Đề Xuất 2/2023 # Chuyện Xưa Ngẫm Cho Vui : Lã Bất Vi Buôn … Vua # Top 2 Like | Altimofoundation.com

Đề Xuất 2/2023 # Chuyện Xưa Ngẫm Cho Vui : Lã Bất Vi Buôn … Vua # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chuyện Xưa Ngẫm Cho Vui : Lã Bất Vi Buôn … Vua mới nhất trên website Altimofoundation.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

                Thời Chiến quốc bên Tàu có lão lái buôn ở Dương Địch nước Vệ tên là Lã Bất Vi. Nhờ các mánh khóe buôn bán và khả năng nhìn xa của một doanh nhân mà giầu lên nhanh chóng. Trong nhà có tới hàng ngàn lượng vàng. Nhưng Lã Bất Vi chưa bằng lòng, còn muốn giàu nữa. Một lần, khi bàn đến chuyện kinh doanh, Lã Bất vi hỏi cha: “Làm ruộng lợi gấp mấy?”, Cha đáp: “Lợi gấp mười”. Lại hỏi: “Buôn châu ngọc lợi gấp mấy?”. Cha đáp: “Lợi gấp trăm” . Hỏi tiếp: “ buôn gì lãi nhất ?”. Cha đáp: “Buôn vua”. Lã Bất Vi khắc vào bộ nhớ câu trả lời của người sinh ra mình.

         Năm thứ 42 (265 TCN) nước Tần,  An Quốc Quân làm Thái tử. An Quốc Quân có hơn 20 người con, lại có người yêu nhất được lập làm chính phu nhân, gọi là Hoa Dương phu nhân. Phu nhân không có con. Tử Sở là con giữa của An Quốc Quân. Mẹ Tử Sở là Hạ Cơ không được vua yêu nên Tử Sở phải làm con tin của Tần ở nước Triệu. Tần mấy lần đánh Triệu, nên Triệu bạc đãi Tử Sở. Tử Sở làm con tin ở Triệu trong cảnh khốn khổ.

           Lã Bất Vi  đến  Hàm Đan ( kinh đô của Sở) trông thấy Tử Sở, nghĩ ngay : Món hàng này lạ, có thể buôn được đây! Bất Vi bèn đến nói với Tử Sở: “Tôi có thể làm cửa nhà ngài lớn lên”. Tử Sở cười: “Ông hãy tự làm cho cửa nhà ông lớn lên đã rồi hãy làm đến cửa nhà tôi”. Lã Bất Vi nói: “Thế thì ngài không biết: Cửa nhà tôi phải đợi cửa nhà ngài mới lớn được”.

Hôi ấy Lã Bất vi có người thiếp tên là Triệu Cơ, xinh đẹp, đàn hay múa giỏi, lại đã có mang với Lã Bất Vi . Bất Vi mời Tử Sở đến nhà, sai Triệu Cơ ra rót rượu. Tử Sở đem lòng say mê, Lã Bất Vi liền dâng Triệu Cơ cho Tử Sở. Tử Sở lập Triệu Cơ làm phu nhân, đến đủ tháng sinh con, đặt tên là Chính. ( thực chất, Chính là con của Lã Bất Vi)

         Lã Bất Vi cấp cho Tử Sở nhiều vang bạc để đãi tân khách. Biết Hoa Dương phu nhân được vua Tần yêu nhưng lại không có con, Lã bất vi mua nhiều vật qúy và lạ về Tần xin ra mắt Hoa Dương Phu nhân. Nhân đó ca ngợi Tử Sở hết lời, lại nói rằng Tử Sở dù ở nước Triệu vẫn rất nhớ Phu nhân. Rồi khuyên Hoa Dương phu nhân nên nhận Tử Sở làm con nuôi để làm chỗ tựa về sau. Hoa Dương phu nhân động lòng, đồng ý, rồi vào xin An Quốc Quân lập Tử Sở làm thừa tự. An Quốc Quân nghe theo.

