Đề Xuất 12/2022 # Ca Dao, Tục Ngữ Về Gà / 2023 # Top 12 Like | Altimofoundation.com

Đề Xuất 12/2022 # Ca Dao, Tục Ngữ Về Gà / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Ca Dao, Tục Ngữ Về Gà / 2023 mới nhất trên website Altimofoundation.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

– Bán gà ngày gió, bán chó ngày mưa: Mùa gió gà hay toi, trời mưa chó xấu mã. Bán như thế thì bất lợi.

– Chó già, gà non: Thịt chó già không tanh, thịt gà non mới mềm, ăn mới ngon.

– Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa: kinh nghiệm về thời tiết.

– Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm: Khi không có người chỉ huy, kẻ xấu làm bậy.

– Con gà tốt mã vì lông: Người ta dễ bị thu hút bởi cái vẻ bên ngoài.

– Con gà tức nhau tiếng gáy: Tính ganh đua, không chịu kém người khác.

– Cơm chín tới, cải ngồng non, gái một con, gà mái ghẹ: Những thứ người ta ưa chuộng vì ngon vì đẹp.

– Cơm gà, cá gỏi: Khen bữa ăn ngon và sang trọng.

– Đá gà, đá vịt: Làm ăn qua loa.

– Đầu gà, má lợn: Miếng ăn ngon.

– Đầu gà còn hơn đuôi phượng: Đứng đầu một nơi còn hơn làm tớ kẻ khác.

– Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng: Cậy thế bắt nạt người khác.

– Khôn ngoan đối đáp người ngoài/ Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau: Khuyên đoàn kết, gắn bó với nhau.

– Gà mái gáy gở (không biết gáy): Chê phụ nữ can thiệp vào việc đàn ông.

– Gà nhà lại bới bếp nhà: Chê cùng phe cánh lại phá hoại lẫn nhau.

– Gà què ăn quẩn cối xay: Chê những người không có ý chí.

– Hạc lập kê quần (con hạc giữa bầy gà): Người tài giỏi ở chung với kẻ dốt.

– Hóc xương gà, sa cành khế: Chỉ những điều nguy hiểm cần tránh.

– Học như gà đá vách: Chê những người học kém.

– Khách đến nhà, chẳng gà thì vịt: Thể hiện sự hiếu khách của chủ nhà.

– Lép bép như gà mổ tép: Chê người ngồi lê mách lẻo.

– Lờ đờ như gà ban hôm: Quáng gà, chê người chậm chạp, không hoạt bát.

– Lúng túng như gà mắc tóc: Chê người thiếu bình tĩnh, bối rối.

– Mẹ gà, con vịt: Cảnh của những trẻ em sớm mồ côi mẹ, phải sống với dì ngẻ.

– Mèo gả, gà đồng: Chỉ những kẻ vô lại, sống lang thang, làm bậy.

– Một tiền gà, ba tiền thóc: ý nói món lợi thu về không bằng công sức bỏ ra.

– Mỡ gà thì gió, mỡ chó thì mưa (mỡ gà vàng, mỡ chó trắng): Kinh nghiệm dân gian dựa vào màu mây đoán mưa gió.

– Ráng mỡ gà, có nhà thì chống: Kinh nghiệm chỉ hiện tượng có bão.

– Ngẩn ngơ như chú bán gà/ Tiền rưỡi chẳng bán, bán ba mươi đồng: Chê người đần độn, không biết tính toán.

– Ngủ gà, ngủ vịt: Ngủ lơ mơ, không thành giấc.

– Ngun ngủn như gà cụt đuôi: Nói một cái gì đó ngắn ngủi đến khó coi.

– Nháo nhác như gà lạc mẹ: Tả vẻ xao xác, đi tìm một cách lo lắng.

– Trông gà hóa cuốc: Chê người không nhìn rõ sự thật, lẫn lộn phải trái.

– Gà nào hay cho bằng gà Cao Lãnh/ gái nào bảnh cho bằng gái Nha Mân: Chỉ vùng đất nổi tiếng về nuôi gà đá và làng gái đẹp.

– Quạ theo gà con: Nói kẻ xấu rình cơ hội để hại người.

