đồĐi võng lá sắn, đi dù lá khoaiCái bống là cái bống bìnhThổi cơm nấu nước một mình mà thôiRạng ngày có khách đến chơi,Cơm ăn rượu uống cho vui lòng chồng.Rạng ngày ăn uống vừa xong,Tay nhấc mâm đồng, tay trải chiếu hoạNhịn miệng đãi khách đàng xa,

Ấy là của gởi chồng ta ăn đàng.Cái bống là cái bống bình Thổi cơm nấu nước một mình mà thôiTrong nhà cho chí ngoài sânMọi việc thu xếp đặt lần mới thôiRạng ngày có khách đến chơi,Cơm ăn rượu uống cho vui lòng chồng.Rạng ngày ăn uống vừa xong,Tay nhấc mâm đồng, tay trải chiếu hoạNhịn miệng đãi khách đàng xa,Ấy là của gởi chồng ta ăn đàng.

Cháu ơi cháu ngủ cho lâuMẹ cháu đi cấy đồng sâu chưa vềChừng về bắt được con cá trêTròng cổ mang về bà cháu mình ănCháu ơi cháu ngủ cho ngonCủa dì, dì giữ ai bòn mặc aiCon tôi buồn ngủ buồn nghêBuồn ăn cơm nếp cháo kê thịt gàNhà còn có một quả càLàm sao đủ miếng cơm và cho conCon tôi khóc héo khóc honKhóc đòi quả thị méo trôn đầu mùaCon thèm phẩm oản trên chùaThèm quả chuối ngự tiến vua của làngCon thèm gạo cốm Làng NgangCon thèm ăn quả dưa gang Làng QuàiCon thèm cá mát canh khoaiCon thèm xơ mít, thèm tai quả hồngCon thèm đuôi cá vây bôngThèm râu tôm rảo, thèm lòng bí đao

Mẹ bồng con lên ngồi cầu Ái TửVợ (Gái) trông chồng đứng núi Vọng PhuBiết răng chừ bóng xế trăng lu (Tây cù)Giả như con ve ve nó kêu mùa hạBiết mấy thu mới gặp chàngMẹ bồng con lên ngồi cầu Ái Tử Gái trông chồng đứng núi Vọng phuMột mai bóng xế trăng luVe kêu mùa hạ, biết mấy thu mới gặp chàng!

Miệng ru con, mắt nhỏ hai hàngNuôi con càng lớn mẹ càng thêm lo

Ngủ đi con ơi đừng khócLớn mau chân tay như cây chò, cây trắcCây lớn lên từ đấtCó gốc rồi mới có ngọnNgủ đi con ơi đừng khóc.Ru con a hả a hàCon nín mẹ hả con la mẹ buồnRu con con ngủ cho lành Cho mẹ gánh nước rửa bành cho voiMuốn coi lên núi mà coiCoi bà Triệu tướng cởi voi đánh cồngRu con con ngủ cho lâuĐể mẹ đi cấy ruộng sâu lâu vềRu con con ngủ cho mêMẹ còn lo chuyện lê thê kéo càyRu con con ngủ cho sayMẹ còn vất vả chân tay ngoài đồngRu con con ngủ cho nồngMẹ còn nhổ mạ trả công cho ngườiRu con con ngủ cho sayĐể u dệt vải dầy nhuộm nâuCắt quần cắt áo u khâuĐể thầy con mặc cày bừa mùa chiêm

Ru em cho thét cho muồiĐể mẹ đi chợ mua vôi ăn trầuMua vôi Chợ Quán Chợ CầuMua cau Nam Phổ, mua trầu Chợ DinhChợ Dinh bán áo con traiTriều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim

Ru em em hãy nín điKẻo mà mẹ đánh em thì phải đauEm đau chị cũng buồn rầuBé mồm bé miệng nín mau tức thì

Ru hời ru hỡi là ruBên cạn thì chống bên su thì chèo Hai tay em vừa chống vừa chèoKhông ai tát nước đỡ nghèo một phen

Trăm hoa đua nở tháng GiêngCó bông hoa cải nở riêng tháng mườiTrăm cánh hoa cười,Trăm nụ hoa nở mùa xuân sang.Đàn con yến trắng, dập dìu đàn ong, Con chim kia sao khéo não nùng!Cuốc kêu gióng giả như nung dạ sầu.Gió nam hây hẩy ban chiềuMột đàn bướm trắng dập dìu trên non,Đêm đông trường, nghe vượn ru conVượn hát ru con, cá khe lẩn bóng, chim buồn cõi câKìa quân tử trúc, dạ này bâng khuâng…Em như hoa thơm mà mọc góc rừng

Ví dầu cầu ván đóng đinh Cầu tre lắc lẻo ghập ghềnh khó điKhó đi mượn chén ăn cơmMượn ly uống rượu, mượn đờn kéo chơiKéo chơi ba tiếng đờn còĐứt dây đứt nhợ quên hò sự sangVí dầu thiếp chẳng yêu chàngXin đưa thiếp xuống đò ngang thiếp về

Ví dầu cầu ván đóng đinh Cầu tre lắc lẻo ghập ghềnh khó điVí dầu mẹ chẳng có chiChỉ con với mẹ chẳng khi nào rời

Bạn đang đọc nội dung bài viết Dân Ca Dân Nhạc Vn – Hát Ru Con Miền Nam trên website Altimofoundation.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!