         Năm 257 TCN, Tần sai Vương Ý vây Hàm Đan. Nước Triệu muốn giết Tử Sở. Lã Bất Vi đút lót trăm cân vàng cho kẻ coi giữ nên mới đưa được Tử Sở cùng trốn thoát về Tần. Triệu muốn giết vợ con Tử Sở, nhưng Triệu Cơ là con nhà tai mắt ở Triệu, lẩn trốn được vì thế mẹ con đều sống.

Năm thứ 56, Tần Chiêu Vương mất, thái tử An Quốc Quân lên làm vua, lập Hoa Dương phu nhân làm hoàng hậu, Tử Sở làm thái tử. Vua Triệu cũng cho đưa vợ của Tử Sở cùng con là Chính về Tần. Vua Tần lên ngôi được một năm thì mất. Thái tử Tử Sở lên thay, lấy hiệu là Trang Tương Vương, tôn mẹ nuôi là Hoa Dương làm Hoa Dương thái hậu, mẹ là Hạ Cơ là Hạ thái hậu.

        Trang Tương Vương cho Bất Vi làm thừa tướng, phong là Văn Tín Hầu, được ăn thuế mười vạn hộ ở Hà Nam, Lạc Dương.Trang Tương Vương làm vua được ba năm thì mất. Thái tử là Chính ( thực chất là con của Lã Bất Vi với Triệu Cơ) lên ngôi, gọi là Tần vương Chính, tức Tần Thủy Hoàng sau này, tôn Lã Bất Vi làm tướng quốc, gọi là trọng phụ. Vua Tần tuổi nhỏ, nên quyên bính nằm trong tay Lã Bất Vi. Trong nhà Lã Bất Vi có đến vạn người.

Như vậy, coi như việc buôn… vua của Lã Bất vi đã thành công.

      Bấy giờ ở Ngụy có Tín Lăng Quân, ở Sở có Xuân Thân Quân, ở Triệu  có Bình Nguyên Quân, ở Tề  có Mạnh Thường Quân, đều đua nhau quý kẻ sĩ, chiều tân khách. Bất Vi thấy Tần mạnh mà mình không bằng họ nên xấu hổ cũng đón mời các kẻ sĩ đãi rất hậu, khách ăn trong nhà có đến ba nghìn. Khi ấy chư hầu có nhiều biện sĩ, như bọn Tuân Khanh làm sách truyền bá ra thiên hạ. Bất Vi bèn sai các khách soạn ra những điều mình biết, họp lại làm tám Lãm, sáu Luận, mười Kỷ gồm hơn hai mươi vạn chữ, cho là đủ hết những việc trời đất, muôn vật, xưa nay. Đặt tên sách là Lã Thị Xuân Thu  bày ở cửa chợ Hàm Dương, đặt nghìn lạng vàng lên trên, mời các du sĩ của chư hầu ai có thể thêm bớt một chữ thì xin biếu một nghìn lạng vàng.

Nhưng cuộc đời kẻ buôn… vua cuối đời cũng bi đát lắm.