– Thóc đâu mà đãi gà rừng: Chỉ hành vi lãng phí hoặc quá tiết kiệm.

– Tiếc con gà quạ tha: Chê người tiếc cái không đáng tiếc.

– Tiền trao ra, gà bắt lấy: Sòng phẳng.

– Trấu trong nhà để gà ai bới: Việc trong nhà lại để cho người can thiệp.

– Trói gà không chặt: Chê kẻ hèn yếu, không làm được việc gì nên thân.

-Vạ vịt chưa qua, vạ gà đã đến: Than phiền hết tai họa nọ đến tai họa kia.

– Vịt già, gà to: Ý nói vịt già còn ăn được, chứ thịt gà già vừa dai vừa dở.

– Cõng rắn cắn gà nhà: Vô tình (hay cố ý) đã dẫn kẻ xấu về hại nhà mình. l

Nguyễn Quốc Hào(tổng hợp nhiều nguồn)

Chuyện Vui Ngày Tết:con Gà Trong Ca Dao Tục Ngữ / 2023

Gà vốn là loài động vật khá gần gũi, gắn bó với đời sống con người. Tiếng gà gọi khung cảnh bình yên, đầm ấm:

Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương”

Tiếng gà gáy còn như một loại đồng hồ báo thức đặc biệt báo trời đã sáng để bà con nông dân dậy đi làm đồng:

“Lao xao gà gáy rạng ngày Vai vác cái cày, tay dắt con trâu”

Nhìn trời, nghe tiếng gà, người ta có thể dự đoán được thời tiết: “chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”. Qua thực tế, các cụ còn đúc kết về kinh nghiệm chọn giống gà:

– Nuôi gà phải chọn giống gà Gà di bé giống nhưng mà đẻ mau Lông dày thịt béo về sau đẻ nhiều – Gà nâu chân thấp mình to Đẻ nhiều, trứng lớn, con vừa khéo nuôi

Chẳng những thế, cho dù cuộc sống quanh năm lam lũ, nghèo khó: “Thóc lúa về nhà, lợn gà ra chợ”, ông bà ta xưa vẫn biết thưởng thức những món ngon và tỏ ra rất “sành ăn”, sành điệu:

– Con gà cục tác lá chanh

Các chị em đảm đương công việc nội trợ thiết nghĩ nên nhập tâm lời dạy của các cụ để phân biệt gà già, gà non:

Và cái tài của người giỏi việc bếp núc là cho dù mua phải gà già thì:

Nạ dòng trang điểm, gái tơ mất chồng

Ngoài con gà theo đúng nghĩa đen như để kể trên, trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam còn có rất nhiều câu nói về gà nhưng lại để nói đến người hoặc hàm ý khuyên răn:

Gái khôn gái chẳng bỏ làng, gái đi

Món tóc đuôi gà vắt vẻo của các cô thôn nữ từng được các chàng trai xếp lên hàng đầu trong top “10 thương”:

Một thương bỏ tóc đuôi gà Trách những người không chung thủy, cô gái dỗi dằn: Trách anh hàng trứng cho ra đôi lòng Khuyên anh em trong nhà phải hòa thuận, các cụ nhắc nhở: Khôn ngoan đối đáp người ngoài Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

Những kẻ phản bội được xem là “cõng rắn cắn gà nhà”. Kẻ nào hống hách nhưng nhát gan thì chẳng khác nào “chó cậy gần nhà, nhà cậy gần chuồng”. Để ám chỉ thói che giấu của người đời, các cụ bảo “Đẻ một nơi, cục tác một nơi”. Còn “gà què ăn quẩn cối xay” là để nói cuộc sống quẩn quanh, bế tắc. Các cụ còn khuyên đừng đánh giá con người qua diện mạo bên ngoài:

Những giống gà nòi lông nó lưa thưa

Trong quan hệ ứng xử cũng phải khéo léo, đúng mực, vì nếu quá yêu chiều cũng sẽ dẫn đến:

Đặc biệt, trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, họ nhà gà cũng góp mặt khá đông đúc. Gà được dùng vật cheo cưới:

Bắt lợn đi cưới, bắt gà đi cheo

Nhưng có chàng trai hài hước đã nói quá lên rằng:

Có dăm sợi bún, có vài hạt xôi

Oán hận sự cấm đoán hôn nhân, cô gái (chàng trai) than thở:

Nói về những cặp vợ chồng quá chênh lệch tuổi tác, người ta ví von:

Con gà rừng tốt mã khoe lông Chẳng cho đi chọi nhốt lồng làm chi

Nói về những cặp vợ chồng quá chênh lệch tuổi tác, người ta ví von:

Vợ hai mươi mốt, chồng đà sáu mươi

Và đây là những lời trách của cô gái rơi vào cảnh ngộ chồng già – vợ trẻ:

Có duyên lấy được chồng già Ăn xôi bỏ cháy, ăn gà bỏ xương

Những người hẩm hiu với thân phận làm lẽ, “chồng chung đâu dễ ai nhường cho ai” thì tiếng gà thật đáng ghét, vì cắt đứt niềm hy vọng của họ, khi mà:

Mong chồng chồng chẳng muốn cho Đến khi chồng xuống, gà đã o o gáy dồn

Và rất nhiều cảnh ngộ trớ trêu khác nữa trong cuộc sống gia đình như “mẹ gà, con vịt”, “gà trống nuôi con”…

Vẫn biết rằng, “bút sa, gà chết”. Vui xuân năm Dậu, xin được mạo muội chắp nhặt mấy dòng về con gà, mong góp vui với mọi người khi Xuân về, Tết đến.

Ca Dao Tục Ngữ Về Biển / 2023

Sông sâu mà biển cũng sâu Muốn ăn cá lớn, rong câu cho dài

Dốc lòng trồng cúc bẻ bông Ngó ra ngoài biển thấy ông đưa đò Anh ở làm sao cho biết đói biết no Biết ra khơi về lộng đây em lo kết nguyền

Trời sinh có biển có nguồn Có ta, có bạn, còn buồn nỗi chi?

Tháng chín mưa giông thuyền mong ghé bến Từ nơi bãi biển qua đến buổi chợ chiều Nuôi con chồng vợ hẩm hiu Nhà tranh một mái tiêu điều nắng mưa

Động bể đông bắc nồi rang thóc Động bể bắc đổ thóc ra phơi

Sự đời nghĩ cũng nực cười Một con cá lội mấy người thả câu Anh về xẻ gỗ bắc cầu Non cao anh vượt biển sâu anh dò Bây giờ sao chẳng bén cho Xa xôi cách mấy lần đò cũng đi

Trời cao hơn trán Trăng sáng hơn đèn Kèn kêu hơn quyển Biển rộng hơn sông Anh đừng thương trước uổng công Chờ cho thiệt vợ, thiệt chồng hãy thương

Ai về em gởi bức thơ Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao Non kia ai đắp mà cao Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu

Non cao, biển cả Con chim tra trả tìm mồi Khi mô vật đổi sao dời Đất Quảng Nam hết nước mới hết người tài hoa

Bãi biển Nha Trang mịn màng, trắng trẻo Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh Đêm đêm thơ thẩn một mình Đố sao cho khỏi vướng tình nước mây?

Ngó lên trên rừng thấy cặp cu đang đá Ngó về dưới biển thấy cặp cá đang đua Biểu anh về lập miếu thờ vua Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

Ngó lên rừng thấy cặp cua đang đá Ngó xuống biển thấy cặp cá đang đua Biểu anh về lập miếu thờ vua Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

Ngó lên rừng thấy cặp cu đương đá, Ngó về Rạch Giá thấy cặp cá đương đua. Anh về lập miếu thờ vua, Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

Ngó lên trời thấy mây giăng tứ diện, Ngó xuống biển thấy chim liệng cá đua. Anh về lập miễu thờ vua, Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn Núi lở non mòn, ngỡi bạn không quên Ðường còn đi xuống đi lên, Tình qua nghĩa bậu quyết nên vợ chồng.

Sông cạn, biển cạn lòng ta không cạn Núi lở non mòn, nghĩa bạn không quên Đường còn đi xuống đi lên Ơn bạn bằng biển, ta đền bằng non Đường mòn duyên nợ không mòn Chết thì mới hết, sống còn gặp nhau Lời nguyền trước cũng như sau Em không phụ khó, ham giàu ở đâu

Sông sâu còn có kẻ dò Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng

Lụa tốt xem biên Người hiền xem tướng

Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa Em thương anh không dám nói ra Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời Anh với em cũng muốn kết đôi Sợ vầng mây bạc trên trời mau tan.