ĐK

Nghề Buôn Xưa Qua Tục Ngữ, Ca Dao

Nghề buôn xưa qua tục ngữ, ca dao Nghề buôn từ xưa không được các triều đại phong kiến xem trọng. Chẳng những vậy, xã hội Việt Nam thời phong kiến còn xem thường những người làm nghề buôn bán. Họ gọi những người này là phường con buôn, bọn con buôn… Vì lẽ đó, nghề buôn đã không phát triển trong thời phong kiến ở Việt Nam. Ngày xưa, người ta quan niệm rằng muốn tiến thân không có con đường nào khác ngoài con đường khoa cử. Chỉ có ở khoa cử mới làm nên danh giá con người, nâng bậc vị trí con người trong xã hội, mặc dù ai cũng biết rằng “phi thương bất phú”. Nhưng việc làm giàu do buôn bán lại không được xem trọng. Những người Nho học coi khinh việc làm giàu bằng con đường buôn bán, bởi vì họ quan niệm, làm giàu bằng nghề buôn là lừa gạt, là bất nhân, “vi phú bất nhân, vi nhân bất phú”. Sau này nghề buôn được đánh giá cao hơn, được xã hội xem trọng hơn. Chuyện buôn bán và kinh nghiệm đã được người xưa đúc kết trong rất nhiều tục ngữ, ca dao. Trước tiên, muốn buôn bán trước hết phải có vốn “có bột mới gột nên hồ”. Lúc đầu vốn ít thì buôn bán nhỏ, sau này tích lũy được vốn nhiều thì buôn bán to. Nhưng có vốn lớn không phải là tất cả, mà người bán còn phải biết cách buôn bán, buôn bán sao cho lời nhiều, muốn vậy thì phải biết “buôn tận gốc, bán tận ngọn”. Muốn vậy phải chịu khó đi xa, đến tận nơi để bán thì mới bán được giá, chứ bán sang tay cũng chẳng lời nhiều. Ban đầu, nếu chưa có vốn thì đành chấp nhận cảnh “buôn gánh bán bưng”, “buôn thúng bán mẹt”, “buôn ngược bán xuôi”, thậm chí “buôn đầu chợ, bán cuối chợ”, phải chịu vất vả “buôn Sở bán Tần”, hoặc: Nửa đêm ân ái cùng chồng Nửa đêm về sáng gánh gồng ra đi. Vốn ít thì đành phải vất vả, chủ yếu là lấy công làm lời rồi sau đó mới tích lũy dần thành vốn to. Đó còn chưa kể lúc gặp phải cảnh “chợ chưa họp kẻ cắp đã đến”. Việc buôn bán đâu phải lúc nào cũng “xuôi chèo mát mái”, “mua may bán đắt” mà thất thường từng lúc như “buôn trầu gặp nắng, buôn đàng gặp mưa”, hoặc: Đắt hàng những ả cùng anh Ế hàng gặp những thong manh quáng gà.

Chợ lợn ở miền Bắc. Ảnh: TƯ LIỆU(BacKy54)

Kiếm được đồng tiền đâu phải là chuyện dễ, nhiều khi phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt chứ chẳng phải chuyện chơi. Nhưng như thế vẫn còn đỡ hơn những kẻ “bán mồm nuôi miệng”, “ăn như rồng uống, uống như rồng leo, làm như mèo mửa” hoặc giả những kẻ không làm được việc gì mà chỉ toàn khoác lác kiểu “bán trời không mời Thiên lôi”, “bán nắng cho trời, bán sấm cho Thiên Lôi”, nhưng thực ra chẳng làm được trò trống gì. Khi đã chịu khó “buôn gánh bán bưng” một thời gian, tích lũy được số vốn lớn, người ta sẽ chuyển sang buôn bán lớn, bởi vì chỉ có buôn bán lớn mới có được lời to. Nhưng người buôn bán cũng phải dè chừng, bởi vì “thuyền lớn thì sóng lớn”, do đó người buôn bán phải tính toán kỹ, phải lao tâm khổ tứ nhiều việc so với lúc đầu buôn bán nhỏ: Ông cả nằm trên sập vàng, cả ăn cả mặc, lại càng cả lo Ông bếp nằm trong xó tro, ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm. Nghệ thuật trong buôn bán ngoài việc biết chọn loại hàng còn phải biết chọn địa diểm để buôn bán. Đó là những nơi phải thuận lợi cho người tiêu dùng đến mua, “nhất cận thị, nhị cận giang”. Buôn bán ở chợ có đông đúc người qua lại, gần sông, nơi tấp nập người lên kẻ xuống thì mới có thể “buôn gặp chầu, câu gặp chỗ”, “buôn một bán mười”… Bên cạnh đó, người đi buôn cũng không nên đi buôn bán một mình vì dễ bị chèn ép về giá cả, mà phải “buôn có hội, bán có thuyền”. Những người buôn bán khôn ngoan thì chẳng bao giờ “mua trâu, bán chả”, “mua vải bán áo” – nghĩa là đầu tư lớn nhưng thu lời về nhỏ giọt, không tương xứng với số vốn đã bỏ ra. Hoặc giả, buôn bán mà không biết nghiên cứu thị trường, không biết tìm hiểu sở thích của người tiêu dùng thì chẳng khác nào “bán quạt mùa đông, buôn hồng mùa hè”. Do đó, buôn bán ngoài việc có đồng vốn, có nghệ thuật buôn bán còn phải có kinh nghiệm nữa. Chẳng hạn như, “bán gà kiêng ngày gió, bán chó kiêng ngày mưa” vì thời tiết ấy bán không được giá… Buôn bán thì phải nghĩ đến đồng lãi, nhưng “ăn lãi tùy chốn, bán vốn tùy nơi” để còn giữ mối làm ăn lâu dài. Hoặc giả, “trong vốn thì nài, ngoài vốn thì buôn” để làm sao vừa thu được lời vừa không làm mất khách. Muốn gì thì muốn, trong việc buôn bán phải biết tính toán, không những thế mà còn phải tính kỹ nữa, bởi vì “lộn con tán bán con trâu”, “bút sa gà chết”; không nên “bán bò tậu ễnh ương, bán bò mua dê về cày”, “mua quan tám, bán quan tư”. Và điều quan trọng nữa là phải biết tiết kiệm, chứ không phải “có đồng nào xào đồng ấy”, “bóc ngắn cắn dài” thì có ngày cũng sập tiệm, có khi phải “bán vợ đợ con” để trả nợ. Cho nên, từ ngày xưa ông bà ta đã dạy “buôn tàu, bán bè không bằng ăn dè hà tiện”. “Hà tiện mới giàu, cơ cầu mới có”, “năng nhặt chặt bị” đã tích lũy được nhiều tiền rồi thì phải biết dùng số vốn đó để đầu tư thêm cho công ăn việc làm để sinh thêm đồng lời nữa. Bởi vì “tiền trong nhà tiền chửa, tiền ra cửa tiền đẻ” còn nếu không thì cũng chẳng qua là “tiền dư thóc mục”. Ngay từ xa xưa, ông cha ta đã biết coi “khách hàng là thượng đế” rồi. Vì vậy, người ta thường rỉ tai nhau “bán hàng chiều khách”, “bán rao chào khách”. Người buôn bán nét mặt phải tươi cười, nói năng phải nhỏ nhẹ, hòa nhã, khéo léo chiều khách để vừa lòng khách, để “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”, bởi vì “lời nói quan tiền, thúng thóc”, chứ không ai bán hàng mà lại nói với khách theo kiểu “bầu dục chấm mắm cáy” thì buôn bán làm sao thành công được. Bên cạnh đó, người buôn bán rút ra kinh nghiệm “bán chịu mất mối hàng”, cách tốt nhất trong buôn bán là “tiền trả mạ nhổ”, “tiền trao cháo múc”… trừ những mối làm ăn lâu năm, có uy tín thì họa may còn cho thiếu chịu được, chứ ngoài ra thì không nên. Trong buôn bán người xưa cũng khuyên không nên “bán hàng nói thách, làm khách trả rẻ” mà chỉ nên “thuận mua vừa bán” để giữ được khách để mà làm ăn lâu dài, bởi vì “quen mặt đắt hàng”. Trong những tình huống làm ăn không thuận lợi, thì kinh doanh trong nhiều trường hợp phải biết chấp nhận thất bại, chấp nhận lỗ để tuôn hàng ra mà sớm thu hồi đồng vốn về, vì vậy, có những trường hợp ngoài ý muốn thì người kinh doanh phải biết “bán rẻ còn hơn đẻ lãi”, “chẳng được ăn cũng lăn được vốn” chứ không phải chỉ biết ngâm hàng đợi đến lúc giá lên. Một điều quan trọng trong buôn bán làm ăn là phải biết giữ chữ tín chứ không thể “ăn xổi ở thì” được. Thiếu nợ thì phải trả nợ, nói một là một, hai là hai, mua chịu phải nhớ, chứ không nên ăn quịt: Mất trâu thì lại tậu trâu Những quân cướp nợ có giàu hơn ai. Muốn làm ăn lâu dài với nhau thì đừng quên “có qua có lại mới toại lòng nhau”, chứ không phải chỉ bo bo thủ lợi một mình. Bên cạnh đó, người buôn bán cũng phải biết giữ đạo đức trong kinh doanh. Không thể chấp nhận một ai đó làm ăn theo kiểu “treo đầu dê bán thịt chó”, “bán mướp đắng giả làm bầu”, “bán mạt cưa giả làm cám”… Đâu phải chỉ có việc người bán mới cần có kinh nghiệm, mà người mua cũng cần phải có kinh nghiệm, có nghệ thuật mua nữa, nếu không sẽ mua lầm, sẽ chịu cảnh “tiền mất tật mang”. Hoặc không khéo thì “tiền chinh mua cá thối”, chỉ có những kẻ dại dột mới: Vàng mười chê đắt không mua Mua lấy vàng bảy thiệt thua trăm đường. Các mặt hàng phổ biến ngày xưa đều được người tiêu dùng truyền đạt kinh nghiệm để mà lựa chọn cho được miếng ngon, hàng tốt: Mua thịt thì chọn miếng mông Lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi. Hoặc: Mua cá thì phải xem mang Mua bầu xem cuống mới toan không lầm. Hay: “mua trâu xem sừng, mua chó xem chân”. Thường thường thì “mua nhầm, bán không nhầm” cho nên người mua phải cẩn thận, lựa chọn kỹ, phải biết mặc cả, biết thêm bớt để “mua thì thêm, nêm thì nhặt”… Ca dao, tục ngữ nói lên những kinh nghiệm, những nghệ thuật, những phương thức… kinh doanh của cha ông. Lẽ dĩ nhiên, mỗi thời mỗi khác, việc kinh doanh ngày nay không giống như ngày xưa, nhưng những gì được lưu truyền qua ca dao, tục ngữ sẽ mãi mãi là bài học hữu ích đối với những ai quan tâm đến chuyện kinh doanh. Trần Quang Diệu * Những câu tục ngữ – ca dao dẫn trong bài được trích từ “Doanh nghiệp Việt Nam xưa và nay” của tác giả Lê Minh Quốc. NXB Trẻ – 2004.