Đố ai tát bể Đông Khê Tát sông Bồ Đề, nhổ mạ cấy chiêm

Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh / 2023

Câu ca dao, tục ngữ Quảng Ninh

Tục ngữ ca dao về chốn tâm linh

*Trăm năm tích đức tu hànhChưa đi Yên Tử chưa thành quả tu.

* Ai đi Yên Tử cùng anhKhói hương nghi ngút còn vương hạ Trần.

* Nào ai quyết chí tu hànhHãy về Yên Tử mới đành làm tu.

*Lần theo dấu tích ngàn xưaBảy trăm năm ấy bây giờ còn lưu.

* Vĩnh Nghiêm, Yên Tử, Quỳnh LâmAi chưa đến đó thiền tâm chưa đành.

*Miếu Đức Ông là nơi Cửa SuốtKhách vẫn lại thương nhớ cùng dâng.

* Bao giờ sấm chớp Chùa LôiCon ơi nhớ dậy mang nồi ra sân.

* Mồng bảy hội miếu Tiên CôngDưới là đánh vật trên rồng phi bay.Đêm thì hát đúm vui thayBên này thi cấy, bên đây đua thuyền.

*Chùa Quỳnh vui lắm ai ơiTrốn cha, trốn mẹ mà chơi Chùa Quỳnh.

* Chùa Quỳnh khánh đá, chuông đồngMuốn chơi thì lấy của chồng mà chơi.

Tục ngữ ca dao thời kì kháng chiến chống Pháp

* Vua thua ông huyện Hoành Bồ.

* Cọp dữ Mông Dương, nước độc Hà TuDa dày, bụng ỏng, mặt phù, chân sâu.

*Chưa đi chưa biết Vàng Danh Đi ra khốn khổ thân anh thế này.

*Chưa đi chưa biết Vàng DanhMá hồng để lại, má xanh mang về.*Ai đi Uông Bí, Quảng HồngCó đoàn vệ quốc dân công qua đèoAi về cho ta về theoCó sông cũng lội , có đèo cũng qua.

*Sông sâu còn có kẻ dòTội ác chủ mỏ ai dò cho ra.

* Đào than cho nó làm giàuXúc vàng đem đổ xuống tàu cho Tây.

* ở quê cái khổ bám theoRa mỏ cái khổ nó trèo lên lưng.

* Đau đẻ cũng phải xúc thanĐẻ rơi cũng mặc kêu van hững hờ.

*Lầm than cực khổ thế nàyXúc than cuốc đất suốt ngày lọ lem.

*Khi xưa nghe tiếng còi tầmNhư nghe tiếng vọng từ âm phủ về.

* Thẻ tôi lĩnh có hai đồngÔng cai lĩnh hộ trừ công năm hào.

*Cây mắm cò quămCây sú cù queoThắt lưng cho chặt mà theo anh vềĂn cơm với cá mòi heLấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời.

* Ai ra Cẩm Phả mà xemRừng xanh ngăn ngắt, đất đen sì sìĐã làm cái kiếp cu liCòn gì là đẹp còn gì là vui.

* Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngátHuyện Hoành Bồ đồi cát mênh môngAi ơi, đứng lại mà trôngKìa khe nước độc, nọ ông hùm giàViệc gì mà rủ nhau raLàm ăn cực khổ nghĩ mà tủi thân.

* Ai về Yên Dưỡng, Hoành MôMà xem quân lính cụ Hồ sang sôngĐêm ngày mải mê chiến côngThoáng nom như có cả chồng em kia.

* Thuyền than mà đậu bến thanThương anh vất vả cơ hàn nắng mưa.* Thuyền than đậu bến đen sìAnh không ra mỏ lấy gì em ăn.

Ca dao tục ngữ giao duyên

* Ai về chợ huyện Thanh Vân

Bạn đang đọc nội dung bài viết Ca Dao, Tục Ngữ Về Gà / 2023 trên website Altimofoundation.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!