 

Chùm Thơ Suy Ngẫm Viết Về Thói Đời, Lẽ Sống Từ Xưa Đến Nay Hay

Từ xa xưa đến tận thời nay, trong xã hội vẫn luôn tồn tại những thói đời và lẽ sống xấu xa bất di bất dịch mà ai trong chúng ta cũng có thể nhìn thấy qua cuộc sống hằng ngày. Hôm nay, Minh Nhật mời các bạn cùng suy ngẫm về thói đời và lẽ sống thời nay đã được các thi nhân khắc họa rõ nét qua những vần thơ hay, ý nghĩa và chất chứa đầy cảm xúc. Đây là những bài thơ viết về thói đời thời nay sưu tầm của nhiều tác giả nổi tiếng, hi vọng rằng mọi người sẽ thích!

Sau chùm thơ về cuộc đời buồn, thơ về cuộc sống mệt mỏi và những bài thơ hay viết về tình đời bạc bẽo, ngay bây giờ, mời các bạn cùng xem qua chùm thơ suy ngẫm hay viết về thói đời và lẽ sống từ xa xưa tới ngày nay vẫn còn hiển hiện. Dù trong xã hội nào, thời đại nào, những thói xấu của con người vẫn luôn tồn tại, và vì đó nên những bài thơ như thế này luôn có ý nghĩa. Hy vọng rằng các bạn sẽ có những phút giây thật tuyệt bên những bài thơ hay về thói đời và thơ viết về cuộc sống, lòng người bạc bẽo, chúc các bạn xem thơ vui vẻ!

Người bảo ông điên, ông chẳng điên Ông thương ông tiếc hoá ông phiền Kẻ yêu người ghét hay gì chữ Đứa trọng thằng khinh chỉ vị tiền Ở bể ngậm ngùi cơn tới lạch Được voi tấp tểnh lại đòi tiên Khi cười khi khóc khi than thở Muốn bỏ văn chương học võ biền!

2, Thói Đời

3, Thói Đời II

4, Thói Đời Bạc Bẽo

5, Ngẫm Đời

6, Lục Bát Thói Đời

Vào chùa xin một lá bùa Thả theo dòng nước cho mưa hóa tình Đêm đêm nằm ngủ giật mình Thói đời lục bát bềnh bồng ngàn năm!(Nguyễn Minh Quang)

7, Thói Đời Đen Bạc

8, Thói Đời

Con rể được quý như vàng Con dâu như nhặt giữa đàng về thôi Sự đời bạc bẽo như vôi Rể chơi làm khách đầy vơi ngọt ngào Ngày rằm, ngày lễ thanh cao Bưng cơm ngọt gọi chào rể xưa Dâu đâu quản ngại nắng mưa Sớm trưa tất bật đâu vừa mẹ cha Công việc thì rể lướt qua Gọi là có mặt cho ra họ hàng Dâu thì vai nặng thân mang Ấy mà một tiếng đàng hoàng không xong Tủi phận nước mắt lưng tròng Mẹ cha lườm nguýt mất công mua về Thói đời lắm kẻ liêu khê Nào ai thấu hiểu trăm bề làm dâu.(Riura)

9, Thói Đời

10, Thói Đời

11, Thói Đời Tiền Bạc

12, Thói Đời Đen Bạc

13, Thói Đời

14, Thói Đời (Lòng Người Khó Đoán)

“Dò sông dò biển dễ dò Mấy ai lấy thước mà đo lòng người”

15, Thói Đời – Lẽ Sống

Và vừa rồi là những câu thơ hay viết về hình ảnh cuộc sống, thói đời thời nay mà tôi muốn gửi đến các bạn, qua những dòng thơ về lẽ sống thời nay này, chắc các bạn cũng như tôi, cũng đã hiểu thêm phần nào về thói đời, cuộc sống, mặt tối vẫn luôn hiện hiện xung quanh mình rồi phải không nào? Chùm thơ về thói đời này chỉ là một trong rất nhiều những bài thơ về thói đời, lẽ sống khác có trong kho thơ của Minh Nhật, hãy tự mình khám phá thêm nhiều hơn những áng thơ viết về thói đời hay khác các bạn nhé!

Hằng ngày, vẫn có những áng thơ tình hay, thơ tình buồn cùng những bản tình thơ lãng mạn được sáng tác, sưu tầm & đăng tải trên các chuyên mục thơ của blog OCuaSo.Com. Hãy thường xuyên ghé thăm để cập nhật nhanh những bài thơ hay và mới nhất, chúc các bạn vui vẻ bên những vần thơ!

Xem thêm Thơ Tình Buồn Hay hoặc Những Chùm Thơ Hay Nhất và Chùm Thơ Cuộc Đời Ý Nghĩa

Bạn có thích bài viết ” Chùm Thơ Suy Ngẫm Viết Về Thói Đời, Lẽ Sống Từ Xưa Đến Nay Hay” thuộc chuyên mục Thơ Buồn Cuộc Sống – Thơ Sưu Tầm của Ô Cửa Sổ Blog không? Nếu thích, hãy thường xuyên ghé thăm blog của tôi để đón đọc những bài viết mới nhất nhé ♡ !

Bến Xe – Thương Thái Vi

Kết: Mình cho rằng đây là một câu chuyện tình yêu hết sức chân thực và ám ảnh. Bởi lẽ nếu chưa đọc thì thôi, nhưng khi đã đọc thì sẽ bạn sẽ khó lòng thoát khỏi hai từ “chấn động” và “ám ảnh”.

Và có lẽ cũng vì lí do đó mà dẫn đến cái kết bi thương cho một mối tình chưa kịp nở hoa. Tất cả còn lại chỉ là những kỉ niệm đẹp mà thôi.

“Trong hiện thực cuộc sống, con người không dễ thông cảm cho người sống, mà dễ thông cảm cho người chết. Con người thường nhớ tới khuyết điểm của người sống. Một khi người đó chết đi, con người sẽ dễ nhớ đến ưu điểm của họ”- Chương Ngọc

Mình ấn tượng nhất với nhân vật Chương Ngọc. Anh thật sự là một con người tài hoa, lỗi lạc và hơn hết anh có một tâm hồn cao thượng. Anh thà hi sinh bản thân để bảo vệ tôn nghiêm bản thân cũng như cho người mình yêu “danh dự trong sạch và một tương lai tươi đẹp”.

Bến xe là một câu chuyện dài về cuộc đời ngắn ngủi của người thầy Chương Ngọc và cô học trò nhỏ Liễu Địch. Nam Chính không phải toàn mỹ như các nam chính thường thấy trong ngôn tình, nhưng anh hoàn hảo về nhân cách, về tâm hồn và anh còn là một người thầy dạy văn tuyệt vời nhất. Có thể thầy khiếm khuyết, đôi mắt thầy bị mù, nhưng vẫn còn đó dáng người cao gầy, bộ óc thiên tài, trái tim nhân từ và tâm hồn mạnh mẽ… Còn nữ chính tuy còn là một nữ sinh cấp 3 nhưng đã mang trong mình một trái tim nhân ái. Cô là một con người tài giỏi nhưng cũng không kém phần cố chấp. Và câu chuyện giữa hai người bắt đầu từ việc Liễu Địch nhất quyết muốn giúp thầy Chương Ngọc về văn phòng. Sau đó, cô còn giúp thầy viết lời phê, chữa bài văn cho các bạn. Cô tận tình đưa thầy ra bến xe mỗi giờ tan học…Khi đọc đến những chương cuối, bạn sẽ hiểu cảm giác ám ảnh, chấn động lưu lại qua từng con chữ của tác giả, nó khiến người đọc như chìm vào cảm giác bi thương hòa với nhân vật chính, với một người thầy, với một người đàn ông, với một tâm hồn cao cả đến vậy.

Đó là lần đầu tiên trái tim mình thổn thức trước tình yêu không thể cao thượng và trong sáng hơn nữa của nam – nữ chính.

Đó là lần đầu tiên mình đọc truyện ngôn tình nhưng không chỉ là ngôn tình.

Thà chưa từng biết đến cái đẹp để vĩnh viễn không phải đau đáu hướng về cái đẹp. Thà không biết đến cái gì gọi là tình yêu cao thượng, để không phải đau lòng chứng kiến một cái kết bi thương.

– Ánh Nguyên

Viết cho Chương Ngọc và cho cả Liễu Địch.

Tôi không rõ mình đọc Bến Xe là khi nào, chỉ nhớ trong kí ức đó là hình ảnh của một thầy giáo Chương Ngọc khiếm thị nhưng uyên bác, đầy lòng tự trọng, hết lòng vì sự nghiệp giảng dạy và một Liễu Địch nhỏ bé, xinh đẹp, giỏi giang.

Cả hai là những con người xa lạ, không quen biết rồi vô tình được kết nối với nhau bằng mối quan hệ thầy – trò. Nhưng đâu ai biết được, sâu trong trái tim đã khô héo từ lâu của người thầy ấy lại dần nảy mầm một thứ ánh sáng đặc biệt gọi là tình yêu.

Từng nói, con người khi cô đơn đã lâu sẽ dễ dàng bị lay động bởi một sự quan tâm dù là rất nhỏ nhặt. Chương Ngọc càng phản kháng từ chối sự giúp đỡ, Liễu Địch càng muốn tiến sâu vào trong tâm hồn của thầy, có lẽ vì cô tò mò. Tôi chưa từng cô đơn, cũng chưa bao giờ cô độc, nhưng tôi nghĩ mình có thể hiểu vì sao Chương Ngọc trải qua bao nhiêu năm làm bạn với bóng tối, kiên cường đến mức không chấp nhận bất kì sự quan tâm của ai lại có thể dễ dàng rung động trước cô gái này.

Tôi luôn tự hỏi tại sao khi viết lên những cảm nghĩ này, mình lại không tài nào đặt bút dùng từ “anh” để nói về thầy Chương Ngọc. Tôi cũng biết, mình không có lý do gì để so sánh thầy Chương Ngọc với giáo sư Dương Lam Hàng bởi cả hai quá khác biệt nhau từ tính cách cho đến hoàn cảnh nhưng với tôi mà nói, thầy Chương Ngọc, thầy thực sự đẹp hơn giáo sư Dương. Tôi chưa bao giờ xem Chương Ngọc là một nam chính trong tiểu thuyết ngôn tình, bởi tôi trân trọng thầy bằng tất cả sự ngưỡng mộ của mình, dù thầy chưa bao giờ là một thầy giáo ngoài đời.

Tôi có thể cảm thông, cũng có thể đồng cảm nhưng tôi chắc mình không bao giờ có thể biết được sự bất lực của Chương Ngọc như thế nào, đau khổ ra sao trước cuộc sống đầy rẫy bất công này.

Cuộc đời mang Liễu Địch đến bên thầy, nhưng cũng chính nó đã đẩy Liễu Địch rời xa thầy. Tôi không thể trách thầy tại sao lại dùng cái chết của mình để đổi lấy sự trong sạch cho Liễu Địch, có lẽ tôi hiểu được triết lý ngày ấy của thầy.

“Con người không dễ thông cảm cho người sống mà dễ thông cảm cho người chết. Con người thường nhớ tới khuyết điểm của người sống. Một khi người đó chết đi, con người sẽ dễ nhớ đến ưu điểm của họ. Vì vậy, dùng cái chết để chứng minh sự trong sạch, tuy phải bỏ cả mạng sống nhưng phần lớn có thể đạt được mục đích. Chỉ là, khi mỗi sinh mệnh sống tìm cách bảo vệ danh dự, càng nghiệm chứng một cách sâu sắc sự tàn khốc của xã hội.”

Thầy hiểu rõ, chỉ có cái chết mới có thể khiến cho toàn xã hội nhìn lại một lần nữa bằng đôi mắt cảm thông, xót xa, đồng cảm vào tình yêu vốn dĩ đơn thuần, trong trắng của cả hai.

Trong suốt quá trình theo dõi câu chuyện, tôi luôn mong chờ một phép lạ sẽ xảy ra khiến thầy sáng mắt, nhưng cuối cùng hy vọng của tôi vẫn là con số không. Tôi không thất vọng, cũng không oán trách bởi tôi biết, mạch truyện tác giả đưa ra đã rất logic và hợp lý. Bởi giả sử thầy Chương Ngọc sáng mắt, thì cũng không thể thay đổi được cái nhìn của mọi người về mối quan hệ thầy giáo – học trò kia.

“Cậu không thể chết, trừ khi, tình yêu của cậu đáng đánh đổi bằng sinh mệnh. Nếu chết, cậu cũng nên chết cho người xứng đáng giành được tình yêu của cậu.”

Một con người đang ở độ tuổi niên thiếu, sự nghiệp đang lên, bỗng chốc bị dập tắt hoàn toàn bởi một ngọn lửa. Mang theo đôi mắt mù lòa, cuộc sống Chương Ngọc trở nên tăm tối đến nghẹt thở, mỗi ngày tẻ nhạt lặp đi lặp lại như một cỗ máy, tôi hiểu rõ, tuổi thanh xuân và cả quãng đời còn lại sau này của thầy đều vùi trong đống tro tàn dưới ngọn lửa ấy.

Nhưng rất rõ ràng khi Liễu Địch xuất hiện, Chương Ngọc không còn cô độc như trước, ít nhất là quãng đường từ trường đến bến xe.

Những con người xung quanh Chương Ngọc chính là xã hội, đã là xã hội thì không bao giờ có lòng tin tuyệt đối, đó là điều tất yếu. Chính vì vậy, chỉ có cái chết mới có thể biến sự nghi ngờ kia trở thành sự đồng cảm mà thôi.

Thầy hiểu điều đó và chọn cho mình một kết thúc buồn chỉ để đổi lấy danh dự và sự trong sạch cho Liễu Địch, thầy muốn bảo vệ cô gái đã vẽ lên cuộc sống tuy ngắn ngủi nhưng đẹp đẽ cho thầy.

Chương Ngọc nợ Liễu Địch một lời xin lỗi, nợ một lời cảm ơn, nợ một lời hứa, nợ một lời tỏ tình, nợ một đời. Nhưng ai sẽ thay thầy nói ra điều đó sau khi thầy ra đi? Chỉ mong rằng kiếp sau còn có thể gặp lại.

“Liễu Địch, thứ tôi có thể cho em trong cuộc đời này, chỉ là danh dự trong sạch và một tương lai tươi đẹp mà thôi. Thế nhưng, kiếp sau, nếu tôi có đôi mắt sáng, tôi sẽ ở bến xe này…. đợi em.”

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chuyện Xưa Ngẫm Cho Vui : Lã Bất Vi Buôn … Vua trên website Altimofoundation.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!